Roger Canfield’s Americong #120

image002

Comrades in Arms

How the Americong Won the War in Vietnam

Against the Common Enemy— America

Copyright Roger Canfield, Ph.D.

1986-2012

No commercial transaction allowed except that approved by the author, copyright holder.

Obtain a prepublication release of a CD-R in Microsoft Word in ENGLISH at a discounted price of $15 from Roger Canfield Rogercan@pacbell.net at 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 or at http://americong.com.

Completely SEARCHABLE for any name, date, place or event of the War and its protesters.   

Cover: Design Stephen Sherman. Photos: Roger Canfield, March 2008. TOP: War protest Hawaii, February 1966 displayed at War Remnants (Crimes) Museum, Saigon. Bottom: Praetorian Guard

Các đồng chí cùng chiến tuyến

Làm thế nào MỹCộng thắng cuộc chiến Việt Nam

Chống kẻ Thù Chung – Mỹ

Giữ bản quyền Roger Canfield, Tiến Sĩ

1986-2012

Không được sử dụng vào mục đích thương mại nếu không có sự đồng ý của Tác giả, người giữ bản quyền.

Có thể mua một tiền bản dưới dạng CD-R Microsoft Word bằng Anh ngữ với giá đặc biệt US$15 ngay từ tác giả Roger Canfield  Rogercan@pacbell.net

tại 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 hay tại  http://americong.com.

Hoàn toàn có thể TRA CỨU hoặc bằng tên, bằng ngày tháng hay biến cố liên quan đến cuộc Chiến cùng cả luôn bọn tham dự biểu tình .

******************************************************

* Tác giả giữ bản quyền © Roger Canfield 1986-2012

  • Lê Bá Hùng chuyển ngữ  (với sự chấp thuận của Tác giả)

 

*****

Chương 120

 

Theo Đúng Cẩm Nang Của Việt Cộng:

Kerry, Weiss, Fernandez

 

 

John Kerry

Trong khi đó thì tại một cuộc họp báo ở Washington vào ngày 22 tháng 7 năm 1971, theo y khuôn kế hoạch của mụ Bình, John Kerry đã kêu gọi Nixon hãy chấp nhận đề nghị hòa bình 7 – điểm của Việt cộng. 4050  Hôn nữa, phải ấn định ngày tháng rút quân vô điều kiện của Hoa Kỳ để các tù binh có thể được trở về nhà.

Theo đúng chỉ thị của Hà Nội ban ra cho tất cả các nhóm phản chiến, Kerry bèn tập hợp một số vợ, cha mẹ và các chị em của tù binh cho đứng bên cạnh y. UPI đã chụp hình Kerry đứng chung với ông bà Richard Sigler Lakewood, tiểu bang Colorado là cha mẹ của Gary Richard Sigler. Cũng có chụp chung với Francis Ford Wahala, Florida, có vẻ là một thân nhân của David Edward Ford. Tờ Daily World đã đăng tấm hình kèm theo một câu chuyện và Đài phát thanh Hà Nội bèn hoan nghênh các nỗ lực của Kerry. 4051 Một hình trên tờ New York Times thì đã cho thấy Kerry chụp chung với Sheila Cronin và Delia Alvarez. 4052  Em trai của Delia là  Everett Alvarez đã nguyên là tù binh bị giam giữ lâu nhất ở phía bắc, 4053 đã từng phải chịu đựng quá nhiều khổ đau ở đó và đã rất là bất mãn với các hoạt động phản chiến của Delia. 4054

Vào tháng 9 năm 1974 thì bọn cộng sản vẫn còn đang vui đùa với nổi khốn cùng mà chúng đang bắt Alvarez phải chịu đựng. Một bài báo trên tờ Vietnam Courier thì hân hoan mô tả các hoạt động phản chiến của mẹ đương sự tên là Chole, của chị hay em là Delia và của người vợ không chung thủy tên Tangee. 4055 Tù binh Gary Richard Sigler thì sau này đã cho biết mình từng phải bị qua màn “rope trick”  cùng với biết bao nhiêu là lần bị đánh đập. 4056 Michael Cronin thì sau này đã hoạt động trong một nhóm các cựu tù binh để phản đối việc Kerry ứng cử chức vụ tổng thống vào năm 2004.

Vài gia đình tù binh đã không để bọn John Kerry và Việt Cộng dùng họ làm công cụ để tuyên truyền. Ngày 22 tháng 7 năm 1971, tờ New York Times có tường thuật là đã có một số gia đình tù binh từ chối đứng chung trên khán đài với John Kerry. Từ dưới số khán thính giả, một người trong gia đình của họ đã hét lên: “Nói láo”.  Một người khác bèn hỏi, “Ông đang vận động để ứng cử chức vụ gì vậy?”.  Một người khác thì cáo buộc Kerry “đã quá thường xuyên lợi dụng niềm khổ đau của chúng tôi” chỉ để đẩy mạnh tham vọng chính trị của y. Tờ Washington Star đã viết là có bốn phụ nữ thân nhân của tù binh, do Veterans of Foreign Wars VFW (Hiệp Hội Cựu Chiến Binh Của Những Cuộc Chiến Hải Ngoại) hộ tống, đã tố cáo là Kerry chỉ dùng các tù binh cho những mục tiêu chính trị riêng của y thôi. Những người phụ nữ này đã gọi những thân nhân tù binh nào mà ủng hộ Kerry thì đều là quá ngu ngốc. Bà Floyd Harold Kushner, vợ của một tù binh, phê bình là nhóm phụ nữ phản chiến đều đã có những thái độ rất là bất xứng. 4057 Chồng bà đã gần bỏ mạng trong thời gian bị giam cầm, bị bỏ đói, bị bệnh tật khi bọn Việt Cộng giam giữ ông ta. 4058

Thi hành những huấn thị của cộng sản là một công việc đầy đói hỏi nhưng vào ngày 22 tháng 7 năm 1971, chiếu theo chỉ thị của Thông tư Việt Cộng số 33, Cora Weiss với John Kerry đã quyết định sử dụng tù binh cùng gia đình của họ như là những con tin và dụng cụ tuyên truyền. Có vẻ như Kerry quyết gắn bó với những tên từng thu dụng y ta để cộng tác.

Cẩm Nang Làm sao để Khai thác Gia đình Tù binh

Việc khai thác gia đình tù binh đã nằm trong cẩm nang của bọn Việt Cộng dành cho cán bộ. Nó phù hợp với sự mô tả của một hồi chánh viên về kế hoạch của chúng vào mùa thu năm trước, về các thông tư của chúng và về đề nghị của mụ Bình gần đây tại Ba-lê.

Chính sách từ lâu nay của Việt cộng nhằm lợi dụng các gia đình tù binh đã luôn luôn rất là rỏ ràng:

Bọn cán bộ Binh vận đã luôn luôn quan tâm đến thông tin cá nhân của các tù binh … đã luôn luôn cố dành sự ủng hộ của người tù binh đó cùng gia đình và bạn bè của đương sự và công chúng Mỹ. … Bộ phận Binh vận thì cố gắng gây bất mãn và thúc đẩy việc phản chiến trên khắp nước Mỹ”.  4059

Cácảnh hưởng cá nhân của các quân nhân Mỹ đều đượm nét thân mật, có tính cách cá nhân và rất là công hiệu. Một tài liệu bị tịch thu có giảng dạy cho cán bộ “là phong trào chống chiến tranh Việt Nam đang lan rộng tại Hoa Kỳ và đang có một yêu cầu là phải cung cấp cho phong trào này (chống chiến tranh Việt Nam)  những vật liệu tư trang của lính Mỹ”. 4060  Một tài liệu khác thì có nội dung, “… Các tử thi … thì phải được bí mật chôn cất sau khi đã lột lấy tất cả các đồ dùng cá nhân có mang theo”. Một tài liệu năm 1970 đã “kêu gọi … tiếp tục … tịch thu vật dụng cá nhân của quân nhân Mỹ … để chuyển về Hà Nội”. 4061

Theo Bell và Veith, một chỉ thị đã có từ lâu của Việt Cộng là về các chi tiết cá nhân:

Các tài liệu rất là cần thiết … để phát triển các chương trình truyền thanh tuyên truyền hướng tới các gia đình tù binh và binh lính bị mất tích trong chiến trận … trong tháng 11 năm 1967 … Hà Nội thông báo về cái chết của Hạ Sĩ Thủy quân Lục chiến James O. Pyle. Pyle … đã còn sống … nhưng … những thơ mang địa chỉ của cha mẹ ông ở Mỹ thì đều đã bị tịch thu …”.  4062

Đại úy về hưu James H. Warner đã cho biết trong “Stolen Honor ~ Danh Dự Bì Tráo Cắp”:

… Tên thẩm vấn đưa tôi đọc một bản trích lục về lời khai trình của mẹ tôi cho cái gọi là Winter Soldier hearings (Điều trần của Chiến binh Mùa Đông) … Y  nói là John Kerry đã giúp tổ chức các buổi điều trần … vì tay này đã rất là năng động, bởi vì y từng đã là một sĩ quan Mỹ, đã phục vụ trong Hải quân Mỹ. Tên thẩm vấn … bắt đầu đập bàn và nói thấy không, “Đây, sĩ quan hải quân này, y đã thừa nhận mày là một tội phạm và mày đáng để bị trừng phạt” …

Tù binh Đại tá Leo K. Thorsness thì cho biết:

Không có gì phải tranh cải nữa, chúng tôi đã bị giam giữ lâu hơn chỉ vì bọn phản chiến; từ bọn Kerry đển bọn Fonda và Hayden … Chúng đã khuyến khích đối phương để cứ ráng bám trụ … Địch quả có biết thế nào là sức mạnh nhưng chúng cũng là những chuyên gia về giao tế công cộng. 4063

Chuẩn tướng Không quân đã về hưu Robinson Risner, một tù binh bị giam tới bảy năm, bốn tháng thì đã cho biết:

… Chúng ta đã có quá nhiều tên đến Bắc Việt, mà bọn Việt cộng đã nói với tôi là [đã đang giúp chúng chiến thắng] được cuộc chiến trên các đường phố của Mỹ. … Tôi không nghĩ là đúng đáng khi một người Mỹ … hổ trợ về tinh thần cho bọn Việt cộng.

Trò Chơi Thơ Từ Tù Binh

Cách cư xử thô lỗ của Cora Weiss đã lại lộ rỏ trong một bức thư gởi cho gia đình của các tù binh vào tháng 8.

Vì vụ không tạc ở Lào và Bắc Việt nên “việc chuyển giao thơ đã bị giảm sút”. Những hiểm nguy như vụ tấn công ở Sơn Tây “cũng có thể đã là một yếu tố góp phần vào việc thư chuyển đi bị suy giảm”. Nay phải làm gì thì cũng đã quá rỏ. “Giải pháp cho vấn đề chỉ là Tổng Thống phải định ngày tháng … nhưng điều này  là do nơi chúng ta phải gây áp lực với Tổng Thống …”. Cora Weiss đã chỉ đưa ra các điểm cần đàm phán từ phía Mặt trận Yêu nước Lào, từ một đoạn trích của AP tựa đề “POW List Pledged if US Sets Deadline ~ Danh sách tù binh được hứa nếu Hoa Kỳ quy định thời hạn”, kèm theo một hình vẻ cảnh nghĩa trang với chú thích “Ngày Từ Mẫu” và một mục thuê đăng của mụ Bình vào ngày 9 tháng 8 năm 1971 trên tờ New York Times.

Bài thuê đăng của mụ Bình đã nêu ra là vụ không tạc ở Campuchia và Lào đã là một hành vi mở rộng cuộc chiến. Cuộc tấn công của Mỹ vào những mật khu từ lâu nay xem như an toàn của Cộng sản đã là một vấn đề quân sự chính yếu. Vấn đề chiến thuật này quả đã ra khỏi cái chiến lược của mụ từ lâu nay. Hãy ấn định ngày tháng đi thì tù binh sẽ được phóng thích ngay cùng ngày đó. Mụ ta  hiểu rỏ “Nhân dân Mỹ … mong muốn được nhìn thấy lại con cái của họ” và mụ ta hứa, “Binh sĩ Mỹ có thể được hồi hương”.  Ngoài việc phải có một ngày tháng thì mụ cũng muốn chế độ Thiệu phải bị loại bỏ đi. 4064

Mụ Bình, đại diện của Việt Cộng ở miền Nam, không đề cập gì đến tù binh Mỹ ở miền Nam mà Việt Cộng đang giam cầm hay bị mất tích, chớ chưa nói gì tới vấn đề thơ từ của họ. Mà việc này thì hoàn toàn thuộc thẩm quyền của đám Quân giải phóng tưởng tượng của y thị. Việc tù binh nay thì bị mắc nghẹn trên cổ của Nixon. Đúng là một ngón đòn ‘ju jitsu’ tuyệt chiêu. Có vẻ là Cora Weiss đã đánh giá cao màn kịch này nên bèn gửi các đoạn tin này của mụ Bình đến cho các gia đình tù binh.

Giống như vối các gia đình tù binh, đã chỉ có vài tù binh là đã chịu hợp tác.

 Các cuộc biểu tình về Tù binh

 Ngày 13 tháng 10 năm 1971, tại một cuộc biểu tình của VVAW ở Đại học Florida, Gainesville, tay lãnh đạo Scott Camil đã cho phát thanh một băng thu âm của tù binh Đại úy Kishner [Floyd Kushner] lên án các hành động tàn bạo của Mỹ và bày tỏ mong muốn được về nhà với gia đình của mình. Trong băng khác thì tù binh John A. Young được nghe nói là ông ta ủng hộ Bắc Việt và lên án Hoa Kỳ. 4065  Tất nhiên, chỉ những kẻ đang giam giữ họ là Việt Cộng và Hà Nội thì mới có thể thu được những băng này. Kushner, một bác sĩ chớ không phải là một quân nhân, đã là một tù nhân trong một thời gian dài của một đơn vị Việt Cộng mà theo đó, đã có nhiều tù binh đồng trại đã qua đời vì bệnh tật, đói khát, đánh đập và hành quyết. Sau khi bị chuyển về Hà Nội, các sĩ quan tù binh cao cấp đã thuyết phục Kushner ngưng tuyên bố bất cứ điều gì. Ngược lại, Young, một thanh niên bị gọi nhập ngũ và bất mãn với giới chức quân sự mà y cho là độc tài, thì lại đã là một người tự nguyện rất hãnh diện của Ủy ban Hòa bình Hà Nội. Young đã rất “đau buồn về cái chết của Hồ Chí Minh” trong tháng 9 năm 1969 và đã phản bội người bạn tù là Trung sĩ Harvey Brande. 4066

Thái độ làm bộ lo lắng cho các tù binh của bọn trong phong trào phản chiến thì vẫn cứ được tiếp diển.

Ngày 28 tháng 10 năm 1971, Amy Swerdlow thuộc WSP và hai tên khác trở về từ Hà Nội đã đáp xuống Los Angeles với chỉ có 33 bức thư trong số hàng trăm tù binh và đã tổ chức họp báo để đọc một số tên tuổi – Alvarez, Miller, Martin, Schultz, Stirm, Ferr , McSwain và Stafford. 4067 Ngày 4 tháng 11 năm 1971, tại Ba-lê, Đại sứ Porter đặt câu hỏi tại sao Bắc Việt đã giảm số lượng thơ tù binh có thể được phép gởi về nhà. 4068  Hà Nội, bị bắt quả tang đang lợi dụng vấn đề thơ từ, nên vào ngày 21 tháng chạp năm 1971 đã cho phép Mục sư Richard Fernandez của CALC, một tay làm việc cho COLIFAM trở về từ Ba-lê đáp xuống phi trường JFK mang về 1.001 bức thơ của 229 tù binh, trong đó có 18 thơ từ tù binh ở miền Nam. David Dellinger và Cora Weiss đã chuyển tiếp những thơ này kèm theo với những thông điệp của chúng — đã có không tạc cách Hà Nội 25 cây số và Nixon phải ấn định ngày tháng như Quốc hội vừa mới bỏ phiếu chấp thuận. 4069

COLIFAM đã đúng là điệp viên của Hà Nội đang dùng tù binh, gia đình và thơ từ của họ để mà mặc cả. Suốt năm 1971, chỉ có 50 trong số 300 gia đình tù binh là nhận được thơ. 4070 Hãy chận giữ lại các thơ. Hãy áp lực đòi ngày tháng rút quân.

Những Phát Súng Lệnh Tháng 8 Năm 1971: VVAW nhập chung với PCPJ-WRL  tại Hà-nội, Kerry đi Ba-lê Gặp Việt Cộng Cũng Trong Tháng 8 Năm 1971.

Trong tháng 8 năm 1971, John Kerry thực hiện chuyến đi công khai thứ nhì để gặp bọn Việt cộng tại Ba-lê hầu thảo luận về việc phóng thích tù binh. 4071 Số ra ngày 26 tháng 8 năm 1971 của tờ Denver Post trong bài viết về National Student Association Congress (Đại hội Hội Sinh viên Quốc gia) tại Ft. Collins, Colorado, đã cho biết là John Kerry, 28 tuổi, là một tay lãnh tụ quốc gia của VVAW. Kerry cho tờ Denver Post  biết là y vừa trở về từ Ba-lê, nơi y đã nói chuyện với các phái đoàn chủ hòa, kể cả Bắc Việt. Hà Nội thì đã cho biết, “Tất cả mọi việc đều khã dỉ thảo luận được”, nhưng chỉ sau khi Mỹ đã ấn định ngày tháng nhất định cho việc rút quân. Chỉ sau đó thì các tù binh mới có thể được phóng thích và đàm phán mới có thể bắt đầu. Nixon đã “tuyệt đối bất nhân và dự định sẽ kéo dài chiến tranh để chiến thắng”. 4072 Cũng có phát biểu tại cuộc họp này thì đã có – và có vẻ như đã từng đọc qua John Kerry trên tờ Denver Post – là George McGovern, Dân biểu Pete McCloskey, Benjamin Spock và Daniel Ellsberg.

Sau này vào năm 2004, Kerry tuyên bố là y thực sự nghĩ là cuộc họp với Bắc Việt “sẽ gây ra thảm họa cho lòng tin cậy đối với tổ chức [VVAW] …”. 4073 Một tài liệu cắt từ tờ The Denver Post  và hai hồ sơ FBI đã bị kiểm duyệt có xác nhận chuyến đi của y đến Ba-lê để gặp địch với tư cách là một thành viên của VVAW, cũng như theo lời của tên đã viết tiểu sử cho y là Douglas Brinkley và tên phụ trách sử VVAW là Gerald Nicosia. 4074

VVAW nhập chung với PCPJ-WRL tại Ba-lê/Hà-nội: 13 tới 21 Tháng 8 Năm  1971.

Đúng cùng thời gian Kerry đi Ba-lê, tức là từ 13 tới 21 tháng 8 năm 1971, PCPJ (People’s Committee for Peace and Justice) và NPAC (National Peace Action Committee) đã trả tiền cho thành viên Joe Urgo của VVAW đi Ba-lê cùng với một [bị kiểm duyệt] thành viên của War Resisters League  WRL, và [bị kiểm duyệt] của Women’s Strike for Peace, WSP. 4075 David McReynold của WRL đã có mặt tại Hà Nội vào năm 1971 với một cựu chiến binh vô danh, có thể là Joe Urgo. Như tên Kerry, Urgo đã thảo luận với Việt cộng về “hành động quốc tế của các nhân viên đang thi hành công vụ khi biểu tình để chống chiến tranh”. 4076

Tại Hà Nội, Urgo đã dâng các băng của bọn VVAW cho Việt cộng để phát trên Đài Hà Nội nhằm yêu cầu binh lính Mỹ nên ngừng chiến đấu. 4077 Urgo đã nhận lấy 36 thơ từ nhóm PCPJ mang giao cho tù binh và mang về lại được 34 thơ cho gia đình tù binh. 4078 Khi yêu cầu xin gặp tù binh tại Hà Nội, Urgo đã bị từ chối. 4079 Urgo quả đã nhận được bốn băng thu âm tù binh của Chính phủ Cách mạng miền Nam Việt Nam tức là bọn mang tên Việt Cộng. 4080  Trong một băng, có giọng nói của một tù binh tuyên bố hỗ trợ  kế hoạch 7 Điểm của Quân giải phóng và chống lại việc giết chết phụ nữ và trẻ em. Một người khác thì tuyên bố bị bối rối về những “câu chuyện” tàn ác và “về các báo cáo” về sự kiện đã xẩy ra hành vi quăng bỏ huy chương của đám VVAW thực hiện. Một người khác thì lại ca ngợi lòng yêu nước của PCPJ và VVAW. Một người khác thì cáo buộc Mỹ  đang “tiến hành cuộc chiến tranh nguy hiểm  và đê tiện nhất trong mọi thời đại”. Khi đọc kỹ lại thì người ta mới nhận ra được là  có hai tù binh đã dùng mật mã để chuyển tin ra ngoài. 4081

Urgo đã đi thăm các trại huấn luyện và các nhà máy của bộ đội Bắc Việt. 4082 David McReynold có nhớ từng được đến thăm một bệnh viện và được cho biết là Mỹ đã sử dụng loại bom chống cá nhân có viên bi nhựa mà quang tuyến X không thể khám phá được  4083 nên không thể giải phẫu lấy ra cho các người vô tội bị thương.

Khi gặp các phái đoàn PCPJ, VVAW và NPAC tại Hà Nội, Phạm Văn Đồng “bèn đánh giá cao các hoạt động phản chiến … đặc biệt là chiến dịch xuân 1971”, mà nhân đó, bọn VVAW đã đóng một vai trò lớn trong vụ “Dewey Canyon”: quăng bỏ huy chương. Đài phát thanh Hà Nội loan báo, “Các vị khách Mỹ … đã hoan nghênh sáng kiến ​​hòa bình Bảy Điểm … và hứa sẽ đẩy mạnh [bằng] các hành động phản chiến phối hợp của họ”. 4084 Bọn Việt cộng đã đang cố gắng giữ cho hai đám PCPJ và NPAC phải chịu cộng tác với nhau.

Sau này thì Joe Urgo đã tuyên bố là chuyến đi “đã có một tác động rất lớn … để thuyết phục tôi là mình nay đã thực sự đứng về phía Việt Nam”. 4085

Sau đó, Urgo đã có báo cáo về cuộc thảo luận với Bắc Việt trong một cuộc họp với National Steering Committee (Ban Lãnh đạo Quốc gia) của VVAW tại Kansas City, MO vào ngày 12 tới 15 tháng 11 năm 1971. John Lindquist thuộc VVAW Wisconsin đã viết trong một bản tin là,

“Chúng tôi cũng phát hiện ra được hai tù binh từng bị liệt kê là mất tích và đã thông báo cho gia đình họ là họ vẫn còn sống … Chúng tôi đã thu băng thơ đọc của ba đồng chí tù binh … Thậm chí, các đồng chí này cũng đã thành lập được một tổ chức của POW’s Against the War (Tù binh Phản chiến) …”. 4086

*****

 

4050  Báo New York Times, “Anti-War Veteran Accused of Exploiting P.O.W. Issue,”  23 tháng 7 năm 1971; Daily World, 24 tháng 7 năm 1971. Cả hai bài đều có đăng hình những người thuộc gia đình các tù binh.

4051  Hình đăng tại wintersoldier.com …Daily_World_1.jpg. Swett và Zigler nêu ra bài tóm lược đài Radio Hanoi’s Voice of Vietnam, 26 tháng 7 năm 1971 từ hệ thống Vietnam Veterans Radio Network VVRN, Mục kê các băng ghi đài Radio Hanoi; Daily World, 24 tháng 7 năm 1971, trang 3.  

4052  “Anti-war Veteran Accused of Exploiting P.O.W. Issue”, tại wintersoldier.com … Kerry7Points.

4053  Bị chín năm tù, từ tháng 3 năm 1964 tới tháng 3 năm1973, Floyd James Thompson đã là tù binh bị giam giữ lâu nhất kể luôn tại Nam và Bắc Việt.

4054  Craig Howes, Voices of the Vietnam POWs, New York: Oxford University Press, 1993, trang 155 ghi chú 164.

4055  “Comment,” Vietnam Courier,Monthly, Tháng 9 năm 1974.

4056  http://www.scopesys.com/cgi-bin/bio2.cgi?bio=S027

4057  Mary McGrory, “POW Drive in Confusion,” The Evening Star, 23 tháng 7 năm  1971. 

4058  Craig Howes, Voices of the Vietnam POWs, New York: Oxford University Press, 1993, trang 214 ghi chú 64.

4059  Garnett “Bill” Bell và George J. Veith, “POWs and Politics: How Much does Hanoi Really Know”, Center for the Study of the Vietnam Conflict Symposium (Trung tâm Hội thảo về cuộc Chiến Việt Nam), “After the Cold War: Reassessing Vietnam,” Đại học Texas Tech University, 19 tháng 4 năm 1996.

4060  Bell và Veith

4061  Ủy ban Chính ủy Nam bộ của Bộ Chính trị (Standing Committee of the southern arm of the Politburo), do Bell và Veith nêu ra.

4062  Bell và Veith

4063  http://www.frontpagemag.com/Articles/ReadArticle.asp?ID=15108

4064  Nguyễn Thị Bình, “Mrs. Binh: Our Plan for Peace,” New York Times, 9 tháng 8 năm 1971.

4065  FBI, Jacksonville, LHM, “Anti-War Speak Out Rally by Student Mobilization and VVAW”, Gainesville, Florida, 28 tháng 10 năm 1971, trang 2 và 5.  

4066  Craig Howes, Voices of the Vietnam POWs: Witnesses to Their Fight, New York: Oxford University Press, 1993, trang 100-104. 

4067  FBI John Edgar Hoover, gởi [bị kiểm duyệt] COLIFAM, 1 tháng 11 năm 1971.

4068  Thông điệp Phái đòan Mỹ tại Pháp số 18673 gởi Bộ Ngoại Giao, 4 tháng 11 năm 1971, JCS trong tài liệu # 38131.

4069  David Dellinger và Cora Weiss, Thưa Quý Vị Dear friends, COLIFAM, 21 tháng chạp năm 1971; FBI, New York, LHM, COLIFAM, 20 tháng giêng năm 1972.

4070  FBI, Norfolk, LHM, COLIFAM, 20 tháng chạp năm 1971; Scott Swett  trang 57 ghi chú 44 có viện dẫn các hồ sơ VVAW của FBI, HQ 100-448092, Đoạn 5, trang 230.

4071  Gerald Nicosia, “Veteran in conflict,” LA Times, 23 tháng 5 năm 2004.

4072  Số 26 tháng 8 năm 1971 tờ Denver Post được nêu ra trong bản lưu trình của FBI, Denver Memo, VVAW-IS-New Left,  3 tháng 9 năm 1971, trang 15-16 tại FBI, FOIA, VVAW, Đoạn 5, trang 231.

4073  John M. Glionna, LA Times,  23 tháng 3 năm 2004.

4074  “Kerry Visited Vietnam Peace Talks,” Fox News viện dẫn Gerald Nicosia và Doug Brinkley.

4075  Theo dõi của FBI,  19 tháng 11 năm 1971 được nêu ra bởi O’Neill và Corsi, trang  133.

4076  FBI, [Bị kiểm duyệt] gới cho Giám đốc, 8:50 NITEL, 16 tháng 11 năm 1971.

4077  Tờ trình của FBI, [bị kiểm duyệt bởi văn phòng] , “VVAW Regional Coordinators and National Steering Committee Meeting Weekend November 12-15, 1971 Kansas City, Missouri”, 24 tháng 11 năm 1971, trang 7.

4078  VVAW, John A. Linquist, Phối Hợp viên Khu vực của Wisconsin, Bản tin VVAW, 29 tháng 11 năm 1971, được nêu ra trong tờ trình của FBI, VVAW Milwaukee Division, Milwaukee, 2 tháng chạp năm 1971, trang 3.

4079  Thông Tấn Xã Giải Phóng Liberation News Service, LNS, Bộ  378, 25 tháng 9 năm 1971, được nêu ra trong tài liệu của FBI, NY gởi cho Giám đốc, AIRTEL, 29 tháng 11 năm 1971, trang 5. 

4080  FBI, VVAW, Các thành viên của tổ chức liên hệ, không ngày tháng, trang 6.

4081  Swett và Zigler viện dẫn các trích lục những thư được thu băng của các quân nhân Mỹ bị bắt tại Nam Việt, Tháng 8 năm 1971, FBI VVAW, HQ 100-448092, đoạn 11, trang 174-181.

4082  Bản báo cáo của FBI, VVAW Steering Committee Meeting Kansas City, Missouri, 12, 13, 14 tháng 11 năm 1971

4083  David McReynolds, “Looking Back at St. Paul,” The Lunatic Gazette, 16 tháng 9  năm 2008.

4084  “Pham Van Dong Receives Two Antiwar Delegations”, Thông Tấn Xã Quốc Tế  Hà-nội , 1557 GMT, 26 tháng 8 năm 1971, văn khố TTU Archive được nêu ra trong tài liệu của Rothrock, Divided… trang 171 ghi chú 35.

4085 Wells phỏng vấn Urgo, trong The War Within, trang 526.

4086  VVAW, John A. Linquist, Phối hợp viên Vùng Wisconsin, VVAW Newsletter,  29 tháng 11 năm 1971 được viện dẫn trong  phúc trình của FBI, phân bộ VVAW Milwaukee, 2 tháng chạp năm 1971, trang 3.

 

*****

Một phản hồi to “Roger Canfield’s Americong #120”

Trackbacks/Pingbacks

  1. Giới thiệu tác phẩm AMERICONG (MỸ-CỘNG) – Lê Bá Hùng | Ngoclinhvugia's Blog - 05/01/2016

    […] Roger Canfield’s Americong #120 […]

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: