Roger Canfiels’s Americong #185

image002

Comrades in Arms

How the Americong Won the War in Vietnam

Against the Common Enemy— America

Copyright Roger Canfield, Ph.D.

1986-2012

No commercial transaction allowed except that approved by the author, copyright holder.

Obtain a prepublication release of a CD-R in Microsoft Word in ENGLISH at a discounted price of $15 from Roger Canfield Rogercan@pacbell.net at 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 or at http://americong.com.

Completely SEARCHABLE for any name, date, place or event of the War and its protesters.   

Cover: Design Stephen Sherman. Photos: Roger Canfield, March 2008. TOP: War protest Hawaii, February 1966 displayed at War Remnants (Crimes) Museum, Saigon. Bottom: Praetorian Guard

Các đồng chí cùng chiến tuyến

Làm thế nào MỹCộng thắng cuộcchiến Việt Nam

Chống kẻ Thù Chung – Mỹ

Giữ bản quyền Roger Canfield, Tiến Sĩ

1986-2012

Không được sử dụng vào mục đích thương mại nếu không có sự đồng ý của Tác giả, người giữ bản quyền.

Có thể mua một tiền bản dưới dạng CD-R Microsoft Word bằng Anh ngữ với giá đặc biệt US$15 ngay từ tác giả Roger Canfield  Rogercan@pacbell.net tại 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 hay tại  http://americong.com.

Hoàn toàn có thể TRA CỨU hoặc bằng tên, bằng ngày tháng hay biến cố liên quan đến cuộc Chiến cùng cả luôn bọn tham dự biểu tình .

*****

* Tác giả giữ bản quyền © Roger Canfield 1986-2012

  • Lê Bá Hùng chuyển ngữ  (với sự chấp thuận của Tác giả)

*****

Chương 185

John Kerry

 

 John Kerry

Robert F. Turner có nói về John Kerry và những tên khác như sau:

Chúng ta đã thất trận chiến về  “chính trị” hay “tuyên truyền”. Moscow, Hà Nội, và bọn . . . đồng minh của chúng … đã cùng phối hợp hòa điệu được một chiến dịch khổng lồ toàn lời gian dối và bóp méo sự thật … để chia rẻ người dân Mỹ ….

Bằng những “sự kiện” và “bằng chứng” cung cấp bởi Hà Nội và các mặt trận Liên Xô …, chúng đã dần dần thuyết phục được người dân Mỹ yêu nước là chính phủ của mình đã đang … nói chung là … khởi chiến theo kiểu “rất giống của Thành Cát Tư Hãn. . “.5302

Dĩ nhiên thì Kerry sẽ biện luận là tổ chức Swift Boat Veterans for Truth (Cựu Quân Nhân Lực Lượng Swift Boat vì Sự Thật) đã tường thuật sai lầm về hồ sơ quân nhân của y.  5303  Chúng ta đã từng biết qua về thành tích phản chiến của y. Khác với Jane Fonda và Tom Hayden, y đã rất giỏi, ráng giữ được khoảng cách với đám bạn bè cũ, đặc biệt là tụi VVAW.

Kerry Cố Gắng Tự Cách Xa Với Bọn VVAW  5304

Kerry Từ Nhiệm Khỏi VVAW –  Tháng 7, Tháng 11 … Khi Nào?

Gerald Nicosia đã viết vào năm 2001 là Kerry vì tranh chấp với Al Hubbard nên quyết định từ nhiệm khỏi Ủy ban Điều hành Quốc gia của VVAW tại một cuộc họp VVAW ở St Louis vào tháng 7 năm 1971. 5305 Như chúng ta đã thấy, việc tranh chấp của Kerry với Hubbard thực sự đã kéo dài mãi tới tháng 11 khi mà ngay cả Kerry cùng Hubbard đều bị loại nhân một cuộc đấu tranh quyền lực chính trị. Và do đó tay viết tiểu sử cho Kerry là Kerry Douglas Brinkley vào năm 2004 lại nói là  Kerry đã chỉ thực sự từ nhiệm khỏi VVAW vào ngày 10 tháng 11 năm 1971. 5306  Lần dó cũngchính là lần của cuộc họp mà nhân đó, Scott Camil đã đề nghị bắt cóc và ám sát các thượng nghị sĩ diều hâu Mỹ mà bọn  lãnh tụ VVAW đã có thảo luận và rồi quyết định bác bỏ. 5307

Cuối cùng sau khi đọc qua hết ngay các thùng tài liệu của FBI do mình sưu tầm được thì Nicosia đã có thể khẳng định là Kerry vẫn tiếp tục dự họp hàng tháng, ngay cả sau khi đã từng tuyên bố từ nhiệm trong tháng 7. 5308

Các bài báo xuất bản lúc đương thời đã có ghi nhận các mối liên hệ của Kerry với VVAW. Y đã diển thuyết nhân danh VVAW vào tháng 4 năm 1972. Vào cuối tháng 10 năm 1972 thì y có tuyên bố với báo chí mình là một thành viên VVAW  5309  và một bức hình đăng trên báo vào ngày 24 tháng giêng năm 1973 đã có chú thích Kerry là “chủ tịch của VVAW ~ Cựu chiến binh Việt Nam chống Chiến tranh”.  5310

Chắc chắn là tổ chức Swift Boat Veterans for Truth (Cựu chiến binh Swift Boat vì Sự Thật) đã không thể nào tự họ nghiển ra được những sự kiện lịch sử đó.

Kerry Đúng Đã Có Mặt Trong Buổi Thảo Luận Ám Sát Các Thượng Nghị Sỹ Diều Hâu Mỹ

Sau khi sách của Nicosia được xuất bản thì Ủy ban Vận đông cho Kerry bèn tuyên bố: “Thượng nghị sĩ Kerry không có nhớ từng tham dự cuộc họp [tháng 11] tại Kansas City”.  5311 Tài liệu lưu trửthì lại rất là rõ ràng. Một báo cáo đương thời của FBI: “một số đại biểu có mặt là: [tên bị kiểm duyệt] Kansas City … Mike Oliver; John Kerry; Scott Camil … “.  5312  Còn Terry Barnes với Terry Dubose thì đồng xác nhận sự hiện diện của John Kerry trong cuộc họp đó. Terry Barnes, kẻ sau này ủng hộ Kerry ra tranh cử chức Tổng thống, nói Kerry đã có ở đó và đã bỏ phiếu chống lại đề nghị ám sát của Camil.  5313

Cả John Kerry cũng như mọi thành viên VVAW khác đều không hề đi báo cáo âm mưu này cho chính quyền, ngoại trừ một (hay nhiều) mật báo viên của FBI không được xác định danh tính, mà có thể là Bill Lemmer.

Bây giớ nếu ta nhảy đến năm 1985.

Tuyển Thuê Toàn Nhân Viên Cực Tả Tại Thượng viện Hoa Kỳ

Khi bắt đầu nhiệm kỳ thứ nhất tại Thượng viện Mỹ vào năm 1985 thì Kerry đã chọn một tay cố vấn chính yếu về chính sách ngoại mà khã dỉ đủ khả năng  để hoàn thành được nhiệm vụ y sẽ giao phó cho.

Gareth Porter nguyên là một tên phản chiến tích cực đã ủng hộ Hà Nội từ lâu nay (với Indochina Peace Campaign ~ IPC do Fonda lập, với Indochina Resource Center ~ IRC), là cộng tác viên chính trị của Tom Hayden và Jane Fonda và chuyên viên nghề nghiệp đi biện hộ cho cộng sản. Trong cuốn sách của y vào năm 1976 tựa là Cambodia. Starvation and Revolution (Campuchia. Đói kém và Cách mạng) thì y hoàn toàn dứt lhoát bác bỏ những vụ tàn sát của Khmer Đỏ. 5314  Và với tư cách là cố vấn của House Select Committee on Missing Persons in Southeast Asia (Ủy ban Đặc biệt Hạ viện về Những Kẻ Bị Mất Tích ở Đông Nam Á), Gareth Porter đã được tham gia phái đoàn Hoa Kỳ  chính thức đến thăm Hà Nội lần đầu tiên vào tháng giêng năm 1976. 5315  Andre Sauvageot, một nhân viên khác của Thượng viện, sau đó thì có tuyên bố với tờ báo chính thức của Quân đội Nhân dân là Quân Đội Nhân Dân là y tiếc đã “không tham gia được cuộc cách mạng … để chống lại bọn xâm lược ngoại quốc  [Mỹ]”. Vào năm 2011, nhân khi y đang làm việc tại Hà-nội thì Sauvageot cũng đã từng tuyên bố: “Việt Nam đang có tự do tôn giáo nhiều hơn ngay cả Hoa Kỳ”.  5316

Sau này thì Kerry đã từng ủng hộ nên giao thương với nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Năm 2001, Thượng nghị sĩ John Kerry đơn phương ra tay chận được Dự Luật Nhân Quyền Việt Nam để không đệ trình cho toàn Thượng viện bỏ phiếu, sau khi đã được Hạ viện thông qua với tỷ số áp đảo 410 chống chỉ 1 thôi.

Trong khi đó thì ngược lại, John Kerry lại dẫn đầu các nỗ lực để cố tình bỏ quên các tù binh Mỹ ở Đông Nam Á.

Phán Quyết Giản Đơn Của John Kerry: Không Còn Tù Binh Sống Sót

Sự kiện 591 tù binh Mỹ quy cố hương đã coi như kết thúc cuộc chiến tranh đối với đa số người dân Mỹ. Sau đó lại từng đã có những tuyên bố cho biết là có nhận dạng được cũng như là có nhiều báo cáo là có tù binh vẫn bị bỏ lại, cũng như là nhiều người Mỹ từng bị liệt kê là mất tích đã không hề được lưu tâm tới. Lá cờ tiêu biểu màu đen và bạc của các tù binh và người mất tích trong công vụ đã vẫn tung bay tại nhiều Quốc Hội Tiểu bang và các Hiệp hội Cựu Chiến Binh. Trong khi gia đình các người Mỹ mất tích trong cuộc chiến đòi hỏi Hà Nội phải giải thích thì nhiều kẻ khác lại chủ trương phải bình thường hóa quan hệ với bọn thù cũ bằng bất cứ giá nào. Ngoài số tù binh (Prisoners Of War ~ POW) được nhận dạng thì cũng đã có 2.500 người khác bị xem như mất tích trong công vụ mà đã có thể đã từng là tù binh hay đã thật sự chết rồi. Sau hơn cả hai thập niên, vào năm 1989 thì vẫn còn cho tới 2.387 người bị xem như mất tích trong công vụ (Missing In Action ~ MIA). Thêm vào đó, Bắc cộng vẫn cứ tiếp tục sử dụng thành tích trao trả hài cốt của một vài người Mỹ như là một loại tuyên truyền cho “thiện chí” của chúng, sự kiện của một túi xương mà cứ bị nhỏ giọt giao trả một hay hai lần mổi hàng năm. Cho tới năm 1991 thì Việt cộng đã chuyển giao như vậy được tổng cộng là 300 lố hài cốt.

Tới năm 1992 thì John Kerry đã trở thành chủ tịch của Senate Select Committee on POWs and Missing in Action from the Vietnam War ( Ủy ban Đặc Biệt Thượng viện về Tù binh và Người Mất Tích trong Công Vụ). Các điều tra viên về tình báo của ủy ban đã khám phá ra là “tù binh Mỹ vẫn tiếp tục bị giam cầm ngay cả sau Chiến dịch Quy Cố Hương (Operation Homecoming) và vẫn [còn] bị giam giữ tại Việt Nam và Lào mãi tới cuối năm 1989”. Đã có cho tới ba Bộ Trưởng Quốc Phòng là James Schlesinger, Melvin Laird và Eliot Richardson đều từng tuyên thệ khai trình là tin tình báo đã thuyết phục được họ là thực sự, tù binh đã bị bỏ quên lại phía sau.

Nhưng đó không phải là những gì mà Kerry ta đã mong muốn.

Kerry Thanh Lọc Các Tài Liệu Lưu Trữ, Chuyến ‘Tham Quan Gian Ác’ Việt Nam

Bất chấp các phản đối của ban nhân viên, Kerry đã cắt bỏ thanh lọc các tài liệu tình báo Mỹ về những người bị liệt kê mất tích trong công vụ và y chỉ giản dị bác bỏ mọi tuyên bố về việc có thấy tận mắt, về những lần chận nghe trao đổi điện đàm cũng như là các tín hiệu xin cầu cứu. 5317 Kerry đã chấm dứt việc yêu cầu phía Việt Nam giải thích về biết bao nhiêu là báo cáo và những lần nhìn thấy đầy mâu thuẫn. Ngược lại thì John Kerry sẽ chỉ đơn giản hỏi Việt cộng là liệu chúng  còn có bất kỳ người Mỹ nào mà vẫn còn sống ở Đông Dương hay không. Rồi thì sau khi tin mật tình báo Mỹ đã được loại bỏ và rữa sạch, sau khi bị tuyên bố là không còn thích đáng nữa, thì Kerry và bộ sậu của y bèn đi ‘tham quan’ Việt Nam.

Đi thăm bọn chủ nhà Việt cộng đó thì họ sẽ có thể “nhìn tận mắt” những nơi mà  người Mỹ vẫn có thể còn ở lại mà. Cả đám báo chí truyền tin đã đi kè kè theo sát khi bọn chủ nhà Việt cộng  dẫn họ đến các địa điểm được báo cáo từng thấy có người Mỹ. Không có ai ở đó đâu. Không ai ở đây đâu. Không có ai ở đó đâu. Đó đã quả là một hài kịch đen tối quá ư là xấu xa về một công tác nhằm chỉ chạy loanh quoanh khắp vùng nông thôn để chỉ rồi đi ngắm nghía chiêm ngưởng những phòng giam trống rổng mà thôi.  5318

Việt cộng thì đâu có dấu giếm gì và cũng đâu có tù binh nào đâu. Không có gì là ngạc nhiên cả.

Trong một cuộc họp với Chủ tịch nước Việt Nam là Lê Đức Anh, Kerry đã có hứa sẽ không công bố bất kỳ tin tức nào mà có thể sẽ gây rắc rối cho chúng. Không thèm kiểm tra gì về tất cả các người Mỹ từng mất tích nhưng chỉ cần kê khai kiểm tra đơn giản thôi thì cũng là đủ để hũy bỏ cấm vận thương mãi. 5319

Và như vậy thì trong tháng chạp năm 1992, Ủy ban Thượng viện của Kerry chỉ đơn giản tuyên bố là không hề có bằng chứng về người Mỹ vẫn còn đang sống ở Đông Dương. Việc bình thường hóa thì cuối cùng cứ phải đẩy nhanh lên đi. POW / MIA Gia đình các tù binh và người mất tích trong công vụ đã cùng nhau lên tiếng  phản đối.

Kerry đã có mở cuộc điều tra gia đình các tù binh và những người liệt kê như mất tích trong công vụ để tuyên bố họ chỉ là “bọn bất mãn chuyên nghiệp, chỉ lo đồn đãi âm mưu, những tên chuyên môn lừa đảo và loại cực kỳ là ‘Rambo’”. Tuy là thật sự cũng đã từng có những tụi mánh mung lừa đảo lợi dụng các gia đình, 5320 nhưng rỏ rànglà các gia đình và các cựu chiến binh liên hệ thì tuyệt đối không thể nào là những kẻ vô lại được cả.

Hà Nội Tôn Vinh  Kerry với Buổi Tiệc Liên Hoan Về Tù Binh

Năm 1993, Thượng nghị sĩ John Kerry, Dân chủ – Massachussetts đã hướng dẫn một phái đoàn đến Việt Nam để thảo luận về các người Mỹ vẫn bị liệt kê mất tích trong công vụ tại Việt Nam. Trong thời gian ở đó thì Kerry đã có chụp hình chung với Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam là Đỗ Mười. Tấm hình của cuộc gặp gở này đã được đặt ở một vị trí trang trọng danh dự đặc biệt cùng được dành cho đám Mỹ khác mà đã được ghi nhận về những đóng góp cho chiến thắng của Cộng sản. Bức hình này của tay Thượng nghị sĩ và tên Bí thư Đảng Cộng sản nay đang vẫn được trưng bày tại Bảo tàng viện Chứng tích chiến tranh, trước còn bị gọi là Bảo tàng viện Tội Ác Chiến tranh của Mỹ tại Thành phố Hồ Chí Minh, trước đây là Sài Gòn, Nam Việt Nam. Dòng chữ chú thích là: “Ông Đỗ Mười, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam đã gặp Dân biểu và Phái Đoàn Cựu Chiến Binh Việt Nam (ngày 15 tới 18 tháng 7 năm 1993)”.

Phúc Trình 1205

Tới năm 1993 thì Steve J. Morris đã phát hiện ra được một tài liệu được lưu trữ của Đảng Cộng sản ở Moscow nguyên là một bản chuyển ngữ phúc trình quân báo của GRU về bài phát biểu bằng tiếng Việt của Tướng Trần Văn Quang. Trong đó, thì y đã có báo cáo về tổng số tù binh vào tháng 9 năm 1972 nhiều hơn cả hàng trăm người so với con số thực tế về tù binh Hoa Kỳ mà đã từng được công bố vào đầu năm 1973. Trước khi các tù binh được phóng thích thì trưởng đoàn đàm phán là Lê Đức Thọ đã có tuyên bố là có 368 tù binh chiến tranh. Chiến dịch Homecoming ~  Quy Cố Hương thì đã đem về được cho tới 591 tù binh do Hà Nội phóng thích trong tháng 3.

Bản phúc trình mới được phát hiện thì lại cho biết là đã có nhiều tới 1205 người. Tính xác thực của bài phát biểu của Trần Văn Quang đã bị nghi ngờ, 5321 đặc biệt là đối với đám quyết chí chủ trương phải bình thường hóa quan hệ. Garnett “Bill” Bell, cựu Giám đốc của Văn phòng POW/MIA tại Hà Nội và cũng là cựu tù binh, cùng với cựu tù binh Mike Benge đã có đồng ý là bản phúc trình 1205 mới  là xác thực.

Benge có nêu ra năm nguồn tin độc lập để chứng thực nội dung bản phúc trình. 5322  Một bản dịch của Ngũ-giác-đài về một phiên họp của Đảng Cộng sản Việt Nam vào cuối năm 1970 hay 1971 có dẫn lời một viên chức Việt cộng nói con số đúng là 735 “phi công tù binh Mỹ”.  5323 Đó làvào thời gian hai năm trước các trận không tạc mùa Giáng sinh, và đã có cung cấp thêm cho tới 41 tù binh bắt được chỉ trong một chiến dịch thôi. Con số thực sự về tù binh và quân nhân mất tích trong công vụ rồi thì chắc sẽ không bao giờ biết được chính xác cả.

Tù Binh Còn Sống Vẫn Bị Giam và Số Mất Tích Trong Công Vụ Vẫn Bị Giữ Ngõ Hầu để Trao Đổi và Đòi Bồi Thường

Việc tìm kiếm các người bị liệt kê như mất tích trong công vụ đã không bao giờ được thỏa đáng, nhưng lịch sử sẽ được lưu lại để chứng minh một cách tốt nhất mà khã dỉ không còn nghi ngờ gì được về thiện chí của bọn Việt cộng, mà rỏ ràng đã được kiểm chứng và cho thấy là luôn luôn gian dối trong việc tìm kiếm POW / MIA.

Bell và Veith có nói về một biên bản thẩm vấn mà đã cho thấy: “… Chính phủ Bắc Việt ra một quyết định quy định là các quân nhân và nhân viên dân sự cần phải được bảo vệ mạng sống để chuẩn bị cho việc trao đổi và đòi bồi thường trong tương lai”. 5324

Cũng vậy, Special Office for Prisoner of War and Missing in Action (Văn phòng Đặc Nhiệm về Tù binh và Những Người Liệt Kê Bị Mất Tích trong Công Vụ) của Defense Intelligence Agency ~ DIA (Cơ quan Quân Báo)  đã có báo cáo:

Động cơ thúc đẩy bọn Việt cộng … đều chủ yếu dựa trên niềm tin là cả các tin tức và những phần còn lại mà chúng đã cất dấu đang là những dữ kiện quý giá về  … khả năng và ảnh hưởng … thậm chí … cả về lợi lộc tiền bạc … Vấn đề mà Việt cộng xem như chỉ là  … quản lý tài nguyên … thì đối với Mỹ lại là một vấn đề đạo đức và nhân đạo … “.  5325

“Chuyên gia tẫm liệm” Trần Viết Lộc, một người gốc Trung Hoa, đã rời Việt Nam vào năm 1979, nơi mà ông phụ trách về việc thu hồi, giữ gìn và lưu trử cả hài cốt của người Pháp và người Mỹ tại Hà Nội. Vị chuyên gia tẫm liệm “đã điều trần trước Quốc hội là mình từng đích thân chuẩn bị độ “290 bộ” hài cốt và chính mình cũng đã có thấy khoảng 400 chiếc “hộp”.  5326

Cũng đã có các nguồn tin khác  từng báo cáo về việc các hài cốt vẫn đã được cất giữ. Bell và Veith đã có tường thuật về một nguồn tin có xác nhận là có nhìn thấy khoảng 600 bộ hài cốt Mỹ vẫn còn trong nhà tù Bất Bạt  (*)  và “mô tả hàng kệ chứa hài cốt Mỹ vẫn còn được gói trong loại túi ny-lông trong suốt, cùng với một số “bộ quần áo bay” của phi công Mỹ …”. 5327  Theo một phúc trình của Phòng Nhận Dạng Trung Ương Quân đội Mỹ ~ CILHI tại Hawaii: “CILHI đã chuẩn bị một sơ đồ để cho thấy … tổng số hài cốt được xác định đã là 260; tổng số đã cho thấy bằng chứng là đã có 158 bộ vẫn bị cất giữ”. Bell và Veith nói: “Cuộc nghiên cứu này đã chứng minh là … Hà Nội vẫn tiếp tục giữ lại một số lượng đáng kể các hài cốt của các quân nhân Mỹ”.  5328

Trong lần thuyết trình của DIA cho Việt cộng vào tháng 5 năm 1992:

Cuối cùng, mấy chuyên gia pháp y của chúng tôi đã cho biết là khoảng 70 phần trăm của các hài cốt Mỹ được đưa trả lại … đã cho thấy là đã bị lưu trữ từ rất lâu rồi … Vẫn còn những hài cốt của quân nhân Mỹ sẵn có hay rất dễ thu hồi “…

Ban Tuyên truyền của Việt cộng đã trả lời là chỉ có “bọn đào mộ để ăn cắp”  và “bọn buôn bán hài cốt” thì mới tin những điều như vậy. 5329  Hà Nội lại chính là công ty kinh doanh lớn nhất về hài cốt.

Tù binh còn đang sinh sống tại Liên Xô?

Tài liệu Liên Xô  “NSA chặn được  … cho thấy là các người từng bị bắt trong … các chiến dịch [Phòng Không] đều đã được “đối xử đặc biệt”, tức là gởi đi qua Liên Xô”.  Sau “Tết ‘Mậu Thân 68’, Sư đoàn 367 Không quân của Quân Đội Nhân dân VN đã có giữ lại một số tù binh để làm lao động khổ sai tại Lào. Họ [thì] … đã chưa bao giờ được tính tới …  5330

Bell và Veith đã tường trình, “Một số công chức  [Mỹ] … đã cố dành thiện cảm dùm cho Việt cộng với các công chức Toà Bạch Ốc [Clinton] … một phúc trình từ Phái bộ Đặc Nhiệm của Tổng thống về các vấn đề POW / MIA tại Việt Nam đã ghi nhận:

Các khó khăn về địa hình, những ảnh hưởng gây do độ G cao…, ảnh hưởng về khí hậu …, các sai lầm về địa điểm … và hiệu quả rất đáng nghi ngờ về hệ thống báo cáo trong thời chiến, quả đã có khả năng … khiến tính cách khả chấp khá thấp hơn như là DIA đã từng ước lượng.

Hơn nữa … việc thường dân đi lục tìm tại các địa điểm mà tai nạn đã xẩy ra và các vùng chiến trường đã khiến những nỗ lực của chính phủ để thu thập hài cốt bị vô hiệu hóa đi …

Đề tài Việt Nam vẫn luôn luôn đầy ẩn số. Việc thu hồi được hay không các hài cốt để đưa vô “kho”  cũng không đơn giản như cái tay chủ chốt trong buổi thuyết trình của DIA đã từng gợi ý”.  5331

Nếu quả thật là cả hàng trăm tù binh đã bị bỏ lại phía sau, đã từng đào ngủ, đã bị hành quyết hay đày qua Trung cộng và Liên Xô thì quả thật, các quan hệ ngoại giao đã từng bị, rất ư là động lạnh và tê liệt mất rồi.

Tuy vậy, sau này thì Việt cộng vẫn cứ đã được tiếp đón khá nồng nhiệt bởi hai chính phủ Clinton và Bush.

*****

5302  Turner, “Fonda Fallacies”, được viện dẫn trong bài của Robert Elegant, “How to Lose a War”, Encounter (London), Số Tháng Tám 1981, trang 73-90. Trên liên mạng tại: http://www.wellesley.edu/Polisci/wj/Vietnam/Readings/elegant.htm. Kerry trước Thượng viện Mỹ, Ủy ban Đối Ngoại Committee on Foreign Relations, Legislative Proposals Relating to the War in Southeast Asia, 22 tháng 4 năm 1971, trang 180. Xem thêm: http://www.c-span.org/2004vote/jkerrytestimony.asp.

5303  John E. O’Neill và Jerome Corsi, Unfit for Command: Swift Boat Veterans Speak Out Against John Kerry, Wash DC: Regnery Publishing, Inc., 2004; Scott Swett và Tim Ziegler, To Set the Record Straight: How the Swift Boat Veterans, POWs and the New Media Defeated John Kerry, New American Media Publishing, 2008.

5304  Ta có thể đọc được toàn bộ hồ sơ FBI về bọn VVAW tại trang nhà Liên Mạng FOIA hay tìm hiểu được cách chúng đối xử với John Kerry ra sao trong VVAW Fedora, “John Kerry’s Fellow Travelers”, A 5-part series. Phần 3: “Hanoi John: Kerry and the Antiwar Movement’s Communist Connections”, 

http://freerepublic.com/focus/f-news/1241847/posts

5305  Fedora viện dẫn Nicosia, Home to War, trang 211-212.

5306  Fedora viện dẫn Brinkley, Tour of Duty, trang 406, 462.

5307  Fedora viện dẫn “Kansas City Kerry—The Phoenix Project”, FreeRepublic.comhttp://www.freerepublic.com/focus/f-news/1104239/posts, 24 tháng 3 năm 2004 (18 tháng 6 năm 2004); Thomas H. Lipscomb, “How Kerry Quit Veterans Group Amid Dark Plot: When Talk Turned To Assassination He Exited, Vet Says”, The New York Sun, Trang bìa, 12  tháng 3 năm 2004, trên Liên Mạng tại http://daily.nysun.com/Repository/getFiles.asp?Style=OliveXLib:ArticleToMail&Type=text/html&Path=NYS/2004/03/12&ID=Ar00100 (18 tháng 6 năm 2004).

5308  Fedora viện dẫn Marc Morano, ”Kerry Lying About Anti-War Past, Supporter Alleges”, CNSNews.com, http://www.cnsnews.com//ViewPolitics.asp?Page=\Politics\archive\200403\POL20040318a.html, 18 tháng 3 năm 2004 (18 tháng 6 năm 2004); Gerald Nicosia, “Veteran in Conflict: Sen. John Kerry’s Struggle for Leadership of a Vietnam Veterans Antiwar Group in 1971 Ended With His Resignation at a Stormy Meeting in Kansas City, Where Militants Advocated Violence Against the U.S. Government”, Los Angeles Times,  http://www.latimes.com/features/printedition/magazine/?track=mainnav-magazine, 23 tháng 5 năm 2004, Section Los Angeles Times Magazine, LAT Magazine Desk, Phần I, Trang 10, được  lưu trử tại BeldarBlog,  http://beldar.blogs.com/beldarblog/2004/09/Nicosia_article_LAT_5-24-04.pdf  (1 tháng 10 năm 2004).

5309  Fedora viện dẫn tài liệu lưu trử tại “Documents, Film Clips, Audio and Cartoons: So when did John Kerry leave the VVAW, anyway?”, http://www.wintersoldier.com, http:/http://www.wintersoldier.com/index.php?topic=Documents, (18 tháng 6 năm 2004); “Kerry, Watergate: DNC Links Caused Break-In? ‘Republican Paranoia Started Early,’ Says ’72 Democratic Youth Director Bob Weiner”, U.S. Newswire, http://releases.usnewswire.com/GetRelease.asp?id=26038, 9 tháng 2 năm 2004 (5 tháng 9 năm 2004); “War opponent Kerry seeks Congress seat”, The Boston Globe, 4 tháng 4 năm 1972, trang 21, kèm theo tài liệu FBI HQ 100-448092, Đoạn 21, trên liên mạng tại  http://www.wintersolider.com, http:/http://www.wintersoldier.com/index.php?topic=VVAWFBI, hồ sơ PDF, HQ 100-448092, Đoạn 21, trang 19 (4 tháng 9 năm 2004); B.J. Widdick, “Woodcock: A Voice, Not an Echo”, The Nation, Bộ 214, Số 20, 15 tháng 5 năm 1972, trên liên mạng tại The Nation Digital Archive, http://www.nationarchive.com/Summaries/v214i0020_05.htm (20 tháng 9 năm 2004); O’Neill và Corsi, trang 130-135, 140-143, 158-161.

5310  ”John Kerry Watching Nixon on Television”, Corbis, http://pro.corbis.com/popup/Enlargement.aspx?mediauids={3c773ac0-b0fd-4be4-9175-ff228fd5544c}|{ffffffff-ffff-ffff-ffff-ffffffffffff}&qsPageNo=1&fdid=&Area=Search&TotalCount=60&CurrentPos=13&WinID={3c773ac0-b0fd-4be4-9175-ff228fd5544c} (18 tháng 6 năm 2004); “Photo Gallery: John F. Kerry: Candidate in the Making: Phần 3: John Kerry watches President Richard Nixon announce the cease-fire in Vietnam on January 24, 1973”, Boston.com, http://www.boston.com/globe/nation/packages/kerry/images/day3/05.htm (18 tháng 6 năm 2004).

5311  Fedora viện dẫn Michael Kranish, ”Kerry can’t recall being at ’71 parley”, Boston.com, http://www.boston.com/news/politics/president/articles/2004/04/01/kerry_cant_recall_being_at_71_parley/, 1 tháng 4 năm 2004 (18 tháng 6 năm 2004)

5312  FBI, Kansas City, Phúc trình, “VVAW Steering Committee Meeting Kansas City, Missouri”, 12, 13, 14 tháng 11 năm 1971; Steve Gilbert, “Kerry, Kansa City, and the FBI Files”, American Thinker, 7 tháng 9 năm 2004. 

5313  Thomas Lipscomb, “How Kerry Quit Veterans Group Amid Dark Plot”, New York Sun, 12 tháng 3 năm 2004, trang 1; Scott Stanley, Insight, 23 tháng 3 năm 2004.

5314  Stephen Morris, National Review, 31 tháng 10 năm 2004.

5315  Gareth Porter, “Symposium” về cáo buộc của Sydney Schanberg là Mỹ đã bỏ rơi cả hàng trăm tù binh lại Đông Nam Á. The American Conservative, Số Tháng Bảy 2010, trang 21.

5316  Quân Đội Nhân Dân,  3 tháng 7 năm  2011 được viện dẫn trong điện thơ của Bill Bell POW/MIA 8/6/11 gởi cho tác giả và nhiều người khác.

5317  Sydney H. Schanberg, “When Kerry’s Courage Went M.I.A.’, Village Voice, 24 tháng 2 năm 2004. 

5318  Stephen Morris, National Review, 31 tháng 10 năm 2004. 

5319  Michael D. Benge, khai trình truớc Tiểu ban Foreign Relations Subcommittee for Asian and Pacific Affairs,  10 tháng 2 năm 1994 tại http://www.aiipowmia.com/testimony/Benge294.html

5320  Ted Sampley, www.vietnamveteransagainstjohnkerry.com

5321  Một phân tích cặn kẻ và tích cực đã có do George J. Veith, “The ‘1205 Document’: Another View”, trong Tiểu ban Hạ viện về Nhân viên Quân sự, 19 tháng 6 năm 1996.

5322  Michael D. Benge, thuyết trình trước Tiểu ban Đối Ngoại về Á Châu và Thái Bình Dương, 10  tháng 2 năm 1994 tại http://www.aiipowmia.com/testimony/Benge294.html

5323  John Corry, “Prisoners of Hope: Exploiting the POW MIA Myth in America. – book reviews”, National Review, 6 tháng 2 năm 1995.

POWs and Politics: How Much does Hanoi Really Know

www.vietnam.ttu.edu/events/1996…/jay3.ph…‎  19 tháng 4 năm 1996, viết bởi: Garnett “Bill” Bell và George J. Veith …… tường trình cho thấy có độ 600 hài cốt tại trại tù Bat Bat (?) ở phía Tây của Hà Nội.

5324  Bell và Veith.

5325  Bell và Veith.

5326  Bell và Veith; Đọc thêm Garnett “Bill” Bell với George J. Veith, Leave No Man Behind: Bill Bell and the Search for American POW/MIAs from the Vietnam War, Madison: Goblin Fern Press, 2004, trang 55, 127.

(*)      Trong nguyên bản Anh văn thì là “Bat Bat” nhưng người chuyển ngữ đã không thể truy nguyên kiểm chứng được như từng đã phải phải phối kiểm với tác già về các tên tuổi Việt toàn sách. Sau khi liên lạc với tác giả thì ông đã bổ túc như sau:

“There is no possible Vietnamese name as Bat Bat.” Hung Le to Author, April 2014.” (“Không thể có tên Việt nào là Bat bat”. Hung Le nói với tác giả vào tháng 4 năm 2014).

5327  Bell và Veith, Texas Tech.

5328  Bell và Veith, Texas Tech.

5329  Bell and Veith, Texas Tech

5330  Bell and Veith, Texas Tech

5331  Bell and Veith; IPC, Tháng Tám 1973, trang 42.

*****

 

 

Một phản hồi to “Roger Canfiels’s Americong #185”

Trackbacks/Pingbacks

  1. Giới thiệu tác phẩm AMERICONG (MỸ-CỘNG) – Lê Bá Hùng | Ngoclinhvugia's Blog - 05/01/2016

    […] Roger Canfiels’s Americong #185 […]

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: