Roger Canfield’s Americong #61

image002

Comrades in Arms

How the Americong Won the War in Vietnam

Against the Common Enemy— America

Copyright Roger Canfield, Ph.D.

1986-2012

No commercial transaction allowed except that approved by the author, copyright holder.

Obtain a prepublication release of a CD-R in Microsoft Word in ENGLISH at a discounted price of $15 from Roger Canfield Rogercan@pacbell.net at 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 or at http://americong.com.

Completely SEARCHABLE for any name, date, place or event of the War and its protesters.   

Cover: Design Stephen Sherman. Photos: Roger Canfield, March 2008. TOP: War protest Hawaii, February 1966 displayed at War Remnants (Crimes) Museum, Saigon. Bottom: Praetorian Guard

Các đồng chí cùng chiến tuyến

Làm thế nào MỹCộng thắng cuộc chiến Việt Nam

Chống kẻ Thù Chung – Mỹ

Giữ bản quyền Roger Canfield, Tiến Sĩ

1986-2012

Không được sử dụng vào mục đích thương mại nếu không có sự đồng ý của Tác giả, người giữ bản quyền.

Có thể mua một tiền bản dưới dạng CD-R Microsoft Word bằng Anh ngữ với giá đặc biệt US$15 ngay từ tác giả Roger Canfield  Rogercan@pacbell.net tại 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 hay tại  http://americong.com.

Hoàn toàn có thể TRA CỨU hoặc bằng tên, bằng ngày tháng hay biến cố liên quan đến cuộc Chiến cùng cả luôn bọn tham dự biểu tình .

******************************************************

* Tác giả giữ bản quyền © Roger Canfield 1986-2012

  • Lê Bá Hùng chuyển ngữ  (với sự chấp thuận của Tác giả)

 *******

Chương 61

Weathermen và bọn Cán bộ Cu-ba

 

Sau chuyến đi Havana của Carl Oblesby vào tháng Giêng và việc y không còn nắm chức vụ gì có ảnh hưởng tại Cu-ba trong tháng 3, vào đầu năm 1969 vẫn đã có tiếp diễn nhiều cuộc gặp gở thêm của SDS với bọn Cuba ngay bên trong nước Mỹ.

Oglesby đã cho biết : Trong tháng 3 năm 1969, sau đại hội của SDS tại Austin, Texas mà đã thanh lọc Carl Oglesby,  “một số điện đàm thoại mổi ngày vẫn được gọi tới Phái bộ (Cuba) tại Liên Hiệp Quốc ở New York”, 2911 có thể là từ Bernardine Dohrn và Arlene Eisen Bergman. Việc thay đổi lãnh đạo SDS của dự án Venceremos đã làm bọn Cuba bối rối .

Từ đó về sau, Oglesby đã vẫn giữ liên lạc với Đại sứ Cu-ba tại Liên Hợp Quốc là Carlos Rafael Rodriguez tại một quán rượu Ái-nhĩ-lan để theo dõi các tiến bộ của những Lữ đoàn Venceremos. 2912 Ngày 4 tháng 6 năm 1969, Bernardine Dohrn cho Mike Klonsky biết là y thị sẽ gặp một số tên Cu-ba vào ngày hôm sau. 2913 Một cựu sĩ quan DGI đào tẩu, Gerardo Peraza, sau đó có báo cáo (vào ngày 26 tháng 2 năm 1982) là Julian Torres-Rizo, Đệ nhứt  Bí thư của Phái bộ Cu-ba tại Liên Hợp Quốc  2914 đã là một trong một loạt  sĩ quan DGI phụ trách kiểm soát các Lữ đoàn Venceremos Brigadeers, nhóm Weathermen và tụi Fuerzas Armadas de Liberación Nacional ~ FALN  (Armed Forces of National Liberation)  Puerto Rico.  2915

Một kẻ đào tẩu Cu-ba đã cho biết, “Dưới sự kiểm soát của các điệp viên tình báo  Cu-ba,  các Lữ đoàn Venceremos lần đầu tiên đã mang lại một số lượng lớn tin tức được thu lượm ngay tại Mỹ thông qua chính các công dân Mỹ.” 2916 Ngày 9 tháng 6 năm 1969, nhóm Weatherman đã đặt bom nổ trụ sở tư lệnh của Sở Cảnh sát thành phố New York.

Công Bố của Weathermen, Đơn Vị Hành Động – Quý Vị Chả Cần Một Thành Viên Weatherman – 18 tới 22 Tháng 6 Năm 1969

Ngày 18 tháng 6 năm 1969, cái “đơn vị hành động” của  SDS – Karen Ashley, Bill Ayers, Bernardine Dohrn, John Jacobs, Jeff Jones, Gerry Long, Howie Machtinger (cũng có tên là Dennis Egerton Holefca, Danny, Steve Nash), Jim Mellen,Terry Robbins, Mark Rudd và Steve Tappis – đã đăng một bài thảo luận về ý thức hệ  trên tờ New Left Notes  của SDS mà đã kết luận: “Bạn không cần một chuyên viên khí tượng để biết được gió đang thổi theo chiều nào”.  2917 Tổ chức Weathermen đã chào đời từ đó.

SDS Đầu Quân Với Bọn Việt Cộng

Đó đã là văn kiện căn bản tại đại hội của hai nhóm Weathermen với SDS 2918  vào ngày 18  tới ngày 22 tháng 6 năm 1969 tại Chicago.

Văn kiện Weatherman này công bố “Việt cộng đang chiến thắng … [và] Việt Nam là môi trường có khả năng thêm nhiều đấu tranh ở đó.”  Để chuẩn bị thì ta cần phải có một “phong trào thống nhất chống chủ nghĩa đế quốc ” mà nhờ đó, bộ Chicago Tám đã làm náo loạn đại hội đảng Dân chủ tại Chicago. “Bởi vì chiến tranh là chính trị, các nhiệm vụ chính trị – cuộc cách mạng cộng sản quốc tế – phải hướng dẫn nó.” Một điều gần “giống như Hồng Vệ Binh ở Trung Quốc” hay trong cuộc  đấu tranh tại Việt Nam.

Trước khi tách ra thành ba phe phái đều là cộng sản, một nghị quyết của SDS nhằm chuẩn bị kế hoạch cho một phong trào vào ngày 8 tháng 11 đã nói, “Cuộc đấu tranh hiện nay của người dân Việt Nam đòi quyền tự quyết  là cuộc đấu tranh tiên phong chống đế quốc Mỹ”. SDS có ghi nhận “những biến chuyển gần đây ở Việt Nam và ở Ba-lê đã cho thấy là hiện nay Mặt trận Giải phóng Quốc gia đã mở đầu một cuộc tấn công chính trị lớn để cô lập bọn đế quốc Mỹ … ra khỏi toàn thể nhân  dân ở miền Nam Việt Nam và …. cả thế giới.”

Rồi thì là bắt chước theo sự hướng dẫn của bọn MTGPQG, “Rõ ràng, chúng ta phải sửa chữa những lỗi lầm trong quá khứ và phát động cuộc Tấn công Chính trị của riêng chúng ta tại ngay Hoa Kỳ … để cô lập bọn hoạch định chiến tranh đế quốc chủ nghĩa ra khỏi toàn thể nhân dân …” 2919

Hoa Kỳ Pháo Kích Qua Vùng Phi Quân Sự

Vào gần cuối đại hội SDS, vào ngày 24 tháng 6 năm 1969, Hà Nội đánh điện cho văn phòng SDS tại Chicago  tại số 608 West Madison để phản đối việc pháo kích vào Vĩnh Linh trên vùng phi quân sự và vụ dội bom ở tỉnh Quảng Bình tại huyện Minh Linh.  Mỹ đã “… bỏ những bom bi nổ nhỏ bằng thép và những bom lân tinh cháy nát hầu gây thiệt hại về tài sản và nhân mạng” vào ngày 14, 16 và 19 tháng 6.

Hà Nội đã đòi hỏi: “Kêu gọi các bạn phải có liền những biện pháp nhằm lập tức ngăn chặn chiến tranh của Mỹ và đòi hỏi chính phủ Mỹ phải chấm dứt các vụ xâm phạm … vào chủ quyền quốc gia. Xin chân thành cảm ơn. Việt Mỹ.” 2920

Quảng Bình đã là tỉnh được phòng vệ tối đa trên vùng phi quân sự để đối đầu với miền Bắc Việt Nam. Tất nhiên, các đơn vị của quân Bắc Việt đã từng luôn luôn vi phạm các vùng lãnh thổ thuộc chủ quyền của Lào, Campuchia và miền Nam Việt Nam trong nhiều thập niên qua.

Nếu Hoa Kỳ mà đã đuổi theo địch quân để tiến luôn vào Lào, Campuchia và miền Bắc thì chắc là chiến tranh đã sẽ kết thúc cả thập niên trước đó rồi. Các quy tắc chiến tranh về vấn đề chủ quyền lãnh thổ đã được quy định từ lâu rồi. Công ước Geneva năm 1907  từng quy định là “một quốc gia trung lập có nghĩa vụ không được cho phép lãnh thổ của mình bị sử dụng bởi một nước tham chiến khác. Nếu quốc gia trung lập không sẵn sàng hay không có thể ngăn chặn điều này sẽ xẩy ra thì nước tham chiến kia có quyền để có phản ứng thích hợp ” 2921 Do việc Lào và Cam-pu-chia đã không có thể ngăn chặn các cuộc hành quân của Bắc Việt tấn công vào Nam Việt, các hành động quân sự của Mỹ tại Lào và Campuchia đã hoàn toàn phù hợp với các quy định về luật quốc tế thời chiến.

Cuộc Đảo Chánh của Weathermen Để Nắm Lấy Và Chỉ Huy SDS

Vào lúc hội nghị kết thúc, Bernadine Dohrn với mười tên Black Panthers bao quanh bảo vệ đã lên dành lấy máy vi âm để tuyên bố là đa số phân nhánh Progressive Labor Party ~ Đảng Lao động Đảng Cấp Tiến đều là “những bọn kỳ thị chủng tộc và phản cách mạng” và công bố là Progressive Labor Party PLP không còn là  thành viên của SDS nữa.

Một nhân viên liên bang vô danh đã viết lại, “Thật là mỉa mai khi thiểu số mà lại đã loại bỏ thành phần đa số của SDS”. Vào cuối tháng 6 năm 1969, nhóm Weather đã thực sự kiểm soát được văn phòng quốc gia của SDS ở Chicago và đã chiếm giữ các hồ sơ và danh sách của thành viên SDS, các thông tin liên lạc và luôn cả những người đã đóng góp tiền của. 2922 Số thành viên của SDS sau đó đã nhanh chóng giảm xuống và nhiều tài năng về tổ chức của nhóm đã bỏ ra đi.

Một trong những nạn nhân của SDS mà đã từng gặp Bernardine Dohrn và Bill Ayers năm 1969 tại Ann Arbor đã là Wade Rathke.  Độ 20 tuổi và từng bỏ ngang đại học Williams College, đó là chuyên viên SDS (1966-1968) về tổ chức chống quân dịch ở Williamstown, Springfield và Boston, Massachusetts, 2923  Rathke sau đó đã sớm gia nhập Welfare Right Organization và thành lập Association of Community Organizations for Reform Now, ACORN (Hiệp hội các Tổ chức Cộng đồng Cải cách) vào năm 1970 .

 image004

Hình: Nicholas DeWolf, biểu tình Boston năm 1970. ‎

 

Weathermen Yêu Mê Mao

Ngay sau đại hội SDS, bọn Weathermen Mark Rudd, Jeff Jones và Bill Ayers đã gửi một bức thư cho kẻ chuyên bợ đít Mao tên là Anna Louise Strong. 2924  “… Đại hội . . . của chúng tôi … đã rất là vinh dự khi nhận được lời chào mừng của nhà văn cách mạng và cũng là người ủng hộ nhiệt thành nhất Cộng Hòa Nhân dân Trung Quốc và tư tưởng của Mao Trạch Đông. … Mao Trạch Đông muôn năm …. ”  Anna Louise Strong, 2925  tay đầy tớ của Mao Trạch Đông, đã từng bị giao phó đi khắp thế giới để kêu gọi một cách vô vọng phong trào cộng sản là hãy nên áp dụng những tư tưởng của Chủ tịch Mao. 2926

Nhiều Vụ Việt Nam

Bọn Weathermen đã là “một sư đoàn của Quân đội Giải phóng Quốc tế … [và] các chiến trường của nó chỉ là như phụ thêm vào nhiều vụ Việt Nam khác để sẽ phân thây và loại bỏ đế quốc Mỹ. ” 2927

Từ đó về sau, trong cái Gia đình Đỏ và cái Trường Giải phóng Quốc tế ở Berkeley của y, Tom Hayden đã đề cao nên đọc và thảo luận về tờ báo của Weatherman cũng như phải hành động sao cho phù hợp với nó mà thôi. 2928 Và bọn Weatherman đã sử dụng Firearms and Self Defense—A Handbook for Radicals, Revolutionaries, and Easy Riders, Tháng Chạp 1969 của Hayden và Stew Albert. 2929

Ngày 29 tháng 6, một lần nữa Hà Nội lại đánh điện cho văn phòng quốc gia  SDS để bày tỏ niềm vui về “thành công to lớn tại Chicago trong việc đã thông qua một nghị quyết lên án Nixon để khuyến khích phải chấm dứt cuộc xâm lược … phải công nhận quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam”. Bức điện đã cảm ơn Nick Egelson với “những lời chúc mừng nồng nhiệt nhất” do việc y đã  chào mừng sự hình thành của Chính phủ Cách mạng Lâm thời, PRG, 2930 một loại ấn bản mới của Hà Nội nhằm cải thiện hình ảnh MTGPGG.

Ngày 30 tháng 6 năm 1969, FBI cho Tòa Bạch Ốc biết là chính phong trào cách mạng ở Mỹ đã đang chủ động tiếp xúc với “đám Cộng sản thủ cựu . . . quốc nội  … mà còn … luôn cả ở ngoại quốc.”  2931

Bọn cách mạng đã có nhiều bạn bè trang bị vũ khí đầy đủ trong các khu phố gần đó.

Hạm Đội Liên Xô và SDS: Cuba, tháng 7 năm 1969

Trong tháng 7 năm 1969, một hải đội Liên Xô đến bỏ neo ở Havana, Cu-ba nơi mà đám nam nhi xã hội chủ nghĩa gương mẫu của chúng đã đi giúp cắt mía cây.

Để thực hiện thành công cho được cái nhiệm vụ nông nghiệp cắt  mía cây này, Liên Xô có mang theo một tuần dương hạm trang bị phi đạn với đầu đạn nguyên tử với tầm hoạt động 450 dặm. Theo cùng với chiến hạm chỉ huy đã có một chiến hạm, một khu trục hạm, hai tàu ngầm chạy bằng ‘diesel’ và các tiếp vận hạm. Chuyến thăm này không chỉ vi phạm các thỏa thuận giữa Kennedy và Khrushchev sau vụ  khủng hoảng hỏa tiển Cu-ba, mà cũng để nhấn mạnh chủ trương của Xô Viết về  “tình cách mạng đoàn kết” với Castro cũng như để đánh bóng tầm quan trọng chiến lược của các căn cứ của Liên Xô mà Tổng thống Kennedy đã chấp thuận cho để lại nguyên vẹn ở Cu-ba sau vụ khủng hoảng. 2932

Một năm sau, Liên Xô đã bị phát hiện đang xây dựng một căn cứ tàu ngầm ở vịnh Cienfuego Bay. Chỉ sau khi Nixon-Kissinger cùng đưa ra một tối hậu thư cho Đại sứ Dobrynin thì việc xây cất căn cứ này mới tạm thời bị đình chỉ. 2933

Bọn thủy thủ Liên Xô thì cũng đã có tiếp viện quân khác, và có lẽ là các đồng chí, vào mùa hè năm đó tại Havana – đó là bọn Mỹ từng được tuyểng dụng đi cắt đường mía cây, các tên tuyên truyền, các điệp viên, các gián điệp và các tên khủng bố.

SDS Weatherman Gặp bọn Việt cộng tại Cu-ba,  9 tới 15 tháng 7

 Theo  New Left Notes, một tháng sau đại hội SDS được tổ chức từ ngày 18 đến 22 tháng 6 năm 1969, theo yêu cầu đích danh của Việt cộng và với tài trợ $1,500 từ tổ chức Wennergren Foundation, một đoàn cách mạng SDS  tín cẩn (và một phái đoàn La tinh) gồm 34 tên đã băng ngang Mexico bay đi Havana  2934 vào đầu tháng 7 năm 1969 để “ở lại năm tuần tại Cu-ba, và hai người trong số đó có gặp và đi du lịch khắp nơi với các người Việt Nam”.  2935

Một tờ chương trình từ ngày 9 đến 15 tháng 7 liệt kê rất rời rạc mục “các báo cáo của các phái đoàn Bắc Mỹ và Việt Nam”, rồi mục tiếp tân bởi Hoàng Bích Sơn thuộc CPCMLT, tuyên đọc các tài liệu, thảo luận từng nhóm nhỏ, “chiếu phim của Bắc Mỹ … MTGPMN … Cộng hòa Dân chủ Việt Nam” và  báo cáo của các nhóm về các chủ đề cụ thể. 2936

Hoàn toàn không đề cập gì tới bọn cắt mía, bọn tình nguyện viên Peace Corp, chúng là những ‘machetismos ~ nam nhi’ thuộc một loại đặc biệt. Chúng đã đi  Cu-ba để gặp đại diện của kẻ thù trong thời chiến ngõ hầu thảo luận về chiến lược để kết thúc chiến tranh. Tháng 7 đó của năm 1969, chúng cũng đã gặp các viên chức Cu-ba và Liên Xô, nhưng chúng chỉ mới thật sự có ấn tượng với đám Bắc Việt và Việt Cộng, tân Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam.

Đám Việt cộng đi gặp đám Mỹ đã là: Phía Việt Cộng ở miền Nam đến thì có Lê Thị Tranh Trà, Đoàn Châu Tranh, Nguyễn Thị Quý, Hoàng Văn Định, Đinh Thị Trứ, Nguyễn Phúc, và Phạm Văn Chương. Từ Bắc Việt Nam đến đã là Nguyễn Văn Trọng, Vũ Quang Chuyên, Nguyễn Thái Trần Đức Tiến, Ngô Quí Du, Lê Tuấn, Đào Công Đoàn, Nguyễn Thị Vân, Lê Thanh, Văn Trọng, Lê Thị Thanh Mai. 2937

Nhóm SDS gồm có Carlos Antonio Aponte, Robert Jay Barano, Christopher Kit Bakke, Thomas Wilson Bell, Edward “Corky” Benedict, Kathie Boudin, Cristina Bristol, Aubrey Brown, Robert Burlingham, George Cavalletto, Peter Clapp, Luis John Cuza, Lucas Daumont, Carl Alfred Davidson, Dianne Donghi, Bernardine Dohrn, Diane Westbrook Faber, Richard Rees Fagen, Ted Gold, Kenneth Alan Hechter, Frank James Petras, Nino Jeronimo, Gregory, Nina, Saul Irwin và Valerie Landau, Sandra Hale Levinson, Gerald “Jerry” William Long, Robert Schenk Love, Beth Susan Lyons, John “Shorty” Marquez, Albert Martinez, Howard Jeff Melish, David Millstone, Robert Edward Norton, Orlando Ortiz, Diana Oughton, Rose Paul Verna Elinor Richey Pedrin, Jesus Maria Ramirez,Jose Ramirez, Eleanor Raskin, Patricia Ellen Shea, Jane Spielman, Jeronomi Ulpiano, Joanne Washington, Robert Wetzler, Myra Ann Wood and Mary Woznich 2938 – chỉ thiếu có Oglesby.

Hà Nội đã đưa ra hai thông điệp: “Hoa Kỳ sẽ không bao giờ có thể thoát khỏi mê cung và biển lửa chiến tranh của nhân dân”, một thất bại tuyệt đối, và thứ hai là, theo theo lời Kirkpatrick Sale, “họ có bổn phận xây dựng Phong trào Mỹ đến tầm độ khã dỉ gây được áp lực bất khả chống lại vào chính phủ Hoa Kỳ để buộc phải rút quân. 2939

Đã có các cuộc họp, thảo luận và hội thảo nhằm kết hợp để vạch ra một “chiến dịch phản chiến trong một cuộc hội thảo kéo dài tám ngày với các đại diện của Hà Nội và Việt Cộng” 2940 và đã thảo luận để xây dựng một phong trào cách mạng tại Mỹ hầu “đá đít”.

Các Ghi Chú của Dohrn trong thời gian 13 tới 15 Tháng 7 Năm 1969: Tiết Lộ Tiến Trình Nhồi Sọ và Cố Vấn với Hà-nội ~ Việt cộng thì Thắng trong khi Mỹ lại Thua

Các ghi chú của Bernardine Dohrn cho thấy là vào ngày 9 tháng 7, Nguyễn Thái đã đưa ra một báo cáo nhấn mạnh rằng cuộc chiến đã là một gánh nặng cho  quân đội Mỹ và “chủ nghĩa đế quốc” của nó đã làm tổn thương tinh thần quân nhân c3a chúng. Hơn nữa, quân đội Hoa Kỳ không được tốt lắm: lính đã “không được huấn luyện cho chiến tranh cận chiến” và “140.000 lính Mỹ (đã) bị xóa sổ”.

Khi trả lời các câu hỏi phía Mỹ, Văn Trọng của CHDCVN đề nghị phải “hủy bỏ ảnh hưởng Mỹ” trong chiến lược ở Nam Việt và nói là việc “sử dụng người bản xứ chống lại người bản xứ” sẽ không thể nào thành công. Y cũng cho chế độ bù nhìn Thiệu-Kỳ là quá yếu trong khi nhân dân miền Nam thì lại ủng hộ MTGPQG và lưu ý tới “sự giận dữ của dư luận ở Mỹ”. Trọng đã cho là các chính sách ngăn chặn về quân sự của Mỹ tại Lào, Campuchia và Thái Lan đều đã thất bại. 2941

SDS được thông báo: Che chết rồi nhưng Castro thì chưa

Bộ Ngoại giao Cuba triệu tập Gerry Long và một thành viên khác của SDS để đi gặp Fidel Castro để được loan báo là quân đội Mỹ không thể nào chiến thắng được ở Việt Nam. Tuy nhiên, Castro dường như bị phân tâm. Fidel tiết lộ là y đã nhận được một bao từ Bolivia đựng hai bàn tay bị cắt ra của Che Guevara 2942 để chứng minh cho danh tính của tên này. 2943 Gustavo Villoldo đã giúp phục kích chết Guevara nhân một điệp vụ CIA và đã nhận được giải thưởng trị giá 1,4 tỷ USD do một thẩm phán Florida tuyên trong năm 2011 vì lý do trước đó, Castro đã buộc thân phụ của Villoldo phải tự tử trước khi cho phép gia đình ông ta rời Cu-ba. 2944 Một sự phục hận thật là ngọt ngào.

Fidel Castro, người dành được giải thưởng Hòa bình Lê-nin và Che Guevara, đã thua trận chiến nhỏ ở Bolivia, nhưng về dài hạn đã giành được chiếc áo thun tiêu biểu cho chiến tranh và sự vinh danh Che của Hollywood trong bộ “Motorcycle Diaries” trong năm 2010.

Tầm quan trọng của phong trào phản chiến đối với Hà Nội

Việt cộng đã mô tả chiến lược ba phân – Việt Nam, Ba-lê và Hoa Kỳ. 2945

Vai trò quyết định chính sẽ là phong trào phản chiến tại Hoa Kỳ. 2946

Văn Trọng đã liệt kê những bài học thời kháng chiến chống Pháp: lợi dụng các tờ báo cấp tiến, “chuồn sâu” vào mọi tổ chức đoàn thể, viết các khẩu hiệu làm sao cho dân dễ hiểu để thúc đẩy mục tiêu thống nhất.

Ngày 13 tháng 7, các ghi chú của Dohrn cho thấy mối quan tâm của Việt cộng về các quân nhân GI Mỹ, về những gì đã thúc đẩy họ, về tinh thần của họ, về việc họ đã can dự vào phong trào phản chiến và về mục tiêu “cộng tác với quân nhân GI Mỹ để “làm suy yếu kẻ thù.” (Quân đội Mỹ). 2947

Tình trạng của chiến tranh tuyên truyền tại Mỹ?

Văn Trọng của CHNDVN đã muốn biết hiện trạng của công luận Mỹ đối với chiến lược của Hoa Kỳ, đến tình trạng quân dịch và phản ứng đối với chương trình 10-điểm của CPCMLT. Liệu các người Mỹ trong phong trào phản chiến có hiểu được và có hỗ trợ chương trình 10-điểm của CPCMLT? Liệu người dân Mỹ có nghĩ chăng là việc rút quân đồng nghĩa với đầu hàng?

Trọng đã giải thích mấy 10-điểm như sau: tôn trọng chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, trung lập, giám sát quốc tế về việc rút quân, viện trợ kinh tế, bồi thường chiến tranh.

Bổn Phận của SDS Weatherman: “Đá Đít”

Huỳnh Văn Ba đã nói với họ: “Khi vô phố thị thì bạn phải đi tìm kẻ chuyên chống cự mạnh bạo nhất lại bọn công an .” 2948 Nguyễn Thái thì đã gây ấn tượng cho Eleanor Stein Raskin sâu đậm đến mức y thị đã đặt tên cho đứa con trai của mình với Jones Jeff  là Jones Thái. 2949 Fonda và Hayden rồi thì cũng sẽ bắt chước cũng với một đức con trai tên đặt tên là Trỗi.

Huỳnh Văn Ba, người đứng đầu phái đoàn CPCMLT, đã nói với nhóm Weatherman: “Cuộc chiến đang bước vào giai đoạn cuối cùng. Các bạn cần phải bắt đầu phát động đấu tranh vũ trang càng sớm càng tốt để trở thành đội tiên phong và lãnh đạo cuộc cách mạng.” Đám Mỹ “được trao tặng những chiếc nhẫn làm bằng  kim loại lột ra từ xác các chiến đấu cơ của Mỹ.” 2950

Corky Benedict nói với điềm chỉ viên FBI Larry Grathwohl là y được đào tạo về tuyên truyền, vũ khí và chất nổ ở Cuba. 2951 Naomi Jaffe thì cho Grathwohl biết rằng y thị cũng được huấn luyện như vậy ở Bắc Triều Tiên cũng như ở Cu-ba. Bọn cán bộ nào mà quyết chí thì đều đã có rất nhiều cơ hội được huấn luyện.

Lần về trên chuyến vận tải cơ từ Cu-ba, theo lời Manuel Ascunce thì toàn là chuyện “đá đít trả thù” và Ted Gold thì đã sớm viết, “chiến bại tại Việt Nam sẽ là một cú đánh quyết định” và làm “gây những tổn hại chết sống cho các kế hoặch của bọn cầm quyền Mỹ nhằm … bành trướng việc chỉ huy thế giới của chúng.” 2952

Điều Tra Cán bộ SDS: Những Giai Thoại về Đề Phòng và Cách Mạng

Bill Ayers đã điều tra nhóm cột trụ nay trở về lại Mỹ vào tháng 7 năm 1969 – Dohrn, Gold, Oughton, Donghi và Raskin – ngay khi chúng đến Canada vào ngày 16 tháng 8. 2953 Ông nhớ lại chúng “đã trao đổi các quan điểm về chiến lược và chiến thuật để chấm dứt chiến tranh ….”  Đó quả là một “chuyến đi đem lại đầy kinh nghiệm … cùng họp với Việt Nam … và phát triển một chiến dịch bí mật có tính toán … Người Việt Nam đã … rất hăng say về cách thức làm sao giúp chúng tôi phải chuẩn bị để tiếp xúc được với các phụ huynh đảng Cộng hòa của chúng tôi “. 2954

Cũng giống vậy, Mark Rudd và John Jacobs có gặp nhóm trở về tại St John, New Brunswick. Rudd nhớ lại là Bernardine Dohr đã lưu ý là bọn Việt cộng có khuyến cáo chúng phải cẩn thận, đừng tỏ ra quá khác biệt với mọi người. Hơn nữa “Để thuyết phục Mỹ rút quân, phong trào phản chiến ở đất nước này cần phải bành trướng hơn và có cam kết nhiều hơn nữa . … Việt cộng cần các lực lượng phản chiến Mỹ thống nhất nhau chung lại ngõ hầu kết thúc chiến tranh”. Rudd tuyên bố,”Tại một phiên họp thâu đêm …, chúng tôi đã hăm dọa bắt được Bernardine phải cùng đồng ý chủ trương Mang Chiến tranh về Tại Nhà …” Cuối cùng, y thị trích lời Ba kêu gọi là cần phải tuyển mộ các người đấu tranh trên đường phố. 2955

Peter Clapp, một tên phụ trách về tổ chức của SDS tại Western Michigan tuyên bố là mùa hè năm đó y đã được huấn luyện “chiến thuật cách mạng, theo kiểu Fidel Castro. Chúng tôi đã nhận các chỉ thị hướng dẫn từ Cu-ba.” 2956 Và sẽ sớm rõ ràng là bọn Weathermen và bọn Lữ đoàn Venceremos  đã đang” thi hành các chính sách và mục đích của Việt cộng (Bắc Việt và CPCMLT) cũng như là của chính phủ Cuba. ” 2957

Họp báo: Hoa Kỳ Đang Thất Trận

Sau khi về từ Cuba, vào ngày 19 tháng 8 năm 1969 tại khách sạn Diplomat ở New York, đám SDS – Bernardine Dohrn, Ted Gold, Dionne Donghi, Jeff Melish và Eleanor Raskin đã tổ chức một cuộc họp báo. Ngoài ra còn có Kathy Boudin, con gái của  đảng viên đảng CS Mỹ, tên luật sư Leonard Boudin; y thị đã học năm cuối đại học tại Đại học Moscow. 2958

Đám trở về đã đưa ra một tuyên bố, “Quyết Chiến Quyết Thắng …. Chúng nói, chúng “vừa trở về (từ Cu-ba) … lãnh thổ tự do của châu Mỹ.” Bất kể bằng chứng hiển nhiên ngược lại, chúng vẫn khẳng định: “… Chủ nghĩa đế quốc Hoa Kỳ đang bị đánh bại hoàn toàn tại Việt Nam. … Chúng tôi tự cam kết sẽ đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống Mỹ ở Việt Nam cùng hỗ trợ nhân dân Việt Nam … ” 2959

VC Trong Tình Thế Tuyệt Vọng ở miền Nam Việt Nam

Cho dù bọn cán bộ Hà Nội có đã nói gì với đám cộng tác viên Mỹ thì cộng sản cũng đang thất bại trên chiến trường và tại các làng xã Nam Việt. Tết Mậu Thân 1968 đã tàn sát bọn Việt Cộng mà sau đó đã phải được tăng cường với bộ đội và cán bộ Bắc Việt. Chính phủ miền Nam Việt với sự hỗ trợ của chương trình Phoenix Phượng Hoàng đã vô hiệu hóa – bắt giam, chiêu hồi và giết chết – bọn cán bộ du kích VC còn lại.

Tại Nam Việt, trong tuyệt vọng, cộng sản đã tăng gia ám sát và gieo thêm căm thù vào thời điểm đó và có vẻ như đang kêu gọi bọn Weatherman cùng làm như vậy bên trong Hoa Kỳ và vô hình chung cũng dùng Weatherman như là loại bia đỡ đạn Mỹ cộng tại Hoa kỳ. Cộng sản không chiến thắng tại Việt Nam, nhưng chữ “chiến thắng” cũng đã có một loại răng chĩa ba về ý nghĩa chính trị bao gồm các thành phần đáng tin cậy nhất của phong trào phản chiến.

Thành Viên SDS Tuân Theo Các Chỉ Thị Từ Cu-ba

Hai phóng viên Georgie Anne Geyer và Keyes Beech cho biết Castro đã cung cấp cho “Hà Nội một căn cứ để các điệp viên của mình có thể móc nối với bọn cảm tình viên Mỹ.” Bọn này đã “nhận lệnh phải tổ chức thêm nhiều cuộc biểu tình phản  chiến, nhấn mạnh … về các con số thương vong Mỹ … về số phi cơ bị bắn rớt và về phí tổn quá cao của chiến tranh.” Huỳnh Văn Ba đã đưa ra những “mệnh lệnh” nhằm phá rối quân đội Mỹ với hành vi chống quân dịch và kích động trong các đơn vị quân đội đang thi hành nghĩa vụ.

Huỳnh Văn Ba cũng khuyên không nên sử dụng danh từ cộng sản, điều luôn luôn phải tránh trong giai đoạn đầu của mọi cuộc cách mạng. Thay vào đó thì phải đề cập đến một nền y tế miễn phí và những điều kiện sinh sống tốt đẹp hơn nhiều. Bọn tả phái Mỹ quả đã khó chấp nhận được những lời dạy bảo kiểu này.

Vào tháng 6, nội bộ bọn SDS đã quyết định phải ngã ngủ rỏ rang ra là chúng muốn trở thành loại cộng sản nào. Đám Vietnam Veterans Against the War (Các Cựu chiến binh Việt Nam chống chiến tranh) cũng bắt chước để sau đó quyết định gọi CPCMLT và Bắc Việt bằng tên mới là Việt Cộng và Bắc Việt. 2960

Rõ ràng là Hà Nội đã tìm thấy được “những bọn trẻ Mỹ cấp tiến sẵn sàng làm cộng tác viên” trong những nỗ lực của chúng để “khai thác lập trường (phản chiến) bất đồng chính kiến​​” trong “trận chiến để dành lấy con tim và khối óc” của người dân Mỹ”. Và “đã cứ có càng nhiều người Mỹ hơn và nhiều hơn nữa đi  Cu-ba trở về hãnh diện với ngón tay đeo loại nhẫn làm từ kim loại của phi cơ Mỹ từng bị bắn rớt  ở Việt Nam. ” 2961

VC với SDS Hỏi & Đáp

Những tài liệu ghi chú cá nhân cùng tài liệu để phân phối của Bernardine Dohrn sau này bị phát hiện trong một nhà máy làm bom ở Chicago đã gồm có những câu hỏi bọn Việt cộng gởi cho đám Mỹ: các thái độ của cả nhân dân Mỹ và của các phong trào phản chiến về hiệp ước 10 Điểm Hòa Bình, về CPCMLT, về việc rút quân toàn diện và vô điều kiện và về các “giới cầm quyền”. 2962

Dohrn đã viết, “Chúng tôi hiểu được lý do vì sao người Việt đề nghị họp, đó là để thúc chúng tôi phải hành động chống lại chiến tranh một lần nữa. Việt Cộng đã đá đít  chúng tôi để nhắc nhở ….” Y thị đã đánh giá cao lời khuyên của Bá, “hãy để ý đến cái người mà chống cự cương quyết nhất với cảnh sát”. Bây giờ thì “cách duy nhất mà chúng ta sẽ xây dựng được một lực lượng chiến đấu chỉ là nếu chúng ta đoàn kết lại với nhau mà thôi.” 2963

Thành Phần Cách Mạng: Nhận Đơn Tuyển Mộ Lữ Đoàn Venceremos

Kể từ sau tháng 7 thì Julie Nichamin, một  lãnh tụ cao cấp SDS trong vùng y phụ trách mà từng đã cộng tác với Tom Hayden để tổ chức các chuyên gia cấp tiến và các giáo sư trong Hội nghị the New University Conference vào mùa xuân năm 1968, 2964 đã tỏ ra là một thiên tài về tổ chức cho các Lữ Đoàn Venceremos tân lập. Và Dave Dellinger, một bộ mặt củ trong Ủy ban Fair Play for Cuba, sau này đã trở thành “một phát ngôn viên chính cũng như là nhà tổ chức chính.” 2965 Julie Nichamin của SDS thì đã bố trí điều hợp toàn bộ lại với nhau.

Tiến trình tuyển mộ cho đội ngũ đầu tiên của các Lữ đoàn Venceremos sẽ tiến hành nhanh chóng trong suốt năm 1969. Ví dụ, ngày 29 tháng 7, Ayers đã diển thuyết tại Đại học Oregon, Eugene thì yêu cầu các người tình nguyện gia nhập Venceremos phải thông qua văn phòng quốc gia SDS hay Bill Thomas tại  Portland. 2966 Đài Radio Havana đã nêu tên của Arlene Bergman, Mike Klonsky, Gerald Long và Dianna Oughton như là những người phụ trách nhận đơn tình nguyện xin gia nhập. 2967

Đã có những tài liệu gốc xác thực mô tả tiến trình tuyển lựa của Venceremos.

Một quảng cáo tuyển mộ với những hình ảnh thật mời gọi cùng tựa đề  “Venceremos Lữ đoàn Cuba …” và với tuyên bố trên trang bìa: “Thanh niên đã làm cách mạng và thanh niên sẽ nuôi dưởng nó cũng như thanh niên sẽ đi làm  cách mạng trên toàn châu Mỹ Latinh và thế giới.” 2968

Chỉ Những Nhà Cách Mạng Mới Nên Điền Đơn.

Bọn Mác-xít Lê-nin-nít … thực hiện cách mạng ngay tại Mỹ.”

Carl Oglesby, khi được nhắc nhở chiếu theo các hồ sơ FBI về y ta, đã nhớ rất rỏ những lần nói chuyện với Bernardine Dohrn và Arlene Bergman và về vụ y bị thanh trừng ra khỏi dự án đó. Các tài liệu nội bộ đương thời của Venceremos đã rất rỏ ràng và cụ thể cho thấy là các thành viên của Lữ đoàn quả thực chỉ là những bọn đi làm cách mạng theo đúng nghĩa thuần túy của nó. Mục đích các chuyến đi Cu-ba của bọn Venceremos đã là: “một chương trình huấn luyện cho … các cá nhân hoạt động chính trị tại Hoa Kỳ mà theo chủ nghĩa Mác-Lê hầu chuẩn bị để sẽ hành động cho cách mạng một cách thích hợp trong quốc nội Hoa Kỳ.” 2969 Cũng giống vậy, Lữ đoàn Venceremos đã cố tìm, “cách phát triển một phong trào chống chủ nghĩa đế quốc … ngay chính tại  quê hương của chủ nghĩa đế quốc Mỹ” và để “chuẩn bị cho cuộc cách mạng ở Mỹ.” 2970

Một tài liệu mà đã được phân phối phổ biến hơn, tới được nhiều tiềm năng tân binh hơn, đã tuyên bố là một cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa đang xẩy ra trong tiến trình phát triển ở Cu-ba. Các tài liệu cung ứng theo đơn tuyển mộ của Lữ đoàn Venceremos có đề cập đến Cu-ba như là “lãnh thổ đầu tiên được giải phóng ở Tây bán cầu … đang tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng chống lại Đế quốc [và] … xây dựng …”con người mới”. Mẫu đơn đề cập đến La Isla De Juventuo (Isle of Youth ~ Đảo của Tuổi Trẻ) như là một nơi mà các lữ đoàn của giới trẻ sẽ phát triển được một “ý thức cộng sản xuyên qua kinh nghiệm làm việc và sống tập thể “. Tất cả các danh từ mật mã chuyên biệt cho loại hành động cấp tiến đều có đầy đủ. Các  truyền đơn quảng cáo cho thấy là các lữ đoàn rất quan tâm đến “những người đang tham gia trong các lĩnh vực của phong trào cấp tiến … [hay] một số lĩnh vực của phong trào nhằm thay đổi xã hội”. 2971

Các Kẻ Nạp Đơn Đều Bị Cứu Xét Kỷ Lưỡng

Ai mà nạp đơn thì đều được cảnh cáo trước là công việc sẽ rất nhọc nhằn, ma túy triệt để bị cấm và dù là vợ chồng thì cũng không được sống chung. Người yếu sức được khuyên không nên nạp đơn. Chương trình sẽ không phải chỉ là để vui chơi. Mọi người nạp đơn có vẻ đều bị điều tra lý lịch. Lý do bác bỏ phải được nêu ra cũng như là danh tính của những người có trách nhiệm xét các hồ sơ đó. Một tình nguyện viên cho các Lữ Đoàn Venceremos ở Detroit đã cảm thấy rằng “rất nhiều người tốt nhưng đã bị từ chối không cho tham gia Lữ Đoàn Venceremos ở Cu-ba.” 2972

Bọn Lữ đoàn Venceremos đã có một quá trình lựa chọn khá tốt dành cho cả đám đi cắt mía cây lẫn đám đi làm cách mạng. Theo một báo cáo của FBI về sau đó, các Lữ đoàn Venceremos đã tiến hành phỏng vấn ở Oakland mà theo đó “rất nhiều cá nhân [đã] bị từ chối không được tuyển làm thành viên … Lữ đoàn Venceremos.” 2973

Cho dù lãnh tụ SDS Todd Gitlin đã công khai và ca ngợi không tiếc lời cuộc Cách mạng Cuba 2974 thì cũng chưa đủ. Vì những nhận xét trong chốn riêng tư tỏ ý nghi ngờ cuộc Cách mạng Cuba, y cũng như Oglesby, đã không được giao  một vai trò gì trong việc thành lập Lữ đoàn Venceremos đầu tiên. 2975 Chúng ta có thể tin được là một tiến trình lựa chọn khó khăn tương tự cũng đã được áp dụng cho mọi kẻ nạp đơn xin gia nhập các Lữ đoàn về sau này.

FBI: Không Khí Nổi Loạn 

Trong tháng 9 năm 1969, J. Edgar Hoover ra điều trần trước Hạ viện, “Các hoạt động phản đối của nhóm tân tả và SDS, dù đội lốt của một sự bất đồng hợp pháp, lại đã tạo ra một không khí nổi loạn … kêu gọi bất tuân dân sự và bạo lực …” 2976 Chưởng lý đã phê duyệt cho đặt một máy vi âm của FBI vào ngày 15 tháng 9 năm 1969 tại nơi cư trú của SDS ở Chicago . 2977

SDS đã nhanh chóng trở thành một thương hiệu của Việt Cộng và cũng là một mối quan tâm chính đáng cho các điệp vụ phản tình báo và phản gián của CIA nhưng đó lại chỉ là một cái nhìn thuộc thiểu số trong CIA mà thôi.

 *****

2911  Georgie Anne Geyer và Keyes Beech, “Cuba: School for US Radicals,” Chicago Sun Times, Tháng 10 năm 1970 nêu ra trong hồ sơ FBI, FOIA, Weather Underground. Nguồn chính là phúc trình của Đương nhiệm SAC Chicago gởi Giám đốc, “Foreign Influence-Weather Underground Organization,” 20 tháng 8 năm 1976, trang 42.

2912  Oglesby, Ravens, trang 260-61.

2913  Georgie Anne Geyer và Keyes Beech, “Cuba: School for US Radicals,” Chicago Sun Times, Tháng 10 năm 1970 dược nêu ra trong hồ sơ FBI, FOIA, Weather Underground. Nguồn chính là phúc trình của Đương nhiệm SAC Chicago gởi Giám đốc, “Foreign Influence-Weather Underground Organization,”  20 tháng 8 năm 1976,  trang 141.

2914  James L. Tyson, Target America: The Influence of Communist Propaganda on U.S. Media, trang 46-47.

2915  New York Times, 10 tháng 10 năm 1977; Rev. Lobby, trang 150.

2916   Collier và Horowitz, Destructive Generation…, trang 152-3.

2917   “You Don’t Need A Weatherman To Know Which Way The Wind Blows.” New Left Notes. 18 tháng 6 năm 1969. http://www.antiauthoritarian.net:80/sds_wuo/weather/weatherman_document.txt

2918  Văn kiện đã được ký bởi Karen Ashley, Bill Ayers, Bernardine Dohrn, John “J.J.” Jacobs, Jeff Jones, Gerry Long, “Howie” Machtinger, Jim Mellen, Terry Robbins, Mark Rudd và Steve Tappis.

2919  Biểu tình November 8th Movement chuẩn bị bởi SDS tại  speccoll.library.kent.edu/4may70/box107/107f9p8.html. 

2920 Bản sao của điện tín này đăng trên báo New Left Notes, Bộ  4, Số 23, 2 tháng 6 năm 1969 và trong hồ sơ của FBI, FOIA, Weather Underground. Nguồn tin chính là bản phúc trình của Đương nhiệm SAC Chicago gởi Giám đốc, “Foreign Influence-Weather Underground Organization,” 20 tháng 8 năm 1976, trang 118. Báo New Left Notes cũng đồng tư tưởng nhưng chú tâm nhiều hơn vào việc thanh lọc đảng Lao động Cấp tiến ( Progressive labor Party, PLP).

2921 Harry G. Summers, Jr., Viet Nam War Almanac nêu ra trong sách của John M. Del Vecchio, For the Sake of All Living Things, New York: Bantam 1991, trang 163. 

2922  “SDS: Last Hurrah” at martinrealm.org/documents/radical/sixties1.html

2923  “About Wade Rathke,” tại  losangeles.bizjournals.com

2924  FBI, FOIA, Weather Underground. Nguồn tin chính là bản phúc trình của Đương nhiệm SAC Chicago gởi Giám đốc, “Foreign Influence-Weather Underground Organization,”  20 tháng 8 năm 1976, trang  65.

2925  FBI, FOIA, Weather Underground. . Nguồn tin chính là bản phúc trình của Đương nhiệm SAC Chicago gởi Giám đốc, “Foreign Influence-Weather Underground Organization,”  20 tháng 8 năm 1976, trang 144-45.

 2926  Jung Chang và John Halliday, Mao: The Unknown Story, New York: Alfred A. Knopf, 2005, trang 337-8, 342-3. Tác giả đã mua được một bản sao của “quyển sách đỏ nhỏ” giá chỉ vài xu tại Đông Hồi (Bangladesh) vào năm 1968.

2927  FBI, FOIA, Weather Underground. Nguồn tin chính là bản phúc trình của Đương nhiệm SAC Chicago gởi Giám đốc, “Foreign Influence-Weather Underground Organization,”  20 tháng 8 năm 1976, trang 10, 13-14,15; H.C.I.S., Terrorism.   

2928  Art Goldberg, Bay Guardian, 1979; Firearms and Self Defense—A Handbook for Radicals, Revolutionaries, and Easy Riders, Tháng chạp 1969, Berkeley trong sưu tập  New Left tại Viện Hoover Institute mà tác giả có được bản sao; Đọc thêm The Red Family, [Tom Hayden và Carol Kurtz], ”To Stop a Police Sate: The Case for Community Control of Police,” Pamphlet, Berkeley, đầu năm 1971. 

2929  Thượng viện, ủy ban Committee on the Judiciary, Subcommittee to Investigate the Administration of the Internal Security Act and Other Internal Security Laws, The Weather Underground, Committee Print, Tháng giêng 1975, trang 11.

2930  FBI, FOIA, Weather Underground. Nguồn tin chính là bản phúc trình của Đương nhiệm SAC Chicago gởi Giám đốc, “Foreign Influence-Weather Underground Organization,” 20 tháng 8 năm 1976, trang 119.

2931 Phần Nhập đề, “Declassified U.S. Government intelligence information regarding the communist and foreign connections of the Weather Underground. Trình bày như là bằng chứng chiếu theo sự thỏa thuận giữa công tố và luật sư biện hộ trong phiên tòa xét xử W. Mark Felt và Edward S, Miller,” tại www.usasurvival.org.

2932  Bohemia (Cu-ba) nêu ra trong “Visiting Soviet Sailors to Harvest Cuban Sugar,” The Evening Star Washington, 18 tháng 7 năm 1969, trang A-3; “7 Soviet Warships Arrive for Week’s Visit in Cuba,” New York Times, 21 tháng 7 năm 1969, trang 19; “Soviet Naval Visit to Cuba Shows New Policy Flexibility,” the Evening Star Washington, 18 tháng 7 năm 1969, trang A-3; nêu trong tài liệu của Harold W. Rood, Kingdoms of the Blind: How the Great Democracies Have Resumed the Follies That Nearly Cost Them their Life, St. Petersburg: Hailer publishing, 2005, trang 112. Nguyên bản đăng năm 1980 bởi đại học University of North Carolina.

2933  H.R. Haldeman, The Haldeman Diaries: Inside the Nixon White House, New York: Berkley Books, 1994, trang 236.

2934  Thượng viện, ủy ban Committee on the Judiciary, tiểu ban Subcommittee to Investigate the Administration of the Internal Security Act and Other Internal Security Laws, The Weather Underground, Committee Print, Tháng giêng năm 1975, trang 59.

2935  New Left Notes, 29 tháng 8 năm 1969 nêu ra trong tài liệu “The Weather Underground Organization,” Information Digest, Bộ XIV, Số #22, 13 tháng 11 năm 1981, trang 339, 341.

2936  Thượng viện, ủy ban Committee on the Judiciary, tiểu ban Subcommittee to Investigate the Administration of the Internal Security Act and Other Internal Security Laws, The Weather Underground, Committee Print, Tháng giêng năm 1975, trang 139-140.

2937  Ron Koziol, Chicago Tribune, 27 tháng 4 năm 1970 tại Thượng viện, ủy ban   Committee on the Judiciary, Subcommittee to Investigate the Administration of the Internal Security Act and Other Internal Security Laws, The Weather Underground, Committee Print, Tháng giêng năm 1975, trang  27, 138, 141.

2938  Daily World, 20 tháng 8 năm 1969, trang 9; Workers World, 27 tháng 8 năm 1969, trang 4; Ron Koziol, Chicago Tribune, 27 tháng 4 năm 1970; Juliet Wittman, “Memoirs: Radical parents, Red shoes and a poet up close and personal,” Washington Post, 21 tháng 11 năm 2004, trang BW13; Thượng viện, ủy ban Committee on the Judiciary, tiểu ban  Subcommittee to Investigate the Administration of the Internal Security Act and Other Internal Security Laws, The Weather Underground, Committee Print, Tháng giêng 1975, trang 137-8.

2939  Kirkpatrick Sale, SDS, trang 414, 593

2940  Georgie Anne Geyer và Keyes Beech, “Cuba: School for US Radicals,” Chicago Sun Times, Tháng 10 năm 1970; Ron Jacobs, The Way The Wind Blew: A History Of The Weather Underground Verso, 1997, trang 28. 

2941 Thượng viện, ủy ban Committee on the Judiciary, Subcommittee to Investigate the Administration of the Internal Security Act and Other Internal Security Laws, The Weather Underground, Committee Print, Tháng giêng năm 1975, trang 143-146

2942  Những chuyện kể khác thì lại nói là chính đầu của Che mới bị bỏ hộp gởi đi. Hình như là những bộ phận cơ thể của Guevara mới đã làm cho Castro tin về định mệnh của Che .

2943  Mark Rudd, Underground: My Life With the SDS and the Weathermen, New York: Harper Collins, 2009, trang 169-170.

2944  Sharon Lawson và Janie Campbell, “Judge Orders Cuba To Pay Ex-CIA Expat $2.8 Billion,” NBC Miami, 25 tháng 8 năm  2011.

2945  Carl Davidson, Guardian, 30 tháng 8 năm 1969 nêu ra trong hồ sơ FBI, FOIA, Weather Underground. Nguồn tin chính là bản phúc trình của Đương nhiệm SAC Chicago gởi Giám đốc, “Foreign Influence-Weather Underground Organization,” 20 tháng 8 năm 1976, trang 99.

2946  Như trên.

2947  Thượng viện, ủy ban Committee on the Judiciary, Subcommittee to Investigate the Administration of the Internal Security Act and Other Internal Security Laws, The Weather Underground, Committee Print, Tháng giêng năm 1975, trang 145-146.

2948  New Left Notes, 29 tháng 8 năm 1969 nêu ra trong tài liệu “The Weather Underground Organization,” Information Digest, Bộ XIV, Số #22, 13 tháng 11 năm 1981, trang 339.

2949  Juliet Wittman, “Memoirs: Radical parents, Red shoes and a poet up close and personal,” Washington Post,  21 tháng 11 năm  2004, trang BW13.

 2950  Peter Collier và David Horowitz, Destructive Generation, Second Thoughts about the ‘60s, trang 82-83.

2951 Điều trần của Larry Grathwohl trước tiểu ban  Subcommittee to Investigate the Administration of the Internal Security Act and Other Internal Security Laws of the Committee on the Judiciary, U.S. Senate, Terrorist Activity Inside the Weatherman Movement, Nhiệm kỳ Quốc hội thứ  93, Khóa 2, Phần  2, 18 tháng 10 năm 1974, trang 108-9.

2952  Carl Davidson, Guardian, 30 tháng 8 năm 1969 nêu ra trong hồ sơ FBI, FOIA, Weather Underground. Nguồn tin chính là bản phúc trình của Đương nhiệm SAC Chicago gởi Giám đốc, “Foreign Influence-Weather Underground Organization,”  20 tháng 8 năm 1976, trang 100-1.

2953  FBI, FOIA, Weather Underground. Nguồn tin chính là bản phúc trình của Đương nhiệm SAC Chicago gởi Giám đốc, “Foreign Influence-Weather Underground Organization,”  20 tháng 8 năm  1976, trang 188.

2954  Bill Ayers, Fugitive Days, trang 158, 160-61; FBI, FOIA, Weather Underground. Nguồn tin chính là bản phúc trình của Đương nhiệm SAC Chicago gởi Giám đốc, “Foreign Influence-Weather Underground Organization,”  20 tháng 8 năm 1976, trang 188.

2955  Mark Rudd, Underground: My Life With the SDS and the Weathermen, New York: Harper Collins, 2009, trang 167-8.

2956  Western Herald, 19 tháng 9 năm 1969, trang 1.

2957  FBI, FOIA, Weather Underground. Nguồn tin chính là bản phúc trình của Đương nhiệm SAC Chicago gởi Giám đốc, “Foreign Influence-Weather Underground Organization,”  20 tháng 8 năm 1976, trang 2

2958  FBI, FOIA, Weather Underground. . Nguồn tin chính là bản phúc trình của Đương nhiệm SAC Chicago gởi Giám đốc, “Foreign Influence-Weather Underground Organization,”  20 tháng 8 năm 1976, trang 191.

2959  FBI, FOIA, Weather Underground. Nguồn tin chính là bản phúc trình của Đương nhiệm SAC Chicago gởi Giám đốc, “Foreign Influence-Weather Underground Organization,”  20 tháng 8 năm 1976, trang 108.

2960  VVAW, Ủy ban Điều hành Tháng 7 năm 1971 viện dẫn tại trang liên mạng của  Judicial Watch.

2961  Georgie Anne Geyer và Keyes Beech, “Cuba: School for US Radicals,” Chicago Sun Times, Tháng 10 năm 1970 nêu ra trong tài liệu của FBI, FOIA, Weather Underground. Nguồn tin chính là bản phúc trình của Đương nhiệm SAC Chicago gởi Giám đốc, “Foreign Influence-Weather Underground Organization,”  20 tháng 8 năm  1976, trang 101-104.

2962  Georgie Anne Geyer và Keyes Beech, “Cuba: School for US Radicals,” Chicago Sun Times, Tháng 10 năm 1970 nêu ra trong tài liệu của FBI, FOIA, Weather Underground. Nguồn tin chính là bản phúc trình của Đương nhiệm SAC Chicago gởi Giám đốc, “Foreign Influence-Weather Underground Organization,”  20 tháng 8 năm  1976, trang 105; Xem thêm: AP, “Chicago Officials Drop Charge in ‘Bomb Factory,” New York Times, 17 tháng 6 năm 1970.

2963  Bernardine Dohrn, tài liệu ghi chú, tịch thu tại một xưởng làm bom ở Chicago trong tài liệu của FBI, FOIA, Weather Underground. Nguồn tin chính là bản phúc trình của Đương nhiệm SAC Chicago gởi Giám đốc, “Foreign Influence-Weather Underground Organization,”  20 tháng 8 năm 1976, trang 106; Đọc thêm: AP, “Chicago Officials Drop Charge in ‘Bomb Factory,” New York Times, 17 tháng 6 năm 1970.

2964  Sale, trang 412-13.

2965  Eastland, trang 7463.

2966  FOIA, FBI, Weather Underground, Bộ  II, Đoạn  IV, Các Cá nhân, Những thành viên hiện hữu của WUO, William Charles Ayers.

2967  Thượng viện, ủy ban Committee on the Judiciary, tiểu ban Subcommittee to Investigate the Administration of the Internal Security Act and Other Internal Security Laws, The Weather Underground, Committee Print, Tháng giêng năm 1975, trang 48.     

2968  Bản sao của tài liệu tuyển mộ của Venceremos có trong văn khố Tân Tả ~ New Left tại đại học Hoover Institute at Stanford University.

2969  H.C.I.S., Annual Report, 1972, H. Rpt. Trang 93-301, 21tháng 6 năm 1973, trang 136-7; Đọc thêm: H.C.I.S. Terrorism, Tháng 8 năm 1974, trang 58, 216.

2970  Venceremos (quay bằng ‘stencil’) Newsletter, Số 1, Tháng giêng năm 1974, trang 2.

2971  Tài liệu rời tháng 2 năm 1976 nêu ra bởi Hollander, trang 228 ghi chú 19.

2972  Denver, Bản lưu giữ, “VVAW National Steering Committee Meeting, Denver, Colorado, 18-21 tháng 2 năm 1972,  Internal Security-new Left,” March 17 tháng 3 năm 1972, trang 9.

2973  State Secrets, trang 150, viện dẫn một bản lưu giữ của FBI về các điều tra của họ đối với một người. Một báo cáo FBI đầy đủ về bọn Venceremos là: FBI, The Report on Foreign Influence in the Weather Underground Organization, 20 tháng 8 năm 1976, trang 90, 120, 126, được nêu ra bởi cả Romerstein, trang 23 và Fontain, trang 137 ghi chú 28.

2974  Hollander, trang 231, 245, 247, 250.

2975  Ronald Radosh trong tài liệu của Collier và Horowitz (xuất bản), Second Thoughts… trang 132.

2976  Rothrock, Divided… trang 90-91 ghi chú 18 viện dẫn House Investigation of Students for a Democratic Society, Phần  I-A, (Đại học Georgetown University), Hearings before the Committee on Internals Security, Quốc hội Nhiệm kỳ thứ  91, Khóa 2, 1969, trang 6.

2977  FBI, tối mật, Đề tài: Surreptitious Entries, hồ sơ FBIHQ  100-439045, Chicago 100-47094, trang 56 của FBI, FOIA, Weather Underground.

 *****

Một phản hồi to “Roger Canfield’s Americong #61”

Trackbacks/Pingbacks

  1. Giới thiệu tác phẩm AMERICONG (MỸ-CỘNG) – Lê Bá Hùng | Ngoclinhvugia's Blog - 05/01/2016

    […] Roger Canfield’s Americong #61 […]

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: