Trần Văn Bá và Olivier Todd

Trần Văn Bá và Oliver Todd

*****

“Thái độ thiên Việt-cộng phát xuất phần nào từ quan niệm chống Mỹ mà giới trí thức tự đội lấy cũng như là từ mặc cảm tội lổi của người Da Trắng trong các nước quá phát triển đối với các quốc gia đệ tam.”

(Mạn đàm với Nguyệt san Réalités, 1973)

 

image002

image004 

Olivier Todd, Một Người Trí Thức Liêm Khiết

Là một nhà báo, biên tập viên, nhà văn, bình luận viên truyền hình và một kẻ đứng ngoài mọi khuôn mẫu xã hội, danh tiếng của ông thật là đáng nể – cũng như là số lượng bài viết của ông: 19 cuốn sách, bao gồm cả tiểu sử của André Malraux, Albert Camus và Jacques Brel, cùng với hàng trăm bài báo và các chương trình cho các tạp chí và đài truyền hình hàng đầu thế giới.

Ông sinh ra không cha vào năm 1929 tại Ba-lê vì thân phụ nguyên là một người Do-thái gốc Áo đã bỏ ra đi trước đó. Thân mẫu, một phụ nữ cộng sản rất dấn thân người Anh, cũng lại là con gái ngoại hôn của Dorothy Todd, biên tập viên văn học đồng tính nữ của tạp chí Vogue.

Vào năm 18 tuổi, ông có người yêu tên Anne-Marie, là con gái của Paul Nizan, một nhà văn Pháp đã nổi tiếng và cũng là em gái bạn trai của ông. Người  giám hộ của cô ta chính là Jean Paul Sartre.

Ngay lần gặp gở đầu tiên với Sartre, Oliver Todd đã tuyên bố tỉnh bơ: “Tôi thích các tác phẫm của ông nhưng tôi không chịu được cái triết lý của ông!”.

Ông công nhận là có thể đã ráng tìm nơi Sartre hình bóng người cha mà mình thiếu vắng nhưng cũng nhìn nhận là Sartre không hề xem ông như con vì “ông ta không thích gần đàn ông mà lại chỉ thích đàn bà”.

Năm 1947, ông nhận được một học bổng của Corpus Christi College, tại Cambridge, Anh quốc. Rồi ông thành hôn với người bạn gái Pháp vào năm 1948, ngay sau khi đậu Tú Tài Toàn Phần Baccalauréat.

Ngay dạo đó, ông đã tự xem mình như là một người cấp tiến, gần với đảng Cộng sản Pháp nhưng lại không được họ chấp nhận vì cha vợ ông đã bị đảng này luôn luôn tố cáo là phản bội dù ông ta đã qua đời.

Năm 1951, sau khi lấy bằng tiến sĩ tại Cambridge, ông về Pháp theo học tiếp ở Sorbonne để lấy bằng Thạc sĩ Anh ngữ nhưng đã thi rớt 2 lần vào năm 1953 và 1954. Tuy nhân ông vẫn lấy được bằng cử nhân và DES ở đó.

Trong thời gian này, ông đã cộng tác với tờ Temps Modernes cùng lúc với nhiều tạp-chí văn học tại Anh. Ông luôn luôn minh định mình không là một đệ tử của Sartre.

Rồi ông tới tuổi quân dịch và một thời gian sau đó, đi thi hành nghĩa vụ quân sự tại Ma-rốc và đã viết tác phẫm đầu tay, Une demi campagne (Julliard, 1956) mà sau đó Sartre đã giúp ông bằng cách giới thiệu bản thảo cho nhà xuất bản của chính Sartre.

Cũng chính tại Ma-rốc mà ông đã được đài BBC thuê làm phóng viên tại chổ.

Từ năm 1956, ông dạy tại trường trung học quốc tế SHAPE ở Saint-Germain-en-Laye

và có đảm nhận vài chức vụ địa phương của đảng Parti Socialiste Unifié. Sau khi dấn thân vào nhóm Tân Tả, từ từ ông cũng xa rời phong trào này và sinh sống hẳn theo nghề báo, dù trước đó cũng đã có viết được trả lương cho tờ Times, nhưng dứt khoát hẳn là sau thất bại của tác phẫm thứ nhì của ông là La Traversée de la Manche  (Julliard, 1960). Ông đã sinh hoạt gần kề với Jean-François Revel, giám đốc của mục văn hóa tờ France Observateur.

Năm 1963, ông được mời làm phụ giảng tại Viện thính thị ENS Saint-Cloud nhưng rốt cuộc ông tự thấy thích hợp với nghề báo nên đã chấp nhận xuống một phần mười lương để vào làm cho France Observateur.

Ông đã góp cổ phần trong việc ra mắt tờ France Observateur và bắt đầu viết cho tờ Nouvel Observateur nhưng ông bị thân mẫu “gây những cảnh rất ư là mất mặt” vì bà ta nghỉ báo này quá cực hữu!

Không hề bị ai ảnh hưởng, ông vẫn chủ trương là một phóng viên phải luôn luôn trung lập mà không nên theo một đảng phái nào cả.

Ông thành một phóng viên chiến trường phụ trách vùng Trung –Đông. Và nhờ một thư giới thiệu của Sartre gởi cho Phạm Văn Đồng, ông đã được mời đi ‘tham quan’ Băc-việt trong vài tháng.

Năm 1965, ông được giao đi lấy tin về cuộc chiến Việt-nam trong vòng hai tháng.

Cùng lúc, ông cũng có viết cho vài ấn bản Anh và Mỹ như là Times Literary SupplementNew StatesmanHudson Review,  cũng như cho đài BBC (chương trình EuropaTwenty four hours).

Tháng 11 năm 1969, ông quay qua cộng tác với tạp chí tin tức Panorama để rồi trở về lại với Nouvel Observateur để thay thế trưởng ban Notre Époque, nơi mà ảnh hưởng của ông ngày càng lớn với nhiều sáng kiến và thành công.

Cùng lúc đó, ông vẫn tiếp tục tường thuật về cuộc chiến Việt Nam với một thái độ dấn thân, thiên Việt-cộng được bày tỏ một cách rất là công khai. Ông đã ráng đăng những lần phỏng vấn tù binh Mỹ mà theo đó, họ đã nguyển rũa chính chính phủ của họ trong khi ngược lại thì yêu thương ca ngợi bọn quản giáo cai tù nhưng Jean Daniel đã cản lại được.

Tháng 9 năm 1973, ông được Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời của bọn VC đưa vào “tham quan” một vùng do chúng chiếm giữ và sự thật trước mắt đã là gáo nước lạnh đánh thức ông ta trở lại với thực tế hiển nhiên.

Và sau đó thì đúng là hình ảnh của một sự ngay thẳng có tính cách trí thức (honnêteté intellectuelle): Việt cộng quá tự tin, như với người hùng Võ Đại Tôn, đã cho Olivier Todd vào thăm mật khu của chúng vào tháng 9 năm 1973. Kết quả là một sự xoay chiều 180 độ, vì với tính bén nhậy của một phóng viên và trước các sự thật hiển nhiên (mà chỉ những kẻ vô lương tâm hay vì một ý đồ gì đó mới không chịu sáng mắt ra), Olivier Todd đã thấy rỏ là MTGPMN chỉ là « au Sud le bras séculier et idéologique du gouvernement communiste de Hanoi ». (ở miền Nam cánh tay thế-tục bị kiểm soát bởi chính quyền cộng-sản tại Hà-nội.)

Sau đó, ông đã cố gắng gióng lên tiếng chuông báo động với một bài trao đổi ý kiến trên nguyệt-san Réalités tại Ba-lê, nhưng đã qua trể. Và ông đành đã phải thú nhận tháng 4 năm 1975 quả đúng là nghiệt ngã với dân tộc Việt với quyển Cruel Avril ~ Tháng Tư Nghiệt Ngã vào năm 1987 và hiệu đính lại để tái bản với tựa đề mới là La Chute de Saigon ~ Sài-gòn Xụp Đổ  vào năm 2005 và mới đây là vào năm 2011 để thỏa mãn yêu cầu độc giả tại Pháp cũng ở như khắp thế giới.

Dù ông ta đã dặn Serge Lafaurie hãy “bọc đường những gì tốt và giữ lại tin chính trị (sucrer le pittoresque et garder le politique)”, viên chủ bút đã làm ngược lại mà còn được Jean Daniel binh vực chiếu theo nguyên tắc “quá sớm để loan tin”.

Bất mãn vì việc này, ông đã chọn lựa cách trình bày quan điểm chính trị của mình trong một bài mạn đàm với tờ Réalités. Ông đã phân tích là “thái độ thiên Việt-cộng phát xuất phần nào từ quan niệm chống Mỹ mà giới trí thức tự đội lấy cũng như là từ mặc cảm tội lổi của người Da Trắng trong các nước quá phát triển đối với các quốc gia đệ tam.”

Ông bực bội về toàn thể cái vụ “bản in sẳn để phổ biến và những phản ứng đầy đam mê gây ra bỡi chiến tranh Việt-nam ~ clichés à l’emporte pièce et de réactions passionnelles suscitées par la guerre du Vietnam”, mà đã không hề bao giờ được “sự thực chứng minh”.

Tại báo Nouvel Observateur, các phát biểu của ông đều bị phản đối.

Dù Pierre Bénichou công nhận là ông có quyền nói lên quan điểm của mình thì De Galard và Lafaurie đã ngậm miệng trong một thái độ chê trách. Michel Bosquet đòi xuống chức ông ta còn Jacques Laurent Bost thì yều cầu sa thải. Đối với Jean Daniel thì y muốn ông rút lại tất cà những gì đã tuyên bố với tờ Réalités đề rồi sau đó phải tự biện minh trước “mọi người quan trọng” tại tòa soạn.  Khi từ chối thì nhiệm vụ lấy tin về Việt-nam của ông bị rút lại giao cho Jean Lacouture.

Hai năm sau, ông đã đưa ra các quan điểm của mình dưới hình thức một tiểu thuyết tựa là Les Canards de Camao  ~ Những Con Vịt vùng Cà-Mau (Le Club français du livre, 1975).

Hành vi kìểm duyệt này đánh dấu tiến trình chậm chạp rời xa phần hành trong bộ biên tập cũng như là quan điểm chính trị của tờ báo. Kể từ năm 1973, ông đã là chủ bút của tờ Newsweek International và chỉ còn góp vài bài về các cuộc phỏng vấn hay phóng sự tại các xứ Hồng mao thôi.

Từ kinh nghiệm Việt-nam đau đớn này, ông đã rút ra những kết luận về các hệ quả liên quan đến cộng sản mà đã được ông phát biểu rất rỏ ràng minh bạch trong phúc trình có tính cách chỉ trích tại Hiệp Hội Cánh Tả ~ Union de la Gauche. Để đánh dấu lập trường chính trị quay về giữa, bằng cách tỏ lộ rỏ thêm cá tính “cực xã-hội dân chủ”, ông đã không che dấu sự quan tâm của mình về đặc điểm “tự do, mang cá tính ‘Tocqueville’, cải cách” của vị Tổng Thống thứ ba nền Đệ Ngũ Cộng Hòa. Thậm chí ông còn xuất bản vào năm 1977 một quyền tiểu sử của Valéry Giscard d’Estaing (La Marelle de Giscard, Club de livre) mà đã giữ một “vai chính yếu nhân các cuộc tranh luận về ý thức hệ và các cuộc đụng độ chính trị” của thời đó.

Và như một hành vi tạ lổi, Olivier đã tiếp tục cứ mãi viết về Việt Nam thân yêu của Người Việt Quốc Gia chúng ta, khởi đầu với tác phẫm Cruel Avril ~ Tháng Tư Nghiệt Ngã vào năm 1987 và hiệu đính lại để tái bản với tựa đề mới là La Chute de Saigon ~ Sài-gòn Xụp Đổ  vào năm 2005,  có phần giới thiệu bởi Nhà Xuất bàn Robert Laffont như sau:

http://www.laffont.fr/site/la_chute_de_saigon_&100&9782221104415.html

Ba mưoi năm sau, Olivier Todd trở về lại trên chặng đường trí thức và chính trị để  từ đó đã rút ra được bài học về Lịch Sử.

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, các lực lượng của Cộng Hòa Dân Chủ Việt-nam vô Sài-gòn. Ngày đó đánh dấu việc chấm dứt cuộc chiến ba mươi năm do cộng sản Việt tiến hành để đuổi người Pháp, rồi người Mỹ ra khỏi bán đảo Đông Dương – nhằm hiến dâng, sau biết bao là khổ đau kinh hoàng – bức thành trì trung tâm điểm của Đông Nam Á vào tay quan thày Liên Xô.

Sách này của Oliver Todd nổi bật như là câu chuyện kể đầy đủ và chính xác nhất của những tàn khốc đó mà đã loan báo một đêm dài thăm thẳm càng sẽ khủng khiếp hơn nữa. Với tư cách phóng viên, ông đã là một trong những người phương Tây hiếm hoi mà đã quan sát được tại chổ Hà-nội, Sài-gòn và các chiến khu của Việt-cộng – và với tư cách văn sĩ, Olivier Todd đã kể lại ba tháng cuối cùng của bi kịch này. Ấn bản này có thêm phần nhập đề mới của chính tác già. Ba mươi năm sau, Olivier Todd trở về lại trên chặng đường trí thức và chính trị để từ đó đã rút ra được bài học về Lịch Sử.

Trong khi lại có một đám người Việt (?) vô cảm thì thế giới cũng đã nhận chân ra bộ mặt kinh tởm của Việt-cộng (nói riêng) và Cộng sản (nói chung) và quyển sách vô giá (chỉ nói lên một sự thật không sao chối cải được), lại đã cứ được tái bản, ngay cả bởi Laffont mà luôn cả, chẳng hạn như Nhà Xuất bản France Loisirs vào năm 1988 và mới nhất là Nhà Xuất bản Libgrairie Académique Perrin, phân mục Tempus vào năm 2011 để đáp ứng nhu cầu người đọc khắp nơi.

Cùng với những bài sau đó mà điển hình nhất là qua tiểu sử của Nhà Ái Quốc Chân Chính là Trần Văn Bá mà tôi xin chuyển ngữ ở phần sau đây, có vẻ như Olivier Todd, một người ngoại quốc ‘thật sự trí có thức’ mà cũng có bằng cấp, đã vẫn mang mặc cảm từng ngây thơ dính tay vào một trò hề bi đát đầy tang thuơng do bọn Việt-cộng và quan thày dựng nên. Và để chuộc một lổi, dù vô tình nhưng chính tự mình nghỉ là không bao giờ gột rữa được, Olivier Todd vẫn cứ theo dỏi nội tình Việt-nam.

Tuy nhiên, vì Olivier Todd đã không nằm lại miền Nam sau 1975 như đã từng vào bưng để một lần nữa nói ra một sự thật não nề khác: tụi công an VC sao quá giỏi để phá tan các tổ chức phục quốc rất nhanh và có hiệu quả tại miền Nam sau tháng 4 năm 1975!

NHỜ AI?

VÌ BỌN NÓN CỐI DÉP RÂU KHÔNG THỂ CÓ KHÃ NĂNG NÀY!

Trần Văn Bá, cũng như biết bao nhiêu người yêu nước chẳng hạn như Luật Sư Lý Văn Hiệp, Thủ Lãnh Luật Sư Đoàn Tòa Thượng Thẫm Huế đều chủ trương “nếu người Việt không giúp người Việt thì không ai giúp mình cả”!

Tuy biết là Hoa kỳ đã xóa bàn cờ nhưng không ai ngờ được là chính Mỹ cũng chủ trương diệt sạch ngay cả những con chốt còn lây lất hoạt động phục quốc làm hư chính sách quốc tế trường kỳ của họ! Họ tuyệt đối muốn tránh cảnh có một lực lượng Việt quốc gia chống cộng có thực lực mà họ sẽ phải nhục nhã khước từ yểm trợ lần nữa! Một lần vuốt mặt nhục nhã vì đã bỏ rơi đồng minh chết sống với mình đã là quá đủ cho đám Mỹ loại Nixon và Kissinger đối với dư luận thế giới!

Chắc Trần Văn Bá khi chọn lựa về nước để rồi lên đoạn đầu đài hay LS Lý Văn Hiệp khi quyết định phục quốc để rồi sau mười mấy năm lao tù trở về bị mất trí (phải chăng vì do những mủi thuốc nước trong veo mà tù VC đã đè ông ra chích mấy lần?) cũng không đau đớn thốt lên “I have committed this mistake of believing in you, the Americans ~ Tôi đã phạm lổi lầm đặt lòng tin nơi quý vị, những người Hoa Kỳ” như Thủ Tướng Sirik Matak của Kam-pu-chia đã viết trong thơ gởi Đại sứ Mỹ tại Nam-vang vào ngày 16 tháng 4 năm 1975!

Những người quốc gia yêu nước như những Trần Văn Bá, những Lý Văn Hiệp là các tấm gương sáng ngời chiếu xuống đám rong rêu VC bán nước can tâm làm nô lệ cho Trung cộng và Liên-Xô. Họ đủ sáng suốt để ghi ơn biết bao quân nhân Mỹ đã bỏ mình tại quê hương họ để giúp bảo vệ lý tưởng tự do và họ cũng đã chấp nhận đi vào Lịch Sử Việt-Nam Kính Yêu như Nguyễn Thái Học: “KHÔNG THÀNH CÔNG THÌ CŨNG THÀNH NHÂN” để lưu lại ngàn năm sau cho hậu thế các tấm gương oai hùng bất tử.

 

Lê Bá Hùng

Tháng Giêng 2013 để nhớ một ngưởi.

***

Viết dựa trên các tài liệu tại:

http://www.connexionfrance.com/olivier-todd-on-68-riots-and-vietnam-10373-news-article.html

http://fr.wikipedia.org/wiki/Olivier_Todd

http://www.charlierose.com/guest/view/3887

 image006

 

 Trần Văn Bá

Người Kháng Chiến Quân*

 

********

Chuyển ngữ từ bài :

Trần Văn Bá, portrait d’un résistant

của Olivier Todd [1987],

đăng ngày 9 tháng giêng năm  2013

 trên trang mạng Mémoires d’Indochine.

http://indomemoires.hypotheses.org/5110

 bởi Lê Bá Hùng (để tưởng nhớ, Tháng Giêng 2013)

********

image007

Lời Tòa soạn:

Ngày 8 tháng 1 năm 1985, Trần Văn Bá đã bị hành quyết tại Việt Nam vì đã tham gia  một phong trào kháng chiến chống Cộng có tên là Mặt Trận Thống Nhất các Lực Lượng Yêu Nước Giải Phóng Việt Nam. Vào lúc hoàng hôn của Chiến tranh Lạnh, nhà báo Olivier Todd đã ghi nhận và kính phục người chiến binh này về nguyên nhân của một cuộc chiến đấu mà ông gọi là “cuộc kháng chiến thứ ba” của Việt Nam. Ông đã nhắc lại, hai năm sau cái chết của Ba, cuộc hành trình tuyệt vời của người sinh viên Việt Nam này, để trở về quê hương tổ chức cuộc đấu tranh vũ trang chống lại bọn độc tài áp bức.

Nếu các phân tích của Todd được xuất bản vào tháng 5 năm 1987, trước khi Bức tường Bá-linh bị sụp đổ, đã bị phủ nhận bởi các dữ kiện xẩy ra sau đó thì bài viết cũng vẫn rất đáng giá bởi vì “Linh Hồn của Trần Văn Bá” (Ngày Giổ tưởng niệm về cái chết của ông) vẫn được thực hiện ngày nay trong vùng Ba-lê và ở Bỉ quốc bởi các đồng hành trung thành củ của ông.  Một “Vụ Trần Văn Bá” cũng đã nổ ngay ở trung tâm của quận thứ mười ba của Ba-lê trong năm 2008 khi một ủy ban được thiết lập để xây dựng một tấm bia tưởng niệm kháng chiến quân này tại một quảng trường yên tĩnh trong quận này. Ý tưởng này đã gây ra một phản ứng mạnh mẽ từ các tên cán bộ Việt cộng tại Pháp nhằm đánh bại việc mà chúng coi như là một sự khiêu khích. Từ khi qua đời vào tháng Giêng năm 1985, Trần Văn Bá vẫn tiếp tục ám ảnh mọi người. Có lẽ là vì thi hài của ông vẫn chưa được trao trả lại cho gia đình ông.

Nếu Trần Văn Bá đã gây nên bao nhiêu niềm quan tâm – và điều này có lẽ là nguyên nhân dấn thân của ông – thì đó chính là bi kịch lịch sử gia đình của ông mà chúng ta có thể đọc để nhớ lại trong phần tiểu sử của ông:

 Ông Cậu của Ông tên Bùi Quang Chiêu đã là viên kỹ sư canh nông Việt Nam đầu tiên  được đào tạo ở Ba-lê và là sáng lập viên của Đảng Lập Hiến Việt Nam vào năm 1919, mà đã bị ám sát cùng với 4 con trai và cô gái út  vào năm 1945 bởi bọn cộng sản.

Ông Trần Văn Văn, thân phụ của ông, sau khi tốt nghiệp HEC ở Paris, đã dành trọn đời  mình để đóng góp cho công việc hiện đại hóa về chính trị, kinh tế và xã hội của đất nước. Từng là một chiến binh trong mật khu dạo thập niên 40, rồi là Bộ trưởng Kinh tế trong chính phủ độc lập đầu tiên của nước Việt Nam dưới quyền  vua Bảo Đại năm 1949, rồi chống lại chế độ độc đoán của Ngô Đình Diệm, rồi sau đó chống luôn chính quyền quân sự mà đã kế nhiệm trong thập niên 60, cũng là một dân biểu Quốc hội Lập Hiến để rồi cuối cùng đã bị ám sát vào ngày 7 tháng chạp năm 1966 tại Sài Gòn trong khi đang là một ứng cử viên tổng thống cho năm 1967.

Nguồn: http://www.tranvanba.org/vf/

Bài viết này đã là nguồn cảm hứng cho luận án được đệ trình của chúng tôi vào năm 1997 tại Trường Đại học Paris 7 và với tên gọi  rất đúng đáng là Cuộc Kháng Chiến Thứ Ba của Việt Nam. Các Âm Mưu và Đối Kháng chống lại nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1975-1995″.

Nó đã được đăng trên một tạp chí chính trị về Việt Nam bằng Pháp ngữ (nay đã đóng cửa), với gợi ý từ bài phát biểu của Olivier Todd trước Ủy ban Trần Văn Bá.

FG, ngày 9 tháng giêng năm 2013

*****

image008

“Tôi không biết nếu có một số các bạn đã nhớ lại chăng phiên tòa bị dàn cảnh trước ở Sài Gòn, lúc bấy giờ đã bị gọi là Thành phố Hồ Chí Minh bởi bọn lãnh đạo của cái nước Cộng hòa, được gọi là ‘dân chủ’  của Việt Nam [Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam].

Ba năm trước đây, chúng đã tổ chức quay phim phiên tòa, đúng y bon cái kiểu sì-ta-lin thuần túy; các luật sư thì không hề có quyền gì cả và các bị can thì cũng vậy. Và trong số bị can đó, có một người dể nhận dạng được vì ông ta có một vết bớt màu rượu chát đỏ gần lông mày bên trái. Đó chính là Trần Văn Bá . . .

Tôi nghĩ rằng chúng ta nên cố gắng tránh thổi phồng Trần Văn Bá, dù ông đã bị kết án tử hình hay dù trong cộng đồng Việt Nam ngày nay, ông được coi không như kẻ khởi nghiệp nhưng chỉ là một gương mẫu để mà noi theo.

Bọn cộng sản Việt đã nói là cuộc chiến Đông Dương thứ nhất đã là cuộc kháng chiến thứ nhất, và cuộc kháng chiến thứ hai thì cũng chỉ là cuộc kháng chiến thứ hai mà thôi. Rõ ràng là chúng đã không tiên liệu được là sẽ đã có một cuộc kháng chiến thứ ba, mà lần này, là để chống Cộng và Bá đã là một trong những kháng chiến quân ưu tú nhất của cuộc kháng chiến này.

Ông đã đến Pháp trong thập niên 1960. Thân phụ [Trần Văn Văn] của mình đã bị sát hại. Ông là một giảng viên tại đại học Nanterre và vai trò này thì cũng không dễ dàng gì tại Nanterre vào những năm 1960 bởi vì những người Việt Quốc Gia đều bị tức khắc đối xử như là bọn phát-xít. Sau đó, ông đã là Tổng thư ký của Hiệp hội Sinh viên [Association des Étudiants  AGEVP]. Ông đã là nhân vật cực kỳ thân thiện, rất để ý, luôn luôn lo lắng quan tâm vô cùng đến đất nước mình. Ông rất chống cộng nhưng cũng không quá khoan dung đối với chính quyền Sài Gòn của thời gian đó. Ông chỉ đơn giản quyết định vị trí người quốc gia yêu nước cho chính mình.

Với thời gian qua đi, ông đã suy tư nhiều, chắc không như là lúc ban đầu về tiến trình tâm linh mà người ta có thể tạm gọi là của một trí thức. Ông đã có hành vi kháng chiến đầu tiên tại Ba-lê, liền sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, khi những chiến xa cộng sản chiếm mất Sài Gòn. Lúc đó ông đang ở tại tòa Đại sứ Việt Nam, trong khi viên đại sứ đã không làm được gì ngoài việc phá hủy tất cả các tài liệu ở đó vì biết rằng tòa Đại sứ sẽ bị giao lại cho bọn cộng sản. Tôi nói ra điều này bởi vì khi Sài Gòn sụp đổ vào ngày 30 tháng 4, hàng trăm ngàn hồ sơ để lại, hoặc là do Việt Nam hoặc do người Mỹ, đã  rơi vào tay của cộng sản Bắc Việt.

Bá thì trong nhiều năm qua đã tụ hợp bạn bè lại và cùng tự hỏi có thể làm được gì. Và rồi ông ta quyết định không chỉ bàn cải nữa và nhất là ông không còn muốn nghe các người Việt Nam hải ngoại cứ nói và cứ nói mãi quá nhiều , tuy là rât có thiện chí nhưng lại không chịu làm gì cụ thể cả. Ông đã quyết định phải thực sự hoạt động ngay trên đất nước mình. Ông quyết định mình phải là một trong những kháng chiến quân đầu tiên tại Việt Nam, và ông đã thật sự làm như vậy, và ông đã ra đi.

Ông đã hoạt động sâu rộng tại Việt Nam. Bằng chứng cho thấy ông đã có những mạng lưới hỗ trợ và cuộc kháng chiến này thực sự hiện hữu đã được đưa ra bởi chính bọn cộng sản khi chúng xếp cả đống vũ khí gần Quốc hội củ ở Sài Gòn và cáo buộc đó là do Bá nhập lậu về. Dù sao thì sự thật là nguyên suốt trong hai năm trường, sự kiện ông đã đi đi về về giữa Việt Nam, Thái Lan và Cam-pu-chia cũng  đã chứng minh được sự thật là đã đang có một phong trào kháng chiến trong nước. Tại Việt Nam cũng như tại Pháp, kháng chiến có nghĩa là nói ít ít thôi chứ không phải là hoạt động tích cực ở ngoại quốc.

Đó quả là một quyết định đặc biệt. Bá biết rất rõ rằng có một sự khác biệt cực lớn giữa các chế độ độc tài hữu và tả khuynh. Đám sau thì không bao giờ tự sinh hũy. Chúng ta đã thấy nhiều chế độ độc tài lần lượt tự tan rã: các đại tá Hy Lạp, Tây Ban Nha của Franco, Bồ Đào Nha và hiện nay là toàn Châu Mỹ La Tinh … nhưng mãi cho tới ngày nay, chúng ta đã không bao giờ thấy một chế độ cộng sản, đã là cộng sản mà lại hết còn là cộng sản. Bá, cùng với nhiều người khác, những người hiện vẫn còn ở đó hay những người có hoạt động chung với ông, đã cùng quyết định đặt cuộc này.

Tôi nghĩ rằng sự kiện này quả là quá đặc biệt và tôi phải nói rằng, điều này là do một cái gì đó … tôi không biết phải nói thế nào  …, cái tự tin hay thậm chí gần như là cái tính  kiêu ngạo Việt Nam chăng? Người Việt Nam đã không hề đầu hàng. Tôi không biết sự tự tin này hay sự kiêu ngạo này là một ưu điểm hay một nhuợc điểm, nhưng dù sao, chúng vẫn có tính cách rất là bền bĩ, và tôi nghĩ rằng mọi người nên biết: họ đã không chấp nhận cộng sản, dù có lợi hay không cho tình trạng cân bằng quyền lợi chính trị trên thế giới. Đó là lý do tại sao chúng ta đã thành lập Ủy ban Trần Văn Bá …”

Oliver Todd, phát biểu được đăng lại trong Le Viêt-Nam Libre, số 93, Tháng 5 năm 1987, trang 3-4.

* Tựa đề là của Mémoires d’Indochine.

Nhũng đoạn in ĐẬM  là của người chuyển ngữ.

********

Trích từ “Témoignages de vigilance, d’amitié et de solidarité ~ Các bằng chứng về đề cao cảnh giác, về tình bạn và tình đoàn kết” phát biểu bởi Ủy ban Quốc tế Trần Văn Bá và Hiệp hội Quốc tế Nhân quyền ( Comité International Tran Van Ba et la Société Internationale pour les Droits de l’Homme  ISHR) nhân ngày 27 tháng 4 năm 1987 nhằm tổ chức một buổi hòa nhạc gây quỹ để giúp thuyền nhân và để bảo vệ các nhân quyền ở Việt Nam.

http://www.tranvanba.org/vf/documents/tranvanba.lepoint.texte.pdf

  • Tiểu sử bằng Pháp văn của Trần Văn Bá trên trang Mạng

http://www.tranvanba.org/vf/

  • Tiểu sử bằng Việt văn của Trần Văn Bá trên trang Mạng

http://www.tranvanba.org/new_website/tranvanba/frame-tranvanba.html

  • Đề mục  Việt ngữ   trên Wikipedia   về Trần Văn Bá

http://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%A7n_V%C4%83n_B%C3%A1_%281945%29

********

image010

Hình đi cắm trại ở Đỉnh Gió Hú tại Đà-lạt

cuối niên khóa 1964-65 trong khi chờ kết quả

 thi Baccalauréat (MathÉlem) ~ Tú Tài 2 Pháp (Ban Toán).

Trần Văn Bá ở hàng đứng, thứ nhì đếm từ phải qua.

(Sưu tập cá nhân của người chuyển ngữ)

image012 

Hình Lớp Classe Terminale Math Elem ~ Đệ Nhất  (Ban Toán)

Niên khóa 1964-65

 Trần Văn Bá ở hàng cuối, bên cực phải.

(Sưu tập cá nhân của người chuyển ngữ)

********

Việt Nam, Cuộc Kháng Chiến Thứ Ba

********

Chuyển ngữ từ bài :

Vietnam, la Troisième résistance

của Olivier Todd [1985],

đăng ngày 20 tháng 5 năm 1985

 trên số 661 báo Le Point, trang 191-200.

image014 

bởi Lê Bá Hùng (để tưởng nhớ, Tháng Giêng 2013)

********

Từ vài tuần qua, họ đành là những kẻ bị tuyệt quên trong những buồi tưởng nhớ ngày Sài-gòn bị mất; cuộc chiến đấu của họ đã gần như không hề được nói tới. Tuy nhiên, không có gì là đáng phải cười. Xuyên qua hành trình, rất là gương mẫu, của một trong những người đó, Oliver Todd đã tường thuật lại toàn bộ cuộc kháng chiến của các người Việt Nam trong thời hôm nay.

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 khi Sài-gòn đã bị cưởng chiếm, Trần Văn Bá lúc đó đang ở vào tuổi ba mươi, đã cùng bạn bè tới tòa Đại sứ của Chính Phủ Việt Cộng Hòa mà đã bị bức tử ở đường Avenue de Villiers tại Ba-lê. Đại sứ Nguyễn Duy Quang cũng sẽ mất chức.

Bá dõng dạc tuyên bố: “Tôi, tôi sẽ tiếp tục chiến đấu, cùng với các sinh viên. Hãy giúp chúng tôi!”

Viên đại sứ đã chỉ giao cho ông ta một tấm chi phiếu không tiền bảo chứng.

Bá biết là tòa đại sứ sẽ phải bị giao lại cho bọn cộng sản. Cùng với bạn bè, ông ta đã kiểm các văn kiện được lưu trữ và đốt các hồ sơ – những bước đi đầu tiên vào cuộc kháng chiến mà đối với Bá, sẽ kéo dài trong mười năm.

Thân mẫu của Bá lúc đó đang ở Sài-gòn. Ở Ba-lê, người anh của ông đã khuyến cáo ông phải cẩn thận.

Bá nói: “Bọn cộng sản có thể trả thù mẹ mình. Nhưng em không có quyết định nào khác hơn được. Em phải chiến đấu mà thôi.”

Ngay từ tháng năm 1975, Bá đã hoạt động, đã tổ chức móc nối, đã tuyệt vọng, đã lại hy vọng, đã suy tư, đã viết xuống những quyết định trong khi chỉ quanh quẩn trong phạm vi từ căn phòng mình đang sống tại chung cư đổ nát Bourg-la-Reine cho tới trụ sở của Tổng Hội Sinh Viên Việt Nam (Association Générale des Étudiants Vietnamiens) ở đường Monge, Ba-lê.

Ngay từ thời niên thiếu, ông đã đắm chìm trong nền chính trị rối răm, chi li và đẫm máu của Việt Nam. Bá ra đời vào năm 1945 tại Sa-đéc, một tỉnh lỵ nhỏ xinh xắn thuộc một tỉnh phì-nhiêu ở đồng bằng sông Cữu Long, cách Sài-gòn một trăm năm mươi cây số. Gia đình ông thuộc hàng giàu có.

image016

Trần Văn Bá tại tư gia ở Thốt-Nốt

image018

Trần Văn Bá tại phiên tòa năm 1984 ở TP Hồ Chí Minh

 image020

Trần Văn Bá cùng các bạn học ở Lycée Yersin, tại Đà-lạt, năm 1964

Hình nhỏ: Thân phụ của Ông, Trần Văn Văn, năm 1966

Sau khi tốt nghiệp HEC và Oxford, thân phụ ông là Trần Văn Văn đã thành lập xưởng đúc đầu tiên ở Sài-gòn. Người hùn với ông là Kha văn Cấn mà sau này sẽ là Bộ Trưởng Bộ Kỹ Nghệ của tên Hồ Chí Minh . . . Quả thật là vô phương để hiểu được tất cả những lắt léo của chính trị Việt tại Hà-nội, Huế hay Sài-gòn nều không xét đến những sắp xếp chồng chéo rối răm giữa các gia đình và cũng như là bạn bè.

Ngay từ 1930, theo kiểu phát ngôn mác-xít thì Trần Văn Văn đã “vượt qua được nguồn gốc trưởng giả” của một đại điền chủ và đại tư bản.

Trong thập niên năm mươi, ông đã vào bưng để chiến đấu chống lại nền đô hộ của Pháp, cùng chung với cộng sản, cao-đài và nhóm ‘trotskistes’.

Sau khi Hiệp định Genève bị ký kết năm 1954 để chia cắt Việt-nam làm đôi, ông đã nhanh chóng có lập trường chống Hà-nội và trở thành Bộ Trưởng Kỹ Nghệ và Tài Chánh tại Sài-gòn. Trong những năm đầu của thập niên sáu mươi, cùng với nhóm Caravelle, ông đã chỉ trích vị Tổng Thống độc tài theo Thiên Chúa giáo là Ngô Đình Diệm. Trần Văn Văn cũng chống lại đám quân nhân tại Sài-gòn mà ông đã gọi “đa số chỉ là những thằng chỉ biết có kéo lết gươm trên mặt đường mà thôi”.

Lớn lên trong căn nhà của gia đình, theo truyền thống với những trụ cột bằng gổ, ở cữa ngõ Sài-gòn trên đường đi Biên-hòa, cậu thanh niên Bá đã chứng kiến sự lui tới của nào là chính trị gia, quân nhân, nhân vật tôn giáo, có khã năng hay bất tài, trung thành hay lý tài, xấu hay tốt, toàn một đám người kỳ lạ mà đôi khi lại có thể cùng để ý đến cả những lời bói toán của các chiêm tinh gia Việt và luôn cả những lời tuyên bố của các thượng nghị sị Mỹ.

Cậu thanh niên Bá đã là một học sinh nghịch ngợm và lên học trên trường Lycée Yersin tại Đà-lạt, một trường nổi tiếng là sang và rất nghiêm khắc. Thân phụ anh, nguyên là một kẻ không chủ trương cưng chìu con, đã muốn huấn luyện anh ta ngay từ đó. Cậu thanh niên nhỏ con và ốm yếu có một vết bớt màu rượu chát đỏ trên màng tang trái. Các bạn đã đặt tên cho là “Bá đầu đỏ”. Anh ta thích đọc các sách về sử và về hàng không, Paris-MatchNewsweek. Mổi khi từ trường về thăm nhà và thân phụ có khách thì Bá phụ trách mời trà. Trần Văn Văn đã dặn con: “Nếu con muốn làm chính trị thì con phải cần chuẩn bị để có thể đứng độc lập và có trước được những phương tiện giải khuây như là phương cách đề xả sú-báp.”

Bá đã sẽ không có sú-báp để mà xả!

Người cha cũng không chủ trương trung lập, một giải pháp không giải quyết được gì cả và luôn cả cái kiểu thành phần thứ ba, một giải pháp rổng tuếch mà giới báo chí đã thổi phồng. Năm 1965 khi người Mỹ bắt đầu can thiệp với tầm quy mô lớn thì Trần Văn Văn đã từng tuyên bố: “Hoặc là họ can thiệp với sự cộng tác thật sự của người Việt, còn nếu không thì họ nên rút đi.”

Bá có vẻ hình. Năm 1963, ông đã phát họa một bức châm biếm với cảnh Tướng de Gaule cầm trên lòng bàn tay một Kennedy nhỏ xíu đang năn nỉ xin cố vấn về vụ Việt-nam.

Trần Văn Văn, sau hai lần bị tống giam, rồi xét xử và được tha bổng, đã đắc cử dân biểu và chắc sẽ nắm một vai trò rất quan trọng. Ông là một trong những nhân vật khã dỉ có thể đắc cử chức vụ Tổng Thống. Ngày 7 tháng chạp năm 1966, một tên cởi xe Honda đã bắn chết ông. Ở Hà-nội, bọn cộng sản đã chối bỏ mọi trách nhiệm và thưởng cho nạn nhân một chứng chỉ “nhà ái quốc” cộng thêm một chứng chỉ khác là “nhà dân chủ”. Dù chính họ đã chủ mưu và quyết định vụ ám sát, đám quân nhân tại Sài-gòn đã muốn tổ chức một đám tang theo nghi lể quốc gia cho nạn nhân. Vấn nạn thường xuyên của đám kéo lê gươm ít ỏi tại Sài-gòn đó đã là: cứ lập nội các này tới nội các khác sau những cú đảo chánh, chúng chỉ chấp nhận dùng vài dân sự chịu nghe lời để làm màu. Khi nắm được quyền thì chúng đã không hề muốn có một người như Trần Văn Văn có quyền hơn chúng.

Bá đã sẽ luôn luôn nghi ngờ đám tướng lãnh tại Sài-gòn cũng như là đám dân sự tại Hà-nội. Khi thân phụ bị ám sát thì Bá chỉ mới 17 tuổi đầu. Mọi người khuyên cản ông đừng vào quân đội. Làm vậy thì chỉ là như tự tử mà thôi. Bộ rồi có vài tên mà đã từng giết cha nay lại ngại ngùng mà không dám giết người con à?

Vì thế, ngày 2 tháng giêng năm 1967 Bá đã qua Pháp sum hợp với người anh trưởng tên Tòng. Trọ trong một căn phòng dành cho người giúp việc nhà, Bá ghi danh lớp đệ nhị C  trường Lycée Carnoty. Sau đó, Bá vào nội trú tại trường Lycée Michelet để chuẩn bị thi vào HEC.

Ông đã ngạc nhiên thích thú chứng kiến các biến chuyển trong tháng 5 năm 1968 tại Ba-lê. Ông mĩa mai tuyên bố với anh mình mà lúc đó đang là sinh viên Trường Cao-đẳng Quốc gia về Thống kê ~ École nationale de la statistique: “Nếu mà chúng mình có thể làm được như vầy theo lập trường của chúng mình tại Sài-gòn!”.

Thi hỏng kỳ vấn đáp của HEC, Bá bèn học và tốt nghiệp cử nhân kinh tế tại đại học Assa và tìm được việc phụ trách về chấm điểm các bài thực tập ở Nanterre, cái nôi tả phái. Tại đó thì một người quốc gia Việt rất dể bị biến thành một tên “facho” (là kiểu gọi những ai mà bọn cực tả phát-xít Pháp coi như không cùng lập trường với chúng ~ phụ thích của người chuyển ngữ). Bá thực sự không chú tâm vào môi trường đại học. Suy tư của ông ở tận một nơi khác: đó là Việt-nam. Ông đã không hề bao giờ xin nhập quốc tịch Pháp. Đó có phải chăng là vì ông ta không để ý lắm tới việc này?

Bá thích Adam Smith, thích nhiếp ảnh, thích những đôi giày ‘mocassins’ không dây, thích đánh bi-da, thích những phim chiến tranh có lồng theo tình bạn và tình chiến hữu, “Hồi Chuông Gọi Hồn Ai”, “Đại Ảo Tưởng”, Cầu Sông Kwai”. Gần chung quanh khu đại học, Bá đã tìm gặp lại được các bạn học thời Lycée Yersin. Trong những lần uống bia ở ngôi nhà gổ tại công viên Montsouris, họ đã mưu tính làm sao giải quyết và xây dựng lại Việt-nam. Không được đẹp trai cho lắm – bạn bè còn gọi ông là “Con Cóc” – rụt rè nhưng nồng nhiệt, thích giúp đở và luôn luôn sẳn sàng, vừa quyền huynh vừa thế phụ, rất dấn thân, vào năm 1973 Bá đã trở thành Chủ tịch Tổng Hội Sinh Viên Việt-nam. Tuy triệt để chống cộng, những Tổng Hội cũng phản đối chính quyền Sài-gòn mà đã ráng mua chuộc vài hội viên của họ. Một sinh viên Việt đã có viết trong một bản tin thời đó là Bá “đã rọi chiếu một ánh hào quang liêm chính vào trong một đống phân”.

Vì không muốn mang hình ảnh của một loại công tử bột, Bá sống một cách thật khổ hạnh. Ông rất nghèo, luôn luôn co rút trong một chiếc áo lông cáu-bẩn, quần ‘jeans’ xám thì đã đổi qua màu đen xì và miệng thì luôn nhai ống ‘pipe’. Và ông không muốn có những liên hệ tình cảm. Ông đã đùa với một một phụ nữ trẻ: “Tôi sẽ xin cưới cô gái nào mà làm biến mất được vết bớt trên màng tang của tôi.”

Các bạn đã đùa ông: “Đúng! Với tình yêu thì Bá là sư phụ về lý thuyết. Không hề thực tế chút nào cả.”

Sống qua ngày với những dĩa cơm trộn khoai lang tại Bourg-la-Reine, Bá đã thường xuyên chỉ trích các thỏa thuận ký kết tại Ba-lê giữa Lê Đức Thọ và Kissinger vào năm 1973. Trước hết thì Bá đã binh vị tướng Tổng Thống đang cầm quyền tại Sài-gòn: “Bất kể những sai lầm thì Nguyễn Văn Thiệu cũng đã thực hiện được tối đa những gì có thể làm được cho miền Nam.”  Rồi sau đó, khi gặp ông Tổng Thống này ở Đức, Bá đã bị vở mộng: “Thiệu đang chỉ tập sự làm phù thủy. Với tay này thì chỉ hư sự mà thôi.”

Nhưng Thiệu đã không hề nắm vững được trò chơi. Vào lúc tan hàng, y đã bỏ trốn chạy. Sau ngày ‘giải phóng’ hay ‘chiếm đóng’ của Sài-gòn, Bá đã dứt khoát: “Đáng lý Thiệu đã không được rời Việt-nam và Minh Lớn đáng lý đã phải rút về vùng châu thổ.”

Minh, kẻ kế nhiệm Thiệu chỉ trong vài giờ, đã bị chỉ định cư trú tại gia để bọn ‘giải phóng’ dể kiểm soát y .

Ở bất cứ nơi nào và bất cứ với ai, hoàn toàn không hề bị bối rối với cái kiểu chụp mủ bằng nhãn hiệu (‘tả’, ‘hữu’) mà ông ta rất bực khi nghe nói tới, Bá đã bày tỏ quan điểm của mình: bắt buộc phải tiếp tục chiến đấu. Bá đã có gặp một André Glucksmann cũng như là một Jacques Toubon. (André Glucksmann, ra đời ở Boulogne-Billancourt ngày 19 tháng 6 năm 1937 là một triết gia và tiểu luận gia Pháp. Ông đã tham gia vào phong trào Mao thời thanh niên để rồi từ từ chuyển qua có một chủ trương Đại Tây Dương dung hòa. Sau đó thì ông được xếp vào phong trào các “tân triết gia”. ~ Jacques Toubon sinh ngày 29 tháng 6 năm 1941 tại Nice, Pháp là một chính trị gia hữu khuynh Pháp đã từng giữ nhiều chức vụ quốc gia và thành phố Ba-lê quan trọng ~ Chú thích người chuyển ngữ).

 Trong thời gian suốt cuộc chiến Viêt-nam, người ta thường thấy có những lần biểu tình ‘cấp tiến’ tại sảnh phòng Mutualité. Nhân dịp Tết, Bá đã tổ chức ở đó những cuộc hội hợp của người quốc gia – như vào năm 1976 với chủ đề “Ta Còn Sống Đây”. Chúng ta: Những Người Việt không hề chịu khuất phục. Từng là một diển giả yếu kém, nay thì Bá đã khiến cử tọa ngạc nhiên khi mọi người thấy Bá tìm đọc các tờ xen kẻ lộn xộn của bài diển văn của mình. Bá đã khiến kẻ khác phải bực bội mà cũng chinh phục được nhiều người với phong cách của một lãnh tụ có tài tồ chức nhưng lại quá lộn xộn. Sự hiến thân của ông quả vô bờ bến, cũng như là biết bao lần ông tới trể giờ. Để giải thích, ông bèn xin lổi theo kiểu rất bí mật: “Tôi đã phải đi gặp một nhân vật quan trọng.”

Cứ mổi tháng, ông lại hứa sẽ ra mắt một bạch thư! Ông hăng hái đi hỏi han những người thường xuyên đi về qua lại giữa Pháp và Việt-nam, dù họ là những người bất đồng chính kiến công khai hay kín. Ông cũng tự trách mình và quá bất mãn với một cách sống chỉ gồm toàn là những phiên họp kín thu gọn nhưng lại chỉ có tuyên bố quặm trợn. Chì nói mà không làm. Nói thì nhiều quá mà thôi!

Ông đã tâm sự: “Vài người thì nghỉ là tôi ăn lương CIA. Mấy người khác thì nghỉ là tôi đang bị bọn Trung cộng giật dây. Không hề ai nghỉ là tôi đang thành nhân!”.

Khi Phạm Văn Đồng, tên Thủ Tướng miệng lưỡi ngọt ngào của một Việt-nam mới bị thống nhất tới Ba-lê vào năm 1977 để lmiệng thì uôn luôn viễn dẫn những châm ngôn của Victor Hugo thì Bá đã ráng tổ chức những cuộc biểu tình phản đối mà đều chỉ có được một tính cách riêng tư. Nước Pháp, cũng như là toàn khối Tây phương, đã quá mệt mỏi về vụ Việt-nam. Các nhân vật như tên Bá thì cũng chỉ là những tên ‘đòi báo thù’ chua cay và bất lực. Cuối cùng thì nay đã có hòa bình tại Việt-nam. Vâng, nhưng là loại hoà bình gì đây?

Những tin tức về các trại cải tạo, về làn sóng ra đi của các thuyền nhân mà người ta đã phát giác ra là không chỉ toàn là những người trưởng giả mại bản, cùng việc loại bỏ Chính phủ Cách mạng Lâm thời đã thật sự làm xôn xao công luận. Té ra những bọn ‘giải phóng’ chỉ trước hết là và chỉ là những tên cán bộ chai đá, ngu đần và chỉ biết ăn hiếp dân tình sao?

Thân mẫu của Bá đã là một trong những thuyền nhân đầu tiên đó. Nhân một buổi liên hoan mừng Tết tại La Mutualité, Bá bèn tuyên bố: “Các thuyền nhân đã soi sáng tình hình của một đất nước mà chính thức ra đã phải đang sống rồi trong hòa bình và nhân dân thì tràn đầy hạnh phúc.”

Đối với Bá thì giải pháp cho vấn đề thuyền nhân đúng ra phải nằm ngay tại Việt-nam.

Bá đã quyết định không đi làm kiếm ăn mà lại sống hoàn toàn cho các người tỵ nạn và các sinh viên. Nhiều lúc người anh đã phải giúp đở ông. Năm 1978, Bá không ra ứng cử Chủ tịch Tổng hội Sinh viên. Vì quá chán chê với những màn tranh luận ‘xa-lông’, trong các hàng quán và tiệm ăn từ Ba-lê qua tới Los Angeles và luôn cả Melbourne, ông bắt đầu về Á châu. Bất kể đến sự hoài nghi của bạn bè và người thân, ông muốn về ngay tại chổ đề có thể hành động. Một bạn đồng song củ của Bá thời Lycée Yersin nhưng lại theo xã hội chủ nghĩa đã nói với ông: “Làm sao mày chống lại được cả bộ máy của một chế độ quân sự công an trị với cả năm mươi năm kinh nghiệm?”

Người anh của ông thì cứ bàn ra: “Bây giờ có đúng là lúc để kháng chiến? Mày sẽ phải lội qua cả một đại dương.”

Bá liền mỉm cười: “Ngõ đi đó không phải là ngõ nhiều trở ngại nhất!”. Rồi ông ta thêm: “Khi bọn Hồ, Giáp và Đồng khởi đầu chuyện làm ăn của chúng thì chúng cũng chỉ có vài tên mà thôi. Phong trào cộng sản lúc đó rất yếu. Chính người dân ngu khu đen đã giúp đở chúng.”

Những ngưới dân này – mà thân phụ ông vẫn hằng nhắc tới –  thì hiện đang sinh sống tại Việt-nam. Khi đi kháng chiến và dùng vũ khí để chống lại, liệu chăng như vậy có làm người dân thêm khổ đau nữa không? Bá đã tự trả lời bằng lập luận mà mọi người Việt đều kêu gọi từ hơn nữa thế kỷ nay, dù thuộc bất kỳ khuynh hướng hay đảng phái nào: nếu người Việt không giúp lẫn nhau thì rồi ai sẽ giúp họ? Bá đã khẳng định: “Tôi không chấp nhận bất kỳ ai mà cướp lấy mất tương lai của tôi.”

Thái độ dấn thân này đã đưa ông vô bưng – như thân phụ mình trước kia. Khi ra đi, Bá đã để lại một tờ giấy lớn ghi xuống một loại gần như là vừa chương trình, vừa kế hoặch và vừa suy tư:

“Mục tiêu: đem lại tự do cho dân tộc.

Phương tiện . . .

Sứ mệnh . . .

Sơ đồ tổ chức . . .“

Bá không phải là một nhà trí thức nhưng ông có riêng triết lý chính trị của mình. Ông tự cho mình là thành viên của một định chế xã hội tự do “theo kiểu Thụy-điển”. Có lẻ ông chỉ mơ thôi nhưng quả thật đó là mong muốn của đa số người Việt.

Ngày 6 tháng 6 năm 1980, Bá bay về Băng-cốc và đi vào vòng bí mật ở Thái-lan, rồi Kam-pu-chia và cuối cùng là vào Việt-nam. Đầy tính lãng mạn, quá tự tin hay quá liều-lĩnh, ngày 6 tháng 6 năm 1982 ông đã gởi đi từ Thành phố Hồ-chí-minh một bức thư:   “ . . . Tôi vẫn mạnh khoẻ. Rất khó khăn. Đúng thật là rât khó. Nhưng thật sự tôi biết tôi phải làm gì và tôi sống chêt với đất nước tôi, một đất nước nghèo khổ và đói kém.”  Và tương lai của nước Việt “sẽ là kết quả của cuộc kháng chiến nội địa . . . chứ không phải là của các chính trị gia lưu vong.” Trong một thư khác, ông yêu cầu gởi về cho một sách của Gérard Chaliand “về chiến lược du kích . . . Tôi quên mất tên rồi, nhưng ngoài bìa – có hình một tranh của Goya – hình một người đàn ông đang bị xử bắn.”

R., kẻ đã gặp Bá tại biên giới Thái vào tháng 2 năm 1983 có ghi lại: “Bá đã muốn làm sao mất được vết bớt quá lộ liễu ở màng tang. Ông trông rất tiều-tụy. Ông có nói với tôi: “Kháng chiền không thể giải quyết mọi chuyện được. Nó chỉ giúp mình trực diện kẻ thù và không phải quỳ xuống. Mình phải dùng chỉ vài ngọn nến để tạo ra những buổi lể có hoa-đăng.” Bá cũng có nói: “Tôi đang đập đá vá Trời.”

Bá tin là trong trường kỳ thì cơ cấu cộng sản cũng sẽ tự tan rã. Ông suy tư về tương lai, lo ngại sẽ có những chuyển hướng lệch lạc khã dỉ có thể xẩy ra đối với mọi lực lượng kháng chiến, về những kiểm họa khủng bố, trắng hay đỏ. Trong những lần đi đi lại lại, ông đã tiếp xúc với mọi khuynh hướng đang chống lại Hà-nội, kể cả bọn Khờ-me Đỏ từng được huấn luyện ở Tây phương. Cũng giống như các cuộc kình cải giữa những người Việt tại hải ngoại, thái độ quên lãng lãnh đạm và các nhà lãnh đạo phương Tây này đã làm Bá đau đớn: “Điều kinh khủng nhất, chính là sự cô đơn. Những chân giá trị về lòng nhân đạo, tôn giáo và tinh thần nay đang ở đâu? Không ai được quyền nói là việc làm chúng tôi chỉ vô ích thôi!”.

Thật vậy, ít ai đã nói tới lực lượng kháng chiến này mà quả thực đang có những chiến binh tại hiện trường và nhiều kẻ khác trên giấy tờ. Chỉ khi Bá cùng các kẻ khác bị bắt – do vì quá liều lỉnh hay bị bội phản –  có lẻ vào ngày 11 tháng 9 năm 1984 cùng với phiên xét xử tại Sài-gòn vào tháng chạp cùng năm thì mọi người mới bắt đầu nói nhiều về phong trào kháng chiến hiện thực này.

Khi bị truy tố về tội ”phản bội cao cấp”, Bá đã là người thứ nhì trong số hai mươi mốt bị can trong một phiên tòa mà nhà cấm quyền đã cố tình đánh bóng. Ông đã bị mang ra trình diển trong nhà hát thành phố, trước khách sạn Continental củ, ngay tại trung tâm Sài-gòn. Rất là luộm thuộm cẩu thả ngay cả với tiêu chuẩn của một loại tòa mê-sảng kiểu sì-ta-lin, công tố viện đã chỉ biết cáo buộc một cách lộn xộn lung tung luôn cả Hoa-kỳ và Trung -cộng, CIA và “bọn mật vụ Thái”. Một trong các luật sư chỉ định, Triệu Quốc Mạnh, đã vô tình đánh thức dậy để cười vang cả một cử tọa, dù đã được chọn lọc trước đó, khi đọc lại nguyên văn: “Các bị can đã phạm luật, không ai có thể biện hộ được cho chúng bởi vì chúng là những tên phản bội.”

Một cách thật khôi hài quá lố, một bị can tên Trần Văn Phương đã nhìn nhận “phạm tội trọng đại” và đòi hỏi được bị xử tử. Phải chăng để tránh thêm phải bị một lần tra kảo nữa? Cái kiểu nhận tội y khuôn được thu xếp trước của các phiên tòa tại Moscow, Prague, Budapest, Tirana đã lại tái xuất hiện ở TP Hồ-chí-minh. Nhân những lần được cho nói lần tuyên bố chót trước tòa, nhiều bị can đã nhìn nhận tội và năn nỉ xin tòa khoan hồng. Sau khi bị tuyên xử tử hình cùng với bốn bị can khác, Bá đã khước từ ký đơn xin ân huệ giảm án. Ông đã nói với viên trưởng tòa: “Tôi rất tiếc là đã phải gặp ông trong các hoàn cảnh quá khó khăn này . . . “

Sau khi được truyền hình một vài khúc trong phiên tòa, cái phiên tòa giả dối này lại khiến Hà-nội bị mang tiếng xấu, y như vụ phiên toà “tứ nhân bang” tại Bắc-kinh. Hậu quả tối độc ngược lại là bọn Việt cộng đã vô tình phổ biến một “quả bom”: tại Việt-nam, đã từng có một cuộc kháng chiến đầu chống Pháp, rồi một cuộc thứ nhì chống Mỹ. Bây giờ, nay đang có một cuộc kháng chiến thứ ba để chống cộng. Nó không thể chỉ là đơn giản là những hoạt động hỗn tạp của vài nhóm nhỏ đã ra đi. Các đống vũ khí lấp loáng chất trước nhà hát thành phồ đã làm bằng cho việc biểu diễn này. Nếu các bị can, hội lại chung quanh Bá mà đã mang vào được Việt-nam từng ấy súng trường và tiểu-liên thì tức là họ đang có đuợc nhiều yểm trợ và nhiều mạng lưới.

Một chiến dịch toàn cầu nhằm can thiệp cho các người bị tuyên án đã làm Hà-nội bối rối và bực bội. Chính phủ Pháp lúc đầu chỉ lưu tâm đến hai bị can với án tử hình mà có mang thẻ thông hành Pháp là Mai Văn Hạnh và Huỳnh Vĩnh Sanh. Những cảnh cáo kín đáo hơn về ngoại giao, cùng các thông điệp chính thức của Fabius, của Mermaz và của Jospin đã giúp biến những bản án này thành tù chung thân. Chuyến dự tính đi Pháp của Nguyễn Thị Bình, phụ trách về nền giáo dục tiểu-học và cũng là một trong vài nhân vật của Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời mà đã không bị thanh lọc, thì đã bị hũy bỏ.

Cái tay đại tá Hà Văn Lâu nguyên là đại sứ Việt-cộng tại Ba-lê đã từ chối tiếp thân mẫu của Bá có các dân biểu của hai đảng RPR và UDF đi cùng . Ngày 8 tháng giêng, một công-điệp đã thông báo một cách gián tiếp là Bá sẽ bị hành quyết. Những người tới chứng kiến buồi hành quyết vào ngày 9 tại nghĩa trang quân đội Biên-hòa ở Thủ-đức cách Sài-gòn mười lăm cây số đã không hề thấy được mặt các tử tù vì đầu họ đều bị bịt kín. Bọn cầm quyền Việt đã khước từ giao trả thi hài của Bá. Theo nhiều nguồn tin khác thì Bá đã qua đời trước đó do tra tấn. Theo những nguồn tin khác thì thật sự ông ta đã không hề bị xử tử.

Giống như mọi kháng chiến quân đầu tiên ở khắp mọi nơi, sau khi rời sân khấu Lịch sử thì Bá đã nhanh chóng đi vào huyền thoại. Rồi thì huyền thoại đã đơn giản hóa và làm mất nhân tính đi. Một phần thế hệ mới của thanh niên thanh nữ Việt-nam đã tự nhìn ra được mình qua gương của Bá. Ngày nay, người ta luôn nói nhiều và nhắc nhở về ông trong các cộng đồng người Việt trên khắp thế giới. Thật sự ông là ai: có đầu óc thực tế hay quá lý tưởng, kẻ bạt-mạng hay kẻ thích phiêu-lưu, kẻ để noi theo hay chỉ là một người lý tưởng? Cho dù bất kỳ gì đi nữa thì chính ông đã không hề bao giờ ra đi chiến đấu chiếu theo hợp đồng ủy quyền nào đó. Khắp đây đó, các bài viết về ông dều đã ví ông với Kinh Kha. Người hiệp-sĩ này, cách đây hai ngàn năm đã ra đi để mưu giết một bạo chúa mà đã từng dựng nên Đại Trường Thành, đã ra lệnh đốt hết sách vở cùng giết cho hết mọi nhà trí thức . . . Ngày nay ngay tại quốc nội Việt-nam, người dân đã so sánh Bá với người chiến sĩ chống chế độ  thuộc địa năm xưa mà khi bị tuyên án tử hình đã từng đòi hỏi, ngay chính lúc bị đè nằm xuống, muốn thấy lưỡi đao của máy chém đi xuống: “Ta muốn nhìn trời.” Nhiều kẻ khác, bạo-dạn hơn đã không ngần ngại thấy nơi Bá “một tân Hồ Chí Minh chống cộng”, hình ảnh một nhân vật gương mẫu mà lòng can đãm đã khiến bọn chính trị viên già nua Hà-nội lo sợ.

Những năm sắp tới sẽ cho thấy là Trần Văn Bá MÀ khi sống đã quyết tin vào các giá trị phương Tây để dấn thân toàn vẹn cho niềm tin của mình, có đã là một người hùng cần thiết hay chỉ là một người tuẫn-tiết vô ích. Cuộc kháng chiến thứ ba này mà Bá là hình ảnh tượng trưng có phải chăng chỉ là một nổi ám ảnh vô vọng hay là một cuộc đấu trí có khã năng thắng được mà đáng được mọi người thông cảm và yểm trợ?

OLIVIER  TODD

7 phản hồi to “Trần Văn Bá và Olivier Todd”

Trackbacks/Pingbacks

  1. Gian trá và Ngụy Tạo – Gs. Lâm Văn Bé | Mười Sáu - 17/04/2014

    […] sau nhìn ra sự thật về sự bịp bợm của cộng sản và quay ngược 180 độ: Olivier Todd được mệnh danh là một người trí thức liêm khiết. Trong lúc đó, chuyến máy […]

  2. Gian trá và Ngụy Tạo – Gs. Lâm Văn Bé | CHÂU XUÂN NGUYỄN - 19/04/2014

    […] sau nhìn ra sự thật về sự bịp bợm của cộng sản và quay ngược 180 độ: Olivier Todd được mệnh danh là một người trí thức liêm khiết. Trong lúc đó, chuyến máy […]

  3. GS Lâm Văn Bé – Gian trá và ngụy tạo | CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT QUỐC GIA HOA KỲ - 25/04/2014

    […] sau nhìn ra sự thật về sự bịp bợm của cộng sản và quay ngược 180 độ: Olivier Todd được mệnh danh là một người trí thức liêm […]

  4. Gian trá và Ngụy Tạo – Gs. Lâm Văn Bé (KO thấy hình còm báo dùm) | CHÂU XUÂN NGUYỄN - 02/05/2014

    […] sau nhìn ra sự thật về sự bịp bợm của cộng sản và quay ngược 180 độ: Olivier Todd được mệnh danh là một người trí thức liêm […]

  5. Giới thiệu tác phẩm AMERICONG (MỸ-CỘNG) – Lê Bá Hùng | Ngoclinhvugia's Blog - 05/01/2016

    […] Trần Văn Bá và Olivier Todd […]

  6. Trần Văn Bá và Olivier Todd | OVV - 04/02/2016

    […] Source: Trần Văn Bá và Olivier Todd […]

  7. Trần Văn Bá và Olivier Todd | OVV - 04/02/2016

    […] Trần Văn Bá và Olivier ToddLe Hung […]

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: