Gián Điệp Tàu Cộng Trên Đất Mỹ #2

Đệ Ngũ Quân Đoàn

Với Các Con Ngựa Gổ Thành Troy

Của Tàu Cộng Tại Mỹ

 *****

Roger Canfield’s China’s Trojan

  

image001

China’s Trojan Horses

Red Chinese Soldiers, Sailors, Students, Scientists and Spies Occupy America’s Homeland

Bọn Chiến Binh, Thủy Thủ, Sinh Viên, Khoa Học Gia và Gián Điệp Tàu Cộng Đang Xâm Chiếm Đất Mẹ Mỹ

Chuyển ngữ bởi Lê Bá Hùng

với sự chấp thuận của tác giả TS Roger Canfield

 

Xuất bản bởi:

Published by Military Magazine, 2002

2120 28th Street, Sacramento, CA 95818

Copyright© 2002 by Roger Canfield and Military Magazine

$15.00

ISBN 0-9705206-1-1

 Cũng có thể mua trực tiếp ấn bản dưới dạng PDF

ngay từ tác giả TS Roger Canfield với giá 9.95 $US tại

http://www.americong.com

 

*****

Các tác phẫm khác của Roger Canfield:

 

  • China Doll: Clinton, Gore and the Selling of the U.S. Presidency

705.000 ấn bản (viết chung với Richard A. Delgaudio)

 

  • China Traders: Assessing the Legacy of Clinton-Gore’s

Appeasement Policy…

 

  • Stealth Invasion: Red-Chinese Operations in North America

Trên 600.000 ấn bản

 

  • What Red China Got For Its money — Why Did the People’s

Republic of China Invest in the 1996 Reelection Campaign

of President Bill Clinton?

(viết chung với Richard A. Delgaudio)

 

  • Black Ghetto Riots and Campus Disorders

 

*****

 ĐIỂM SÁCH:

1/

Về tác phẫm Stealth Invasion (với trên cả 300.000 ấn bản đang luân hành):

“ . . . Cái gọi là ‘Xâm Lăng Tàng Hình bởi Tàu Cộng ~ Stealth Invasion’ [là] gian dối và không có căn bản . . . phi lý . . . một trò hề . . . ”

Wang Yunxiang, Tổng Lãnh sự, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

“Sau khi đã từng sống và làm việc tại Trung Hoa lục địa / Đài Loan trong nhiều năm dài, quả thật đã chưa từng hề có được một công trình quá ư là đúng đắn hơn sách này mà đã từng được viết ra . . . ”

Jeffrey Caddel, Cố vấn về An ninh Quốc gia, Quốc hội, Canadian Alliance.

“Tuyệt . . . Chuyên viên quốc tế về nan đề này. Một công trình nghiên cứu tìm tòi không thể tưởng tượng nổi. Một miêu tả khách quan về mối hiểm họa từ Tàu cộng”.

Brian MacAdam, tác giả của Mounties Sidewinder , bản tường trình về sự kiện Tàu cộng do thám tại Canada.

“Một tiếng chuông báo động . . . Mọi công dân Mỹ đều cần phải đọc”.

Clive Cussler, tác giả rất thành công về loại tiểu thuyết phiêu lưu và cũng là người đã tìm ra được chiếc tàu ngầm Hunley của Confederate Army (Quân đội Liên Minh Mỹ) thời Chiến tranh Nam Bắc phân tranh Hoa kỳ.

“Thật quả là đánh động vào tâm can”.

Vic Rollandi, Sĩ quan Trừ bị Hải quân, Văn phòng Tình báo Hải quân.

“Đích xác . . . và luôn luôn lôi kéo người đọc”.

Sonny Fong, Chuyên viên  về an ninh.

“Gián điệp Tàu cộng thì vẫn đầy dãy khắp nước Mỹ . . . FBI và CIA đều biết việc này. Đó cũng chỉ là một bí mật công khai”.

Harry Wu, nhà kêu gọi bảo vệ nhân quyền.

“Quả quá ư là đáng sợ . . . Xin Chúa bảo hộ ông”.

Jane Russell, tài tử nổi danh và ái quốc.

2/

Về tác phẫm viết chung với Richard Delgaudio China Doll (với trên cả 700.000 ấn bản đang luân hành):

“Xin có lời ngợi khen . . . ông quả thật là một người yêu nước và một công dân Mỹ xứng danh”.

Thẫm phán William P. ClarkTrưởng Ban Tham Mưu và Cố vấn về An ninh của Tổng Thống Ronald W. Reagan.

“Xin hãy tiếp tục công trình đáng nể này”.

Johnny Chung, từng bị tuyên án trong vụ Chinagate, một nhân chứng của Chính phủ và cũng là một người quay trở lại thành ái quốc.

3/

Về tác phẫm What Red China Got for its Money:

“Bài ngoại, đầy mùi kỳ thị . . . Đổ ngược lổi về Tàu cộng”.

Robert Gunnison, San Francisco Chronicle.

4/

Về chính tác giả Roger Canfield:

“Chúng tôi . . . mang ơn các cố gắng của ông nhằm chiến đấu chống Cộng sản, cùng giúp chúng tôi tái lập lại nền dân chủ ở Nicaragua”.

Luis Wong, Đại sứ Nicaragua tại Cộng Hòa Trung Hoa tự do [Đài Loan].

*****

 Tôi xin kính tặng tác phẫm này để tưởng nhớ

 

Thân Phụ,

 

Trung sĩ Hải quân Roger ‘Red’ Canfield (đã về hưu)

người từng dẫn đầu một toán cấp cứu

lên một tàu chở dầu Anh quốc tại Thái-bình-dương

để chữa lữa cứu tàu, rồi sữa chữa các nồi súp-de

“một cách nhanh chóng và chính xác”

sau trận Pearl Harbor,

người từng tham dự mọi trận hải chiến thời Thế Chiến II

và đã từng đóng quân phục vụ tại Nước Nhật bị thua trận,

trong quan niệm vẫn kính nể kẻ thua trận và trong danh dự.

 

Thân Mẫu,

 

Ilene Mae Spradlin Canfield,

người tại Pearl Harbor mà mãi tới năm 1945,

vẫn cắt và giữ trong một quyển vở nháp học trò

mọi bản tin trên báo chí trong suốt Thế Chiến II

mà có liên quan đến chiến hạm USS Saratoga (CV-3)

cho đức con trai để một ngày nào đó,

con mình rồi sẽ  nhận thức được

 thế gian này là một nơi chốn qúa ư là nguy hiểm.

Bà ta đã ra đi lúc chỉ mới 25 tuồi đầu,

và đã từng là một người rất hiểu biết nhưng ít được ai biết tới.

 

 

Bạn tôi,

 

Michael Mark, Trung Tá Bộ Binh (đã về hưu),

với các huy chương Combat Infantry Badge,

Bronze Star, Valor Viet-Nam

Và Chủ bút tờ Military Magazine, 1988-2000

***** 

 Bức thơ gởi TS Canfield,

dấu bưu điện ngày 22 tháng giêng năm 2002

 image002

 

Tổng Lãnh Sự Quán Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc

1450 Laguna Street, San Francisco, CA 94115

TS Roger Canfield

Giám Đốc Điều Hành

U.S. Intelligence Council

P.O. Box 919

Frederick, MD 21705

 

Kính thưa TS Canfield:

 

Gần đây tôi được biết là ông đang thu thập chữ ký cho một kiến nghị để gởi đến Quốc hội Mỹ, liên quan đến cái gọi là “cuộc xâm lược tàng hình” của “Trung Cộng”. Sau khi đọc lá thư đó do người bạn của tôi đưa cho, tôi không thể nào không viết thư này để gởi đến ông hầu bày tỏ sự bất mãn của tôi và cũng muốn làm sáng tỏ vài vấn đề.

Các cáo buộc của ông về Cosco và Trung Quốc, nói chung đều là hoàn toàn sai lầm và vô căn cứ. Thậm chí trong thư của ông, tôi cũng đã không tìm thấy được bất kỳ bằng chứng nào nhằm biện minh cho lời buộc tội của ông. Tôi thực sự không tin là sẽ có ai mà chịu đi tin câu chuyện ngớ ngẩn này. Tôi không biết vì sao ông lại cảm thấy Trung Quốc như là kẻ thù của Hoa Kỳ, nhưng tôi muốn nhân cơ hội này để bày tỏ một số quan điểm của tôi về quan hệ Trung-Mỹ.

Các quan hệ giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ đã được phát triển một cách đáng kể từ khi quan hệ ngoại giao hai nước đã được thiết lập vào cuối năm 1970. Chuyến thăm Trung Quốc sắp tới của Tổng thống Bush trong năm nay sẽ tăng cường thêm các mối quan hệ của chúng ta. Kể từ biến cố 11 tháng 9 của năm ngoái, Trung Quốc đã trở thành một đối tác quan trọng của Hoa Kỳ trong công trình chiến đấu chống khủng bố và bảo vệ hòa bình thế giới. Trên mặt trận kinh tế, Hoa Kỳ là đối tác thương mại lớn thứ hai của Trung Quốc và việc hợp tác kinh tế của chúng ta sẽ được càng mở rộng và củng cố thêm sau khi Trung Quốc đã gia nhập vào WTO trong năm ngoái. Nền kinh tế của hai nước chúng ta đều cùng có tính cách cực kỳ bổ sung lẫn nhau. Việc giao thương với Trung Quốc rất có lợi cho khách hàng Mỹ, nhờ giá thấp của các mặt hàng thường dung, mà cũng giúp cung cấp việc làm cho cả hàng chục ngàn công nhân Mỹ, nên tôi nghĩ rằng đa số người Mỹ sẽ không hề xem các mối quan hệ thương mại đang được khuếch trương với Trung Quốc, mà theo đó, Công ty China Ocean Shipping đã từng chu toàn vai trò của mình, lại là một mối đe dọa cho Hoa Kỳ được.

Lời cáo buộc của ông về hành vi gián điệp của Trung Quốc đã khiến tôi nhớ lại vụ “Wen Ho Lee”, mà đã từng được chứng minh sau đó chỉ là một trò hề thôi. Một số người ở Hoa Kỳ đã luôn luôn muốn đưa ra, hoặc thậm chí tạo ra một số vấn đề để chống Trung Quốc, vì hiểu lầm, hay vì những ý đồ xấu xa. Nhưng một lời nói dối, nếu cứ bị lặp đi lặp lại hàng ngàn lần, thì sẽ trở thành sự thật thôi. Tôi chắc chắn là hầu hết người dân Mỹ đều sẽ có một cái nhìn minh mẫn về vấn đề này và cũng sẽ hỗ trợ cho một tiến trình phát triển hữu lý và lành mạnh trong quan hệ Trung-Mỹ, một điều cần thiết cho lợi ích chung của hai quốc gia chúng ta và cả cho thế giới nói chung.

Trân trọng,

Page-4-Image-1

 

 

 

Wang Yunxiang

Tổng Lãnh Sự

*****

 image003

 

 

Đừng nghe, Hãy nhìn kỷ.

Michael Pillsbury, nói về

Đặng Tiểu Bình và Mao Trạch Đông

 

*****

Nội Dung

 

Lời Nói Đầu – Các Con Ngựa Gổ Thành Troy Của TC . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 9

Ăn Nói Cẩu Thả Đủ Làm Đắm Tàu: Cuộc Sống Sau Khi An Ninh Quá Sức Là

Bê Bối  . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .        12

Hoa Kỳ Chào Đón: Binh Sĩ, Thủy Thủ . . . Gián Điệp TC  . . . . . . . . . . . . . . .    26

Quân Đội CS Chơi Trò Chiến Tranh tại Mỹ . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 32

Cuộc Xâm Lược Tàng Hình: Các Chiến Dịch Của TC Tại Bắc Mỹ . . . . . . . . .     40

Mổi Hải Cảng Mỹ Đều Hiện Diện Một Thủy Thủ TC. . . . . . . . . . . . . . . . . . . .  .   48

COSCO tại các Hải Cảng Thái Bình Dương — Long Beach, Los Angeles,

Portland-Vancouver, Seattle-Tacoma và Vancouver, B.C . . . . . . . . . . . . .  68

COSCO tại các Hải Cảng Vùng Vịnh — Houston and New Orleans  . . . . . . .  86

COSCO tại các Hải Cảng Đại Tây Dương — Miami, Savannah, Charleston,

Norfolk, New York, Halifax . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .  . 90

CHNDTQ nhắm Vào Sinh Viên và Khoa Học Gia tại Mỹ . . . . . . . . . . . . . . . . . 106

Gián Điệp TC… bọn Thương Gia Tàu Đang Sinh Sống tại Mỹ . . . . . . . . . . .     116

Tố Cáo — Gián Điệp và bọn Gây Ảnh Hưởng cho TC . . . . . . . . . . . . . . . . . .       130

Việc Tái Lập An Ninh Hiến Định cho Hoa Kỳ . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .     168

TÁI BÚT — Sau 11 Tháng 9 năm 2001 . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .   174

Phụ Lục A — Các Tàu của COSCO Đăng Bộ Tại Các Hải Cảng Mỹ . . . . . . . .      192

Phụ Lục  B — Các Hải Cảng về ‘container’ Mỹ theo Khả Năng Cất Dở Hàng Hóa,

1995-97 . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .       195

Phụ Lục   C — Đánh Giá về An Ninh của các Hải Cảng, 2000 . . . . . . . . . . . .    196

Phụ Lục   D — Trân Châu Cảng: Phần Sau của Câu Chuyện. . . . . . . . . . . . .    199

Mục Lục . . . . . . . .  . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .    202

Vài Nét về Tác Giả . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .216

***** 

Lời cảm tạ

 

Tác giả đã phải bỏ ra cho tới sáu năm trời để tìm tài liệu và nghiên cứu các tài liệu công khai cùng các hồ sơ của Trung Hoa và Mỹ từng bị tiết lộ trên các nhật báo, hay qua các bản tin được đánh gởi đi, cùng nhiều ấn bản khác. Tuy là các phân tích và ước lượng về tình báo là của tác giả, nhưng tác giả cũng đã phải căn cứ rất nhiều vào các sự kiện chính yếu cùng các quan điểm trên thực tế của những người khác như là: Bill Rood, Bill Gertz, Richard Fisher, Gary Milhollin, Kenneth Timmerman, Al Santoli, Michael Pillsbury, Steven Mosher, Jasper Becker, Edward Timperlake, William Triplett, Joe Farah, Charles Smith, Jon Dougherty, Sally Foster, Gordon Chang, Philip Yang, Willy Lam, Chris Cox, Tom Tancredo, Bob Barr, Duncan Hunter, James Inhofe, Jesse Helms, Dana Rohrabacher, Paul Sperry, Mike Waller, Ken Puckett và cũng như của nhiều người khác mà đã được viện dẫn cùng nêu tên trong sách này.

Công trình này đã được hoàn thành với sự khuyến khích cùng tài trợ đến từ cả hàng ngàn người mà đã cùng nhau đóng góp những khoản tài chánh nho nhỏ cho United States Intelligence Council ~ USIC (Hội Đồng Tình Báo Hoa Kỳ) và cũng từ Armond Noble, người xuất bản sách này và tạp chí Military Magazine. Tôi cũng xin cảm ơn Chủ tịch của USIC là Richard A. Delgaudio, người đã chấp thuận để tôi được phục vụ với tư cách là Giám đốc Điều hành của USIC và cũng là đồng tác giả của báo cáo What Red China Got For Its Money (Trung Cộng Đã Có Được Gì Sau Khi Trả Tiền Xong) và đã cùng viết cuốn sách chung là China Doll (Búp bê Trung Hoa). Richard cũng từng chỉnh sửa tác phẫm Stealth Invasion mà USIC đã xuất bản. Trên một khía cạnh nào đó thì tác phẫm China’s Trojan Horses đã bổ túc thêm, cùng cập nhật hóa với những đề tài từng đã được đề cập đến trong các tác phẫm được nêu ở trên, cũng như trong quyển China Traders (Thương Nhân Trung Hoa) của tôi, mà cũng còn đi sâu thêm vào nhiều chi tiết hơn. Cuối cùng, USIC đã tài trợ cho công tác vận động hành lang tại Quốc hội về các vấn đề Trung cộng ở Washington, DC, cũng như các buổi thuyết trình trước những hội nghị bảo thủ và nhân các cuộc họp ở Washington, Los Angeles, Miami với Panama.

Armond Noble, ngoài việc xuất bản sách này, cũng đã giúp tôi cơ hội để đăng nhiều bài  trên Military Magazine về sự hiện diện của Trung Quốc tại Panama và trên toàn cầu. Hơn nữa, Armond và người bạn chung của chúng tôi mà cũng là chủ bút của tạp chí Military Magazine là Michael Mark, cùng tôi đã từng trải qua rất nhiều ngày giờ, đặc biệt là vào dịp Quốc Khánh 4 Tháng 7, để thảo luận về tương lai của Mỹ quốc trong một thế giới mà hiện nay đã trở thành quá ư là nguy hiểm. Debi Shank, chuyên viên thiết họa của tờ Military Magazine thì cũng đã từng bị phải kiểm qua quá ư là nhiều các bản thảo hơn là cô muốn hay nghỉ là hợp lý hơn! Tôi cũng xin cảm ơn cô và cả con gái tôi mà đã phụ trách về các bản đồ. Và, cuối cùng, cũng xin cảm ơn Cathy và Matthew Joyce đã thiết kế cho hình bìa.

Tôi xin cảm ơn bạn bè và các đồng nghiệp, những phóng viên dạn dày kinh nghiệm trên các đường phố đầy hiểm nguy ở Chicago, Baltimore, Managua và Sài Gòn, mà đã  từng giúp đở sửa bản thảo bằng khả năng nhạy bén của họ, bằng sự đa nghi có căn bản cùng một sự khoan dung rất là lịch sự đối với các quan điểm cứng rắn tuyệt đối của tôi. Cái nhóm thân hữu mà chỉ toàn là những người viết nghèo nàn này thì gồm có Armond, Pat Joyce và nhiều người khác. Họ nên được tha thứ cho vì đã chỉ lở dại giao du với tôi mà thôi.

Tôi cũng xin cảm ơn những người dân từng có đóng thuế của California mà đã thỉnh thoảng giúp cho tôi một công ăn việc làm qua ngày.

Với gia đình tôi, hiền thê Noel của tôi và các con của chúng tôi là Blaine, Carlton và

Alicia, tôi xin lỗi vì từng quá ư là đáng trách những khi bỏ bê không lo cho các con, cùng luôn cho những năm tháng dài đã để đầy, chất đống hồ sơ và tài liệu khắp mọi nhà mà chúng mình đã từng dọn qua tạm trú ở xuyên khắp lục địa.

 

— Roger Canfield

*****

COSCO TẠI CÁC HẢI CẢNG BỜ THÁI-BÌNH-DƯƠNG

Long Beach, Los Angeles,

Portland- Vancouver, Seattle-Tacoma

và Vancouver, B.C.

 

Hải Cảng Long Beach và Los Angeles

Cửa ngõ chiến lược để xâm nhập vào đất Hoa Kỳ

Tuy trước đó từng đã phải miễn cưỡng tiếp đón cả hàng ngàn thủy thủ cứ tới làm mưa làm gió rồi lộn xộn ồn ào ra vô các quán rượu, các phòng ngủ và cái công viên nổi tiếng Pike với trò chơi ‘roller coaster’, thì nay Long Beach lại khoác lên một bộ mặt trưởng giả của một thị trấn ven biển. Long Beach đã từng chào đón chiếc Queen Mary sau khi không còn mặn mà với Hải quân Mỹ nữa. Tới năm 2000 thì Hải quân Hoa Kỳ hoàn toàn không còn chiến hạm nào cập bến Long Beach như là bến mẹ. Hoàn toàn không có. Một con số ‘Zero ~ Không’ mà thôi. Các chiến hạm nay đều về để bảo trì ở Seattle và San Diego, tất cả mọi chiếc.

Mấy chóp bu của thành phố Long Beach, với sự hỗ trợ của chính phủ Clinton, đã cực kỳ cố gắng (nhưng thất bại) để dâng căn cứ Hải quân U.S. Naval Station đang bị phế thải cho tập đoàn COSCO của Trung Cộng. Vì không còn ai đón mời nữa, Hải quân Mỹ cũng đành đóng cửa xưởng Long Beach Naval Shipyard, và theo đó, luôn cả toàn bộ các dịch vụ đóng, chuyển đổi và sửa chữa tàu. Sau đó thì họ cũng xóa sổ luôn căn cứ TQLC Marine Corps Air Station ở El Toro và căn cứ TQLC Marine Corps Air Station tại Tustin.

Ngược lại, mọi người đều cùng hân hoan chào đón các nghiệp vụ hải hành của tập đoàn COSCO tại ngay các hải cảng chiến lược thiết yếu nhất về kinh tế của Mỹ.

Các hải cảng nhân tạo của Long Beach và Los Angeles ở vùng vịnh San Pedro Bay nguyên đã từng đón nhận số lượng hàng hóa nhập cảng cao nhất trong toàn cả nước. Hải cảng Los Angeles đã cung cấp đến cả 259.000 công ăn việc làm và 1 tỷ 4 Mỹ kim về thuế, cả tại tiểu bang lẫn địa phương. Trên bình diện toàn tiểu bang, ngành kỹ nghệ về hải cảng đã cung cấp cho tới cả 1 triệu 2 công ăn việc làm và 21 tỷ 8 Mỹ kim về lợi tức cá nhân. Nhờ tiện lợi do sẵn sàng để thông thương được với toàn hệ thống hỏa xa lẫn đường bộ đang bành trướng ở tại Nam California, các hải cảng Long Beach và Los Angeles đã là cửa ngõ chính yếu của Mỹ trong thương vụ với toàn cả thế giới, với số lượng cả 17 triệu người dân tại địa phương và với nào là xe vận tải và đường hỏa xa hầu cho phép mọi thương vụ với trên khắp lục địa Hoa Kỳ.

Với cả 3.000 mẫu Anh trải rộng trên khắp sáu dặm vuông, Long Beach là hải cảng chuyên về ‘container’ nhộn nhịp nhất Hoa Kỳ. Hải cảng có được một con kinh được vét sâu cho tới 76 ‘feet’. Số lượng tương đương với 4 triệu 8 loại thùng hàng ‘20-foot container TEU’ đã đi qua con số bảy bến cảng chuyên về mặt hàng ‘container’ của Long Beach trong các năm 1999-2000, với một trị giá cả 89 tỷ Mỹ kim.

Tương tự như vậy, hải cảng sát gần đó là Los Angeles thì cũng lại là hải cảng nhộn nhịp vào hàng thứ hai ở Hoa Kỳ (theo tiêu chuẩn toàn thế giới thì đứng vào hàng thứ tám). Hải cảng có cho tới cả 28 bến, trải rộng trên 28 dặm, tiếp giáp mặt biển xuyên khắp tới 11¾ dặm vuông. Mọi hàng hải vận đều đi qua con kinh sâu tới 45 ‘feet’. Hải cảng đã có 3 triệu 5 đơn vị ‘TEU’ đi qua các cầu tàu vào năm 1999, với trị giá hàng hóa là 79 tỷ 3 Mỹ kim vào năm 1998.

Giao thương của Tàu cộng đòi hỏi phải có thêm tiện nghi về hải cảng

Tàu cộng là khách hàng  xếp vào hàng số hai của Los Angeles với trị giá cả 18 tỷ 9 Mỹ kim, chỉ đứng ngay sau Nhật Bản với 20 tỷ 9 Mỹ kim. (Đài Loan thì 6 tỳ 2;. Nam Hàn, 2 tỷ 4). Với dự đoán là sẽ có tăng gia gấp đôi hoặc gấp ba lần của số lượng hàng hóa trong vòng từ 15 đến 20 năm sắp tới, mà phần lớn là từ Trung Hoa lục địa, các hải cảng Long Beach và Los Angeles đang khởi công xây cất những cầu tàu mới (S và 400). Số lượng khổng lồ để xây cầu tàu Pier S tại Long Beach đã phải sử dụng cho tới cả 700 xe chở đất mổi ngày và cả bốn triệu tấn đồ phế thải rác rến từ 30 địa điểm. Số vật liệu này đã được dùng để lấp một độ sâu 15 ‘feet’, trên một diện tích 150 mẫu Anh với chi phí là 33 triệu Mỹ kim. Quả thật đó đã là loại bất động sản rất là có giá trị.

Tiếp giáp với hải cảng Los Angeles thì là bến Pier 400, chuyên đãm nhiệm về loại thùng ‘container’, rộng tới 484 mẫu Anh, tức là khoảng diện tích của cả 366 sân ‘football’. Bến tàu 400 sẽ là bến cảng chuyên về loại thùng ‘container’ tư nhân lớn nhất thế giới. Hải cảng sẽ đầu tư tới 500 triệu đô la Mỹ để tân trang thêm. Vào cuối năm 2000, Quốc hội đã biểu quyết dành ra 750.000 Mỹ kim để bắt đầu nghiên cứu đào sâu  thêm con kinh chính tại hải cảng Los Angeles.

Ngày 23 tháng 8 năm 2000, hải cảng Long Beach đã đón tiếp thương thuyền lớn nhất từng tới cập bến bên Bờ Tây Hoa Kỳ, chiếc Stena Commerce với kích thước 300.144 DWT, dài 1.108 ‘feet’ và rộng 190 ‘feet’. Khi mà hải cảng Long Beach hoàn thành cạo vét ngõ vào Queens Gate tại con đê chắn sóng đến được độ sâu 76 ‘feet’ thì nó sẽ có khả năng đón nhận các thương thuyền lớn hơn nữa. Với việc tăng trưởng nhanh chóng mà hệ thống hỏa xa thì cứ bị nghẹt cứng, các giới chức thẫm quyền quản tri các hải cảng đã phải mở rộng them các hải cảng lớn và ủng hộ dự án Alameda Corridor (Hành lang Alameda). Nhưng các công trình nhằm nối chung lại các đường hỏa xa, rồi với cả khối lượng hàng hóa khổng lồ mà lại thiếu công nhân, tình trạng này đã càng làm trầm trọng thêm hiện tình tắc nghẽn tại các hải cảng ở California. 63

Alameda Corridor ~ Hành lang Alameda

Cầu tàu 400 cũng sẽ là trạm cuối ở cực nam của dự án vận chuyển Hành lang Alameda. Hành lang này sẽ thay đổi hoàn toàn hệ thống đường hỏa xa và đường xa lộ đưa vào các hải cảng Long Beach và Los Angeles. Hành lang Alameda nhằm cải sữa cả 90 dặm đường hỏa xa với 200 đường cắt cùng mặt bằng (at-grade roadway

crossings) để trở thành 20 dặm dài mới, có dung lượng cao mới với những đường hỏa xa xuyên qua ở độ cao khác, hầu nối hải cảng vào với hệ thống hỏa xa toàn quốc. Dự án cũng mở rộng các con đường bộ chạy song song với đường hỏa xa. Hiện nay thì các xe vận tải và xe lửa đang khiến giao thông đi vào bế tắc, làm trầm trọng thêm tiếng xấu từ lâu nay của khu vực. Dự án sẽ làm giảm bớt tình trạng lưu thông bị tắc nghẽn.

Các mục tiêu của COSCO trong vùng Los Angeles

Nguyên là nơi có các hải cảng lớn vào hàng đầu và hàng thứ nhì ở Mỹ, và cũng là cửa ngõ cho cả vùng ven Thái Bình Dương để đưa vào các vùng nội địa của Hoa Kỳ, các hải cảng Los Angeles và Long Beach cùng có một giá trị chiến lược khôn lường cho Tàu cộng và Hoa Kỳ.

Mối hiểm nguy chính là COSCO đang cố thu xếp để làm sao nắm cho được “bên bờ Tây … để dùng làm căn cứ hải vận ngay trên đất Mỹ … ngỏ hầu chuyển giao các bí mật về thiết bị kỹ nghệ tân tiến về cho Quân đội Giải phóng Nhân dân, trong các thùng ‘container’ niêm kín [chưa hề bị kiểm tra] trên các thương thuyền khổng lồ của tập đoàn COSCO”.  64

Trong tháng chạp năm 1999, tác giả đã đích thân đi ngay trong ban ngày để đứng bên lề đường quan sát hệ thống an ninh của tập đoàn COSCO mà đang sử dụng chung bến Pier J tại Long Beach. Trong tháng 6 năm 2000, tác giả cũng từng đã hướng dẫn một chuyến du lịch bằng thuyền tại hải cảng để có thể quan sát được hoạt động của tập đoàn COSCO, khi nhìn từ ngoài khơi vô.

Giờ đây thì COSCO không còn phải tự lo điều hành rồi lại phải tự kiểm soát và tự phải lo bảo vệ các cơ sở tại hải cảng cho riêng mình nữa, và đó cũng là lý do tại sao COSCO ngay từ lúc ban đầu, đã thèm muốn biết là bao nhiêu các Trạm Hải quân Mỹ.

Các nghiệp vụ hiện nay của tập đoàn COSCO đều là công khai (gần bên vùng mang tên Queen Mary, một khung cảnh để thoải mái lái xe rong chơi, hay chèo thuyền và câu cá); COSCO đang được quyền sử dụng, chung với năm công ty khác, các tiện nghi tại bến 232-234 (kể cả Đài Loan); và khá dễ dàng để cho các cơ quan an ninh Mỹ, nếu họ muốn, tiến hành thanh tra mà không cần phải báo trước.

Vào bất kỳ ngày nào thì ai cũng có thể lái xe xuống một con đường công cộng để vô bến Pier J. Ở đó, ta có thể thấy các thùng ‘container’ của COSCO tại bến số 232 suốt tới bến số 234, các cần trục thì cứ nhộn nhịp chất các thùng ‘container’ của tập đoàn COSCO, một cổng vào không có ai canh gát bảo vệ, còn xe vận tải thì cứ chở đầy thùng ‘container’ của tập đoàn COSCO vô bến International Transport Services ~ ITS, nơi mà mọi người đều tha hồ muốn đậu xe ở đâu cũng được ở bãi công cộng. Một bảng hiệu cho thấy COSCO đang dùng chung bến ITS với cả hãng Yang Ming Marine của Đài Loan, với K-Line, Mexico Line và Great Western SS Công ty, trên cả một khu chật hẹp chỉ có 123 mẫu Anh mà thôi.

Trong khi đó thì cái công ty Oriental Overseas Container Line, mà Giám đốc Điều hành lại chính là  C.C. Tùng, tay thuộc Ban cố vấn của tập đoàn COSCO và của cả công ty Kinh đào Panama (Panama Canal), thì lại là chủ nhân ông của bến đáp Long Beach Container Terminal, từ các bãi số 6 tới số 10 của bến Pier F tại Long Beach. Bến Long Beach Terminal đã từng được đề cao tới hai lần là “Trung Tâm Điều hành Loại Thùng Hàng ‘Container’ Tuyệt Nhất ở Bắc Mỹ”.

Sau khi từng đã phải sử dụng những tiện nghi hải cảng mất giá và yếu kém thì nay OOCL đã trong tình trạng chết sống và công ty sẽ thành công hay không thì cũng chỉ nhờ nơi các món tiền vay từ Tàu cộng mà thôi. Tay Giám đốc Điều hành trước đó mà nguyên là anh ruột của Tung Chee-Hwa, bèn đã được Bắc Kinh lựa chọn để quản trị Hong Kong.

Căn Cứ Hải Quân Long Beach

HẢI CẢNG LONG BEACH

SAN PEDRO BAY, SOUTHERN CALIFORNIA

 Page 71 Port Long beach

 

COSCO có trụ sở tại cầu tàu Pier J, thuộc hải cảng Long Beach, mà được dự trù ​​sẽ được mở rộng thêm hơn độ 300 mẫu Anh, sau khi các hãng khác là Zim và Maersk Sealand sẽ bỏ trống để dọn đi nơi khác. Ngoài ra, công ty OOCL rất thân thiện với Bắc kinh của dòng họ Tùng thì cũng sở hữu và điều hành bến chuyên về loại thùng ‘container’ Long Beach Container Terminal tại cầu tàu Pier F, cũng tại Long Beach.

 Trước vụ tai tiếng về súng AK-47, sau khi nhờ có sự can thiệp tích cực của chính quyền Clinton,  65  thì tập đoàn COSCO đã ký được một hợp đồng thuê mướn tới cả 20 năm cái Trạm Hải quân cũ của Long Beach vào năm 1996. Thông qua Johnny Chung, Tổng thống Clinton đã cho phép tên Hongye Zheng của tập đoàn COSCO được đến cùng tham dự một trong những chương trình của mình mà vẫn thường được phát thanh vào mổi buổi sáng ngày thứ 7 trong tuần. Chỉ vài ngày sau đó thì Dorothy Robyn, thành viên của  toán cố vấn kinh tế của Tổng thống, bèn gọi điện thoại cho các viên chức Thành phố Long Beach (CA) để đề nghị cung cấp một đề nghị từ phía Tàu cộng để thuê cái Trạm Hải quân Long Beach. (Chung đã có thừa nhận gần như toàn bộ nội vụ, nhưng lại đã phủ nhận là mình đã có giúp đỡ  tập đoàn COSCO). COSCO “… đã cố gắng để thuê phần đã bị bỏ trống bởi Hải quân Mỹ tại Long Beach, California. Đề nghị thuê này đã gây ra một cuộc tranh luận nóng bỏng giữa Quốc hội, mà đã muốn ngăn chặn việc cho thuê khi căn cứ vào mối quan tâm về an ninh quốc gia, và Tổng thống Clinton, người ủng hộ việc cho thuê này. Cả hai viện của Quốc hội đã cùng thông qua trong năm 1997 đạo luật ngăn cấm việc cho thuê và hủy bỏ luôn thẩm quyền của Tổng Thống hầu ký chuẩn chấp một sắc lệnh đặc miển”. 66

Ấy vậy, tập đoàn COSCO vẫn đã không hề chịu thua đâu. Suốt một thời gian dài sau đó, COSCO đã bị tình nghi cố sử dụng một công ty đóng vai mặt nổi hầu tiếp tục xúc tiến những mưu đồ đang bị dở dang. Astoria Metal Corp, mà đang hoạt động như một công ty sửa chữa tàu thuyền cũng ngay tại đó, đã bác bỏ từng có những liên hệ với tập đoàn COSCO. Đã từng xẩy ra hai phiên điều trần công cộng nhưng bị hạn chế ngưới tham dự của Ban Quản Trị Hải Cảng Long Beach vào ngày 8 và 15 năm 1999, sau khi công AMC này đã bác bỏ mọi liên hệ đó. Rồi thay vì là COSCO, thì Công ty Hanjin Shipping Co. của Nam Hàn tự do đã ký được một hợp đồng thuê dài hạn 25 năm cho một dự án chiếm tới 375 mẫu Anh tại trạm hải quân cũ và xưởng đóng tàu hải quân cũ,  với trị giá tới cả 1 tỷ Mỹ kim vào ngày 27 tháng 10 năm 2000. Lực chọn ưu tiên hang đầu của bộ sậu Clinton-Gore đã là tập đoàn COSCO, cái đội thương thuyền của Quân đội Giải phóng Nhân dân Tàu cộng,  đã phải thua cuộc trước thái độ chống đối tại Quốc hội và cũng do sự chống đối nặng nề của người dân địa phương. Tuy nhiên, đây vẫn lại không phải là một thất bại cho bọn COSCO đâu.

Việc nghiên cứu các nguồn tài liệu công cộng đã có cho thấy là tập đoàn COSCO vẫn không hề nản lòng chút nào cả. Trong khi COSCO đã bị từ chối và không được quyền sử dụng Trạm Hải quân Mỹ cũ tại Long Beach thì tập đoàn đó lại đã lần lượt dành được quyền khai thác các hải cảng Long Beach và Los Angeles, hầu tiếp tục bành trướng các khả năng về tiện nghi hải cảng của chúng.

Cầu tàu Pier J – Hiện nay thì tập đoàn COSCO đang phải cùng chung sử dụng cầu tàu Pier J rất là chật chội, cùng dung chung các bến 232-234 với các hãng Đài Loan Yang Ming Marine, K-Line, Great Western SS Công ty và Mexico Line. International Transport Service chịu trách nhiệm kiểm soát và quản trị các tiện nghi này chớ không phải là bọn COSCO. Trong tháng 4 năm 1999, công ty Zim-American Israeli Shipping Company mà đang sử dụng sáu tàu chuyên chở loại thùng ‘container’ giữa Long Beach và Trung Hoa lục địa đã quyết định bỏ trống các cầu tàu tiếp giáp ở Pier J (số 243-244) và nhân đó, đã giúp cho tập đoàn COSCO có thêm được cả 110 mẫu Anh, diện tích mà chúng đã từng ráng dành tại trạm hải quân cũ. Hải cảng Long Beach đã thương lượng để đánh đổi bất động sản với các công ty thuê mướn khác (Zim và Maersk) hầu giúp cho tập đoàn COSCO sẽ có “thêm không gian hầu phát triển”, tại cấu tàu Pier J, theo quan điểm của những người trong nội bộ hải cảng. Vào tháng 6 năm 2000, nhân chuyến đi bằng thuyền, tác giả đã khám phá ra là các thùng hàng ‘container’ của tập đoàn COSCO đã dành chiếm hết toàn thể cầu tàu Pier J mà trước đó thì chúng đã từng phải sử dụng chung với công  ty Zim. Liệu chăng diện tích mới có được này sẽ đủ chăng cho bọn COSCO, cái đám thương thuyền của Quân đội Giải phóng Nhân dân của Tàu Cộng? Bọn COSCO vẫn còn có khả năng mở rộng sang tiếp các địa điểm khác ở gần đó. Ngay từ năm 2002, nhân giai đoạn đầu số 1, thì cả 318 mẫu về tiện nghi giải quyết loại thùng hàng ‘container’ tại cầu tàu Pier 400 cũng đã được hoàn thành tại hải cảng Los Angeles, và Maersk Sealand sẽ dọn bỏ trống các bến 266-270 tại cầu tàu Pier J và công ty Sea-Land Services thì sẽ dọn đi bỏ trống cầu tàu Pier G. Cuối cùng, thì cũng lại có những khu mới đã được san bằng để sẳn sàng sử dụng tại cầu tàu Pier S. Ba khả năng này quả thật là tha hồ cho bọn COSCO để cân nhắc mà lựa chọn.

Trong khi đó thì Hải Cảng Los Angeles lại đã từng cung ứng cho bọn COSCO một hợp đồng lợi lộc hơn rất là nhiều.

COSCO — Los Angeles, Cầu tàu số 400

Trong tháng 11 năm 1997, tờ New York Times đã tường trình là hải cảng Los Angeles hy vọng sẽ mời gọi được tập đoàn COSCO tới sử dụng bến mới Pier  400. 67 Hai tờ Long Beach Press Telegram và Insight Magazine thì tường trình là trong năm 1999, hải cảng Los Angeles đã ráng mời COSCO. Có lẽ vì do tiếng đồn ồn ào không tốt về tập đoàn COSCO nhân vụ trạm Hải quân, vào cuối năm 1999 hải cảng Los Angeles đã phải lặng lẽ ký một thỏa thuận dành “độc quyền” cho công ty Maersk Sealand khai thác cầu tàu Pier 400 (sau khi hoàn tất), và do đó đã loại trừ được khả năng của bọn COSCO để bành trướng đuợc ở địa điểm đặc biệt này.

Chiếu theo các mẫu lịch trình chuyển hàng của các thương thuyền COSCO tại Long Beach và Los Angeles đến các hải cảng Mỹ khác trong năm 1999 và 2000 thì:

Hải Cảng Long Beach

COSCO sử dụng 11 tàu – Seto Bridge, Lu He, Astoria Bridge, Akashi Bridge, Jin He, Ambassador Bridge, Mosel Bridge, Yue He, Tower Bridge, Chuan He và Wan He. Tàu của COSCO đáp bến hai lần mổi tuần tại hải cảng Long Beach, đi từ Hồng Kông trên hai hải trình khác nhau và một lần hàng tuần từ hai hải trình khác nữa. Những chuyến xoay quần cứ mổi tuần hai lần thì là qua ngõ Seattle, Vancouver và Oakland. Những chuyến đáp bến hàng tuần mổi lần thì là do qua ngõ Tacoma, Vancouver với Portland, và chuyến thứ tư thì là thông qua Vancouver, chiếu theo các lịch trình của COSCO cho tháng 9 năm 1999 đến tháng 4 năm 2000, tháng 8 và tháng 9 năm 2000.

COSCO sử dụng 9 tàu – Manhattan Bridge, Rainbow Bridge, Mackinac Bridge, H. Hudson Bridge, George Washington, Ambassador Bridge, Bay Bridge, Golden Gate Bridge và Harbour Bridge. Tàu của COSCO đáp bến hàng tuần tại hải cảng Long Beach và Oakland cứ sau một hải trình gọi là Asia Express ~ Á châu Tốc hành (hành trình trong 12 ngày) từ Hồng Kông và các hải cảng châu Á khác, chiếu theo lịch trình của COSCO cho tháng 9 năm 1999 đến tháng 3 năm 2000.

COSCO sử dụng 6 tàu – Crystal River, Maple River, Beauty River, Pretty River, Honor River and Dainty River. Tàu của COSCO đáp bến hàng tuần tại hải cảng Long Beach sau khi ghé hải cảng Vancouver và đã khởi hành từ miền bắc Trung Hoa lục địa với Nhật Bản, chiếu theo lịch trình của COSCO cho tháng 6 đến tháng 10 năm 2000.

COSCO sử dụng 6 tàu – Gao He, Yu Gu He, Pu He, Dong He, Tai He and Min He. Tàu của COSCO khởi hành đi từ Đông Nam Trung Hoa lục địa và Nhật Bản để cập bến hàng tuần tại hải cảng Long Beach, và sau đó thì đi tiếp đến Oakland, theo lịch trình của COSCO cho tháng 3 đến tháng 7 năm 2000.

Hải Cảng Los Angeles

COSCO sử dụng 6 tàu – M. Plenty, M. Pleasure, M. Propitious, M.Progress, M. Peace and M. Promotion. Tàu của COSCO đáp bến hàng tuần tại hải cảng Los Angeles, sau khi đến  từ các hải cảng của Trung cộng và Nhật Bản, thông qua Oakland, chiếu theo  lịch trình của COSCO cho tháng 4, tháng 8 và tháng 9 năm 2000.

Tàu thuyền của tập đoàn OOCL cũng từng hải vận hàng hóa đến Los Angeles.

Vùng Vịnh San Francisco ~ Hải Cảng Oakland

Vùng Vịnh San Francisco đã từng cung cấp cho Hải quân Mỹ rất là nhiều tiện nghi, nhưng trong nhiều thập kỷ, cái khu vực tự do phóng khoáng này đã lại trở thành rất ư là không thân thiện với Hải quân Mỹ, và thậm chí luôn cả với giới hải thương dân sự nói chung. Ngược lại, trong thời gian gần đây, giới lãnh đạo địa phương đã lại từng nồng nhiệt chào đón Mikhail Gorbachev khi y đến thăm các cơ sở cũ của quân đội Mỹ tại Presidio, nơi từng đãm nhiệm bảo vệ an ninh lối vào Vịnh.

Ngày nay, sinh hoạt Hải quân mà nổi bật nhất  thì chỉ đơn giản là một hạm đội gồm toàn những tàu phế thải, một loại Hải Lực Ứng chiến Dự Trữ (Ready Reserve Fleet), đang bỏ neo ở eo biển Carquinez Strait of Benicia, ngoài hẳn tầm nhìn từ cầu Golden Gate và từ thành phố.

Trong khi đó thì Hải quân Mỹ đã lần lượt đóng cửa nào là Trung tâm Alameda  Annex Fleet Industrial Supply Center (FISC), căn cứ Alameda Naval Air Station, chi nhánh Hunters Point Annex, xưởng tàu Mare Island Naval Shipyard, căn cứ Moffett Naval Air Station, trung tâm Naval Medical Center, Oakland FISC, Pacifi c Grove NAVESCEN, San Francisco PWC và căn cứ Treasure Island Naval Station. Các cơ sở tại bán đảo Mare Island và Moffett thì đang bị rao để bán hay cho thuê.

COSCO tại ngay các căn cứ quân sự của Quân Đội Mỹ ở Oakland

Vào tháng 8 năm 1993, Clinton đã ký sắc lệnh đặc biệt cho phép chuyển nhượng các bất động sản của Hải quân tại căn cứ củ Naval Air Station của Hải quân ở Alameda cho hải cảng Oakland, chỉ với một trị giá tượng trưng. Đến tháng 8 năm 1997 thì Hải quân Mỹ đã ký kết bàn giao toàn bộ bất động sản ở Alameda cho hải cảng Oakloand sở hữu hầu toàn quyền sử dụng.

Hội Đồng Tái Sử Dụng Căn Cứ Oakland (Oakland Base Reuse Authority ) cũng đang chuẩn bị để bàn giao căn cứ Oakland Army Base của Quân đội Mỹ, hiện đang bị đóng cửa, cho thành phố Oakland, mà đang dự tính sẽ để cho hải cảng Oakland toàn quyền sử dụng phân nữa số 422 mẫu Anh đó .  68

Cả hai bọn COSCO và OOCL sẽ đều có khả năng tha hồ hưởng lộc khi sẽ được quyền sử dụng các tiện nghi của quân đội Mỹ trước đây ở Alameda và Oakland. Cái kiểu trao đổi đất đai như đã từng xảy ra tại Long Beach và Charleston sẽ rất có thể là một cách khác để thực hiện việc này mà không không bị công luận để ý tới thôi.

Tuy Hải quân Mỹ không còn có chiến hạm nào đặt bến mẹ ở vịnh San Francisco Bay nhưng vẫn còn một căn cứ là San Francisco Navy Base. Họ cũng còn một kho tiếp tế vũ khí ở gần Concord, mà đã từng là một mục tiêu mà bọn ái mộ tụi Việt Cộng tại vùng Vịnh trong thời chiến tranh Việt Nam đã rất ư là ưa thích .

Ngược lại với Hải quân Mỹ, tập đoàn do quân đội Trung cộng làm chủ là COSCO thì lại đang có rất nhiều là bạn bè tốt ở vùng Vịnh. “Các nhà lãnh đạo Mỹ đã vẫn đang khẩn cầu thương vụ của COSCO từ khi Nixon bình thường hóa quan hệ giữa hai nước trong năm 1972.  Mấy thị trưởng San Francisco là Feinstein, Agnos và Jordan đã từng long trọng đón tiếp các viên chức COSCO đến thăm từ Bắc Kinh, với hy vọng là sẽ được đón tiếp nhiều tàu Trung cộng thêm nữa tại hải cảng San Francisco”.  68

Thượng nghị sĩ Dianne Feinstein (Dân chủ – California), đã bắt đầu mối quan hệ thân thiện của mình với tập doàn COSCO vào cuối năm 1970. Với tư cách là thị trưởng San Francisco, Feinstein đã từng khẩn cầu bọn COSCO hãy đến sử dụng dùm hải cảng San Francisco. Các thị trưởng sau đó, kể cả Art Agnos và Frank Jordan, cũng đã từng đi gặp các viên chức COSCO nhân những chuyến viếng thăm thương mại đến Bắc Kinh.

Các cuộc liên hoan đó đã bị khựng cứng lại vào năm 1996 khi một chiếc tàu của COSCO đã bị bắt giữ trên Vịnh tại Oakland vì đang vận chuyển lậu cả 2.000 khẩu súng loại tấn công  hầu cung cấp cho các băng đảng ở Los Angeles. Sự kiện này đã đổ thêm dầu vô lữa nhân cuộc tranh luận về đề tài căn cứ Hải quân Mỹ U.S. Naval Station ở Long Beach. Hai thượng nghị sĩ Feinstein và Barbara Boxer (Dân chủ – California) đã gửi thư đến Bộ trưởng Quốc phòng William Cohen của Clinton vào đầu tháng 3 năm 1997 để “yêu cầu ông ta tìm hiểu xem liệu có bất kỳ ‘lý do an ninh’ nào không, để bác bỏ các kế hoạch của thành phố Long Beach hầu sẽ cho thuê hải cảng … “.  69

Sau đó, người ta đã phát giác ra được là Richard Blum, tay chồng giàu có của Feinstein, thì lại đang cộng tác buôn bán với Peter Kwok. Blum và Kwok đã cùng hợp doanh trong một vụ đầu tư tại Trung Hoa lục địa tới cả 100 triệu Mỹ kim với tên gọi là Newbridge Capitol. Kwok cũng đã đãm nhiệm vai trò một “cố vấn cho một công ty con của COSCO, được gọi là COSCO Hồng Kong Holdings”, theo số báo ngày 27 tháng 3 năm 1997 của San Francisco Chronicle. Đồng nghiệp của Blum cũng thuộc Hội đồng Quản trị của chi nhánh COSCO tại Hồng Kông. 70  Và nhờ vậy, hiện nay bọn COSCO North America, Inc tại Bắc Mỹ, cũng có được một văn phòng ở Spear Street tại San Francisco. Có văn phòng mà lại không hề có tàu thuyền để chuyên chở hàng hóa!

Hải cảng Oakland

Không như San Francisco, Oakland với đa số dân cư là công nhân, dưới sự dẫn dắt của một số thị trưởng doanh nhân da đen và tay cựu thống đốc California tái sinh là Jerry Brown, đã hoan nghênh không chỉ giao thương với đám Cộng Sản COSCO, mà luôn cả với giới tư bản Mỹ.

Hải cảng Oakland nằm ngoài khơi của cầu Golden Gate, bên kia vịnh San Francisco và do hai lạch dài một ‘mile’ được vét đến 42 ‘feet’ sâu đưa vào. Hải cảng Oakland đã từng là một trong những hải cảng Mỹ tiên khởi áp dụng tiện nghi cất hàng loài thùng ‘container’. Các tiện nghi hải cảng đã trải dài cả 665 mẫu tây và có khả năng với 20 cầu tàu dọc theo thủy lộ 19 dặm Anh. Với khả năng cả 1.7 TEU trong năm 1999, hải cảng đã được xếp vào hàng thứ tư trong toàn quốc, và vào hàng thứ 20 trên toàn thế giới, chuyên về hải vận loại thùng hàng ‘container’. Một hệ thống đường bộ và hỏa xa tốt đã giúp cho Oakland đãm nhiệm vai trò một cửa khẩu đề nhập vào Mỹ quốc.

COSCO là một trong 34 hãng tàu cập bến tại cầu tàu nhộn nhịp Howard Terminal ở Oakland. Orient Overseas Container Line (OOCL) thì có trụ sở trung ương tại Hacienda Drive ở Pleasanton và tàu bè của chúng thì vẫn đã từng cập bến Oakland.

HẢI CẢNG OAKLAND — PHÍA ĐÔNG CỦA VỊNH SAN FRANCISCO BAY,

 TRÊN MỘT LẠCH NỐI ĐẤT LIỀN VỚI ĐẢO ALAMEDA ISLAND

 Page-76 Oakland Port

 

 COSCO có cơ sở ra ngoài cả bến Howard Terminal mà hiện đang phải sử dụng chung với các hảng tàu khác. Hải cảng Oakland đang có những kế hoạch mở rộng đầy tham vọng và cũng có được nhiều lựa chọn, kể cả chiếm luôn các địa điễm củ của căn cứ U.S. Naval Air Station trên đảo Alameda Island.

 

 Mãi đến năm 2006 thì Oakland vẫn đang có một ngân sách cả 1 tỷ 7 Mỹ kim nhằm xây cất them những bến cảng mới, một Joint Intermodal Terminal sử dụng chung và một dự án  vét sâu thêm các kinh và các bến cảng sâu tới độ 42 hay 50 ‘feet’. Hải cảng Oakland đã bán ra tới cả 400 triệu Mỹ kim công khố phiếu trong tháng 3 năm 2000. Cả 560 triệu đang được dùng cho công trình tên gọi là Vision 2000 (Viển kiến Năm 2000) để canh tân các bến số 55 tới số 56, cũng như để đáp ứng với nhu cầu đón nhận loại thùng hàng ‘container’ với diện tích rộng cả 150 mẫu Anh tại các bến số 57 và 58, cùng với công trình cải sữa hệ thống đường phố và đường giao thông trong vùng.

Hải cảng cũng đã có mua tới cả sáu cần trục chuyên dành cho loại thùng hàng ‘container’ vào hạng lớn nhất và nhanh nhất thế giới, nặng tới 1.600 tấn với khả năng hữu dụng trong chu vi 65 thước, có thể trục lên được một thùng ‘container’ rồi đưa qua cả một dãy 23 thùng ‘container’ khác đang xếp hàng chờ dưới đất. Sau khi được làm xong thì các cần trục này đã được chuyển giao từ Thượng Hải, Trung cộng, vào cuối tháng 10 năm 2000, và chúng chỉ thấp hơn bên phía dưới cầu Bay Bridge khi được đưa vào Oakland chỉ có 24 ‘inch’ mà thôi. Do đó, Oakland đang phải vét phần chính giữa bến cảng tới độ sâu 50 ‘feet’ trong suốt cả chiều dài 3.600 ‘feet’ của toàn thể các bến tàu nằm san sát nhau.

Thương vụ hải vận của tập đoàn COSCO tại Hải cảng Oakland

COSCO sử dụng 11 tàu – Seto Bridge, Akashi Bridge, Concord Bridge,Elms Bridge, Victoria Bridge, M. Plenty, M. Pleasure, M. Propitious,M. Progress, M. Peace and M. Promotion. Tàu của COSCO đáp bến hai lần mổi tuần tại hải cảng Oakland, sau khi khởi hành từ Hồng Kông, rồi xuyên qua Long Beach hay Los Angeles và các hải cảng Tàu cùng Nhựt bản, chiếu theo các lịch trình của COSCO từ tháng 9 đến tháng 4 năm 2000.

COSCO cũng sử dụng thêm 9 tàu khác – Manhattan Bridge, Rainbow Bridge, Mackinac Bridge, H. Hudson Bridge, George Washington,Ambassador Bridge, Bay Bridge, Golden Gate Bridge and Harbour Bridge. Tàu của COSCO đáp bến mổi tuần tại hải cảng Oakland sau khi khởi hành từ Hồng Kông,  trong một hải trình gọi là Asia Express ~ Á châu Tốc hành (hành trình trong 12 ngày) từ Hồng Kông, chiếu theo các lịch trình của COSCO từ tháng 9 năm 1999 đến tháng 3 năm 2000.

COSCO cũng sử dụng thêm 6 tàu khác – Gao He, Yu Gu He, Pu He, Dong He,Tai He and Min He. Tàu của COSCO đáp bến mổi tuần tại hải cảng Oakland sau khi khởi hành từ Đông Nam Trung hoa lục địa và Nhật bản, sau khi có ghé tại Long beach, chiếu theo các lịch trình của COSCO từ tháng 3 đến tháng 7 năm 2000.

Các hải cảng trên sông COLUMBIA: PORTLAND,

OREGON VANCOUVER, WASHINGTON

Hải cảng Portland

Khi thấy những nan đề về khuếch trương ở Los Angeles và Long Beach thì hải cảng Portland bèn muốn nhảy vô đáp ứng. Nằm mãi cách một trăm dặm trên sông Columbia nếu tính từ Thái Bình Dương, cái bến tàu khiêm nhường bên sông có tên là Hải Cảng Port of Portland đã chỉ có được con số doanh thu là 60 triệu Mỹ kim vào năm 1998 và nói chung là đang thua lỗ. Hải cảng phục vụ cho 11 hãng hải vận mà trong đó 9 là chuyên về loại thùng hàng ‘container’. Hải cảng khoe khoang là lớn vào hàng thứ nhì bên vùng bờ biển phía Tây về các mặt hàng hoá xuất cảng với số lượng lớn như ngũ cốc, khoáng sản, dăm gỗ và da bò. Tham vọng của hải cảng hiện nay là làm sao để mở rộng các tiện nghi đang có của mình.

Chương trình mở rộng hải cảng bao gồm một dự án đào sâu thêm con sông Columbia River theo kiểu vét kinh với trị giá  200 triệu Mỹ kim bằng tiền thuế đóng của người dân, hầu cải thiện lưu thông từ các hải cảng biển tại Rivergate. Sau khi đào sâu sông Columbia River thêm ba ‘feet’ thì hải cảng sẽ có khả năng cạnh tranh hơn với các hải cảng khác.

Thành phố Portland cũng bị những trở ngại về lưu thông trên Xa lộ xuyên bang số 5 và Quốc lộ số 26 dành cho loại xe vận tải chở hàng giao các nhà kho xưởng. Giải pháp được đề nghị là xây một “fast corridor ~ hành lang cho tốc độ nhanh” trên Xa lộ xuyên bang số 5 giữa Seattle và Tacoma với dự trù chi phí từ 350 triệu đến 500 triệu Mỹ kim.

Trong trường hợp lý tưởng nhất thì các canh tân cũng sẽ chỉ cho phép hải cảng đón tiếp được các tàu trọng tải ít hơn là con số 3.000 đơn vị tương đương loại thùng hàng ‘container 20-foot’ (TEU). Đây là phân nửa khả năng của loại tàu lớn hơn đòi hỏi độ nước sâu hơn mà hiện đang thống trị ngành hải vận”.  72

Ấy vậy, dù hải cảng rất là khiêm tốn, tập đoàn COSCO vẫn có tàu cập bến hàng tuần ở Portland. Chúng sử dụng năm tàu – Tower Bridge, Astoria Bridge, Bay Bridge, Golden Gate Bridge and Harbour Bridge. Tàu COSCO cặp ghé hải cảng Portland hàng tuần sau khi khởi hành từ các hải cảng của Trung cộng và Nhật Bản, sau khi cũng đã có ghé các mủi phía bắc và phía nam của Puget Sound, tức là Vancouver, B.C. và Tacoma. 73

Hải cảng Vancouver ở Washington

Đó là hải cảng phía Tây Nam của Washington. Hải cảng Vancouver kéo dài dọc trên cả 3 dặm rưỡi bên bờ sông Columbia, đối diện với hải cảng Portland. Vancouver của Washington, tuy nhỏ hơn Portland, nhưng lại được điều hành có lời. Hơn nữa, hải cảng còn có quyền sử dụng cả 1.000 mẫu tây đất chưa được phát triển có tên là Columbia Gateway. Hiện đang có các kế hoạch để xây dựng cả 1 dặm rưỡi đường nối vô những bến tàu mới của một hải cảng quan trọng về loại hàng ‘break-bull’ không cần phải chứa trong thùng ‘container’ nữa mà chỉ chất đống thành ‘pallets’ thôi. 74

Các tàu của tập đoàn COSCO thì vẫn cứ hàng tuần đúng hẹn vô cặp bến tại Vancouver, Washington. Sau đó, thì chúng Bắc chỉ đến vùng Seattle, rồi rẽ về phía đông và kế là xuôi Nam vô Puget Sound, vượt qua các căn cứ lớn của Hải quân Mỹ và rồi là hải cảng Seattle. Bọn COSCO cũng có dùng bến tại hải cảng Tacoma ở mủi Tây Nam của Puget Sound.

Các Hải cảng ở PUGET SOUND — SEATTLE, WASHINGTON,

và VANCOUVER, B.C.

Hải cảng Seattle

Theo tờ Seattle Post-Intelligencer số ngày 19 tháng 4 năm 1999, thì “quốc kỳ màu đỏ và vàng của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và cờ Stars and Stripes của Mỹ đã cùng được kéo lên và cuộn theo gió đập vào với nhau …”. Để kỷ niệm 20 năm giao thương với Trung cộng, một “… tàu chữa cháy đã bắn lên trời cao những cột nước màu đỏ cao ngất … trong khi một tàu kéo khác thì đang giúp chiếc thương thuyền dài 637 ‘feet’  … M.V. Liulinhai đến cập bến số 91 tại hải cảng Seattle …”. Và “… một ban nhạc Hải Quân Quận 13 [của Hoa Kỳ] bèn trổi lên bản “It’s a Small World ~ Quả là Thế giới thật nhỏ”.

Page-79-Image-28

Chuẩn Đề đốc Lu Fangqui, Tham Mưu Trưởng, Hạm đội Bắc Hải,

Quân đội Nhân dân Giải phóng (Hải quân), đón nhận một món quà của Paul Schell, thị trưởng Seattle. – Hình của Hải quân Mỹ

Thế giới thì dĩ nhiên chắc là phải nhỏ với cái tập đoàn COSCO và cái công ty OOCL mà đang được sử dụng các hải trình tuyệt hảo cũng y như là Hải quân Hoa Kỳ. Các bến mẹ của chín tàu ngầm hạt nhân của Hải quân Hoa Kỳ thì đều nằm gần đó, ở căn cứ tàu ngầm Naval Submarine Base Bangor của Hải quân, còn hàng không mẫu hạm Carl Vinson cùng sáu chiến hạm hỗ trợ thì là tại bến Puget Sound Naval Yard ở Bremerton, trong khi hàng không mẫu hạm  Abraham Lincoln với sáu khu trục hạm và chiến hạm yểm trợ thì cùng neo bến tại căn cứ Naval Station Everett.

Hải quân lại đang tiến hành để đóng cửa căn cứ Puget Sound Naval Station (Sand Point) và Trung tâm Naval Undersea Warfare Center, Keyport, Washington. Trong khi đó, thương vụ với Tàu cộng thì lại cứ tiếp tục nhộn nhịp không ngừng.

Rất nhiều hải trình nhằm đi ra khỏi Seattle đều dính líu tới các thương thuyền hải vận hàng hóa đến và đi từ phía Trung cộng. Bọn COSCO đã bắt đầu sử dụng hải cảng Seattle vào năm 1979 và hiện nay, chúng đang là một trong những khách hàng hải vận lớn nhất của hải cảng tại thành phố Seattle. Tại cầu tàu số 18, bọn COSCO vẫn duy trì một dịch vụ hàng tuần chuyển hàng đến từ Xiamen, Yantian và Hong Kong ở Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Kobe của Nhật Bản và Los Angeles. Ngoài ra, China Shipping Container Lines, một công ty con của China Shipping Group tại Thượng Hải, cũng đang có sáu thương thuyền phục vụ hàng tuần đưa hàng hóa đến hải cảng Seattle.

Công ty Stevedoring Services of America và đồng nghiệp phụ trách về bến đáp là Matson Navigation Co. đang điều hành bến Terminal 18, một tiện nghi mà bọn COSCO, OOCL và China Shipping Group đang phải dùng chung với cả bảy hãng hải vận khác nữa.

Ngoài ra, đám OOCL lệ thuộc Bắc Kinh cũng có chuyển hàng đến hải cảng Seattle và cũng có sở hữu những cầu tàu chính trên Puget Sound ở Vancouver, B.C.

Trung cộng đã là quốc gia giao thương vào hàng thứ ba của tiểu bang Washington, sau Nhật Bản và Canada, vào năm 1998, với cả 12 tỷ Mỹ kim trong thương vụ hai chiều, 8 tỷ Mỹ kim cho nhập khẩu và 4 tỷ Mỹ kim về xuất khẩu. Có lẽ đã có cho tới phân nửa hoặc nhiều hơn số thùng hàng ‘container’ của Trung cộng đều đã được trả về trống rỗng mà không hề có hàng bên trong để xuất cảng sang lại cho bọn Trung cộng. Hải cảng Seattle có thương vụ trị giá tới 6 tỷ 6 Mỹ kim hàng hóa với Trung cộng trong năm 1998. Mười năm trước đây thì thương vụ với Trung cộng chỉ là 723 triệu Mỹ kim mà thôi.

Trong tiến trình bành trướng giao thương với hải cảng Seattle, Trung cộng đã dành được các kỹ thuật tiên tiến hiện đại, mà một số lại rất là hữu ích về phương diện quân sự. Cái kiểu thương vụ thua lỗ, như tình trạng các thùng hàng ‘container’ trống rỗng từng được trả về, đã cho thấy kết quả là chỉ nhằm tài trợ để cho Trung cộng canh tân về kỹ thuật mà thôi.

Page-80-Image-30

Đã có hơn cả 350 người tới đón chào các tàu của

Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc là chiếc Taicang (AOR 575), ở hình trên và chiếc Qingdao (ĐG 113) tại căn cứ Naval Station Everett, Washington

~ Hình của Hải Quân Hoa Kỳ.

Các công ty khổng lồ về kỹ thuật như là Boeing và Microsoft đã từng là những kẻ cổ võ cho việc bành trướng thương mại với bọn Trung cộng và cũng rất có khả năng đã từng vi phạm các đạo luật về thương mại nhằm hạn chế việc xuất cảng loại kỹ thuật tiên tiến về quân sự. Chủ tịch công ty Boeing là Phil Condit đã từng tuyên bố là thương mại với Trung cộng “… mở ra nhiều thị trường rộng lớn mới cho hàng hóa và dịch vụ của Mỹ, và tôi cực kỳ tin tưởng là khối nhân lực có tay nghề cao và kiến hiệu của Mỹ rồi đây sẽ giành được nhiều thương vụ đáng kể mới trên những thị trường này vào những năm sắp tới”. Y nói tiếp, “Quốc hội nay cần phải hành động cấp thời để chuẩn cấp cho Trung Quốc quy chế Normal Trade ~ Thương mại Bình thường … ngỏ hầu Mỹ sẽ có thể gặt hái đầy đủ những lợi lộc mà thỏa thuận về mở cửa thị trường này sẽ cho phép”.

Bởi vì các xưởng sản xuất phi cơ của Trung cộng toàn chỉ chuyên làm ra những sản phẩm quá bết bát về phẫm chất, nên chắc chắn là Boeing cũng đang cung cấp hàng cho quân đội Trung cộng cũng như là cho cả kỹ nghệ về phi cơ dân sự mà chính Quân đội Trung cộng cũng kiểm soát luôn. Sau đó, Boeing cũng đã dời văn phòng trung ương ở Seattle về Chicago. Boeing từng đã ký hợp đồng giao cho Trung cộng sản xuất một số phụ tùng phi cơ ngay tại Trung hoa lục địa thay vì phải là được sản xuất ra ở tại Mỹ.

Công ty Microsoft thì đã từng làm ăn ở Trung Hoa lục địa mãi từ năm 1992 và đã có mở các dịch vụ để bán, hỗ trợ cùng nghiên cứu tại đó, theo lời của Erin Brewer, một nhân viên của Microsoft. “Chúng tôi vẫn đã luôn luôn ủng hộ chuẩn cấp quy chế Thương mại bình thường và thành viên của World Trade Organisation (Tổ chức Thương mại Thế giới) cho Trung Quốc”, Brewer đã cho biết như vậy. “Theo quan điểm của chúng tôi, và cả của kỹ nghệ về kỹ-thuật học, thì sẽ có lợi luôn cả cho Hoa kỳ lẫn Trung Quốc mà cũng giúp bảo đảm cho nghành kỹ nghệ về thông tin học của Trung Quốc lành mạnh và vững vàng”.

HẢI CẢNG  SEATTLE NẰM Ở VỊNH ELLIOTT BAY,

BÊN NGOÀI KHƠI CỦA PUGET SOUND.

 HẢI QUÂN HOA KỲ THÌ LẠI NẰM GẦN ĐÓ,

 Ở BANGOR, BREMERTON VÀ EVERETT, WASHINGTON

Page 81 Seattle Port

COSCO cùng sử dụng chung với OOCL và

China Shipping Group of Shanghai bến cảng Terminal 18.

Hải cảng Seattlle dự trù sẽ tăng gấp đôi

diện tích hữu dụng dành cho loại thùng hàng ‘container’.

Vì đang bị tận dụng mất rồi, hải cảng Seattle đang phải khởi đầu phát triển thêm với trị giá cả 350 triệu Mỹ kim hầu tăng cường số cầu tàu cho tập đoàn COSCO ở bến Terminal 18 nhằm cung cấp thêm tiện nghi về loại hàng thùng ‘container’ ở đảo Harbor Island. Bến Terminal 18 sẽ được mở rộng gấp đôi để lấn chiếm cả từ 106 đến 200 mẫu tây, cũng như là tăng đôi khả năng về đường hỏa xa nhằm phục vụ cho bến cảng này.

Việc mở mang bến cảng chuyên về loại ‘container’ này sẽ cung cấp được 1.300 công ăn việc làm. Đến năm 2010, thương vụ về ‘container’ sẽ tăng trưởng và tạo ra 60.000 việc làm mới. Bến mới Terminal 18 sẽ tạo ra mỗi năm được những thương vụ mới với trị giá đến 330 triệu Mỹ kim và gần cả 15 triệu Mỹ kim tiền thuế lợi tức. Các công khố phiếu đặc biệt sẽ được dành ra để tài trợ cho dự án Terminal 8 này.

Hải cảng cũng có chi  270 triệu Mỹ kim để mở rộng bến Terminal 5 tại West Seattle. Trong một dự án với Công Binh Mỹ (U.S. Army Corps of Engineers), cả 3.000 ‘feet’ dài  của hải trình East Waterway of the Duwamish River Waterway sẽ được vét tới mức 50 ‘feet’ sâu, hầu có khả năng đón tiếp các thương thuyền chuyên về ‘contrainer’ của, chúng tôi muốn nhấn mạnh ở đây, của chính Trung cộng mà thôi.

Các tin tức về hải vận của Sở Giao dịch hàng hải Marine Exchange tại Puget Sound có cho thấy 5 tàu chính của tập đoàn COSCO là Chuanhe, Jinhe, Luhe, Wanhe và Yuehe, đều từng đậu tại bến cảng Terminal 18 của Seattle, cứ hai lần mổi tháng trong suốt năm 1999 và năm 2000. Đa số tàu là đều đến từ Long Beach và trực chỉ hướng Bắc lên Puget Sound tới Vancouver, B.C., chiếu theo các theo lịch trình của tập đoàn COSCO cho từ tháng 2 đến tháng 7, rồi tháng 8 và tháng 9 năm 2000.

Tới năm 1999 thì một loại thuế  hải cảng mới ở Seattle có thể đã làm giảm sự nhiệt tình của tập đoàn COSCO đối với Seattle. “Howard Finkel, phó chủ tịch về thương vụ của China Ocean Shipping Co., hay là tập đoàn COSCO ở Secaucus, N.J., có cho biết là hãng hải vận của mình đang rất quan tâm về cái thuế bến cảng [Seattle] này”.

Hải cảng Vancouver chính là bến cặp đầu tiên của mọi tàu, trước khi trực chỉ đến hải cảng Long Beach. Tập đoàn COSCO đã tuyên bố muốn tiếp tục sử dụng thêm nữa hải cảng Seattle. Howard Finkel tuyên bố là, cái thuế về hải cảng [Seattle] “sẽ không thể là động lực quyết định (để chọn Vancouver làm bến đáp đầu tiên), nhưng chúng tôi vẫn rất ư là quan tâm về điều đó”. 75

Hải cảng Vancouver, Tỉnh bang British Columbia, Canada

Nhờ những phản ứng của Quốc hội, tập đoàn COSCO đã từ bỏ các cố gắng để dành căn cứ hải quân Mỹ U.S. Naval Station ở Long Beach và cả luôn dự tính dành chiếm cầu tàu Pier 400 ở Los Angeles. Bọn COSCO bèn di chuyển một phần về Vancouver, B.C. Trong mùa hè năm 1999, hai năm sau khi cảnh sát phụ trách hải cảng Vancouver bị giải tán, thì hải cảng Vancouver lại đã ký một hợp đồng với bọn COSCO.

Tuy Vancouver nằm hơi xa một chút về phía Bắc để đãm nhiệm vai trò hải khẩu vào Bắc Mỹ, nhưng nó vẫn có được một giá trị lớn về chiến lược – đó là hải cảng lớn duy nhất bên bờ biển phía Tây của Bắc Mỹ mà không có một lực lượng cảnh sát và nó cũng đang sử dụng chung các thủy lộ cùng với Hạm đội Thái-Bình Dương Mỹ.

Hải cảng Vancouver, B.C., chia sẻ các thủy lộ vào từ Thái Bình Dương và chung quanh đảo Vancouver với hải cảng Seattle và 3 căn cứ quan trọng của Hải quân Mỹ: Căn cứ tàu ngầm hải quân Naval Submarine Base tại Bangor, căn cứ Hải quân Naval Station Everett và căn cứ Naval Air Station Whidbey Island.

Đảo Vancouver được bao bọc ở phía Bắc và phía Tây bởi eo biển Strait of Georgia đưa  về Vancouver nằm trên đất liền và được bao bọc ở phía Nam và phía Tây bởi eo biển Juan de Fuca dẫn về gần Puget Sound, nơi có các thành phố Seattle và Tacoma và các căn cứ quan trọng của Hải quân Mỹ.

HẢI CẢNG VANCOUVER, BRITISH COLUMBIA,

TẠI NHÁNH BIỂN BURRARD INLET,

PHÍA BẮC CỦA PUGET SOUND

 Page 83 Vancouver Port

 Tập đoàn COSCO sử dụng bến Vantern Terminal

 do bọn OOCL điều hành tại hải cảng Vancouver.

OOCL cũng điều hành Deltaport và

Li Ka-Shing thì sở hữu các cầu tàu Fraser tại Vancouver.

 

Báo Washington Times từng loan tin là trong tháng 7 năm 2000, CIA có báo cáo về “những nỗ lực thu lượm tin tình báo do các thương thuyền Nga thực hiện nhắm vào các căn cứ tàu ngầm hạch tâm” trong “eo biển Juan de Fuca, phia trên của Puget Sound thuộc tiểu bang Washington”. Trong một vụ riêng rẻ khác, bọn Nga cũng bị tố cáo đã bắn tia ‘laser’ vào một trực thăng trinh sát Canada và làm mù một viên sĩ quan.

Bọn COSCO cũng đang nằm ở một địa điểm có được khả năng để thi hành những hoạt động tương tự cho Trung cộng. Các viên chức của hải cảng Vancouver đều bác bỏ mọi bằng chứng khả dĩ cho thấy là tập đoàn COSCO đang có hành vi trực tiếp thực sự bất hợp pháp nào hay không. Họ thậm chí còn không công nhận, một cách rất ư là dối trá, là đã từng có nhận được cảnh cáo về COSCO từ lực lượng Mounties Candian (Cảnh Sát Hoàng Gia Gia-nã-đại), bất chấp các bài báo rất đáng tin cậy đã từng loan tin về việc đó.

COSCO là một trong số các hãng thương thuyền có cơ sở hoạt động ở cả hai nơi là Vancouver và Seattle.

Tại Vancouver, thì COSCO cũng có sẳn nhiều đồng minh thân thiện.

Tên cố vấn C.C. Tùng cho tập đoàn COSCO thì lại sở hữu Orient Overseas Container Line (OOCL), mà đang điều hành hai  bến cảng chuyên về ‘container’ là các cầu tàu Deltaport và Vanterm nằm ở Stewart St. và Roberts Bank tại Vancouver. OOCL đã khoe trương là thương vụ của chúng tại Vancouver đặc biệt rất ư là thành công trong năm 2000.

Li Ka-Shing của công ty Hutchison Whampoa thì lại làm chủ các cầu tàu tại bến cảng Surrey Fraser ở Vancouver. Theo các nguồn tin Canada thì y và con trai cùng nhau sở hữu “ít nhất là một phần sáu đến một phần ba của trung tâm thành phố Vancouver”. 76

Theo số ngày 28 tháng 5 năm 2000 của tờ The Province ở Vancouver, B.C., thì vào năm 1997, “Cảnh sát hải cảng Vancouver đã thu thập và đúc kết được xong một hồ sơ tình báo và đã đưa ra một cảnh cáo với hải cảng [Vancouver] về việc họ đang thảo luận để ký hợp đồng với tập đoàn COSCO, một công ty vận tải đường biển Trung cộng mà các tàu từng đã có dính líu đến việc buôn lậu vũ khí trên thế giới. Sau đó thì COSCO cũng đã vẫn dọn được vào hải cảng và viên Giám đốc Điều hành của hải cảng là Norman Stark thì cũng đã lại nói là y không hề nhớ được là từng đã có vụ cảnh cáo này”.

Trong khi đó thì chính quyền tại Ottawa bèn giải tán lực lượng cảnh sát quốc gia phụ trách về các hải cảng và, do đó, mọi hồ sơ đều biến mất không tìm lại được nữa, theo bài báo trên tờ The Province. Tờ này cũng cho biết họ đã biết được là “Cuộc điều tra cũng đã chấm dứt theo với quyết định giải tán gây nhiều tranh cãi này của lực lượng đó vào năm 1997”.

“Ban Quản Trị Hải cảng Vancouver đã không hề lưu tâm đến các cảnh cáo báo động dính líu tới những lợi ích về kinh doanh với Trung cộng mà họ đang ve vãn trong thập niên 1990 và do đó đã giúp cho một số liên kết về kinh doanh rất đáng phải nghi ngờ lại có thể bám trụ tại hải cảng”.

Thật vậy, “Vào giữa thập niên 90, khi mà các nỗ lực tán tỉnh mời gọi tập đoàn hải vận khổng lồ của Trung cộng là COSCO đang đi vào cao điểm thì các viên chức tình báo, kể cả cảnh sát tại các hải cảng địa phương, cũng đều cùng đã gióng lên những hồi chuông báo động về những liên hệ rất ư là có vấn đề của tập đoàn đó”.  77

Thương vụ của tập đoàn COSCO tại Vancouver, B.C.

COSCO sử dụng 5 tàu – Lu He, Jin He, Yue He, Chuan He và Wan He. Tàu của COSCO hàng tuần cặp bến Hải cảng Vancouver, B.C. và Hải cảng Seattle, sau khi khởi hành từ Hồng Kông, chiếu theo lịch trình của COSCO cho tháng 2 đến tháng 7 và tháng 8 với tháng 9 năm 2000.

COSCO sử dụng 6 tàu – River Crystal, Maple River, Beauty River,Pretty River, Honor River and Dainty River. Tàu của COSCO hàng tuần cặp bến Hải cảng Vancouver, B.C.  và Hải cảng Long Beach, sau khi khởi hành từ miền Bắc Trung hoa lục địa và Nhật bản, chiếu theo lịch trình của COSCO từ tháng 6 đến tháng 10 năm 2000.

COSCO TẠI CÁC HẢI CẢNG VÙNG VỊNH

Houston và New Orleans

Hải Cảng Houston

Các thương thuyền vẫn thuờng sử dụng Vịnh Mexico để vào nội địa Mỹ. Trong thời chiến thì vùng này cũng đã từng là tử huyêt của Mỹ. Hải cảng Houston nằm phía trên vịnh Galveston Bay độ 50 dặm Anh, trên con kinh rộng 40 ‘foot’ Houston Channel đưa vào từ Galveston ở Vịnh Mexico. Houston cạnh tranh với New Orleans về hải vận từ thượng lưu sông Mississippi đưa về vùng Vịnh. Hơn một nửa lưu lượng thùng hàng ‘container’ từ Mexico đều đến từ hải cảng Houston. Houston cũng là hải cảng chuyên về loại thùng hàng ‘container’ lớn thứ chín của toàn quốc.

Hải cảng Houston giúp tạo ra 755 triệu Mỹ kim doanh thu trong năm 1998, với cả 200.000 công ăn việc làm và đóng góp tới 7 tỷ 7 Mỹ kim cho nền kinh tế địa phương với các thương vụ xuất cảng ngũ cốc, sản phẩm dầu mỏ và hóa chất để rồi nhập cảng ngược lại với dầu thô, sắt / thép, nhựa và hóa chất.

Báo chí Houston thì gần như không bao giờ đề cập đến tập đoàn COSCO, nhưng Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa có mở một toà Lãnh sự ở Houston nằm trên đại lộ Melrose. Các cơ sở Barbours Cut của tập đoàn COSCO thì đang hoạt động quá khả năng của mình. Độ sâu nước tại bến cảng Container Terminal thì chỉ có 39 ‘feet’ mà thôi.  78

Công ty OOCL, cục cưng của Bắc Kinh, thì cũng có mở một văn phòng để phục vụ và cũng có hải vận hàng hóa đến Houston.

Hải cảng Houston đã đưa ra một dự án khổng lồ sẽ được thực hiện trên kinh Bayport Channel. Tham vọng này nhằm xây dựng 7 cầu tàu, trải rộng trên một diện tích 1 ngàn mẫu Anh, rải rác trên cả tuyến đường 7 ngàn ‘feet’, tức là cả một dặm rưỡi đường dài. Nếu hoàn tất, sẽ có một bến cảng loại thùng hàng ‘container’  lớn cả ba lần hơn hơn cái 250 mẫu Anh hiện tại đang có tại Barbours Cut. Toàn dự án sẽ trị giá 1 tỳ 2 Mỹ kim. Hải cảng Bayport mới sẽ có khả năng giải quyết được mổi tuần cả 57 đoàn tàu hỏa xa dài và mỗi ngày cả 7.000 xe vận tải chổ đầy hàng hóa.

Nhu cầu 1 tỳ 2 Mỹ kim được dự trù sẽ phần lớn do công quỹ – quỹ liên bang và địa phương, doanh thu hải cảng và 387 triệu công khố phiếu mà sẽ được bán ra. 79 Tập đoàn COSCO, cũng như các hãng hải vận chuyên về ‘container’  khác đang sử dụng Barbours Cut, đều sẽ được hưởng lợi từ các khoản chi ra của cái Kho bạc Nhà Nước này.

Sử dụng 5 tàu – M. Longevity, Gulf Bridge, C. Atlantic, Ming Ocean and Atlantic Bridge,  thương thuyền của tập đoàn COSCO vẫn cặp bến hàng tuần từ Bắc Âu (xuyên qua Charleston, Miami và New Orleans) đến hải cảng Houston, chiếu theo các lịch trình của COSCO cho tháng 4 đến tháng 8 năm 1999.

HẢI CẢNG HOUSTON CÓ MỘT HẢI TRÌNH XUYÊN KINH

Ở BẮC GALVESTON, VỊNH MEXICO.

 Page-87 Port Houston

 Tập đoàn COSCO đang sử dụng bến Barbours Cut Container

tại Hải cảng Houston, mà nay đã bị tận dụng.

Hải cảng đang dự trù sẽ xây cất thêm ở

Bayport, hầu tăng gia gấp ba khả năng của Barbours Cut.

Hải cảng New Orleans

Bộ mặt ẩn danh núp lén ở khắp mọi nơi của tập đoàn COSCO đã bất thình lình bị lộ ra ở New Orleans, khi chiếc Bright Field (với chiều dài cả gấp hai lần của một sân vận động chơi ‘football’), nặng trĩu đầy bắp trái, bị hư và không còn di chuyển được nữa vì máy móc lâu nay không hề được bảo trì. Tay hoa tiêu phụ trách đoạn sông Mississippi đã không thể tránh cho tàu khỏi đâm vào và phá nát dọc suốt cái bến đang rất ư là nhộn nhịp này, với đầy cữa hàng, tiệm ăn, chẳng hạn như tiệm Café du Monde nổi tiếng, cùng một khách sạn, vào giữa tháng chạp năm 1996.

Đáng lẻ sự hiện diện của bọn COSCO dọc theo dòng sông Mississippi tử huyệt của Mỹ đã không hề được ai lưu ý tới đâu. COSCO quả có quảng cáo tàu thuyền của mình hàng tuần vẫn cập bến hải cảng New Orleans để chở tới đầy những thùng hàng ‘container’  đầy ứ từ Bắc Âu. COSCO đã sử dụng 5 tàu – M. Longevity, Gulf Bridge, C.Atlantic, Ming Ocean and Atlantic Bridge. Tàu của COSCO ghé cảng hàng tuần và  đều khởi hành  từ Bắc Âu (thông qua Charleston và Miami) để đến hải cảng Port of New Orleans sau khi đã ghé Houston, chiếu theo các lịch trình của COSCO từ tháng 4 đến tháng 8 năm 1999.

HẢI CẢNG NEW ORLEANS NẰM PHÍA TRÊN CỦA MỘT LÒNG SÔNG CẠN

PHÍA THƯỢNG LƯU SÔNG MISSISSIPPI

TRƯỚC KHI ĐỔ VÀO VỊNH MEXICO.

 Page-88 Port New Orleans

 Tập đoàn COSCO đang sử dụng các tiện nghi

tại Napolean Avenue ở Hải cảng New Orleans.

Hải cảng đang hy vọng sẽ xây dựng được một Hải Cảng Ngàn Năm Một Thuở (Millennium Port) trên các con kinh sâu hơn của dòng sông Mississipi.

Hải cảng New Orleans tự cho là “trung tâm của … Hệ Thống Hải Trình Nhộn Nhịp Nhất Thế Giới”.  Có hơn cả 6.000 thương thuyền di chuyển xuyên qua New Orleans trên sông Mississippi.  Sáu đường hỏa xa quan trọng và toàn một hệ thống thủy lộ nội địa dài cả 15.000 dặm Anh từ trong nội địa đã cùng nhau tụ về đó.

Chỉ có một phần ba trong tổng số 17 tỷ 2 Mỹ kim trị giá sản phẩm được chuyển đi từ các hải cảng của tiểu bang Louisiana vào năm 1999 là đã được sản xuất ngay trong tiểu bang. Thật vậy, Louisiana chỉ là tiện nghi giúp cho tổng số hàng sỉ được hải vận bằng phà dọc xuống dòng sông Mississippi mà thôi.  80

New Orleans nhập cảng thép, cao su thiên nhiên, gỗ ép và cà-phê. Các mặt hàng xuất cảng xuyên qua New Orleans thì gồm có hóa chất, dầu khí, than đá, thực phẩm đã được chế biến, nông sản và các sản phẩm về giấy.

Các bến chuyên về loại ‘container’ tại kinh Industrial Canal cách Trung tâm  Mississippi River-Gulf Outlet, mà với độ sâu chỉ có 6 ‘feet’ thì lại cạn hơn là độ sâu 45 ‘feet’ của dòng sông Mississippi. Điều này đã giới hạn kích thước của các tàu chuyên chở ‘container’ và lượng hàng hóa của chúng.

Những tàu chuyên chở ‘container’ nếu mà được chất đầy thì đều không thể nào cặp bến tại đó. 81 Địa điểm Napoleon Avenue quá nhỏ nên không thể dùng làm bãi cho loại thùng hàng ‘container’. Khi cơn bão Georges làm tê liệt New Orleans thì hoạt động hải vận đều phải bị chuyển hướng về Charleston và Houston.

Hải cảng New Orleans đã từng chi đến cả 500 triệu Mỹ kim hầu ráng hiện đại hóa các cầu tàu hiện hữu mà có khả năng đón loại hàng cá lẻ ‘breakbulk’ lẫn các cầu tàu chuyên về thùng ‘container’ ở bến tàu Nashville Avenue Wharf A lẫn bến tàu Napoleon Wharf B bên bờ phía Đông của sông Mississippi.

Hải cảng cũng đang xây cất một tiện nghi mới rộng cả 64 mẫu tây tại khu Napoleon Avenue, gồm có một cầu tàu 1.739 ‘linear-foot’ dài mới, một bãi rộng 44 mẫu tây để xếp cất hàng hóa cùng cả 4.453 ‘feet’ đường hỏa xa cho cần trục di chuyển dọc theo bờ sông. Cơ sở tạm thời hiện nay tại Napoleon Avenue tuy hiện đủ đề đáp ứng mau lẹ cho nhu cầu thị trường nhưng cũng sẽ không còn đủ về tương lai lâu dài.

Các hãng tàu cùng các công ty quản lý bến cảng đều cùng muốn dời các bến dành cho loại thùng ‘container’ đến sông Mississippi, nơi sẽ có được một độ sâu 45 ‘foot’. Một công trình nghiên cứu có đề nghị xây một bến vĩ đại cho loại thùng hàng ‘container’ ngay trên sông Mississippi, ở phía Nam của New Orleans, mà sẽ được đặt tên là Millennium Port (Hải cảng Thiên niên kỷ), một loại tiện nghi phức tạp cho ‘container’, trong vùng nước có đủ độ sâu, hầu cho phép các loại tàu lớn hơn có thể cất dở hàng được ngay tại các cầu tàu hiện hữu. Các cầu tàu mới trên sông Mississippi rồi đây sẽ cho phép các tàu có thể cất hàng lên ngay tại New Orleans. 82

Canh tân hải cảng thì sẽ do tư nhân tài trợ, nhưng công quỹ sẽ phải trang trải cho các sở phí xây dựng các xa lộ cùng cải tiến hệ thống hỏa xa. Hải cảng Thiên niên kỷ sẽ giúp New Orleans tăng gia khả năng về thị trường loại thùng hàng ‘container’, mà trong đó thì sẽ có Trung cộng và tập đoàn COSCO. Số lô hàng chuyển đến từ Trung Hoa lục địa sẽ đứng vào hàng thừ bảy trong thị trường xuất cảng của tiểu bang Louisiana. Xuất cảng sang Trung cộng được dự trù ​​sẽ tăng thêm nữa, nếu Trung cộng thực sự cắt giảm thuế cùng lệ phí cấp giấy phép nhập cảng, sau khi chúng gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO.

COSCO TẠI CÁC HẢI CẢNG ĐẠI TÂY DƯƠNG

Miami, Savannah, Charleston, Norfolk,

 New York và Halifax

Tuy hãy còn khá khiêm tốn, chỉ với khả năng có 242.855 TEU trên toàn vùng bờ biển Đông vào năm 1998, tập đoàn COSCO đã cố gắng bành trướng các dịch vụ của mình sang đến bờ biển phía Đông. Các viên chức địa phương thì cũng chỉ chờ để giúp một bàn tay như đã từng xẩy ra bên bờ phía Tây và vùng Vịnh.

Bọn COSCO đã đang mở rộng thêm việc sử dụng kinh đào Panama bằng cách cho tàu chở hàng của mình đến thẳng và cập bên bờ biển phía Đông, và do đó, đã bỏ qua không cần sử dụng các dịch vụ khổng lồ đúng ra đã phải được cung cấp bởi giới xe vận tải và hệ thống hỏa xa Mỹ từ các hải cảng Bờ Tây sang. Ngày 18 tháng 5 năm 2000, một tàu COSCO, chiếc MV Gu Yu He, đã đi xuyên qua kinh Panama để khởi đầu một dịch vụ vận chuyển bằng thùng ‘container’ mới giữa châu Á, Bờ Đông Hoa Kỳ và Trung Mỹ. Con tàu đã rời bến từ Hồng Kông để đi New York. Dịch vụ hải vận mới của bọn COSCO, tên gọi là AEX, sử dụng 9 tàu với khả năngtới 3.400 TEU. Dịch vụ mới này chỉ là tăng cường thêm cho số 300 tàu của cái đội thương thuyền cả 600 chiếc của tập đoàn COSCO mà đã từng đang sử dụng kinh Panama từ trước đến giờ.

Hải cảng Miami-Dade

Hải cảng Miami-Dade từng rất nổi tiếng như là một hải cảng về dịch vụ du lịch bằng du thuyền bận rộn nhất thế giới, đã từng thu hút  tới cả 1 triệu 5 khách du lịch vào năm 1999. Hải cảng Miami chỉ đứng vào hàng thứ 10 nếu so về hải cảng hàng hóa bận rộn nhất trong cả nước. Công ty Port of Miami Terminal Operating Company (POMTOC) thì chỉ có thể giải quyết được có số lượng 1.400 loại thùng hàng ‘20-foot container’ hàng ngày và đang bị dồn động lại gần cả 8.000 thùng ‘container’ khác, xếp chồng lên nhau ở khắp mọi nơi, kể cả tại các bãi đậu xe.

Hải cảng đang nghiên cứu một số biện pháp hầu cải tiến khả năng, kề cả xây một con đường hầm nối vào hải cảng cùng với công tác vét thêm tới độ sâu 43 hay 50 ‘feet’.

Việc kiểm điểm các phúc trình mới về hải cảng có cho thấy là các viên chức quản trị Hải cảng Miami đã từng phản đối việc Quan thuế Mỹ tới kiểm tra chống buôn lậu ‘cocaine’. Cũng đã có những phúc trình của cơ quan Immigration and Naturalization

Service ~ INS (Sở Di Trú và Nhập Tịch) về việc họ đã từng phá vỡ các tổ chức buôn lậu bất hợp pháp người Tàu từ Cuba và vùng biển Carribean đến Miami và New York.

Lực Lượng Cảnh sát Bảo vệ Bờ biển ‘Coast Guard’ đã từng rất bận rộn điều tra về một vụ xả dầu rộng tới cả 30 dặm Anh, dọc theo bãi biển Broward County. Cảnh sát đã phải lên tới 9 tàu chở dầu để lấy mẫu dầu.

Người ta hy vọng là các vi phạm của bọn COSCO thì cũng không tồi tệ hơn chỉ là các vụ xả dầu. Nhưng không ai biết được rỏ rang vì đã không hề có ai chịu để ý đến chuyện này cả. Khác với việc xả dầu, mà ít ra thì cũng chỉ  gây thiệt hại cho kỹ nghệ du lịch bằng du thuyền thôi, các hiểm nguy do tập đoàn COSCO đặt ra về vấn đề an ninh đã không được dàn ‘radar’ nào chú ý đến cả. Mà trên thực tế, ngay cả mấy dàn ‘radar’ thì cũng không có dàn nào đã được mở lên để hoạt động hầu kiểm tra sự việc. 83

COSCO sử dụng 5 tàu ​​– M. Longevity, Gulf Bridge, C. Atlantic, Ming Ocean and Atlantic Bridge thường cặp bến hàng tuần sau khi khởi hành từ Bắc Âu, rồi qua Charleston để đến hải cảng Miami, và tiếp sau đó là New Orleans và Houston, chiếu  theo lịch trình của bọn COSCO cho tháng 4 đến tháng 8 năm 1999. Công ty OOCL thân thiện với Bắc Kinh thì cũng có tàu chuyển hàng vào hải cảng Miami luôn luôn.

Hải cảng Charleston, South Carolina

Charleston đã từng là một thị trấn của giới Hải quân. Nhưng nay thì không còn như vậy nữa rồi. Với căn cứ Charleston Naval Station bị đóng cữa, còn cái Trung tâm Naval Weapons Center thì bị thu gọn lại, nay Charleston không còn nương tựa được vào Hải quân Hoa Kỳ để mà tiếp tục có được những công ăn việc làm dân sự với lương cao nữa.

Hải cảng Charleston Harbor nằm ở 15 dặm trên thượng lưu một con lạch vét sạch sâu tới từ 40 đến 42 ‘feet’, và nếu thủy triều xuống thì sẽ còn chỉ 35 ‘feet’ sâu thôi. Bến Wando Welch Terminal đã nhanh chóng giúp cho Charleston trở thành một hải cảng về ‘container’ lớn vào hàng thứ tư của toàn quốc kể từ khi họ khai trương cái cầu tàu đầu tiên trong năm 1981. Hải cảng Charleston có tới bốn bến để phục vụ cho loại thùng hang ‘container’, với 15 cầu tàu rải rộng trên cả 450 mẫu Anh.

Charleston chuyển đi tổng số hàng trọng lượng đến cả 1 triệu 5 TEU mổi năm. Trong vùng Nam Đại Tây Dương, vào năm 2000 thì hải cảng Charleston đã là vô địch và đã cung cấp đến cả 85.000 công ăn việc làm, cùng tăng trưởng lên 16% và tăng gia tổng  lượng ‘container’ được giải quyết tới 21%. 84

Charleston có khả năng giải quyết số lượng hàng hóa ra khỏi bến nhanh hơn so với bất kỳ hải cảng nào khác ở Bắc Mỹ, và đang nắm giữ cái kỷ lục mỗi cần trục di chuyển được tới 64 thùng hàng ‘container’ nói chung trong mỗi giờ hoạt động.

Nếu nói về trị giá bằng Mỹ kim của hàng nhập cảng thì Trung cộng là đối tác về thương vụ vào hàng thứ nhì của Charleston, chỉ sau Đức, nhưng trước Nhật Bản và Anh quốc.

Năm 1998, Ban Quản trị hải cảng đã hân hoan thông báo: “Hải cảng Charleston đã dành được độc quyền với một số hãng vận tải quan trọng … Công ty trong số đó mà … đã có ảnh hưởng quan trọng và tiêu biểu nhất đã là COSCO / K-Line / Yang Ming Group  … mà [đang] bắt đầu khai trương một dịch vụ phục vụ cho Bắc Âu vào năm ngoái mà đã gồm luôn … Charleston”. Trong tháng 10 năm 1998, “COSCO tăng cường hàng tuần thêm một chuyến cặp bến cho dịch vụ hải trình Địa Trung Hải”.

Công ty OOCL của giòng họ Tùng thì cũng có hải vận hàng hóa đến Charleston.

Còn tập đoàn COSCO, mà đã bành trướng rất nhanh, thì lại tận dụng bến Columbus Street Treminal của hải cảng Charleston, nơi mà cứ cách ngày đều có tàu của COSCO cặp bến.

Sử dụng 5 tàu – M. Longevity, Gulf Bridge, C. Atlantic, Ming Ocean and Atlantic Bridge, tàu thuyền của COSCO cứ cặp bến hàng tuần tại hải cảng Charleston sau khi khởi hành từ Bắc Âu, để rồi tiếp xuống Miami, New Orleans và Houston (trong tháng 4 đến tháng 8 năm 1999). Sử dụng một số 8 tàu ​​khác – Chesapeake Bridge, Xi Bo He, Na Xi He, Yu Gu He, Ha Ni He, Rainbow Bridge, Ming Prominence and Jing Po He, COSCO cũng có tàu cặp bến hàng tuần tại hải cảng Charleston và New York sau khi khởi hành từ Hồng Kông (tháng 8 và 9 năm 2000).

HẢI CẢNG CHARLESTON NẰM CÁCH SÔNG COOPER RIVER

TẠI THÀNH PHỐ CHARLESTON, SOUTH CAROLINA.

 Page-92 Port Charleston

 COSCO sử dụng diện tích được mở rộng tại bến Columbus Street Terminal phía bên kia sông Cooper. Nhờ trao đổi đất đai với các hãng khác và rồi di chuyển về căn cứ Charleston Naval Station củ, nên đã có thêm nhiều diện tích khả dụng. Đạn dược của Hải quân từ căn cứ Naval Weapons Station ở thượng lưu sông Cooper đều phải bị vận chuyển ngang qua các cầu tàu của COSCO. Hải cảng đang dự trù tăng thêm gấp ba khả năng giải quyết loại thùng hang ‘container’ với một tiện nghi mới  trên đảo Daniels Island nằm giữa hai sông Cooper và sông Wando.

 Giống như Long Beach, giới chức hải cảng South Carolina cũng đã cố gắng xây dựng  cho được một bến cảng nhằm đón nhận loại thùng hàng ‘container’ tại căn cứ hải quân Charleston Naval Base củ. Tuy nhiên, quy hoạch của thành phố City of North Charleston thì lại cấm sử dụng căn cứ này nó trong mục đích đó. Vì vậy, vào ngày 12 tháng 8 năm 1999, Ban Quản trị South Carolina State Ports Authority (SPA) bèn phê duyệt một hợp đồng khác để mướn căn cứ hải quân củ tại Bắc Charleston. Đến tháng 9 thì đã có “10 tàu, kể cả 4 tàu chuyên về hàng hóa chở riêng ‘break bulk’ … [đã] … tới neo tại các cầu tàu của căn cứ Hải quân Charleston Navy Base củ …”. 85

Thật vậy, tập đoàn COSCO cùng các doanh nghiệp về mặt hàng chở bằng ‘container’ khác đã đuổi được các thương vụ về loại hàng ‘break bulk’ đến điểm cực Bắc của căn cứ hải quân cũ trên sông Cooper. Một vụ trao đổi đất đai đã thực hiện được điều mà một hợp đồng trực tiếp đã không thể nào đạt được. Bọn COSCO đã cải thiện được các tiện nghi của chúng tại bến Columbus Street Treminal bằng biện pháp loại thương vụ về mặt hàng chở riêng ‘break bulk’ ra khỏi căn cứ hải quân Charleston Naval Station.

Trạm Hải quân rộng 17.000 mẫu Anh Naval Weapons Station thì vẫn tự quản lý lấy bến cảng cùng các cầu tàu bằng gổ của họ để vận chuyển vũ khí, đạn dược và hỏa tiễn trên thủy lộ dài cả 13 dặm xuống dòng sông Cooper, phải đi ngang qua ngay các tàu của tập đoàn COSCO đang neo tại Columbus Street Terminal, để mới đi đến Đại Tây Dương được. Các tiện nghi về đạn dược này nay đang trong tình trạng rất là bấp bênh, y như Hải cảng Port of Chicago gần Concord, CA, mà đã bị nổ tan trong Thế chiến II, cũng như xưởng hỏa xa Roseville (gần Sacramento, CA) mà đã bị phá nổ  trong thời chiến tranh Việt Nam. Trạm Naval Weapons Station cũng còn là cơ sở của Bộ Chỉ huy Naval Nuclear Power Training Command (Huấn Luyện về Năng lượng Hạch tâm) với cả tới 8.000 thủy thủ.

Hải cảng Charleston thì đang chi hàng triệu Mỹ kim chỉ để giúp đỡ tập đoàn COSCO tại bến Columbus Street Terminal của chúng. Cơ quan State Ports Authority (Phụ trách về Hải cảng Tiểu bang) đang có kế hoạch sử dụng ngân sách liên và tiểu bang để cho phép các con tàu chuyên về loại thùng hàng ‘ container’ lớn nhất thế giới, tức là của  COSCO, để có thể sử dụng được hải cảng Charleston. Charleston đã chi đến 139 triệu Mỹ kim để nạo thêm hầu giúp cho bến cảng có được tới độ sâu 45 ‘feet’, thay vì chỉ 40 ’feet’ như hiện nay và lạch vào sẽ là sâu từ 45 lên đến 47 ‘feet’, nhằm thỏa mãn đòi hỏi của các loại tàu lớn chuyên về thùng hang ’container’. 86

Vét lạch chỉ mới là bước đầu mà thôi

Theo từng giai đoạn, hải cảng sẽ xúc tiến để phát triển một “Global Gateway ~ Hải Lộ Thế Giới” với gấp ba lần khả năng hiện có, trải rộng trên một diện tích rộng cả tới bằng 636 sân chơi ’football’ mà hải cảng đang sở hữu ở hai bên sông Wando và sông Cooper thuộc đảo Daniel Island.

Cơ quan South Carolina State Ports Authority (Thẫm quyền về hải cảng tiểu bang của Nam Carolina) đang có kế hoạch sẽ xây 7 cầu tàu dài đến 1.000 ‘foot’ dọc bên sông Cooper. Các tiện nghi hải cảng này sẽ rải dài tới cả 2 dặm ½  để thỏa mãn các megaships (siêu tàu thuyền), loại dài tới 1.000 ‘foot’ dùng chỉ để chở ‘container’ mà vĩ đại như những hàng không mẫu hạm.

Các cây cần trục sẽ cao vời vợi hàng trăm thước phía trên một bãi chứa rộng mênh mông với diện tích 660 mẫu Anh, có khả năng cho hàng ngàn thùng ‘container’ với kích thước  từ 20 đến 40 ‘feet’. Sẽ có hơn cả ba triệu thước khối nào là bùn, cát và phù sa sẽ được vét sạch khỏi hải cảng, một khối lượng mà nếu so với Đại Kim Tự Tháp ở Giza thì cũng kém có chút xíu mà thôi. Bến cảng Daniel Island Terminal mới, cùng với 4 bến  hiện nay, sẽ có thể thu hút cả 6.300 tàu hàng mỗi năm, so với chỉ có 2.400 tàu vào năm 1998 mà thôi.

Các lãnh đạo hải cảng cho tới nay thì vẫn chưa biết làm thế nào họ sẽ có tiền cho dự án vĩ đại này, nhưng họ vẫn cứ nghỉ là sẽ làm được thôi.

SPA đã từng sử dụng 56 triệu Mỹ kim tiền công quỹ do bán công khố phiếu để xây dựng bến cảng Wando Welch vào năm 1978. Gần đây, doanh thu của hải cảng cũng đã đủ để mua thêm cần trục mới cùng cải tiến các tiện nghi tại hải cảng.

SPA tự tin là sẽ tìm được vốn từ tiểu và liên bang.

Phân nữa đầu tiên của số 200 mẫu Anh đã được lấp đầy với hai triệu thước khối cát biển và sẽ cho phép ba tàu vào neo trong năm 2007. 87

Cơ quan State Ports Authority  SPA đang nghiên việc cần cộng tác với một công ty tư nhân. “Chúng tôi đang tích cực điều tra các tư nhân có thể cộng tác với một số công ty quốc tế hiện đang khai thác hải cảng”, viên chức William Bethea đã tuyên bố. “Chúng tôi đã có thảo luận với nhiều hãng tàu, và chúng tôi hy vọng sẽ còn có thêm nữa”. 88

Dĩ nhiên, cái “hãng quản tri hải cảng quốc tế” lớn nhất  thế giới thì chính là cái công ty Hutchison Whampoa của Li Ka-Shing. Và trên mọi danh sách liệt kê các công ty hải vận thì cũng luôn luôn hiện diện cái công ty Orient Overseas quá ư là thân cận với Bắc Kinh (mà cũng là một công ty chuyên điều hành hải cảng) hay ngay chính cái tập đoàn COSCO.

Hải cảng Savannah, Georgia

Trong vùng Nam Đại Tây Dương, hải cảng Savannah đứng vào hàng thứ nhì và đã bành trướng đến 13% trong năm 2000. Đó là hải cảng về ’container’  lớn hàng thứ chín  của toàn quốc, với tổng số lượng vận chuyển 850.000 TEU một năm. Savannah cung cấp tới 80.100 công ăn việc làm và đẻ ra tới cả 585 triệu Mỹ kim tiền thuế hàng năm. 89

Savannah, nhờ có nhiều kết nối hỏa xa, đã dẫn đầu trong nghiệp vụ vận chuyển hàng hóa đến châu Á. Thật vậy, Savannah chiếm đến 54% các doanh nghiệp với châu Á trong vùng Nam Đại Tây Dương vào năm 2000.

Trong tháng 6 năm 2000, tập đoàn COSCO đã công bố, “Hai công ty COSCO Container Lines và Zim Israel Lines dự tính [chia sẻ] … việc thuê mướn các khu  … thuộc Mediterranean – U.S. East Service (Dịch vụ Địa Trung Hải – Đông Hoa kỳ). Sau khi . . . hoàn tất… COSCO sẽ có thể sử dụng luôn các khu dành cho ’container’ của Zim Lines [tại] Savannah, New York, Harifax [sic], Barcelona, ​​Haifa, Piraeus, Leghorn …”. OOCL thì cũng có hải vận hàng hóa đến hải cảng Savannah.

Savannah cạnh tranh với các hải cảng Charleston, S.C., và Jacksonville, FL., về các chuyến hàng ‘container’. Savannah đang đào sâu thêm lòng cảng để có thể đón nhận loại tàu lớn từ 42 đến 48 ‘foot’ vào năm 2004. Thống đốc Zell Miller cũng đề nghị chi thêm 31 triệu Mỹ kim để vét thủy lộ sông Savannah và xây dựng thêm các cầu tàu cùng các kho chứa hàng. Savannah cũng đang xây dựng một tiện nghi vận chuyển đa phương mới để chuyển được hàng thùng ‘container’ thẳng  từ xe vận tải qua thẳng toa xe lữa.

Carlos Martel, Phó ủy viên Bộ Kỹ nghệ, Thương mại và Du lịch Georgia thì có cho biết, “Bất cứ gì mà có khả năng giúp cho việc vận chuyển lưu thông trong cả hai chiều hiệu quả hơn, về nhập hay xuất cảng, sẽ giúp cho tiểu bang càng trở thành một hải khẫu quan trọng hơn trong vùng Đông Nam “.

Các hải cảng Hampton Roads — Norfolk, Portsmouth và Newport News

Giống như chúng từng xử sự ở Vancouver và Seattle bên Thái Bình Dương, tập đoàn COSCO nay cũng nằm trụ ở chính giữa của Hạm đội Đại Tây Dương Hải quân Mỹ. Hampton Roads, hải khẫu để đưa vô Vịnh Chesapeake, thì được bảo vệ ở phía Bắc bởi đồn Fort Monroe và ở phía Nam là Trạm Norfolk Naval Station.

HẢI CẢNG NORFOLK NẰM CÁCH NGỎ HAMPTON ROADS

DẪN VÔ VỊNH CHESAPEAKE BAY.

 Page-95 Port Northfolk

 Tập đoàn COSCO sử dụng các tiện nghi ỏ bến Norfolk International Terminals cách sông Elizabeth River. Các tàu của COSCO xen lẫn lộn chung với nhiều hàng không mẫu hạm và khu trục hạm của toàn Hạm đội Đại Tây Dương Hoa Kỳ.

Ba hải cảng chính của Virginia, Norfolk, Portsmouth và Newport News, đều nằm cách Hampton Roads và đều cùng có được độ nước sâu thiên nhiên tuyệt nhất trên Bờ biển Đông Hoa Kỳ. Với độ sâu 50 ‘foot’, các thủy lộ trống trải không bị gì cản trở đã đều đủ rộng cho phép dể dàng xoay trở các tàu hàng ‘container’ lớn nhất và luôn cho phần lớn lực lượng  Hải quân Hoa Kỳ như là các hàng không mẫu hạm, tuần dương hạm, khu trục hạm cùng tàu ngầm lớn nhất hiện nay đang có trên thế giới.

Hải quân Mỹ có 281.429 nhân viên, cả quân lẫn dân sự, và đang phụ thêm đến cả 7 tỷ ½ Mỹ kim cho nền kinh tế địa phương. Các căn cứ Hải quân Mỹ thì nằm tại Norfolk, Portsmouth, Virginia Beach, Peninsula, Suffolk, Chesapeake và Little Creek.

Trong năm 1999, đã có 107 tàu – hàng không mẫu hạm, tuần dương hạm, khu trục hạm cùng tàu ngầm – đặt bến mẹ tại Norfolk, cũng như luôn cả tới 39 phi đội. Mười chín hỗ trợ hạm và tàu đổ bộ cũng đặt căn cứ tại Little Creek.

Nằm lẫn lộn cùng chia chung các tiện nghi với Hạm đội Đại Tây Dương của Hải quân Mỹ là công ty Virginia International Terminals, Inc., đang quản trị bốn bến cảng về hàng hóa không phân loại: Norfolk International Terminal, Portsmouth Marine Terminal, Newport News Marine Terminal và Virginia Inland Port tại Front Royal.

Con lạch Norfolk Harbor Channel kéo dài từ thủy lộ Hampton Roads, dọc theo sông Elizabeth Norfolk, đưa tới Portsmouth và Newport News. Về phía Nam của Hampton Roads, các thành phố hải cảng Norfolk và Portsmouth chia nhau nằm đối diện hai bên của sông Elizabeth River nối với nhau bằng một con đường hầm. Tương tự như vậy, một đường hầm dài 6.000 ‘foot’ nối liền cả hai hải cảng với Hampton trên vịnh Chesapeake Bay. Hải cảng Hampton Roads thì cũng gồm luôn những bến tàu tại các hải cảng Norfolk, Portsmouth và Newport News.

Loại hải cảng thiên nhiên thì vẫn đã từng thu hút mọi lực lượng hải quân – bạn và luôn cả thù. Năm 1767, Andrew Sprowle dã xây xưởng đóng tàu Portsmouth và đã đặt tên giống với cái xưởng đóng tàu nổi tiếng ở bên Anh.

Tới năm 1907, “Great White Fleet ~ Đại Bạch Hạm Đội” với 16 chiến hạm cùng được sơn màu trắng như nhau, có sáu khu trục hạm, cùng tàu chở than và nhiều tàu yểm tháp tùng, đã đi vòng quanh thế giới theo lệnh của Tổng thống Teddy Roosevelt nhằm biểu dương sức mạnh của Hải quân Hoa kỳ. Bảy trong số chiến hạm thuộc hạm đội thì cùng đã từng được đóng tại Newport News: Kearsarge, Kentucky, Illinois, Missouri, Louisiana, Virginia và Minnesota“. Hạm đội đã ghé lại ở Trung Hoa và tập trận ngay tại chổ …”. 90 Hạm đội trở về tới vào năm 1909 và đã được mừng đón bởi Tổng thống Roosevelt, trước sự cổ vũ của cả 60.000 khán giả đứng dọc theo bờ. Roosevelt đã tuyên bố đó là “công tác quan trọng nhất mà tôi đã cống hiến được cho hòa bình”.  91

Trong thời Thế chiến II, đã từng có 5 tàu ngầm của Đức Quốc xã vượt qua Đại Tây Dương để tới tấn công các tàu thuyền ngoài khơi Cape Hatteras và luôn cả các chiến hạm ở ngoài khơi Hampton Roads, xong rồi thì bèn thả mìn phong tỏa Vịnh Chesapeake.

“Bọn Đức đã bắn thủy lôi, rồi dung đại liên gắn trên boong cùng thả mìn, đánh chìm được tới 79 tàu thuyền mà các thủy thủ đoàn đều đã bị thiệt mạng.

Vào ngày 14 tháng 4 năm 1942, một khu trục hạm của Mỹ tên USS Roper, đã đuổi theo [một] tàu ngầm … rồi tấn công bằng đại liên với súng 3 ‘inch’ gắn trên boong tàu. Thủy thủ Coxswain Harry Heyman đã bắn trực xa trúng ngay  tháp tàu ngay chổ gần mặt nước, khiến chiếc tàu ngầm bị chìm. Chiếc USS Roper bèn thả một loạt 11 mìn dung để tấn công địch ở độ sâu và tới bình minh thì đã vớt được tổng cộng là 29 thi thể thủy thủ người Đức, mà đều cùng đã được nhận dạng ra là nhân viên của chiếc tàu ngầm U-85, một trong những loại tàu ngầm mới loại 500 tấn của Hitler. Đó cũng là chiếc tàu ngầm đầu tiên của Đức Quốc Xã bị đánh chìm bởi một chiến hạm của Mỹ trong thời chiến”.  92

Một lần nữa,  . . . tập đoàn COSCO lại đuổi được Hải Quân Mỹ phải ra đi

Tính tới cuối năm 1998, COSCO đã chuyển vận được tổng số hàng hóa  với trọng lượng gần cả 300.000 TEUs bằng loại thùng hàng ‘container’ nhờ các thương vụ với hải cảng Norfolk, Virginia, sau khi chúng quyết định ngưng hải trình giữa Viễn Đông và Baltimore. Các cầu tàu tại Norfolk đều ở địa điểm tiện lợi hơn cho Đại Tây Dương, nếu so với Baltimore mà đã lại nằm khá xa với bờ biển. Norfolk vừa khai trương them một cầu tàu trị giá đến cả 93 triệu Mỹ kim, dài 1.500 ‘foot’, với ba cần trục mới tinh được sử dụng trên một diện tích rộng 60 mẫu Anh và cũng đang tái tu bổ một cầu tàu khác ngõ hầu có thể tiếp đón được những thương thuyền lớn hơn nữa.

Ở phía Tây của Norfolk, một dự án trị giá đến 1 tỷ ½ Mỹ kim sẽ xây một cầu tàu thứ tư cho Portsmouth trên một diện tích 900 mẫu Anh, nguyên trước kia từng là kho nhiên liệu Craney Island của Hải quân Mỹ, kho lớn nhất của họ trong tiểu bang này. Một công trình khác, trị giá 2 tỷ 7 cũng sẽ được dùng để xây hệ thống đường bộ, cầu, đường hầm, mà sẽ không chỉ nối liền với Portsmouth và Norfolk mà còn giúp giải tỏa lưu lượng hàng hóa từ bến Craney Island Terminal mới, từ bến Norfolk International Terminal và từ căn cứ Norfolk Naval Station. 93

Hải Quân Hoa Kỳ tại Norfolk

Đa số các chiến hạm thì đều được gom lại để cùng bỏ neo chung trong một hải cảng. Với hầu hết cả Hạm đội Đại Tây Dương tụ lại cùng một địa điểm, liệu Norfolk của cái năm 2000 lẻ mấy nào sắp tới, có sẽ cũng là một loại Trân Châu Cảng của năm 1941 chăng?

Trong thập niên 90, việc cắt giảm ngân sách trong quân đội Mỹ đã loại bỏ mất đến 40 chiến hạm và 50.000 công ăn việc làm của Hải quân Hoa Kỳ và tại các xưởng đóng tàu ở địa phương. Mặc dù những cắt giảm đó, một phần ba trong toàn bộ tàu của Hải quân Hoa Kỳ vẫn gọi bến mẹ tại Norfolk ở Hampton Roads.

Hiện nay, hàng không mẫu hạm Enterprise cùng 5 trong số 8 hàng không mẫu hạm lứa Nimitz của Hải quân Mỹ cũng đang neo bến mẹ tại Norfolk, cũng như là 7 trong số 27 tuần dương hạm, 14 trong 29 khu trục hạm lứa Arleigh Burk tối tân, 9 trong số 24 khu trục hạm lứa Spruance và 11 trong số 51 tàu ngầm lứa Los Angeles.  94

Tất cả các hàng không mẫu hạm đều đã được đóng ở xưởng  Newport News Shipyard ở cũng gần đó. Hải quân Mỹ đã giúp kỹ nghệ đóng và sửa chữa tàu thành một nền kỹ nghệ địa phương chính yếu tại Norfolk, Portsmouth và Newport News.

Norfolk là nơi đặt Bộ Chỉ huy Liên Quân (Joint Forces Command), nơi mà “quân đội Mỹ đang nghiên cứu để phát triển các kỹ thuật chiến tranh tiên tiến nhất của mình -. một loại sinh hoạt từng được ghi nhận là mục tiêu của đám gián điệp thuộc quân đội Trung cộng”. [Bill Gertz]. Vào cuối tháng 8 năm 2000, Ngũ-giác-đài thời Clinton lại đã từng hộ tống đưa ba tên tướng trong quân đội Trung cộng – ngay chính cái đám phụ trách hoạch định về chiến lược quân sự của Trung cộng – thuộc Học viện Khoa học Quân sự của chúng đến tại căn cứ tại Norfolk. Trung Quốc Học viện, một viện tối mật và hiếm được cho phép ai tới thăm viếng tại Trung hoa lục địa, thì lại đang có chương trình phát triển RMA Revolution in Military Affairs (Cách mạng Quân sự vụ).

Với 4 tàu – COSCO New York, Med Taipei, Cos. Bremerhaven and Joseph To 21

– tập đoàn thương thuyền của COSCO thì vẫn cặp bến hàng tuần tại hải cảng Norfolk, sau khi khởi hành từ các hải cảng Bắc Âu, rồi ghé các hải cảng New York và Baltimore (lịch trình COSCO trong tháng 4 đến tháng 8 năm 1999). Công ty được Bắc Kinh rất là ưu ái là OOCL thì cũng có thương vụ hải vận tới Norfolk.

Hải cảng Baltimore — bị bỏ rơi hất hủi chỉ vì hải cảng Norfolk

Các bến tàu của hải cảng Baltimore nằm xa mãi tới cả gần 100 dặm trên thượng lưu vịnh Chesapeake Bay,  và sông Patapsco River thì chảy vào Đại Tây Dương, nhưng các lạch 50 ‘foot’ của nó đã không thể đón nhận được một số thương thuyền. Hải cảng Baltimore có khả năng tiếp nhận gần cả 2.000 tàu đến cặp bến, với số lượng có lẽ gần 10 triệu tấn mổi năm và 500.000 đơn vị TEU. Vô số cầu tàu tư và công nằm dọc lạch  để nhằm phục vụ  mọi loại hàng với mọi loại trọng lượng khác nhau.

Tới cuối năm 1998 thì có lẽ tập đoàn COSCO đã quyết định chuyển cả 300.000 thùng hàng ‘container’ từ các cầu tàu chuyên về loại này ở Dundalk và Seagirt tại Baltimore về hải cảng Norfolk, sau khi hủy bỏ dịch vụ phục vụ  vùng Viễn Đông về Baltimore. Tuy nhiên, hải cảng vẫn còn giữ được dịch vụ hải vận của tập đoàn COSCO từ vùng châu Âu.

Với 4 tàu – COSCO New York, Med Taipei, Cos. Bremerhaven and Joseph To 21 – tập đoàn COSCO tiếp tục có tàu thuyền đến cập bến hàng tuần tại hải cảng Baltimore, từ các hải cảng vùng Bắc Âu, sau khi tàu đã tạm ngừng ở New York (lịch trình COSCO, tháng 4 đến 8 năm 1999).

Hải cảng Newport, Rhode Island — Hải Quân Hoa Kỳ bị loại ra, COSCO và Li Ka-Shing vào thay?

Vào cuối tháng 11 năm 2000, tờ Business Journal  của Hampton Roads đã tường trình là hải cảng Newport, Rhode Island, đã bị đóng cữa để xây một hải cảng chuyên về thùng hàng ‘container’ rộng 170 mẫu tây tại Vịnh Narragansett  Bay, gần kề với các căn cứ hải quân tại Quonset Point và Davisville.

Thì cũng vậy thôi, đó sẽ chỉ là một lần thêm nữa của tình trạng Hải quân Hoa Kỳ cứ lần lượt bị loại mất đi và bọn Tàu cộng thì cứ vào trám chổ thế mà thôi.

R.K. Jones, một công ty cố vấn có trụ sở đặt tại New York, đã công nhận là dự án hữu lý về phương diện kinh tế trong cái phúc trình ngày 31 tháng 7 năm 2000 của họ. “… Hải cảng Quonset sẽ là một tiện nghi mới nằm ở một căn cứ hải quân cũ của Mỹ. Nó có thể … là … một bến cảng thu gọn, tuyệt hữu dụng, cực kỳ tân tiến và có năng xuất hơn nhiều nếu so với bất kỳ hải cảng nào khác ở Bắc Mỹ …

Đã có những cuộc họp hội  … với khoảng 15 hãng hải vận về ’container’ và những công ty quản trị bến cảng khả dĩ có thể cùng  cộng tác, cũng như là các khách hàng trong tương lai của hải cảng Quonset. … Dựa trên … những tiếp xúc ban đầu với các công ty khai thác loại hải cảng chuyên về loại thùng hàng ‘container’ hàng đầu, cũng như là các công ty hàng hải về ‘container’ khác, … chúng tôi dự đoán ​​… là các công ty dự kiến sẽ quan tâm đến đề án này …”.

Liệu tập đoàn COSCO có sẽ là một khách hàng tương lai hay không? COSCO là một trong những công ty trong danh sách “A” của những công ty được đề nghị phải được chiêu dụ để tham dự vào loại hải cảng chuyên dành cho thùng hàng ‘container’ mới. Phúc trình Jones về đề tài khả thực hay không đã từng liệt kê công ty Hutchison Whampoa của Li Ka-Shing như là có khả năng. “Gần đây, HIT đã có đấu thầu trong các dự án tư hữu hóa nhưng lại đặc biệt đã không công bố gì về kế hoặch trong tương lai của họ ở Bắc Mỹ. [Ối ồi, tại sao?] Tuy nhiên, HIT cũng phải được xem như có khả năng sẽ là một tham dự viên vào thị trường này trong một tương lai gần thôi, dù là sẽ dưới tên riêng của họ hay trong một liên doanh hợp tác với một đối tác địa phương  / khu vực nào khác”.

Newport nằm gần lối vào của Vịnh Narragansett Bay, phía Bắc trên bờ biển của Rhode Island Sound. Các tiện nghi của Old Navy đều nằm trên mũi phía Tây Nam của đảo Aquidneck Island, hòn đảo lớn nhất trong số rất nhiều các đảo và bán đảo, thường được gọi là “neck~ eo”, mà cùng nhau bung ra khỏi vịnh.

Vào những năm 70 thì Hải quân Mỹ đã sở hữu cho tới cả 31 dặm bờ biển cùng 6.000 mẫu Anh diện tích dọc bờ sông ở Vịnh Narragansett Bay. Trạm Naval Air Station đã từng nằm ở phía Tây vịnh, nằm ở hướng Bắc của mủi Quonset Point nối liền với ngỏ East Passage bằng một con lạch đã được vét sạch. Phía Đông của ngõ East Passage, Hải quân cũng đã từng chiếm cả một đoạn dài đến cả 6 dặm tại Newport.

Lực Lượng Hạm đội Đại Tây Dương đã từng đặt bến mẹ tại Coddington Cove và sử dụng các cầu tàu nước sâu ở phía Bắc của cầu tàu Pier 2. Phía nam của cầu tàu thì lại rất tối tân – với cọc thép cùng nắp bê tông. Cầu tàu Piers 1 và 2 đã từng được xây cất để dành cho Lực Lượng Tuần dương hạm – Khu trục hạm mà đang sử dụng các cầu tàu nước sâu ở phía Nam của cầu tàu Pier 2, sau khi hoàn thành các dự án cải tiến cầu tàu với FY1985.

Kể từ cuộc chiến Revolutionary War, Hải quân Mỹ đã là một phần nào đó của của Vịnh Narragansett Bay. Tuy nhiên, vào năm 1973, một bản nghiên cứu về Shore Establishment Realignment (Điều Chỉnh Bở Biển) đã đề nghị đóng cữa căn cứ Quonset Point Naval Air Station và hạ cấp Davisville, cùng di chuyển toàn hạm đội ra khỏi hải cảng Newport. Toàn 5 bộ chỉ huy độc lập sẽ được hợp nhất thành Naval Education and Training Center ~ NETC (Trung tâm Huấn Luyện và Đào tạo Hải quân). Newport sẽ vẫn là nơi có viện nổi tiếng Naval War College (Đại Học Hải chiến) và trung tâm Naval Education and Training Center  ~ NETC, nơi chuyên nghiên cứu chính về vũ khí tàu ngầm.của Hải quân Mỹ.

Vào năm 1974, Công ty Rhode Island Port Authority and Economic Development Corporation đã được thành lập để đãm trách tiếp hữu các tài sản củ của Hải quân. Hải quân vẫn giữ được quyền, qua trung gian của  Military Sealift Command (Bộ Chỉ Huy Quân Chuyển), sử dụng các chiến hạm cần độ sâu để cất và chuyển hàng tại Davisville (Bắc của mủi Quonset Point). Cầu tàu lớn ở mủi Quonset Point, nơi trước đây là bến tàu của các hàng không mẫu hạm, là một kiến trúc bằng bê tông bao bọc bằng gổ mà nay thì lại cần phảI tu sửa.

Con lạch dài 2 dặm ½  Quonset / Davisville Approach Channel đã được vét tới độ sâu 35 ‘foot’ để thỏa mãn đòi hỏi của căn cứ hải quân Quonset Point Naval Base trong những năm 1940. Hải lượng từ đại dương vào Vịnh Narragansett Bay thì phải thông qua lạch East Passage. Nếu muốn hiện đại hóa các cơ sở tại đó,  thì sẽ phải chi tiêu từ 333 triệu đến 450 triệu Mỹ kim, mà trong đó, cả từ 67 triệu đển 127 triệu sẽ phải là của quỹ liên bang.

Hải cảng New York và New Jersey

Vùng New York từ lâu vẫn đã là trung tâm thương mại chính với châu Âu. Thương vụ về loại thùng ‘container’  với châu Á đã gia tăng, nhưng dù sao cũng vẫn không đáng kể nếu so với các thương vụ bên bờ biển phía Tây. Ngay chỉ với 7% số thương vụ ‘container’ của Bờ Tây, cũng với chỉ có 2 triệu ½  đơn vị TEU, thì cũng tương đương liền với cả gấp đôi cái con số thương vụ hiện nay với châu Á của hải cảng New York.

Khi bị yếu thế với Bờ Tây trong thương vụ cùng Trung cộng, hải cảng bèn quyết chí phải tăng gia giao thương với bọn Trung cộng mà thôi.

Và rồi cũng như những nôi khác, khi mà bọn Trung cộng bành trướng được thì Hải Quân Hoa Kỳ chỉ cứ việc phải đành rút lui mà thôi.

Tại vùng New York, Hải quân Mỹ đã đóng cửa căn cứ Staten Island Naval Station, trung tâm Naval Reserve Center, căn cứ Brooklyn Naval Station, trung tâm Trenton Naval Air Warfare Center, cùng trung tâm Philadelphia Naval Warfare Center.

Và rồi họ cũng đã đóng luôn trung tâm Philadelphia Naval Complex, trung tâm Naval Air Warfare Center, trung tâm Ocean Surveillance Center tại Warminster, Pennyslyvania, và trung tâm Naval Undersea Warfare Center tại New London, Connecticut.

Trên bờ biển của Connecticut thì Hải quân Mỹ vẫn giữ làm bến mẹ cho 17 tàu ngầm hạch tâm Căn cứ Naval Submarine Base ở Groton, Connecticut, nằm ở 5 dặm trên thượng lưu phía Bắc sông Thames River và 10 dặm về phía Bắc của điểm ngõ nghẹt (choke point) Races giữa Long Island Sound và bờ biển Connecticut.

Ban Quản trị Hải cảng New York và New Jersey đang phục vụ loại thương vụ về thùng hàng ‘container’ tại 4 địa điểm khác nhau ở hải cảng Newark, Elizabeth, Red Hook thuộc Brooklyn và Howland Hook thuộc Staten Island. (Các công ty mà đang thuê lại của Ban Quản trị Hải cảng Port Authority để sử dụng các bến chuyên về ‘container’ là: Maersk-Universal, Sea-Land, American Stevedoring và Howland Hook Terminal, Inc).

Các hải cảng đều được thiên nhiên giúp bao bọc và che đở tại vịnh Newark Bay ở phía Bắc của lạch Narrows mà chảy suốt để tách rời Staten Island với Long Island, và để rồi đổ ra Đại Tây Dương ở phía Nam của vịnh New York Bay. Các hải cảng này thường nằm phía Tây của Long Island mà đưa vào, trên bờ biển phía Bắc là Long Island Sound và về phía Đông là Đại Tây Dương .

Các điểm nghẹt tử yếu thì chính lại là thủy lộ chật hẹp giữa Staten Island và Long Island ở phía Nam và đoạn Races chảy giữa cực Đông chuỗi đảo Long Island và bờ biển Connecticut.

Trước khi đóng cửa căn cứ để rời bỏ Staten Island, Hải quân Hoa Kỳ (cũng có nghĩa là người dân đóng thuế Mỹ) đã có đầu tư 230 triệu Mỹ kim để sẽ xây một bến mẹ chung cho chiến hạm ở đảo Staten Island.

Giống như San Francisco, thành phố New York không hề muốn Hải quân Mỹ đặt bến mẹ hay hiện diện tại Gotham. Biết bao nhiêu là lý do để phản đối, nào là vũ khí hạch tâm, nào là vấn đề môi sinh và nào là thủy thủ lộn xộn ồn ào. Ngay Thị trưởng New York là David Dinkins và 11 trong số 14 thành viên của đoàn dân biểu Quốc hội của thành phố New York cùng 16 thành viên của Hội đồng thành phố New York, đều đã cùng nhau lên tiến cổ võ cho việc phải đóng cửa căn cứ Staten Island.

Vấn đề là liệu rồi đây, các cơ sở củ  của Hải quân Mỹ trước đây trên đảo Staten Island hay sau đó ở Brooklyn, sẽ có khả năng mang lại lợi lộc cho tập đoàn COSCO hay sẽ có thể giúp cho chúng trong việc hoán đổi đất đai về sau này hay không thì không ai có thể biết trước được.

Nhưng điều thật rõ ràng là không như Hải quân Mỹ, COSCO và OOCL rồi sẽ sử dụng  các eo biển chật hẹp cùng các thủy lộ đưa vào của các hải cảng.

Tập đoàn COSCO USA đã đặt văn phòng trung ương đại diện trên toàn quốc Hoa Kỳ chỉ ở sáu dặm phía trên thượng lưu,  nếu đi từ vịnh Newark Bay. Còn công ty OOCL thì lại sở hữu và điều hành các tiện nghi hải cảng rất lợi lộc tại bến Global Terminal ở New Jersey và ở Howland Hook trên Staten Island thuộc New York.

Hải cảng New York và New Jersey đang đầu tư quy mô để cố gắng tận lực dành cho được vào năm 2020 ít ra là cũng đến  2 triệu ½ đơn vị TEU hàng hóa của Trung cộng và Đông Nam Á khỏi tay các hải cảng bên bờ Tây. Cho đến năm 2005, hải cảng này đang có kế hoạch để mở rộng thêm 200 mẫu Anh tại bến hải quân củ Military Ocean Terminal ở Bayonne và hải cảng Port Jersey, N.J., hầu để có thể sử dụng cho loại thùng hàng ‘container’.

Theo báo New York Post và nhiều quan sát viên khác, thì các cầu tàu tại hải cảng New York thì đều đang mục nát và rơi rụng tan nát xuống sông Hudson River và sông East River 95 . Tuy công ty hải vận Maersk Sealand tuyên bố sẽ cần phải tốn cho đến cả 600 triệu Mỹ kim để tân tạo và xây thêm một bến mới, nhưng họ vẫn chọn hải cảng New York thay vì Baltimore như là bến mẹ mới ở vùng Đại Tây Dương .

Vào đầu tháng 7 năm 2000, Thượng viện Mỹ đã phê chuẩn một dự án trị giá tới 1 tỷ 8 Mỹ kim mà sẽ kéo dài tới 16 năm, hầu vét bùn rồi đặt mìn cho nổ lớp đá bên dưới để có thể đào sâu thêm hơn nữa dọc trên cả 34 dặm của các con lạch chính đang dẫn đến các bến tàu tại hải cảng New York.

Năm 1997, New York và New Jersey đã chiếm đến 78% tổng số thương vụ với Trung cộng tại thị trường Bắc Đại Tây Dương. Cũng như ở các hải cảng khác, thong thường thì bọn COSCO có vẻ hành xử tốt. Quan thuế Mỹ từng có bắt được chín người nhập lậu từ Cộng hòa Dominica trên một tàu hàng ‘container’ của  COSCO vào cuối tháng 9 năm 1998. 96 Các cổ phần của COSCO thì cũng đã tăng vợt trên thị trường Hồng Kông vào giữa tháng 11 năm 1999, sau khi có tin về hiệp định thương mại mà bộ sậu Clinton – Gore vừ ký kết xong với bọn Trung cộng. 97

Về phần bọn COSCO thì chúng mê New York lắm lắm. Gần đây chúng đã mở rộng dịch vụ đến New York qua ngõ cả hai kinh Panama và Suez. Tại hai nơi đó, tà lọt của Trung Cộng, tức là đám COSCO, Hutchison Whampoa và có lẽ luôn cả OOCL, mới đây đã khuếch trương mạnh mẻ, trong khi mà Hải quân Hoa Kỳ thì lại đã cứ rút đi khỏi.

Vào tháng 3 năm 1999, hải cảng New York và Cơ quan Quản trị kinh Suez đã đồng thuận mở rộng các chuyến hải vận hàng từ châu Á đến hải cảng New York Harbor xuyên qua ngõ kinh Suez.

Từng đã có lập luận là thủy lộ xuyên qua kinh Suez sẽ mang lại lợI thế về sở phí cho hải cảng New York và New Jersey nếu so với các đối thủ cạnh tranh nằm bên phía bờ Tây, bởi vì một hải lộ mới hoàn toàn chỉ trên mặt nước nhờ xuyên qua kinh Suez, sẽ cho phép không còn lệ thuộc giai đoạn phải chuyển qua dùng đường hỏa xa hầu thông xuyên khắp Hoa Kỳ để tiếp tục chuyển hàng từ các hải cảng bên bờ Tây đi phân phối.

Vào cuối tháng 5 năm 2000, COSCO đã bắt đầu dịch vụ hải vận mới với tên gọi là Asia Express, đi qua kinh Panama với bến đến là Elizabeth Marine Terminal. 98 Đã có tới 9 tàu, loại với khả năng trọng tải tới cả 3.400 thùng hàng ‘container’, đang sử dụng hải trình này vào mỗi tuần, đi từ Thượng Hải qua đến Hồng Kông và xuyên qua con kinh Panama để đến New York- New Jersey mà cặp bến tại Norfolk và Charleston, trước khi lại trở về Trung Hoa lục địa qua ngõ Tokyo và Kobe, Nhật Bản.

HẢI CẢNG NEW YORK VÀ NEW JERSEY CÓ NHỮNG TIỆN NGHI

TRÊN CÁC BỜ VÀ ĐẢO CỦA NEW YORK VÀ NEW JERSEY.

 Page-102 Port New Jersey

Tập đoàn COSCO sử dụng bến Elizabeth Marine Terminal nằm bên ngoài khơi của vịnh Newark Bay. OOCL thì sử dụng bến Global Terminal tại New Jersey và mủi Howland Hook trên đảo Staten Island. Hải cảng đang mở mang thêm các bến Elizabeth với Howland Hook và sẽ chiếm cả luôn những phần đất trước kia của bến quân sự U.S. Military Ocean Terminal tại Bayonne và Jersey City.

Lillian C. Borrone, phát ngôn viên của Hội đồng Quản trị Hãi cảng (Port Authority), có cho biết, “Chúng tôi đang cạnh tranh trực tiếp với các hải cảng bên phía bờ Tây đề dành các thương vụ hàng hóa này [của COSCO]”. Dịch vụ mới từ châu Á này của bọn COSCO sẽ cắt giảm được cả thời gian một tuần lể cho lộ trình hải vận mà thường từng đã phải kéo dài đến tới 33 ngày. Bà Borrone tuyên bố, “COSCO đã nhận chân ra được … là với loại tàu lớn hơn, nhanh hơn, các hãng sẽ có thể giảm chi phí và thời gian cần thiết để chuyển đến một sản phẩm nào đó … bằng cách đi qua kinh đào Panama …”.

Trong năm 2000, bọn COSCO đã sử dụng 8 tàu ​​– Chesapeake Bridge, Xi Bo He, Na Xi He, Yu Gu He, Ha Ni He, Rainbow Bridge, Ming Prominence và Jing Po He – mà hàng tuần đã đến cặp bến tại hải cảng New York, sau khi khởi hành từ Hồng Kông và các hải cảng châu Á khác, để rồi đi thông qua kinh Panama.

Vào tháng 6 năm 2000, COSCO đã công bố: “Dịch vụ COSCO Container Lines và Zim Israel Lines có kế hoạch [cùng nhau chia và] … sử dụng các khu thuê được dành cho loại thùng hàng ‘container’ …  với dịch vụ Địa Trung Hải – Đông Mỹ (Mediterranean – U.S. East Service). Bọn COSCO sẽ có thể sử dụng được các khu dành cho ‘container’ của Zim Lines [tại] Savannah, New York, Harifax [sic] … ” và các hải cảng phía Nam châu Âu.

Với 4 tàu khác – COSCO New York, Med Taipei, Cos. Bremerhaven and Joseph To 21 – bọn COSCO đang cặp bến và ghé hàng tuần tại hải cảng New York, sau khi khởi hành từ các hải cảng Bắc Âu, rồi qua Baltimore và Norfolk (lịch trình của COSCO, tháng 4 đến tháng 8 năm 1999).

Hải cảng Boston — lạy lục cầu xin thương vụ

Vào tháng 11 năm 2000, hãng Maersk đã quyết định rút ra khỏi hải cảng Boston mà chỉ đứng vào hàng thứ 30 toàn quốc thôi.

Boston đã quyết định chi tới 100 triệu Mỹ kim để cải thiện các cơ sở hầu thu hút một số doanh nghiệp – bất kỳ mọi loại doanh nghiệp. Vào tháng 4 năm 2001, trong khi Trung cộng đang cầm giữ làm con tin 24 người Mỹ trên đảo Hải Nam và Tổng thống Bush thì đang cố gắng làm Đài Loan yên tâm là sẽ vẫn bảo vệ họ thì giám đốc hải cảng là Mike Leone lại đã đáp phi cơ đi Bắc kinh để xin họ giúp đỡ cho bọn COSCO.

Một Ủy ban đặc biệt phụ trách về hải cảng Boston – Staples, Ames, Reebok – đã hứa sẽ cung cấp thêm những hợp đồng kinh doanh cho tập đoàn COSCO nều chúng chịu mở văn phòng tại hải cảng Boston. Hơn 100 nhân vật chóp bu của Boston đã gặp tay Giám đốc điều hành của COSCO là Wei Jiafu, trong buổi dạ tiệc tại khách sạn Boston Harbor Hotel, nơi mà y đã cam kết là các tàu thuyền của mình sẽ chịu cặp bến tại Boston. Y đã tỏ ý hy vọng là cộng đồng địa phương và Massport sẽ đủ khả năng để đón nhận được số hàng hải vận trong tương lai.

Cho dù tàu của COSCO có khả năng chuyên chở từ 3.800 đến 5.200 ‘container’ mỗi chiếc, thì thương vụ của tập đoàn COSCO Boston vẫn chỉ là một phần rất nhỏ với chỉ có 100 ‘container’  mổi tuần mà thôi! Đúng là không đáng gì hết cả … chỉ trừ ra là vụ buôn bán nô lệ của thế kỷ 19 nay thì lại có thể được thay thế bằng vụ buôn bán nô lệ của thế kỷ 21, với số trẻ em, nô lệ và tù lao động của bọn Trung cộng.

Tờ Boston Herald đã lập luận là “Massachusetts đang đặt trọng tâm cốt yếu” vào việc giao thương với tập đoàn COSCO và giao thương với Trung cộng. Tay Giám đốc điều hành của COSCO thì lại đã bắn tin: “Hãy làm tổ cho xong thì chim Phượng Hoàng sẽ đến đáp mà thôi”.  99

Hải cảng Halifax, Nova Scotia, Canada

Hải cảng Halifax, Nova Scotia thì được khá sâu, với một lạch rộng 65 ‘foot’ và những cầu tàu từ 45 đến 50 ‘foot’ và nước không hề bị đóng băng cứng vào mùa Đông. Halifax chỉ nằm cách có 60 dặm thôi, ở ngoài khơi hải lộ Great Circle Route và cũng chỉ cách có một ngày đường nều đi từ các hải cảng bên bờ Đông Hoa Kỳ lên. 100

Tập đoàn COSCO của Trung cộng thì đang cung cấp dịch vụ hải vận hàng tuần từ Halifax đến Bắc Âu. Tương tự như vậy, cái công ty OOCL bè bạn của Bắc Kinh thì đãm nhiệm dịch vụ mổi thứ sáu trong tuần đưa hàng hóa đến Bắc Âu và tuẩn hai lần đến vùng Viễn Đông.

Tuy nằm bên ngoài lãnh thổ Hoa Kỳ, nhưng hải cảng Halifax của Canada từ lâu vẫn đã có một tầm quan trọng chiến lược cao đối với Mỹ quốc.

Năm 1939, ba khu trục hạm Mỹ đã từng đến bỏ neo tại Halifax để đảm trách một “chính sách tuần tiểu trung lập” ở vùng Bắc Đại Tây Dương. Bộ Tư lệnh Hải quân Anh, để bảo vệ thủy lộ Đại Tây Dương huyết mạch cho Anh quốc, đã có thành lập một hệ thống hải vận tổ chức từng đoàn thương thuyền đi chung với nhau.

Bất chấp mọi cảnh cáo của Đức vào mùa thu năm 1940, Mỹ vẫn đã cung cấp 23 khu trục hạm cho Vương quốc Anh, nhưng đều đã được đổi tên và rồi trang bị đầy đủ để đi theo hộ tống các đoàn thưong thuyền đó. “Và để như đổ dầu vào lữa”, Thủ tướng Anh Churchill ngay lập tức cung cấp các thủy thủ đoàn thuộc Hải quân Hoàng gia Anh để điều khiển các khu trục hạm của Mỹ!  Vào đầu tháng 11 năm 1941, đã có những tàu chiến trương cờ Mỹ, trong đó có 6 tàu vận chuyển và cả hàng không mẫu hạm Ranger Mỹ, cùng nhau  hộ tống 20.000 quân nhân rời khỏi Halifax.

Vào năm 1942, chiếc tàu ngầm U-588 Đức đã phóng ngư lôi tấn công chiếc tàu hàng  Greylock Mỹ ở ngoài khơi Halifax, Nova Scotia. Chiếc U-432 thì tấn công chiếc tàu đánh cá bằng lưới rà Mỹ tên Foam. Một tàu tuần tra của Canada và một tàu hộ tống của Canada, chiếc HMCS Halifax, đã cùng chung sức cứu được từ các xuồng cấp cứu 20 người mà vẫn còn sống sót được.

Năm 1943, chiếc tàu chở dầu của Mỹ là Brilliant  đang trực chỉ Halifax thì bị bão đánh gẩy đôi. Một chiếc PV-1 (VB 125) thì đã đánh chìm được ở ngoài khơi của Halifax chiếc tàu ngầm Đức U-174. Lực lượng hải quân Anh và Canada bèn được giao trách nhiệm bảo vệ các đoàn tàu di chuyển giữa Halifax và Anh quốc. Năm 1944, các hộ tống hạm Thomas (DE-102) và Baker (DE-190) đã cùng nhau đánh chìm chiếc tàu ngầm loại thả mìn Đức là chiếc U-233 ở ngoài khơi của Halifax. 101

Ngày nay, Halifax đã trở về lại với sinh hoạt thương mãi dân sự

Một con đường hầm tên St. Clair Tunnel đã giúp cải tiến việc di chuyển từ bên bờ Đông đến miền Trung Tây Hoa Kỳ. Các canh tân của hệ thống hỏa xa tại Toronto, Montreal, Boston, Chicago và New Orleans đều đã giúp tăng hiệu quả và khối lượng hàng được giải quyết của hải cảng Halifax. Hơn hai phần ba số lượng hàng bằng thùng ‘container’ đã được chuyển thẳng qua goong tàu hỏa xa, hầu cho phép vận chuyển nhanh chóng hàng hóa đến Boston và vùng Trung Tây. Những cải tiến này đã cho phép các tàu đòi hỏi độ nước sâu nhất đã có thể sang cất bớt tải lượng của họ tại Halifax và rồi sẽ có thể sử dụng được các bến cảng có độ nước cạn hơn ở bên bờ biển Đông. Tới năm 1999 thì lưu lượng hàng hóa được giải quyết tại Halifax đã đạt được kỷ lục mới là 463.000 đơn vị TEU. Vào đầu năm 2000, lưu lượng thùng hàng ‘container’ đã tăng 17% để lên tới cả 1 triệu 5 tấn.

Các khoản đầu tư gần đây cũng đã cải thiện thêm hai bến ‘container’ tại Halifax. Các khoản đầu tư tại Halifax trị giá đến 23 triệu ½ cũng đã được dùng để cải tiến các máy kéo tại bến cảng, các đường sắt và luôn dung lượng điện lực hữu dụng. Các cần trục, cao bằng cả một tòa nhà 35 tầng, nay thì đã có tới cả sáu chiếc, với khả năng vương cao tới cả một chồng 22 thùng ‘container’ chất đống  và có thể giải quyết được cho tới 45 thùng hàng ‘container’ mỗi giờ.

Công ty Shanghai Zhen Hua Port Machinery Co., Ltd. (ZPMC) của Trung cộng có sản xuất hai cần trục vĩ đại, cao tới cả 356 ‘foot’ và nặng 1.250 tấn, mà đã giúp cho hải Halifax thành hải cảng thứ nhì duy nhất của Canada có khả năng  cho phép được những thương thuyền có bề ngang rộng hơn thong thương, nếu so với con kinh Panama.  ZPMC hiện đang là Vua của cái Thế giới Cần trục (World of Cranes).

Từ tháng 8 năm 1998, COSCO đã mở cữa văn phòng tại hải cảng Halifax ở bến Fairview Container Terminal mà vừa mới được xây xong. COSCO Container Line đã tăng gấp một phần ba lần khả năng hải vận nhờ chiếc MV Naxi He với trọng tải 3.400 đơn vị TEU mà hàng tuần sẽ cứ rời bến để đi tới với các hải cảng tại Bắc Âu, rồi tuần sau thì về lại Halifax .

Ngoài các chuyến đi châu Âu, bọn COSCO hàng tuần còn có những chuyến tàu cấp-tốc ‘express’ (chổ ngũ cốc, hải sản đông lạnh, lâm sản và vật liệu xây cất) đi đến các hải cảng ở châu Á.

Luôn luôn chở chực để tiến thêm một bước chiến lược, Qimin Liu, Chủ tịch China Ocean Shipping (Canada), Inc. đã có tuyên bố, “Halifax đã từng là một mắt xích còn thiếu trong chuỗi dịch vụ ngày càng mở rộng của chúng tôi ở Bắc Mỹ”. Hệ thống hỏa xa  Halifax cũng đã khiến cho bọn COSCO hài lòng. “Có những văn phòng tại các thành phố chính cũng có nghĩa là COSCO đặt trọng tâm … nhằm tăng cường hợp tác kinh tế giữa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Canada”, Liu bèn nói tiếp. “COSCO rất bằng lòng khi có được vănphòng chính ở Halifax và hy vọng sẽ có một năm Thìn rất là cường thịnh”. 102

Nếu nhìn xa hơn đề tài các hải cảng, các Con Ngựa Gổ Thành Troy của Trung cộng cũng còn có thể được nhận chân ra ở những nơi khác trên khắp quê hương Mỹ. Nhưng vấn đề phải là nếu có ai chịu để ý đến mà thôi. Chúng tôi thì chúng tôi sẽ quyết chí làm điều này. Mọi thủy thủ của bọn COSCO nếu mà đang tính, hay đang được giao cho những công tác ái quốc chỉ để phục vụ cho Tàu Cộng ở lục địa, thì cũng đều có đầy đồng nghiệp ở khắp mọi nơi trong nội địa nước Mỹ, dưới dạng đám sinh viên và khoa học gia đến từ Trung Hoa lục địa, những tên mà nay, chúng tôi sẽ đề cập đến.

CỘNG HÒA NHÂN DÂN TRUNG QUỐC nhắm vào

 các Sinh viên và Khoa học gia tại Hoa Kỳ

CỘNG HÒA NHÂN DÂN TRUNG QUỐC đang cố tuyển dụng các Hoa kiều ở hải ngoại để làm gián điệp cho chúng

Vào đầu năm 2000, Trung tâm phản gián quốc gia (NCIC) của CIA đã từng đưa ra lời cảnh cáo tới  các cơ quan liên bang và các công ty Mỹ là phải cẩn thận đề phòng các nỗ lực của chính phủ Trung cộng nhằm tuyển dụng các khoa học gia. Trung cộng rất là muốn đánh cắp các kỷ thuật của chúng ta. Điều rất rỏ ràng để xác nhận tin này là tay phó chủ tịch của Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc lại đã tuyên bố là Trung cộng đang tìm kiếm các khoa học gia “gốc Trung Hoa … nào mà sẵn sàng từ bỏ  . . .  quốc tịch hiện có của họ …”. Thật là lộ liễu, các cơ hội cho bọn Trung cộng tuyển dụng gián điệp hiện tràn lan khắp cả trên toàn nước Mỹ. 103 Bản báo cáo Cox cùng quyển China Threat của Bill Gertz cũng đã có cho thấy mức độ thành công của Tàu cộng trong công tác làm gián điệp ở Mỹ.

“Và rồi tự xưng mình đúng là  kế thừa của cái truyền thống đế quốc, giới lãnh đạo Đảng cũng đã đòi hỏi sự trung thành của mọi người Tàu ở ngoại quốc  … độ 30 hay 40 triệu người …”

Quan niệm tình tự dân tộc vẫn thường thúc đẩy mọi người. Thật vậy, số đầu tư từ nước ngoài vào Trung Hoa lục địa bởi những người Tàu đã chiếm tới cả 80% tổng số đầu tư của ngoại quốc tại Trung Hoa lục địa. Chíh những kẻ đó đã vẫn cứ chống đối việc cần phải giúp đỡ các nhóm bất đồng chính kiến​​. Thường thì các sắc tộc gốc Tàu vẫn rất là ái quốc và trung thành với nguồn gốc sắc tộc, cùng lịch sử của chính họ.

Tính chất thống nhất và đoàn kết trong lịch sử và văn hóa Trung Hoa đã có thể từng tạo ra những chủ trương trung thành lẫn lộn trong một số các sắc tộc của dân Tàu. Rất nhiều người Tàu ở ngoại quốc tại Đài Loan, Hồng Kông và Indonesia vẫn từng thường xuyên chống đối bọn lãnh đạo cộng sản. Ai mới thật sự là kẻ ái quốc và có tinh thần quốc gia nhất? Thật vậy, từ lâu nay thì các quốc gia Indonesia, Malaysia và Thái Lan vẫn đã rất là nghi ngờ sự trung thành của các công dân gốc Tàu của họ.

Đám tỷ phú Tàu ở ngoại quốc như là Li Ka-Shing, Mochtar Riady, Liem Sioe Liong, C.C. Tùng cùng đồng bọn thì cũng đã từng nổi danh với các vụ đại đầu tư mới đây ở tại Trung Hoa lục địa. Bọn tỷ phú Tàu, luôn luôn đã không hề bao giờ dám lên án việc đàn áp ở Trung Hoa lục địa. Chẳng hạn bọn họ đã luôn luôn câm nín như hến hay là cũng đã quyết định chính sắc tộc và quyển lợi cá nhân của họ thì mới quan trọng hơn là tình trạng tự do cá nhân cho mổi công dân Tàu. Quan khách tới Đại học Shantou thì đã cứ từng bị chiếu cho coi một phim về tên gọi là Li Ka-Shing. Y cứ tuyên bố, “Mục đích thực sự của tôi chỉ là đóng góp những gì tôi có thể đóng góp được cho thành phố mẹ của tôi, cho quốc gia của tôi, cho đất mẹ của tôi và cho quê hương của tôi. Đó là lẻ sống của đời tôi mà thôi”.  104

Tàu cộng đang nhắm vào cộng đồng Tàu để làm gián điệp cho chúng

Vậy thì làm sao Mỹ có thể đối xử với cái cộng đồng sắc tộc Tàu? (Cũng từng như với việc Liên Xô đã khai thác số người ái quốc gốc Nga). Một cựu giám đốc của FBI, đặc trách về phản gián với Trung cộng là Paul D. Moore, cũng từng thừa nhận là phản gián Mỹ đã bị “có vấn đề khi tuyển lựa theo tiêu chuẩn sắc tộc”. Dù sao thì cũng không có cách nào khác nữa. Tàu cộng thường nhắm vào các công dân Tàu đang học hay làm việc tại Mỹ, cũng như các người Mỹ gốc Tàu. Mọi bằng chứng thì cùng đều bất khả tranh luận. Trung Cộng “quan tâm cực kỳ đến những người Mỹ gốc Tàu thay vì là những người [khác]  …”. Không làm sao khác hơn được cả. FBI chỉ còn cấn phải chú tâm tới các khoa học gia Mỹ gốc Tàu mà thôi.

Cũng như vậy, một bản đồng báo cáo của FBI và CIA cho Quốc Hội trong tháng giêng năm 2000 đã cho biết là Trung cộng  đã từng dùng “một số trong hàng ngàn” các sinh viên và khoa học gia Tàu, và cũng đã từng khai thác các người Mỹ  “cùng gốc tổ tiên Tàu”.

 Page-107-Image-32

Các thành viên của cộng đồng người Tàu tại địa phương Everett, Washington đang chào tiển biệt thủy thủ đoàn của các chiến hạm Hải Quân Tàu cộng Qingdao (DDG 113) and Taicang (AOR 575).  (Hình Hải Quân Hoa Kỳ)

Trên thực tế, quả đã có hàng trăm ngàn đối tượng cho bọn Trung cộng mà thôi. Khả năng con số người sẽ có thể làm gián điệp cho Tàu cộng thì rất là lớn và ngày càng tăng gia, mà Mỹ thì đã không hề quan tâm thích đáng đến. Theo Jasper Becker, “Tổng cộng, đã có hơn 300.000 sinh viên Tàu ra nước ngoài du học từ năm 1979 đến năm 1999, và trong thập niên 90, đã từng có đến 100.000 tới du học tại Hoa Kỳ đúng vào cùng một thời gian”,  tới cả 50.000 sinh viên chỉ riêng trong năm 2000 mà thôi.

Gần đây, các đơn đệ nạp được Trung cộng chuẩn cấp và con số thị thực nhập cảnh thuộc mọi đối tượng đã được Toà Đại sứ Mỹ cấp thì cũng đã vượt quá một phần tư triệu hàng năm, với vào năm 2001 thì là hơn cả 300.000 vụ. Theo báo San Jose Mercury News thì đã có hàng chục ngàn sinh viên Trung cộng hàng năm đã ở lậu lại, sau khi thị thực của họ đã đáo hạn. 105  Theo cuộc điều tra dân số năm 2000 thì hiện đang có cả 200.000 dân Trung cộng đang trú ngụ bất hợp pháp ngay tại trong nước Mỹ.

Các sinh viên Tàu ở ngoại quốc

Chỉ trong niên khóa 1999-2000, Trung cộng cũng đã gởi cả 54.466 sinh viên đến du học tại Mỹ. 106

Thế thì làm cách nào mà chúng đã đến được Mỹ?

Theo trang trên Liên Mạng của Toà Đại sứ Mỹ tại Bắc Kinh, “Mỗi năm,  Mỹ đã thị thực chiếu khán nhập cảnh cho hàng ngàn sinh viên Trung Quốc. Hiện nay, hơn 50.000 người Trung Quốc đang du học tại Hoa Kỳ, và nay thì Trung Quốc đã là đối thủ [trên thực tế thì Trung cộng đã vượt qua rồi] của Nhật Bản như là nước có số lượng sinh viên nhiều nhất đi du học ở Mỹ …

Tòa Đại sứ đã có bằng chứng cho thấy … một tỷ lệ cao các sinh viên đã không trở về Trung Hoa lục địa sau khi tốt nghiệp … Thường thì sinh viên khi xin thị thực phải có bổn phận  đệ trình bằng  cớ  … khả chứng  … về triển vọng xã hội và nghề nghiệp tại Trung Quốc … rằng họ có địa vị trong xã hội; các sinh viên này đều phải chứng minh được  là cha mẹ họ sẽ có khả năng tìm được cho con cái những chức vụ hấp dẫn ở Trung Quốc sau này”.

Nếu quả thực Trung cộng mà có chủ trương cài đặt các gián điệp tại chỗ, thì quả đúng là ngay Tòa Đại sứ Mỹ tại Bắc Kinh đã đang tình nguyện giúp đỡ chúng, còn nếu không thì Tòa Đại sứ đã phải quá ư là ngây thơ, đến một mức thật sự là vô vọng mà thôi.

Quá ư là lộ liễu, ngay chính Tòa Đại sứ Mỹ lại đang tuyển dùm loại sinh viên trung thành với Trung cộng mà lại còn tích cực ngăn cản các người có tiềm năng bất trung thành nhất đối với bọn Trung cộng.

Nói thật ra thì cũng không có gì là bất ngờ cả. Rất nhiều sinh viên Tàu thì chính đều là con cháu của giai cấp thống trị, bọn “princelings ~ công tử Đảng”. Con trai của Giang Trạch Dân là Giang Mianheng đã từng tốt nghiệp Đại học Drexel. Sau đó thì cậu Giang con bèn đứng ra mở công ty China Netcom để cung cấp một mạng lưới ‘fiberoptic’ cho toàn Trung Hoa lục địa. Con trai của Đặng Tiểu Bình là Đặng Zifang thì cũng đã từng học vật lý tại đại học Rochester University. 107

Jasper Becker có kể ra cái tay Quin Ning (quý tử của Bộ trưởng Ngoại giao Quin Quichen), tác giả của quyển Studying in the United States: The Story of an Era ~ Du Học tại Mỹ: Chuyện của một thời. Ngay trong một cuộc khảo sát thì chính Quin cũng đã xác nhận là đã có ít hơn là một phần ba tổng số sinh viên Trung cộng du học mà đã có trở về quê hương và những kẻ đó thì cũng “không trở về để mà lật đổ chính quyền”. Becker cho biết phân nửa các sinh viên Trung cộng tại Hoa Kỳ đều thuộc các gia đình trí thức từng bị đàn áp dưới thời Mao (trong cuộc Cách mạng Văn hóa), một phần từ thì từ nông thôn và phần còn lại thì đều là con ông cháu cha đương thời.

Người Tàu thì cũng đã từng tuyệt chiêu về loại chế độ độc tài từ nhiều ngàn năm trước đây. Họ không hề có chút ít kinh nghiệm nào về luật trị, về tự do ngôn luận hay về dân chủ cả. Đã có biết là bao nhiêu là sinh viên trở về nước để chỉ gia nhập vào giai cấp cầm quyền độc tài thống trị đang nắm quyền tại Trung Hoa lục địa. Chúng đều đã trở về, rất có thể, được trang bị đầy đủ với mọi loại kiến thức nhưng chỉ để sử dụng như những công cụ của quyền lực nhà nước, hầu chỉ đàn áp người dân thấp cổ bé miệng mà thôi.

Mục tiêu về an ninh qu6óc phòng của Mỹ là liệu các sinh viên Tàu đó, mà nều đã vẫn cứ ở lại sau khi đã tốt nghiệp, liệu rồi chúng sẽ có vẫn trung thành với Trung cộng hay không. Vào năm 1997, khoảng một phần ba các sinh viên về vật lý từng tốt nghiệp tại Đại học Bắc Kinh Trung cộng lại đã thường bỏ Tàu đi để sống, rồi làm việc hay giảng dạy tại Mỹ. 108 Tại sao Trung cộng lại để cho chúng đi? Theo một cuộc khảo sát của National Science Foundation  (Hiệp Hội Khoa học Quốc gia) thì 91% sinh viên Trung cộng với bằng tiến sĩ về khoa học và kỹ sư đều dự trù sẽ ở lại Mỹ. 109  Vậy thì câu hỏi là tại sao Trung cộng không hề thắc mắc về sự kiện “mất chất xám?”.

Trong thực tế, độ 50% hay hơn nữa, đều đã ở lại để trở thành những công dân Mỹ. Tuy nhiên, đa số thì đều vẫn giữ  quan hệ chặt chẽ với bọn Trung Cộng. Họ vẫn cứ về thăm Trung Hoa lục địa. Họ vẫn cứ giao thương với Trung cộng và quan trọng hơn cả, họ vẫn cứ tiếp xúc với các viên chức Trung Cộng.  110  Chúng ta phải đặt câu hỏi là họ đã từng trao đổi những gì  với cái chính quyền cộng sản đó .

Chúng ta cần phải tìm cho ra là bao nhiêu của bọng chúng vẫn trung thành với Trung cộng và do đó, cần phải bị theo dõi. Ấy vậy, đã không hề có ai lưu ý tới việc này. Thái độ chung thì cứ chỉ việc nghe thôi, rồi cũng chỉ thấy thôi mà, và rồi cũng hoàn toàn không thấy gì cả thôi mà!

Chiếu theo báo cáo của Thanh Tra Toàn Quyền (Inspector General) cho Ủy ban Thượng viện đặc trách các vấn đề về công việc của Chính phủ ( Senate Committee on Government Affairs) của ngày 23 tháng 6 năm 1999, có độ 5 đại học chính Mỹ đã cho phép cả hàng trăm sinh viên và nhân viên về nghiên cứu, mà phân nửa là ngoại quốc, được quyền sử dụng các máy siêu điện toán tại các phòng thí nghiệm vũ khí hạch tâm của Mỹ. Thái độ cởi mở đối với các bí mật hạch tâm của quốc gia này quả thật là quá ư ngu đần. Hành vi này gần như là tội hình về bất cẩn mà thôi.

Đã từng có muôn trùng là cơ hội cho các sinh viên và những người ngoại quốc nhập cư Mỹ để du học, cũng để rồi ở luôn lại để rồi làm gián điệp ngay tại Mỹ. Chiếu khán loại  F-1 dành cho sinh viên Cao học thì cũng được vẫn cấp cho bất kỳ ai mà chỉ cần hứa suông thôi là sẽ học một thời gian ngắn tại Mỹ và sau đó thì sẽ trở về nhà. Lời hứa thì toàn đúng là hứa suông mà thôi và thường thì không ai giữ cái lời hứa lúc ban đầu cả. Chiếu khán loại J thì đặc biệt dành cho sinh viên của các chương trình bảo lãnh trao đổi (do Cơ quan Thông tin Hoa Kỳ ~ United States Information Agency quản trị). Loại J-1 thì được dành cho các nhà học giả, các chuyên gia, các nội trú y khoa, các giáo sư, các nghiên cứu sinh, các giáo viên và các người tu nghiệp về kỹ nghệ và kinh doanh ngoại quốc. Các đối tượng của J-1 thì thường được bảo lãnh bởi một chính phủ hay một cơ quan quốc tế. Trong năm 1998, đã có tới 6.462 người từ Trung Hoa lục địa được cấp J-1 chiếu theo tài liệu của Văn phòng Chiếu khán của Bộ Ngoại giao Hoa kỳ. 111 Loại chiếu khán ‘M’  thì lại áp dụng cho các sinh viên thường, đi du học về thương mại và kỹ thuật, ví dụ như học về nghề phi công cho các hãng hàng không, học một loại nghề nào đó hay học tại các trường kỹ thuật và kinh doanh.

Các sinh viên ngoại quốc, mà rất nhiều là Tàu cộng, nay chiếm tới phân nữa số tốt nghiệp Tiến sĩ về kỹ sư tại các đại học Hoa Kỳ. Trong nhiều thập niên qua, sinh viên ngoại quốc đã chế ngự các môn cao học về vật lý, hóa học, toán học và điện toán. Hầu hết là từ Ấn Độ, Hồi quốc và Trung Hoa lục địa. Trong nhiều thập niên qua, Viện Institute of Electrical and Electronic Engineers (Kỹ sư điện và điện tử) cùng nhiều nơi  khác đã phàn nàn là các đại học, ví dụ như Đại học California, thực sự đã ưu tiên nhận các sinh viên ngoại quốc trước các sinh viên Mỹ trong các chương trình Cao học và Tiến sĩ về kỹ sư, toán học và khoa học. Đặc tính chuyên dẫn đầu về toán học – khoa học đã hoàn toàn chuyển từ sinh viên quốc nội qua giới sinh viên nhập cư.

Chiếu theo Patricia McDermott of Digital Equipment thì hiện nay, “khoảng 70% đến 80% sinh viên tốt nghiệp tiến sỹ về khoa học tại các đại học Mỹ đều đến từ ngoại quốc. SEMI, một Hiệp hội các nhà sản xuất ‘chip’ tại thung lũng Silicon Valley, có cho biết, “Một phần ba số sinh viên Cao học về Khoa học và phân nửa số sinh viên Tiến sĩ về Điện ngày nay đều là người ngoại quốc”.

Thủ phạm trong tình trạng này lại chính là hệ thống giáo dục công K-12 của ngay nước Mỹ.

Trong kỳ thi quốc tế International Math and Science Study năm 2000 về Toán và Khoa học, các sinh viên Hoa Kỳ đã có số điểm dưới xa các sinh viên Nhật Bản, Hàn Quốc, Hồng Kông, Singapore, Úc, Canada và đa số các quốc gia kỹ nghệ đã phát triển. Ngay tại California, xứ sở của nền kỹ nghệ tiên tiến tại thung lũng Silicon Valley, thì chỉ có 1 trong 6 học sinh lớp 8 là có đúng trình độ về môn Toán. Nhưng tình hình lại đang trở nên trầm trọng hơn, trong số học sinh lớp 4 thì chỉ có 1trong 9 em là có đúng trình độ về môn Toán.

Như vậy thì độ 65% tổng số học sinh tốt nghiệp trung học tại California sẽ đều cần phải được giảng dạy thêm về Toán học (và cả Anh văn!) sau khi sẽ được nhận vào con số 23 đại học của tiểu bang California. Các đại học công đều bị ngập đầy cặn bã của cái hệ thống K-12 đầy thất bại, nên họ đã phải lệ thuộc vào các sinh viên ngoại quốc (thậm chí luôn cả số nhập cư lậu mà người dân đóng thuế cứ đã phải nài lưng ra mà nuôi không công), để ngõ hầu cung cấp cho được số 60% của các kỹ sư và các khoa học gia về điện toán cho California.

Nói về những nơi khác thì đã từng có đến 84% học sinh tiểu bang Arizona gần đây đã rớt trong một bài kiểm tra Toán của tiểu bang.

Phản ứng của các chính trị gia về các vấn đề này thì đã luôn luôn như nhau. California, Maryland, Massachusetts, Delaware, Ohio, Wisconsin và Alaska đều cùng hạ thấp tiêu chuẩn của các bài kiểm tra về toán cùng khoa học để cho dể đủ điểm đậu hơn nhiều!

Và vì vậy, giới kỹ nghệ cùng các trung tâm nghiên cứu bèn chủ trương phải đi ra khỏi nước Mỹ hầu tìm kiếm các nhân viên có đủ khả năng nghề nghiệp. Giới kỹ nghệ đã nhắm vào số sinh viên ngoại quốc có được quy chế thường trú – những kẻ lúc ban đầu đã từng hứa sẽ lại trở về quê hương – mà đã từng nạp đơn xin chiếu khán H-1B cho tới cả 6 năm sau khi đúng ra thì họ đã phải về lại quê hương của họ rồi.

Không đủ số cung về nhân viên để phục vụ nền kỹ nghệ tiên tiến

Số cầu thì rất là cao. Năm 1998, các công ty kỹ nghệ tiên tiến đã tuyên bố là họ đã không thể kiếm đủ số cả 25.000 đến 50.000 nhân viên Mỹ có bằng Cao học và Tiến sĩ về toán, khoa học, kỹ sư, điện toán, kỹ sư về nghiên cứu và kỹ nghệ. Hiệp hội Information Technology Association of America (ITAA) vừa mới đây đã tuyên bố hiện có 346.000 việc làm cho các chuyên viên thảo chương về điện toán, các kỹ sư và các người phân tích hệ thống điện toán mà vẫn không hề có đủ người làm. Ít nhất thì một phần ba các kỹ sư ở Silicon Valley đều là người Mỹ gốc Á. Ấy vậy, như cầu vẫn không thể thỏa mãn được. Tới năm 2000 thì ITAA đã công bố là nền kinh tế Mỹ đang mất đi cả 100 tỷ Mỹ kim hàng năm chỉ vì đang thiếu tới cà 1 triệu 6 nhân viên có trình độ kỹ thuật cao.

Đã có một số chiếu khán bị lợi dụng để thoả mãn nhu cầu này. Đặc biệt, loại chiếu khán H-1 dành cho những người đã tốt nghiệp đại học cấp hay có đủ kinh nghiệm để làm những việc đòi hỏi kiến ​​thức chuyên môn cao, ví dụ: y tá, kỹ sư, hóa học gia, đã tốt nghiệp Cao học cùng các chuyên gia khác. Loại chiếu khán H-1 được cấp cho thời gian 3 năm, nhưng có thể tái gia hạn đến 6 năm.

Vào năm 1998, Văn phòng Chiếu khán của Bộ Ngoại giao có báo cáo là đã có tới 3.880 loại H-1B đã từng được cấp cho những người từ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Còn về số chuyên viên kỹ thuật khác để đủ điều kiện theo loại H-2B thì 730 người gốc Trung Hoa lục địa trong năm 1998. Loại chiếu khán H-3 Trainee Visa (Tu nghiệp) cho chuyên viên học nghề tại chổ thì có 58 người đến từ Trung Hoa lục địa trong năm 1998. Theo loại L-1 thì mọi nhân viên ngoại quốc của một công ty Mỹ ở nước khác thì đều có thể vô làm việc tại Hoa Kỳ. Trong năm 1998, đang có 1.535 người từ Trung Hoa lục địa đang làm việc tại Mỹ với chiếu khán L-1.  112 Tới năm 1998 thì đã có 6.203 người Tàu lục địa đã tới Mỹ theo tiêu chuẩn này.

Để đối phó với tình trạng thiếu tay nghề cao ở Mỹ, các công ty kỹ nghệ tiên tiến đã vận động thành công để Quốc hội Mỹ cho phép mở rộng tiêu chuẩn loại chiếu khán đặc biệt (H-1B) nhằm cho phép nhân viên kỹ thuật đào tạo ở ngoại quốc được quyền ở lại Mỹ từ 3 đến 6 năm. Những người vận động cho loại H-1B chủ trương là đã có một tình trạng bất lực của Mỹ trong cái “hệ thống giáo dục và đào tạo quá quan liêu hầu cung cấp tay nghề có khả năng cao, đặc biệt là về toán và khoa học”.

Hiệp hội American Engineering Association ~ AEA (Hiệp Hội Kỹ thuật gia Mỹ) thì phản bác lại là các công ty về kỹ nghệ tiên tiến thực sự đã chỉ nhằm muốn tìm nhân viên mà họ sẽ có thể trả lương rẻ, để rồi có thể sa thải những nhân viên thâm niên lương cao mà thôi. Tới năm 1998, ITAA bèn phản đối và Quốc hội cũng bác bỏ một dự luật nhằm nâng cao giới hạn hàng năm về loại chiếu khán H-1B nếu có đáp ứng được hai điều kiện hợp lý. Trước là mức lương phạn phải hơn 40.000 Mỹ kim hàng năm và sẽ không có một nhân viên Mỹ nào sẽ bị đổi việc đang làm. Các công ty về kỹ nghệ tiên tiến đã thực sự cùng lúc muốn cả nhân công rẻ tiền mà lại giỏi, bất kể từ đâu đến cũng được thôi.

Tới năm 1998, Quốc hội đã nâng cao con số chiếu khán H-1B từ 65.000 đến cả 115.000 cho mổi năm. Đến cuối năm 2000 thì Quốc hội lại đã tăng gấp đôi số 200.000 chiếu khán hạn định “tạm thời” (3 tới 6 năm) cho mỗi năm, cho đến năm 2003.

Hơn phân nửa các chiếu khán loại H-1B đều đã được cấp cho công dân Ấn Độ (48%) hoặc nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (9%). Do đó, đạo luật năm 2000 sẽ cho phép mở rộng cữa để đón khoảng 54.000 Tàu lục địa qua làm các việc đòi hỏi kỹ thuật cao tại Mỹ. Năm 1998, Văn phòng Chiếu khán của Bộ Ngoại giao cũng từng báo cáo là chỉ có 3.880 chiếu khán H-1B đã được cấp cho những Tàu lục địa. 113 Luật năm 2000 có khả năng tăng lên đến 1.400% tổng số chiếu khán H-1B sẽ được cấp cho Tàu cộng.

Hiện nay, 20% của tất cả các bản toát-yếu lý lịch nạp để xin chiếu khán H-1B đều đã bị khám phá ra là gian dối cả thôi. Liệu rồi Quốc hội có đã sẽ mời 11.000 tên Tàu chuyên viên nói láo và / hoặc gián điệp Tàu cộng vào Mỹ để làm việc trong các hảng xưởng về kỹ nghệ tiên tiến? Có thể là con số này ít hơn nhiều, nhưng dù sao thì một con số cũng sẽ là một số. Như vậy thì sẽ phải có gián điệp Trung cộng mà thôi. Cần phải có ai đó để phụ trách theo dõi tìm kiếm chúng trong mọi nơi nào khả dĩ có chúng được.

 Page-112-Image-34

Thủy thủ đoàn CHNDTQ đang vẫy tay chào giả biệt các người tiển đưa, nhân khi khu trục hạm Qingdao (DDG 113) sữa soạn rời Trân Châu Cảng.

(Hình Hải quân Hoa Kỳ)

 Ta có thể xử sự làm sao với số người đang làm mà có tiềm năng nguy hiểm trong các hãng xưởng Hoa Kỳ?

Luật pháp buộc mọi công ty tư đều cần phải xin giấy phép xuất cảng đối với một số kỹ thuật có tiềm năng hiểm nguy cao. Một giấy phép cũng cần phải xin khi công ty sẽ cho phép một nhân viên ngoại quốc, loại có chiếu khán H-1B và những người khác, được phép làm việc với loại kỹ thuật thuộc tiêu chuẩn quy định là sẽ phải cần xin giấy phép trước nếu sẽ xuất cảng. Những loại kỹ thuật đòi hỏi phải có một giấy phép để cho phép một nhân viên được quyền tiếp xúc với các sản phẩm đó thì bao gồm hạch tâm, sinh học, hóa học, hỏa tiễn, máy siêu điện toán (HPCs) và lưỡng dụng (quân và dân sự). Hành vi cho phép tiếp xúc và sử dụng với người nhân viên ngoại quốc cũng “đồng nghĩa” với hành vi xuất cảng kỹ thuật đó cho một quốc gia khác mà thôi.

Nhiều công ty tư đã hoàn toàn không hề biết đến loại giấy phép “xem như xuất cảng” này. Điều này có vẻ không được bất kỳ ai quan tâm đến, thậm chí ngay cả những công ty mà đã chịu khó xin giấy phép cho sản phẫm của họ. Dưới triều Clinton, từ năm 1998 đến năm 2000, Bộ Thương mại đã chuẩn chấp độ 1.716 loại giấy phép “xem như xuất cảng”, chỉ bác bỏ có 102 hồ sơ mà thôi. Như vậy thì có tới cả 96% được phê duyệt, trong khi chỉ có 4% thì đã bị khước từ! 114  Đã có gần tới cả 2.000 nhân viên ngoại quốc đang được tiếp xúc và làm việc với các loại kỹ thuật có tiềm năng nguy hiểm mà khả dĩ có thể làm tổn thuơng đến nền an ninh quốc gia của Hoa Kỳ.

Thật vậy, theo bản tường trình của một vị Thanh tra Toàn quyền (Inspector general) trước Ủy ban Thượng viện về các vấn đề Chính phủ vào ngày 23 Tháng 6 năm 1999, bất kể dân Tàu cộng nào mà chỉ đơn giản tuyên bố muốn ở lại Mỹ thì từ nay sẽ không còn bị ràng buộc bởi tiêu chuẩn phải xin giấy phép “xem như xuất khẩu” nữa. Mọi Tàu cộng nay đều toàn quyền được tiếp xúc và làm việc trong các lãnh vực này, y như mọi công dân trung thành Hoa Kỳ khác mà thôi.

Mọi Tàu cộng đều được quyền tự do “đổi” ý sau đó, để rồi có thể trở về lục địa với tất cả kiến thức kỹ thuật bí mật trong đầu và cả trong hành lý của họ. Vào tháng 5 năm 2001, Kenneth Juster, người mà Tổng thống Bush đã bổ nhiệm vào Bộ Thương mại, có khai chứng trước Ủy ban Đối ngoại Quốc hội để binh vực cho việc tăng thêm vai trò của Bộ Quốc phòng và Bộ Ngoại Giao trong việc cứu xét các giấy phép loại “xem như xuất khẩu” này.

Liệu các công dân mới tại Hoa Kỳ có trung thành hay không?

Theo công ty Digital Corporation, khoảng phân nửa các sinh viên ngoại quốc tốt nghiệp Tiến sĩ đều có được quy chế thường trú nhân hợp lệ. Độ 1phần 4 đến 1phần 3 thì đi sống ở những quốc gia khác. Phần còn lại thì quyết định về quê hương – khoảng từ 20% đến 25%. Hai phần ba số Tiến sĩ ngoại quốc đều muốn được ở lại Mỹ như là những công dân mới. Theo một cuộc khảo sát của National Science Foundation (Hiệp Hội Khoa Học Quốc Gia) thì có đến 91% sinh viên Tàu cộng đang theo lấy bằng Tiến sĩ về khoa học và kỹ thuật dự trù sẽ ở lại Mỹ. 115  Đúng vậy, Charles Sie, cựu nhân viên của công ty Xerox Corp., có cho biết khoảng 150.000 khoa học gia và kỹ sư Mỹ có gốc Tàu nay đang làm việc ở Mỹ, mà 5.000 người là về quốc phòng. Tôi nghỉ các con số này là quá thấp thôi.

Chiếu khán H-1B quả đúng là những viên đá lót đường đưa đến quy chế thường trú hợp lệ, rồi nhập tịch và trở thành công dân. Nói chung thì Hoa Kỳ đã lợi lộc rất nhiều. Từ 50 đến 70 năm qua, các khoa học gia hàng đầu thế giới đều đã trở thành công dân Mỹ nhờ nhập tịch, cũng như cái ví dụ là từng đã có 6 người Mỹ gốc Tàu giành được giải thưởng Nobel về vật lý và hóa học.

Chính Ted Wong, một kỹ sư, là người từng lãnh đạo nhóm phụ trách về các hệ thống hỏa tiễn của Công ty Hughes Aircraft (Raytheon Corp) ngay từ lúc phát động nghiên cứu về kế hoặch Reagan Strategic Defense Initiative (Sáng kiến Reagan về Chiến lược Quốc phòng).

Andrew Chi, một nhà vật lý tại Goddard Space Flight Center (Trung tâm các Chuyến bay trong Không gian Goddard) của NASA, đã từng phát triển ra chiếc đồng hồ nguyên tử trong hệ thống định vị toàn cầu (GPS) để hướng dẫn nào là xe hơi Cadillac, nào là bom và luôn cả tàu thuyền.

H.K. Cheng, thuộc Đại học Nam California, đã nghiên cứu về đặc tính vật lý của dòng chảy siêu âm (hypersonic flow physics) có đặc tính  thiết tử cho tiến trình trở vế trái đất các hỏa tiễn và các phi thuyền.

Chih-Ming Ho tại đại học UCLA thì đã thành công chứng minh là các hệ thống vi tính về điện lẫn cơ khí (tiny micro-electromechanical systems ~ MEMS), có khả năng thay thế được các bộ phận điều khiển các cánh phụ (flaps) giúp cho phi cơ phản lực bay nhanh hơn, dể điều khiển hơn và khó bị phát hiện hơn nhiều.

Nếu mà trước kia chúng ta đã phản ứng lại với cơn khủng hoảng Sputnik như kiểu hiện nay chúng ta đang làm với tình trạng thiếu nhân viên có khả năng kỹ thuật tiên tiến thì chắc là chúng ta đã từng phải mời các khoa học gia Nga qua để điều khiển cái chương trình không gian của chúng ta mất rồi. Thật vậy, ngoài việc tuyển dụng những tài năng ngoại quôc bạn, chúng ta cũng đã sử dụng rất nhiều nhân tài Mỹ, tuy là họ không có nổi tiếng lắm. Các tài năng bản xứ Mỹ này đã từng đưa Mỹ lên được mặt trăng. Nhiều người thì đã học thêm vào ban đêm để có thể lấy bằng cử nhân. 116  Sau khi lên được mặt trăng rồi và cũng thắng luôn trong cuộc Chiến tranh Lạnh, chúng ta bèn sa thải họ. Hàng ngàn những người đó hiện đang sống ở Los Angeles và nhiều nơi khác. Một số đã lên tiếng qua các bài viết từng được đăng trên tờ American Spectator trong tháng 6 năm 1998 hầu bác bỏ chủ trương sai lầm là Mỹ hiện đang thiếu giới tài năng mà loại chiếu khán H-1B đang nhắm vào đó.

Quyết định tăng hạn ngạch dành cho loại chiếu khán H-1B đã nhanh chóng cống hiến các khả năng kỹ thuật về máy điện toán, hỏa tiễn và hạch tâm cho bọn thù địch của Mỹ trong trận chiến sẽ sắp xẩy ra. Nó cũng đã giúp đở rất nhiều cho đám gián điệp Trung cộng cùng bọn chuyên viên khủng bố.

Sở Immigration and Naturalization Service ~ INS (Nhập cư và Nhập tịch) cần phải cải thiện triệt để hệ thống tự động theo dõi việc nhập và ra đi của mọi sinh viên, mọi người làm cùng mọi kẻ đang  sử dụng chiếu khán du lịch. Tình trạng và hoàn cảnh hiện tại của cả hàng trăm ngàn người có chiếu khán nhập cảnh sinh viên cùng mọi loại chiếu khán khác cần phải được cập nhật hóa. Đối với số người có khả năng tiếp xúc làmviệc với các kỹ thuật liên hệ tới nhu cầu quân sự thì cần phải thường xuyên kiểm tra lý lịch, hay trắc nghiệm bằng máy kiểm nói dối hoặc các phương pháp kiểm tra khác về lòng trung thành. Dỉ nhiên, mọi biện pháp thích hợp nhằm bảo vệ các quyền tự do dân sự của người công dân thì đều cũng phải được tôn trọng mà thôi.

Nay thì chúng ta hãy quay qua các công ty mặt nổi Tàu cộng đang kinh doanh và đôi khi thi hành cả nghiệp vụ gián điệp tại Mỹ.

Bọn Điệp viên Cộng sản . . . Đám Thương nhân Tàu đang sinh sống tại Hoa Kỳ

Các công ty mặt nổi Tàu cộng cùa Quân Đội Nhân Dân Trung Quốc tại Hoa Kỳ

Các biện pháp cần phải được tiến hành hầu bảo vệ nền an ninh quốc gia trước tập đoàn COSCO và các công ty mặt nổi khác của Trung Cộng như là Orient Overseas và Hutchison Whampoa.

Cũng đang có nhiều công ty mặt nổi của Tàu cộng khác với kích thước nhỏ hơn. Đối với chúng, thì cần sự góp tay cảnh giác của công chúng và các cơ quan tình báo cũng phải nên bắt đầu tìm hiểu được hay theo dõi chúng. Để làm như vậy mà vẫn bảo vệ được các quyền tự do dân sự Mỹ thì sẽ cần đòi hỏi thiện chí và trí thông minh của tất cả mọi chúng ta.

“Các cuộc điều tra của FBI có phát giác ra được rất là nhiều phương pháp [về] … điệp vụ gián điệp kinh tế. … [Tìm] cách tuyển mộ những cá nhân đang tiếp xúc và làm việc có liên quan đến một kỹ thuật hay tin tức được nhắm tới vẫn là một phương pháp cổ điển từng được trui rèn với thời gian . . .  [Bọn] ngoại quốc thẫm định và nghiên cứu mức độ có sẽ dể bị khai thác hay không của một đương sự, rồi tìm kiếm bất kỳ yếu điểm riêng tư nào đó của đương sự hay những đặc tính chung nào đó [về dân tộc, văn hóa, tư tưởng, ngôn ngữ] giữa chúng với đương sự … mà có thể sẽ dùng được để khai thác họ … Những phương pháp khác thì gồm có cách giao công tác cho những sinh viên xuất ngoại đi du học ở Mỹ; hay cố khai thác lợi dụng … các hội ái hữu, các tổ chức trao đổi quốc tế, hay các công ty xuất nhập cảng; hay bỏ tiền trả lương cao để thuê những nhân viên có kiến thức … … với mục tiêu c cụ thể là để khai thác và lợi dụng kiến thức của họ; và mưu đồ trong cách hành văn khi ký những văn kiện hợp pháp để thỏa thuận chia sẻ về kỹ thuật … [như là] … những phương tiện … chỉ dùng để lấy cắp tin tức mà thôi …”. 117

Các đại lý và trung gian về dịch vụ du lịch

Có một số các công ty chuyên phục vụ như là đại lý cho các viên chức của chính phủ Tàu cộng đến Hoa Kỳ để viếng thăm các hãng xưởng, đại học và các hạ tầng cơ sở tối yếu.

Một số các đại lý về dịch vụ du lịch dành cho cán bộ Trung cộng thì gồm có: BiBridge Enterprises, Inc .; Chinese Trade and Research and Action, Inc.; FCC Group International (USA), Inc. ở đường Flair Drive tại El Monte, California; và Global Unisource USA, Inc. ở Houston, Texas. Cũng có PTS International, Inc. ở Monterey Park, California; Triway Enterprise, Inc. ở Arlington, Virginia; U.C. Service Center trên đường Flair Drive ở El Monte, California; và Union-Tech Engineering, Inc. ở Arcadia, California.

Các đại lý Cộng sản này đều đúng là những người thân thiện nhất thế giới và bất kỳ người Mỹ nào mà đã tiếp xúc với họ thì cũng đều phải quý mến họ mà thôi.

Loại đại lý chuyên lo về dich vụ du lịch này cho đám Tàu cộng đã cả gan sửa đổi những mẫu thơ mời của các cơ quan Hoa kỳ về các chi tiết liên quan đến như là thời hạn, mục đích và địa điểm của những nơi thăm viếng. Điều này đã qua mặt được các Lãnh sự quán và tòa Đại sứ Mỹ ở Bắc Kinh, những nơi có bổn phận để cứu xét chiếu khán nhập cảnh. Nó cũng giúp cho đám du khách Tàu cộng toàn quyền muốn làm gì thì làm mà chả cần thông báo cho ai cả, sau khi đã đặt chân được đến đất nước tự do và cởi mở Hoa Kỳ này.

Các đại lý chuyên lo về dich vụ du lịch của Tàu cộng đã phàn nàn là Tòa Đại sứ Hoa Kỳ tại Bắc Kinh dưới thời chính quyền Bush đã từ chối cấp chiếu khán nhập cảnh đối với những đơn xin đi thăm các đập nước phía Tây, các hồ chứa nước, các nhà máy biến điện, các trạm bơm và các tiện nghi cung cấp nước. Chính cái đám công chức mãi mãi thân thiện đã ngỏ ý mời họ. Tòa Đại sứ Mỹ ở Bắc Kinh từng chấp thuận đa số các đơn xin. Tòa Đại sứ đã không hề giải thích cho các viên chức ở những địa phương đó biết lý do tại sao họ đã từ chối một số đơn xin thị thực nhập cảnh của Tàu cộng.

Ta thì chắc chỉ có thể phỏng đoán được là đám đại lý chuyên lo về dich vụ du lịch chỉ có bổnphận phục vụ chủ nhân đang nắm hầu bao thôi. Ta cũng tiên đoán được là chúng cũng ​​sẽ gài các điệp viên của chính phủ Tàu cộng trong số người đó và cũng gần những nơi mà kỹ thuật và / hoặc các hạ tầng cơ sở của Mỹ có nhiều yếu điểm nhất.

Về một ví dụ, trong vòng 5 năm cuối vừa qua, đã có không ít hơn là 100 viên chức Trung cộng có đến thăm công trình California State Water Project (Kế hoặch về Nước của Tiểu bang California) và chương trình liên bang Central Valley Project (Kế hoặch Thung lũng vùng Trung tâm) ở California. Đây không phải chỉ là một sự quan tâm hời hợt và nông cạn. Các công trình kỹ sư dân dụng nhằm cung cấp nước này vượt xa cả công trình kinh Panama, ngay về số lượng đất cát được di chuyển. Các công trình công cộng và tự do kinh doanh đã giúp chuyển tiểu bang California từ một vùng lụt lũ lẫn hạn hán, đầm lầy lẫn sa mạc, để có được một nền kinh tế lớn đứng vào hàng thứ 5 trên thế giới. Những công trình này đều dễ bị tấn công, hầu đưa tới những hậu quả rất ư là đắt giá, cả về nhân mạng lẫn tiền của.

Hành vi Tàu cộng xâm nhập vào Mỹ quốc đang rỏ ràng liên tục tái diễn hàng ngày tại mọi nơi và mọi kỹ nghệ trong cuộc sống của chúng ta.

Các công ty hải vận

Hoa tiêu tại kinh Panama là Kenneth Puckett đã từng vạch rỏ trước hết cho tác giả biết là các công ty phụ trách về thủ tục hải vận (freight forwarders) thường vẫn chuyên lo kê khai các mẫu khai trình số hàng hóa trên tàu và phải theo dõi nắm vững giấy tờ đối với số hàng chuyên chở trên tàu thuyền cùng số lượng thùng hàng ‘container’.

Tác giả Kenneth Timmerman thì lại có viết trên số ra tháng 10 năm 1997 của tờ American Spectator để liệt kê các công ty hải vận do Tàu cộng kiểm soát như là Pan Ocean Lines, North China Cargo; CU Transport, Inc. (con đẻ của China National Foreign Trade Transportation Corporation) ở Alhambra, Rosemead và Monterey Park, California; China Interocean Transport, Inc. (China National Foreign Trade Transportation Corp.) ở Compton, California;  CCIC North America, Inc. (China National Import and Export Commodities Inspection Corp.) ở West Covina và El Monte, Californa và Morrison Express ở El Segundo, California.

Hoạt động kinh doanh về hải vận nguyên là loại thương vụ hợp pháp. Nhưng vấn đề được đặt ra ở đây là lòng trung thành của các chủ nhân ông cùng nhân viên của các công ty đó mà thôi.

Các máy điện toán của công ty U-Freight

Vào tháng 9 năm 1993, công ty U-Freight, Inc., phụ trách về thủ tục hải vận ở Nam San Francisco, California, đã nộp giấy tờ gian dối để có thể chuyển đi một chuyến hàng của công ty Sun Microsystems về loại máy điện toán nằm trong danh sách bị cấm cung cấp bán cho Tàu cộng.

Bảy năm sau khi mà cái hành vi phạm pháp này đã từng xẩy ra trong tháng 10 năm 1993, thì vào ngày 20 tháng 3 năm 2000, Bộ Thương mại tuyên phạt số tiền 20.000 Mỹ kim đối với công ty U-Freight, mà 10.000 Mỹ kim thì lại được trả ‘treo’ với điều kiện hứa sẽ không tái phạm nữa đâu.  118

Xem ra đó quả chỉ không khác gì một giấy phạt về lưu thông mà thôi. Nhưng chính nội vụ thì lại là một hành vi chuyển giao các loại máy điện toán với năng suất cao vào tay các thương gia Tàu cộng chuyên lo thu mua các thiết bị về vũ khí hạch tâm. Điều này cũng sẽ chỉ giúp cho Tàu bán các lô hàng thiết bị về hạch tâm của Trung cộng cho các quốc gia nơi bọn điên cuồng quá khích đang cầm quyền như là Iraq, Iran, Libya, Syria và Bắc Hàn.

Các công ty mặt nổi

Kenneth R.Timmerman và bản Phúc trình Cox từng tiết lộ đang có cả hàng ngàn công ty của Tàu cộng được đặt trụ sở tại Mỹ, hầu hết là ở Los Angeles, để mở mang kinh doanh và có thể cũng để hoạt động tình báo thôi.

Sau khi tự đứng ra nghiên cứu, cùng sử dụng ngay chính các tài liệu công khai của Bộ trưởng Ngoại giao Tiểu bang California, Kenneth Timmerman đã đúc kết được một hiện tượng tiêu biểu là hiện đang có ít nhất tới 150 công ty Tàu đặt trụ sở chỉ duy nhất trong có một bất động sản thôi, nằm tại số 9300 Flair Drive ở El Monte. Nhiều địa chỉ khác, cũng với cả hàng trăm công ty Tàu đuợc cùng nhau đăng bộ chung chổ dưới hình thức ‘corporation’ ở California, thì là tại số 9460 Telstar, tại số 9480 Telstar và tại số 9550 Flair Drive.  119

Các công ty Tàu cộng

Vào năm 1997, Timmerman từng đã liệt kê các công nghiệp quốc phòng của chính phủ Tàu cộng đang đặt văn phòng trong khu vực Los Angeles.

Công ty Catronics ở San Dimas là một chi nhánh của  China National Electronics Import-Export Corp, một công ty chuyên sản xuất các hệ thống ‘radar’ và trang thiết bị về viễn thong cùng mã hóa.

GW Aerospace, Inc ở Torrance thì lại là một thực thể của Great Wall Industry Corp., một công ty thường được nhắc tới về khả năng chuyên phổ biến và cung cấp các phụ tùng về những loại vũ khí hủy diệt tập thể.

Tại Baldwin Park, Mei An là một đại lý của Xian Aircraft chuyên sản xuất phi cơ vận tải quân sự và các phụ tùng cho các loại phi cơ Boeing 737 và 757.

SAMCO Machine Tool of Gardena thì lại là một chí nhánh của China National Machinery and Equipment Import and Export Co., chuyên sản xuất thiết giáp xa lớn nhỏ mà đã từng được biết đến là có cung cấp phụ tùng hỏa tiễn cho Hồi quốc vào tháng 8 năm 2001.

SWC Business International USA, Inc. ở Hacienda Heights thì là một chi nhánh của NORINCO, một công ty chuyên sản xuất về vũ khí quan trọng của Trung cộng.

Bản phúc trình Cox cũng đã từng liệt kê các cơ sở của Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung cộng đang hoạt động tại Hoa Kỳ là:

China Jing, một công ty xuất nhập cảng về phụ tùng (Công an Vũ trang Nhân dân Trung cộng) tại West Valley ở San Gabriel;

China Songhai Industry Corporation (Hải quân Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung cộng) ở La Mirada;

China Songhai Industry Corporation tại Los Angeles;

China Xinxing Import & Export Corporation (Tổng Phân bộ Quân nhu Quân cụ Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung cộng) tại Broad Street ở New York

Xinxing Sun Win Asia Company, Ltd.

Xinxing (USA), Inc. trên đường Olney Street ở El Monte.

Các công ty của Chính phủ Trung cộng

Tác giả Timmerman cũng phát giác ra được công ty China National Aero Technology Import-Export Company CATIC là hoàn toàn do Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung cộng sở hữu ở El Monte. Cũng thuộc Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung cộng, thì hiện có China National Nonferrous Metal Industry Corporation ở Monterey Park, cùng các chi nhánh là CNNC American Group, Inc., Jia Hua and Minmetals ở Baldwin Park cũng như tại City of Industry.

Cộng trình sưu tra của chính tác giả cũng giúp tìm thấy ra được khoảng 30 công ty Tàu từng được liệt kê trên thị trường chứng khoán Mỹ qua trung gian của ADRs (American Depository Receipts) trong năm 2001. Các công ty này đều đăng bộ như là các thành viên của hoặc là Thị trường chứng khoán New York, NASDAQ, hoặc là 144A “hạn chế”. Hầu hết đều là công ty công do nhà nước sở hữu (State-Owned Enterprises ~ SOE) hay là các công ty mà đa số cổ phần thì do Cộng hòa Nhân dân Trung quốc hay Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung cộng sở hữu, hoặc nếu không thì cũng hoàn toàn do đám cán bộ CS Tàu chỉ huy mà thôi. Nên khi đi đầu tư vào các công ty này thì quả thật là không có gì tốt cho đất nước của bạn hay túi tiền của bạn đâu.

Vậy tại sao chúng ta lại cần phải lưu tâm tới đám công ty này?

Charles Smith của báo WorldNetDaily (và nhiều người khác) cũng đã xác định được ra các công ty mặt nổi do giới chức quân đội Trung cộng lũng đoạn và cũng có tường trình trong chi tiết về tất cả những kỹ thuật quân sự thuộc lãnh vực máy điện toán, viễn thông cùng mọi loại khác mà chúng đã thu thập được tại Mỹ, bằng cả cách chính thức mua, hay là đã đi ăn cắp được.

  • Trong năm 1994, cặp tướng Tàu cộng là Ding Henggao và Huai Guomo đã đứng ra thành lập công ty Galaxy New Technologies như là mặt nổi, để có thể mua hệ thống dùng dây quang học mã hóa cho Quân đội Giải phóng Nhân dân.
  • Giám đốc điều hành Tandem Corp James Irebig đã tháp tùng Bộ trưởng Thương mại Ron Brown trong một phái đoàn thương mại đi Bắc Kinh vào tháng 8 năm 1994. Rồi thì tới năm 1996, công ty Tandem lại đã xuất cảng máy điện toán cho công ty Great Wall Corporation của Quân đội Giải phóng Nhân dân.
  • Năm 1995, Bộ trưởng Quốc phòng William Perry đã từng hứa cho tay tướng Ding Henggao một “máy siêu điện toán loại Cray để giúp cho bọn chuyên nghành về vũ khí Tàu cộng có thể thiết họa được … loại vũ khí hạch tâm một cách an toàn hơn”. Công ty Cray cũng đã từng tham dự một cuộc họp tại Bắc Kinh vào tháng 10 với các công ty máy điện toán khác, như là IBM, Sun, Apple, Digital, Silicon Graphics.
  • Năm 1995, Perry đã từng cung cấp cho tay bạn của y là tên Ding Henggao và đơn vị quân đội Trung cộng là Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Công nghiệp Quốc phòng (COSTIND) những thiết bị viễn thám Hughes.
  • Năm 1995, chính quyền Clinton cho phép bán lại xưởng sản xuất và huấn luyện Rockwell Collins Navigation Equipment Company cho một công ty Thượng Hải mà Quân đội Nhân dân Trung quốc làm chủ là Aviation Industries of China. Thiết bị được bán ra là loại GPS (hệ thống định vị toàn cầu), nhằm “nâng cao … các khả năng … để điều khiển rất chính xác các loại hỏa tiễn bám sát địa hình (cruise) và không bám sát địa hình (ballistic)”, theo báo cáo ngay chính của Bộ Thương mại Mỹ.
  • Vào tháng 3 năm 1996, chủ tịch công ty Loral là Jerald A. Lindfelt đã vận động để cho Bộ trưởng Thương mại Ron Brown can thiệp trực tiếp nhằm thông qua việc bán các dụng cụ kích cảm ‘sensors’ tầm xa – Synthetic Aperture Radar (SAR) cho Viện nghiên cứu Viễn thám Bắc Kinh, “chuyên về phát triển các hệ thống hướng dẫn chính xác của hệ thống hỏa tiễn địa đối không”. Mỹ đã từng sử dụng hệ thống ‘radar’ tiên tiến này để kiểm chứng trên chiến trường cũng như là Không Quân Mỹ đã từng dùng cho loại chiến đấu cơ F-15. 120 Nói chung thì loại GPS và SAR này đã “gây những quan ngại nghiêm trọng đối với Đệ Thất Hạm Đội Mỹ Seventh Fleet”, mà sẽ có thể phải đối phó trong bất kỳ cuộc đối đầu nào sẽ có về Đài Loan.
  • Năm 1997, một máy điện toán của công ty Sun đã được bán cho công ty Yuanwang Gromo, mà sau đó, đã được chuyển giao lại cho viện National Defense Technical Institute of China ở Changsha.

Tên Wan Kao và tên Stephen Kao

Vào tháng 5 năm 2001, Bộ Thương mại, Sở Quan Thuế và Bưu điện Mỹ (U.S. Customs Service and the Postal Service) cùng nhau thanh tra một công ty nhỏ ở Orlando, Florida, một loại thương nghiệp sở hữu về mặt nổi bởi Wan Kao và chồng là Stephen.

Trong thực tế, chúng nguyên là dân Tàu cộng tên Kao Ahwan và Kao Shuli, đang điều hành một chi nhánh của công ty Means Come Enterprises, Inc. trụ sở đặt tại Hồng Kông.  Công ty này chính lại là mặt nổi dung nhằm che dấu đám hãng xưởng Tàu cộng chuyên sản xuất các hỏa tiễn và vệ tinh quân sự.

Chính cái công ty không có gì là nhỏ chút này đã, từ năm 1997, mua gần cả 10.000 “mạch liên hợp ~ integrated circuits” của các công ty Atel Electronics và Harris Semiconductor, mà đã phân loại như là sản phẫm chỉ được phép sử dụng riêng tại Hoa Kỳ mà thôi.

Vào năm 1998, Công ty Means Come Enterprises, Inc. đã bất hợp pháp chuyển giao các ‘chip’ cho công ty Great Wall Industries, một công ty quốc phòng về không gian của chính phủ Tàu cộng; cho công ty China National Aero-Technology ( CATIC) và công ty China Aerospace Corp., chuyên về hỏa tiễn và vệ tinh.

Gary Milhollin thuộc Kế hoặch Wisconsin về Kiểm soát Vũ khí Hạch Tâm có cho biết là các ‘chip’ sẽ giúp Trung cộng cải thiện “khả năng nhắm đánh các thành phố của Mỹ với loại hỏa tiễn tầm xa”. Milhollin chủ trương là đám công ty Tàu cộng này cần phải bị ghi vào “danh sách để phải theo dõi”. 121

Mà Tàu cộng thì đã có bao giờ thèm cộng tác với Mỹ về đám “danh sách để phải theo dõi” này đâu.

Bên phía Hoa kỳ, mà vẫn cứ ráng để kiểm soát về phương diện an ninh quốc phòng mọi xuất cảng thuộc các mặt hang máy điện toán, các vệ tinh và các kỹ thuật khác, đã vẫn thường xuyên cứ bị từ chối không được tới hiện trường để kiểm tra ngay tại Trung hoa lục địa. Mà như vậy thì không thể nào kiểm chứng được là quả thật các kỹ năng tiên tiến đó có thực sự được dùng về mục đích dân sự thay vì là quân sự hay không.

Vì cứ bị giới kỹ nghệ máy điện toán vận động hành lang áp lực quá mạnh, vào tháng 8 năm 2000, chính phủ Clinton bèn nới lỏng các biện pháp kiểm soát về xuất cảng đối với các loại máy siêu điện toán áp dụng với Tàu cộng. Loại này đều có nhiều ứng dụng về quân sự, như là dùng để thiết họa hỏa tiễn và đầu đạn hạch tâm. Các thượng nghị sĩ Jesse Helms (Cộng Hòa – North Carolina) và Russell Feingold (Dân chủ – Wisconsin) đã từng cùng công bố, “Các quy định mới sẽ cho phép các máy điện toán có khả năng thực hiện đến cả 28.000 MTOPS (hàng triệu bài toán về lý thuyết cứ mỗi giây đồng hồ) sẽ được bán ra, mà chính phủ sẽ không kiểm soát trước đối với các định chế quân sự ở … Tàu, Ấn Độ, Hồi quốc và Nga”. Họ cũng tuyên bố thêm, “Các biện pháp kiểm soát mới đã không còn phân biệt giữa khách hàng quân hay dân sự, và do đó đã để cho các máy siêu điện toán của Mỹ được bán cho các tổ chức ngoại quốc đang nghiên cứu sản xuất chính ngay các loại vũ khí có khả năng hủy diệt tập thể”.

Vào đầu tháng 10 năm 2000, Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại Thượng viện là Helms đã cùng  Thượng nghị sĩ  Feingold đứng ra  công bố danh sách 50 công ty chuyên sản xuất vũ khí của Tàu cộng mà chính Clinton đã từng cho phép mua các máy siêu điện toán Mỹ.

Bill Gertz thì đã tường thuật trên tờ The Washington Times, “Mọi công ty Tàu cộng đều đang cùng nhau tham gia vào việc phát triển các loại vũ khí cổ điển tối tân, hay hạch tâm, hóa học, cùng sinh học với cả luôn các hỏa tiễn”.

Helms và Feingold cũng xác nhận là cái đám 50 công ty này đã “rất là nổi tiếng trong tập đoàn hạch tâm, hỏa tiễn và quân sự của Tàu cộng”. Chúng có khả năng cao để phổ biến các bộ phận dùng cho loại vũ khí hủy diệt tập thể của các quốc gia bất hảo (Iran, Iraq, Syria, Libya, Bắc hàn, v. v. . .). Chúng có khả năng chuyển giao kỹ thuật học dân sự qua cho giới nghiên cứu của quân đội Tàu cộng. Thật vậy, khoảng 100 công ty Trung cộng hiện đang sản xuất các phụ tùng dành cho hỏa tiễn, đó là không kể đến đám đang phụ trách sản xuất các sản phẫm về hạch tâm, hóa học và sinh học.

Gary Milhollin, Giám đốc Chương trình về kiểm soát vũ khí hạt nhân của tiểu bang Wisconsin, có cho biết, “Tôi nghĩ quả quá ư là nguy hiểm khi để cho kỹ thuật học tân kỳ với tiềm năng cao như vậy rơi vào tay quân đội Trung Quốc mà không được duyệt trước … Đó là [những công ty] tối ư nguy hiểm”. 122

Rốt cuộc thì Bộ Thương mại cũng đã phải điều tra và đã phải truy tố một số vụ xuất cảng về máy siêu điện toán sang Trung hoa lục địa.

Máy siêu điện toán có khả năng giải quyết về toán cực kỳ quy mô mà – bằng những thử nghiệm với thảo chương giả định – đã giúp cho việc thiết họa đầu đạn hạch tâm và hỏa tiễn chính xác có tầm xa được trở nên ít tốn kém hơn, nhanh hơn và ít bị phát giác hơn ra, nếu so với kỹ thuật thử nghiệm hiện nay về vũ khí. Ví dụ, mổi máy của IBM có khả năng hoàn tất được 275 triệu phép tính chỉ trong có mỗi giây đồng hồ (MTOPS) và nếu được sử dụng song song cặp đôi với nhau, thì sẽ hoàn tất được 3 tỷ 3 tỷ phép tính trong cho mỗi giây đồng hồ. Vào năm 1997 thì Milhollin cũng đã từng khuyến cáo Quốc hội là loại máy siêu điện toán sẽ “cho phép mọi quốc gia dùng chính ngay các máy điện toán của Mỹ, hầu chạy đua với nhau để sản xuất vũ khí hạch tâm” mà thôi.

Công ty Silicon Graphics, Inc.

Vào xuân năm 1996 thì công ty Silicon Graphics, Inc. có bán một máy siêu điện toán với khả năng hoàn tất được tới cả 6 tỷ phép tính trong chỉ mỗi giây đồng hồ cho Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc. Viện này phụ trách tổng quát về các chương trình nghiên cứu nguyên tử cùng hỏa tiễn, kể cả loại hỏa tiễn liên lục địa DF-5 có khả năng đánh tới các  thành phố của Mỹ bằng đầu đạn hạch tâm. Học viện cũng đã từng phát triển loại nhiên liệu tân tiến dùng cho hỏa tiễn, các hệ thống hướng dẫn thủy lôi, các hệ thống ‘sonar‘ dùng cho tàu ngầm hạch tâm, cách làm giàu ‘uranium’ bằng kỹ thuật ‘gaseous diffusion ~ phân tán khí hơi’. Xuyên qua hệ thống nối mạng, máy điện toán của Silicon Graphics sẽ được đặt dưới quyền sử dụng của bất kỳ tổ chức Tàu cộng nào mà đang phụ trách thiết họa các loại vũ khí hạch tâm hay hỏa tiễn tầm xa. Chúng sẽ có thể thiết họa được những loại đầu đạn hạch tâm nhẹ hơn nhiều, hầu trang bị cho loại hỏa tiễn tầm xa và luôn cho các loại hỏa tiễn chính xác hơn nhiều để nhắm vào các thành phố tại nội địa Hoa Kỳ.

Vào ngày 13 Tháng 11 năm 1997, khi ra điều trần trước Ủy ban An ninh quốc gia của Hạ viện, Gary Milhollin đã từng đặt câu hỏi: “Đang bị điều tra, hay đang được chôn dấu che ngay dưới thảm lót nhà? Thương vụ của công ty Silicon Graphics cho Trung Quốc … rỏ ràng là chỉ để giúp cho tiến trình phát triển về hạch tâm, hỏa tiễn và quân sự mà thôi  … Silicon Graphics đã phải bảo đãm trước là rồi liệu người khách mua có phải thuộc giới phi quân sự và phi hạt nhân hay không?

“Không có gì để biện minh được là tại sao các chi tiết của những vụ này lại không nên được người dân công khai biết đến. Nhưng mà chỉ có Quốc Hội và người dân Mỹ thì mới vẫn mù tịt về việc này. Do đặc tính quá ư là nghiêm trọng của các hành vi phạm pháp này, và cũng vì tính cách quá ư là trắng trợn mà chúng đã từng xảy ra, Ủy ban này nên ra lệnh cho Bộ Thương mại là phải trả lời … Đã có bao nhiêu máy điện toán từng được chuyển giao cho Tàu cộng và tốc độ giải toán của chúng đã là bao nhiêu? … Rỏ ràng hoặc là công ty Silicon Graphics từng đã biết rỏ khách hành của mình có phải chăng là các trung tâm hạch tâm, hay hỏa tiễn cũng như là quân sự hay không, còn nếu không thì họ cũng chả cần tìm biết mà thôi. Dù là sao, thì đúng là công ty Silicon Graphics cũng đã từng vi luật mà thôi.

“Vậy tại sao lại có sự đình hoãn này? Tại sao lại không có gì như đã phải từng xảy ra? Liệu giới Hành pháp có muốn thực thi luật pháp hay không? … Cách nói “đang điều tra” rỏ ràng nay có nghĩa chỉ là quét mọi rác rến để rồi xua dấu che phía “dưới thảm lót nền nhà” mà thôi. Đã hoàn toàn không có một bút tích nào để cho thấy là công ty Silicon Graphics có quả đã từng bị điều tra hay không. Tại sao, thì quả cũng không thể nào biết được thôi, nhưng điều thật rât lộ liễu thì là chính tay Giám đốc của SGI đã là tên Edward McCracken, một tay đóng góp tiền bạc vào hàng rất quan trọng của đảng Dân chủ vào năm 1992 và năm 1996. Rồi thì, trong những lần mà đã có thực sự điều tra, thì các hình phạt thường đã quá ư là không nhằm nhò gì, nếu so với các doanh thu qua các thương vụ và qua những mối hiểm nguy gây ra đối với nền an ninh quốc gia của Hoa Kỳ.

Dưới đây thì chỉ là vài ví dụ khác mà thôi.

Công ty New World Transtechnology — máy điện toán dành cho hãng xưởng nguyên tử

Sau khi được văn phòng San Jose của Bộ Thương mại báo động, địa danh nơi công ty Sun Microsystems đăng bộ, thì văn phòng sở tại Dallas bèn tiến hành điều tra công ty New World Transtechnology (NWT) tại Galveston, Texas. Kết quả của cuộc điều tra là Bộ Thương mại đã quyết định truy tố về hình sự tại Tòa án Quận Hoa Kỳ vùng phía Nam của Texas (U.S. District Court for the Southern District of Texas). Công tố viện đã buộc tội là trong tháng 8 năm 1992 thì công ty New World Transtechnology NWT đã có xuất cảng 3 máy điện toán của Sun Microsystems qua cho một xưởng chuyên sản xuất về thiết bị hạch tâm tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và cũng đã cố gắng để chuyển giao thêm một máy siêu điện toán khác. Các nhân viên chìm đặc vụ ‘Special Agents’ sau đó cũng từng chận lại để tịch thu đuợc một máy điện toán khác, trước khi máy bị xuất cảng sang ho Tàu cộng, xuyên qua ngõ Hồng Kông.

Tới ngày 20 tháng chạp năm 1996 thì công ty này đã chịu nhận 2 tội là từng đã vi phạm luật xuất cảng cùng với một tội danh về hành vi khai man. Tòa bèn tuyên phạt 10.000 Mỹ kim cùng một án phí đặc biệt là 600 Mỹ kim đối với công ty này. Bộ Thương mại thì trừng phạt bằng quyết định thu hồi trong vòng 10 năm các đặc quyền xuất khẩu từng được dành cho công ty New World Transtechnology này.  123

Nhân khi ra điều trần trước Quốc hội vào năm 1997, vị Chủ tịch của Chương trình Kiểm soát Vũ khí Hạch tâm của Wisconsin là Gary Milhollin cũng có từng tuyên bố, “đã có quá là nhiều vi phạm nghiêm trọng dường như chỉ đưa đến một món tiền phạt vạ ít ỏi, mà mọi công ty khi xuất cảng sản phẫm thì cũng đơn giản ấn định trước như chỉ là một chi phí về kinh doanh bắt buộc phải trả” mà thôi. Ông ta đã đích danh nêu ra tên của công ty New World Transtechnology, cũng như là nhiều công ty khác nữa.

Công ty Sun Microsystems / Gold Valley Technology / U-Freight — Các Máy điện toán của chúng

Vào đầu năm 1996, sau khi chính quyền Clinton cắt bỏ bớt các thủ tục và biện pháp nhằm kiểm soát về thương vụ xuất cảng các máy siêu điện toán, Ủy ban An ninh Quốc gia Hạ viện đã đòi hỏi phải được phúc trình về việc những máy siêu điện toán từng xuất cảng thì sau đó, đã được sử dụng cho những mục đích gì. Khi cứ bị Quốc hội thúc hối thì Bộ Thương mại mới thăm hỏi công ty Sun Microsystems về những mặt hàng công ty đã từng xuất cảng. Công ty Sun bèn phải thú nhận là đã từng chuyển lậu và giao trái phép một máy điện toán cho Tàu cộng và nay thì Bộ Thương mại mới quyết định phải điều tra việc này.

Bộ đã phát hiện được là chính hai công ty Sun Microsystems California, Ltd. và Gold Valley California, Ltd., cả hai đều đăng bộ là công ty Hồng Kông, đã đứng ra để sắp xếp chuyển lô hàng máy siêu điện toán bất hợp pháp đó về cho Tàu cộng. Hơn nữa, để góp tay giúp cho việc xuất cảng này thì công ty Sun Microsystems cũng đã khai gian trên các giấy tờ trong thủ tục xuất cảng đệ nạp trong tháng 10 năm 1993. Vào tháng 9 năm 1993, công ty U-Freight, Inc., chuyên về dịch vụ làm giấy tờ hải vận ở Nam San Francisco, California, cũng đã nộp những giấy tờ gian dối để giúp xuất cảng lô hàng máy điện toán bất hợp pháp đó cho Tàu cộng.

Ngày 13 tháng 11 năm 1997, Gary Milhollin, Giám đốc của Chương trình Kiểm soát Vũ khí Hạch tâm của tiểu bang Wisconsin đã ra khai trình trước Ủy ban An ninh quốc gia của Hạ viện. Ông cho biết là các máy siêu điện toán của công ty Sun, sau khi được giao cho một cơ sở dân sự, thì bèn được “đưa về Đại học Quốc gia về Kỹ thuật học Quốc phòng của Trung Quốc ở Changsha. … [Được] quản trị bởi Quân đội Giải phóng Nhân dân, [Đại học này] chuyên nghiên cứu … về thiết họa hỏa tiễn, về vật lý học các loại chất nổ, về phát triển loại máy siêu điện toán và về khả năng tự động phát giác mục tiêu. Các khoa học gia tại Changsha đang dự trù sẽ thành công phát triển được thế hệ kế tiếp của vũ khí Tàu cộng bằng ngay các thiết bị của chính nước Mỹ”.

Mãi 6 năm sau khi hành vi phạm pháp này mà đã từng xẩy ra vào tháng 9 năm 1993, thì vào ngày 21 tháng 6 năm 1999, Bộ Thương mại mới quyết định phạt vạ số tiền 30.000 Mỹ kim đối với công ty Sun Microsystems của California vì đã chuyển giao các máy điện toán cho Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Ngày 21 tháng chạp năm 1997, Bộ cũng phạt vạ số tiền 20.000 Mỹ kim đối với công ty Gold Valley Technology Company, cũng cùng về vi phạm đó. Và vào ngày 20 tháng 3 năm 2000, Bộ Thương mại cũng đã phạt vạ 20.000 Mỹ kim công ty U-Freight, mà 10.000 Mỹ kim thì chỉ là phạt treo với một điều kiện đơn giản là hứa sẽ không tái vi phạm luật lần nữa mà thôi. 124

Công ty Compaq Computer Corporation — mọi loại máy điện toán

Ngày 18 tháng 4 năm 1997, Bộ Thương mại đã phạt vạ số tiền 55.000 Mỹ kim đối với công ty Compaq Computer Corporation, Houston, Texas, vì đã 3 lần xuất cảng phụ tùng về máy điện toán cho Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và hai nước khác. Các loại phụ tùng này đều nằm trong danh sách bị hạn chế và kiểm soát vì lý do an ninh quốc gia. 125 Số tiền phạt vạ quá ít này đã là nhờ ở thái độ hợp tác của công ty Compaq sau khi nội vụ đã xẩy ra, đó là chưa kể đến thái độ lơ là của ngay chính quyền Clinton trong việc thi hành luật pháp đối với một đối tượng mà đã từng tài trợ rộng lớn cho chiến dịch dành phiếu của họ là bọn Tàu cộng.

Công ty Gateway 2000 — mọi loại máy điện toán

Công ty Gateway 2000 ở North Sioux City, South Dakota, đã từng xuất cảng máy điện toán đến cho cả 16 quốc gia – kể cả Tàu cộng, Iran và Syria – qua 30 thương vụ riêng rẽ. Hơn nữa, theo Bộ Thương mại, công ty Gateway cũng đã từng điền nộp giấy tờ gian dối để che dấu các thương vụ bất hợp pháp của họ. Ngày 6 tháng 4 năm 1998, Bộ đã phạt vạ số tiền 402.000 Mỹ kim vì hành vi phạm pháp kéo dài và liên tục của họ. Nếu so sánh với mực độ hiểm nguy đối với sự sống còn của quốc gia thì quả món tiền phạt vạ này chỉ như là tiền thí cô hồn mà thôi. 126

Vào cuối tháng 11 năm 2000, đang giữa chừng cơn sốt của mùa bầu cử, thì chính quyền Clinton – Gore liền kết thúc các cuộc đàm phán từ 7 năm qua với Tàu cộng bằng một thỏa thuận thật là đột ngột.

Họ đã lại chịu chấp nhận thêm một lời hứa nữa từ phía Tàu cộng là chúng sẽ ngưng bán các bộ phận về hỏa tiễn nếu chưa được kiểm soát trước tại hiện trường. Ngay cả đối với cái lời hứa này, mà rất ư là thường xuyên không hề bao giờ được giữ lời, thì Hoa Kỳ cũng đã không bao giờ có biện pháp chế tài nào cả đối với cả nửa tá công ty Tàu cộng mà đã từng bị bắt quả tang đang cung cấp bừa bãi khắp nơi những bộ phận về hỏa tiễn. Mỹ cũng quyết định không còn hạn chế những vụ phóng vệ tinh của Mỹ ở ngay tại Trung Hoa lục địa mà đã từng có hiệu lực kể từ năm 1997. Thương ước này có vẻ cho thấy được là các công ty Loral, Hughes cùng Tàu cộng hiện vẫn đang cứ tiếp tục hưởng lợi nhờ các đóng góp tài chánh của họ cho chiến dịch vận động dành phiếu của Clinton.

Một vài bản tin hiếm hoi cũng có tiết lộ ra là việc cộng tác về vệ tinh trước đây của hai công ty Loral và Hughes vối Tàu cộng đã giúp tăng gia đặc tính chính xác của các hỏa tiễn liên lục địa của chúng. Cũng trong cùng thời gian đó thì bộ sậu Clinton – Gore vẫn đã chấp thuận để vẫn áp đặt những biện pháp chế tài đối với Pakistan và Iran (nhưng không với Bắc Hàn). Họ đã không hề chế tài bọn Tàu cộng, là phía đối tác trong các thương vụ mua bán những bộ phận của các loại vũ khí có khả năng hủy diệt tập thể với các nước đó.

Phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao là Richard Boucher thì cho biết thỏa thuận này sẽ “tăng cường hợp tác” với Trung Quốc và “ngăn chặn sự bành trướng của các hỏa tiễn đạn đạo”.

Michael Ledeen của American Enterprise Institute (Viện Doanh nghiệp Mỹ) thì lại có ý kiến là “lại thêm một ân huệ cho Tàu”. Thượng nghị sĩ Fred Thompson (Cộng Hòa – Tennessee) thì tuyên bố là việc này nhằm “ban thưởng cho những lời hứa suông của Trung Quốc thay vì cho việc họ thực sự có giữ lời hứa hay không”. Việc này chỉ nhằm hạ thấp “hạng ngạch” hơn là để “chế tài trừng phạt Trung Quốc về những vi phạm có tính cách liên tục đó”.

Các chính sách của bộ sậu Clinton – Gore

Các cơ hội thuận tiện nhằm khuyến khích các hoạt động gián điệp của Tàu cộng ở Mỹ bởi các công ty Tàu mặt nổi thì gần như là muôn trùng. Tuy nhiên, các thái độ lỏng lẻo, cẩu thả và như bị hôn mê của chính quyền Clinton – Gore thì gần như là một hành vi bê bối đáng để bị truy tố về hình sự hay là vì đồng lõa về hình với các công ty Loral, Hughes và trong nhiều vụ khác nữa.

Interagency Commission on Crime and Security in U.S. Seaports (Ủy ban Liên ngành về Hình tội và An ninh tại các Hải cảng Mỹ) thì chỉ mới gần như là gãi ngứa sơ sơ bên ngoài nội vụ mà thôi. Ủy ban chỉ đang bận lo đối phó với tình trạng trộm cắp và buôn lậu ma túy mà không hề để ý gì cả đến vấn đề an ninh quốc gia. Đề tài các vụ xuất cảng có tiềm năng nguy hại đến quốc phòng thì chỉ bị xem như là phụ thôi. Bản phúc trình đúc kết của Ủy ban chỉ nhắc tới Tàu cộng có 3 lần mà thôi, trong suốt toàn bộ cả 259 trang giấy.

Sau các phiên phúc trình mật Cox, Đạo luật 1999 Defense Authorization Act (Thẫm quyền Quốc phòng 1999) đã ra lệnh cho Bộ Quốc phòng phải xác định cho được các công ty mặt nổi Tàu, bằng cách thiết lập danh sách các công ty do Tàu cộng kiểm soát mà đang làm ăn tại Hoa Kỳ cho xong trước ngày 15 tháng giêng năm 1999. Đến tháng 3 năm 2000 thì vẫn chưa hề có được danh sách này mà FBI thì cũng đã không giúp được gì cả. Tới ngày 24 tháng 9 năm 1999 thì Dân biểu Chris Cox đã tuyên bố, “Mọi người đều biết rỏ là từ lâu nay, chính quyền Clinton – Gore đã cố tình và tự nguyện không chịu tuân theo luật pháp”. [WorldNetDaily]

Rõ ràng, cái đám thương nhân Tàu cộng vẫn cứ đang gây hiểm nguy cho nền an ninh quốc gia bằng cách khai thác triệt để cái ảo tưởng lợi lộc. Cho tới nay thì Quốc hội vẫn cứ còn đang còn phải chờ đợi cái danh sách của đám công ty mặt nổi Tàu cộng này mà thôi.

Lịch sử chính là bằng chứng cần thiết

Viễn-cảnh về Lịch sử – Chính sách mở rộng các mối quan hệ cùng cải thiện các thương ước  với Liên Xô vào năm 1933 cũng đã từng hỗ trợ rất nhiều cho hoạt động gián điệp của bọn Liên Xô. Nó giúp cho bọn gián điệp Liên Xô khoát lên được bộ áo hợp pháp hầu xâm nhập vào các công ty Mỹ như nào là Northrop, General Electric, Douglas và Marietta. Mực độ tăng gia về thương mại trong thực tế thì lại rất là nhỏ nhoi, ngoại trừ sự kiện thực tế là Liên Xô đã đạt được kỹ thuật học về quân sự rất hữu ích cho chúng.  127  Một số lớn tài liệu viết mới liên hệ đến KGB và GRU của Liên Xô đã có tiết lộ ra các hồ sơ của Đảng Cộng Sản Hoa Kỳ, các liên lạc viết được giải mã của Venona cùng các ghi chú trong những hồ sơ của ngay cơ quan KGB. Tất cả đều đã cho thấy là Liên Xô đã sử dụng các công ty kinh doanh nhỏ để rửa tiền cho Liên Xô và cũng để tài trợ cho đám điệp viên bí mật, cũng như ngay cho Đảng Cộng sản Hoa Kỳ. Chúng đều đã được thành lập để cung cấp công ăn việc làm và để giúp cho bọn gián điệp của chúng núp bóng hợp pháp, hầu len lỏi xâm nhập mà đánh cắp các tài liệu về khoa học và kỹ thuật. 128

Bọn Tàu thì lại càng tinh vi hơn nhiều, mà lại còn gây được thiện cảm hơn đám Nga sô gấp cả mười lần.

CÁC CÔNG TY MẶT NỔI TÀU VÀ BỌN CỘNG TÁC VIÊN NGƯỜI MỸ CỦA CHÚNG

Collin Xu, Yi Yao, Lion Photonics — các hệ thống hướng dẫn hỏa tiễn ‘gyroscope’

Với sư cộng tác của Cảnh sát Hoàng gia Gia-nã-đại, các nhân viên quan thuế chuyên nghiệp ở Boston đã bắt giữ trong tháng 2 năm 1997 hai công dân Trung Quốc, tên là Collin Xu và Yi Yao, nhân khi chúng đang quả tang cố gắng xuất cảng các hệ thống hướng dẫn ‘gyroscope’ tinh vi về cho Tàu cộng. Loại ‘gyroscope’ bằng quang cáp ‘fiberoptic’ này đều là thiết tử trong việc hướng dẫn và điều chỉnh các hỏa tiễn đạn đạo và các loại bom “thông minh”. Chúng cũng được sử dụng để an định các nền đặt vũ khí. Trước đó thì Quan thuế Hoa Kỳ cũng từng đã thành công trong việc truy tố và kết án một người thứ ba mà cũng đã đang cố gắng để xuất cảng những bộ phận hướng dẫn phi cơ  tương tự, cũng về cho Tàu cộng.

Collin Xu, Yi Yao cùng hai công ty mặt nổi Tàu – Lion Photonics, Canada, Inc. với Lion Photonics, Inc. – đều cùng bị truy tố vào ngày 9 tháng 3 năm 1999 về tội bất hợp pháp mưu toan để mua các hệ thống ‘fiberoptic gyroscope’ Mỹ của một công ty Hoa kỳ hầu xuất cảng về cho Tàu cộng qua ngõ Canada. Một cuộc điều tra đã cho thấy là Xu và Yao từng man khai các ‘gyroscope’ chỉ là những ‘fiber sensor’ (loại phát nhạy bằng dây) dùng cho việc liên lạc bằng quang học và cũng đã khai trình Canada như là nơi đến, thay vì là Trung Hoa lục địa. Yao và Xu đã bị bắt và hiện bị giam để chờ ngày ra tòa.

Tới ngày 14 tháng chạp năm 1999, một đại bồi thẩm đoàn liên bang tại Tòa án Quận Hoa Kỳ Massachusetts ở Boston đã quyết định truy tố Collin Xu, còn được gọi là Collin Shu cùng Zhihong Xu, Yi Yao, còn được gọi là Yao Yi, với hai công ty mặt nổi Tàu  – Lion Photonics, Canada, Inc., Montreal, Canada và Lion Photonics, Inc., Bắc Kinh, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa (PRC) – về tội danh cố ý và cố tình man khai về chuyến hàng ‘fiberoptic gyroscope’ của họ, dự định sẽ được xuất cảng về cho Trung cộng.

Cả hai đều nhận tội. Xu bị kết án 2 năm rưỡi tù giam. Yi thì đã bị tuyên án tối đa là 10 năm tù và 1 triệu Mỹ kim phạt vạ. 129

David Chan / Well Complex International và Teledyne Wah Chang — các tàu ngầm nguyên tử, Hafnium

David Chan, chủ nhân của Well Complex International of Passaic, New Jersey, thì cũng đã nhận tội vào ngày 17 tháng 3 năm 1998, tại Tòa án Quận ở Newark, New Jersey trước các tội danh là từng đã man khai để có thể xuất cảng bất hợp pháp loại hột ‘hafnium granules’ về cho Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Chất ‘hafnium’ nguyên được dùng cho các cây kiểm soát phản ứng lò nguyên tử (reactor control rods), đặc biệt là trên các tàu ngầm nguyên tử.

Wah Chang là một công ty tên Allegheny Technologies mà từ năm 1956 nguyên đã là công ty sản xuất hàng đầu về hóa chất ‘hafnium’ có phẫm chất cao cho Hải quân Hoa Kỳ và các công ty thương mại khác sử dụng. Viên kỹ sư hầm mỏ K.C. Li đã thành lập công ty này ở Trung hoa lục địa vào năm 1916.

Trong nhiều vụ khác nhau, công ty Teledyne Wah Chang đã từng bị từ chối đặc quyền xuất cảng trong vòng cả 3 năm và bị phạt vạ 2 triệu Mỹ kim vì đã phạm tội xuất cảng trái phép chất ‘zirconium’, cũng như vì đã man khai về các đơn xin giấy phép xuất cảng cùng văn bản tài liệu về hải vận. Nhưng rồi chỉ ngoài cái thời hạn có 3 tháng thôi thì bản án cũng đã bị đình chỉ.

Công ty của David Chan, Well Complex thì đã bị phạt 5 năm tù treo, cộng tiền phạt vạ 7.500 Mỹ kim về hình với 200 Mỹ kim lệ phí về thủ tục để phân định đặc biệt (special assessment). David Chan đã bị kết án 3 năm tù treo, bị phạt về hình sự 500 Mỹ kim và 100 Mỹ kim cũng về thủ tục để phân định đặc biệt. 130

Công ty Teledyne Industries thì đã nhận tội tại Washington, DC vào ngày 27 tháng giêng năm 1995. Công ty đã bị phạt 5.498.125 Mỹ kim về hình tội vì đã xuất cảng chất ‘zirconium’ đến “một địa điểm khác” xuyên qua ngõ Hy Lạp. Bộ Ngoại giao cũng đã phạt vạ số tiền là 1 triệu rưỡi Mỹ kim. 131

Công ty Yuchai America — các loại máy về kỹ nghệ

Một cuộc điều tra của Văn phòng Sở tại ở Nữu Ước của Bộ Thương mại đã có phát hiện ra là trong tháng 5 năm 1994, công ty Yuchai America ở Cleveland, Ohio, một chi nhánh của một công ty mặt nổi Tàu cộng, đã từng cố gắng để xuất cảng 2 máy tiện với khả năng 5 chiều, về cho Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc. Công ty đã gian dối bằng cách khai man trong các hồ sơ đã nạp khi xin xuất cảng mặt hàng này. Các máy kỹ nghệ này thì từng đã được dùng để sản xuất các bộ phận cho những oanh tạc cơ B-1 cũng như là cho các loại hỏa tiễn nguyên tử MX. 132

Mặc dù các máy này đã được xem như loại mặt hàng củ đã từng được sử dụng trước nay rồi, nhưng thực sự, chúng có những đặc tính về kỹ thuật vượt xa các quy định nhằm hạn chế về loại kỹ thuật mà có thể xuất cảng sang cho Tàu cộng. John Despres, Phó Bộ trưởng Thương mại cũng đã từng có tuyên bố, “Một số máy kỹ nghệ có khả năng kỹ thuật cao – bất kể củ hay mới – vẫn phải bị kiểm soát khi được xuất cảng, vì lý do an ninh quốc phòng, bởi vì chúng có thể sẽ được sử dụng để sản xuất ra các phụ tùng cho những hệ thống vũ trang”.

Vào ngày 2 tháng 10 năm 1996 thì công ty Yuchai America đã chịu trả tiền phạt vạ là 200.000 Mỹ kim vì đã can tội xuất cảng một cách bất hợp pháp nhiều mặt hàng, cũng  như là vì đã từng khai man về giấy tờ đệ nạp khi xin xuất cảng chúng.  133

Công ty Allvac — Bành trướng về nguyên tử

Một cuộc điều tra của Bộ Thương mại đã cho thấy là công ty Allvac, tại Monroe, North Carolina, đã từng xuất cảng cho tới cả 48 lô hàng hợp kim ‘titanium’ từ Hoa Kỳ đến Trung Quốc và mười quốc gia khác. Mặt hàng hợp kim ‘titanium’ và thép ‘maraging’ đều thuộc loại hàng phải bị kiểm soát, hầu ngăn chặn sự bành trướng của kỹ thuật học về vũ khí hạch tâm.

Khi bị bắt quả tang thì công ty Allvac đã tự nguyện khai trình các hàng mình đã từng xuât cảng. Ngày 22 tháng giêng năm 1997, Bộ Thương mại Mỹ bèn tuyên phạt vạ sồ tiền 122.500 Mỹ kim, để chỉ đánh đổi với lời hứa của công ty Allvac là họ sẽ không còn vi phạm nữa mà thôi.

Công ty Advanced Vacuum Systems, Inc. (AVS) — Bành trướng về nguyên tử

Vào ngày 18 tháng 4 năm 1997, Bộ Thương mại đã tuyên phạt 5.000 Mỹ kim đối với công ty Advanced  Vacuum Systems, Inc. (AVS), của hãng Ayer, Massachusetts, về những vi phạm xuất cảng sang cho Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (PRC). Bộ Thương mại đã điều tra công ty AVS và phát hiện là họ đã từng xuất cảng một lò luyện kim loại ‘sintering ~ với nhiệt độ thấp hơn là nhiệt độ làm lỏng kim loại’, rất hữu dụng với áp suất thấp, cùng các phụ tùng thay thế với trị giá trên 600.000 Mỹ kim cho Tàu cộng. Việc xuất cảng loại lò luyện kim này thì vẫn bị kiểm soát và hạn chế trên toàn thế giới vì lý do để tránh phổ biến nguyên tử. Nhờ công ty đã chịu cộng tác nên Bộ cũng đã cho phạt treo số 2.000 của tổng số 5.000 Mỹ kim phạt vạ đó. 134

Khi ra điều trần trước Quốc hội vào năm 1997, Gary Milhollin, Giám đốc của Chương trình Kiểm soát Vũ khí Nguyên tử Tiểu bang Wisconsin, đã có nói, “các vi phạm nghiêm trọng dường như cũng chỉ đưa đến phạt vạ bằng một số tiền nhỏ nhoi, mà mọi công ty xuất cảng đều có thể xem như chỉ là một chi phí về kinh doanh mà thôi”. Ông ta đã có nêu đích danh ra các công ty Allvac, Yuchai và Advanced Vacuum như là những ví dụ về bị phạt vạ tiền không đáng gì cả.

Công ty Republic- Lagun Machine Tool Company — nguyên tử

Ngày 15 Tháng 3 năm 1998, Bộ Thương mại đã phạt vạ 20.000 Mỹ kim công ty Republic – Lagun  Machine Tool Company ở Carson, California. Công ty này đã xuất cảng trái phép một máy tiện loại đứng, có trang bị với hệ thống điện toán kiểm soát bằng số (Computer Numeric Controller CNC) từ Hoa Kỳ qua cho Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Việc xuất cảng loại máy tiện có trang bị hệ thống CNC thì, vì lý do an ninh quốc gia và để tránh không phổ biến nguyên tử, vẫn bị kiểm soát và hạn chế rất kỷ càng từ lâu nay. 135

Công ty Lafayette Instrument Company, Inc. — máy dò nói dối

Vào ngày 8 tháng chạp năm 1999, Bộ Thương mại đã phạt vạ 1.,000 Mỹ kim công ty Lafayette Instrument Company, Inc., về tội đã bất hợp pháp tự động chuyển giấy phép  hợp pháp để xuất cảng các máy dò nói dối cho Hồng Kông qua cho Cộng hòa Nhân dân Trung quốc.  136

Công ty Dexin International, Inc. – các hệ thống quay hình bằng nhiệt kế

Công ty Dexin International, Inc., West Covina, California vào năm 1994 và năm 1995, đã từng xuất cảng các hệ thống quay hình bằng nhiệt kế (thermal video systems) cho Tàu cộng, mà lại còn nạp giấy tờ giả mạo để ngụy trang các lô hàng bị cấm đó nữa.

Ngày 18 tháng 8 năm 2000, Bộ Thương mại áp đã phạt vạ 50.000 Mỹ kim (mà 35.000 thì lại được treo). 137

*****

63.  Business Journal, Portland, Oregon, 3 tháng 11 năm 1997

64.  Insight

 65. WorldNetDaily, Insight and New York Times, 13 tháng 3 và 9 tháng 5 năm 1997

 66. Báo cáo Cox

 67. The New York Times, 1 tháng 11 năm 1997

 68. Army News Service, 20 tháng 11 năm 1999

 69. Marc Sandalow, San Francisco Chronicle, 23 tháng 3 năm 1997

70. San Francisco Chronicle, 13 tháng 3 năm 1997

71.  Wall Street Journal, 26 tháng 3 năm 1997

72. Portland, Oregon, Business Journal, 16 tháng 2 năm 1998, 24 tháng giêng năm 2000 và 13 tháng 3 năm 2000

73. Các lịch trình của COSCO từ tháng chín 1999 tới tháng hai 2000

74. Portland, Oregon, Business Journal, 12 tháng 6 năm 2000

75. Seattle Post-Intelligencer, 19 tháng 4, 26 tháng 5, 16 và 20 tháng 11 và 8 tháng chạp năm 1999

76. Post-Intelligencer, 12 tháng 8 năm 1999 và Báo cáo (của một báo Gia-nã-đại)

 6 tháng 11 năm 2000

77. The Province, Vancouver, 8 và 29 tháng 5 năm 2000

78. Houston Press, 2 tháng 7 năm 1998

79. Houston Press, 2 tháng 7 năm 1998, 30 tháng 9 năm 1999

80. New Orleans City Business, 10 tháng 7 năm 2000

81. 82. New Orleans City Business, 31 tháng 7 năm 2000

83. Miami Herald, 18 và 19 tháng 2, 12 tháng 3 và 10 tháng 8 năm 2000

84. Atlanta Business Chronicle, 7 tháng 8 năm 2000; The Post and Courier, 6 tháng 4 và 16 tháng 7 năm 2000

85. The Post and Courier

86. The Post and Courier, 13 và 22 tháng10 năm 1999, 3 tháng 8 năm 2000; Atlanta

Business Chronicle, 7 tháng 8 năm 2000

87. Charleston Post and Courier, 22 tháng10 năm 1999; The Post and Courier,

29  tháng11 và 26 tháng chạp năm 1999, 14 tháng giêng và 16 tháng 7 năm 2000

88Charleston Post and Courier, 21 tháng 9 và 22 tháng10 năm 1999

89. Atlanta Business Chronicle, 7 tháng 8 năm 2000

90. 91. Hampton Roads Ticket, 3 tháng 8 năm 2000

92. Hampton Roads Ticket, 3 tháng 4 năm 2000

93. The Virginia-Pilot, 1997, 20 tháng 7 năm 2000

94. Trang trên Liên Mạng của U.S. Navy

95. New York Post, 14 tháng 4 năm 1999

96. New York Times, 26 tháng 9 năm 1998

97. New York Times, 16 tháng 11 năm 1999

98. New York Times, 25 tháng 5 năm 2000

99. AP, 26 tháng 4 năm 2001, 29 tháng 5 năm 2001; Boston Herald, 3 tháng 6 năm 2001

100. Báo Port of Halifax Magazine, Số Tháng 9/10 năm 2000

101Nhật ký chính thức của Hải quân Hoa Kỳ thời Thế Chiến Thứ 2

102. Báo Port of Halifax Magazine, Số Tháng 3/4 năm 2000

103. Tạp chí Military magazine, năm 2000

104. Jasper Becker, The Chinese 2001

105. San Jose Mercury News, 13 tháng 7 năm 2001

106. Institute of International Education

107. Jasper Becker, The Chinese 2001

108. Jasper Becker

109. Beth McMurtrie, Chronicle of Higher Education, 27 tháng 6 năm 2001

110. Public Policy Institute of California, Research Brief #21, Tháng Sáu 1999

111. Bàn 40, Chấp nhận Tiêu chuẩn Không Phải là Di Cư … 1998

112. 113. Bàn 40, Chấp nhận Tiêu chuẩn Không Phải là Di Cư … Bộ Ngoại Giao, 1998

114. R. Roger Majak, Bộ Thương Mại Hoa Kỳ, 10 tháng 7 năm 2000

115. Beth McMurtrie, Chronicle of Higher Education, 27 tháng 6 năm 2001

116. October Sky

117. Trang trên Liên Mạng của FBI

118. Trang trên Liên Mạng của Bureau of Industry and Security Export Enforcement, Bộ Thương Mại

119. American Spectator

120. Smith, WorldNetDaily, 18 tháng 5 năm 1999

121. Orlando Sentinel, 5 tháng 5 năm 2001; Gertz, Washington Times, 28 tháng 5 năm 2001; Far Eastern Economic Review, 7 tháng 7 năm 2001

122. Bill Gertz, The Washington Times, 19 tháng 10 năm 2000

*.     ‘Swept under the rug’ dịch ra là ‘quét dấu dưới thảm’, một cách nói che dấu các dơ dáy cần phải sữa sai (phụ chú của người chuyển ngữ)

123. Trang trên Liên Mạng của Bureau of Industry and Security Export Enforcement, Department of Commerce (Văn phòng Phụ trách về Xuất cảng và An ninh, Bộ Thương Mãi)

124. 125. 126.  Như trên

127. Alan Weinstein và Alex Vassiliev, Haunted Wood

128. Các bài của Harvey Klehr, Vasili Mitrokhin, Alan Weinstein, Ronald Radosh

129. Trang trên Liên Mạng của Bureau of Industry and Security Export Enforcement, Department of Commerce; Photonics Business News, Số Tháng Ba 2001

130. 131. Trang trên Liên Mạng của Bureau of Industry and Security Export Enforcement, Department of Commerce

132. Milholloin, Los Angeles Times, 23 tháng giêng năm 2000

133. 134. Trang trên Liên Mạng của Bureau of Industry and Security Export Enforcement, Department of Commerce

135. 136. 137. Như trên

 

*****

3 phản hồi to “Gián Điệp Tàu Cộng Trên Đất Mỹ #2”

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: