Roger Canfield’s Americong #50

image002

Comrades in Arms

How the Americong Won the War in Vietnam

Against the Common Enemy— America

Copyright Roger Canfield, Ph.D.

1986-2012

No commercial transaction allowed except that approved by the author, copyright holder.

Obtain a prepublication release of a CD-R in Microsoft Word in ENGLISH at a discounted price of $15 from Roger Canfield Rogercan@pacbell.net at 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 or at http://americong.com.

Completely SEARCHABLE for any name, date, place or event of the War and its protesters.   

Cover: Design Stephen Sherman. Photos: Roger Canfield, March 2008. TOP: War protest Hawaii, February 1966 displayed at War Remnants (Crimes) Museum, Saigon. Bottom: Praetorian Guard

Các đồng chí cùng chiến tuyến

Làm thế nào MỹCộng thắng cuộc chiến Việt Nam

Chống kẻ Thù Chung – Mỹ

Giữ bản quyền Roger Canfield, Tiến Sĩ

1986-2012

Không được sử dụng vào mục đích thương mại nếu không có sự đồng ý của Tác giả, người giữ bản quyền.

Có thể mua một tiền bản dưới dạng CD-R Microsoft Word bằng Anh ngữ với giá đặc biệt US$15 ngay từ tác giả Roger Canfield  Rogercan@pacbell.net tại 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 hay tại  http://americong.com.

 

Hoàn toàn có thể TRA CỨU hoặc bằng tên, bằng ngày tháng hay biến cố liên quan đến cuộc Chiến cùng cả luôn bọn tham dự biểu tình .

******************************************************

* Tác giả giữ bản quyền © Roger Canfield 1986-2012

  • Lê Bá Hùng chuyển ngữ  (với sự chấp thuận của Tác giả)

 

*****

 Chương 50

Chicago: Bạo Loạn và Bầu Cử, Hè và Thu 1968

 

 Cần Phải Làm Gì Ở Chicago?

Nếu không có Tom Hayden thì chắc các cuộc bạo lực từng làm gián đoạn Đại hội đảng Dân chủ ở Chicago có thể đã không xảy ra . Như chúng ta đã thấy, chỉ sau khi Tom Hayden và Rennie Davis trở về từ Hà Nội với một kế hoạch sẳn sàng vào cuối năm 1967 mà những tên khác  – David Dellinger và National Mobe –  liền đã bắt đầu chuẩn bị sớm cho các cuộc biểu tình tại Đại hội đảng Dân chủ mà mãi tới 8 tháng sau sẽ mới ra mắt.

Trong tháng giêng, đã có việc sữa soạn các dịch vụ pháp lý và y tế 2542 và cả võ biền thiết yếu trong một cuộc bạo động thay vì là chuẩn bị cho một cuộc biểu tình ôn hòa. Vào đầu 1968, hơn 300 nhóm phản chiến đã nhận được từ Toronto,  Canada những tài liệu với tựa là “Vì sao Phải Phá Hoại  … Tiến tới việc Bóp Nghẹt và Làm Gián đoạn Bộ Máy Chiến Tranh Mỹ.” Trong tài liệu, có cách hướng dẫn và các sơ đồ làm ra những món kích hỏa. Trong tháng 6 đã có những phiên họp thảo luận về kỷ thuật phá hoại và thuốc nổ tại Đại hội Quốc gia SDS.  2543 Nay ta hãy quay nhanh tiếp đến tháng 7.

“Chắc Là Máu Sẽ Phải Đổ”

Vào ngày 25 năm 1968, Tom Hayden, Cora Weiss và Beulah Sanders đã thuyết trình trước Fifth Avenue Vietnam Peace Parade Committee  tại khách sạn Diplomat  trên đường West 43 Street ở New York. 2544

Vào khoảng 8 giờ tối, tới phiên Hayden để nói chuyện với nhóm “hòa bình” thuộc đám diễn hành. The Guardian, Long Island Newsday và FBI đều cùng hiện diện  để thu băng bài diển văn của Hayden.

Hayden đã nói với thính giả của mình là họ phải “… đến Chicago để sẵn sàng đổ máu.”  2545 Theo Cora Weiss, Hayden đã nói, “đây sẽ không phải là lần đầu tiên mà có thể sẽ phải được đổ máu, máu của chúng ta, với tư cách như là những kẻ biểu tình cho một lý do chính đáng.” 2546 Theo Linda Morse, Hayden có nói: “Bổn phận của mỗi người Mỹ chúng ta là phải phản đối … bằng mọi phương tiện có được bởi vì nạn (vũ khí hạt nhân) diệt chủng tại Việt Nam sẽ sớm xẩy ra trong một thời gian ngắn sắp tới.” 2547

Linda Morse “lúc đó đang được huấn luyện trong một đội ngũ [Trường Giải phóng  Quốc tế] 2548  ở California chuyên về cách thức nổi loạn vũ trang mà  Tom Hayden cũng là một thành phần có tham dự”,  Dellinger có nhớ lại như vậy. 2549  Ở Paris trong tháng 8, Bernardine Dohrn đã thuyết trình cho Việt Cộng về các kế hoạch cuối cùng nhằm chuẩn bị cho Đại Hội Đảng Dân chủ. 2550

Bill Ayers có nhớ,

“Tom Hayden đã là vị thuyền trưởng Ahab của chúng ta … [một] nhóm đã tập trung tại nhà của chúng tôi … [Tom có nói] Cuộc trình diễn này … có tiềm năng … để lộ ra bộ mặt của kẻ thù, để tách hắn ta đứng ra trần truồng, để buộc y phải tự  lộ ra bộ mặt rất hung bạo ,tàn ác, độc tài toàn trị, quỷ quái.

Sẽ rất là khó khăn … trêu chọc con quái vật, để đâm giết nó … nhưng đó là điều phải làm.”  2551

 

Như Hayden tiên liệu thì quả đã có đổ máu ở Chicago. Với cả “toàn thế giới đang lắng nhìn xem,” đã có những cuộc bạo loạn ở các công viên và đường phố ở Chicago cũng như là chung quanh các khách sạn đang có hội họp.

Các Cung Cấp Từ Cu-ba

Vào  giữa chừng các cuộc bạo loạn, Hayden và “em bé mang tã đỏ” Michael Klonsky điện thoại gọi Cuba đòi một báo cáo từ một đội ngũ SDS hiện đang ở đó. Jackie Goldberg lúc đó quả đang ở đó. Y thị là em gái của Art Goldberg, một huấn luyện viên về vũ khí cho trường International Liberation School của Hayden. Jackie Goldberg, một dân biểu California trong tương lai, khi nhớ lại vụ Havana thì sau đó đã nói là mình đã có thể tuyên bố mọi điều  ở Havana trong khi Hoa Kỳ lại là một “quốc gia cảnh sát trị”.  2552

Ngày 29 tháng 8, Radio Havana có phỏng vấn Mike Klonsky trong thời gian có các cuộc bạo loạn tại Đại Hội Đảng Dân chủ ở Chicago. Klonsky nói là SDS sẽ tiếp tục chiến đấu tại đại hội, đã gọi một tin nhắn từ đảng SDS tại Cuba là “tuyệt đẹp” và kêu gọi thành lập “Nhiều Chicagos.” Klonsky đã nói, “Chúng tôi sẽ tiếp tục chiến đấu tại Hoa Kỳ.” 2553

Báo Chí Bị Đối Xử Tàn Tệ Trên Đường Phố Chicago

Tin Báo Chí Về Các Vụ Mất Trật Tự tại Chicago, Cảnh sát Chicago Đánh Cả Báo Chí Cùng Các Người Biểu Tình

Khi phóng viên CBS Dan Rather bị cư xử thô bạo tại đại hội thì tay điều khiển chính của chương trình “CBS Evening News” là Walter Cronkite đã nói, “Tôi nghĩ rằng chúng ta đang có một đám côn đồ ở đây, Dan à.”

Tuy nhiên việc giới truyền tin bất mãn vì bị ngược đãi ở Chicago sẽ khơi dậy công luận, nhưng không như chúng muốn. Vào tháng 9 năm 1968, phần lớn dân Mỹ, theo một thăm dò của Gallup đã không tin là cảnh sát quá bạo hành ở Chicago. 2554  Khi cả thế giới quan sát lực lượng cảnh sát và mực độ bạo hành của người biểu tình thì đa số những gì họ nhìn thấy cũng như là đã được mô tả bởi nhà sử học mà cũng là một tân thành viên tả phái James Miller: “Truyền hình đã cho thấy … một đám đông con nít tóc dài … hô la nguyền rủa và hát vang những khẩu hiệu cùng vẫy cờ Cộng sản. ” 2555

Joan Baez đã sẽ nói với Esquire là nếu cách mạng xẩy ra thì cô ta đã dự đoán Tom Hayden, kẻ từng bố trí các cuộc rối loạn, “sẽ là kẻ bắn tôi chết.” 2556

Trong khi đó, bên trong Đại Hội, các đại biểu đảng Dân chủ đã bác bỏ theo tỷ lê 1.500 đối 1.000 một mục phản chiến trong chương trình nhằm kêu gọi đơn phương ngưng không tạc và rút quân đội, một chính phủ liên minh và giảm các cuộc hành quân Mỹ.

Hà-nội  Hân Hoan

Tướng Creighton Abrams nghĩ rằng Xuân Thủy bây giờ đã có một “vị trí thương lượng đáng kể” và làm tê liệt các lực lượng Hoa Kỳ. “Ông ta nay đã có thể dành được một thỏa thuận tốt dù không xứng đáng … Tốt hơn rất nhiều là ông ta đáng được”, nếu ta nhìn tới hoàn cảnh trên chiến trường của phe ông ta. 2557

Nhưng Hà Nội thì lại nồng nhiệt ca ngợi các cuộc bạo loạn tại Chicago.

Ngày 14 tháng 9 năm 1968, Ủy ban Đoàn kết với Nhân dân Mỹ (Việt Mỹ) của Nam Việt đã gửi một lá thư cho National Mobe để cảm ơn về “cuộc đấu tranh sôi sục, kiên quyết và can đảm, … tại Đại hội Đảng Dân chủ.” Ủy ban nồng nhiệt  “chân thành cảm ơn  … các hành động gần đây ở Chicago. Chúng tôi cũng đồng thời nói lên sự phẫn nộ cao độ [về] … cảnh sát đeo mặt nạ … sử dụng hơi cay và dùi cui cũng như là bắn vào họ.”

Các cuộc biểu tình đã giúp cho cuộc đấu tranh tại Việt Nam. “Các bạn đã đổ máu của mình … để bảo vệ quyền tự quyết  của người Việt Nam …. Các hành động gần đây của các bạn … nhằm chống lại chính sách xâm lược của Mỹ … đã khích động mạnh mẽ nhân dân chúng tôi ở miền Nam Việt Nam mà đang tiến hành cuộc tấn công mạnh mẽ khắp toàn quốc.” 2558

Trên thực tế, cả ba cuộc tổng tấn công trong năm 1968 đều đã thất bại trên chiến trường. Trong khi đó, Cơ quan Mật vụ, khi sử dụng các thiết bị mượn từ CIA, 2559 đã tìm thấy một dụng cụ bí mật thu tin của NBC News trong một phòng họp của Đảng Dân chủ. 2560

Nhận Xét của CIA về SDS: Một Bọn Trẻ Chỉ Đơn Giản Quá Năng Động 

Theo yêu cầu của Walt Rostow, trong tháng 9 năm 1968 CIA đã hoàn tất tài liệu  “Thanh niên Năng Động” về các phong trào sinh viên trên toàn thế giới. Một chương dài 14 trang về Mỹ (trang 25 tới 39) chỉ bàn về triết lý, về động lực và về chiến thuật của SDS và chỉ được phân phối riêng cho Tổng thống Johnson, Rostow và Cy Vance.

Phần liên hệ đến SDS đã bị kiểm duyệt loại bỏ hoàn toàn ra khỏi phúc trình khi được phân phối rộng rải  hơn cho toàn nội các  2561 vì CIA đã tin vụ SDS chỉ là một vấn đề quốc nội  không thuộc thẫm quyền của họ nếu chiếu  theo Nội quy của họ. 2562  “Office of Chief Information ~ OCI  đã ngần ngại không muốn dính líu về phần Mỹ.” 2563

Kẻ thù và các gián điệp của chúng thì lại không tự hạn chế như vậy và đã hoạt động công khai  bên trong Hoa Kỳ. Đảng Cộng sản Mỹ ~ CPUSA do Liên Xô tài trợ và kiểm soát đã cử phát ngôn viên đi diển thuyết trong 65 lần xuất hiện công khai từ 15 tháng 9 năm 1968 đến ngày 27 tháng 6 năm 1969 tại các khuôn viên  đại học trên khắp toàn quốc: Herbert Aptheker, Michael Eiseuscher, Louis Diskin, Claude Lightfoot, Charlene Mitchell, Michael Myerson, Robert Trujillo and Michael Zarrell.  2564

Vào cuối tháng 9, Ủy ban Hạ viện về các Hoạt động Bài Mỹ ~ House Committee on Un-American Activities đã gọi ra điều trần các thành viên trong âm mưu tại Chicago để làm chứng về các cuộc bạo loạn tại Đại Hội Đảng Dân chủ. Trước  phiên điều trần, chúng đã tổ chức những cuộc biểu tình và gọi  thủ tục này của HCUA là “Những Phiên Xử Phù Thủy ~ Witch Trials” tại Đại học George Washington và Đại học Maryland. Bernardine Dohrn, được liệt kê như là “Luật sư cho một số bị cáo”, đã có lên tiếng. 2565

Trong khi CIA chỉ thấy toàn là thanh niên quá năng động thì Hà Nội lại đã cố gắng dồn nổ lực vào một phong trào phản chiến để tìm kiếm, không phải là hòa bình mà lại là một chiến thắng cho cộng sản. Ngày 5 và 6 tháng 9 năm 1968, bốn học giả Mỹ, kể cả Howard Zinn, đã gặp các đại biểu Bắc Việt tại Paris để “trao đổi quan điểm.” 2566

Ngày 8 tháng 10 năm 1968, Ủy ban Đoàn kết với Nhân dân Mỹ (Việt Mỹ) của Nam Việt đã viết thơ để khuyến khích các cuộc biểu tình sắp tới. “Chúng tôi rất  phấn khởi khi biết được là quý bạn sẽ phát động một chiến dịch mùa thu lớn chống Nixon … Chúng tôi đánh giá cao … những nỗ lực tuyệt vời của quý bạn nhằm phối hợp các hành động trong chiến dịch … bất kể … mọi khuynh hướng chính trị.” 2567

Các Bạo Loạn Tại Chicago Đã Giúp Nixon Đắc Cử

Có lẽ Hà Nội nghĩ rằng Nixon có thể bị thất cử. Tức giận về vụ ngừng không tạc của Tổng thống vào cuối tháng 10 và về sự kiện đài phát thanh của trại cứ mãi đề cao Humphrey, các tù binh tại Sở Thú ~ Zoo đã  bỏ 17 phiếu trong tổng số 18 ở phòng phiếu Chuồng Súc Vật ~ Barn và 16 trong số 18 tại Nhà để xe ~ Garage để bầu Richard Nixon làm Tổng thống. 2568

Mặc dù vào cuối tháng 10 Johnson đã quyết định ngưng không tạc đúng vào những tuần cuối của cuộc vận động bầu cử, khi ta nhập chung số phiếu bầu của Nixon vào với số của George Wallace thì rỏ ràng 57% cử tri đã ủng hộ một đường lối cứng rắn hơn về Việt Nam. Richard Nixon đã đánh bại Hubert Humphrey xít xao bằng 0,7 của một phần trăm.

Trong khi việc Tổng thống Nam Việt Nguyễn Văn Thiệu khước từ  một kế hoạch hòa bình vào phút chót của LBJ chắc chắn đã gây thiệt hại cho Humphrey và giúp Nixon, chính sự ghê tởm của công chúng đối với những vụ ám sát về chính trị, về các khu ổ chuột và các cuộc bạo loạn trong những khuôn viên đại học cùng bạo lực tại Chicago về vấn đề Việt Nam đã góp phần mãnh liệt vào cuộc chiến thắng sát nút của một Nixon mặt mày khô khan lạnh lùng đối với một “chiến binh hăng say” là Hubert Humphrey. Nixon đã tranh cử theo đề tài “luật pháp và trật tự” 2569 mà cũng ám chỉ là mình đã có một kế hoạch bí mật để chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. Toàn dân Mỹ đã tức giận đứng lên bỏ phiếu cho luật pháp và trật tự cùng Richard Nixon để chống lại ứng cử viên của Đảng Dân chủ, một Hubert H. Humphrey tốt bụng và tự do lịch sự.

Hơn nữa, các cử tri đã bác bỏ không bầu lại hai thượng nghị sĩ từng nổi bật nhất là phản chiến, Wayne Morse và Mike Gravel.

Tay bạo loạn tại Chicago là Abbie Hoffman đã châm biếm là Phó Tổng thống Spiro Agnew có hứa biếu y $ 200.000 để đến dự Đại hội Chicago.

Tom Hayden và sáu tên khác sẽ bị truy tố như là bọn Chicago Seven và năm tên sẽ bị Tòa tuyên phạt vì có tội.

Một số tên khác – đồng phạm trên đường phố Chicago, bị truy tố trong vụ án  United States of America vs David T. Dellinger et al ~ Hiệp Chũng Quốc Hoa Kỳ chống David T. Dellinger và đờng bọn – đã là : Sidney M. Peck, cựu đảng viên CPUSA; Stewart E. Albert, một thành viên của Phong trào Berkeley Free Speech,  lãnh tụ của VDC và chuyên viên chiến đấu trên đường phố ở Chicago; Kathie Boudin, em bé tã đỏ, thành viên Weatherman và là con gái của luật sư cánh tả mà đã bị xác định là đảng viên của đảng Cộng Sản Mỹ ~ CPUSA  2570 và Chủ tịch Ủy ban NGL 2571 Leonard Boudin; thành viên của Newark Community Union Project (NCUP), từng hoạt động tại Columbia và trọ chung phòng với Hayden, Connie (Sara C.) Brown và thành viên của NCUP, Corrina Fales.  2572

Những tên khác đã là Wolfe B. Lowenthal, Benjamin Radford, Bradford Fox, Thomas W. Neuman, Craig Shimabukuro, Bo Taylor và David A. Baker. Khi quyết định kẻ nào từng có âm mưu nhưng chưa bị truy tố thì vị chánh thẫm chủ tọa phiên toà  đã phải kết luận đượ rằng những tuyên bố hay hành vi của đương sự đã cổ võ giúp đở cho âm mưu bị cáo buộc.

Phải Chăng Việc Truy Tố Bọn Bạo Loạn Là Bằng Chứng Của Một Quốc Gia Cảnh Sát Trị?

 

Chỉ trong vòng bốn ngày sau khi bọn chủ mưu tại Chicago bị truy tố thì Cora Rubin Weiss, con gái của một tay Cộng sản và tài phiệt cấp tiến là Samuel Rubin, đã giúp thành lập “Committee to Defend the Conspiracy ~ Ủy ban Bảo vệ Âm Mưu.”

Ủy ban Bảo vệ Âm Mưu  2573  đã tuyên bố luật chống bạo động liên bang, khi quy định hành vi vượt qua biên giới giữa các tiểu bang để bạo loạn, “là nền tảng của một quốc gia cảnh sát trị ở Mỹ.” Đó là những “biện pháp độc tài toàn trị.” Dù gì đi nữa, “các nỗi kinh hoàng của Dachau, Auschwitz và Belsen đều đã không xảy ra chỉ qua một đêm thôi mà đều đã là kết quả trực tiếp của một dân tộc mà đã quá thờ ơ chấp nhận việc bất đồng chính kiến ​​đang bị tiêu diệt … ”

Việc gọi Mỹ là một “nhà nước cảnh sát  trị” đã được chứng minh đầy đủ qua tài liệu là có đã xuất xứ từ Đảng CS Liên Xô, Đảng CS Mỹ và Tổ chức National Lawyers Guild. 2574 Quả thật là lạ lùng khi những kẻ từng phủ nhận sự tồn tại của quần đảo Gulag ở Liên Xô và  Lào Gai ở Trung Quốc của Mao lại đã có thể nhìn thấy rõ ràng một nhà nước cảnh sát trị như vậy ở Mỹ mà cũng không hề thấy được những vụ hành quyết cùng các tù nhân chính trị ở Bắc Việt.

image003

Hình: Bộ 8 Chicago. Qúy vị không thể nào tống giam được Cách Mạng, Bích Chương Tuyên Truyền Tả Phái 1068.

Bộ 7 Chicago Seven đã là biểu tượng cho toàn bộ phong trào bất đồng chính kiến ​​ở Mỹ, mà một số trong đó đã có hợp tác với kẻ thù ngay thời trong chiến.

Trong bối cảnh của việc địch đang can thiệp vào cơ chế chính trị của mình thì quốc gia phải làm gì? FBI và quân đội đã bị lên án khi thu thập thông tin tình báo về bọn nhà lãnh tụ phản chiến và về các tổ chức có quan hệ chặt chẽ với bọn gián điệp và chính phủ ngoại quốc. Trong số các cơ quan tình báo quốc gia, CIA đã đặc biệt rất là cẩu thả. Cho dù động cơ là các quyền tự do dân sự, hay bị bó tay về pháp lý, hay vì do thái độ đồng nghiệp mù lòa hoặc tinh thần bảo hộ quan liêu, CIA đã chứng tỏ rỏ ràng là họ vô dụng trong việc bảo vệ đất nước chống lại kẻ thù mà đang xem mãnh đất quê hương Mỹ như là một chiến trường cho cuộc chiến tranh tại Việt Nam.

Tình Báo Quốc Nội Ngày Nay

Ngày nay, bọn phản đối Đạo luật Patriot và cả việc Ủy Ban An Ninh Quốc Gia NSA chặn kiểm soát nghe các cuộc gọi điện thoại cùng trao đổi trên Internet của al Qaeda lại cáo buộc là đang có một sự lạm dụng khắp nơi về cái quyền tuyệt đối của mọi công dân Mỹ là không phải bị giám sát bằng bất kỳ phương tiện gì trong bất kỳ hoàn cảnh nào kể cả như ăn cắp vặt ở siêu thị cho tới cả hành vi mang một hành trang có chứa vũ khí hạt nhân.

Đạo luật Patriot từng bị phỉ báng quá nhiều lại cũng đã cung cấp ít nhất là bốn quyền quy định trong Đệ Nhứt Tu Chính khã dỉ giúp các tổ chức khủng bố khỏi bị nối dây theo dõi để bị kiểm soát các điện đàm. Chiếu theo Đạo luật Patriot, mà vẫn chưa bị thách đố đã là việc in tài liệu tuyên truyền chủ trương khủng bố, diển thuyết tại các cơ sở tôn giáo, tại các nơi công cộng và tại những buổi họp tư nhân.  2575  Cần phải có sự chấp thuận của một chánh án khi muốn kiểm tra hồ sơ thư viện riẹng của một ai đó. Cần phải có án lệnh mới có thể tiến hành kỹ thuật ‘roving wiretaps ~ nối dây lưu động để nghe lén’ các kẻ tình nghi là khủng bố mà chuyên thay đổi điện thoại và chổ ở. Quốc hội đã rất đúng đắn quy định phải giám sát kỹ lưỡng hầu tránh việc lạm dụng có thể có về Đạo luật Patriot và đã nhiều lần biểu quyết gia hạn nó.

Tướng Michael Hayden, Trưởng NSA, không bà con gì với Tom Hayden, có giải thích trong tháng giêng năm 2006 là NSA đã không thể nào chặn nghe được số lượng 200.000.000.000 phút của các cuộc điện thoại quốc tế mỗi năm ở Mỹ. Việc này chỉ  “nhắm  … tập trung … về al Qaeda” 2576 chớ không phải là những đối tượng “quốc nội”.

Bộ trưởng Ngoại giao Cordell Hull khi nói là người lịch sự không bao giờ đọc thư của kẻ khác, dường như đã quên là Mỹ đã vẫn lén đọc các tin liên lạc của ngoại quốc kể từ cuộc Chiến tranh Cách mạng. Sau đó thì Hull sẽ sớm biết ơn việc Văn phòng Tình báo Hải quân đã giải mã được Nhật Bản trong suốt cuộc chiến tranh ở Thái Bình Dương và may mắn là người Nhật bằng vì một lý do nào đó đã không đọc được bản tin phản quốc trên tờ Chicago Tribune mà đã tiết lộ bí mật này. Sau đó, Tổng thống George W. Bush đã nói rằng nếu một người nào đó mà đang nói chuyện với một tên bị nghi ngờ là khủng bố thì ông cũng muốn biết những gì họ đang nói với nhau.

Cách Làm Việc Của CIA Quá Bết

Trong thời gian chiến tranh Việt Nam, chỉ những tài liệu ngăn chận của NSA như vậy mới là kho bằng chứng lớn nhất của CIA về những liên lạc tiếp xúc của phong trào phản chiến với kẻ thù tại Việt Nam. Tuy nhiên, các báo cáo còn lưu lại của CIA , không giống như những báo cáo của FBI, với vài ngoại lệ nhỏ, đã cho thấy là những tiết lộ thông tin này của NSA đã không hề được cung cấp cho Tổng Thống hay cho các cố vấn hàng đầu, những người mà cứ vẫn đã luôn luôn năn nỉ để có loại tin này, và chỉ trừ với FBI, đã không bao giờ thu thập được bất kỳ tin tình báo hữu ích nào về phong trào phản chiến.

Thật vậy, CIA đã không thấy có gì là quan trọng, như chúng ta biết, là Liên Xô đã trợ cấp và ra chỉ thị cho bọn Cộng sản Mỹ mà thường xuyên đã ký các chi phiếu, 2577 thuê chổ đặt văn phòng, 2578 sắp xếp hành trình du lịch, tuyển dụng tham dự viên và thi hành các chương trình của nhiều tổ chức phản chiến. Chỉ cần $ 1,75 thì CIA đã có thể  mua tin như vậy từ các bản in về những phiên điều trần của Quốc hội được xuất bản bởi U.S. Government Printing Office ~ Văn phòng Nhà in Chính phủ Hoa Kỳ.

Như David Horowitz và Peter Collier đã cho thấy rỏ ràng là rất nhiều tên trong đám lãnh đạo hàng đầu của phong trào phản chiến đều là cộng sản hay con cái của Cộng sản. Nhân vật bênh vực chính cho bọn âm mưu Chicago chính là  Cora Rubin Weiss, một loại “em bé mang tã đỏ” mà cha là Samuel Rubin đã sinh ra ở Nga và nguyên là một tên Cộng sản bí mật chuyên hoạt động trong các mặt trận Cộng sản và sở hữu thương hiệu nước hoa Faberge mà thật sự được xây dựng nhờ các tàu thuyền của Cộng sản từng bất chấp lệnh phong tỏa trong thời Nội chiến Tây Ban Nha . 2579

Có lẽ các chàng trai già OSS đã lẫn lộn bọn Cộng sản với các đảng viên Dân chủ và Cộng hòa. Hồ Chí Minh thì chắc chắn đã lừa được tổ chức tiền thân của CIA.

Cơ quan CIA cố tình làm kẻ đui mù CIA để không thèm đọc ngay cả báo chí chớ chưa nói gì đến việc tiến hành các hoạt động tình báo sao cho hữu ích.

Richard Nixon rồi thì sẽ bị mất chức một phần do các hành động mà ông nói là đã thi hành vì lợi ích an ninh quốc gia. Trớ trêu thay, một trong những nhân chứng tốt nhất về vấn đề này đã là John Dean, một trong những kẽ đã giết sự nghiệp chính trị của vị Tổng Thống. John Dean đã làm chứng vào ngày 26 tháng 6 năm 1973 trong phiên điều trần vụ Watergate mà cuối cùng sẽ hạ bệ Tổng thống Nixon:

Biên bản phúc trình mà tôi nhận được từ CIA đã thuần túy là loại tài liệu mật liên quan đến các hoạt động của một số kẻ biểu tình phản chiến hay của những kẻ đi Hà Nội …. Ngoài ra, là tài liệu về ngoại quốc tài trợ cho các nhóm cực đoan trong nước … mà thông thường tôi sẽ chuyển tiếp cho Tiến sĩ Kissinger hay Tướng Haig.”  2580

Trên thực tế, John Dean đã nhận được nhiều thông tin hữu ích hơn nhờ việc điều tra của FBI và việc NSA chặn nghe lén hơn nếu so với cung cấp của CIA. Đóng góp thực tế của CIA về tin tình báo liên quan các hoạt động phản chiến và các nguồn vốn đã  rất là thưa thớt khi so với FBI, với giới truyền tin công khai và những bộ hồi ký về những vấn đề tương tự. Xem ra thì có vẻ như CIA đã không hề còn tiếp tục đóng góp loại tin tình báo này nữa. Các phiếu trình nội bộ CIA mà chúng ta đang thảo luận ở đây, đã cho thấy là CIA không hề có được gì có giá trị sau cuối năm 1968. Chương trình CHAOS của CIA thì đã có cung cấp 37 bản ghi nhớ cho Tổng thống. CIA có thực sự không thực hiện được gì có giá trị chăng?

Sau cuộc chiến tranh Việt Nam, báo cáo đầu tiên của CIA về nạn khủng bố quốc tế đã tuyên bố, “Nói một cách đơn giản, một tên khủng bố đối với người này thì lại là một chiến sĩ đấu tranh dành tự do cho người khác.”  2581

Ngày nay liệu khã năng của CIA có tồi tệ hơn so với thời Việt Nam không? Cựu Đại sứ Mỹ tại Liên Hợp Quốc John Bolton, phóng viên thời sự tờ Washington Times Rowan Scarborough và văn sĩ Kenneth Timmerman đã có viết là các viên chức quan liêu trong Bộ Ngoại giao và CIA đã làm suy yếu Tổng thống Bush ở Iraq. Quyển lịch sử của CIA do Tim Weiner  viết, Legacy of Ashes, cho thấy sự bất lực của CIA đã có từ rất lâu và có tính cách định chế.  2582

Tình Báo Quân Sự

Trong cơn bối rối, tính cách vô hiệu của CIA so với khã năng tình báo của quân đội quả đúng không phải là mâu thuẩn. Ở Việt Nam, tình báo quân sự đã là yếu tố  chết sống thay thế cho tình trạng khiếm khuyết tin tình báo về phía các cơ quan dân sự. Bên cạnh các tài liệu tình báo của FBI, tình báo quân sự Mỹ mà đã từng bị phỉ nhổ khắp nơi lại đã thu lượm được vô số các tài liệu cộng sản đáng giá bị tịch thu trên chiến trường Việt Nam, đăc biệt là các tài liệu được chuyển ngữ bởi Trung tâm Phối hợp Khai Thác Tài Liệu (Combined Documents Exploitation Center ~ CDEC) tại Bộ Tư Lệnh Cố Vấn Quân Sự Mỹ (United States Military Assistance Command), Sài Gòn, Việt Nam.

Đa Số Tin Tình Báo Thu Lượm Được Đều Đã Được Chuẩn Phê

Suốt cuộc chiến Việt Nam, một số cơ quan tình báo Mỹ đã bị chỉ trích kịch liệt do việc đã chọn lọc đối tượng để theo dõi kiểm soát và đã ít được cho phép khám xét trong thời chiến –  đặc biệt là với FBI, NSA, các cơ quan thuộc Bộ Quốc phòng, và cảnh sát địa phương. Một số quả đã có hoạt động bên ngoài vòng pháp luật của lúc đó nhưng  Đạo luật  1968 Omnibus Crime Control and Safe Streets Act nhằm chỉnh sữa các phán quyết của Toà án mà đã cấp các quyền của Đệ Tứ Tu Chính ngay luôn cho người ngoại quốc, 2583 đã cho phép cảnh sát và các cơ quan liên bang thẩm quyền kín đáo rộng rãi hơn để tiến hành việc theo dõi và đặt máy nghe lén chống lại các nhóm và cá nhân bị coi như là mối đe dọa đối với an ninh quốc gia.

Tuy nhiên, vị Chưởng lý vẫn phải đã có phê duyệt và công nhận là việc theo dõi cũng như là đặt máy nghe lén cần thiết khi căn cứ trên một trong năm lý do : (1) để bảo vệ quốc gia chống lại các hành động thù địch của một thế lực ngoại quốc, (2) để thu lượm tin tình báo ngoại quốc thiết yếu đối với an ninh, (3) để bảo vệ tin tức về an ninh quốc gia phòng chống lại tình báo ngoại quốc, (4) để bảo vệ Hoa Kỳ chống lại việc lật đổ Chính phủ bằng những phương tiện bất hợp pháp, hay (5) để bảo vệ Hoa Kỳ chống lại một mối  hiểm nguy rõ ràng hay hiện hữu. Các lý do 1 tới 3 rõ ràng là có thề áp dụng đối với các hành vi của bọn lãnh tụ chóp bu của phong trào phản chiến.

Đã có khá nhiều thẫm quyền được chuẩn phê hay đang có sẵn, nhưng thực sự rất ít đã được thi hành trong một thời gian đang xẩy ra các cuộc khủng hoảng quốc nội và quốc tế. Đã có ít hơn là 2.000 người trong số 220 triệu người Mỹ đã bị theo dõi, một số ít hơn nữa thì bị lập ‘index’ hay hồ sơ riêng của họ, và một số rất nhỏ đã đành phải bị truy tố dựa trên bằng chứng không đầy đủ. 2584 Những tên bị kết án thường không bị tống giam vì nguồn gốc cùng các phương pháp của chính quyền đã cần phải được bảo mật thay vì khai trình công khai ra trưóc tòa, một hiện tượng mà nay vẫn cứ còn tiếp tục trong việc theo đuổi chận bắt bọn gián điệp Trung cộng.

Các Chế Độ Dân Chủ Tự  Biện Hộ

 

Reagan đã nói vụ Việt Nam có một căn nguyên cao quý xứng đáng để phải lấy những quyết định không được lòng dân. “Nước Mỹ đã rất là hào phóng đối với những kẻ đã từ chối phục vụ đất nước của họ trong chiến tranh Việt Nam.” Và do đó, khi Tổng thống Ronald Reagan ân xá cho hai nhà lãnh đạo FBI  thì ông đã nói: “Chúng ta cũng không thể nào kém hào phóng hơn với hai người đàn ông mà đã chỉ hành động theo cái nguyên tắc cao cả 2585 là chấm dứt nạn khủng bố đang đe dọa đất nước chúng ta.” Reagan đã ân xá các viên chức FBI W. Mark Felt và Edward S. Miller, hai điệp viên mà chỉ hành động chống lại bọn khủng bố của Tổ chức Weather Underground. Trong phiên xử, đã có năm, xin lặp lại, là có năm Chưởng Lý Mỹ khác nhau đã làm chứng rằng các hành động của Felt và  Miller đều khã dỉ biện minh được. 2586 Bọn khủng bố bao gồm Bernardine Dohrn và người chồng William Ayers thì đã không bao giờ chịu hối cải và là những tên quen rất thân với Tổng thống Barack Obama.

Như Lincoln và Churchill, Reagan đã nhận ra được là các thể chế tự do rất xứng đáng để được bảo vệ chống lại bọn thù địch quốc nội và quốc ngoại. Một nền  lãnh đạo yếu kém dể phá nát các văn minh hơn ngay cả nếu so với cách mạng hay bọn xâm lược man rợ. Năm 1917, Nga hoàng Nicolas đã là một người tốt bụng theo Thiên chúa giáo mà tư cách đúng đắn đã không thể đối phó được với hoặc Thế chiến I, cuộc cách mạng dân chủ của Alexander Kerensky hay cuộc đảo chính khủng bố Bolshevik của Lê-nin. Cũng vậy,  Cộng hòa Weimar Đức quốc đã đặt hy vọng cuối cùng trong niềm tuyệt vọng vào Tướng Hindenburg, một loại khổng lồ Titan bằng gỗ, thiếu cương quyết để ngăn chặn quá nhiều kẻ thù –  Đức Quốc xã và Cộng sản – hầu bảo vệ nền dân chủ tự do hoàn hảo nhưng yếu đuối là Weimar. Cả tên Đức Quốc xã Adolph Hitler  và những bọn Bolshevik Đức đều đã nhìn thấy các cơ hội trong cố gắng đầy thảm hại của Weimar để cố bảo vệ nền văn minh của mình. 2587

Trong thời Thế chiến II, nhân phiên xử Terminiello, Chánh Thẫm Tòa án Tối cao Hoa Kỳ, Robert H. Jackson đã viết, một học thuyết thuần túy nhất về các quyền  tự do dân sự chắc sẽ “biến đổi bộ luật hiến định Bill of Rights thành một hiệp ước tự tử ~ suicide pact”.  Cũng vậy, Chánh Thẫm Frederick Moore Vinson đã có viết, “Các danh từ (‘hiểm nguy rõ ràng và hiện hữu ‘)  không có nghĩa là trước khi Chính phủ có thể hành động thì cũng phải chờ cho đến khi cuộc nổi dậy sắp bắt đầu … Nếu Chính phủ biết được là có một nhóm đang nhắm lật đổ … thì Chính phủ cần phải ra tay ngay.” 2588

Ngày nay Trung cộng rất nghi ngờ quyết tâm và khả năng của chúng ta để bảo vệ Đài Loan và chắc là phải đang cười thầm về việc chúng ta đã thất bại không  truy tố được cả hàng ngàn gián điệp đang hoạt động bên trong Hoa Kỳ. Osama Ben Ladin đã quyết định là Mỹ quả quá yếu đuối sau khi Mỹ rút lui khỏi các  doanh trại bị đánh bom tại Beirut và khỏi một Mogadishu đẫm máu cũng như là thái độ bất động sau vụ đặt bom toà đại sứ ở châu Phi và vụ tấn công chiếc USS Cole.  Saddam Hussein của Iraq đã được khuyến khích khi nhìn thấy Mỹ bỏ chạy khỏi Việt Nam sau khi bị “chỉ có” 58.000 thương vong và y cảm nhận ra được nỗi sợ hãi của Mỹ về số thương vong ít hơn nhiều ở Somalia, Bosnia và Kosovo. 2589

Kể từ sau Weimar, các nền dân chủ đã không được chuẩn bị đầy đủ để tiến hành một cuộc chiến ngay trên chính các đường phố của mình. Họ đã thất bại khi không lường được mức độ tàn ác của loại thù địch độc tài. Cậu bé đứng chận ở phía trước của chiến xa tại quảng trường Thiên An Môn ở Bắc Kinh đã biến mất  khi trời tối và đã không bao giờ được nhìn thấy lại. Những kẻ bất đồng chính kiến ​​với Chủ nghĩa phát xít Hồi hay Trung cộng đều bị chặt đầu hay xử tử ngay tức khắc lúc đêm về ở những nơi bí mật nào đó. Bằng chứng về sự tàn ác và diệt chủng chỉ bị lộ ra mãi tới nhiều năm sau đó. Cuối cùng, các nền dân chủ vào các thời kỳ cuối của tiến trình suy đồi thì quả đã có quá nhiều công dân mà hoàn toàn không hề biết gì về di sản của họ mà cũng không còn tin tưởng vào tính hợp pháp của chế độ. Những nền dân chủ đang suy đồi rất ít có khả năng gom lại ý chí để kịch liệt tự vệ một cách tương xứng với các mối đe dọa mà kẻ thù đang đặt ra cho mình.

“Mọi người đã ngủ được êm thấm trên giường vào ban đêm chỉ vì đang có những kẻ hung dữ đang sẵn sàng để bạo hành nhân danh họ”, George Orwell từng nói như vậy.

Các nền dân chủ cũng cần những người gan lỳ đó mà đã có thể làm những điều khủng khiếp vào đêm. Mọi nền văn minh đều được xây dựng và duy trì bằng các công việc bẩn thỉu như cực khổ xây dựng nền móng của hệ thống ống cống, các lò sát sinh, các nhà tù và, đúng, đi lính.  Quân đội là một điều cần thiết xấu xa mà mục đích chỉ là để tiêu diệt mọi thứ và để giết người để tâm hồn thương tha nhân của các công dân bình thường không làm họ khó ngủ về đêm và để rồi họ sẽ có thể thức dậy vào buổi sáng mà đi xuống đường phản đối sự bất toàn và các lỗi lầm của ngay những người đang bảo vệ họ.

Quyền phản đối của công chúng được tôn thờ đúng đắn trong các tài liệu thành lập và trong Hiếp Pháp Hoa Kỳ. Tội phản quốc thì lại không được như vậy. Vấn đề khó xử là khi nào thì một kẻ nào đó, nhân lúc phản đối lại đã tham gia với phía bên kia để tìm cách tiêu diệt cái chế độ tự do và tiêu diệt luôn ngay cả các quyền để phản đối của chính y? Làm thế nào để điều chỉnh lại sự mất thăng bằng mà không làm tổn thương vĩnh viễn cho những thứ từng là vĩnh viễn?

Hầu hết mọi di sản thời chiến tranh Việt Nam đều gây trở ngại cho việc bảo vệ quốc gia. Để lộ các bí mật quân sự và ngoại giao là một sự kiện thường ngày trong cuộc chiến chống lại chủ nghĩa phát xít Hồi. Cũng vậy, kỷ thuật chết sống cho nền an ninh quốc gia cứ lũ lụt thoát ra đi khỏi các phòng thí nghiệm và các nhà máy của chúng ta để vào tay của kẻ thù. Trong một số khía cạnh nào đó, những kẻ ngày hôm nay ủng hộ Tổng thống thường xuất phát từ các diễn đàn  đại học hơn là trong thời chiến tranh Việt Nam.

Các đại học có thái độ thù Mỹ nay thống trị môi trường đại học Hoa Kỳ vì những tên từng xuống đường thì nay đã thành giáo sư để tiếp tục rao giảng nổi niềm bất đồng chính kiến của chúng. Biết bao điều phi lý đang xẩy ra khắp nơi. Thẩm phán thì phóng thích bọn chiến binh và khủng bố dù chúng công nhận là sẽ trở lại chiến trường tiếp tục đấu tranh.

Các Bằng Chứng Về Quốc Gia Cảnh Sát Trị Không Hề Chinh Phục Được Ai Cả

Các bằng chứng về cáo buộc “quốc gia cảnh sát trị” trong thời gian chiến tranh Việt Nam không có gì là đáng sợ. Chiếu theo thẩm quyền quy định bởi các án lệnh và / hoặc Đạo luật Omnibus Crime Control Act (Kiểm soát tội phạm) năm 1968, từ 1960 cho đến tháng 10 năm 1975, FBI đã xâm nhập các nhà ở và cữa hàng 454 lần nhằm tìm 290 đối tượng riêng lẻ – trung bình là 30 lần cho 10 đối tượng mổi năm trên một dân số là 250.000.000 người. Hầu hết  là để cài đặt máy thu âm khuếch đại để ghi lại các cuộc đàm thoại. Từ tháng 1 năm 1967 đến tháng 3 năm 1975, đã có 172 lần theo dõi như vậy 2590 – trung bình khoảng 20 lần mổi năm.

Những nước cảnh sát trị theo đúng nghĩa như Đức Quốc xã, Liên Xô, Đông Đức, Trung cộng và Cuba đều thu lượm tin tình báo về từng mỗi công dân của các nước láng giềng của họ, các đồng nghiệp và các người ngay trong gia đình họ. Hàng triệu nạn nhân đã biến mất về đêm sau khi chỉ được xét xử tượng trưng và không phải là chỉ có vài vụ hành quyết mà thôi. Những việc như vậy đã không hề xảy ra trong thập niên sáu mươi hay để nhằm đáp ứng lại với vụ 9/11. Mỹ đã không bao giờ có một hệ thống kiểu trại lao động cưỡng bách gulag hay Lào Gai. Mỹ đã rất là nghiêm khắc đối với hình phạm thông thường, nhưng lại quá nhẹ nhàng với bọn gián điệp và kẻ phản quốc.

Vào một thời điểm lịch sử, Giám đốc FBI là J. Edgar Hoover đã đệ trình một kế hoạch cho Tổng thống để yêu cầu Quốc hội biểu quyết một nghị quyết chung, mà đã không bao giờ được thi hành, để đình chỉ Habeas Corpus, cho phép bắt giữ và đưa ra tòa xét ​​xử 12.000 tên trong danh sách của FBI liệt kê bọn phá hoại cộng sản mà có khả năng phản quốc, làm gián điệp và phá hoại chống lại Hoa Kỳ.

Kế hoạch lạnh mình này của Hoover  đã không phải là trong thời chiến tranh Việt Nam.

Đó là vào tháng 7 năm 1950 trong những ngày đầu của Chiến tranh Lạnh, khi các quân đội Cộng sản và các cuộc đảo chính đã tràn chiếm Đông Âu và Trung Hoa, rồi đe dọa miền nam châu Âu và tràn xuống Nam Hàn vào tháng 6. Căn cứ vào các sự kiện đang xẩy ra lúc đó, mọi người đều không nghi ngờ gì khã năng sẽ xảy ra cuộc chiến tranh với cả Trung cộng ở Đông Dương  2591 và ở Formosa (Đài Loan) cũng như với Liên Xô ở những nơi khác. Kế hoạch chuẩn bị thận trọng của Hoover trong thời chiến vào tháng 6 năm 1950, khi tìm kiếm sự chấp thuận trước của Quốc hội và Tổng Thống có thể đã là hành vi xấu xa nhất có thể có được đối với một “nhà nước cảnh sát trị” Mỹ. 2592  Và nó hoàn toàn không dính líu gì đến việc dẹp bỏ phong trào phản chiến.

Việc đặt máy nghe lén điện thoại lúc đó rất hiếm. J. Edgar Hoover thường đã phản đối việc này từ năm 1924 và sau khi Tổng thống Roosevelt đã phê chuẩn cho phép vì lý do an ninh quốc gia vào năm 1940, mỗi Bộ Trưởng Tư Pháp sau đó, kể cả Robert Kennedy, Nicolas Katzenbach, Ramsey Clark đều đã có nhận được yêu cầu của FBI bằng hình thức văn bản trước khi cho phép tiến hành từng vụ nghe trộm điện thoại. Hoover chống lại  “các vụ nghe lén non trẻ này.” Vì lý do là bằng chứng do nghe lén điện thoại sẽ đã không được chấp nhận trong các vụ án hình, Hoover chủ trương là mục đích duy nhất của nó chỉ là thu thập tin tình báo khi liên hệ đến mạng sống của một người hay một quốc gia – bắt cóc và hoạt động gián điệp. 2593

Ấy vậy, nhiều Tổng Thống và Chưởng lý cũng đã yêu cầu đặt máy nghe lén vì  lý do riêng. Lo ngại là “cộng sản có thể có ảnh hưởng”, vào ngày 10 tháng 10 năm 1963,  Chưởng lý Robert F. Kennedy đã chấp thuận một “cuộc nghe lén điện thoại” đối với Martin Luther King “tại mọi cư sở trong tương lai”. Những cuộc nghe lén điện thoại đáng tởm do Kennedy cho phép này, các cuộn băng thu khét tiếng tại nhà trọ đã xầy ra từ 8 tháng 11 năm 1963 đến ngày 30 tháng 4 năm 1965. 2594 Vào ngày 10 tháng 10 năm 1966, vị Chưởng lý Ramsay Clark từng khét tiếng về bênh vực quyền tự do dân sự đã  phê duyệt chín vụ nghe lén điện thoại. 2595

Bất kể những cáo buộc về một nhà nước cảnh sát trị Mỹ của bọn Seven Chicago và Cora Weiss, các cuộc họp của đám Mỹ với các gián điệp của Hà Nội vẫn tiếp tục một cách nhanh chóng ở Cuba mà không hề có sự can thiệp của Chính phủ Mỹ.

*****

2542  Herbert Romerstein và Stanislav Levchenko, The KGB Against the “Main Enemy,”: How the Soviet Intelligence Service Operates Against the United States, Lexington (Mass): Lexington Books, 1989, trang 275.

2543  Tài liệu tình báo của Chính phủ Hoa kỳ được giải mật liên hệ đến những móc nối giữa bọn cộng sản và ngoại quốc với Weather Underground. Được đệ trình như là bằng chứng theo thỏa thuận giữa công tố viện và luật sư biện hộ tại phiên xử W. Mark Felt và Edward S, Miller, trang 14 tại www.usasurvival.org.

2544   Clavir, (ed.), Transcript, trang 320.

2545   Reunion, trang 297.

2546   Cung khai của Cora Weiss trong Clavir, (ed.), Transcript, trang 431.

2547   Khai trình của Linda Morse trong Clavir, (ed.), Transcripts…, trang 321; Xem thêm: Cung khai của Frank D. Sweeney trong Clavir, (ed.), Transcripts…, trang 132; Đọc: Farber, trang 161 ghi chú 99 có nêu ra toàn bộ biên bản phiên tòa, trang 3969.  Tòa The Seventh Court of Appeals sau đó đã có viết: ngày 25 tháng 7 năm 1968… nhân một buổi họp tại New York của Fifth Avenue Peace Parade Committee… Bị can [Hayden] đã nói là Mỹ đã là một quốc gia ngoài vòng pháp luật… Nước này đã vi phạm mọi luật lệ nên do đó, các người biểu tình cũng có thể vi phạm mọi luật lệ mà thôi . . . Bắc Việt đang đổ máu và các kẻ biểu tình chỉ đòi hỏi hòa bình . . . [tại] Chicago cần phải chuẩn bị để cùng đổ máu mà thôi . . . [Hoa Kỳ chống Dellinger, trang 300]. Tòa Kháng cáo đã xem việc này như là một thúc đẩy bạo loạn từ Hayden chứ không phải là từ phía Cảnh sát.

2548  Tài liệu của ILS trong bộ Sưu Tập New Left Collection tại Hoover Institute ở Stanford. Các bản sao hiện tác giả đang có.

2549   James W. Clinton phỏng vấn David Dellinger, Mary Clarke, 23 tháng giêng năm 1991 trong tài liệu của James W. Clinton, The Loyal Opposition: Americans in North Vietnam, 1965-1972, Niwot: University Press of Colorado, 1995, trang 41.

2550  Tài liệu tình báo của Chính phủ Hoa kỳ được giải mật liên hệ đến những móc nối giữa bọn cộng sản và ngoại quốc với Weather Underground. Được đệ trình như là bằng chứng theo thỏa thuận giữa công tố viện và luật sư biện hộ tại phiên xử W. Mark Felt và Edward S, Miller, trang 28 tại www.usasurvival.org.

2551   Ayer, Fugitive, trang 121-122. 

2552   Jackie Goldberg, “phỏng vấn’ trong Đoạn 13 ~  Make Love Not War (The Sixties), George Washington University.   

2553   Thơ Bernardine Dohrn (không ngày tháng), gởi “Cuba Trippers-Brothers and Sisters,” 5 tháng 8 năm 1968; Radio Havana phỏng vấn Mike Klonsky tại Chicago, 29 tháng 8 năm 1968; “NIC Discusses Chicago, Elections, Elitism,” New Left Notes, 9 tháng 9 năm 1968; FBI, FOIA, Weather Underground. Nguồn chính là phúc trình Đương nhiệm SAC Chicago gởi Giám đốc, “Foreign Influence-Weather Underground Organization,”  20 tháng 8 năm 1976, trang 87-8.

2554  Gallup, Tháng 9 năm 1968.

2555   Miller, trang 305.

2556   Roberts, Esquire, Tháng Chạp 1968.

2557   Lewis Sorley, A Better War: The Unexamined Victories and Final Tragedy of America’s Last Years in Vietnam, New York: Harcourt, trang 93, 199.

2558   Việc Dính Líu Bạo Loạn Phá Rốì tại Đại hội Đảng Dân chủ năm 1968, Phần 2,  3 tháng chạp năm 1968,  trang 2683.

2559   CIA, FOIA, Family Jewels.

2560   W. Richard Howard nói với Ken Khachigian, phúc trình “chỉ Tổng Thớng đọc” của Tòa Bạch ốc, 12 tháng 4 năm 1973.

2561   Restless Youth (Tháng 9 năm 1968) Số.0613/68 Mật/Nhạy cảm/Không phổ biến ra nước ngoài (bản sao 78) nêu ra trong phúc trình của CIA, FOIA “(không đọc được), Ấn bản của CCI về các Sinh viện Bất đồng chính kiến”, 17 tháng 9 năm 1968, Family Jewels, trang 173 và Phúc trình cho Tổng Thanh Tra ngày 22 tháng 5 năm 1973, Family Jewels, trang 171. 

2562   “SDS and other student activist groups,” Mật, CIA, FOIA, Family Jewels, trang 330, 335. 

2563   “Trích dẫn, Nhật ký ngày 30 tháng 5 năm 1973, ”Mật/Nhạy cảm, CIA, FOIA, Family Jewels, trang 358.

2564   Điều trần trước Tiểu ban Thượng viện An Ninh Quốc Nội ~ Senate Internal Security Subcommittee, The Nationwide Drive Against Law Enforcement Intelligence Operations, phần 2, 14 tháng 7 năm 1975, trang 170-172.

2565  Nguồn vô danh, truyền đơn, “Once more HUAC,” không ghi ngày tháng, có lẻ vào giữa tháng 9 năm 1968. 

2566   FBI FOIA Howard Zinn nêu tài liệu The First Issue, Ithaca New York, 27 tháng 9 năm 1968.

2567   “Antiwar Letters Sent to U.S. Peace Groups,” Liberation Press Agency, 8 tháng 10 năm 1969, văn khố TTU. Do Rothrock viện dẫn, trang 139, ghi chú 14 và 40.

2568   Rochester và Frederick Kiley, Honor Bound, American Prisoners of War in Southeast Asia 1961-1973, Annapolis: Naval Institute Press, 1999, trang 407.

2569   Tiết lộ: Sau khi trở về từ Đông Hồi (Bangladesh), tác giả từng là một nhân viên sở tại có lãnh lương, lo tổ chức chiếc xe buýt đi tranh cử, trong phái đoàn tranh cử của Nixon tại New York vào năm 1968. Cuộc vận động tranh cử đã phát các tài liệu viết và phát thanh các diển văn tranh cử, đặc biệt là về các đề tài luật lệ và trật tự.

2570  Phần Nhập đề, “Tài liệu tình báo của Chính phủ Hoa kỳ được giải mật liên hệ đến những móc nối giữa bọn cộng sản và ngoại quốc với Weather Underground. Được đệ trình như là bằng chứng theo thỏa thuận giữa công tố viện và luật sư biện hộ tại phiên xử W. Mark Felt và Edward S, Miller, trang 2 tại www.usasurvival.org.

2571   HCUA, Báo cáo về National Lawyers Guild, Thành lũy Luật pháp của Đảng CS Mỹ, Union Calendar Số 1078, Quốc hội Nhiệm kỳ Thứ 81, Khóa  2, Phúc trình Hạ viện số 3123,  17 tháng 9 năm 1950, trang 8.

2572   Mấy tên đồng âm mưu chưa bị truy tố đã là: David A. Baker, Richard Cosciano, Bradford Fox, Don Gripe, Terry Gross, Wolfe Lowenthal, Benjamin Oritz, Richard Palmer, Sidney M. Peck, Benjamin Radford, Craig Shimabukuro, Bo Taylor, Joseph Tornabene. Tổng cộng 128 tên đã sẽ bị tuyên án về tội vi phạm các luật địa phương. Đọc: Sale, trang 542.

2573  Vài thành viên đã là Jim Susyansky, Chuck Kanavan, Sue Hathaway, Jane Silverman, Carol Travis, Steve Wilcox. Việc Nới Rộng của các Cuộc Bạo Loạn tại Các Khuôn Viên Đại Học, Khai trình của Max Phillip Friedman, các buồi điều trần trước Tiều ban Subcommittee to Investigate the Administration of the Internal Security Act and other Internal Security Laws of the Committee of the Judiciary, Thượng viện Mỹ, Nhiệm kỳ thứ 91, Khóa 1., Phần 2, 12 tháng 8 năm 1969, trang 115.

2574   HCUA, Báo cáo về National Lawyers Guild, Thành lũy Luật pháp của Đảng CS Mỹ, Union Calendar Số 1078, Quốc hội Nhiệm kỳ Thứ 81, Khóa  2, Phúc trình Hạ viện số 3123,  17 tháng 9 năm 1950, trang 6 và 7.

2575   Herbert Romerstein, “Impediments to effective counterintelligence and counterterrorism Conference on Counterintelligence: Reform for a Critical National Capability,” McCormick Tribune Foundation and Institute of World Politics, 3 tháng 10 năm 2003 tại  iwp.edu.

2576   Tướng Hayden được viện dẫn trong sách của Rowan Scarborough, Sabotage: America’s Enemies Within the CIA, Washington: Regnery, 2007, trang 160.

 2577  Chi phiếu: các đảng viên đảng CS Mỹ cùng bọn cộng tác, Abe Bloom (CS), Sid Peck (CS), và Brad Lyttle (WRL, và hoạt động thiên cộng ủng hộ các mặt trận CS) đã ký những chi phiếu cả cho New Mobe và PCPJ; Các đảng viên của Cộng sản Trotskyite SWP, Patricia Grogan và Syd Stapleton, đã ký các chi phiếu cho National Peace Action Coalition, NPAC; Carol Lipman (SWP) và Don Gurewitz (SWP), con trai của các đảng viên đảng CS Mỹ được nhận dạng là Casey và Helen Gurewitz, đã ký các chi phiếu cho Student Mobilization, SMC.  Carol Lipman (SWP) và Don Gurewitz cũng rất tích cực hoạt động trong National/New Mobe và Washington Mobe. Xem tại: http://www.wintersoldier.com/staticpages/index.php?page=KGBKerry.

2578  Các hợp đồng thuê chổ mở văn phòng: Từ tháng 7 năm 1969 đến cuối tháng 2 năm 1970 Abe Bloom, CPUSA, đã ký nhiều hợp đồng thuê chổ mở văn phòng cho New Mobilization Committee to End the War in Vietnam tại 1029 Vermont Ave, NW; Từ tháng 8 đến tháng chạp năm 1969, Carol Lipman, tên Trotskyite SWP, đã ký các hợp đồng thuê chổ mở văn phòng tại 1029 Vermont Ave NW cho Student Mobilization Committee to End the War in Vietnam; Trong tháng 3 và 4 năm 1971, Sydney R. Stapleton, SWP đã ký các hợp đồng thuê chổ mở văn phòng tại 1029 Vermont Ave., NW cả cho National Peace Coalition và National Peace Action Coalition; Trong tháng 3 năm 1971, Brad Lyttle, WRL, cũng là một tên Mác-xít hoạt động tích cực trong các mặt trận CS, đã ký các hợp đồng thuê chổ mở văn phòng cho National Action Group cũng tại 1029 Vermont Ave., NW. Xem: National Peace Action Coalition, NPAC and People’s Coalition for Peace and Justice, PCPJ, Phần I, Điều trần, Ủy ban Committee on Internal Security, House of Representatives, Quốc hội nhiệm kỳ 92, Khóa 1, 18-21 tháng 5 năm 1971. Washington, D.C., trang 1782-84.

 2579  John Rees, Information Digest, 29 tháng chạp năm 1978; Max Friedman nói với tác giả, 25 tháng 2 năm 2008.

 2580  Max Phillip Friedman nêu ra 3SSC 1072 và “Statement of Information,” Điều trần trước Ủy ban Committee on the Judiciary, Hạ viện, Quốc hội NHiệm kỳ 93, Khóa 2, Sổ  VIII, Internal Revenue Service, Tháng 5 và 6 năm 1974, trang166.

2581   Herbert Romerstein, “Impediments to effective counterintelligence and counterterrorism Conference on Counterintelligence: Reform for a Critical National Capability,” McCormick Tribune Foundation and Institute of World Politics, 3 tháng 10 năm  2003 tại  iwp.edu.

 2582   John Bolton, Surrender Is No Option; Rowan Scarborough, Sabotage; Tim Weiner, Legacy of Ashes: The History of the CIA, New York: Doubleday, 2007.

 2583   Vụ án Berger chống New York, trang 388, U.S. trang 41 (1967) và Katz chống Hiệp Chũng Quốc, trang 389, U.S. trang 347 (1967).

 2584  Nhiều phúc trình của FBI cung cấp cho Ủy ban Church Commission và được nêu ra bên dưới đây.

2585  Nếu đề cao là W. Mark Felt, tay “Deep Throat” trong vụ Watergate có những nguyên tắc đạo đức cao thì có lẻ chúng ta đã quá lố, vì sự kiện y đã hũy diệt Tổng Thống

Nixon chỉ là do trả thù hơn là do lòng ái quốc vì lý do y  đã không được cứu xét đến để nắm chức Giám đốc FBI. Khi phát giác ra “Deep Throat” là Felt thì việc tiết lộ tin tức đã được biến thành một hành vi ái quốc cao cả.  Socrates, “Traitriotism at the CIA,” Diaries, 24 tyháng 4 năm 2006, Socrates.redstate.com,   http://socrates.redstate.com/story/2006/4/24/13265/2055

 2586   Roy M. Cohn, “Foreword,” Outlaws of Amerika: the Weather Underground.

2587   John W. Wheeler-Bennett, Hindenburg: the Wooden Titan, New York: St. Martin’s Press, [1936] tái bản năm 1967.

2588   Vụ án Dennis chống United States, trang 341 US 494 (1951) tại trang 509, cũng tại  findlaw.com.  

2589   Kevin M. Woods nói với Michael Pease, Mark E. Stout, Williamson Murray và  James G. Lacy, Iraqi Perspectives Project: A View of Operation Iraqi Freedom from Saddam’s Senior Leadership, U.S. Army, Joint Center for Operational Analysis, Institute for Defense Analysis, Department of Defense, Naval Institute Press, Tháng 5 năm 2006. http://www.foreignaffairs.org/special/iraq/ipp.pdf.

2590  FBI, Tối Mật, THÁNG 6, gởi: Callahan, Adams, Mintz, Wannall, Fulton, “Surreptitious Entry,” 25 tháng 7 năm 1975.

2591   CIA, TỐI MẬT, “Critical Situation in the Far East,” ORE 58-50, 12 tháng 10 năm  1950, trang 9-10.

2592   Giám đốc gởi Cố vấn Đặc biệt của Tổng Thống, (Sidney Souers), Washington, 7 tháng 7 năm 1950. Tim Weiner, “Hoover Planned Mass Jailing in 1950,” New York Times, 23 tháng chạp năm 2007. Weiner nêu ra liên hệ chung quanh về cuộc chiến Triều Tiên mà lúc đó đang rất sôi động và không nói gì đến về hành vi xâm lấn kia của Cộng sản trong khu vực.

2593   Hoover với Katzenbach, 30 tháng 3 năm 1965 nêu ra trong tài liệu FBI, Secret Memorandum, THÁNG 6, C.D. Brennan gởi Ông W.C. Sullivan, “Electronics Surveillance,” 23 tháng 6 năm 1969.

2594   FBI, Phúc trình mật, THÁNG 6, C.D. Brennan gởi Ông W.C. Sullivan, “Electronics Surveillance,” 23 tháng 6 năm 1969.

2595   Như trên

*****

Một phản hồi to “Roger Canfield’s Americong #50”

Trackbacks/Pingbacks

  1. Giới thiệu tác phẩm AMERICONG (MỸ-CỘNG) – Lê Bá Hùng | Ngoclinhvugia's Blog - 05/01/2016

    […] Roger Canfield’s Americong #50 […]

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: