Suy Nghiệm về cuộc Chiến Việt Nam #2

Reflections on the Vietnam War

Đại Tướng Cao văn Viên

&

Trung Tướng Đồng Văn Khuyên

*****

~  Lê Bá Hùng chuyển ngữ  ~

Chương Thứ 17 thuộc

Cuộc Chiến Việt Nam:

theo

Quan Điểm Các Tướng Việt Nam Cộng Hòa

*****

The Vietnam War:

An Assessment by South Vietnam’s Generals

Dec 1, 2010, by Lewis Sorley

(Texas Tech University Press)

(Tiếp theo “Suy Nghiệm về cuộc Chiến Việt Nam #1”)

  • • •

Chống Nạn Xâm Nhập Xuôi Nam

Xâm Nhập Xuôi Nam vẫn là một chiến lược mà Bắc cộng đã phát động từ năm 1955 và cũng đã được chúng đẩy mạnh đáng kể từ năm 1959, bằng cách dần dần xây dựng tăng cường nhân sự cùng chiến cụ tại miền Nam. Đó quả đúng là một âm mưu quỷ quyệt mà Hà nội đã đẻ ra hầu che dấu hành vi tham dự đầy sắt máu của chúng vào cuộc chiến và để đánh lừa dư luận thế giới cùng quốc nội, và thối thác bản chất thật sự của chính chúng mới là có mưu đồ cưởng chiếm miền Nam bằng võ lực. Bắc cộng đã không bao giờ nhìn nhận là chúng có bộ đội hiện diện tại miền Nam cả. Nhưng chính tình hình an ninh tại nông thôn, cũng như là cường độ giao tranh tại miền Nam thì cũng tùy thuộc vào mức độ cùng hiệu quả của tiến trình xâm nhập của Bắc cộng.

Trong mục tiêu xâm nhập xuôi Nam, địch đã triệt để lợi dụng toàn bộ dài tới 200 dặm Anh [sic: 700?] 1 của vùng duyên hải, cùng cũng độ dài tương đương len lỏi xuyên qua núi rừng tại Quân Khu I, Quân Khu 2, Quân Khu 3 cùng vùng đầm lầy tại Quân Khu 4. Do vì địa thế miền Nam quả đúng là thuận lợi cho chính sách xâm nhập xuôi Nam của Bắc cộng, nên các cố gắng của Hoa Kỳ và VNCH đã bị gặp tràn đầy khó khăn. Để thực sự hoàn toàn thành công ngăn chận được nạn xâm nhập người cùng của bởi Bắc Cộng thì cũng sẽ phải đòi hỏi một cơ cấu quyền lực và một sự yểm trợ vật chất mà cũng đã từng không hề có được. Thậm chí Bắc cộng cũng đã dùng vùng phi quân sự với cả lãnh thổ của Lào và Kampuchia để cho bộ đội xâm nhập xuôi Nam, xem như phỉ nhổ vào sự trung lập của các quốc gia này mà thôi. Ngược lại trong khi đó thì Hoa Kỳ và VNCH đã vẫn cứ nghiêm túc tôn trọng các thỏa ước quốc tế cùng chủ quyền của các nước láng giềng, nên đã khiến cho Bắc cộng rảnh tay mà xây dựng cơ cấu hậu cần, kho tiếp liệu cùng các trạm giao liên ở phía bên kia biên giới. Hải cảng chính của Kampuchia, Kompong Som thì đã bị dùng như là chính điểm để tiếp nhận và chuyển tiếp vũ khí đạn dược cho bộ đội Cộng tại Quân Khu 3 và 4 cùng một phần đáng kể của Quân Khu 2.

Cả phía Hoa Kỳ và VNCH thì cũng thật sự có nhận chân ra được là nếu thành công ngăn chận hoàn toàn được việc xâm nhập xuôi Nam của địch thì họ cũng sẽ làm giảm mạnh được cường độ giao tranh tại miền Nam. Còn nếu không thì rồi chiến trận sẽ cứ mãi mãi kéo dài mà thôi. Nguồn gốc chính yếu của mối xâm nhập xuôi Nam đã là Bắc cộng, cái hậu cần to lớn chuyên đặc trách về các nổ lực gây chiến của Cộng tại miền Nam và sau đó, là việc bành trướng của tình trạng Cộng sản thống trị vùng Đông Nam Á. Do đó, để chấm dứt chiến tranh thì tốt hơn nên đánh thẳng vào Bắc cộng. Tuy nhiên, về phương diện chính trị, thì biện pháp này lại không thể nào thi hành được và có khả năng khiến chiến tranh lại lan rộng thêm mà thôi. Chúng tôi đã vẫn tin là chỉ có QĐVNCH khi quyết định ra tay thì mới giúp giảm thiểu được những mối nguy đó, nhưng QĐVNCH thì lại dã không hề được huấn luyện hay trang bị cho một cuộc đánh chiếm miền Bắc (điều không hề là một mục tiêu của Chính Phủ VNCH hay Hoa Kỳ). Chúng tôi chỉ muốn được để yên mà sống an bình và phát triển được miền Nam Việt Nam để trở thành một nền dân chủ thật sự mà thôi.

Theo quan điểm của chúng tôi, chiến lược nhằm gây áp lực vào Bắc cộng, và theo đó buộc bọn lãnh đạo của chúng phải từ bỏ cái chính sách xâm lấn đánh chiếm miền Nam, là hợp lý nhất vì nó sẽ giúp giảm thiểu được các hiểm nguy sẽ khiến cho chiến cuộc lan rộng thểm nữa mà thôi. Tuy vậy, các biện pháp từng được Hoa Kỳ và Chính Phủ VNCH thi hành thì đều đã không tạo ra được đủ áp lực hầu bẻ gãy ý chí đám lãnh tụ Bắc cộng mà chấm dứt được làn sóng xâm nhập bộ đội và tiếp liệu tuôn trào xuống miền Nam. Nhưng rồi, xem ra thì Hoa Kỳ và VNCH càng tăng gia áp lực chừng nào qua cái “chiến lược leo thang” thì sự xâm nhập từ phương Bắc lại càng quyết chí hơn nữa mà thôi.

  • • •

Nghị quyết của Quốc Hội Hoa Kỳ vào mùa thu năm 1964, nhân sau biến cố Vịnh Bắc Việt, đã mở đường cho việc không tạc Bắc Việt. Bắt đầu chỉ như là một hành vi trả đũa, sau đó các cuộc không tạc Bắc Việt đã trở thành như là một thông lệ. Các giới chức Hoa Kỳ đã mong đợi là những cuộc không tập này rồi sẽ bẻ gãy được ý chí của giới lãnh đạo Bắc cộng và sẽ giúp chấm dứt được chiến tranh. Tuy nhiên, sau hơn cả hai năm liên tục bị không kích, địch lại càng tỏ ra quyết chí hơn nữa mà thôi. Cũng có lẽ là Hoa Kỳ đã ước lượng quá thấp sức chịu đựng và [quyết chí] của giới lãnh đạo và nhân dân ngoài Bắc; hay phải chính vì họ thì cing đã bị hạn chế bởi những cân nhắc là Truing cộng rồi sẽ cũng có thể nhập cuộc, cùng với luôn cái mặc cảm của chính họ vì mình là một cường lực chính yếu trên thế giới mà về phương diện đạo đức thì không nên “trừng phạt” một tiểu quốc kém mở mang một cách quá ư là khắc nghiệt như vậy được. Dù sao thì Mỹ cũng đã tránh sử dụng triệt để và kịp thời khả năng không lực của mình vào các mục tiêu khả kích ở miền Bắc. Với chiến lược “leo thang từ từ” khởi đi từ vĩ tuyến 17 lên lần phương Bắc mà chỉ để phản ứng tùy theo thái độ của Hà nội mà thôi, rốt cuộc quả thực đã thất bại trong mục đích truyền đạt cái mối quyết tâm của Mỹ cho Hà nội, mà còn ngược lại, đã bị họ xem như đó chỉ là một sự nhút nhát của phía lãnh đạo Mỹ mà thôi. Cái kiểu chiến thuật không kích này của Mỹ thì cũng chỉ giúp cho Bắc cộng đủ thời giờ hầu thích ứng theo được với tình thế mới cùng huy động người dân tự tổ chức thành những đơn vị tự vệ, cũng như là un đúc lòng căm thù của họ đối với Hợp-chũng-quốc mà thôi. Việc này cũng đã giúp cho Bắc cộng đủ thời giờ để kịp nhận thêm đủ quân liệu được tiếp tế từ Liên Xô và Trung cộng ngõ hầu tối tân hóa và tăng cường hệ thống phòng không của chúng. Và do đó, cái hệ thống phòng không được cải tiến này thì cũng đã khiến cho các trận không chiến của Mỹ lại càng thêm phần tốn kém hơn, cả về nhân sự lẫn vật chất, điều mà rồi cũng sẽ tạo nên chia rẽ giữa các giới chức chỉ huy Hoa Kỳ trong việc ấn định chính sách. Sự chia rẽ này lại càng bị thêm trầm trọng do dư luận thế giới và cái phong trào phản chiến đang dâng cao tại ngay Hoa Kỳ.

  • • •

Cho dù đã ráng dùng khả năng kỷ thuật tân tiến để giải quyết vấn nạn này, Không Lực Mỹ vẫn đã không có thể ngăn chận được làn sóng xâm nhập theo dọc hành lang. Địch đã tận dụng các hạn chế về không lực và địa hình để đáp ứng và thích hợp hóa hoạt động của chúng, để mở những con lộ thay thế hầu cứ tiếp tục cho được việc xâm nhập. Đã thật rõ ràng là nếu chỉ riêng Không Lực mà thôi, thì không thể nào thắng được nếu mà không có sự tiếp tay của bộ binh.

Ngay trong nội địa miền Nam Việt Nam, các nổ lực nhằm ngăm chận việc xâm nhập của địch đã tựu chung nhắm vào hai vùng địa lý chính yếu –  vùng Phi Quân Sự và dải biên thùy dài tiếp giáp với Lào và Kampuchia. Việc bảo về vùng biên giới dài tới 900 dặm Anh này đã được giao phó cho độ 45.000 CIDG (Civilain Irregular Defense Group) ~ Nhóm Phòng Vệ Dân Sự Bán Chính Quy 2 và các đơn vị Lực Lượng Đặc Biệt được bố trí tại những căn cứ được thiết lập ở những yếu điểm chiến lược. Những cuộc tuần tra phát xuất từ các căn cứ đó hầu kiểm soát ngăn chận các mạch lộ xâm nhập chính yếu của địch xuống Nam, để rồi phát động được nhanh chóng những chiến dịch với không trợ và trực thăng vận đã gây đầy khó khăn cho các đơn vị Bắc cộng. Để đánh tràn chiếm các căn cứ ven biên đó, địch đã cần phải chuẩn bị được nhiều đại đơn vị cấp trung đoàn hay [lớn] hơn nữa luôn. Nhiều căn cứ của chúng ta đã từng bị thất thủ chỉ vì họ đã không đủ nhân lực hay cũng vì chúng ta đã không cung cấp được cho họ đầy đủ tăng viện, hầu có thể phản công lại được những trận trận quyết chiến của địch, và cũng có phần do lý do địa hình cùng thời tiết thì cũng đã không giúp được gì cho công tác tiếp liệu hay không trợ chiến thuật. Rồi kết quả cũng chỉ là các căn cứ đó rồi thì chỉ có thể được tái chiếm khi các điều kiện cho phép và cũng có đủ được quân. Căn cứ A Shau, với khả năng kiểm soát được ngõ xâm nhập chính của địch cùng con đường tiến về vùng Huế và Đà Nẳng, với căn cứ Plei Me mà đang kiểm soát được ngõ Tây Nam tiến vào Plei Ku, thì đúng là hình ảnh tượng trưng cho cái hệ thống phòng vệ biên thùy này.

Một buổi huấn luyện của một Nhóm Phòng Vệ Dân Sự Bán Chính Quy CIDG

Hoàn cảnh địa dư quanh co lồi lõm, cộng thêm với chiều dài của hàng rào phòng thủ và lại thiếu các đơn vị của QLVNCH và Hoa Kỳ đã khiến cho việc phòng vệ ven biên bị vô hiệu trong vài khu vực. Nếu mà, thay vì bố trí các đơn vị của chúng ta dọc theo vùng biên giới quá dài của chúng ta, mà chúng ta lại đã đi tổ chức một tuyến phòng thủ theo hướng đông-tây dọc theo vĩ tuyến 17 và kéo dài cho tới được con sông Mê Kong tại Lào theo Đường số 9 chẳng hạn, thì chắc là công tác phòng vệ biên thùy của chúng ta đã sẽ dể dàng hơn, ít tốn kém hơn mà cũng bảo đãm nhiều hơn là sẽ thêm thành công, cả về chiến thuật lẫn chiến lược mà thôi. Điều này thì dĩ nhiên, cũng đòi hỏi phải có những cố gắng được phối hợp giữa Lào với VNCH.

Vùng phi quân sự, sâu năm dặm Anh cả hai bên của con sông Bến Hải, đã vẫn là một trở ngại lớn cho Hoa Kỳ và VNCH, mà đã cùng nhau triệt để tôn trọng cái tính cách phi quân sự đó. Số lượng chỉ một trăm cảnh sát viên VNCH và một toán ICC 3 tại Gio Linh đã không thể nào theo dõi để kiểm sóat được toàn cái vùng quá ư là mênh mông này. Trong tháng 5 năm 1966, toàn bộ Sư đoàn 324B của Bắc cộng cũng đã xâm nhập xuyên qua vùng phi quân sự xuống miền Nam Việt Nam mà không hề bị trở ngại gì cả. Ấy vậy, cả Chính phủ VNCH lẫn Hoa Kỳ thì cũng đều không được vui vẻ gì cả với các yêu cầu của chúng tôi để dùng pháo binh hay pháo trên các chiến hạm mà tấn công bộ đội tại vùng phi quân sự. Phải chờ mãi đến cuối năm 1966, chỉ sau nhiều trận đẫm máu ở phía Nam của vùng phi quân sự, giữa  các lực lượng của chúng ta (TQLC Mỹ và Sư đoàn 1 Bộ Binh của QLVNCH) với bộ đội Bắc cộng (mà đã được yểm trợ bởi pháo của chúng đang được bố trí ngay ở phía Bắc của vùng phi quân sự), thì cuối cùng các lực lượng Mỹ với QLVNCH mới cuối cùng được phép phản pháo. Rồi cũng phải chờ cho tới cả một năm sau thì các binh sĩ của chúng ta mới đã được phép rượt đuổi địch trong vùng phi quân sự. Nhưng cho dù vậy, lệnh từng được đưa ra vẫn là họ phải tức khắc rút về ngay khi không còn đụng địch. Bị những kềm kẹp như vậy, thì làm sao mà chúng ta lại có thể tự vệ cho được hiệu quả?

Để phụ trợ cho các công tác tuần tra thường xuyên thì chúng ta cũng có hệ thống gồm toàn bộ những căn cứ chính và các nút chặn được các lực lượng không kích và không vận của Không Quân thường xuyên yểm trợ, một sự kiện mà cũng đã từng đóng góp đáng kể cho công trình tự vệ chống địch xâm nhập của chúng ta. Chúng tôi nghỉ là cách thức giải quyết về chiến thuật này, cho một vấn đề cực kỳ nan giải, thì cũng khá khôn ngoan và vững chắc. Những tiền đồn như là tại Gio Linh, Cồn Thiện, Cam Lộ và Khe Sanh thì cũng đã rất xứng đáng để dành được một vị trí đầy vinh quang trong lịch sử oai hùng trong công cuộc tự vệ do QLVNCH và Quân đội Hoa Kỳ nhằm chống lại mưu đồ thống trị của Bắc cộng. Đã chính tại những căn cứ đó mà mọi cố gắng của Bắc cộng nhằm tái diển một kiểu chiến thắng loại Điện Biên Phủ đã bị tan tành ra mây khói. Tính cách chuyên nghiệp, sức chịu đựng dẻo dai, tinh thần quyết chiến cùng các kỹ thuật tân kỳ để phối hợp pháo binh, đều đã được biểu lộ một cách vinh quang qua hệ thống sử dụng các căn cứ trọng điểm này. Màn lưới kiểm tín hiệu tân tiến của Mỹ và toán xe ủi [kiên trì] của quân đội Mỹ thì cũng đã từng đóng góp đáng kể vào thành công này. Chỉ thật tiếc là là hệ thống này rồi lại phải bị ngưng lại ở ngay biên giới với Lào mà thôi.

Nếu mà thực sự nó đã được cứ tiếp tục vượt qua tới vùng Hạ Lào, để rồi đâm thẳng về tới Tchepone, cái trung tâm của hệ thống giao thông vận chuyển trọng yếu Bắc cộng, thì chúng tôi nghỉ là việc xâm nhập của địch cũng đã bị cực kỳ giảm sút, điều mà rồi cũng sẽ có một ảnh hưởng tối quan trọng cho cuộc chiến tại miền Nam Việt Nam mà thôi.

  • • •

Tóm tắt lại thì toàn bộ chiến dịch chống xâm nhập qua các cố gắng phối hợp giữa quân đội của Chính Phủ VNCH và quân đội Hoa Kỳ đã gây ra rất nhiều những tổn thất, cả về nhân sự lẫn trang bị tiếp tế đối với Bắc cộng. Việc này cũng đã buộc địch phải dành thêm nhiều phương tiện hơn cho công tác phòng vệ và bảo trì các tuyến đường xâm nhập xuống dọc vùng tay chảo Lào (Laotian panhandle). Tuy nhiên, ngoài ngoại lệ của các chiến dịch rất thành công của chúng ta như là “Market Time ~ Giờ Đi Chợ“, 4 mà đã từng thành công ngăn cấm được địch tái tiếp tế qua đường thủy tại Nam VIệt, toàn thể mọi cố gắng của chúng ta cũng đã không thành công để ngăn chận cho được làn sóng tiêp tế về người và tiếp liệu xuống miền Nam được. Chúng tôi, những kẻ từng nắm giữ những chức vụ cao cấp [trong] QLVNCH, cũng đã từng hằng nghỉ là sẽ không thể nào hoàn thành được tất cả các mục tiêu được đề ra khi mà cái vấn nạn về xâm nhập này mà vẫn chưa giải quyết xong được.     

Kiểm tra nhân Chiến dịch Market Time
 

Các Bài Học Đáng Giá Từng Học Được

1.
Khi hồi tưởng lại thì quả thật, cái chết của Tổng Thống Diệm, một vị lãnh tụ với đủ tầm mức để chống lại được Hồ Chí Minh, đã quả là một đại họa cho Nam Việt trong thời kỳ chiến tranh đó. Ba năm bất ổn chính trị tiếp theo đó đã rồi cũng đưa miền Nam đến bên bờ vực thẫm, điều mà rồi đã chỉ tránh được khi mà Hoa Kỳ quyết định trực tiếp tham chiến trên bộ tại đó

2.
Tình hình rối loạn về chính trị đã khiến cho Nam Việt không có được một chính phủ ổn định, điều tiên quyết trong việc tiến hành cuộc chiến cho được hữu hiệu và thiết lập được những kế hoặch lâu dài, đặc biệt là về vấn đề nhân sự. Do đó, QLVNCVH đã vẫn luôn luôn bị thiếu hụt về quân số . . .

3.
Cũng như trong giai đoạn trước đó (1954-1963), QLVNCH đã không hề được phát triển và tăng cường đúng mức cùng đúng lúc, để có thể chống cự lại được với các cố gắng tăng gia chiến tranh của Bắc cộng hầu nắm giữ được một vị thế ưu tiên được. Nhược lại, họ đã luôn luôn bị buộc phải ở trong một vai trò thứ yếu ngay trong chính cuộc chiến của chính họ mà thôi . . .

Bộ Tổng Tham Mưu và cơ quan MACV đã không hề có được những kế hoặch trung kỳ cho QLVNCH. Mọi kế hoặch thì đều chỉ được phát họa trên căn bản hàng mổi năm mà thôi, và cũng chỉ để đáp ứng với hiện trạng của chiến trường vào lúc đó. Chúng tôi cũng nghỉ là, ngay cho như vậy, thì ưu tiên đúng ra đã phải được dành cho QLVNCH trong những khu vực mà trong một tương lai gần, sẽ có thể được mở mang dể dàng. Hoa Kỳ và VNCH đã bỏ phí đi cả bảy năm trường kể từ năm 1961, qua chính sách chỉ muốn phát triển nữa vời QLVNCH mà thôi. Chúng tôi tin là đúng ra QLVNCH đã từng phải vững vàng hữu hiệu hơn nhiều nếu mà họ đã được tăng cường về nhân lực trong thời kỳ này, cho dù chúng tôi vẫn từng có những trở ngại về quân số. Chúng tôi cũng tin là, nếu mà ưu tiên đã từng được dành cho việc phát triển mở mang, thì QLVNCH đã có khả năng để đãm nhận thêm nhiều trách nhiệm chiến đấu hơn trong thời kỳ 1966-1967. Và do đó thì cũng khiến cho quân đội Mỹ không quá tăng cường hiện diện tại Việt Nam, rồi cũng giúp cho tính cách “giải Mỹ” cho cuộc chiến mà làm nhẹ đi được các khó khăn nội bộ ngay chính tại quốc nội Hoa Kỳ. . .

4.
Chúng tôi nghỉ là dạo đó thì mục tiêu của Mỹ cũng là quá lố, chỉ nhằm để bảo về cho cho cái danh dự của Mỹ trong tư thế của một cường quốc đang đãm nhận vai trò bảo vệ một người bạn đồng minh nhỏ, với niềm tin là rồi đây, chiến trận rồi thì cũng sẽ chấm dứt nhờ sức mạnh quân sự của mình, và cũng vào sự đánh giá quá nhẹ lòng quyết tâm của bọn lãnh đạo Bắc cộng. Tất cả những yếu tố này đã đưa đến kết quả là Mỹ hóa cuộc chiến mất đi và mọi ưu tiên thì cũng đều đã được dành vào việc chỉ tổ chức xây dựng quân đội Mỹ hầu tiến hành cuộc chiến tại miền Nam Việt Nam.

5.
Quyết định không tạc Bắc Việt, nơi đang chỉ huy và duy trì cuộc chiến thì cũng đúng là hợp lý và cần thiết. Đánh thẳng vào ý chí của giới lãnh đạo địch thì cũng là một chiến lược khôn ngoan. Chúng tôi nghỉ là nếu mà Hoa Kỳ đã giúp cho QLVNCH phát triển để có được đủ khả năng đãm trách công việc này thì tình hình đã hợp lý và tốt đẹp hơn nhiều. Cái chiến lược phản ứng bằng việc gia tăng từng nấc đã tỏ ra vô hiệu trước một địch thủ gan lỳ mà sự tồn tại đã được bảo đãm bỡi ngay chính bọn quan thày Cộng sản Quốc Tế . . .

6.
Dù đã từng có một chiến lược không kích mạnh mẻ thì Không Quân Hoa Kỳ đã vẫn không thực sự khóa lại được hành lang xâm nhập xuyên hạ Lào được. Điều này rõ ràng cho thấy là sức mạnh tân tiến của không lực thì cũng không thể nào mà ngăn chận được một cách có hiệu quả hoàn toàn việc xâm nhập trên đường bộ của địch. Chỉ những lực lượng bộ binh, đặc biệt là các đại đơn vị, thì mới có thể kiểm sóat và bóp nghẹt được toàn bộ hệ thống xâm nhập của một kẻ địch thật là quyết chí và đầy mưu đồ . . .

7.
Suốt thời kỳ này thì Hoa Kỳ và VNCH đã quá ư là dè dặt đối với mọi vấn đề mà có liên hệ đến Kampuchia. Chúng tôi nghỉ là Chính phủ VNCH đúng ra đã phải dành quyền để, trên tiêu chuẩn tự vệ hợp pháp, thì đã phải có quyền rượt đuổi các đơn vị địch sang cả bên kia biên giới vô nội địa của Kampuchia khi cần thiết . . .

8.
Sự kiện các nổ lực nhằm ngăn chận việc xâm nhập của địch từng được áp dụng ở bên ngoài của lãnh thổ VNCH đã đều không có hiệu quả và đã khiến chiến trận lại cứ càng tăng gia về cường độ lẫn mức độ cả ngay trong quốc nội mà thôi. Tựu chung tổng số tăng cường về quân số bộ đội Cộng sản tại miền Nam đã cao hơn là quân số Mỹ. Nhưng, cũng trong tiến trình tăng trưởng đó, Hoa Kỳ đã có khả năng chuyển được chiến lược, từ việc phòng vệ thụ động qua việc đi tìm để diệt địch bằng những chiến dịch đánh thẳng vào các đại đơn vị của địch. Lúc ban đầu thì mấy chiến dịch này đã được triển khai chỉ ở vùng ngoại vi của các hậu cứ địch, và rồi sau đó thì đã đánh thẳng vào luôn những vùng đó. Tất cả những cố gắng đó đã không chỉ giúp kéo được VNCH xa khỏi bờ vực thẫm, mà lại còn gây chấn động luôn trong số bộ đội địch, và rồi cũng đã buộc địch phải sử dụng đến các đại đơn vị cứ càng ngày cứ càng lớn hơn nữa mà thôi trong miền Nam.

9.
Cái sáng kiến về quân sự của VNCH, mà đã từng bị quá ư quên lãng từ cuối năm 1964, thì rồi cũng đã được phục hồi vào thời kỳ này. Sự kiện này đã khả thi nhờ sự hiện diện của một lực lượng xung kích cường mạnh (các đại đơn vị Mỹ), một mức độ khả chấp về các lực lượng trừ bị tại những DTA (Division Tactical Area ~ Vùng Chiến Thuật Sư Đoàn), và đặc biệt là sự khả dụng của các đơn vị phản ứng nhanh ở cấp tiểu khu (do các tiểu đoàn bộ binh của QLVNCH được bố trí tại đó). Do đó, tình hình an ninh tại nông thôn cũng đã được cải tiến và đã giúp cho Chính Phủ VNCH chuyên chú được các nổ lực vào công tác bình định.

10.
Chương Trình Bình Định và Phát Triển, theo chúng tôi, đã chính là vũ khí chiến lược tuyệt hảo nhất để nhằm chống lại và đánh bại cái chủ trương chiến tranh nhân dân của Cộng sản tại miền Nam . . .

11.
Việc Mỹ hóa cuộc chiến Việt cũng đã không đem lại được cho mau lẹ cái chiến thắng từng được mong đợi lâu nay. Và cũng do đó, đã khích lệ gây ra một tình trạng chia rẽ trong giới lãnh đạo cũng như là trên công luận Hoa Kỳ về các vấn đề thuộc chiến lược quân sự và chính trị. Cuộc chiến Việt Nam đã trở thành một chủ đề để tranh luận trong các vòng đầu của cuộc bầu cử Tổng Thống. Hoa Kỳ đã bắt đầu lung lay, và tâm trạng lạc quan ban đầu thì nay đã phải nhường chổ cho những tái thẫm định đầy bi quan. Tình trạng này lại xảy ra trong khi Nam Việt đã bắt đầu ổn định về chính trị và . . . tâm trạng lạc quan [đang lan rộng] trong mọi hàng ngũ của họ. Do đó, Chính phủ VNCH vẫn cứ tiếp tục nhìn thái độ của phía Mỹ một cách lạc quan, gần như không để ý gì cả đến các khó khăn chính trị mà Hoa Kỳ đã đang phải đối đầu cũng chính vì cái cuộc chiến của chúng ta. Có thể là vì Nam Việt Nam đã không nắm rõ được các khó khăn của ngay chính phía Mỹ.

  • • •

III. VIỆT NAM HÓA: 1968 – 1972

 Trận Tổng Tấn Công Tết  Mậu Thân

  • • •

Dù đã tiếp tục gia tăng xâm nhập thêm bộ đội, suốt các mùa khô trong năm 1966 và 1967 thì bọn Cộng vẫn từ từ mất dần đi khả năng chủ động. Các cuộc tấn công với nhiều đại đơn vị thì đều đã thất bại, phải hứng chịu nhiều tổn thất nặng nề gây ra bởi hỏa lực và khả năng di chuyển tối tân của Mỹ. Trong khi đó, các chiến dịch truy tìm địch để diệt của Hoa Kỳ cũng đã khiến cho địch thường xuyên bị rối loạn và bị lụn bại thêm. Các chiến dịch phát động động bởi QLVNCH để yểm trợ cho chính sách bình định thì cũng đã khiến cho các vùng do Cộng kiểm soát tại nông thôn bị cực kỳ thu hẹp lại. Hạ tầng cơ sở và các lực lượng địa phương địch đã bắt đầu bị khó khăn, tuy là chúng vẫn còn mạnh. Chiến lược của địch nhằm chế ngự nông thôn để bóp nghẹt thành thị đã không còn chứng tỏ là có hiệu quả trước các cố gắng tấn công có phối hợp giữa VNCH và Hoa Kỳ. Cái tình hình quân sự tiếp tục suy đồi này thế nào rồi cũng đã ảnh hưởng đến khả năng của chế độ Hà Nội và khả dĩ cũng có thể báo hiệu cho việc rồi chúng cũng sẽ bị chiến bại luôn trong Nam mà thôi. Căn cứ vào kinh nghiệm của chúng tôi vào dạo đó, thì cả VNCH lẫn Hoa Kỳ thì cũng tiên liệu là sẽ có một trận đại phản công từ phía địch hầu ráng lấy lại quyền chủ động.

Quả vậy, theo với thời gian thì Bắc cộng đã đổi chiến lược để tấn công thẳng vào các thị thành của chúng tôi. Nhưng khi mà trận tổng tấn công vào dịp Tết Mậu Thân cuối cùng được phát động thì lại là cả một sự ngở ngàng lớn với phía VNCH. Chúng tôi đã bị bất ngờ không vì thiếu tin tức báo hiệu trước, mà giới tình báo của chúng tôi đã có ghi nhận trước rồi, nhưng chính là vì thái độ chủ quan và lè phè của phía chúng tôi, mà đã khiến chúng tôi hoàn toàn sai lầm khi ước lượng về ý đồ và tính cách táo bạo có tính toán của địch.

  • • •

Trận Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân đã không hề giúp cho địch thực hiện được các mục tiêu chiến lược của chúng. Chúng tạm thời đã dành lại được phần nào về quyền chủ động, nhưng rồi sau đó thì cũng dánh mất nó luôn để phải bị rơi vào một tình thế còn tệ hại hơn là trước kia nữa. QLVNCH đã không hề bị tan rã; họ lại càng trở nên cường mạnh và hăng say chiến đấu hơn nữa mà thôi. Nhân dân đồng khởi, một yếu tố cốt yếu cho một chiến thắng mau chóng, đã không bao giờ xảy ra. Quân đội Mỹ thì cũng không hề bị cầm chân vô hiệu hóa đi, và cuối cùng thì âm mưu thiết lập một chính phủ liên hiệp của chúng cũng bị tan thành mây khói mà thôi.

  • • •

Do nơi quá chủ quan, địch cũng đã bị cực kỳ bối rối. Chúng vẫn hằng từng có thành kiến về sự yếu kém của QĐVNCH và là dân chúng rất ư là bất mãn với Mỹ cùng VNCH. Nhưng QĐVNCH đã chiến đấu một cách oai hùng và đầy tự tin; họ đã chứng minh được toàn vẹn khả năng chiến đấu và năng động của họ. Bất chấp các chỉ trích đối với Chính phủ VNCH và đối với thái độ không dấn than của họ, người dân Miền Nam vẫn đã cương quyết từ chối cộng tác với bọn Cộng. Họ đã không hề bị mấy cái kiểu mưu đồ dối trá của Cộng nhằm thống trị theo các kiểu nào là “liên hiệp”, nào là “trung lập” và “hòa bình”. Đó cũng là lý do vì sao mà vài quan sát viên cũng đã từng châm biếm mô tả thái độ của người dân Miền Nam nhân dịp Tổng Công Kích Mậu Thân là đã “bỏ phiếu bằng đôi chân”. Quả thật đã không thể nào tìm ra cho được một cách diễn tả nào mà thích hợp hơn được như vậy.

Tuy là Trận Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân đã càng làm cho người dân Miền Nam, cho quân đội và chính quyền càng thêm vững tâm cương quyết đoàn kết mà thôi để chiến đấu chống Cộng, biến động này cũng đánh mạnh vào tâm lý của các viên chức cùng chính trị gia Mỹ. Nó cũng đã gây ra tình trạng bất đồng ý kiến trong số các nhà phát họa chính sách của Mỹ về các đề tài chiến lược cùng chính sách đương thời với Việt Nam. Nó đã giáng một đòn nặng xuống chủ trương kiên định chống Cộng của Hoa Kỳ tại phần đất này của thế giới, mà cũng đặt lại vấn đề của những cam kết của Hoa Kỳ đối với Thế Giới Tự Do.

  • • •

Rõ ràng là cái thành kiến phản chiến sai lầm của các phương tiện truyền thông Mỹ đã bịt mắt che tai công luận của nước họ. Rồi cuối cùng áp lực từ vài vị dân cử tại Quốc Hội Hoa Kỳ và cái thành phần phản chiến ồn ào cũng đã quay ngược hoàn toàn lại chính sách lâu nay của Tổng Thống Johnson. Ông ta đã lấy nhiều quyết dịnh đầy tính cách định mệnh, mà theo đó đã có việc Mỹ chấm dứt không tạc phía trên vĩ tuyến 20, rồi là bác bỏ thỉnh cầu xin thêm quân của Tướng Westmoreland và rồi không ra tái ứng cử, để nhằm đạt cho được một thỏa thuận khi thương thuyết để giải quyết chiến cuộc và tái lập lại sự thống nhất đoàn kết quốc gia.

  • • •

Chúng tôi tin là chiến cuộc đúng ra đã có thể được quyết định vào lúc đó mà vẫn không cần phải có thêm quân Mỹ. Tình trạng đã có thể chuyển qua có lợi thế cho chúng tôi nếu mà Hoa Kỳ đã quyết chí và đủ kiên nhẫn để tiếp tục cái chiến lược tấn công thêm chút thời gian nữa và đẩy mạnh công trình phát triển QLVNCH theo như chúng tôi từng đề nghị. Nhưng quả thật quá ư là thương đau khi mà việc này đã không hề xảy ra.

  • • •

Tối Tân Hóa và Cải Thiện QLVNCH

Chiến lược mới về chiến tranh và hòa bình của Mỹ có nghĩa là chuyển giao lại trách nhiệm lâm chiến về lại cho QLVNCH chiếu theo chương trình Việt Nam hoá nhằm cho phép tăng gia tái phối trí các lực lượng Hoa Kỳ và để đàm phán tại Ba Lê hầu có được một nền hòa bình chính đáng và thật sự tại Miền Nam.

Danh từ Việt Nam hoá có thể đã không được đúng đắn đối với Miền Nam vì nó cũng dã khiến gây ra nhiều tranh cãi. Tại sao lại là Việt Nam hoá? Phải chăng Người Việt Quốc gia đã chưa từng chiến đấu chống lại bọn Cộng từ lâu nay, cả trước khi Mỹ bắt đầu lưu ý đến Việt Nam? Bộ người dân và quân đội VNCH đã không hề bao giờ dồng hành chiến đấu cùng các lực lượng Mỹ mãi từ năm 1965? Tại sao lại làm [như] là chỉ có quân đội Hoa Kỳ mới từng có tham chiến mà thôi tại Việt Nam? Máu xương hy sinh bởi Miền Nam đã từng là gấp bội phần so với phía của các quân nhân oai hùng Mỹ; chiến cuộc đã là một vấn đề chết sống của người dân Miền Nam, mà đã cương quyết không chấp nhận những điều man rợ mà sẽ phải xảy nếu bị Cộng thống trị. Nhưng họ đã không thể riêng mình giải quyết được vấn nạn này và đã bị buộc phải kêu gọi sự giúp đở của Mỹ. Trong một cuộc chiến về ý thức hệ, mà nhân đó, tuyên truyền và vận động về tâm lý đã là những vũ khí rất hiệu quả, việc sử dụng từ ngữ Việt Nam hoá quả thật là cực kỳ làm tổn thương người dân và quân đội của VNCH. Chúng tôi cảm nhận được là chính điều này thì cũng vô hình chung công nhận sự sai lầm của Hoa Kỳ về chiến lược, cũng như là sự thất bại của các nổ lực quấn sự của họ, một sự tái diễn có tính cách lịch sử như việc tan hàng của Pháp dạo trước.

  • • •

Những thành đạt của chương trình Tối Tân Hóa và Cải Thiện QLVNCH thì cũng đã có thể được chứng minh qua các thành công khi đáp ứng lại với các thử thách dạo1969. Các thách đố càng dữ dội thì QLVNCH lại càng chứng tỏ khả năng tác chiến của họ mà nay đã rất ư là đầy tự tin, và cũng đang được yểm trợ đầy hiệu quả nhờ hỏa lực cùng khả năng di động của Mỹ. Vụ đánh tràn sang bên kia biên giới Kampuchia, chiến dịch Hạ Lào vượt biên giới và những trận đụng độ đầy thành công trước bộ đọi Bắc cộng trong trận Công Kích Mùa Hè Đỏ Lữa 1972, thì dều là ba thách thức chính mà đã từng chứng tỏ sự thành công của chính sách Việt Nam hoá.

Các Chiến Dich Xuyên Biên Giới

• ••

CHIẾN DỊCH VƯỢT BIÊN HẠ LÀO

Theo suy luận của chúng tôi, cái quyết định đánh thẳng vào Lào ngõ hầu cắt đứt con đường huyết mạch của địch dùng để nuôi dưởng chiến trận trong Nam đã là một quyết định chiến lược cực quan trọng mà đã ảnh hưởng nặng nề vào tiến trình chiến cuộc tại Nam Việt và Kampuchia. Nó cũng quan trọng y như là quyết định chiến lược không tạc Bắc Việt.

  • • •

Đối với QLVNCH thì cái quyết định vượt biên giới đánh sang Lào vào năm 1971 đã đến như là một ngạc nhiên đối với họ, nhưng rồi nó cũng đã nhanh chóng được hân hoan chấp nhận không chút chần chờ. Tuy nhiên, vẫn đã có vài vấn đề không được giải đáp, như là vì sao đã lấy quyết định đó quá nhanh cũng như quá ư là bất ngờ. Liệu chăng Tổng Thống Nixon đã thay dổi cái chính sách chống xâm nhập của Mỹ hay chỉ là một hành vi nhằm trừng phạt cái chính sách “đánh và đàm” của Cộng? Có lẻ Mỹ muốn ước lượng tiến bộ QLVNCH đã có được qua chương trình Việt Nam hoá, hay có thể chiến dịch chỉ nhằm buộc Bắc cộng phải nghiêm trang đàm phán? Dù sao thì cũng đã không hề có dự trù trước là Chiến Dịch Lam Sơn 719 rồi sẽ kéo dài trong bao lâu cả.

Khi mà Chiến Dịch Lam Sơn 719 đã thật sự chấm dứt thì cũng đã xẩy ra bao nhiêu là tranh cãi. Cả hai bên, Quốc và Cộng, thì đều cho mình là kẻ chiến thắng. Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã hết sức mình ráng trình bày đó như là một chiến thắng quân sự, nhưng có thể ông ta cũng đã thừa nhận là Chiến Dịch Lam Sơn 719 thì cũng đã không đáp ứng được với mọi mong đợi, cả về chiến lược lẫn chiến thuật. Về khía cạnh có thành công hay không, thì kết quả đã không được như là trận đánh vào Kampuchia. Có thể Chiến Dịch Lam Sơn 719 đã ngăn chận được các kế hoặch tiến công của địch, nhưng con đường huyết mạch duy nhất của họ thì, chỉ sau một thời gian ngắn bị tạm thời gián đoạn, thì vẫn không hề bị gì cả. QLVNCH đã không có thể nắm quyền chủ động trong suốt cả chiến dịch. Đã không hề có khám phá ra được những kho tàng trữ quân liệu đáng kể nào cả để phá hũy đi như là ở tại các nơi ẩn chứa của địch như tại Kampuchia. Cũng vậy, có vẻ như là đa số các tổn thất phía địch thì đều do các cuộc không kích chiến thuật và các phi cơ vũ trang của Mỹ.

Địch thì đã không hề bị bất ngờ bởi Chiến Dịch Lam Sơn 719 và đã chuẩn bị sẳn sàng để trực chiến với quân ta. Chúng cũng đã chuyển trước từ lâu các đồ tiếp liệu đi xa về hướng Tây, xa quá cả Tchepone luôn. Hậu cần quan Bắc cộng thì cũng đã trong tư thế sẳn sàng để có thể đánh trả xuyên qua một hệ thống “khối | blocks” tương trợ nhau, hay là những công sự tinh vi mà đã rất ư là khó để mà bị tiêu hũy được. Đường số 9, chính lộ dẫn tới Tchepone, thì cũng đã bị tuyệt đối khóa cứng. Càng quan trọng hơn nữa, Bắc quân cũng đã có kế hoặch trước nhằm bố trí sẳn pháo trước trên những cao điểm trong vùng hành quân.

Quân đoàn 70B Bắc cộng đã từng được thành lập từ dạo cuối 1970 để kiểm soát và phối hợp điều động các sư đoàn 304, 308 và 320 của địch; nó đã được bố trí vào vùng hành quân ngay khi Chiến Dịch Lam Sơn 719 bắt đầu. Phản ứng của địch đã rất ư là nhanh chóng và quyết liệt, bởi vì chúng cương quyết phải bảo vệ cho được con đường tiếp liệu về Nam, và đã sủ dụng gần như toàn bộ quân số trừ bị và sẳn sàng chấp nhận những con số thiệt hại dù cho có là rất nặng nề. Rõ ràng, địch cũng đã có rút kinh nghiệm từ cái khuôn mẫu hành quân thông thường của chúng ta tại miền Nam. Chúng đã tận dụng khả năng am tường địa thế để có thể cho quân tiến gần sát với các đơn vị của chúng ta, và nhân đó, đã vô hiệu hóa được lợi thế về hỏa lực của phe ta.

Về phe ta, thì chúng ta cũng đã học được rất nhiều kinh nghiệm từ cái chiến dịch khó khăn và phức tạp này. Trước hết, chúng ta đã coi thường tốc độ cùng quyết tâm chống trả của địch. Đã không hề có được một kế hoặch nào nhằm đối phó với những biến chuyển bất thường hay bất thuận khả dĩ có thể xảy ra. Lợi thế của chúng ta trong khả năng vượt trội về không chiến và trực thăng vận thì đã hoàn toàn bị vô hiệu hóa, trước là vì thời tiết, rồi sau đó, là vì phòng không hay đại pháo và cối của địch. Về quân số thì bộ binh của chúng ta ít hơn địch nhiều, và khả năng hỏa lực tuy là tương đương, nhưng địch lại đã bố trí trước được tại những vị trí từng cẩn thận chọn lựa. Khi được triển khai ra một môi trường bất thuận lợi, lực lượng 300 thiết vận xa của chúng ta đã tỏ ra bất lực trước các xe tăng của địch và cũng không có khả năng để yểm trợ cho Sư đoàn Dù hầu phá vòng vây của địch hay để lấy lại khả năng chủ động. Ngược lại, lực lượng thiết giáp của địch đã tỏ ra rất hiếu chiến và nguy hiểm; chúng đã tận dụng sự thông thạo quen biết trong một địa thế trắc trở để có thể phục kích hay áp sát cận các trọng điểm của chúng ta, để rồi cuối cùng phối hợp với bộ đội để tấn công và chiếm được những cứ điểm đó.

Khi đụng trận, các đơn vị bộ binh của chúng ta đã không thi hành triệt để các lệnh điều quân mà cũng đã không thành công sử dụng được hỏa lực cơ hữu hầu tiêu diệt địch, mà lại chỉ chờ được yểm trợ bởi pháo binh mà thôi. Các vị chỉ huy Quân đoàn I và Sư đoàn liên hệ thì cũng có quân trừ bị, nhưng họ đã không hề sử dụng đến để khuất phục các khó khăn hầu dành lại cho được quyền chủ động. Thậm chí, khả năng pháo hiện hữu của chúng ta thì cũng đã không được sử dụng một cách cho đúng đáng, đặc biệt là trong suốt tháng đầu của chiến dịch, với lý do là vif thiếu phối hợp.

  • • •

Về bình diện quốc gia, cũng đã có được nhiều điều có thể học được nhân Chiến Dịch Lam Sơn 719. Trước hết, cần phải cứu xét lại vaasn đề lãnh đạo, đặc biệt là ở cấp quân đoàn cùng sư đoàn. Việc bổ nhiệm các vị tướng vào những chức vụ then chốt đó đúng ra thì phải không được dính líu gì tới chính trị mà chỉ hoàn toàn phải dựa trên khả năng quân sự cùng tài năng của họ. Tôn ti trật tự chỉ được tôn trọng nếu mà tiêu chuẩn thâm niên quân vụ cũng đã được đặt trọng trong việc thăng chức và bổ nhiệm. Kỷ luật quân sự đúng ra đã phải được triệt để thi hành, ngay cả với sĩ quan cấp tướng, đặc biệt là khi đối tượng là việc điều hành một chiến dịch quan trọng và có tính cách quyết định như vậy.

Sau đó, đã thật rõ ràng là các lực lượng tổng trừ bị của QLVNCH thì đã hoàn toàn không đủ. Ngay cả cho nhu cầu hạn chế chỉ của Chiến Dịch Lam Sơn 719 thì cũng không có thể đáp ứng được. Sau khi đã tung vào trận hai Sư đoàn Dù và TQLC thì Bộ Tổng Tham Mưu đã không còn khả năng để có thể linh động điều binh khiển tướng nữa rồi. Điều đó quả đã là một yếu điểm cực kỳ quan trọng đối với QLVNCH khi bị lâm vào những hoàn cảnh như vậy, khi mà họ đã không còn khả năng để tái lập một lực lượng trừ bị tương đương hầu có thể lại tung vào trận hay để dự phòng cho một biến chuyển khẩn cấp khác. Do đó, đã càng là cấp bách để mà cho các sư đoàn bộ binh không còn phải chịu trách nhiệm an ninh lãnh thổ nữa, để rồi sẽ dùng được họ trong vai trò lực lượng trừ bị hay phòng vệ lưu động.

Vấn đề mà Tổng Thống Thiệu đã không đồng ý cho Sư đoàn 2 Bộ binh tham gia Chiến Dịch Lam Sơn 719, như theo đề nghị của Chỉ Huy trưởng Viện trợ Quân sự Mỹ tại Việt Nam COMUSMACV, thì cũng đã tỏ lộ nổi hoài nghi của ông ta là các sư đoàn của QLVNCH thì cũng chưa được sẳn sàng cho loại nhiệm vụ chiến lược này. Qua kinh nghiệm, sư đoàn của QLVNCH thì cần một thời gian để chuẩn bị và thực tập, rồi cũng cần phải trải qua được một số thách thức, thì mới gột bỏ cho được cái “triệu chứng lãnh địa” để trở nên được hữu dụng đúng theo định nghĩa của một lực lượng chiến đấu lưu động. Việc không có được một kế hoặch trường kỳ hầu tiến tới mục tiêu này, cùng nhiều hạn chế khác, thì cũng đã cướp mất đi của QLVNCH và Hoa Kỳ cái khả năng để thắng một trận lớn mà khả dĩ có thể quyết định được kết quả tối hậu của chiến trận.

Cuối cùng, nếu quả thực Chiến Dịch Lam Sơn 719 là nhằm ước lượng tiến trình của chương trình Việt Nam Hóa thì nó cũng đã phải chứng tỏ cho thấy là QLVNCH vẫn còn rất cần phải được cải tiến và tối tân hóa. So với Bộ đội Bắc cộng thì QLVNCH cũng đã phát triển quá chậm mà cũng không thích đáng, đặc biệt là về thiết giáp và pháo binh. Các khả năng về phản pháo cũng là một đề tài đã cần phải được lưu ý đến, nhất là đối với pháo tầm xa của Bộ đội Bắc cộng.

Kế hoặch tối tân hóa QLVNCH đúng ra thì cũng đã phải nhận chân ra được là khả năng phòng không của địch đang tăng trưởng một cách nhanh chóng và hiệu quả hơn. Chúng tôi thì cũng thấy rõ là khả năng trực thăng vận, không trợ chiến thuật cùng yểm trợ hậu cần của chúng tôi vẫn còn phải lệ thuộc vào các lực lượng Mỹ. Điểm này thì cũng đúng cả luôn với khả năng hải vận, tuy là ít trầm trọng hơn.

Trận tấn công mùa Phục Sinh năm 1972

Chiến dịch Nguyễn Huệ vào đầu mùa hè năm 1972 đã là trận tấn công quy mô và cũng có thể là quan trọng nhất của Bộ đội Bắc cộng. Nhằm phục vụ cho trận thấu cáy này, Hà Nội đã tung vào trận gần như là toàn thể Bộ đội Bắc cộng, tới cả 14 sư đoàn bộ binh và 26 trung đoàn độc lập, cùng với một số tăng và pháo đáng kể. Ấy vậy, cuối cùng thì Bộ đội Bắc cộng cũng đã không thực hiện được các mục tiêu chính yếu về chính trị và quân sự.

Xuyên suốt toàn trận tấn công này, QLVNCH cũng đã cho thấy được khả năng chuyên nghiệp cao và đặc tính quyết chiến của mình. Nhờ vậy, đã không hề có một thủ phủ cấp tỉnh nào mà bị lọt vào tay địch. Chỉ 10 trong 260 quận lỵ mới bị vĩnh viển do địch chiếm đóng mà thôi, mà thậm chí chỉ là ở những địa điểm xa xăm vùng ngoại vi mà thôi. An Lộc, mà MTGPMN đã từng dự trù sẽ dùng làm thủ đô, thì cũng đã oanh liệt và kiên hùng chống trả những lần liên tục tấn công của các sư đoàn của Quân đội Bắc Việt. QLVNCH đã không hề bị đè nát như địch đã từng nghỉ. Người dân Miền Nam đã vẫn cứ bình tỉnh, kiên cường và yểm trợ các đơn vị của chúng ta trong những lần giao tranh ác liệt.

Vì bị kiệt quệ sau những tổn thất quă ư nặng nề, Bộ đội Bắc cộng đã không còn khả năng để dành thắng lợi về chính trị nào trong tam cá nguyệt cuối năm 1972. Các đơn vị của chúng bèn phải phăn tán để nằm chờ hầu chuẩn bị cho những trận đánh phá không quan trọng khác. Điểm càng quan trọng hơn là tinh thần của hạ tầng cơ sở VC cũng sa sụp trầm trọng luôn. Trận tấn công của địch cũng thất bại trong ý đồ phá rối chương trình bình định của chúng ta, ngoại trừ tại những khu vực có giao tranh nặng nề. Một ví dụ là toàn Châu Thổ sông Cữu Long đã hoàn toàn không bị hề hóng gì cả; địch đã hoàn toàn không dành được quyền kiểm sóat thêm được dân tại bất cứ nơi nào cả. Mọi giao thông đường bộ tại Châu thổ đều được an ninh trong suốt thời gian trận tấn công này, cho dù gần cả phân nữa lực lượng quân sự của Quân Khu 4 đã được đưa về tăng cường cho Quân Khu 3.

Trận tấn công mùa Phục Sinh năm 1972 của địch đã thất bại vì nhiều lý do. Địch đã đâm ra tự mãn sau lần chúng ta phiêu lưu qua Lào dạo Chiến dịch Lam Sơn 719. Chúng đã xem thường khả năng của QLVNCH cũng như là tính cách hiệu quả cùng cường lực của Không Quân Hoa Kỳ; chúng cũng không tiên liệu được phản ứng quyết liệt và tức thì của Tổng Thống Nixon trước cuộc xâm lấn này. Địch đã phạm nhiều lổi lầm, cả về chiến lược lẫn chiến thuật. Hai trong các lổi lầm quan trọng nhất của chúng về chiến lược là đã không đặt ưu tiên đúng chổ cũng như là đúng thời. Quân đội Bắc cộng đã phân chia lực lượng ra ba nơi, thay vì nên phải tập trung lại chỉ một chổ ngõ hầu dành cho được một chiến thắng nhanh chóng và dứt khoát. Hậu quả là rồi thì chúng đã không có khả năng để chiến thắng tại bất cứ nơi nào cả. Rồi cũng qua việc ấn định thời khóa biểu của trận tấn công một cách sai lầm, chúng cũng đã đánh mất cơ hội để khai thác cho được chiến thắng tiên khởi và đã để cho QLVNCH có đủ thời gian để tái hợp lại và củng cố các tuyến phòng thủ.

Rồi đã có hai lổi lầm về chiến thuật cũng đã góp phần vào sự thất bại của chúng. Bộ đội Bắc cộng đã cho thấy thiếu kinh nghiệm về hành quân với thiết giáp, cũng như không có khả năng trong việc điều hợp thiết giáp với bộ binh. Thay vì lợi dụng yếu tố tán loạn ngở ngàng lúc ban đầu mà đã có được nhờ thiết giáp, hầu chọc thủng luôn qua tuyến phòng thủ đối phương, chúng đã lúng túng trong việc dùng tăng mà cũng thêm không phối hợp được với bộ đội để được hổ trợ. Cũng vì vậy, tăng của chúng bèn chỉ là những miếng mồi ngon cho mấy khẩu LAW 5 ► và các hỏa tiễn TOW 6 từ trực thăng của chúng tôi. Địch đã rõ ràng đem thí các đơn vị tăng của chúng khi không có không và pháo trợ. Lầm lổi thứ nhì của chúng thì lại chính là cái chiến thuật cổ điển thí quân . . .  vì làn sóng người thì liền cũng đã mau lẹ bị quét sạch bởi làn sóng hỏa lực mà thôi.

Về phía chúng tôi thì cũng có rút ra được vài bài học, từ sự kiện bị thất bại ngay lúc tiên khởi, nhưng sau thì rốt cuộc lại đã chiến thắng. Đó đã là các yếu tố chỉ huy và lãnh đạo.

Rõ ràng là chúng tôi đã quên đi mất các bài học từng rút ra được sau Chiến dịch Lam Sơn 719. Cấp lãnh đạo của chúng tôi vẫn còn yếu kém vì thù oán cá nhân lẫn cái kiểu cứu xét cứ bị quyết định bởi lý do chính trị. Tuy nhiên vấn đề này thì cũng đã được giải quyết khi cấp chỉ huy của Quân đoàn I và Sư đoàn TQLC đã được thay thế bởi những vị tướng dạn dày chiến trường cũng như là chuyên nghiệp. Việc thay thế kịp thời cấp chỉ huy và lãnh đạo quả đã có được một ảnh hưởng thuận lợi nhất cho các đơn vị chiến đấu lẫn tham mưu. Sư kiện vị Tư lệnh QĐ I thường xuyên ra thăm binh sĩ tại tiền tuyến đã cực kỳ nâng cao được tinh thần binh sĩ vào đúng lúc khẩn thiết nhất; nhân đó, cũng đã đẩy mạnh niềm tin của các sĩ quan chỉ huy những tiểu đơn vị và giúp cho vị Tư lệnh QĐ I luôn luôn tuyệt đối nắm vững tình hình. Báo cáo thì không bao giờ thay thế được những lần thăm viếng tại hiện trường, và ban tham mưu thì cũng chỉ giỏi nếu mà vj chỉ huy giỏi thôi. Cũng chỉ với nhân sự cùng nhân lực củ thôi, vị tân tư lệnh của QĐ I đã nhanh chóng chứng minh được khả năng của một lãnh đạo chuyên nghiệp và lão luyện trong một hoàn cảnh tối nguy.

Hệ thống quân giai chỉ hoạt động được hoàn hảo nếu yếu tố thâm niên về đẳng cấp được tôn trọng, nhứt là về tiêu chuẩn chỉ huy và kiểm soát. Đây đúng ra phải là yếu tố chính yếu khi chúng tôi chọn người cho hệ thống chỉ huy. Việc thay đổi chỉ huy Sư đoàn TQLC dã kịp thời và cũng là yếu tố cần thiết cho QĐ I để có thể hoạt động hữu hiệu được. Thói quen bỏ lơ qua không để cấp trung có ý kiến khi hành quân chỉ gây hỗn loạn và tạo hiềm khích mà thôi. Chỉ huy và kiểm soát, để được hiệu quả, thì phải được giữ cho càng đơn giản chừng nào hay chừng đó. Chúng tôi nghỉ là quyền chỉ huy không nên vượt quá năm đơn vị thuộc cấp, nhất là trong một hoàn cảnh chiến trường phức tạp.

Quyết định giao cho vị chỉ huy Sư đoàn 3 nắm tới ít ra là cả chín đơn vị cấp trung đoàn đã là một việc sai lầm trầm trọng về học thuyết quân sự đúng đáng, nhất là vì đó cũng chỉ là một sư đoàn tân tạo mới tinh mà vẫn chưa được thử thách khả năng tác chiến như là một toàn đơn vị. Thật rõ ràng là cấp chỉ huy của sư đoàn kém khả năng. Chiếu vào tính cách nghiêm trọng của tình hình cùng các phương tiện hiện hữu, thật là tuyệt vô lý nếu mà tư lệnh QĐ I lại không giao trọng trách gì cả cho ban tham mưu Sư đoàn TQLC trong khi đang có cả hai trong ba lữ đoàn của họ đang được sử dụng tại đó, cũng như là luôn cả cho Bộ Chỉ Huy Biệt Động Quân mà cũng đang có tới cả bốn Liên đoàn đang đóng quân tại đó. Cách thức chỉ huy và vận quân của QĐ I vào lúc ban đầu đã tạo ra hỗn loạn, và đó cũng là lý do chính yếu mà đã không có được đơn vị nào cả thi hành theo kế hoặch phản công lại chiến dịch Quang Trung của địch, mà đã được ban hành và do đó, cũng đã đưa đến việc Quảng Trị thất thủ cùng các đơn vị của Sư đoàn 3 phải tan hàng.

Quyết định đưa ban tham mưu Sư đoàn 23 lên thành phố Kontum cùng với việc thay đổi sư đoàn trưởng đều đã được thi hành thật là đúng lúc. Nhưng cũng đúng ra là việc phòng thủ Kontum đã sẽ phải thất bại nếu mà các đơn vị chủ lực của Sư đoàn 23 đã không kịp thời thay thế các đơn vị phòng thủ hỗn tạp cho kịp thời. Việc này đã giúp cho vị sư đoàn trưởng một sự thống nhất về chỉ huy, duy trì kỷ luật tuyệt đối và đồng nhất về tinh thần, những yếu tố tuyệt chính yếu cho chiến thắng tại Kontum.

  • • •

Cả Bộ Tổng Tham Mưu lẫn cơ quan MACV cũng có biết trước, và ngay cả một cách tường tận trong chi tiết luôn, về kế hoặch tấn công năm 1972 của địch, ngoại trừ giờ giấc chính xác và mục tiêu chính của địch. Chúng tôi đã biết rõ là địch đã tập trung được lực lượng và có đưộc khả năng để có thể cùng khởi công tại ba nơi khác nhau. Dù biết vậy, nhưng QLVNCH cũng đã không có khả năng để có thể có được một phản ứng ngăn ngừa hay hành động nào khác, ngoài việc chuẩn bị đề phòng tăng cường các vị trí phòng thủ để mà chỉ chờ thôi. Chỉ sau khi địch tiến công rồi, cùng các cố gắng của địch được biết rõ hơn thì các vị chỉ huy quân sự mới có thể điều động được lực lượng để chống cự lại. Lý do chính yếu về tình trạng phòng vệ lắng động hay tiêu cực này thì cũng là vì QLVNCH cũng không còn đủ lực lượng trừ bị khả dụng về chiến lược và chiến thuật. Chiến lược phòng thủ của chúng ta vẫn cứ là cái chính sách “giữ mọi nơi bằng mọi giá”, trước thực trạng là trong vòng cả ba năm vừa qua, khả năng phòng về của VNCH thì cũng đã bị suy yếu đi nhiều vì lý do Mỹ đã tái phối trì binh sĩ của họ. Cái chính sách này đã khiến cho lực lượng của chúng tôi bị phải rải ra quá rộng để có thể còn có khả năng chiến thắng được địch tại một nơi địch dã chọn để mà tập trung tấn công.

Các sư đoàn bộ binh của chúng tôi thì vẫn cứ bị kềm chân qua các trách nhiệm phải lo  bảo vệ lãnh thổ. Bị quen theo với thông lệ chỉ yểm trợ cho chương trình bình định với chỉ những cuộc hành quân với các đơn vị nhỏ, đa số các sư đoàn bộ binh QLVNCH đều đã không còn thích ứng, trong lúc ban đầu của trận tấn công của địch, để chiến đấu đúng với ý niệm chiến tranh [thông lệ] mà theo đó họ đã từng được thành lập cũng như là trang bị. Hệ thống phòng thủ thì cũng không được bố trí theo chiều sâu với những công sự kiên cố cùng những giao thông hào có khả năng thay thế nhau được. Cũng thật rõ ràng là đã thiếu phối hợp hỏa lực giữa Không và Hải quân Nam Việt. Các đơn vị pháo của bộ binh thì lại bị chia thành những đơn vị nhỏ tại những căn cứ cố định, rất dể trở thành mồi ngon cho những trận pháo và cối tập trung của địch. Nói chung thì cách phản ứng của chúng ta thì thường cũng rất ư là khuôn mẫu thường lệ, như chỉ là để đáp ứng thông thường lại với những “cao độ”. Để đối đáp lại với trận tấn công này của địch, các đơn vị của chúng ta cứ bị tung vào trận từng đợt rời rạt, không theo một kế hoặch nào cả – chổ này một tiểu đoàn, chổ kia một lữ đoàn – thay vì được dành để sử dụng như là một thành phần chính yếu để dành lại quyền chủ động. Cách thức dụng quân không mục đích tối hậu này đã khiến cho việc chỉ huy và kiểm soát càng thêm khó khăn mà cũng triệt để làm giảm đi hiệu năng của các đơn vị tác chiến của chúng ta.

Các lực lượng trừ bị chiến thuật và chiến lược của chúng ta, một đề tài cực kỳ thiết yếu đối với Nam Việt Nam, thì lại thật đáng tiếc là quá thiếu khả năng để đáp ứng được lại với chiến lược tấn công song hành bằng những mặt trận chính và phụ của địch . . . Mổi quân đoàn chỉ có vỏn vẹn một liên đoàn như là trừ bị chiến thuật, trong khi toàn thể các sư đoàn bộ binh thì đều bị rải rộng ra để chỉ phòng thủ một cách thụ động mà thôi. Lực lượng tổng trừ bị – Sư đoàn Dù và TQLC – thì không thể đáp ứng được cùng lúc cả ba mặt trận lớn. Họ chỉ được dùng đến sau khi cân nhắc cẩn thận, nhưng rồi thì chúng ta cũng đã phải gởi riêng rẽ từng lữ đoàn tới chiến trường đang cần họ. Thêm nữa, công tác vận chuyển họ thì cũng lại lệ thuộc hoàn toàn vào Không quân Hoa kỳ. Vì tất cả các lý do nêu trên, các cuộc phản công của chúng ta đã không thể xảy ra kịp thời và có hiệu quả như mong muốn, đặc biệt như là tại Quảng Trị và Kontum nơi mà các trận tấn công của địch đã bị chận khựng lại được. Điều này cũng cho thấy tại sao các vị chỉ huy tại chiến trường của chúng ta đã không có thể luân chuyển binh lính hầu cho phép họ được nghỉ dưỡng quân sau những lần hành quân.

Gia đình binh sĩ cùng người thường dân tại những vùng giao tranh thì cũng đã từng làm trở ngại cho các cuộc hành quân của chúng ta và cũng là một nan đề cho các vị chỉ huy tại chiến trường. Nếu cho di tản trước gia đình binh sĩ thì sẽ khiến cho dân cư địa phương xao xuyến và đôi khi còn hổn loạn lên luôn. Rồi thì nếu dân chúng hoảng sợ đổ xô nhau chạy trốn thì tinh thần binh sĩ rồi lại cũng suy sụp luôn theo.

Vì vậy rồi thì gia đình binh sĩ cùng người dân thường cũng đã bị bỏ để tự lo mà thôi. Thường khi giao tranh xảy ra thì họ vẫn cứ bỏ chạy tìm nơi an bình về các thành phố và trung tâm định cư; rồi khi giao tranh lắng dịu lại thì họ cũng luôn luôn trở về lại nhà củ. Tuy vậy, cũng vẫn có nhiều người không ra đi di tản. Chính họ và các kẻ di tản trở về mới đã gây ra bao vấn đề cho các đơn vị của chúng ta; điều này đã thật rõ ràng khi nhiều đơn vị của Sư đoàn 3 đã bất ngờ rút đi khỏi Quảng Trị theo dọc Quốc lô 1. Tại An Lộc, số lượng lớn gia đình binh sĩ và người dân thường di tản về hướng đông mà đã bị địch chận thì lại đã trở thành một gánh nặng về tiếp tế cho ngay các đơn vị của chúng ta. Tuy nhiên, chính họ thì cũng đã từng giúp đở một cách hữu hiệu các đơn vị về phương diện cấp cứu hay tiếp tế, mà thậm chí còn thay cả các quân nhân luôn. Nói chung, thái độ bình tỉnh và sự đoàn kết với quân đội của người dân đã đóng góp đáng kể vào chiến thắng 1972 của chúng ta. Dù sao thì mọi sĩ quan chỉ huy đơn vị cũng phải lưu ý tới họ khi soạn thảo kế hoặch cũng như phải luôn luôn kịp thời đối phó khi có gì xảy ra.

  • • •

CÁC KHẢ NĂNG TỰ YỂM TRỢ CỦA QLVNCH

  • • •

Thật sự Trận tấn công mùa Phục Sinh năm 1972 đã xảy ra như là một thách đố lớn, một thử thách quý giá cho các khả năng tự yểm trợ của QLVNCH. Chúng tôi tin là kết cuộc đã cho thấy là QLVNCH đủ khả năng để đối mặt với bộ đội Bắc Việt nếu có được bên phía Hoa Kỳ cung cấp về ba lãnh vực chí tử: không trợ chiến lược và chiến thuật, kể cả vận chuyển binh lính; hải vận; và thay thế đầy đủ về vũ khí, vật liệu cùng tiếp tế. Về phương diện pháo tầm xa và thiết giáp thì QLVNCH vẫn còn thua bộ đội Bắc Việt. Rõ ràng là vào thời điểm này, chương trình Việt Nam Hóa vẫn còn cần nhiều thời gian để mới có thể phát triển cho QLVNCH khả năng tự yểm trợ được.• • •

Sáng Kiến Hòa Bình và Thương Thuyết

   • • •

Cuối cùng, tại bàn hội nghị, Hoa Kỳ đã lại thương thuyết trong tư thế kẻ yếu. Viiệc đơn phương rút quân, cùng với chiến thuật co lại về trong các hậu cứ an toàn nhằm tránh tổn thương, thì cũng đã không còn giúp được gì cho họ trong việc đàm phán nữa. Còn ở chính ngay hậu phương của họ thì áp lực phản chiến lại càng gia tăng, và, bị thúc đẩy bởi đám chính trị gia “bồ câu” cùng các đòi hỏi chính trị khác, Hoa Kỳ đã cứ đi từ nhượng bộ này cho tới nhượng bộ khác trong mong muốn rút chân ra khỏi được cuộc chiến với danh dự, cho dù sẽ phá nát luôn tương lai sống còn của miền Nam Việt Nam luôn thôi.

Việc Tổng Thống Thiệu cương quyết từ chối các mong muốn của Hoa Kỳ vào năm 1968 thì cũng dể hiểu thôi, nếu không nói là còn đáng khen ngợi nữa. Nhưng ông ta cũng không thể nào kéo dài quá lâu nữa được, bởi vì Hoa Kỳ đang nắm chìa khóa sống còn của Nam Việt Nam. Cuối cùng thì chỉ Hoa Kỳ với Bắc Việt mới đã phủi tay và có được tất cả những gì họ muốn.

Các Bài Học Đáng Giá

1.
Nhiều biến chuyển quan trọng trong cuộc Chiến Việt Nam đã xảy ra nhân các năm có bầu cử Tổng Thống Hoa Kỳ.

Trận công kích Tết Mậu Thân 1968 đã là một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử Nam Việt nam, giống như những kỳ trước đó dạo năm 1960 và 1964. Nhưng không như mấy năm trước, sự quyết chí tiếp tục tham chiến lần này của Hoa Kỳ thì lại bị lung lay. Từ một chiến lược dành một chiến thắng mau lẹ, Hoa kỳ đã chuyển qua thương thuyết và “Việt Nam hóa” cuộc chiến. Việc này cũng đã mở đường cho Cộng sản áp dụng chiến lược “đàm và đánh” mà đã từng kéo dài suốt cả bốn năm của nhiệm kỳ tổng thống Mỹ và đạt cao điểm với bước ngoặt quan trọng năm 1972, mà cũng đã đưa đến Hòa đàm Ba Lê . . .

2.
Chính sách “đàm và đánh” không chỉ là một kỷ thuật mà chỉ Cộng sản áp dụng, mà lại cũng đã được ngay VNCH và Hoa Kỳ áp dụng luôn. Tuy nhiên về phía chúng ta thì kỷ thuật này có vẻ không được hiệu quả, vì lý do Mỹ đã đơn phương rút quân và xuống thang chiến trận cũng như là QLVNCH cũng đã không đủ mạnh hầu có thể ở thế thượng phong khi thương thuyết.

3.
Khi đi dùng kiểu nói “Việt Nam hóa” để giải thích cho chính sách mới này với Quốc hội và công luận Mỹ, chính phủ Hoa Kỳ đã vô tình xem thường các sự hy sinh của người dân và quân đội Nam Việt Nam, mà cũng đã bỏ qua luôn căn nguyên mưu tìm tự do và sống còn mà họ đã từng phải chiến đấu để bảo vệ. Cũng vì vậy, cả Tổng Thống Thiệu lẫn Chính Phủ VNCH cũng đã không bao giờ dùng các từ ngữ này . . .

4.
Phát triển và tối tân hóa QLVNCH để cho họ có khả năng chính yếu đãm trách được cuộc chiến thì cũng là một chính sách đúng đáng. Đó cũng chính từng là cái chính sách mà các chính phủ liên tiếp của VNCH vẫn đã cứ chủ trương kể từ đầu chiến cuộc, qua biết bao nhiêu là lần yêu cầu được tăng gia yểm trợ về quân sự. Thật đáng tiếc là những yêu cầu này thì cũng đã không được chấp thuận bởi một thẫm quyền thích ứng hầu cho phép QLVNCH có thể lớn mạnh và tối tân hóa được. Sự kiện này thì cũng có phần là từ tình trạng bất ổn về chính trị đã không cho phép chúng ta mạnh mẽ quyết định để có được thêm nhân lực cần thiết. Có vẻ là cũng vì do chính sách của Mỹ nhằm chỉ muốn dùng cường lực của chính quân đội Mỹ để chấm dứt sớm chiến trận. Do đó, các đơn vị tác chiến Mỹ cũng đã luôn luôn được ưu tiên về mọi phương tiện và việc yểm trợ về quân sư cho QLVNCH thì lại bị đặt vào hàng thứ yếu. Phải chờ mãi đến khi chương trình Việt Nam Hóa được thông báo thì đích thực việc cải tiến và tối tân hóa QLVNCH mới được tái tục và đẩy mạnh mà thôi . . .

5.
Toàn dân số 18 triệu của Nam Việt Nam thì cũng đã không thể nào đáp ứng được nhu cầu nhân lực cho một quân đội lớn tới cả một triệu người trong một cuộc trường chiến . . .

6.
Các cuộc hành quân vượt biên vào Cambodia và Lào, rồi Trận Tấn công Phục sinh 1972 cũng đã là những cơ hội tuyệt tốt cho QLVNCH cải tiến hiệu năng tác chiến và cũng để thử nghiệm kết quả của chương trình Việt Nam Hóa. Kết quả từ các kinh nghiệm này là các lực lượng của chúng ta đã trở nên tự tin và đã tỏ được khả năng thích đáng ở mọi cấp bậc. Tuy nhiên chúng tôi cũng nhận ra được là viện trợ Mỹ vẫn còn cần thiết về phương diện cố vấn với không vận, chuyên chở và hỗ trợ hậu cần . . .

7.
Các lực lượng trừ bị chiến lược và tư cách của các chỉ huy trưởng mà được thuộc cấp tin cậy ở cấp quân đoàn cùng sư đoàn trong QLVNCH đã vẫn là những yếu tố đưa đến các chiến thắng của họ khi lâm trận. Các lực lượng trừ bị chiến lược của chúng ta thì lại không đủ hầu thích ứng được cho cái mô hình theo kiểu phải rãi rộng để phòng thủ trước một đối phương đang nắm quyền chủ động về tấn công. Các chương trình phát triển mở mang cơ cấu của QLVNCH cũng đã không giải quyết được khó khăn này, mà lại còn trở nên nguy cấp hơn, sau khi đã có cho tới cả tám sư đoàn tác chiến Hoa Kỳ bị tái phối trí . . .

8.
Giai đoạn từ cuối 1968 tới 1972 đã là thời kỳ thành công viên mãn nhất của chương trình bình định của chúng ta. Đó là kết quả của sự phối hợp hiệu quả giữa Chính phủ VNCH với CORDS, 7 sự tham gia của người dân, việc viện trợ đáng kể của Mỹ cùng tình trạng an ninh được cải tiến ở nông thôn. Sự kiện an ninh được cải tiến ở nông thôn đã có được là cũng nhờ sự triển khai Lực Lượng Nhân Dân Tự Về, việc bố trí cảnh sát về làng xã, việc tiếp tục thi hành chương trình Phượng Hoàng cùng với thành công của các sư đoàn QLVNCH trong công tác bảo toàn an ninh cho dân cư. Cuối cùng, thời kỳ này cũng là lúc đa số các đại đơn vị địch đều rút về hậu cứ bên kia biên giới trong khi Không Quân Hoa Kỳ vẫn tiếp tục không kích các vùng có cơ sở địch, ngay cả trong nội địa VNCH và luôn cả tại vùng phía dưới của vùng Hạ Lào.

IV. CHIẾN ĐẤU ĐỂ TRƯỜNG TỒN

Hiệp định Ba Lê

Hiệp định Ba Lê tháng Giêng năm 1973 chỉ phục vụ cho các mục tiêu trước mắt của Hoa Kỳ và Bắc Việt. Nó đã giúp Tổng Thống Nixon giữ đúng lời hứa của mình với nhân dân. Tù binh chiến tranh Hoa Kỳ đã được phóng thích để về với gia đình, và toàn thể binh lính Mỹ ra đi khỏi Nam Việt trong an toàn và danh dự. Hoa Kỳ quả rất hài lòng vì đã mang lại dược một nền “hòa bình chính đáng ~ just peace” cho người dân Nam Việt và chấm dứt được một cuộc chiến kéo dài và bất phân thắng bại mà cũng đã đang gây chia rẽ trong nhân dân Mỹ.

Hiệp định Ba Lê cũng cống hiến cho Bắc Việt những điều kiện thuận lợi nhằm tiếp tục thành công cuộc xâm chiếm miền Nam. Không còn bị khó khăn vì không tạc và phong tỏa, Hà Nội đã dồn toàn lực để tái thiết và phát triển hầu yểm trợ tốt hơn cho các nổ lực quân sự trong Nam. Nay thì cũng không còn trở ngại nào nữa trong công tác liên tục xâm nhập xuôi Nam xuyên Lào và Cambodia nữa. Hà Nội chỉ đơn giản bỏ qua các quy định hạn chế nào trong Hiệp định Ba Lê mà không có lợi cho chúng mà thôi.

Ở trong Nam, MTGPQG cũng đã được chấp nhận cho cái quy chế hợp pháp trên toàn quốc. Nay thì chúng cũng có được một chính phủ, một quân đội và một phần lãnh thổ chính thức của chúng. Trên mọi phương diện, MTGPQG nay đã trở thành một thực thể chính trị có thẫm quyền ngang hàng với VNCH. Mọi chướng ngại khả dĩ có thể ngăn ngừa Bắc Việt và bọn tay sai ở miền Nam dành được một chiến thắng quân sự thì nay cũng không còn nữa. Hoa Kỳ và các lực lượng quân sự đồng minh đều đã rút đi, trong khi gần cả 300.000 bộ đội Bắc Việt vẫn được trụ lại miền Nam Việt Nam. Kể từ 1954 tới giờ, chưa bao giờ mà Cộng sản lại đã có được một vị thế chính trị và quân sự hùng mạnh như vậy.

Mọi việc xảy ra thì đã thật là thiệt thòi trầm trọng cho Nam Việt Nam, bởi vì các lợi thế mà Bắc Việt đã dành được qua Hiệp định Ba Lê thì cũng chỉ là những bất lợi áp đặt trên Nam Việt Nam mất thôi. Về phương diện chính trị, VNCH đã bị dồn vào vị thế để không có thể giải thích thỏa đáng được cho người dân và quân đội là tại sao cái MTGPQG mà từ lâu nay vẫn bị xem như là một tổ chức phản loạn phục vụ cho đám Bắc Cộng, nay lại bất thình lình là một vai đồng vế trên chính trường quốc gia. Đối với đa số, đó chính là một liên hiệp mà VNCH đã từng vẫn thề là sẽ không bao giờ chấp nhận cả.

  • • •

Ngưng Bắn và Vi Phạm

Hiệp định Ba Lê không hề mang lại được hòa bình cho Nam Việt Nam. Súng trận vẫn được báo cáo là cứ tiếp tục vang dội khắp nơi trên toàn quốc, cả luôn sau khi nhật kỳ ngưng bắn đã qua đi. Ngoại trừ việc Mỹ rút quân, việc trao đổi tù binh, việc chấm dứt mọi hành vi quân sự của Mỹ tại Việt Nam và việc gở thủy lôi tháo phong tỏa các bến tàu của Bắc Việt, thì đã không hề có được bất cứ quy định nào của Hiệp định Ba Lê mà lại đã có thể thi hành được, đặc biệt là quy định về ngưng bắn. Đó cũng là vì tính cách mơ hồ và bất khả thi của thỏa ước và vì thực tế là Bắc Việt đã không hề bao giờ từ bỏ ý đồ . . . xâm lấn.

   • • •

Bắc cộng . . . đã hoàn toàn xem thường mọi quy định trong thỏa ước. Chúng vẫn cứ tiếp tục di chuyển nhân sự cùng vật liệu xuống Nam để thay thế, không chỉ các thiệt hại hậu hiệp định mà còn luôn cả của lần tấn công năm 1972. Cùng lúc, chúng cũng tối tân hóa các đơn vị để nhằm chiếm lợi thế về tiềm lực. Chỉ có ba tháng sau ngưng bắn thì chúng cũng đã có thêm được 400 tăng, đem tổng cộng lên đến cả 500, và pháo 122 ly với 130 ly cũng tăng thêm 250 khẩu, so với con số 80 dạo 1972. Cùng lúc, các đơn vị phòng không cũng được nâng cao về tổ chức để trở thành cấp trung và sư đoàn, được trang bị với súng phòng không 37, 57 và 100 ly và cả luôn hỏa tiễn SA-2s. 8

  • • •

Các Thay Đổi Chiến Lược của Nam Việt Nam

   • • •

Chính sách chống Cộng cứng rắn “bốn không“ từng được Tổng Thống Thiệu cam kết, cũng chính là ước nguyện của đa số người dân Nam Việt nam. Chính sách này thì cũng nhằm bảo vệ hiến pháp và các định chế dân chủ; nó nhằm để bảo vệ cái phần đất Nam Việt Nam mà nhân dân và QLVNCH đã từng đổ máu xương để xây dựng và bảo tồn. Nó cũng đã trấn an người dân miền Nam và thúc đẩy được họ trước viễn ảnh đen tối gây ra bởi Hiệp định Ba Lê, kể cả khả năng Mỹ đã bán bỏ Miền Nam cùng những tin đồn là sẽ có phân chia đất nữa.

Dù vậy, Tổng Thống Thiệu vẫn không có khả năng tạo cho ra được một lực lượng hợp nhất cần thiết để đoàn kết toàn dân miền Nam Việt Nam vào lúc phải chết sồng về chính trị và quân sự với bọn Cộng. Ông thiếu khả năng lãnh đạo để nuôi dưởng và củng cố cho được sự đoàn kết quốc gia. Người dân, đặc biệt là các chính trị gia, nghi ngại là ông ta đang có những khuynh hướng độc tài. Sự nghi ngờ này lại càng tăng mạnh trước các biện pháp của ông ta trong mục đích cũng cố hậu thuẩn về chính trị cho ông ta.

Đạo luật báo chí mà ông ta ban hành vào tháng 8 năm 1972, để giúp cho nền báo chí được lành mạnh và để khuyến khích báo chí cần phải phục vụ đất nước trong giai đoạn cần phải chiến đấu sống còn, mà thông tin giữ một vai trò quan trọng, thì xui xẻo lại bị cáo buộc là đã bóp chết tự do ngôn luận. Hành vi đóng cữa 24 tờ báo tin mà đã không đáp ứng được các quy định của luật, thì sau đó đã đưa tới các vụ biểu tình trên đường phố Sài Gòn. Cùng một phản ứng chống đối kiểu đó thì cũng đã xảy ra với đạo luật về đảng phái của chính quyền VNCH. Chúng tôi nghỉ là luật này là điều mà Nam Việt Nam đang rất cần để có thể kết hợp các đảng phái lại, hầu đi đến một hệ thống lưỡng đảng và hội đủ được uy tín về chính trị hầu chiến đấu chống lại bọn Cộng. Nhưng thật bất hạnh là phe chống đối đã lại cáo buộc ông ta là đang chuẩn bị cho một thể chế độc chiết dưới quyền điều khiển của cái đảng Dân Chủ của ông ta.

Việc tu chính Hiến Pháp VNCH vào tháng giêng năm 1974, mà đã cho phép Tổng Thống Thiệu được quyền ra tái ứng cử lần thứ ba, đã đưa tới một cuộc khủng hoảng về chính trị mà nhân đó, các người biểu tình chống chính phú đã tố cáo ông ta là tham nhũng và tung hô đòi hỏi ông ta phải từ nhiệm. Phía chống đối thì đa số là những thành phần chống Cộng chăm lo cho tiền đồ đất nước và thành thật mong muốn phải có một sự đổi thay về lãnh đạo nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc đoàn kết quốc gia. Tuy nhiên cũng đã có một số nhỏ điệp viên Cộng sản cùng số cảm tình viên chủ trương gây rối loạn và làm trầm trọng thêm nạn chia rẽ trong hàng ngũ người quốc gia.

Cho dù đã cố gắng nhiều nhưng Tổng Thống Thiệu vẫn không thành công trong ý định ổn định lại tình hình chính trị. Tới cuối năm 1974 thì ông ta cũng đã cải tổ nội các cho tới cả bốn lần và thay thế một số lớn các tỉnh trưởng cùng với các tư lệnh sư và quân đoàn trong mục đích giúp chính phủ thêm uy quyền. Các nhóm chống đối đã quả quyết là ông ta đã không thành thật muốn sữa bỏ các yếu điểm của chế độ, và đã chỉ mặt nhiều tay sai tham nhũng và bất tài vẫn còn đang bao bọc ông ta. Họ nói là vài đổi thay nhân sự có vẻ tốt thì cũng không vì ông ta muốn vậy, mà chỉ vì các áp lực chính trị và vì công chúng mà thôi. Cách thức trì hoãn đầy ngạo mạn của ông ta thì cũng đã không làm nản lòng được phe chống đối. Cuối cùng, khi đi dùng cường lực của cảnh sát để đàn áp phe chống đối thì ông ta cũng đã vô hình chung đưa tình hình vào ngõ kẹt về chính trị mà thôi.

  • • •

Trong hoàn cảnh chia rẽ rối bời về chính trị đang đè nặng miền Nam Việt Nam vào mùa thu năm 1974, chúng tôi tin là đã chỉ còn có được hai cách hành xử khả chấp mà thôi. Tổng Thống Thiệu có thể tự nêu lên đề tài uy tín của chính phủ và để cho người dân quyết định là liệu họ có còn muốn ông ta lãnh đạo đất nước nữa hay không bằng một cuộc trưng cầu dân ý toàn nước. Còn không thì ông ta vẫn có thể chứng minh là mình hoàn toàn không tham quyền cá nhân bằng cách tự ý từ nhiệm và giúp cho đất nước có được cơ hội thử nghiệm với một giới lãnh đạo mới tinh mà cũng có thể hiệu quả hơn mà thôi. (In đậm màu là do người chuyển ngữ)

Chủ trương không nhượng bất kỳ tấc đất nào bằng mọi giá của Tổng Thống Thiệu thì cũng nhứt trí với chính sách chống Cộng của Nam Việt Nam và hoàn toàn là để đáp ứng một tình trạng gây ra bởi một cuộc ngưng bắn tại chổ. Vì địch sẽ có thể tự xưng thuộc quyền của chúng những nơi mà không có quân đội của chúng ta, nên quả thật thiết yếu là chúng ta phải bám giữ mọi tiền đồn, thôn làng và quận lỵ, đặc biệt là các vùng hẻo lánh xa xôi rất ít dân cư hay thậm chí còn nằm ngay trung tâm của chính các hậu cứ địch.

  • • •

Vì địch đã không ngừng vi phạm Hiệp định . . . chính sách này cũng đã không còn đáp ứng được nữa với các nhu cầu của Nam Việt Nam, đặc biệt là với Ngân sách năm 1973, khi mà Hoa Kỳ bắt đầu cắt giảm viện trợ quân sự.

  • • •

Lần Tan Hàng Cuối Cùng

Sự kiện miền Nam Việt Nam sụp đổ nhanh chóng đã khiến gần như mọi người phải ngở ngàng, kể cả mọi tầng lớp trong xã hội Nam Việt. Đã không có bất kỳ ai, kể cả địch, mà đã nghỉ được là cái QLVNCH với số triệu quân đó làm sao lại bị tan rã một cách bi đát như vậy chỉ trong có 45 ngày mà thôi. Việc này chỉ là kết quả của sự kiện tinh thần chiến đấu của toàn dân đã bị hoàn toàn sụp đổ mà đã bao trùm toàn dân và luôn cả quân đội miền Nam Việt Nam kể từ giữa tháng 3 năm 1975.

Quyết định thay đổi chiến lược của Tổng Thống Thiệu, để bỏ chủ trương “giữ mọi tấc đất bằng mọi giá”, thì cũng đã không còn tránh được nữa; ông ta cũng không còn giải pháp nào khác. Có điều quá ư xui xẻo là nó đã được thi hành quá trễ mà cũng không được soạn thảo cùng chuẩn bị kỹ lưỡng cho được thích đáng. Do đó, quyết định bất thình lình này đã đến như là một đòn giáng nặng nề về tâm lý, với đầy ẩn dụ thất trận. Nó đã khiến cho việc điều hành quốc gia càng cực kỳ khó khan, lẫn gây bối rối cho các vị chỉ huy liên hệ tại chiến trường, và nó lại còn gieo đầy lo ngại với mối ưu tư từ lâu trong quân đội cùng thường dân, mà tinh thần đã cứ không ngừng suy xụp bởi sự dửng dưng không phản ứng trước những vi phạm lộ liễu của Cộng sản. Cho dù tiến hành chậm trể, chiến lược này thì cũng đã có lý và khả thi được tại nhiều khu vực trên toàn quốc, nếu mà Tổng Thống Thiệu và Bộ Tổng Tham Mưu đã có chuẩn bị trước đó rồi.

  • • •

Việc Tổng Thống Thiệu tự mình nghiên cứu phân tích tình hình để rồi tự một mình lấy quyết định, không hề thông báo trước cho vị đại sứ Hoa Kỳ hay Trưởng Phòng Tùy viên Quân sự Hoa Kỳ USDAO quả thật là không thể nào hiểu được vì tầm quan trọng và các hệ quả sẽ có của nó. Điều không chối cải được là ông ta rõ ràng biết là miền Nam Việt nam sẽ không thể nào tự phòng vệ mà không có được yểm trợ. Ông cũng biết là quân viện Mỹ là điều thiết yếu cho sự sống còn của Nam Việt Nam. Do đó, khiến Hoa Kỳ ngở ngàng trước một việc đã rồi thì quả thật hoàn toàn có hại cho tương lai của VNCH, bởi vì nó đã không để cho các thẫm quyền Mỹ thời giờ để soạn kế hoặch và chuẩn bị yểm trợ, nhứt là trong các tình trạng khẩn cấp như là di tản Huế với Đà Nẳng. Chính thất bại không giải quyết thỏa đáng được việc di tản người tỵ nạn cho kịp thời mà đã gây ra cho QĐ I bị tê liệt cùng tinh thần quân cán chính tại dó bị sụp đổ tan tành luôn theo.

Việc thực thi chính sách “giữ được chừng nào hay chừng đó” đã bắt đầu với quyết định di tản khỏi Kontum và Pleiku, một khu vực vẫn từng được xem như là quan trọng về chiến lược khả dĩ thiết yếu mới bảo vệ cho được vùng đồng bằng ven biển. Ngay khi phát động thì hành động này cũng quá ư hiểm nguy, sai lầm và quá thô thiển. Nó đã khiến dân cư và các đơn vị quân sự tại chổ bàng hoàng và gây ra hổn lọan. Hành động quá hấp tấp, rồi cùng với sự im lặng không giải thích gì cả về phía chính quyền đã càng khiến mọi người tin là phần đất này đã được giao cho Cộng sản theo những thỏa ước mật. Khi nghỉ là mình đã bị thí để làm con tin cho bọn Cộng sản, người dân địa phương đã bèn đổ xô về vùng ven biển chung với các đoàn quân xa của QĐ II.

Lệnh chính thức của tổng thống nhằm “tái phối trí lực lượng chính quy từ Kontum và Pleiku về Nhatrang để tái chiếm Ban-mê-thuột“ thì là một sứ mệnh bất khả thi. Cho dù việc tái phối trí mà có thành công thì việc tái chiếm Ban-mê-thuột cũng vẫn không thể  thực hiện thành công được, nếu chỉ với các đơn vị tái phối trí mà thôi. Sẽ phải cần bung vào trận toàn lực lượng tổng trừ bị thì mới hoàn tất được nhiệm vụ này, nhưng các sư đoàn Dù và TQLC thì lại đang được phối trí mất rồi cho QĐ I. Điều vô lý thứ nhì đã là bỏ lại để mặc cho các vị tỉnh trưởng cùng các đơn vị Địa Phương Quân và Nghĩa Quân phải tự lo liệu. Hành vi này thì cũng không khác gì bỏ mặc họ cho bộ đội Bắc Việt ra tay tàn sát mà thôi, một sự hy sinh quá lớn để chấp nhận mà lại có khả năng làm suy yếu tinh thần các đơn vị Địa Phương Quân và Nghĩa Quân ở những địa phương khác và luôn cả các lực lượng bán quân sự khác luôn. Sự tan rã sau đó của cảnh sát, ĐPQ, NQ và các bộ chỉ huy vùng mà đã từng kế tiếp nhau xảy ra trước cả mấy tuần cuối cùng của Nam Việt Nam, thì có lẻ cũng là hậu quả bi thương của hành vi nông cạn này. 8

Tư lệnh QĐ/QK II đã tỏ ra không thẳng thắng và thành thật khi nhận lệnh, mà xem ra chỉ vì muốn làm vừa lòng vị tổng thống mà thôi. Tổng Thống Thiệu có hỏi đương sự là có nghỉ sẽ tái chiếm lại được Ban-mê-thuột hay không, và như vậy thì cũng có nghĩa là được quyền có thì giờ thêm để nghiên cứu việc này. Trong tư cách là Tổng Tham Mưu Trưởng Liên Quân, tôi [Tướng Cao Văn Viên] cũng có lưu ý là QĐ II phải biết là Bộ Tổng Tham Mưu không có khả năng để gởi tăng viện, điều có nghĩa là họ sẽ phải hoàn thành sứ mệnh với ngay chỉ các lực lượng họ đang có được, trong công tác khó khăn đó. Tôi cũng còn lưu ý tới tính cách phiêu lưu của sứ mệnh qua các thất bại trong quá khứ của Pháp khi họ cũng cố gắng làm như vậy. Khi làm như vậy, tôi nghỉ là đã giúp cho Tướng Phú một cơ hội cực tốt để yêu cầu tổng thống cho ông ta thêm thì giờ hầu có thể nghiên cứu trong chi tiết cái lệnh đó. Nếu mà Tướng Phú đủ thẳng thắng và can đãm để dám yêu cầu như vậy thì chắc chắn là ông ta cũng sẽ nhận chân ra được tính cách bất khả thi của công tác đó, mà cũng sẽ báo cáo lại như vậy với tổng thống mà thôi. Rồi thì, có thể Tổng Thống Thiệu cũng sẽ tái xét lại cái quan niệm tái phối trí, vì chính những hệ lụy nghiêm trọng về tâm lý lẫn quân sự sẽ xảy ra, và từ đó mà nghiên cứu các giải pháp khác.

Chúng tôi thiết nghỉ, vì mục tiêu tức thời của ông ta là phải tái chiếm Ban-mê-thuột, thì ông ta sẽ cũng phải chỉ dùng tới những lực lượng ngoài Kontum và Pleiku để thi hành sứ mệnh này. Điều này thiết yếu để giữ cho binh lính và thường dân thuộc QK II được yên tâm. Rồi kế tiếp thì đã phải soạn thảo thật cẩn thận kế hoặch di tản khỏi Kontum và Pleiku hầu sẽ không gây ra bất kỳ hệ lụy nào về mặt tâm lý khi mang ra thực hiện.

Sự kiện Tổng Thống Thiệu đích thân ra lệnh và hướng dẫn trực tiếp cho Tướng Phú để thi hành một sứ mệnh “tối mật” thì cũng đã đặt Bộ Tổng Tham Mưu trong một vị thế khó xử. Như vậy thì Bộ sẽ phải chờ cho tới khi đã nhận được kế hoặch của Tướng Phú rồi thì mới có thể cung cấp về yểm trợ cần thiết. Điều đáng tiếc là Tướng Phú cũng đã không hề liên lạc hay đệ trình bất kỳ kế hoặch nào cả cho Bộ, trước khi phát động cuộc rút quân. Tin tưởng là mình có được yếu tố bất ngờ, ông ta đã không soạn thảo chiến dịch cho thật đúng đáng.

  • • •

Các lệnh cho mấy tiểu khu Phú Bổn và Tuy Hòa phải phụ trách bảo vệ an ninh dọc Đường Số 7B của Tướng Phú đã thật là vô trách nhiệm. Không những đã không hề có được đủ đơn vị Địa Phương Quân hầu đãm trách một nhiệm vụ quá mức như vậy (kéo dài cả tới 160 dặm Tây), mà gần cả 100 dặm Tây của đường này thì từ lâu nay cũng đã không hề từng được ngay chỉ là thăm dò. Đúng ra để bảo đãm an ninh cho con đường này, ông ta đã phải tung các đơn vị Biệt Động Quân chiếm đóng trước các vị trí chế ngự dọc đường, và nhân đó cũng bổ sung cho các lực lượng tại đó, và giúp cho công binh tái lập lưu thông cho kịp thời. Chúng tôi nghỉ là nếu Tướng Phú đã thi hành như vậy cùng phối hợp chung với những biện pháp đánh lạc tại Pleiku và Kontum thì việc tái phối trí của ông ta có thể thành công được.

Yếu tố bảo mật mà Tướng Phú mong muốn có, cũng như là hy vọng chờ đợi, thì cũng đã không kéo dài lâu được. Khi đoàn xe đầu tiên rời khỏi Pleiku thì dân chúng cũng đã được báo động là có khả năng sẽ phải di tản. Điều này thì cũng không thể tránh được trong bối cảnh của Cuộc Chiến Việt Nam. Trong bao năm trời, người dân đã vẫn nương tựa nơi quân đội để bảo vệ an ninh cho họ. Vì vậy họ vẫn luôn luôn theo dõi các gia đình binh sĩ cùng các đơn vị; nếu binh sĩ cùng gia đình mà bỏ đi vì địch tấn công thì họ cũng bèn bỏ đi luôn theo. Về phía địch thì chúng cũng thực sự bị bất ngờ trước việc tái phối trí đột xuất này luôn. Dù vậy, chúng cũng đã bèn tung lực lượng đuổi theo liền.

  • • •

Chúng tôi nghỉ là vào thời điểm đó, miền Nam Việt Nam cũng đã không còn có thể giữ cho người dân khỏi bị khủng hoảng vì sẽ thất trận, hay có thể tái lập lòng tin cậy nơi chính quyền của họ. Các lời thề của Tổng Thống Thiệu là sẽ “giữ bằng mọi giá” không có được ảnh hưởng gì đến nhân dân, hay kể cả luôn các binh sĩ trong QLVNCH luôn. Hiện tình chỉ là QLVNCH nay không còn đủ lực lượng trừ bị để giúp cho QĐ II thiết lập cho được một tuyến phòng thủ có hiệu quả, hay để tung ra cho được những trận phản công cho được thành công, hầu mang lại lòng tin tưởng nơi người dân và quân đội. Tuy Bộ TổngTham Mưu cũng đã có một kế hoặch đột xuất hầu rút một sư đoàn bộ binh từ QK IV trong trường hợp khẩn cấp, nhưng kế hoặch này cũng đã bị bất khả thi vì áp lực nặng nề của địch ở Châu thổ sông Cữu Long và tình trạng vô hy vọng về tinh thần của toàn quốc. QLVNCH thì cũng không còn hy vọng có thể được Mỹ yểm trợ như thời ky năm 1972 để có thể tái trang bị các dơn vị, củng cố lại phòng thủ, để rồi phản công.

Vài chiến thắng như từng xảy ra tại Quân đoàn IV ở Long An và Cần Thơ, việc thành công sử dụng các loại bom lữa cùng CBU 9 và thậm chí cả “daisy cutters ~ hái cúc” 10 của Không Quân VNCH và các trận chiến oai hùng của Sư đoàn 18 Bộ Binh trước cả tới ba sư đòan bộ đội Bắc Việt tại An Lộc, thì nay cũng không còn có thể ngăn chận lại được tình trạng tinh thần quân dân cứ bị tan nát mà thôi. Mọi người đều mong chờ một hành động mạnh mẽ của Mỹ nhằm ngăn chận lại các trận tán công của những sư đoàn Bắc Việt. Nhưng đã không còn hy vọng nào nữa khi sau chuyến viếng thăm của Tướng Weyand và Quốc hội, Mỹ vẫn bác bỏ mọi viện trợ quân sự bổ túc thêm cho Nam Việt Nam.

Thái độ tiêu cực của Chính phủ Hoa Kỳ trước những vi phạm của Cộng sản, hành vi Quốc hội Mỹ bác bỏ mọi viện trợ quân sự bổ túc thêm cho Nam Việt Nam, việc di tản nhân viên cácTòa Lãnh sự Mỹ tại QK I và QK II, rồi thì là của luôn cả Tòa Đại sứ tại Sài Gòn, mọi biến chuyển đó đã cùng đóng góp cho tinh thần quân dân khắp miền Nam bị sụp đổ luôn theo.

Những Bài Học Đáng Kể

1.
Hiệp định Ba Lê đã không hề chấm dứt chiến trận để thật sự mang lại hòa bình cho nhân dân miền Nam Việt Nam, bởi vì Cộng sản vẫn cứ tiếp tục tung ra các trận tấn công trên khắp toàn quốc . . .

2.
Thái độ của Hoa Kỳ đã ảnh hưởng mạnh mẽ tới việc triệt thi ngưng bắn. Trong số bốn thành viên đồng ký Hiệp định Hòa bình thì duy chỉ Mỹ mới có thẫm quyền cùng phương tiện thực sự để buộc mấy thành viên kia phải tuân hành thỏa ước. Do đó, sau khi Tổng Thống Nixon . . . đã từ chức, thái độ cùng hành động của Chính phủ Hoa Kỳ trước các vi phạm vang dội của Cộng sản, cũng như là [đối với] viện trợ cho Nam Việt Nam, thực sự đã khiến cho Bắc Việt thêm tự tin hầu xúc tiến mưu đồ xâm lấn miền Nam Việt Nam mà không sợ sẽ bị trùng phạt . . .

Về phương diện uy tín của một uy quyền lãnh đạo trên thế giới, về nghĩa vụ tinh thần đối với một đồng minh trường kỳ, ngay chính trách nhiệm của mình chiếu theo Hiệp dịnh Ba Lê là phải bắt buộc các thành viên kia thực thi nó, chúng tôi nghỉ là đúng ra, Chính quyền Hoa Kỳ đã phải có một tư thế cương quyết và phản ứng mạnh mẽ chống lại các vi phạm nhưng bắn của Cộng sản. Nếu mà họ đã thực hiện những điều đó thi chúng tôi nghỉ là các vi phạm đó đã không lên tới cao điểm như đã từng xảy ra, và rồi có thể số phần bi đát của miền Nam Việt Nam cũng đã tránh được thôi.

3.
Chiến đấu chống Cộng đã là phương hướng hành động duy nhất mà miền Nam Việt Nam có thể nắm lấy hầu tiếp tục được trong tự do và dân chủ. Đã không còn phương cách nào khác cả, và không bao giờ có được giải pháp nào mà có thể thay cho chiến thắng được Đoàn kết chính trị và sức mạnh về quân sự đã là hai yếu tố mà chúng ta cần phải có được, để mới đạt được chiến thắng cho miền Nam Việt Nam.

Tổng Thống Thiệu đã không có can đãm và khả năng để đem đến được những điều kiện thuận lợi cho việc đoàn kết quốc gia. Uy tín chính trị của ông đã bị sút giẩm trầm trọng sau lần “độc diễn” năm 1971, một biến chuyển mà đúng lý dã không thể nào xảy ra được tại một quốc gia dân chủ. Uy tín ông ta lại càng giảm thêm khi ông ta chấp thuận tham dự vào hòa đàm trong vị thế tương đương như MTGPQG, rồi ký chấp nhận một thỏa thuận mà đã hợp pháp hóa sự hiện hữu tại miền Nam Việt Nam của hai chính phủ và hai quân đội, lại còn chuẩn chấp một tu chính hiến pháp hầu cho phép ông ta ứng cử lần thứ ba, và không bao giờ thành thật hay nồng nhiệt trong việc loại bỏ các thành phần tham nhũng và bất tài trong chính phủ của mình. Rồi thì chút ít uy tín chính trị còn lại của Tổng Thống Thiệu cũng đã hoàn toàn tan biến khi Tổng Thống Nixon phải từ nhiệm. Nếu lúc đó mà ông ta có đủ khôn ngoan để cũng từ chức để cho nhân dân chọn một vị lãnh đạo quốc gia khác thích hợp hơn cho tình hình lúc đó thì chắc chắn là ông ta cũng đã được tung hô như là một người ái quốc chân chính thành thật chỉ muốn tốt đẹp cho tương lai quốc gia mà thôi. Nhưng hành vi trì trệ ráng kéo dài của ông ta đã đưa đến tình trạng bất ổn về chính trị mà đã ảnh hưởng trầm trọng đến đoàn kết và tinh thần quốc gia. (In đậm màu là do người chuyển ngữ)

Trong cuộc chiến Việt Nam, cả hai bên QLVNCH và bộ đội Bắc Việt đều lệ thuộc vào viện trợ quân sự của ngoại quốc. Thực tế rõ ràng là cả hai bên hoàn toàn không đóng góp được gì cả cho quân đội của mình, ngoài yếu tố nhân sự. Nếu cả hai bên đều đã tiếp tục nhận được yểm trợ thích đáng thì cũng không bên nào mà lại có thể chiến thắng được và chiến cuộc rồi thì cũng sẽ cứ kéo dài mãi mãi bất phân thắng bại mà thôi. Tuy nhiên Hioa Kỳ đã bỏ cuojc quá sớm, ngay cả trước khi chương trình Việt Nam Hóa được kết thúc, trong khi khối Cộng thì vẫn cứ không những tiếp tục, mà cón tăng cường thêm viện trợ cho Bắc Việt. Các cắt giảm viện trợ đậm đà của Mỹ, nhất là vào ngay lúc mà bọn Cộng lại đang tăng gia nổ lực xâm lấn, thì cũng đã buộc QLVNCH phải cứ chiến đấu trong thiếu thốn về nhiên liệu và đạn dược, dù đã từng ráng thắt lưng buộc bụng lâu nay rồi. Sự kiện không chối cải được đã là ngân sách 1974 Mỹ dành để tài trợ về quân sự chỉ thỏa mãn được có độ phân nữa những nhu cầu thiết yếu tối thiểu của QLVNCH mà thôi . . .

4.
Hoa Kỳ đã quay ngược hoàn toàn hẳn lại về chính sách ngăn chận tại Đông Nam Á và đã mập mờ cung cấp cho miền Nam Việt Nam một “thời gian thích hợp ~ decent interval”, để rồi sau đó thì VNCH sẽ phải tự xoay trở mà thôi. Do quá tin nơi lời hứa của Hoa kỳ là sẽ tiếp tục yểm trợ và giúp đở, Chính Phủ VNCH đã trở nên tự mãn và thiển cận để không tự soạn thảo một chiến lược thích nghi hầu phòng vệ cho mình trong trường kỳ. Và kết quả chỉ là khi phải đối mặt với thực tế, thì mọi việc cũng đã quá trể mất rồi.

5.
Sự thay đổi bất ngờ về chiến lược phòng thủ của Nam Việt Nam đã đưa đến quyết định vội vã bỏ thí Pleiku với Kontum vào ngày 16 tháng 3 năm 1975. Hệ quả bi thương của quyết định này cũng đã phá nát tinh thần của QLVNCH và người dân miền Nam Việt Nam, mà đã từng bị lung lay trước thái độ lạnh lùng dửng dưng của Mỹ trước thái độ tăng gia tiến công của Cộng, cũng như là đối với các cắt giảm viện trợ rất ư là đau đớn. Phân nữa lãnh thổ miền Nam đã bèn lọt vào tay dịch, không vì là kết quả của tính cách mạnh mẻ hiếu chiến từ phía địch, mà chính yếu chỉ là tình trạng tinh thần bị sụp đổ và việc rút lui của các lực lượng tác chiến. Trên đường đổ xô xuôi Nam, chính làn sóng tỵ nạn cũng đã khiến cho một số đơn vị quân sự tan rã hoàn toàn luôn theo.

Với phân tích tối hậu này, đó cũng đã là kết quả cuối cùng của một tiến trình xây dựng quốc gia. Sức mạnh của miền Nam Việt Nam và của quân đội thì lại đã được tổ chức theo kiểu chính yếu là dựa trên ngoại viện, thay vì là trên các phương tiện đang có được của quốc gia. Và do vậy, số phần của Nam Việt Nam cũng đã tùy thuộc vào mấy người bạn Mỹ mà thôi.


V.  KẾT LUẬN

Cuộc chiến mà Bắc cộng đã tiến hành trong miền Nam 5 năm sau Hiệp định Giơ Neo đã nhắm vào hai mục tiêu: thống nhất toàn Việt Nam bằng võ lực cùng chiến thắng “đế quốc Hoa Kỳ”. Bắc Việt đã hoàn thành được mục tiêu đầu sau bao nổ lực trường kỳ và cương quyết mà đã kết thúc qua sự đầu hàng nhục nhã của QLVNCH vào ngày 30 tháng 4 năm 1975. Tuy nhiên bất chấp mọi kheo khoang của họ, Bắc Việt cũng đã không hề thực hiện được mục tiêu thứ nhì, bởi vì Hoa Kỳ cũng đã khôn ranh chấm dứt các nổ lực không dứt khoát của họ mất rồi với Hiệp định Ba Lê.

  • • •

Về một khía cạnh nào đó, cuộc chiến Việt nam đã là một trận thi đua giữa ý chí và sức mạnh về quân sự.  Do biết rõ là sẽ không thể nào mà chiến thắng được VNCH và Hoa Kỳ bằng quân sự, Cộng sản cũng đã thành công qua chí kiên trì và cương quyết ngõ hầu dứt điểm chúng ta. Quyết chí đánh chiến miền Nam của Bắc cộng và đánh gục “đế quốc Mỹ” đã bất biến xuyên suốt toàn thời kỳ cuộc chiến đã xảy ra, từ ngay tại chiến trường hay luôn qua các lần hòa đàm. So sánh với phía Mỹ thì quả thật cái ý chí của Hoa Kỳ thì cũng không vững được như vậy mà lại còn tàn lụn dần theo với thời giờ mà thôi. 

Quyết chí của Mỹ nhằm ngăn chận không cho chủ nghĩa Cộng sản có thể bành trướng được ở Đông Nam Á đã lên đến cao điểm với sự can dự của họ vào năm 1965, và cũng không hề thay đổi mãi cho tới năm 1967, bất kể phong trào phản chiến quốc nội của họ cứ đang lan rộng. Nhưng rồi, sau ba năm chiến trận sôi động với sự tham dự của cả nữa triệu quân nhân và những trận không tạc với những mục tiêu đã có lựa chọn trước đánh xuống Bắc Việt, Mỹ đã bắt đầu nao núng khi nhận chân ra là không có hy vọng để chiến thắng được.

Sau trận công kích Tết Mậu Thân, quyết tâm của Mỹ đã cứ càng sa sút, khi mà sau bao lần cam kết, nay Mỹ lại đã quay ra thương thảo tìm hòa bình và đơn phương ngưng không tạc, đi từ nhượng bộ này qua nhượng bộ khác mà thôi, để nhằm rút chân ra khỏi cuộc chiến.

Mỹ rồi cuối cùng cũng đã bỏ cuộc khi họ quyết định triệt để cắt bỏ quân viện cho Nam Việt Nam mà lại còn đứng dửng dưng lạnh lùng trước việc Cộng sản đã cứ tăng gia đánh lấn, mà hoàn toàn không thiết gì tới các cam kết từng đã có với Chính phủ VNCH, cùng các nghĩa vụ chiếu ngay theo Hiệp Định Ba Lê. Sự đảo ngược chính sách này thì cũng đã khuyến khích phe Cộng để chúng lại càng thêm quyết tâm mà thôi. Rồi cùng lúc thì nó cũng làm nguy hại đến ý chí cương quyết tự lực cánh sinh tiếp tục đơn chiếc chiến đấu của miền Nam Việt Nam.

  • • •

Bọn Cộng . . . vẫn dùng mọi mưu mô cùng tuyên truyền xảo quyệt để làm suy sụp tinh thần của binh lính VNCH. Tuy nổ lực tẩy não này rồi sẽ cũng là một mục tiêu chính yếu trong chiến lược của Cộng sản, nhưng nó đã hoàn toàn thất bại trong mưu đồ làm thay đổi tư tưởng của các quân nhân chúng ta. Chính việc tinh thần của Hoa Kỳ bị gẫy sụp thì cuối cùng mới đã làm tan nát tinh thần miền Nam Việt Nam và đưa đến chiến thắng của Cộng sản. Trong một cuộc chiến về ý chí, ta phải có một ý chí mạnh hơn hay bền vững hơn để làm địch phải nản lòng trước.

Sức mạnh của Hoa Kỳ về phương tiện và về quân sự thì đã không hề dược sử dụng cho đúng đáng hay cho đúng chổ hầu đạt cho được mục tiêu chính yếu là đánh sụp quyết chí của Bắc Việt trong mưu đồ xâm lược, và luôn cả mục tiêu thứ nhì là chận đứng lại việc xuôi Nam để xâm nhập bộ đội cùng vật tư. Cái chiến lược “đáp trả từng mực ~ gradual response” được áp dụng khi không kích Bắc Việt đã thất bại trước một đối thủ tuy nhỏ nhưng lại đầy thủ đoạn và bền bỉ. Phương cách đánh bom cùng kiểu chọn lựa mục tiêu của Hoa Kỳ đã không thể nào mà mang lại cho được một chiến thắng mau lẹ. Ngược lại thì cuối cùng, cái chiến lược này lại bất lợi cho Mỹ về nhiều phương diện. Trước hết, chiến thuật không tạc kéo dài chỉ trên một quy mô nhỏ, cộng thêm với một khuôn mẫu quen thuộc thì chỉ gây thêm nhiều tổn thất cho Hoa Kỳ mà thôi. Thứ đến, nó cũng đã để cho Bắc Việt có được thì giờ mà tối tân hóa và tăng cường về phòng không bằng viện trợ của Liên Xô và Trung cộng, trong khi vẫn ráng cố gắng giúp cho người dân tự thích hợp cho được về mặt tinh thần. Thứ ba thì do nơi thiệt hại cứ tăng thêm lên, người dân Mỹ cũng đã bị rúng động về tinh thần và cũng đẩy mạnh phong trào phản chiến quốc nội.

Chúng tôi tin là quyết chí của các lãnh đạo tại Hà Nội đúng ra đã phải bị tan nát và chiến trận cũng đã có thể chấm dứt trong vòng chỉ vài năm sau năm 1965 nếu các trận không tạc đã xảy ra toàn lực với một thái độ cương quyết, đánh thẳng vào những mục tiêu yếu điểm nhất của Bắc Việt: các bến cảng, mà vẫn đang được dùng để đón nhận vât liệu chiến tranh; hệ thống đê điều bảo vệ các ruộng lúa thiết yếu của Bắc Việt. Mức độ và các mục tiêu trong các trận không kích và các chiến dịch phong tỏa hải cảng của Hoa kỳ vào dạo cuối 1972 cũng đã cho chúng ta thấy được là đúng ra đã phải có thể đạt được hơn biết bao nhiêu là điều, nếu mà đã từng có nhiều biện pháp quyết liệt hơn đã được thi hành. Tuy nhiên nếu mà vì những lý do chính trị và nhân đạo, Hoa Kỳ đã không thể lấy cho được quyết định để xử sự như vậy, thì chúng tôi tin là khôn ngoan hơn, họ cũng đã không nên mở rộng không kích ra ngoài Bắc làm chi.

  • • •

Sự thất bại của Mỹ trong việc đánh phá hệ thống đường xâm nhập xuôi Nam của Bắc cộng tại Hạ Lào đã chứng minh là chỉ riêng không lực thì có lẽ không thể đáp ứng được đúng đáng cho công tác này, dù cho có được lợi thế về kỷ thuật. Chúng tôi tin là nếu muốn kiểm soát việc xâm nhập của địch tại vùng đó cho được hiệu quả thì đúng ra không kích đã phải được phối hợp với bộ binh. Do đó, quyết định nới rộng chiến trận qua luôn Hạ Lào cũng là một nhu cầu chính đáng và cực kỳ cần thiết. Cũng vì Bắc Việt vẫn đang dùng vùng Hạ Lào trong những mưu đồ quân sự, bất chấp nền trung lập của quốc gia đó, Chính phủ VNCH cũng phải có cái quyền tự vệ chính đáng bằng cách phản công về quân sự hầu ngăn chận việc xâm nhập đó. Chúng tôi tin là nếu bóp nghẹt được thông lộ đó thì toàn hệ thống hậu cứ của địch cũng sẽ tự tàn lụi vào đúng lúc mà thôi.

  • • •

Từ đầu tới cuối, Cuộc Chiến Việt Nam đã vẫn luôn luôn là một cuộc nổi loạn được nuôi dưởng nhờ việc xâm nhập và phụ giúp bởi các trận tấn công từ Bắc Việt. Do nơi mục tiêu tối hậu là lật đổ chính phủ VNCH, nên đặc tính dấy loạn mới là thành phần quan trọng nhất của cuộc chiến, với các lực lượng chính yếu thì chỉ phụ trợ mà thôi. Chính việc dấy loạn hay các hành vi nhằm lật đổ chính quyền mới đã ảnh hưởng đến nền an ninh của người dân, cũng như đến thái độ của họ dối với chính phủ Quốc Gia, hơn là các trận chiến long trời lở đất ở vùng phi quân sự hay ven biên giới. Vì vậy, một chính sách chống dấy loạn đã cần phải là nền tảng và ưu tiên trong các nổ lực quân sự của chính phủ VNCH.

  • • •

Thật đã quá ư bất lợi là ngay từ ban đầu, chúng ta đã không có được bất kỳ kế hoặch bao quát nào cả, để nhằm tạo căn bản cho một chiến lược chung và thiết lập một hệ thống để kiểm soát điều hành cuộc chiến. Phải chờ mãi đến năm 1967 thì Bộ Tổng Tham Mưu và MAGV 11 mới hàng năm cùng nhau thiết lập cho được cái Kế Hoặch Phối Hợp Hành Quân (Combined Campaign Plan CCP) mà, tuy không như lý tưởng đặt ra, cũng đã là một tiến bộ đáng khen trong nổ lực chiến đấu chung. CPP đã không như ý vì nó đã không được đặt đúng vào bối cảnh như mong đợi, và bởi vì bộ máy kiểm soát chiến trận đã không được điều chỉnh để phối hợp cùng thống nhất cho được hầu đem lại hiệu quả cho các nổ lực chiến tranh Việt Mỹ. Chẳng hạn, vị tư lệnh của MACV cũng không có toàn quyền kiểm soát mọi cơ quan Hoa Kỳ có can dự trong công tác bình định, cho dù ông ta là người chịu trách nhiệm về công tác đó. Cũng vậy, Tham Mưu Trưởng và Bộ Tổng Tham Mưu không có quyền gì đối với các cơ quan dính líu vào chương trình bình định, trước sự kiện là nhiều khía cạnh trong CCP cũng đòi hỏi sự thi hành và đóng góp nhiệt tình của họ. Tuy bị vướng vài yếu kém nhưng CCP đúng ra cũng đã phải mang lại kết quả tốt hơn nếu mà nó đã được thành lập vài năm trước đó, chẳng hạn như là ngay khi phát động MACV luôn. Nếu được như vậy thì các hành động quân sự cũng đã phải mang lại được những kết quả lâu dài về bình định, bởi vì cũng đã có được các chương trình dân sự phụ giúp và kế tiếp theo, mà rồi nhờ vậy cũng sẽ ít tốn thì giờ và tiền của nhờ các yểm trợ quân sự và một hệ thống bảo vệ an ninh thường trực. Và do đó, đúng ra quan niệm “Chỉ Một Cuộc Chiến”, thay vì ba chiến trận khác nhau – phát triển, bình định và quân sự – cũng đã phải được phát triển trước sớm hơn nhiều, như chỉ là cái kêt quả phải có mà thôi.

  • • •

Về quân sự, trên hết tất cả, yếu tố thống nhất chỉ huy mọi lực lượng đang tham dự cũng phải là chìa khóa của thành công. Không thành công được để phát động một bộ chỉ huy phối hợp hầu đạt cho được sự thống nhất này, cũng đã thật là đáng chê trách về mặt quân sự. Tuy nhiên về phương diện chính trị và tâm lý, thì việc này lại nâng cao chính nghĩa của Chính Phủ VNCH và giúp cho nhà cầm quyền thực hiện được toàn vẹn chủ quyền quốc gia vừa mới có được và khiến mọi người lại càng tin tưởng vào truyền thống chống thuộc địa của Hoa Kỳ. Do đó, nguyên tắc hợp tác và phối hợp cũng đã bàng bạc trong suốt toàn cuộc chiến, như là để dùng thay thế chính sách chỉ huy phối hợp. Nó có chứng tỏ là hiệu quả trong việc tiến hành chiến cuộc, không gây ra bất kỳ trở ngại đáng kể nào cả cho các nổ lực phối hợp về quân sự giữa Chính Phủ VNCH và các lực lượng Mỹ.

  • • •

Tuy vậy, đúng ra nếu mà đã có được một cơ cấu chỉ huy phối hợp được ban hành ra thì trong trường kỳ, chiến cuộc cũng đã phải khác hơn và còn có thể cũng đã mang lại nhiều hiệu quả hơn cho miền Nam Việt nam. Dù sao thì nếu đã từng có một vị tướng Mỹ đứng ra chỉ huy trên tổng quát, thì [rõ ràng] xem ra Hoa Kỳ mới có trách nhiệm mà càng làm cho họ càng bị dính líu sâu đậm hơn mà thôi. Do đó, ngay cả trong hoàn cảnh chiến trận bất phân thắng bại, thì Mỹ cũng không thể nào mà phủi tay để rời khỏi chiến trường được một cách dể dàng, bởi vì danh dự cùng niềm tin đặt nơi họ như là một sức mạnh lãnh đạo hàng đầu trên thế giới cũng sẽ bị lung lay. Rồi họa chăng, ý chí quyết thắng của Mỹ sẽ khả dĩ có thể cứng rắn và bền vững hơn.

  • • •

Mục tiêu dẹp bỏ hạ tầng cơ sở của Việt cộng đúng ra đã phải là một công tác chiến lược ưu tiên vào giai đoạn tiên khởi của tiến trình lập quốc. Chính hạ tầng cơ sở của Việt cộng, chứ không phải là mấy đám du kích hay lực lượng địa phương, mới là nồng cốt của bọn dấy loạn. Chừng nào mà hạ tầng cơ sở của Việt cộng vẫn còn hiện diện thì vô phương mà tiêu diệt cho được cái đám du kích cứ vẫn chỉ có thể tồn tại, được yểm trợ và tăng trưởng bằng cách dựa vào đó. Cũng thật rõ ràng, khi mà hạ tầng cơ sở của Việt cộng đã bị cô lập, vô hiệu hóa và dẹp sạch đi thì các hành vi phá hoại cùng khủng bố cũng từ từ tan biến luôn theo, cũng bởi vì du kích thì không thể nào mà tồn tại được nếu mà không có được thay thế về nhân sự, tiếp tế với tin tình báo. Chúng sẽ bắt buộc phải trốn về các vùng khác để trở thành cực kỳ dể dàng cho các hoạt động an ninh của chúng ta loại bỏ. Do đó, việc dẹp sạch hạ tầng cơ sở của Việt cộng cũng đã là điều kiện thiết yếu về an ninh trong số các ưu tiên quốc gia.

  • • •

Như là những đơn vị lưu động có khả năng tự lực cánh sinh, các sư đoàn bộ binh của QLVNCH đã thật là tuyệt hợp cho vai trò như là lực lượng trừ bị chiến lược; chúng ta cần phải luôn luôn ghi nhớ diều này. Các sư đoàn Dù và TQLC đã từng được sử dụng như là lực lượng tổng trừ bị của QLVNCH cũng bởi vì đang trong tư thế khả dụng với thêm truyền thống tác chiến không ai dám chê, thay vì là do nhu cầu chiến thuật. Rồi với các trực thăng thì các chiến dịch có nhảy dù tham dự cũng đã không còn là đặc tính độc chiết riêng của lực lượng nhảy dù. Cũng vậy, TQLC cũng đã không từng bao giờ có được một cuộc hành quân đổ bộ quan trọng nào cả suốt trong toàn thời gian của cuộc chiến. Không kể đến các thành tích rực rỡ của họ, cách thức dụng quân về họ cũng đã gây ra vài rắc rối phiền toái về phương diện phối hợp và điều động có tính cách chiến thuật.

Còn đối với các sư đoàn bộ binh, đúng ra thì họ cũng đã phải được sử dụng như là những đơn vị riêng biệt và chỉ được đặt dưới quyền chỉ huy của Quân đoàn khi cần mà thôi. Điều này không có nghĩa là chúng ta không nên có hình thức bộ chỉ huy quân đoàn nhưng, bởi vì đúng ra về tiêu chuẩn tổ chức, hình thức Quân đoàn chỉ có tính cách chiến thuật mà thôi, và quân đoàn thì cũng không nên được giao phó cho bất kỳ trách nhiệm lãnh thổ thường trực nào cả.

  • • •

Như là những đơn vị nhằm ngăn ngừa địch, đúng ra thì các sư đoàn bộ binh QLVNCH phải chỉ được sử dụng để giáng một đòn chí tử xuống các đại đơn vị Bắc Việt khi chúng được nhận dạng ra hay đang bị bao vay và ghim cứng tại chổ bởi các đơn bị địa phương quân của chúng ta. Do đó, điều cực kỳ quan trọng ở đây là không bao giờ mà lại đi giao cho các sư đoàn bộ binh chịu trách nhiệm khu vực, hay cả luôn cho những công tác về an ninh trường kỳ mà rồi sẽ gây ảnh hưởng nguy hại cho đặc tính lưu động và cả luôn tinh thần của họ. Khi nói là dùng họ trên cương vị trừ bị về chiến thuật và chiến lược thì cũng không có nghĩa là cứ để họ an nhàn nằm chờ công tác mà thôi. Trong bối cảnh chiến tranh chống phản loạn, các sư đoàn bộ binh phải được dùng như là loại lực lượng xung kích để phụ giúp các đơn vị quân sự địa phương nghiền nát các đơn vị và du kích của địch tại địa phương, cũng như là cô lập chúng với hạ tầng cơ sở Việt cộng qua việc dẹp sạch hệ thống giao liên và tiếp tế của chúng.

  • • •

Về phương diện xây dựng và phát triển quốc gia, chính phủ VNCH có vẻ như là một kim tự tháp bị lật ngược đầu xuống đuôi. Nền tảng của chính phủ, tức là toàn bộ hạ tầng cơ sở về chính trị, quân sự và kinh tế ở dưới hết, thì lại yếu và nghèo nàn về mọi khía cạnh, từ phương tiện cho đến lãnh đạo. Ngược lại, phía trên thì lại đầy uy quyền và sung túc. Các đơn vị làng và xã chính là cái nền móng vững chắc của một quốc gia. Đa số người dân tại miền Nam đều sống ở nông thôn, cũng là nơi mà chiến trận Quốc Cộng cũng đang diễn ra. Do đó, tiến trình xây dựng quốc gia đúng ra đã phải bắt đầu từ nông thôn và đặt cơ sở ở đó và mọi nổ lực quốc gia thì cũng phải dành để củng cố nền tảng này luôn. Các nổ lực như là cải thiện các lực lượng Địa Phương Quân và Nghĩa Quân dạo 1961, tập trung chương trình bình định và phát triển vào các vùng ưu tiên trên toàn quốc dạo 1967, bành trướng lực lượng Nhân Dân Tự Vệ dạo 1968 và bung rộng lực lượng Cảnh Sát Quốc Gia về làng xã dạo 1970, thì cũng đều là những chuyển hướng theo con đường đúng đáng, nhưng lại đã quá trể mất rồi. Nếu mà tất cả các nổ lực và viện trợ của Mỹ đều đã được dồn về phục vụ cho hạ tầng cơ sở trong giai đoạn đầu (1955-1956), thì tình hình đúng ra đã khác hẳn thôi.

Tình trạng quốc gia bất thăng bằng này thì lại cũng bàng bạc ở khắp mọi nơi. Do nơi cuộc chiến Việt Nam, trên căn bản, chỉ là một chiến tranh chống phản loạn, nên lực lượng Cảnh Sát Quốc Gia cùng tổ chức tự vệ của toàn dân đúng ra [đã] phải là các lực lượng chính yếu để chống phản loạn; nhiệm vụ tổ chức và phát triển họ cũng đúng ra đã phải là công tác chính yếu hàng đầu. Đã thật là bất hạnh khi mà vào dạo 1968, lực lượng Cảnh Sát Quốc Gia chỉ có vỏn vẹn là 70.000 người mà thôi, một con số chắc thì cũng chỉ đáp ứng được cho một hoàn cảnh thái bình mà thôi. Lực lượng Nhân Dân Tự Vệ thì cũng là một vấn nạn vì từng đã không được tổ chức và duy trì một cách thích đáng khôn ngoan. Rõ ràng chính khi đặt ưu tiên để phát triển làm sao cho được một quân đội quá lớn, thì cũng đã là nguyên nhân chính của tình trạng bắt thăng bằng miên viễn này.

Và cũng vì vậy, chính quân đội cũng đã là nơi cứ hấp dẫn mọi thành phần ưu tú của đát nước mà thôi. Nhưng với một cuộc chiến trường kỳ và toàn vẹn, mà cũng đòi hỏi cùng lúc, vừa chiến đấu mà lại cũng phải xây dựng, thì cách thức làm sao cân bằng cho thỏa đáng việc phân chia nhân lực cho mọi phần hành, thì cũng phải là điều thiết yếu. Các biện pháp chỉ nhằm kịp thời cho phép tạm vượt qua được một tình trạng bất thăng bằng này, chẳng hạn như biệt phái quân nhân về phục vụ trong các cơ quan dân sự, hay cho phép tạm hoãn quân dịch với miển dịch, thì cũng chỉ giải quyết được phần nào đó mà thôi. Chúng tôi nghỉ là tình trạng thăng bằng cũng đã từng có thể thực hiện được rồi nếu mà QLVNCH đã được giữ hạn chế theo với một quân số mà đất nước có thể cam nổi trong trường kỳ một cách có hiệu quả.

Một cuộc chiến trường kỳ cũng rồi sẽ đòi hỏi chúng tôi phải trưng dụng mọi nguồn nhân lực trong nước, cả nam lẫn nữ, thì mới đáp ứng được cho các nhu cầu của quốc gia. Điều cũng thật rõ ràng là nhân lực miền Nam không thể nào đủ để cung cấp cho một quân đội cở một triệu quân, cho dù chúng tôi đã ráng hy sinh giảm thiểu số nhân sự đúng ra là đã phải dành cho các cơ quan khác. Chúng tôi thiết nghỉ tầm cở của một quân đội thích ứng cho một cuộc trường chiến thì đúng ra phải căn cứ nơi khả năng của toàn quốc để thích ứng được chỉ với số nhân lực do chính sách quân dịch cung cấp hàng năm (tuổi 18 tới 20). Theo chúng tôi, VNCH chỉ có khả năng có được một quân đội với cở 600.000 hay 700.000 quân nhân mà thôi, và quân đội của chúng ta cần chú trọng về phẫm hơn là về lượng. Quân đội sẽ đạt được đủ chất lượng với một số ít binh lính đó, nếu chỉ huy và kỷ luật tốt hơn. Một lực lượng cở trung bình mà tổ chức thì vững chắc, huấn luyện thì cẩn thận, kỷ luật thì tốt cũng như chỉ huy thì xứng đáng, theo chúng tôi, sẽ hiệu quả hơn là một đại quân tràn đầy nhược điểm. Tầm cở để cho một quân đội được hữu dụng thì cũng giúp ấn định được thời gian đúng đáng cho nghĩa vụ quân dịch và cho phép khả thi chương trình xuất ngũ bình thường. mà nhờ đó thì cũng làm giảm bớt được sự căng thăng thần kinh trước viễn tượng sẽ phải cứ phục vụ vô thời hạn, cái nguyên nhân của thái độ vô kỷ luật và biếng nhác trong quân ngũ. Chúng tôi tin là nếu QLVNCH đã được xây dựng nhỏ hơn lại thì cũng sẽ giúp cho công tác tăng cường các lực lượng chống phản loạn ở hạ tầng cơ sở và cân bằng lại được mọi nổ lực khác.

  • • •

Trong xuyên suốt thời gian tồn tại, từ ngày đầu có được tư cách là quốc gia, cho tới ngày không còn hiện hữu nữa, tiến trình lập quốc của miền Nam Việt Nam đã không do lãnh đạo của mình quyết định, nhưng trong một phần lớn nào đó, chúng ta phải công nhận như vậy, đã lại do các chính sách của Hoa Kỳ về Việt Nam và phần đất này của thế giới. Hậu quả đã là sự sinh tồn của miền Nam Việt Nam trong cuộc trường chiến chống Cộng thì lại đã lệ thuộc nơi sự “hiểu biết về Hoa Kỳ” và cái “khả năng thỏa hiệp” của họ, bởi vì các chính sách của chúng ta thì cũng phải phù hợp với quyền lợi của cả hai nước, nên nếu bỏ qua thực tế này hay đi sai đường với nó thì rồi cũng sẽ chỉ dẫn tới thảm họa mà thôi.

Điều bi đát cho miền Nam Việt Nam là đã có quá nhiều lần thay đổi lãnh đạo, ngay cả tại quốc nội và luôn cả tại Mỹ. Sự bất liên tục về lãnh đạo đã ảnh hưởng trầm trọng đến nổ lực chiến tranh. Hai cái chết của Tổng Thống Diệm rồi Tổng Thống Kennedy, và rồi Tổng Thống Nixon từ nhiệm, đều là những biến cố bi thương cho miền Nam Việt Nam, bởi vì khi thay lãnh đạo thì sau đó chính sách và các thẫm quyền nhân sự để thi hành cũng thay đổi theo mà thôi.

Con thuyền Nam Việt Nam đã thiếu một vị thuyền trưởng tài giỏi và có khả năng để đưa tàu qua cơn bảo mang tên Cộng, nhất là sau cái chết của Tổng Thống Diệm. Sự thiếu kém trầm trọng này đã chính yếu khởi thủy từ sự kiện là đa số các lãnh tụ quốc gia nổi bật đều đã bị đám thực dân Pháp và bọn Việt Cộng giết chết mất rồi trong suốt thời gian họ hoạt động chống lại luôn cả hai bọn chúng. Một số nhỏ lãnh tụ Quốc gia mà đã bỏ ra đi lưu vong để mưu đồ cho ngày huy hoàng của đất nước thì rồi cũng bị đào thải với thời gian mà thôi. Sự đấu đá tranh dành trong ngay những người Quốc gia thì cũng đã khiến cho một số người nản lòng và cũng làm dơ dáy uy tín của một số khác. Chính sự khan hiếm về tài năng lãnh đạo này cũng đã góp phần vào sự thiếu vắng ủng hộ ở hạ tầng, mà đã cứ mãi cầm chân các đảng quốc gia. Nó đã khiến cho sự chọn lựa một vị lãnh tụ mà thật sự được toàn dân kính trọng và ủng hộ đã gần như là vô vọng mà thôi.

Điều quan trọng ở đây là về quyết định lựa chọn này, đa số người dân Việt Nam luôn luôn có vẻ chỉ tin vào những người nào mà đã từng có thành tích trong cuộc chiến đấu chống Pháp và cũng mến chuộng họ hơn là các thành phần trí thức tân kỳ. Điều này thì cũng dể hiểu thôi khi nhớ lại vết thương đau mà người dân đã phải gánh chịu suốt thời gian bị Pháp đô hộ. Vì vậy, một quá khứ từng làm cách mạng là đặc tính không thể thiếu được cho một lãnh tụ hầu chiếm được lòng tin tưởng và sự ủng hộ của nhân dân. Lịch sử ngắn của Nam Việt Nam đã chứng minh là đã không hề có được bất kỳ nhân vật nào với lý lịch thiên Pháp mà lại có thể thành công về phương diện chính trị được. Nếu mọi người không công khai chống họ, thì trong chốn riêng tư, họ lại luôn luôn bị khinh rẻ chê bai. Các tài năng trẻ tốt nghiệp ở ngoại quốc thì cũng không hấp dãn được người dân, chính yếu là do thiếu kinh nghiệm về chính trị, mà còn vì chính họ cũng chưa bao giờ có cầm súng để chiến đáu cho đất nước cả. Có thể rồi thì họ cũng sẽ có hy vọng thành công được phần nào, sau khi đã chứng minh được khả năng và lòng hy sinh vì chính nghĩa quốc gia của họ.

Một chi tiết hấp dẫn khác đã là có rất ít những kẻ có lý lịch từng tham gia cách mạng mà lại có học cả. Khi để họ lãnh đạo thì thật là đầy rủi ro nếu mà họ cũng không có cái đặc điểm trời sinh hầu lôi cuốn được người dân. Rồi yếu tố địa phương tính cũng cần phải được lưu ý tới; đó là một thực tế mà đa số miền Nam Việt Nam rất ư là đặt nặng. Địa phương tính là kết quả tích lũy từ các chính sách thuộc địa của Pháp, của những khác biệt về địa dư và phong tục, cũng như là các trở ngại lưu thông liên vùng. Sự kiện đã có được gần một triệu người Bắc di cư đã có giúp cho tiến trình hợp nhất nhưng cũng không thể xóa bỏ được hoàn toàn yếu tố địa phương tính. Khi chọn lựa nhân vật lãnh đạo mà bỏ qua sự kiện này thì rồi cũng sẽ không thành công được như ý mà thôi.

  • • •

Mãi cho tới năm 1966 thì mới có được những nổ lực nhằm cải tiến hàng ngũ lãnh đạo tại cấp làng và xã, môi trường chính yếu đang xảy ra cuộc thách đố với Cộng sản. Tuy mục tiêu của các nổ lực đó thì chính đáng, nhưng phương cách thi hành thì lại sai lầm. Chính phủ VNCH có vẻ đã chú tâm vào công tác huấn luyện tân nhân sự và đã quên lãng mấy giới chức hiện hữu. Thêm nữa, khi phát động chương trình Phát Triển Nông Thôn, chính phủ cũng đã hoang phí tài nguyên quốc gia và cũng gây thêm hỗn loạn rối răm, dẫm chân lên nhau, cũng như là ganh đua mà thôi. Nhưng sai lầm này cũng đã được nhận ra kịp thời và các cán bộ Phát Triển Nông Thôn cũng được giải tán. Chính phủ VNCH đã giải quyết vấn đề các cán bộ một cách đúng đáng vào năm 1972-1973 khi tổ chức các khóa huấn luyện cho các viên chức làng xã.

Công việc huấn luyện các viên chức cho có khả năng để thi hành các chính sách và kế hoặch quốc gia, nguyên đã vẫn là một việc làm khó khăn và rất tốn thì giờ. Nhưng để nuôi nấng và thúc đẩy tinh thần thanh liêm, ý niệm về nghĩa vụ và kỷ luật cho mọi viên chức thì lại càng khó hơn trong bối cảnh của một cuộc trường chiến và có chia rẻ trong xã hội. Để thực hiện cho được như vậy, thì cần phải đưa cơ hội cho các viên chức đó được gần kề với cấp chỉ huy, cũng phải cần có thể kiểm soát và giám sát chặt chẻ mọi hoạt động của họ và cũng phải được công bình khi ban thưởng hay trừng phạt họ. Tuy nhiên càng quan trọng hơn nữa, thì đó chính là đặc tính gương mẫu trong việc lãnh đạo ở cấp địa phương và cả luôn ở cấp quốc gia. Kinh nghiệm vẫn từng cho thấy là các viên chức thì cũng không hề hành xử đúng theo với lệnh trên, mà chỉ sẽ để ý đến tư cách hành xử của cấp chỉ huy mà thôi. Do đó, cấp lãnh đạo phải cho thấy được cá tính thanh liêm, công bình cùng đạo đức lương thiện thì mới khiến được cho cấp dưới noi theo.

Trong QLVNCH, cả cấp sĩ quan lẫn hạ sĩ quan thì cũng không được đồng nhất về lý lịch và cả về khả năng. Nguyên nhân là vì quân đội đã được thành lập từ nhân sự của rất nhiều tổ chức quân sự khác nhau, và cũng luôn luôn cứ bị điều khiển bới chính trị. Sự bất đồng đã thật rõ ràng về tiêu chuẩn học vấn, huấn luyện quân sự và kinh nghiệm chiến chinh. Thường những quân nhân chai lỳ chiến chinh nhất thì cũng lại là thường không học cao hay từng không được đào tạo đúng đáng và mấy quân nhân có học vấn và từng được huấn luyện đúng sách đúng vở thì thường lại không có được kinh nghiệm chiến trường.

  • • •

QLVNCH đã có nhiều cố gắng để cải tiến các định chế quốc gia và luôn cả về giới lãnh đạo, trong khi vẫn ráng duy trì cho được kỷ luật quân sự và quốc gia. Về các đề tài này thì họ cũng đã từng có nhận được sự giúp đở của Hoa Kỳ. Bỏ qua đi các sự thiếu sót thì mọi người cũng đã phải thừa nhận là QLVNCH cũng đã có được những tiến bộ đáng kể và đã cho thấy đủ khả năng lẫn tự tin để thành công đáp ứng lại các thử thách cực lớn trong cuộc chiến. Các vị sĩ quan chỉ huy lẫn binh lính cũng đã từng học được bao kinh nghiệm vô giá ngay cả từ bạn lẫn địch. Họ đã trưởng thành trong khói lữa, đã từng oai hùng chiến đấu và cũng đã hoàn thành được cái sứ mệnh ngày càng khó khăn đó, và đó cũng là điều đáng được đề cao. Quả thật là một bi kịch khi mà các vị chỉ huy quân sự của chúng ta cũng đã từng không thể làm gì tốt hơn được đối với các biến động [tràn ngập] dạo đầu 1975. (nhấn mạnh in đậm là của người chuyển ngữ).

 

*****

Đại Tướng Cao văn Viên

(21 Tháng Chạp 1921 – 22 Tháng Giêng 2008)

*****

Trung Tướng Đồng Văn Khuyên

(1927-2015)

 *****

Chú thích của TS Lewis Sorley

 

Các phụ chú của các tác giả thì cũng đã được in theo như thông lệ. Những phụ chú ngắn có tính cách giải thích hay các tu chính do chính người đó đã bổ túc thêm thì đều được đặt trong dấu ngoặc [. . .] ‘brackets’. Các đoạn bị rút bỏ trong nguyên bản thì đều được ghi bằng dấu (. . .) ‘ellipses’, nếu xẩy ra trong một câu hay một phân đoạn nào đó. Khi có một phần khá lớn bị loại bỏ thì sẽ được cho thấy bằng những chấm lớn nằm riêng ’centered, larger ellipsis points’ như là

  • • •

*****

Của người chuyển ngữ phụ đính


Các hình ảnh cùng phụ chú đều do người chuyển ngữ sưu tầm trên Liên Mạng.Các đoạn nhấn mạnh bằng chữ in ĐẬM (BOLD), có gạch đít hay màu đỏ là của người chuyển ngữ.

1

Theo tài liệu tại trang Liên Mạng bằng Anh ngữ về Hải Quân VNCH thì vùng ven biển của VNCH kéo dài độ 1.200 dặm Anh/mile, tức là khoảng 1.900 km (1 km = 0.6214 dặm Anh/mile).
https://en.wikipedia.org/wiki/Republic_of_Vietnam_Navy

2
Đọc thêm về lực lượng này tại
https://en.wikipedia.org/wiki/Civilian_Irregular_Defense_Group_program

Chương trình các Nhóm Phòng Vệ Dân Sự Bán Chính Quy này đã là con đẻ của CIA dạo đầu 1961, nhằm chống lại sự xâm nhập của VC trên vùng Cao nguyên, khởi đi từ buôn Enao do Lực Lượng Đặc Biệt Mũ Xanh Mỹ đãm trách. Và sau đó đã lan rộng đến các buôn ấp và các Trung Tâm Phát Triển Khu Vực. Các người dân Thượng trong các làng đã được huấn luyện và trang bị vũ khí bởi LLĐB Mỹ và đã khá thành công vì lòng ác cảm truyền thống của người Thượng, đối với người Kinh, dù là Quốc gia hay VC!
http://www.macvsog.cc/cidg.htm

Sau thành công rực rở ban đầu tại buôn Enao, chương trình đã được bành trướng mạnh mẻ và từ năm 1962, đã được phụ trách bởi 5th SFG (Nhóm 5 Lực Lượng Đặc Biệt) phối hợp chung với các đơn vị Lực Lượng Đặc Biệt VNCH.

Vào cao điểm của chương trình, họ đã có cho tới 84 căn cứ loại “A” với trên 42.000 nhân viên.

Tới năm 1969 thì toàn thể các Nhóm Phòng Vệ Dân Sự Bán Chính Quy đã được sát nhập vào QLVNCH, mà đa số đã trở thành các tiểu đoàn và trung đội Biệt Động Quân Biên Phòng đóng dọc theo những lộ trình xâm nhập của địch.

Tới năm 1971 thì 5th SFG rút hẳn về nước sau khi hoàn thành công tác bàn giao.
https://en.wikipedia.org/wiki/5th_Special_Forces_Group_(United_States)

5th Special Forces Group (Airborne) là đơn vị được ban thưởng nhiều huy chương nhất trong số nhóm LLĐB của Quân đội Hoa Kỳ, và đã đặc biệt đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong cuộc chiến Việt Nam.

Nguồn gốc của đơn vị là từ năm 1942, tiền thân đã là Tiểu đoàn 1, Trung Đoàn 3, Lực Lượng Đặc Biệt số 1 phối hợp giữa Mỹ và Gia-nã-đại, tại trại Fort William Henry Harrison, Montana và sau một thời gian tham chiến trong Thế Chiến 2, đã bị giải tán vào năm 1944 lúc còn ở Pháp.

5th SFG đã lại được tái lập năm 1960 với tiểu đoàn 5 Biệt Động Quân (mà đã hiện hữu từ 1943) và lại trực thuộc 1st Special Forces, và từ tháng 9 năm 1961 đã đóng tại Fort Bragg, North Carolina.

Đơn vị này đã từng nổi tiếng trong vụ xử tử hình điệp viên hai mang Thái Khắc Chuyên vào năm 1969.

Huy hiệu của 5th SFG

Huy hiệu căn cứ CIDG Buôn Mi Ga


Huy hiệu căn cứ CIDG Đức Lập

Huy hiệu xung kích CIDG

 

Huy hiệu căn cứ CIDG Buon Sar Pa

 

Huy hiệu căn cứ CIDG E Pul Blar Wang

Tải thương các LLĐB tại căn cứ Plei Me, Tháng 11 Năm 1965


Đại úy William Bowser, Chỉ huy trưởng đơn vị LLĐB Mỹ A-422 đang hướng dẫn đòan thanh tra tới căn cứ Vĩnh Gia gồm có Chuẩn Tướng William DePuy (trái) là Trưởng phòng J-3 Hành quân của MACV, Thiếu tá Thương Chỉ huy trưởng LLĐB Việt Nam thuộc Quân khu 4 và Tướng Đoàn Văn Quảng (phải), Chỉ huy trưởng LLĐB của QLVNCH.

3
The International Control Commission (ICC) ~ Ủy Ban Kiểm Soát Quốc Tế là một tổ chức quốc tế được thành lập năm 1954 nhằm theo dõi việc thi hành Hiệp Định Geneva mà đã chấm dứt cuộc Chiến Tranh Đông Dương Thứ Nhất. Ủy Ban gồm những binh sĩ và sĩ quan của ba quốc gia là Gia-nã-đại, Ba Lan Ấn Độ.

Sau đó, việc ký kết Hòa Đàm Ba Lê vào năm 1973 đã đưa đến việc thành lập International Commission of Control and Supervision (ICCS) ~ Ủy Ban Kiểm Soát và Theo Dõi Quốc Tế, để thay thế cho ICC, mà cũng từng đã được gọi là International Commission for Supervision and Control in Vietnam (ICSC) nhằm chấm dứt (?) cuộc chiến Việt Nam. Phái bộ này nay gồm có Gia-nã-đại, Hung-gia-lợi, Ba Lan Indonesia, nhưng sau nhiều lần phản đối VC đã vi phạm công khai và lộ liễu nhưng vãn không hiệu quả, Gia-nã-đại đã rút ra và được thay thế bởi Ba Tư vào ngày 31 tháng 7 năm 1973.

4

Một trong những chiếc “thuyền bay ~ hovercraft“ PACV của Hải Quân Hoa Kỳ đang tuần tra trong vùng hải phận Việt Nam để lục soát những tàu ghe bị tình nghi có chuyên chở hàng hóa lậu bất hợp pháp trong Chiến dịch Market Time. Hình trên cho thấy họ đang chận kiểm tra một ghe của người Việt. (National Archives photo)

Chiến dịch Market Time ~ Giờ Đi Chợ, tên có vẻ dựa vào thời điểm kiểm tra lúc giờ cao điểm khi người dân đi chợ, đặc biệt bằng ghe thuyền nườm nượp ở miền Nam mà VC thường lợi dụng để trà trộn họat động, là một cố gắng rất thành công, được phối hợp giữa Hải Quân Hoa Kỳ cùng Hải Quân VNCH, nhằm chận đứng làn sóng xâm nhập người, quân liệu và đồ tiếp tế từ miền Bắc xuống miền Nam bằng đường biển, dọc duyên hải và trên các sông ngòi trong suốt Cuộc Chiến Việt Nam. Cùng tham dự thì cũng đã có United States Coast Guard Squadron OneSquadron Three của Mỹ. Các đơn vị này đã cung cấp cho những tàu tuần tra được trang bị vũ khí nặng, dài 25 thước cùng với những tàu tuần lớn với tốc độ cao được trang bị với pháo 5 “inches“, dùng được cả để giao tranh lẫn yểm trợ lực lượng bạn khi cần.

Có thể đọc thêm chi tiết tại
https://en.wikipedia.org/wiki/Operation_Market_Time
https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_d%E1%BB%8Bch_Market_Time 

5
M72 LAW (Light Anti-Tank Weapon) là loại vũ khí nhẹ trang bị cho cá nhân, tự điều khiển để chống tăng, bắn rồi bỏ luôn cở 66 ly. 


M72 LAW trong vị thế đã kéo ra sẳng sàng để khai pháo

https://en.wikipedia.org/wiki/M72_LAW

 

6
BGM-71 TOW (“Tube-launched, Optically-tracked, Wire-guided ~ Phóng bằng Ống, Thị dẫn, Dùng dây) là một hỏa tiễn chống tăng được dùng để thay các loại hỏa tiễn nhỏ hơn như là SS-10 và ENTAC, với tầm xa hữu hiệu gấp đôi, đầu đạn thì cũng công phá nhiều hơn và với một hệ thống hướng dẫn bán tự động mà cũng có thể trang bị thêm với các máy chụp hình hồng ngoại để dùng về đêm.

 

 M41 đế ba-càng TOW ITAS-FTL của Quân đội Hoa kỳ tại tỉnh Kunar, Afghanistan trong tháng 5 năm 2009.

https://en.wikipedia.org/wiki/BGM-71_TOW

7
CORDS (Civil Operations and Revolutionary Development Support \ Hoạt động Dân sự và Hỗ trợ Phát triển Nông thôn) là một chương trình bình định của chính phủ Nam Việt Nam cùng Hoa Kỳ trong thời Chiến tranh Việt Nam. Chương trình được phát động vào ngày 9 tháng 5 năm 1967 và có sự cộng tác quân và dân sự của cả hai chính phủ. Mục tiêu của CORDS là giành sự hỗ trợ của người dân tại nông thôn cho chính phủ VNCH, mà phần lớn đang chịu ảnh hưởng hay bị kiểm soát bởi các du kích Việt Cộng và bộ đội Bắc cộng.

Không giống như các chương trình bình định trước đó ở Việt Nam, nhiều người am tường đã coi CORDS là một “sự phối hợp về nỗ lực dân sự và quân sự thành công” để chống lại cuộc nổi dậy. Đến năm 1970, 93% dân số nông thôn miền Nam Việt Nam đã được Hoa Kỳ cho là đang sống trong các làng “tương đối an toàn”. Chương trình CORDS đã được mở rộng cho tất cả 44 tỉnh miền Nam Việt Nam, và cuộc nổi loạn cộng sản đã bị sút giảm đi nhiều. Tuy nhiên, các người chỉ trích thì lại đã phê bình các chương trình bình định và CORDS như là “ảo tưởng có tiến bộ”. CORDS, theo ước lượng của vị chỉ huy đầu tiên, Robert W. Komer, thì CORDS đã “quá ít, quá muộn“.

Với sự rút lui của các lực lượng quân sự và nhiều nhân viên dân sự Hoa Kỳ, CORDS đã bị bãi bỏ vào tháng 2 năm 1973. Những thành công tạm thời của CORDS rồi thì cũng đã đã phải bị phai mờ dần đi sau đó mà thôi, khi mà cuộc chiến trở thành cuộc đấu tranh chính yếu giữa QLVNCH và bộ đội Bắc cộng chứ không còn chỉ là một cuộc nổi dậy thôi.

https://en.wikipedia.org/wiki/Civil_Operations_and_Revolutionary_Development_Support

8
TỰ cho phép toàn quyền quyết định vận mệnh quốc gia và giải quyết ĐẠI SỰ như là trong một canh phé vui chơi, vô hình chung TT Thiệu đã GIÚP cho đại kế hoặch của Mỹ “dùng Tàu chận Nga”. TT Thiệu đã phạm một TRỌNG TỘI không bao giờ sẽ rữa sạch được trong toàn Sử Việt. Ấy vậy, vẫn có những người (?) ráng bênh vực cho cái quyết định “giết Miền Nam Việt Nam“ này!

(quan điểm của người chuyển ngữ).

9

 

 S-75 (Liên Xô thì gọi là С-75; Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO North Atlantic Treaty Organization) thì gọi là SA-2) là một hệ thống phòng không ở cao độ của Liên Xô, sử dụng hỏa tiễn địa-đối-không có hướng dẫn. Kể từ khi được triển khai lần đầu tiên vào năm 1957, nó trở thành một trong những hệ thống phòng không được phối trí rộng rãi nhất trong lịch sử phòng không. Nó đã lập được thành tích đầu tiên phá hủy phi cơ địch bằng hỏa tiễn khi đã bắn hạ được một chiếc Martin RB-57D Canberra của Đài Loan ngay trong không phận của Trung Quốc vào ngày 7 tháng 10 năm 1959, bằng cách đánh trúng nó với ba hỏa tiễn V-750 (1D) ở độ cao 20 cây số (tức là 65.600 ft). Nhưng thành công này thì lại đã bị che đậy như là một thành công của chiến đấu cơ của Trung Quốc vào thời điểm đó để giữ bí mật cho chương trình C-75.

Hệ thống phòng không này lần đầu tiên đã được nổi tiếng khắp thế giới khi một dàn phóng S-75 sử dụng hỏa tiễn loại mới với khả năng tầm xa và tầm cao hữu hiệu hơn là V-750VN (13D) trong vụ phi cơ không thám U-2 dạo năm 1960, khi đã bắn hạ chiếc U-2 của Francis Gary Powers đang vi phạm không phận Liên Xô vào ngày 1 tháng 5 năm 1960. Hệ thống phòng không này cũng đã được triển khai tại Cuba trong cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba, khi nó đã bắn rơi được một chiếc U-2 khác (do Rudolf Anderson điều khiển) trên không phận Cuba vào ngày 27 tháng 10 năm 1962, gần như có khả năng đưa thế giới vào một cuộc chiến hạt nhân. Lực lượng phòng không Bắc cộng thì cũng từng sử dụng hỏa tiễn S-75 một cách rộng rãi thời Chiến tranh Việt Nam để bảo vệ Hà Nội và Hải Phòng. Nó cũng từng được sản xuất ngay tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa với cái tên gọi là HQ-1 và HQ-2.

https://en.wikipedia.org/wiki/S-75_Dvina 

10

Một CBU-99, phía ngoài trong hình, cùng với AGM-12B AGM-12C. CBU-99CBU-100 rất giống nhau.

Bom chùm CBU-100 (còn gọi là Mk-20 Rockeye II) là một loại bom chùm của Mỹ được sử dụng chủ yếu để chống tăng. Nó nặng 222 kg (490 lbs) và chứa đựng tới 247 “Mk 118 Mod 1” bom nhỏ.

Bom chùm chống tăng là loại vũ khí được phóng ra từ phi cơ. Mk 20, CBU-99CBU-100 được sử dụng nhằm chống lại các xe bọc thép.

https://en.wikipedia.org/wiki/CBU-100_Cluster_Bomb 

CBU-55 là một loại bom chùm được dùng trong thời Chiến tranh Việt Nam bởi Không quân Hoa Kỳ, và chỉ được sử dụng không thường xuyên lắm trong cuộc xung đột đó. Không giống như hầu hết các chất gây cháy, có chứa “napalm“ hay “phốt pho“, CBU-55 (loại 750 cân Anh \ pound) thì chính yếu dùng khí propan”. Nó đã từng được mô tả là “vũ khí phi hạt nhân mạnh nhất trong kho vũ khí của Mỹ”, và là một trong những vũ khí thông thường cực mạnh từng được thực sự dùng trong chiến tranh.

https://en.wikipedia.org/wiki/CBU-55

 

Bom BLU-82 / B 15.000 lb \ cân Anh được trưng bày tại viện Bảo tàng Quốc gia Không quân Hoa Kỳ

 Bom BLU-82B / C-130, được biết đến trong chương trình “Commando Vault” và có biệt danh là “Daisy Cutter” ở Việt Nam, nhờ khả năng có thể san bằng cả một khu rừng thành một bải đáp để dung cho trực thăng hạ cánh, là một quả bom nặng tới cả 15.000 pound Mỹ (6.800 kg) ) kiểu bom thông thường, được thả từ vận tải cơ C-130 hay loại vận tải cơ MC-130. Đã từng có được 225 quả được sản xuất. Nó đã được thành công sử dụng trong các trận chiến ở Việt Nam, ở vùng Vịnh và ở Afghanistan. BLU-82 đã bị ngưng sử dụng vào năm 2008 và đã được thay thế bằng loại MOAB cực mạnh hơn nhiều.

https://en.wikipedia.org/wiki/BLU-82

11

 

Bộ chỉ huy Viện trợ Quân sự Hoa Kỳ tại Việt Nam ~ U.S. Military Assistance Command, Vietnam (MACV) được thành lập vào ngày 8 tháng 2 năm 1962, để thỏa mãn nhu cầu gia tăng viện trợ quân sự của Hoa Kỳ cho miền Nam Việt Nam. Lúc ban đầu, MACV đã được triển khai để hỗ trợ cho Nhóm Cố vấn Viện trợ Quân sự ~  Military Assistance Advisory Group (MAAG) Việt Nam, để kiểm soát mọi nỗ lực cố vấn và viện trợ, nhưng đã được tổ chức lại vào ngày 15 tháng 5 năm 1964 và nhập luôn vô MAAG Việt Nam khi công tác triển khai các đơn vị trở nên quá lớn. MACV đã bị giải tán ngày 29 tháng 3 năm 1973 và được thay thế bởi Văn phòng Tùy viên Quân sự Sài Gòn để đãm nhận nhiều trách nhiệm trước kia của MACV chiếu theo các hạn chế áp đặt bởi Hiệp định Hòa bình Ba Lê, mãi cho đến khi Sài Gòn thất thủ.

https://en.wikipedia.org/wiki/Military_Assistance_Command,_Vietnam
 

 *****

Advertisements
%d bloggers like this: