Bộ Phim 2017 The Vietnam War của Mỹ Cộng

Bọn Mỹ Cộng đã từng tự hào về tài nghệ thay trắng đổi đen, biến Trận Thảm bại Quân sự Mậu Thân 1968 thành một thành công tâm ly chiến, khởi đầu cho việc công luận Mỹ chuyển hướng và đưa lần đến kết quả bi thương của Ngày Quốc Hận năm xưa!

Trong mưu đồ phù trợ bọn VC sẽ hoang ca đánh dấu 50 năm của vết dơ ngàn đời không bao giờ sẽ rữa được trong Quốc sử Việt Nam, đám Tân Tả Mỹ Cộng lại đã chuẩn bị sẳn sàng và đã tung ra bộ phim tràng giang đại hải The Vietnam War để lại nhằm cứ tiếp tục bóp mép lịch sử hầu tiếp tục ru ngủ đám người, tuy gọi là Việt, nhưng lại quá ư là VÔ CẢM trước đại họa mất nước và Cộng Sản tiếp tục dày xéo quê hương thân yêu!

Y như loạt phim 13 phần trước đó do WGBH-TV tại Boston sản xuất và sau đó, bị cái đài thiên tả chuyên bưng bô cho VC là PBS này vào dạo năm 1983 cho trình chiếu, cái bộ phim cũng nhiều tập cùng khuôn mẫu do Stanley Karnow quay về cuộc chiến đó với tựa đề Vietnam: A Television History, bộ phim “phụ đề cho VC` kỳ sau này cũng chỉ là một trò hề dơ dáy!

Và cũng chính vì vậy, nhiều tiếng nói đã lên tiếng để tố cáo thái độ tội lổi của các đài tuy “ăn tiền Người dân Mỹ đóng thuế lại quay qua bưng bô cho Tân Tả Cộng Sản Mỹ“ như điển hình tại:

Malkin: Time For Trump Makeover of Lib NPR and PBS

https://www.truthrevolt.org/commentary/malkin-time-trump-makeover-lib-npr-and-pbs

Rồi nay thì Trump cũng đã nhập cuộc và trong tân ngân sách đệ trình trước Quốc Hội, ĐÃ cắt bỏ tài trợ cho Corporation for Public Broadcasting (CPB), tổ chức vô vị lợi đầu sậu chủ mưu lâu nay vẫn tài trợ rộng tay cho PBS múa gậy vườn hoang:

#Winning: Trump Proposes Eliminating Federal Funding for PBS, NPR

https://www.truthrevolt.org/news/winning-trump-proposes-eliminating-federal-funding-pbs-npr

Nhưng như mọi người vẫn thường nói, “Phải trả lại cho Caesar những gì của Caesar!”

Lê Bá Hùng

Tưởng niệm 50 năm Mâu Thân 1968 Tang Tóc Đau Thương

Cuối Đinh Dậu và đầu Mậu Tuất

Xứ Lá Phong buồn ly hương

~ I ~

 CALIFORNIA`s VIETNAM WAR

http://www.frontpagemag.com/fpm/267942/californias-vietnam-war-lloyd-billingsley

For Golden State Democrats, some Asians are more equal than others.

September 22, 2017

Lloyd Billingsley  

CUỘC CHIẾN VIỆT NAM ĐỐI VỚI CALIFORNIA

Đối với giới Dân chủ tại bang Golden State thì có vài người Á châu mới là bình đẳng hơn mấy người khác.

 ~ Lê Bá Hùng chuyển ngữ ~

 Janet NGUYỄN, tự Nguyễn Thị Tú Uyên sanh năm 1976 tại Sài Gòn

Thượng Nghị Sĩ đảng Cộng Hòa tại tiểu bang California ►►

 https://vi.wikipedia.org/wiki/Janet_Nguy%E1%BB%85n

 

Bộ phim tài liệu với tựa đề The Vietnam War ~ Cuộc Chiến Việt Nam, gồm 18 phần của Ken Burns Lynn Novick, đang được trình chiếu trên đài PBS. Tập 5 vào ngày thứ Năm cho thấy chiến trận lúc sắp bị đắm chìm vào trận tấn công Tết Mậu Thân năm 1968. Các phần sau sẽ liên hệ đến việc Hoa Kỳ phải rút quân vào năm năm 1973, mà đã mở đường cho cái chiến thắng của Cộng sản Bắc Việt do Liên Xô hậu thuẫn trong năm 1975. Đã có một thượng nghị sĩ tiểu bang California mà cũng đã từng có khá nhiều kinh nghiệm đáng kể về chiến trận đó.

Cộng sản đã đổi tên Sài Gòn thành thành phố Hồ Chí Minh và Janet Nguyễn thì cũng chào đời ở đó vào năm 1976. Thân phụ của bà nguyên là một quân nhân VNCH và đã đang bị giam trong tù khi gia đình của bà cố gắng trốn thoát đi. Cộng sản đã từng xử tử người ‘uncle ~ bác, chú hay cậu?’ của bà ta, một sĩ quan trong Quân đội VNCH, ngay trước sự chứng kiến của cả toàn làng và luôn cả gia đình của ông ta.

Gia đình họ Nguyễn đã trở thành số người được gọi là “thuyền nhân” trong cái phong trào di dân đó, và đã tới được Thái Lan. Thống đốc tiểu bang California là Jerry Brown, đã từng có những nỗ lực chung với các đảng viên nổi tiếng của đảng Dân chủ nhằm ngăn chận mọi người tỵ nạn – kể cả các trẻ mồ côi – không được nhập cư vào Hoa Kỳ.

Jerry Brown kẻ đại thù ghét Người Việt Quốc Gia Tỵ Nạn tại Mỹ

Brown đã từng ra sức cố gắng ngăn chặn các chuyến phi cơ chở người tỵ nạn đáp xuống được căn cứ Không quân Travis Air Force Base và tuyên bố là “quả hơi lạ” khi đi nhận người tỵ nạn trong khi đang có vào khoản một triệu người cư dân California bị thất nghiệp. Nừ dân biểu Elizabeth Holtzman của tiểu bang New York thì cũng từng đã cố tình gài, để đẩy những người tỵ nạn Việt đó vào một sự so sánh với các cử tri của y thị. Dân biểu Don Riegle của Michigan thì lại đã tìm cách ngăn cấm tài trợ cho những người tỵ nạn. Dân biểu Joshua Eilberg của Pennsylvania, chủ tịch của một tiểu ban về nhập cư, thì đã cáo buộc chính quyền của Ford đang hành xử “một cách vội vã không cần thiết” trong việc di tản các trẻ em mồ côi.

Elizabeth Holtzman

Don Riegle

Joshua Eilberg

Thượng nghị sĩ Joe Biden thì đã cố gắng ngâm chậm lại dự luật về người tỵ nạn ở Thượng viện, cứ lo phàn nàn với lý do là y phải cần tìm hiểu thêm tin tức. Thượng nghị sĩ George McGovern thì chủ trương là có cho tới cả 90% người tỵ nạn Việt Nam “tốt hơn nên quay về lại quê của họ mà thôi” và cũng bảo trợ một tu chính án để đuổi họ về lại. Đối với gia đình Janet Nguyễn, thì hoàn toàn không thể nào có vấn đề trở lại được mà thôi.

Joe Biden

George McGovern

Nhờ sự bảo trợ của một nhóm thiện nguyện thuộc giáo hội Hoa Kỳ, họ đã tới được California bằng phi cơ, nơi mà vị cựu thống đốc lúc đó là Ronald Reagan và sau đó cũng là vị Tổng thống Hoa Kỳ. Janet Nguyễn nói với phóng viên George Skelton của tờ Los Angeles Times: “Ông ấy là tổng thống, người mà cuối cùng đã cho phép người tị nạn Việt Nam vào đất nước này. Ông ấy đã chiến đấu chống các chế độ độc tài và chống chủ nghĩa cộng sản, rồi cũng đã phá nát được bức tường Bá Linh. Tôi luôn luôn hành xử và dựa theo những gì mà Ronald Reagan hằng chủ trương“.

Đám Dân chủ ở California thì lại hoàn toàn chủ trương khác lại. Jerry Brown đã bổ nhiệm Jane Fonda vào California Arts Council ~ Ủy ban Nghệ thuật California, một hành vi rõ ràng như là đã dùng kim châm đui mắt toàn thể các cựu chiến binh Việt Nam. Mụ Fonda thì cũng đã từng nổi tiếng vì chịu được chụp hình ngồi trên một khẩu phòng không của Bắc cộng, còn nếu không thì cũng luôn luôn cổ động cho phía Cộng sản. Một trong những tay chồng của y thị là Tom Hayden thì cũng vậy, và cặp đôi này thì quả thật, không thể nào mà lại có thể CHỈ được xem như là những thành phần phản chiến được mà thôi.

Jane Fonda

https://www.google.ca/search?q=Jane+Fonda+with+DCA+in+North+Vietnam+images&tbm=isch&tbo=u&source=univ&sa=X&ved=0ahUKEwj1pcy52sXWAhWK5oMKHQAdDB0Q7AkIQg&biw=1536&bih=836#imgrc=1zQsaBgLm0F5FM:

Jane Fonda cùng 1 trong bao nhiêu là chồng củ, có tên là Tom Hayden với đứa con chung tên TRỔI Hayden

Mà nay đã đổi tên thành TROY Hayden và cũng không còn liên lạc với mẹ nữa.

https://www.google.ca/search?q=tom+hayden+and+fonda+images&tbm=isch&tbo=u&source=univ&sa=X&ved=0ahUKEwjeyo-q28XWAhXq7IMKHTM5DhkQ7AkIQg&biw=1536&bih=836#imgrc=36HhYkJzlBHpoM:

Đó chính là những kẻ từng đã phản đối chế độ quân dịch, từng chủ trương là Hoa Kỳ đúng ra thì không nên can dự vào Việt Nam, từng chỉ trích phương cách tiến hành cuộc chiến và cũng đã từng phản chiến về nguyên tắc. Fonda và Hayden đã mong muốn là rồi thì Cộng sản phải giành được chiến thắng và đã hỗ trợ Bắc cộng bằng những các chương trình thu âm với mục đích tuyên truyền để phát tuyến mà đã trở thành một loại nhạc đệm của những lần dành cho các tù binh Mỹ, như Lee Ellis đã kể lại trong tác phẫm Leading with Honor: Leadership Lessons from the Hanoi Hilton. ►1

Jane Fonda đã đứng ra tài trợ cho tay chồng Tom Hayden ứng cử vào Thượng viện California trong năm 1992 và y đã phục vụ tại đó cho đến năm 2000. Tới năm 2014, bà Janet Nguyễn đã trở thành người (phụ nữ) Việt Nam đầu tiên được bầu vào Thượng viện của tiểu bang.

Trong những năm khi đã về hưu, Hayden đã đóng góp tài năng để giúp đở cái chế độ Sì-ta-linh của Cuba với quyển sách có tựa là Listen Yankee: Why Cuba Matters ~ Ê, Đám Mỹ Nghe Đây: Cu Ba Rất Là Quan Trọng. Y qua đời ở tuổi 76 vào ngày 23 tháng 10 năm 2016, và vào ngày 21 tháng 2 năm 2017 thì Thượng viện California đã quyết định vinh danh cái tay Tổ phụ của Tân Tả này.

Chủ tịch đảng Dân chủ tiểu bang là John Burton đã gọi Hayden là “một trong những người có tầm nhìn xa”. Chủ tịch Thượng viện tiểu bang là Kevin de Leon có nói: “Ông ta quả là một kẻ có đầu óc bất khất (maverick). Ông đã là một tư tưởng gia độc lập. Ông đã là một nhà trí thức. Ông đúng nghĩa của một kẻ cấp tiến thực sự. Ông đã cống hiến trọn đời để cải thiện tiểu bang chúng ta cùng đất nước vĩ đại của chúng ta qua việc theo đuổi hòa bình, công lý và công bằng“.

John Burton

 

Kevin de Leon

Hai ngày sau, đến phiên Janet Nguyễn đứng lên đê phát biểu, trước hết là bằng tiếng Việt mẹ đẻ của bà ta: “Ông Hayden đã từng đứng về phía một chính phủ cộng sản mà đã đành đoạn đi nô lệ hóa và giết cả hàng triệu người Việt Nam, kể cả các người trong gia đình của chính tôi. Những hành động của Hayden từng đã bị nhiều người coi như là nguy hại cho các giá trị về nền dân chủ và đầy thù hận đối với những người vẫn hằng mong tìm chính những tự do mà dựa trên đó, cái quốc gia này dã được chào đời“.

Khi bà chuyển sang Anh ngữ, thì Thượng nghị sĩ Ricardo Lara, thuộc đảng Dân chủ, đại diện cho Bell Gardens, đã cắt ngang bà ta, nhưng bà ta vẫn cứ tiếp tục phát biểu, ngay cả sau khi cái đám Dân chủ tắt mất máy vi âm của bà. Rồi khi bà bất chấp cái lệnh phải trở về lại chổ ngồi, và bà đã dứt khoát không đồng ý, Lara đã ra lệnh buộc bà Janet Nguyễn phải bị “cưỡng bức đuổi đi” bởi nhân viên Sergeant at Arms của Thượng viện. Đám Dân chủ cũng bèn cắt đứt luôn đường dây truyền tin cho hệ thống California Channel, trong mục đích ngăn cản khán thính giả trên toàn tiểu bang được chứng kiến và nghe lời tuyên bố của bà Janet Nguyễn.

Ricardo Lara

Cái tay Kevin de Leon thì bề ngoài bèn tỏ ra rất ư là “cực kỳ bối rối” và đã đứng ra “chịu trách nhiệm hoàn toàn về những gì đã xảy ra và hứa chắc là những sự việc như vậy sẽ không còn xảy ra nữa”, nhưng một cuộc điều tra về việc nhục nhã này thì cuối cùng cũng đã không đi tới đâu cả. Điều tương tự rồi cũng đã xảy ra với vụ nghị quyết của thượng nghị sĩ đảng Cộng Hòa là Joel Anderson đưa ra nhằm lên án cuộc bức hại các học viên Pháp Luân Công của Trung cộng. Ông Anderson đã phải sửa đi sữa lại bản tu chính nghị quyết cho tới cả 17 lần, nhưng rồi cũng vô ích mà thôi.

Joel Anderson

 Trong khi đó, bộ phim The Vietnam War ~ Cuộc Chiến Việt Nam nói ra thì cũng đáng để xem, trừ ra mọi chi tiết nhằm chủ trương Tom Hayden là cái Chú Tom của bọn Việt cộng. Đám đảng viên Dân chủ California đã tung hô tên Hayden như là một người có tầm nhìn xa và lại đã khước từ cái quyền chỉ trích thuộc trong những quyền tự do ngôn luận của vị nữ thượng nghị sĩ. Trong một phong cách tương tự, đám Dân chủ cũng đã hủy bỏ không chịu biểu quyết một nghị quyết nhằm chỉ trích chế độ Cộng sản Trung cộng.

Tiểu bang California đã quyết định chọn dùng loại thép Trung cộng rẻ tiền để xây dựng nhịp cầu mới trên Bay Bridge, một công trình đã bị chậm trể đến cả 10 năm rồi và còn vượt ngân sách dự trù cả tới 5 tỷ Mỹ kim. Khi Jerry Brown được thông báo cho biết các hiểm nguy về an toàn từng mãi kéo dài lâu nay của cái cây cầu, thì đương sự bèn nói “I mean, look, shit happens ~ Ý tôi là, nhìn đi, cứt thì cũng tùm lum mà thôi“.

Sử học gia Edward Gibbon đã có viết: “Trong số các mô hình chính quyền khác nhau từng được ưu tiên chấp nhận trên thế giới, có vẻ cái kiểu chế độ quân chủ thừa kế đã là một hình thức đáng chê cười nhất”. Điều này thì cũng đã tỏ ra quá ư là đúng với cái truyền thống di truyền, cứ mãi tiếp tục lại cũng có cùng một cái tay thống đốc này mà thôi.  2

Edward Gibbon (1737 – 1794 tại Anh quốc)

Jerry Brown 3

Tây thống đốc cứ MÃI được cộng đồng Người Việt Tỵ Nạn tại Cali yêu thương!

https://en.wikipedia.org/wiki/Jerry_Brown

 

*****

Của người chuyển ngữ phụ đính

Lloyd Billingsley

 http://www.independent.org/aboutus/person_detail.asp?id=1598

 

LLOYD BILLINGSLEY là Hội viên Danh dự về Chính sách tại Independent Institute (Học viện Độc lập) và là nhà bình luận gia trên tờ The Daily Caller. Ông tốt nghiệp  Đại học Windsor, cũng như từng là Giám đốc Biên tập tại Pacific Research Institute (Học viện Nghiên cứu Thái Bình Dương), nơi ông phụ trách mục Capital Ideas hàng tuần và cũng đã có viết nhiều bài nghiên cứu về các trường độc lập “charter school“, về tính cách trung lập trên Liên Mạng Internet, về mua bán qua Liên Mạng theo kiểu “e-commerce“ và về chính sách đối với người vô gia cư. Ông cũng từng là Ủy viên Báo chí tại David Horowitz Freedom Center (Trung tâm Tự do David Horowitz) , làm phóng viên cho Spectator (Người quan sát | Luân đôn) và tờ Washington Times, cũng như phụ trách phần hành City Editor (Biên tập Thành phố) của tờ Herald Tribune ở Pasadena, California.

LLOYD BILLINGSLEY cũng là tác giả của các tác phẫm Bill of Writes: Dispatches from the Political Correctness Battlefield; Hollywood Party: How Communism Seduced the American Film Industry in the 1930s and 1940s; Exceptional Depravity: Dan Who Likes Dark and Double Murder in Davis, California; From Mainline to Sideline: The Social Witness of the National Council of Churches.

Ông cũng từng viết trên các báo Wall Street Journal, Washington Post, Reason, National Review, San Francisco Chronicle, Los Angeles Daily News, San Diego Union-Tribune, Orange County Register, Detroit News cùng nhiều ấn bản khác.

Ông cũng có viết chuyện phim cùng cộng tác với các đài truyền hình và các sân khấu kịch nghệ.

►►

Trừ hình có Thượng Nghị Sĩ Janet Nguyễn thì các hình khác đều do người chuyển ngữ sưu tầm trên Liên Mạng.

Các đoạn nhấn mạnh bằng màu hay có gạch đít là của người chuyển ngữ.

Nhân vụ xử sự bần tiện này của đám dân cử Dân chủ tại tiểu bang California, Thượng Nghị Sĩ Janet Nguyễn cũng đã được tờ báo Los Angeles Times gọi là “a rising Republican star ~ một ngôi sao đang sáng chói của đảng Cộng Hòa”. 

https://en.wikipedia.org/wiki/Janet_Nguyen

1

Leading with Honor: Leadership Lessons from the Hanoi Hilton (January 7, 2014)

https://www.amazon.com/Leading-Honor-Leadership-Lessons-Hilton/dp/098387932X

2

Công chúng tiểu bang California cũng đã bắt đầu quá ư là chán chê và kinh tởm với tay Mỹ cộng Jerry Brown và thậm chí, những người Mỹ gốc Phi châu, chính những kẻ từng bị y nâng niu mua chuộc, thì nay cũng đã lên tiếng phản đối.

INVASION USA: ‘SANCTUARY’ FOR ILLEGALS BECOMES BLACKS’ WORST NIGHTMARE (bởi Jesse Lee Peterson)

http://www.wnd.com/2018/01/sanctuary-for-illegals-becomes-blacks-worst-nightmare/

3

Chi tiết cha truyền con nối là do sự kiện cha của đương sư, Edmund G. (Pat) Brown cũng đã từng nắm chức Thống đốc California trong 2 nhiệm kỳ trước khi bị Tổng Thống Ronald Reagan đánh bại vào năm 1966.

Tên Thống đốc Jerry Brown này từng nổi tiếng qua câu than phiền đừng “dump Vietnamese on California ~ đổ đám rác Việt vào tiểu bang California” dạo 1975, cái hậu quả bi đát cũng của cái tay thượng nghị sĩ Edward Kennedy mà đã từng vuốt mặt lạnh lùng chối bỏ trách nhiệm trong cái chết của người bạn gái, tên từng đã đành đoạn bác bỏ viện trợ cho VNCH chống lại làn sống đỏ vào những ngày cuối cùng đau thương của Miền Nam, rồi cũng phụ thêm cũng lại một tên Dân chủ khác là ứng cử viên George McGovern thì lạnh lùng tuyên bố với tờ Newsweek “I think the Vietnamese are better off in Vietnam ~ Tôi nghỉ là các người Việt tốt hơn nên cứ ở lại Việt Nam”, rồi cái tay Joe Biden phò tá của “viên huyền ngọc vẫn đục” Ồ-ba-má thì hùng hổ truy vấn là tại sao chính quyền Ford không chịu báo cáo đầy đủ số người tỵ nạn đã nhận là bao nhiêu rồi! Toàn là bọn Dân chủ Thiên tả Mỹ Cộng mà thôi! Đúng như TS Roger Canfield đã phân tách rõ ràng trong tác phẫm cả 2000 trang tên Americong của ông mà chúng tôi đã có chuyển ngữ.

http://www.breitbart.com/blog/2014/07/02/gov-jerry-brown-1975-don-t-dump-vietnamese-refugees-on-california/

Nhưng nay lại lớn tiếng với đạo luật California Values Act nhằm ngăn cấm các công chức liên bang thuộc Bộ Di Trú thi hành công vụ tại Cali, và tuyên bố công khai những “thành phố chứa chấp ~ sanctuary citiesnhằm công khai cho biết và kêu gọi hãy tới định cư (để giúp chúng lấy phiếu mọi người nhập cư bất hợp pháp trên đất Mỹ!).

Sao vậy ta?

Đơn giản: với Cộng sản, như Lê-Nin từng dạy dổ, “Cứu cánh biện minh cho phương tiện” mà thôi! Nay ta cần só phiếu của mấy thằng tỵ nạn bất hợp pháp thì ta phải bảo vệ và chấp chứa chúng nó mà thôi!

Cộng sản thì ĐÂU có sĩ diện. VC thì cũng cùng 1 cái lò mà thôi:

Xưa “Đánh Mỹ cút, Ngụy nhào!”

Nay “Rước Mỹ qua, Ngụy về!”

*****

~ II ~

Dưới đây là một bài viết trên tờ Washington Post thiên tả về bộ phim thiên Cộng này:

http://www.washingtontimes.com/news/2017/oct/4/the-vietnam-war-documentary-left-out-certain-facts/?utm_source=RSS_Feed&utm_medium=RSS

Facts ‘The Vietnam War’ left out

Communist barbarism that invited U.S. involvement was left on the cutting

Những Sự kiện mà bộ phim ‘The Vietnam War’ bỏ qua

Sự man rợ của cộng sản từng đã khiến Hoa Kỳ phải can dự mà đã không hề được nói tới khi thực hiện bộ phim

 ~ Lê Bá Hùng chuyển ngữ ~

Illustration on the Viet Nam War by Linas Garsys/The Washington Times

Minh họa về Viet Nam War do Linas Gays của The Washington Times

By/Bởi William Lloyd Stearman

Wednesday, October 4, 2017

 ANALYSIS/OPINION (PHÂN TÍCH/QUAM ĐIỂM):

 Bộ phim “The Vietnam War ~ Cuộc Chiến Việt Nam” của Ken Burns Lynn Novick chắc chắn là một màn truyền hình đánh lận con đen đầy dẫy những tin tức mà trên căn bản, chỉ nhằm xác nhận dùm cho cái quan điểm từng chủ trương là, dù quá ư là hao tổn vè nhân mạng và tốn kém về tiền bạc, cũng đã quả thật không thể nào mà chiến thắng được mà cũng không hoàn thành được bất cứ điều gì cả.

Ken Burns

Tên trung thành nhiệt tình ủng hộ đảng Dân Chủ Tả Phái Thiên Cộng Mỹ ►1

 

 Lynn Novick

Tên nữ tà-lọt ké hơi của Ken Burns,

Để đứng chung cho thêm `hoa lá cành` chớ chỉ 1 nhà sản xuất thì coi yếu quá! ►2

Sự căng thẳng đã đang xảy ra: chiến tranh quả đúng là địa ngục mà thôi. Chỉ người Mỹ thì mới thực sự lo đánh đấm mà thôi. (Đừng kể gì tới con số quân nhân Nam Việt từng khổ đau thiệt thòi và tử trận đến gấp cả bốn lần hơn mà thôi). Đã từng có một phong trào phản chiến khổng lồ ở Mỹ. Bọn địch rốt cuộc thì cũng là con người mà.

Toàn bộ phim đã tuyệt đối bỏ lơ qua lý do vì sao trước hết, chúng ta đã tham dự vào chiến trận này. Tổng thống Eisenhower đã từng phát biểu rõ ràng cái nhu cầu phải bảo vệ Nam Việt Nam vào ngày 7 tháng 4 năm 1955, khi ghi nhận là nếu mất đi Đông Dương, thì sẽ có khả năng tạo ra một ảnh hưởng dây chuyền kiểu các con bài ‘domino’ kéo nhau mà đổ, và do đó, chủ nghĩa cộng sản rồi cũng sẽ lan rộng khắp Đông Nam Á, đặc biệt là ở Miến Điện, Thái Lan, bán đảo Mã Lai và Indonesia.

Các nhà lãnh đạo tại các quốc gia trong khu vực đã nghiêm trang ghi nhận lời cảnh cáo của Eisenhower, cũng như các tay lãnh đạo ở Hà Nội và (sau đó là) Bắc Kinh. Sự can thiệp quân sự của chúng ta ở Việt Nam đã ngăn không cho các con cờ ‘domino’ kéo nhau mà đổ xuống, một sự kiện mà chính các nhà lãnh đạo trong khu vực cũng đã nhận chân ra được, điều cũng có nghĩa là chúng ta đã đạt được một chiến thắng về chiến lược, ngay cả dù chúng ta đã để thua tại Việt Nam.

Tất cả những chi tiết này đã được nêu lên ra đây, để chứng minh là, tuyệt đối không có thể nào mà nói được là cuộc chiến tranh đã là hoàn toàn vô ích, như là toàn bộ phim này đã muốn chúng ta phải tin theo. Tôi đã từng đến Nam Việt vào tháng chạp năm 1965 để bắt đầu suốt cả 10 năm dài can dự đến đất nước này, ngay từ những đồng ruộng lúa, rồi để đến cả Tòa Bạch Ốc.

Ngay sau khi tôi đến, tôi đã được tin là ở một ngôi làng gần đó, đã có hai phụ nữ trẻ, một nữ y tá và một nữ giáo viên, vừa bị Việt Cộng giết chết mất đi. Chính điều này đã thuyết phục tôi là chúng ta có chính nghĩa. Sự kiện này cũng chỉ là một kiểu của phương thức Việt Cộng dùng để hăm dọa cảnh cáo tất cả những ai, giống như hai cô gái trẻ vừa nói ở trên, những người chỉ bị mang tiếng là chỉ đại diện cho một sự hiện diện của chính quyền. Đến năm 1972, thì cũng đã có hơn cả 37.000 người bị phân hạng thuộc thành phần này, mà cũng đã bị bọn Việt cộng sát hại. Sự kiện này thì cũng đã không hề bao giờ được cho thấy trong suốt cả toàn bộ loạt phim này, dù là các phương tiện truyền tin của chúng ta cũng đã có tường thuật như vậy.

Một biến chuyển quan trọng khác đã là tình trạng giảm sút có quy mô lớn về các hoạt động của Việt Cộng do những tổn thất nặng nề mà chúng đã phải bị gánh chịu nhân trận Tết Mậu Thân 1968, mà cũng từ đó thì chúng cũng đã không bao giờ thực sự hồi phục lại được như củ. Điều này cũng đã được các phương tiện truyền tin của chúng ta cho biết nhưng mà cũng đã chỉ được nhắc đến một cách rất ư là hời hợt và hiếm hoi trong cái bộ phim này. Sự suy yếu của Việt Cộng cũng đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc bình định nông thôn mà, ngay lập tức, đã đưa đến một trong những cuộc cải cách ruộng đất thành công nhất trong lịch sử của nước Việt. Hầu như tất cả mọi nông dân sau đó thì cũng đều đã sở hữu được chính mãnh đất ruộng của họ. Tất nhiên, điều này thì cũng không hề bao giờ được trình bày dù là các phương tiện truyền tin của chúng ta cũng từng đã có tường thuật cho biết và cũng chỉ bị nhắc đến một cách hạn hiếm và rời rạc trong cái bộ phim này.

Hai vụ tàn bạo quan trọng cũng đã xảy ra nhân trận Tết Mậu Thân. Ngày 16 tháng 3 năm 1968 tại làng Mỹ Lai, quân đội Hoa Kỳ đã tàn sát hàng trăm thường dân người Việt ở mọi lứa tuổi. Thủ phạm chính là Thiếu úy William Calley, đã bị truy tố bắt và đã bị bị kết án bỏ tù.

Lực lượng Cộng sản đã chiếm giữ cổ thành Huế và cầm giữ ở đó trong suốt 25 ngày. Trong thời gian đó, bọn cán bộ tay cầm danh sách các công dân ở cấp chỉ huy thì lại đã đi từ nhà này sang nhà khác để còng tay bắt họ mang đi. Chúng cũng đã bắt đi luôn cả toàn bộ nhân viên người Đức của Trường Y Khoa Huế. Tổng cộng hơn 6.000 người đã bị cóc đi và đã bị biết là sau đó bị xử tử hình. Hà Nội thì cũng từng đã chính thức công khai nhìn nhận tội ác này. Nhiều ngôi mộ tập thể sau đó đã bị phát hiện gần đó. Trong khi vụ Mỹ Lai đã từng bị tường thuật rộng rãi bởi giới truyền tin Mỹ thì vụ Huế lại rất được ít ai nói tới. Và cũng vậy, bộ phim này thì cũng chỉ phớt qua vụ Huế mà thôi, trong khi thì ngược lại, bộ phim trình bày cặn kẻ đầy đủ trong chi tiết về vụ Mỹ Lai.  

Cuối cùng, chúng tôi cũng muốn nói đến cuộc tấn công vào Mùa Phục Sinh năm 1972, vụ tấn công có tính cách quy mô lớn đầu tiên trong toàn cuộc chiến đó, với rất nhiều nào là xe tăng, pháo binh tầm xa, hỏa tiễn và các loại vũ khí khác của bọn Liên Xô cung cấp cho đám Bắc cộng. Tất cả quân nhân bộ binh từng can dự trong trận chiến này thì hoàn toàn đều là người miền Nam Việt Nam. Người lính bộ binh cuối cùng của Hoa Kỳ thì cũng đã rời Nam Việt Nam rồi, chiếu theo chương trình Việt Nam hóa. Chỉ còn hiện diện trên chiến trường về phía Hoa Kỳ là các cố vấn và các nhân viên kiểm soát không lưu mà thôi.

Tôi đã bị bất ngờ phải can dự vào trận đại công kích này và rồi sau đó, thì cũng đã nhận chân ra là phe phía chúng ta đang thua trận mất rồi. Chỉ cái khả năng không trợ muôn trùng từ phía Hoa Kỳ mới đã giúp mang lại cái kết quả cốt yếu cuối cùng. Bộ phim này thì cũng có trình chiếu trận đại công kích này trong một vài chi tiết nào đó, nhưng cũng lại bỏ qua không hề nói đến các thiệt hại nặng nề của bộ đội Bắc cộng. Bọn chúng đã thiệt mất cả trăm ngàn binh lính ngay tại chiến trường, gấp đôi cả tổng số quân nhân Mỹ từng đã bỏ mạng khi lâm trận trong tòan cuộc chiến. ►3

Nếu mà những cộng tác viên trong bộ phim này mà đã thực sự làm cho đúng cái vai trò đúng nghĩa của họ, thì họ cũng đã phải biết trước được là sau khi cuối cùng Cộng đã thắng, một tay tướng cao cấp Bắc cộng đã có viết trong tờ báo đảng là vào mùa Thu năm 1972 thì bộ đội của chúng đang bị đánh tan nát và sắp bị thua trận mất rồi

Bộ phim này cũng đã không cho biết bằng cách nào mà chúng đã thoát khỏi bị thất trận vì nhờ đã bịp được tay xếp của chúng ta là Henry Kissinger, qua hành vi chấp nhận tái hòa đàm cùng hứa hẹn sẽ chịu chấp thuận những nhượng bộ mà đương sự vẫn đang ráng tìm kiếm.

Đúng ra bộ phim đã phải nhấn mạnh là chính tình trạng Hoa-thịnh-đốn đã cứ xen vào chi tiết trong việc tiến hành cuộc chiến, chính họ đã không cho phép chúng ta tấn công vào Lào và Cambodia, chính chỉ vì sợ sẽ “mở rộng chiến tranh” mà thôi. Nếu mà chúng ta đã được cho phép đóng chốt cứng con Đường Mòn Hồ Chí Minh tại Lào bằng bộ binh, cũng như là dẹp bỏ không cho địch thiết lập các bộ chỉ huy cùng trung tâm hậu cần tiếp liệu tại Cambodia, thì thật rõ ràng là chúng ta đã có khả năng để thắng cuộc chiến này rồi.

  • William Lloyd Stearman

William L Stearman

https://en.wikipedia.org/wiki/William_L_Stearman

William Lloyd Stearman, là một nhân viên ngoại giao Hoa Kỳ đã về hưu, từng phục vụ như là cố vấn trong Hội đồng An ninh Quốc gia Tòa Bạch Ốc dưới thời các Tổng Thống Nixon, Ford, Reagan và George H.W. Bush, cũng như luôn cho Henry Kissinger lúc đương sự làm Ngoại Trưởng.

Ông cũng là Phụ tá Giám đốc của Cơ quan Arms Control and Disarmament Agency (Kiểm soát và Giải giới).

Năm 2012, ông đã xuất bản quyển hồi ký “An American Adventure: From Early Aviation Through Three Wars, to the White House” (Naval Press Institute, Annapolis, MD).

*****

Của người chuyển ngữ phụ đính

Hình đều do người chuyển ngữ sưu tầm trên Liên Mạng.

Các đoạn nhấn mạnh bằng màu hay có gạch đít là của người chuyển ngữ.

1

https://en.wikipedia.org/wiki/Ken_Burns

Kenneth Lauren “Ken” Burns, sanh năm 1953, là một tay làm phim Mỹ từng được biết đến về loại phim tài liệu bằng cách tái dùng những đoạn phim củ và hình ảnh đã được lưu trử từ trước.

Burns là một tên trường kỳ ủng hộ Đảng Dân chủ, đã có đóng góp tới cả 40.000 Mỹ kim. Trong năm 2008, Ủy ban Quốc gia Dân chủ đã chọn Burns để sản xuất dùm bộ ‘video’ giới thiệu cho bài phát biểu của Nghị sĩ Edward Kennedy vào tháng 8 nhân Đại hội Quốc gia Dân chủ, mà công ty báo chí chuyên trách về chính trị Politico có văn phòng trung ương tại Arlington County, Virginia, đã mô tả đố như là một “kiểu bưng bô của tay Burns” dành cho Kennedy, đề cao y như là một một tay Ulysses (thần tượng cổ Hy Lạp) tân kỳ mà đang mang được con thuyền đảng về được bến bờ an toàn sau cơn giong bão ngoài đại dương! Vào tháng 8 năm 209, khi Kennedy qua đời, chính Burns cũng đã tung ra một ‘video’ ngắn hậu sự nhằm ca tụng kẻ quá cố. Rồi khi ủng hộ Barak Obama ứng cử chức vụ Tổng Thống Mỹ trong tháng chạp năm 2007, cũng chính tay Burns này đã vọng ngữ so sánh Obama với Abraham Lincoln!

Nâng bi như vậy thì cũng quá tuyệt, và cũng ĐỦ để nói lên tinh thần THỰC SỰ của biooj phim tràn giang đại hải “cả vú lắp miệjng em” mà chắc chắn chỉ những vị ăn không ngồi rồi, không biết làm gì mới phí thì giờ ngồi còng lưng ‘thưởng thức’!

2

https://en.wikipedia.org/wiki/Lynn_Novick

Lynn Novick là một giám đốc chuyên sản xuất phim tài liệu, được nổi tiếng nhờ đã cộng tác được với Kenneth Lauren “Ken” Burns. Đương sự chào đời năm 1962 và trưởng thành tại Nữu Ước, sau đó, đã tốt nghiệp ‘magna cum laude with honours’ tại đại học Yale về môn ‘American Studies’.

Y thị nguyên là một phụ tá đặc trách về truy tìm tài liệu tại Smithsonian Institution’s National Museum of American History trước khi chuyển qua nghề phụ tá làm phim tại WNET, một đài truyền hình công tại Manhattan, sau đó phụ tá cho Bill Moyer trong các bộ Joseph Campbell and the Power of Myth A World of Ideas, rồi cuối cùng qua làm cho Florence Films từ năm 1989 trong tư cách phụ tá cho tay Burns, và dỉ nhiên cuối cùng là bộ phim hắc ám The Vietnam War này!

3

https://www.theguardian.com/world/2013/oct/04/vietnam-general-giap-dies

Trong một lần phỏng vấn bởi phóng viên Stanley Karnow, Tướng Westmoreland đã nhận xét là nếu một tướng Mỹ điều binh mà thí quân theo kiểu của Giáp thì chắc chắn là đã bị cách chức và lột lon từ lâu rồi!

*****

~ III ~

Five myths about the Vietnam War

5 Huyền Thoại về cuộc Chiến Việt Nam

https://www.washingtonpost.com/outlook/five-myths/five-myths-about-the-vietnam-war/2017/09/29/467ef3e0-a474-11e7-ade1-76d061d56efa_story.html?utm_term=.6340ec51e32c

 ~ Lê Bá Hùng chuyển ngữ ~

 Không, cái đám du kích VC đã không hề là những con gà non can đãm (scrappy underdogs) từng dám đứng lên chống lại cái quân đội bất tài của VNCH đâu.

An Army captain, left, leads Vietnamese copter-borne troops through rice paddies in hunt for Viet Cong soldiers in 1963. (Larry Burrows/TIME & LIFE PICTURES/GETTY IMAGE)

 Một đại úy bộ binh, bên trái, đang xung phong với các binh sĩ được trực thăng vận xuyên qua những cánh đồng lúa truy diệt bọn du kích VC dạo 1963.

(hình của Larry Burrows/TIME & LIFE PICTURES/GETTY IMAGE)

 

 CAO THỊ LAN, giáo sư Luật tại Chapman University’s Fowler School of Law

cũng là tác giả của quyển Lotus and the Storm (Penguin Books ~ 2015), mà cũng đã từng có ra mắt quyển Monkey Bridge (Penguin Books ~ 1998)

Ken Burns Lynn Novick tuyên bố là bộ phim tài liệu của PBS (Public Broadcasting Service) về Cuộc Chiến Việt Nam, mà vừa đã chấm dứt chiếu xong trên đài trong tuần vừa qua, đã nhằm để giải bày ra trắng đen một cuộc xung đột phức tạp, hầu bắt tay vào tiến trình hàn gắn và hòa giải. Bộ phim này đã lại sôi nóng cuộc chiến tranh Việt Nam trở lại trong tiềm thức của quốc gia Mỹ. Nhưng dù đã có biết bao nhiêu là hàng ngàn sách vở, bình luận và phim ảnh về cái thời gian đó trong lịch sử của chúng ta, thì vẫn đã luôn luôn tồn tại lại biết bao nhiêu là huyền thoại, mà vẫn cứ ăn sâu vào tiềm thức của dân gian.

HUYỀN THOẠI SỐ 1

Đám VC chỉ là một lực lượng du kích tay mơ

Sử học gia Ronald Aronson đã từng mô tả chính phủ Hoa Kỳ đương thời với bọn nổi loạn ngông cuồng bằng những đoạn văn như là “những phương tiện và kỹ thuật cực kỳ vượt trội, và khả năng quân sự đượm tính chế ngự trên toàn cầu”, hay là “người khổng lồ Goliath đã đang tìm cách áp đặt xuống em bé nhỏ David một nền hòa bình thuận lợi theo quan điểm của đương sự”. Cách phiên diễn theo một cách khác gần đây thì cũng đã có so sánh bọn Việt Cộng với tổ hợp Uber: “Những thành viên trẻ tuổi, non dại mà cũng không dư dã gì mà đang cố gắng phá vỡ các quy tắc hầu tạo ra những tiêu chuẩn mới, khiến cho kẻ thù sẽ phải bị ngở ngàng mà thôi”.

 

Ronald Aronson 1

 

 Trên thực tế, đám Việt Cộng, cái lực lượng thiên Bắc ở Nam Việt Nam, thì cũng đã được Bắc Việt trang bị cho vũ khí, mà chính chúng cũng đã lên kế hoạch, kiểm soát và điều khiển mọi chiến dịch của Việt Cộng trong Nam, điều có nghĩa là đã được trang bị bởi ngay chính Liên Xô và Trung Cộng mà thôi. Theo CIA, từ năm 1954 đến năm 1968, các quốc gia cộng sản này đã cung cấp cho Bắc Việt tới cả 3 tỷ 2 Mỹ kim về viện trợ quân sự và kinh tế, mà phần lớn đã chính là sau năm 1964, khi chiến tranh đã gia tăng. Nhiều nguồn tin khác thì cũng có chủ trương là cái con số đó đúng ra là phải bị nhân gấp đôi thì mới đúng với sự thật.

Đám Việt Cộng vẫn đã có được loại AK-47 hiện đại và công hiệu, một loại súng trường tự động do Liên Xô sản xuất được xem là tương đương với loại súng M-16 do quân đội Mỹ đang sử dụng vào lúc đó. Bộ binh của chúng cũng được trang bị với súng tiểu liên, lựu đạn, phóng hỏa tiễn cùng cả giàn đủ loại vũ khí khác.  Ngược lại, quân đội Hoa Kỳ đã chỉ giao cho quân đội Nam Việt Nam những chiến cụ lổi thời thuộc thời Thế Chiến thứ II, như loại súng trường M-1, và cứ như vậy cho đến mãi cuối chiến trận mà thôi.

HUYỀN THOẠI SỐ 2

Số người tỵ nạn tới Mỹ đều chỉ từng là những thành phần ưu tú trong xã hội Việt Nam

Theo như nhân viên Alicia Campi thuộc Immigration Policy Center (Trung tâm Chính sách Nhập cư) đã từng khẳng định, thì con số 130.000 người Việt Nam đã đến Hoa Kỳ vào cuối cuộc chiến “nói chung là có khả năng nghề nghiệp cao và có trình độ học vấn cao”. Nhà xã hội học Carl Bankston cũng đã có mô tả nhóm người này là “tầng lớp tinh hoa của miền Nam Việt Nam“.

Tuy là nhóm người bỏ nước chạy đi vào năm 1975, thường được gọi là làn sóng đầu tiên, đã có trình độ học vấn cao và thuộc giới trung lưu, rất nhiều người mà sau đó đã đến thông qua các nỗ lực di tản do Hoa Kỳ bảo trợ, thì đều chỉ là những người từng đã có quan hệ gần gũi với các Mỹ kiều ở Việt Nam, mà Hoa-thịnh-đốn đã từng hứa sẽ giải cứu. Họ thì quả không nhất thiết là những người “ưu tú” được. Họ đã toàn là những quân nhân bình thường của Nam Việt Nam cũng như là những người đã từng làm thư ký hay tống văn thư tại Tòa Đại sứ Hoa Kỳ mà thôi.

Làn sóng tị nạn thứ nhì từng rời Việt Nam sau năm 1975 thì gồm độ 2 triệu người. Họ đã từ các vùng nông thôn và thường có trình độ học vấn thấp. Đa số đã ra đi trốn thoát trên những chiếc thuyền gỗ mỏng manh và cũng đã bị biết đến như là những “boat people ~ thuyền nhân“; họ đã tới tràn nghập tại các nước láng giềng “tị nạn tiên khởi – first asylum“, như là Mã-lai-á, Thái Lan, Phi-luật-tân, Hồng Kông và Indonesia – với mức độ từ 2.000 đến cả 50.000 người mỗi tháng. Đã có hơn cả 400.000 người đã được nhận vào định cư tại Hoa Kỳ.

Làn sóng thứ ba của người tị nạn, mà theo đó thì độ 159.000 người đã đến Hoa Kỳ bắt đầu từ năm 1989, cũng đã là con cái của những người cha Mỹ với các bà mẹ Việt Nam, cũng như là các tù chính trị và những người đã từng bị đày đọa trong các cái gọi là “trại cải tạo”.

HUYỀN THOẠI SỐ 3

Đa số quân nhân Hoa Kỳ là lính quân dịch

Nền văn hoá quần chúng thì lại toàn là những hình ảnh cho thấy số quân nhân tới phục vụ rồi bỏ mạng tại Việt Nam thì toàn chỉ là những người lính quân dịch trong các gia đình nghèo và thuộc các nhóm sắc tộc thiểu số. Quan điểm này chế ngự toàn các bộ phim như là “Forrest Gump” của Robert Zemeckis, “The Things They Carried” của Tim O’Brien và “The Deer Hunter” của Michael Cimino, cũng như trong các phim và sách khác nữa luôn . James Fallows thì lại tuyên bố Việt Nam đã là “cuộc chiến tranh giai cấp om sòm nhất kể từ Cuộc Nội Chiến” trong quyển “More Like Us” xuất bản vào năm năm 1989 của ông ta.

Trong thực tế, các sự kiện thì đã ngược lại hẳn. Từ dạo 1964 đến năm 1973, số quân nhân tình nguyện đã cũng hơn cả gấp bốn lần số quân nhân chuyên nghiệp tình nghuyện. Và Quân đội Hoa Kỳ cũng đã không hề chỉ chủ yếu dựa vào những người dân yếu kém trong xã hội hay có gốc Phi châu. Theo “Report of the President’s Commission on an All-Volunteer Armed Force ~ Báo cáo của Uỷ ban thuộc Tổng thống Phủ về Quân đội Hoàn toàn Tự nguyện)” trong tháng 2 năm 1970, người Mỹ gốc Phi “chỉ chiếm có 12,7% trong số gần 1,7 triệu quân nhân tình nguyện nhập ngũ trong năm 1969”.  Đã có một tỷ lệ cao hơn của số người Mỹ gốc Phi châu đã bị gọi nhập ngũ trong những năm đầu của chiến tranh, nhưng cũng không có nghĩa là họ đã có nhiều cơ hội để chết trên chiến trường hơn là những đồng ngũ khác. Độ 77 % quân nhân thì ít nhất cũng đã có trình độ học vấn bậc trung học (so với 63 % của số cựu chiến binh thời chiến trận Hàn Quốc và 45 % thời Thế chiến II). Theo tạp chí Veterans of Foreign Wars VFW, 50% là thanh niên giới trung lưu, và 88% là người da trắng (với tới 86% số tử trận).

HUYỀN THOẠI SỐ 4

Quân địch đã đánh phá vào được trong Tòa Đại sứ Hoa Kỳ trong Trận Tết mậu Thân

Một trong những sự kiện từng làm đảo ngược công luận nhất trong Cuộc Chiến Việt Nam đã là cuộc tấn công của Việt Cộng vào Tòa Đại sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn vào năm 1968. Vị cựu đại sứ đã về hưu là David F. Lambertson, người từng phục vụ như một nhân viên về chính trị ở đó, đã có cho biết trong một trang nhà trên Liên Mạng là “nó quả là một cú đối với dư luận Mỹ và thế giới. Cuộc tấn công vào Tòa Đại sứ, cái biểu tượng mạnh mẽ nhất [của sự hiện diện Hoa Kỳ] đã báo hiệu rằng đang có điều gì đó không ổn đang xảy ra tại Việt Nam. Vụ tấn công Tết Mậu Thân đã bẻ nát sự ủng hộ của công luận Mỹ”. Các bản tường trình lúc ban đầu của Associated Press thì đã loan tin là Việt Cộng đã chiếm đóng được tòa đại sứ. United Press International thì loan tin là lính địch đã chiếm được luôn tới cả năm từng lầu của Tòa Đại sứ mất rồi. 

Trên thực tế, bọn cộng sản chỉ đã cho nổ được có một cái lỗ xuyên qua được bức tường bên ngoài của tòa Đại sứ và rồi cũng bị cầm chân cứng ngắt trong một cuộc đụng độ súng kéo dài tới sáu tiếng đồng hồ với các lực lượng Hoa Kỳ và VNCH. Tòa Đại sứ đã không hề bao giờ bị chiếm đóng cả, và bọn tấn công Việt Cộng đều đã bị giết chết hết. Các cuộc tấn công có phối hợp khác của địch dạo Tết Mậu Thân với con số 60.000 quân địch nhằm tấn công các mục tiêu của miền Nam Việt Nam đều đã bị đẩy lùi. Don Oberdorfer, nhân khi viết cho Tạp chí Smithsonian Magazine, thì cũng đã ghi nhận vụ Tết Mậu Thân đã từng là một thảm hoạ quân sự cho miền Bắc, ấy vậy, đó lại “cuối cùng là một chiến thắng” cho địch.

Một phần nào đó, thì cũng chỉ vì những bản tường trình sai lầm về vụ tấn công vào Tòa Đại sứ Hoa Kỳ cũng đã làm tan nát niềm tự tin của người Mỹ, mà cũng gieo một nổi niềm nhục nhã vào tâm tư của họ, và đã không có một chiến thắng nào khác sau dịp Tết đó, mà lại đã có thể giải tỏa cho được cái quan niệm quá ư là cường điệu là nỗ lực chiến tranh cũng chỉ là vô vọng mà thôi.

HUYỀN THOẠI SỐ 5

QLVNCH đã không muốn và không có khả năng chiến đấu

Có một số đã cho là QLVNCH (ARVN), quân đội của Miền Nam Việt Nam, đã không đủ khả năng đê chu toàn nhiệm vụ từng được giao phó. Andy Walpole, nguyên thuộc Đại học Liverpool John Moores, đã từng có viết là “họ đã [không muốn] tham chiến chống các du kích quân, mà chỉ muốn không chết thay vì phải cần thắng địch”.  Harry F. Noyes, từng phục vụ ở Việt Nam, cũng đã phàn nàn về cái quan niệm sai lầm rất được phổ biến rộng rãi này: “Ai thì cũng đều biết là ‘họ’ bất tài, gian dối mà lại còn hèn nhát nữa mà thôi!”.

Andy Walpole

Harry F. Noyes 2

Nhưng những người đã từng có cùng chiến đấu bên cạnh với QLVNCH thì lại hoàn toàn có một quan niệm ngược hẳn lại. Tướng Barry R. McCaffrey, vị cố vấn cho Sư Đoàn Dù Nam Việt Nam, đã than phiền là “sự hy sinh, lòng dũng cảm và chí quyết tâm của QLVNCH đã gần như hoàn toàn biến mất trong tiềm thức của  chính giới và truyền tin của Mỹ”. Ông đã viết về cái tinh thần chiến đấu kiên cường không nghỉ của các quân nhân đó, đặc biệt là tại Trận Đông Hà, nơi mà họ đã được giao phó cho trách nhiệm yểm trợ các đơn vị Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ. Ông từng nhớ lại là “Tại chiến trường, quân đội miền Nam Việt Nam dứt khoát không chịu bỏ lại các đồng đội đã chết hay bị thương tại đó, cũng như không bao giờ chịu vứt bỏ vũ khí của họ“.  

Các lực lượng của QLVNCH đã từng đánh bại các trận đột kích của cộng sản vào Sài Gòn và những nơi khác trong cuộc Tấn công Mậu Thân năm 1968. Theo tướng Creighton Abrams, chỉ huy trưởng của quân đội Mỹ tại Nam Việt Nam từ năm 1968 đến năm 1972, thì trong tháng 8 và tháng 9 năm đó, “quân đội miền Nam Việt Nam đã tiêu diệt địch nhiều hơn cả số mà toàn thể các đơn vị đồng minh khác đã thực hiện được . . . [và] cũng bị [con số tử trận] cao hơn, cả nếu so trên thực tế lẫn trên căn bản tỷ lệ giữa địch với bạn tử trận”, bởi vì họ đã không có được không trợ và yểm trợ chiến thuật khác đủ nhiều như các đơn vị Mỹ”. Trong tháng 3 năm 1972, nhân cuộc tấn công vào mùa Phục Sinh, các lực lượng quân sự Nam Việt Nam, với sự hỗ trợ của Không quân Hoa Kỳ, cũng đã chiến thắng được cuộc xâm lấn theo quy ước của quân thù với lực lượng tới cả 20 sư đoàn địch. Theo một báo cáo thì vào tháng 4 năm 1975, Sư đoàn 18 của QLVNCH, đang chịu trách nhiệm bảo vệ Xuân Lộc, đã “chận đứng được các cuộc tấn công qui mô của cả toàn bộ một quân đoàn Bắc cộng luôn“. Cuối cùng, dù sao, chính số mệnh của những người quân nhân đó mới là quan yếu hơn là sinh mệnh của những người Mỹ mà thôi.

Twitter: @lancaowrites

*****

Của người chuyển ngữ phụ đính

Hình đều do người chuyển ngữ sưu tầm trên Liên Mạng.

Các đoạn nhấn mạnh bằng màu hay có gạch đít là của người chuyển ngữ.

1

Ronald Aronson là giáo sư về History of Ideas tại Đại học Wayne State University, Michigan và cũng là lãnh tụ của phong trào xã hội. Đương sự cũng là chủ bút của Studies on the Left, từ 1966 đến 1967, một ấn bản với tôn chỉ “hồi phục lại các học bổng cấp tiến tại Mỹ và tạo ra một sự hiểu biết cấp tiến mới về hệ thống kinh tế và chính trị Hoa Kỳ”.

Y nguyên là một trong những tay khởi động phong trào Tân Tả Mỹ, là môn đệ của Herbert Marcuse và cũng là thành viên sáng lập phong trào New American Movement.

2

HEROIC ALLIES

http://www.vietamericanvets.com/page-records-heroicallies.htm

Harry F. Noyes đặc biệt RẤT yêu quý người bạn Nam Việt và đã thân tình viết nổi niềm tâm sự tại bài nói trên.

*****

Đặc biệt, trang trên Liên Mạng tên gọi là Power Line cũng đã nhập cuộc để đem lại CHÂN LÝ trong nội vụ này, hầu tránh để bọn Thiên Tả Mỹ Cộng hiện nay cứ tiếp tục đầu độc dư luận Mỹ, đặc biệt là giới trẻ mới lớn, còn thiếu kinh nghiệm về đại họa Cộng Sản của Thế Kỷ 20 vừa qua.

Power Line

http://www.powerlineblog.com/about-us

Trang trên Liên Mạng có tính cách bảo thủ về tin chính trị Power Line này đã được nổi tiếng và được tôn trọng trong phe cánh hữu, sau loạt phóng sự về vụ tài liệu Killian nhân cuộc bầu cử Tổng Thống Mỹ năm 2004, nhằm phát hiện các tài liệu giả mạo nhằm vu cáo George W. Bush thời phục vụ trong Texas Air National Guard, mà theo đó, ông ta đã né để không phải qua phục vụ tại Việt Nam.

Năm 2004, báo Time đã tuyển định Power Line là “Blog of the Year” chưa từng bao giờ đã có được. Rồi theo lưu trử của AOL, ngay trang đầu liệt kê các danh sách những địa chỉ trên Liên Mạng, thì Power Line cũng đã là một trong năm địa chỉ đầu tiên được ghi danh. Một tường trình của Ủy ban National Republican Senatorial Committee thì cũng ghi nhận Power Line như là một trong năm trang ‘blog’ bảo thủ trên toàn quốc mà đã lôi cuốn nhiều người theo dõi nhất.

Các cộng tác viên của Power Line đều là những luật sư cũng như là luật gia uyên thâm lão luyện trong nghề, từng đặc biệt ủng hộ nhiệm kỳ tổng thống của George W. Bush, đặc biệt là với cuộc Chiến Iraq và Cuộc chiến chống khủng bố. Nhưng họ cũng chỉ trích ông Bush là đã không đủ khá bảo thủ về nhiều vấn đề, kể cả như là về chính sách nhập cư và chính sách dấn thân (affirmative action). Trang ‘Blog’ kêu gọi nên đề cử và bổ nhiệm các thẩm phán bảo thủ thời chính quyền Bush và thường xuyên đăng những bài nhằm phân tích các phán quyết. Power Line thường chỉ trích kịch liệt các đảng viên đảng Dân chủ và những kẻ theo khuynh hướng tự do, cáo buộc tính cách không trung thực, vô đạo đức, phán đoán sai lạc và phản quốc với ngay nước họ là Hoa Kỳ. Thỉnh thoảng họ cũng có chỉ trích các đảng viên đảng Cộng hòa về những sai lầm tương tự, như Thượng nghị sĩ John McCain khi ông chủ trương là Mỹ không nên “tra tấn” các nghi phạm về tội khủng bố hay “bọn chiến binh địch”.

John H. Hinderaker 

 Đứng đầu Power Line là Luật sư John H. Hinderaker có trên 41 năm trong nghề và từng nhiệm cách trên toàn quốc. Ông đã về hưu vào cuối năm 2015 và hiện là Giám đốc của trung tâm nghiên cứu Center of the American Experiment có trụ sở chính ở tại Minnesota.

Ông từng tốt nghiệp các đại học Dartmouth CollegeHarvard Law School. Trong thời gian hành nghề, ông đã được tuyên nhận như là một trong những luật sư giỏi nhất về thương mãi cũng như là 1 trong số 100 luật sư giỏi nhất của tiểu bang Minnesota, và cũng được ngay các đồng nghiệp bầu là một trong những luật sư đáng kính nhất của tiểu bang. Ông đã được thường xuyên đưa vào danh sách The Best Lawyers in America và vào năm 2005, cũng đã được bầu là Minnesota’s Super Lawyer of the Year.

Ngoài ra, cũng có hai cộng tác viên với các bài viết về bộ phim The Vietnam War được chuyển ngữ dưới đây là: 

 

Steven Hayward 

Steven Hayward là hội viên danh dự Thomas Smith Distinguished Fellow tại Trung Tâm Ashbrook Center thuộc Đại học Ashland University ở tiểu bang Ohio, nơi ông điều khiển chương trình mới của đại học về kinh tế chính trị và cũng là giáo sư danh dự William Simon Distinguished Visiting Professor tại Pepperdine University’s Graduate School of Public Policy. Ông tốt nghiệp Tiến sĩ về American Studies và Cao học về Government tại đại học Claremont Graduate School.

Ông thường xuyên được mời cộng tác trên các chương trình phát thanh của Bill Bennett tên gọi “Morning in America” thuộc hệ thống truyền tin Salem Broadcasting Network mà cũng đã được cả tới 230 đài khác cùng phát hàng ngày để đưa đến cho tới cả 3 triệu thính giả trên toàn quốc Mỹ. Ông cũng vừa mới ra mắt cuốn sách The Politically Incorrect Guide to the Presidents, From Wilson to Obama.

Joe Malchow 

Joe Malchow từ năm 2006 thì chuyên đãm nhiệm phần hành đăng bài, quản lý về thương vụ và khuếch trương trang. Ông là một nhà đầu tư năng động về kỹ thuật tại Menlo Park, California. Ông đồng sáng lập Publr mà đã phát triển được các kiểu quảng cáo theo kiểu ứng dụng theo thuật toán (algorithmically driven) dùng trên Liên Mạng.

Ông từng có viết nhiều bài về văn hóa và chính trị cho The Wall Street Journal, The Far Eastern Economic Review, The Manhattan Institute, National Review Online, The Wall Street Journal ấn bản Âu châu và Á châu.

Jake Tapper đã từng giới thiệu ông ta vào năm 2008. Năm 2008, ông đã được tờ Forbes liệt kê trong danh sách “30 Under 30”.

Ông cũng thỉnh thoảng có viết thêm về các tiêu chuẩn của loại nhạc “jazz“ và “opera“, cũng như là về “Great American Songbook“ (mà cũng đã khiến nhiều người đâm ra bực bội).

Ông tốt nghiệp đại học Dartmouth College vào năm 2008 và nhận bằng J.D. Juris Doctor tại học Stanford University vào năm 2013.

Các cộng tác gia trên Power Line đều cho là giới truyền tin đang bị cơn bệnh trầm kha thiên vị tự cho mình theo khuynh hướng tự do có hệ thống, vì nhờ đã có được quá nhiều phóng viên và biên tập viên thuộc phe nhánh này. Họ thường nêu lên nổi nghi ngờ đối với các hệ thống đưa tin như Associated Press, BBC, Reuters, The New York Times và The Washington Post. Các tác giả Power Line đã liên tục ủng hộ chủ trương là cần phải truy tố về hình bọn lộ tin làm việc trong CIA và các cơ quan truyền tin, mà đã từng đem ra tiết lộ công khai các tin tức về an ninh quốc gia. Họ cũng thường xuyên chỉ trích tờ báo Star Tribune tại Minneapolis, quê hương của hai sáng lập viên của Power Line.

~ IV ~

Bộ Phim The Vietnam War

 của KEN BURNS

 ~ Lê Bá Hùng chuyển ngữ ~

ĐĂNG NGÀY 26 THÁNG 9 NĂM 2017 BỞI SCOTT JOHNSON TRONG MỤC  HISTORY, MEDIA

http://www.powerlineblog.com/archives/2017/09/ken-burnss-the-vietnam-war.php

 

Mark Moyar

 

Mark Moyar nguyên là sử gia và tác giả của quyển Triumph Forsaken: The Vietnam War 1954-1965, một cách xét lại lịch sử của cuộc chiến tranh tại Việt Nam, cũng như của nhiều cuốn sách quan trọng khác. Mark là giám đốc của chương trình Project on Military and Diplomatic History tại trung tâm Center for Strategic and International Studies (CSIS). 1 Không có ai khác hơn để có ý kiến về bộ phim lịch sử của chiến tranh 10-phần, 18-giờ của PBS/Ken Burns và Lynn Novick mà tôi lại có thể thích hơn được. Mark sẽ đăng các loạt bài này sau khi bộ phim chấm dứt vào thứ năm này.

Tới hôm thứ Sáu, tại trung tâm của CSIS, Mark sẽ đứng ra tổ chức và cùng tham dự một cuộc bàn cãi / thảo luận với các sử học gia và cựu chiến binh nổi tiếng, gồm có ba người từng đã làm việc ngay rồi trong ban cố vấn về phương diện sử cho nhà sản xuất phim. Đại diện cho một số quan niệm rộng rãi, các tham dự viên sẽ cùng nhau đánh giá các tài liệu đã được dùng. Theo CSIS, họ sẽ không chỉ đào sâu về những thành tựu về lịch sử và về nghệ thuật của bộ phim, mà cũng luôn cả tính cách xác đáng hay không, đối với những cuộc tranh luận đương thời về đề tài là vai trò của nước Mỹ trên thế giới phải là ra sao. Các tham dự viên thì dĩ nhiên, gồm có ngay chính Mark, nhưng cũng có Thomas Vallely (Đại học Harvard), Lewis Sorley (học giả độc lập), Marc Selverstone (Đại học Virginia), Gregory Daddis (Đại học Chapman), Trần Anh Nữ (Đại học Connecticut), Jay Veith (học giả độc lập) và Erik Villard (US Army Center of Military History).

Buổi hội thảo sẽ được trực tuyến truyền hình tại trang của CSIS dưới đây từ 3 giờ cho tới 5 giờ chiều:

https://www.csis.org/events/discussion-landmark-documentary-vietnam-war-ken-burns-and-lynn-novick

Trong thời gian dành cho mục ‘hỏi-và-trả lời’ thì các câu hỏi có thể dược ‘tweeted’ tới @CSISPMDH. Tôi thì cũng chắc chắn sẽ theo dõi và cũng nghỉ là các đọc giả của Power Line đang theo dõi thì cũng vậy thôi.

*****

Hình đều do người chuyển ngữ sưu tầm trên Liên Mạng.

Các đoạn nhấn mạnh bằng màu và có gạch đít là của người chuyển ngữ.

1

CSIS thì là một loại tổ hợp nghiên cứu “think tank“ về chính trị, chỉ sống vì tiền, từng ăn tiền VC, ăn tiền Hillary Clinton v. v. . .  mà chúng tôi cũng đã từng đề cập đến qua mấy bài chuyển ngữ của các tường trình Rushford tại

Rushford #8: Trớ Trêu VC Chi Tiền để Xin Mỹ Giúp

https://lehung14.wordpress.com/linh-tinh-miscellaneous/rushford-8-tro-treu-vc-chi-tien-xin-my-giup/

và kế tiếp.

*****

~ V ~

BỘ PHIM “THE VIETNAM WAR“

THEO KIỂU CỦA KEN BURNS

 ~ Lê Bá Hùng chuyển ngữ ~

ĐĂNG NGÀY 1 THÁNG 10 NĂM 2017 BỞI PAUL MIRENGOFF TRONG MỤC CULTURE, HISTORY, MEDIA

http://www.powerlineblog.com/archives/2017/10/the-vietnam-war-gets-the-ken-burns-treatment.php

Tôi đã không có coi hết toàn bộ phim dài cả tới 18 tiếng đồng hồ của Ken Burns về Cuộc Chiến Việt Nam, nhưng tôi cũng đã có ráng tự buộc phải chịu đựng cho qua được độ hai phần ba bộ phim đó. Tôi nhận ra phiên bản của Burns về trận chiến này là thiên vị và phiếm diện.

Scott 1 quả đã có đóng góp phần nào, trong việc đăng lên Liên Mạng tin về một cuộc hội thảo về bộ phim này, mà đã được tổ chức tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS). Như Scott nói, bài trình bày của Lewis Sorley, mà đã bắt đầu vào phút thứ 48, đã đưa ra một phê bình phá nát tả tơi cái kiểu tường thuật Cuộc Chiến Việt Nam theo cái mẫu của Burns. 2 Nhưng chúng ta cũng nên cẩn thận lắng nghe số người cùng tham gia khác. Tôi nghĩ là quý bạn rồi cũng sẽ nhận thấy rằng nhiều người trong số họ đã phê bình là bộ phim quá ư là  phiếm diện mà thôi, tuy là họ cũng đã khá lịch sự, để khỏi phải tuyên bố bộc trực ra mà thôi.

Tôi thì muốn bình luận về cái loại nhạc lồng trong bộ phim. Burns cứ liên tục cho phát thanh cái loại nhạc “ấn tượng” của thời Việt Nam mà chuyên chỉ để phục vụ cho phong trào phản chiến mà thôi. Khi bọn biểu tình xuất hiện, chúng ta thường nghe nổi lên loại nhạc ‘pop’ thay vì là những tiếng hét của đám biểu tình, chẳng hạn như là, “Hồ, Hồ, Hồ Chí Minh, Mặt Trận Giải Phóng Quốc Gia NLF [những tên đang giết người Mỹ] rồi sẽ thắng mà thôi“. Tay Burns đã muốn kết hợp cái phong trào phản chiến với cái loại âm nhạc phổ thông mà mọi người ưa thích, với hy vọng là cũng sẽ khiến cho chúng ta trở nên cũng như cái phong trào này mà thôi. Đó cũng là một trong những mánh lới quảng cáo củ xưa nhất rồi về sách vở mà thôi.

Cũng đúng là nhiều người biểu tình đã từng nghe loại nhạc mà Burns đã sử dụng, cũng như nhiều người từng có ủng hộ cuộc chiến tranh. Nhưng phong trào phản chiến thì phải nên có khả năng tự tồn tại, mà không cần lợi dụng đến loại nhạc ‘pop ~ dân gian’ đó.

Trớ trêu thay, Burns thì lại đã không cho chúng ta nghe cái bài hát của thời đó mà đã thật sự là về Việt Nam và cũng đã lên đứng vào đầu bảng xếp hạng. Tôi đang muốn nói đến “The Ballad of Green Berets ~ Quân Hành Lính Mủ Xanh” của Trung sĩ Barry Sadler. 3 Đó là một bài hát ủng hộ chiến tranh được viết bởi một quân nhân Mủ xanh, một đơn vị lực lượng đặc biệt, trong thời gian ông ta đang hồi phục ở quân y viện sau khi bị thương tại chiến trường.

Trong bài hát đó, một người lính Mủ Xanh đang hấp hối vì bị thương tại chiến trường, đã có một ước nguyện cuối đời. Ông muốn rồi đây con trai mình rồi đây, cũng sẽ là một quân nhân trong Lực Lượng Mủ Xanh.

Nếu mà Burns đã chịu cho nghe bài hát này nhân khi trình chiếu hình ảnh của những người biểu tình đang ồn ào trong một cuộc biểu tình phản chiến thì đã quả thật sẽ là quá ư thú vị mà thôi.

Ngược lại, Burns và đoàn phim của mình đã hoàn toàn bỏ lơ qua bài hát “The Ballad of the Green Berets” trong bộ phim tài liệu của mình. Thôi thì cũng chả cần chi cái bài hát nổi tiếng từng đứng đầu danh sách được ưa thích trong cả năm tuần lể tại Mỹ và, theo một trang trên Liên Mạng, cũng đã từng là cái bài hát đứng vào hạng thứ 21 trong thập niên 1960.

Nhưng rồi đi tô điểm phấn son cho phong trào phản chiến với những âm thanh của Beatles, Jimi Hendrix, v. v. . .  thì xem ra cũng chỉ là một chuyện không đáng kể, khi đi so với hành vi cũng thì ráng điểm phấn tô sơn ca tụng bọn miền Bắc Việt Nam. Ồ, xem ra đây cũng chỉ là công bằng mà thôi, Burns đâu có làm gì đâu, y chỉ tỏ lộ một cái kiểu đồng ý của y với bọn chúng mà thôi mà.

Cuộc Chiến Việt Nam đã là một cố gắng bởi một chế độ sát nhân theo kiểu Sì-ta-lin với đám tay sai trong miền Nam, đã từng được Sô viết và Trung cộng viện trợ hết mình, hầu đánh chiếm bằng vũ lực một quốc gia láng giềng đang được quốc tế công nhận. Trong độ 12 giờ hay hơn nữa của toàn bộ phim mà tôi đã xem, Burns và đoàn làm phim của y đã coi nhẹ cái sự thật này.

Rồi thí trong bộ phim đó, cả Chính phủ Hoa Kỳ và Nam Việt Nam đã cứ liên miên bị chỉ trích không ngừng. Bọn Bắc Việt thì hầu như vô tư bình thản không bị nói gì tới cả.

Đó dĩ nhiên cũng đã phải là cái kết quả tự nhiên của những tiếng vang vọng mà Burns và đồng bọn đã muốn chúng ta phải bị nghe (và cứ mãi nghe đi và cứ mãi phải nghe lại mà thôi). Những người “grunts ~ binh nhì” vỡ mộng (như bộ phim tài liệu này đã gọi các quân nhân Hoa Kỳ trên chiến trường đó) đã rồi chắc chắn sẽ không mà đâm đầu đi bình luận về bối cảnh rộng lớn hơn của cuộc chiến đó. Họ chỉ biết là họ ghét hoàn cảnh phải ở tại Việt Nam. Những người biểu tình phản chiến thì cũng sẽ không nói gì cả về đề tài bản chất thực sự của chế độ Bắc Việt. Nhiều người trong số đó đã từng muốn kẻ thù phải giành cho được chiến thắng (“Hồ, Hồ, Hồ Chí Minh …“). Đám bộ đội địch thì cũng sẽ không có thể nào làm được như vậy, tuy là rồi trong giai đoạn cuối, thì chúng cũng đã cũng đã thổi lên được hồi còi chiến thắng.

Chỉ có những nhà hoạch định chính sách của Mỹ từng ủng hộ cuộc chiến, hay mọi người mà đã hoàn toàn đồng quan điểm với họ, thì mới có thể trình bày cho được một cách mạnh mẽ và mạch lạc toàn bộ lý do chính đáng phải dành cho một cuộc chiến kéo dài để ngăn chặn cái ông “Bác Hồ” đó mà thôi. Trong các đoạn của bộ phim mà tôi đã có xem, thì tôi không hề nghe được tiếng nói của họ. Tại buổi hội thảo do CSIS tổ chức, ông Sorley đã cho biết là những người này đều đã không hề được phỏng vấn. Như vậy thì rõ ràng, đập vào suy tư của tôi, bộ phim tài liệu này không hề có được đặc tính chính danh mà thôi.

Thật mỉa mai, Burns thì cũng đã từng tuyên bố là hy vọng bộ phim tài liệu của mình sẽ giúp hàn gắn được các chia rẽ bị xảy ra vì cuộc chiến tranh này và giúp phục hồi đoàn kết quốc gia, thì nay lại đã bị bên Tả phái chỉ trích nặng nề. Bọn tả phái hiện nay đang cực kỳ chống-Mỹ nên ngay ra, chúng cũng đã quay ra phản đối đôi chút xíu mãnh vụn bánh mì rơi rớt cùng phần canh cặn mà Burns đã tự cho phép ra tay ban cho những kẻ đã từng nghĩ rằng cuộc chiến tranh đó đã là hợp lý hay chỉ là một sai lầm đáng kính mà thôi.

Bình thường, thì đúng ra tôi sẽ chỉ thấy buồn mà thôi. Nhưng trong cái hoàn cảnh này, bất cứ điều gì mà có khả năng ngăn cản cái bộ phim của Burns về Cuộc Chiến Việt Nam để có thể được trở thành như là một chân lý đang được ban phát thì tôi đều ủng hộ mà thôi. 

*****

PAUL MIRENGOFF

https://en.wikipedia.org/wiki/Power_Line

 Paul Mirengoff sanh năm 1949, tốt nghiệp Đại học Stanford Law School năm 1974 và sau đó cộng tác tại tổ hợp luật ở Washington D.C. Akin Gump Strauss Hauer & Feldnay. Ông cũng đã làm việc cho Ủy ban Equal Employment Opportunity Commission và đã viết cho các báo Washington Post, Weekly Standard với Front Page.

Tháng 5 năm 2002, ông được nhận làm hội viên Viện Claremont Institute bảo thủ và đã cùng hai hội viên luật sư đồng viện cũng từng tốt nghiệp Đại học Dartmouth CollegeJohn Hinderaker với Scott W. Johnson, đứng ra thành lập một trang “blog“ về chính trị tên là Power Line vào năm 2002, do Publr xuất bản, rất được giới bảo thủ Mỹ tán thưởng, đặc biệt như là Rich Lowry, chủ bút tạp chí National Review, Mark Steyn Michelle Malkin.

Hình đều do người chuyển ngữ sưu tầm trên Liên Mạng.

Các đoạn nhấn mạnh bằng màu hay có gạch đít là của người chuyển ngữ.

1

Scott SCOTT JOHNSON , tác giả bài viết được chuyển ngữ kế tiếp dưới đây.

2

Chúng tôi sẽ chuyển ngữ tương đối đầy đủ hơn về những tài liệu liên hệ đến bộ phim The Vietnam War rất ư là sung túc và đầy đủ tại trang trên Liên Mạng của Tổ chức Vietnam Veterans for Factual Fistory

https://wiki.vvfh.org/index.php/Main_Page

3

Vào ngày 24 tháng 10 năm 2017, khi chuyển ngữ bài này, chỉ cần đánh tìm tại khung tìm của YouTube đề mụcthe ballad of the green berets by ssgt. barry sadler”, thì đã có cho tới 16.000 tài liệu được lựa ra trình bày cho khán thính giả thưởng ngoạn!

 

 Dưới đây là đường dẫn tới tài liệu YouTube có cho tới 6.999.278 người từng vào xem, đứng vào hàng đầu của danh sách tìm được!

 Để thưởng thức bài hát bất hủ:

https://www.youtube.com/watch?v=m5WJJVSE_BE

Để biết thêm về bài hát bất hủ từng gợi cảm hứng cho John Wayne thực hiện phim The Green Berets:

http://www.songfacts.com/detail.php?id=4405

 *****

~ VI ~

BỘ PHIM “THE VIETNAM WAR“

THEO KIỂU CỦA KEN BURNS

 ~ Lê Bá Hùng chuyển ngữ ~

ĐĂNG NGÀY 1 THÁNG 10 NĂM 2017 BỞI SCOTT JOHNSON TRONG MỤC CULTURE, HISTORY, MEDIA

http://www.powerlineblog.com/archives/2017/10/the-ken-burns-version.php

Đã từng sống qua thời kỳ Mỹ tham gia cực điểm vào cuộc chiến tranh ở Việt Nam với tư cách là một người quan sát và người biểu tình phản chiến thôi, tôi đã lần hồi đi đến kết luận là cũng phải đi nghi ngờ về toàn thể những gì mà tôi đã từng hằng tin là chân lý vào dạo đó. 1 Chẳng hạn, tôi đã dể dàng tin vào những gì bị trình bày một cách sai lầm trong cuốn sách bị gọi là có gia trị vào năm 1967 với tựa là The United States in Vietnam của George M. Kahin John W. Lewis. Hai tay này đã dám khẳng định là cuộc xung đột đó chỉ là một cuộc nội chiến dân sự giữa các phe phái miền Nam Việt Nam mà thôi.

Sau đó thì tôi đã khám phá ra được là ngay chính điều này thì cũng là quá lố ngay chính cả đối với ngay David Halberstam. Đáng tiếc là tôi đã không kịp đọc qua bài điểm sách này của Halberstam trước khi sách được xuất bản. Trong ai tín năm 2000 dành cho Kahin, tờ New York Times đã có trích dẫn bài điểm sách này của Halberstam. Tờ Times ghi nhận là đương sự đã ca ngợi cuốn sách, nhưng đã bị bối rối bởi cái “tuyên bố khoán trắng rằng cuộc chiến tranh Đông Dương thứ hai chỉ đơn giản là một cuộc nổi dậy nội địa nhằm chống lại các cuộc đàn áp của Ngô Đình Diệm”. Rồi khi quân đội Bắc Việt tung các xe tăng của chúng bung về Sài Gòn vào năm 1975, thì tôi đã bắt đầu ý thức được nội vụ.

Khi ngồi xuống xem bộ phim tài liệu lịch sử về cuộc chiến của Ken Burns / Lynn Novick, tôi đã thất vọng khi bị phải nghe là cuộc xung đột đó chỉ là một cuộc nội chiến dân sự vào mãi tập thứ 10, khi tường trình về hồi kết cục của chiến trận vào năm 1975. Dưới sự đở đầu đầy uy tín của bộ sậu Burns và PBS, bộ phim tài liệu này nay lại chỉ cho i luân cái món lá sách bất hủ mổi sáng điểm tâm khi đi ăn điểm sấm mà ngay tôi cũng đã tùng say mê nhấm nháp dạo xưa kia. Nhìn quanh trên Liên Mạng lúc sáng nay, thì tôi cũng thấy được không chỉ một mình tôi đã nhận xét như vậy.

http://www.mercurynews.com/2017/09/29/veterans-angry-disappointed-following-pbs-vietnam-war-documentary/

Bộ phim đã được kết thúc phát hình trong lần nguyên thủy vào tối thứ Năm. PBS đã cho đăng trên Liên Mạng từng mỗi 10 tập tại http://www.pbs.org/kenburns/the-vietnam-war/home/ và các bộ khác tại http://www.pbs.org/kenburns/the-vietnam-war/home/. Mấy nhà làm phim thì cũng đã moi tìm được vài đoạn phim khá đáng chú ý. Họ cũng đã có những lần phỏng vấn đáng lưu ý với những người Việt. Họ đã mở lại cuộc tranh luận về cái lịch sử mà vẫn cứ ám ảnh chúng ta.

Cũng không có gì ngạc nhiên là bộ phim đã nghiêng về quan niệm tả phái. Kiểu tường thuật một cách thật là uể oải của Peter Coyote thì cũng quả thật là đáng kinh ngạc. Vì cái kiểu quá ư là uể oải đó nên cũng đã khiến tôi cảm thấy nhiều khía cạnh khác nhau của bộ phim đã thật là cực kỳ phiếm diện và khó chịu. Tài liệu này đã tạo điều kiện để binh vực cho chủ trương tả phái một cách thật là nông cạn.

Peter Coyote (1941 – ?)

Tài tử, nhà văn, thuyết trình viên phim, kịch nghệ, truyền hình

 gốc Manhattan, New York, Hoa Kỳ.

 Sử gia Mark Moyar đã triệu tập một ủy ban gồm những sử gia nổi tiếng để bình luận về bộ phim này vào chiều thứ Sáu tại Center for Strategic and International Studies CSIS (Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế). Ủy Ban gồm có ba cựu thành viên thuộc nhóm đã từng cố vấn về tài liệu lịch sử cho bộ phim tài liệu này. Ngõ hầu ráng đại diện được cho nhiều quan điểm rộng rãi hơn, những người tham gia khác trong ủy ban của CSIS đã có chính Mark Moyar, nhưng cũng có Thomas Vallely (Đại học Harvard), Lewis Sorley (học giả độc lập), Marc Selverstone (Đại học Virginia), Gregory Daddis (Đại học Chapman), Trần Anh Nữ (Đại học Connecticut) và Jay Veith (học giả độc lập). Erik Villard (Trung tâm Quân sử Quân đội Mỹ) thì phụ trách điều khiển cuộc thảo luận. 

CSIS đã có đăng đoạn “video“ tại đây https://www.csis.org/events/discussion-landmark-documentary-vietnam-war-ken-burns-and-lynn-novick . Xin lưu ý là buổi hội luận sẽ bắt đầu vào phút thứ 35 của tài liệu “video“ dài 1 tiếng 57 phút 06 giây này.

Lewis Sorley là một cựu chiến binh và tác giả của tác phẫm A Better War. Những phát biểu được soạn trước đã bắt đầu vào phút thứ 48. Nếu quý vị muốn đi thẳng vào vấn đề thì cũng chỉ cần lắng nghe Sorley thì cũng đủ rồi. Tuy nhiên riêng tôi thì cũng ghi nhận là buổi hội thảo cũng có giá trị. Nó đã thuyết phục được tôi là mình cần phải tìm hiểu thêm về cuộc chiến đó, cũng như chính cái bộ phim này.

Tôi có gởi một câu hỏi tới ủy ban thảo luận thông qua Twitter. Tôi xin cảm ơn Erik Villard đã ghi nhận giá trị của nó qua câu trả lời gồm 140 chữ và cũng như đã ráng cải thiện dùm cho nó. Những nhận xét nêu trên của tôi thì cũng là hình thức cho thấy quan niệm chính yếu của tôi khi đặt câu hỏi đó. 2

*****

SCOTT JOHNSON

https://en.wikipedia.org/wiki/Power_Line

Scott W. Johnson là một trong ba sáng lập viên của Trang ‘blog’ chính trị Mỹ tên Power Line vào tháng 5 năm 2002, cùng chung với hai bạn luật sư đồng tốt nghiệp tại Đại học Dartmouth College John H. Hinderaker Paul Mirengoff, do Publr của Joseph Malchow, cũng tốt nghiệp cùng đại học, sản xuát.

Scott W. Johnson quê quán tại Fargo, North Dakota, sau khi tốt nghiệp cử nhân tại Đại học Dartmouth College thì đã tốt nghiệp luật sư tại Đại học University of Minnesota Law School. Sau đó, ông đã cộng tác với luật sư John Hinderaker tại tổ hợp Faegre and Benson.

Sau thời gian cùng Hinderaker tranh đấu tích cực về các vấn đề thuế, cải cách an sinh xã hội và nhiều vấn đề xã hội khác trên các ấn bản bảo thủ như là National Review cùng nhiều tờ khác, cả hai đã cùng Paul Mirengoff tham gia Viện Claremont Institute.

Hình đều do người chuyển ngữ sưu tầm trên Liên Mạng.

Các đoạn nhấn mạnh bằng màu và có gạch đít là của người chuyển ngữ.

1

Điểm này nêu lên sự liêm khiết về trí tuệ của người viết, đã thẳng thắn nhìn nhận và giả từ cái quá khứ non trẻ quá ư là SAI LẦM của mình.

2

Chú y là Scott W. Johnson có một kiểu viết rất châm biếm tế nhị, mà nếu hiểu ra được, thì rất ư là đắng cay và mỉa mai!

*****

~ VII ~

NHỮNG GHI NHẬN VỀ bộ phim “THE VIETNAM WAR“

THEO KIỂU CỦA KEN BURNS

  ~ Lê Bá Hùng chuyển ngữ ~

ĐĂNG NGÀY 7 THÁNG 10 NĂM 2017 BỞI SCOTT JOHNSON TRONG MỤC CULTURE, HISTORY, MEDIA, MUSIC

http://www.powerlineblog.com/archives/2017/10/notes-on-the-ken-burns-version.php

Tôi muốn thêm một vài ghi nhận phụ vô các bình luận của Paul, cũng như ngay của chính tôi về bộ phim tài liệu tràn giang đại hải The Vietnam War của Ken Burns / Lynn Novick trên đài PBS. Tôi nghĩ là nó thì cũng đáng để mà bị nhiều nhà bình luận có hiểu biết về đề tài hơn là tôi bình phãm, nhưng tôi cũng xin dược đưa ra những ghi nhận trong khi chúng ta vẫn đang chờ lời mời gọi này, trong khi chờ đợi các quan sát viên đầy kiến thức như Mackubin Owens, ►1 Victor Davis Hanson 2 James Robbins 3 nhập cuộc.

Mackubin Thomas Owens  ►1

https://en.wikipedia.org/wiki/Mackubin_Thomas_Owens

 

Victor Davis Hanson 2

https://en.wikipedia.org/wiki/Victor_Davis_Hanson

 

James S. Robbins 3

https://en.wikipedia.org/wiki/James_S._Robbins

 Đúng vào cuối tuần này thì chúng tôi cũng đã nhận được cái bài điểm phim rất có giá trị của George Veith tại trang trên Liên Mạng Law & Liberty Review (“mà cũng có phần nào là một tài liệu quá dài và rườm rà, cứ lặp đi lặp lại những chuyện xưa cùng những sự thật lộ liểu mà không hề ai đã có phản đối”), 4 cũng như là bài phê bình của Mark Moyar trong một cột trên báo Wall Street Journal (bộ phim tài liệu là “một sự bè phái cổ võ nhau“). 5 Tuy nhiên, với tôi, dường như chúng ta thì cũng chỉ mới gãi sơ sơ bề mặt cái công trình cực kỳ gian xảo này mà thôi. 

Khi không thấy có ai chỉ trích bộ phim tài liệu này, bình luận gia của tờ Boston Globe Kevin Cullen bèn nhớ lại vụ tranh cãi về loạt phim cũng của cái đài PBS này vào dạo năm 1983 do Stanley Karnow quay về cuộc chiến đó. Trong bài của ông về bộ phim tài liệu kỳ này, 6 Cullen đã trích dẫn lời của Sara Altherr, người vợ của nhà sản xuất bộ phim, người có nhiệm vụ quảng cáo và phổ biến bộ phim này. Cullen vui mừng viết lên: “[Đ]iều khiến Altherr và những người khác từng có cộng tác trong bộ phim dạo năm 1983 ngạc nhiên, là đã không hề có một cuộc chống đối có phối hợp bởi các lực lượng bảo thủ, tương tự như những cơn phẫn nộ cách đây 35 năm. Nếu có chăng, thì lời chỉ trích có giá trị nhất đối với Burns / Novick là họ đã quá trung lập mà thôi”. (Paul đã có bình luận về “lời chỉ trích có giá trị nhất” này rồi trong các nhận xét của ông ta).

Kevin Cullen

 

Stanley Karnow  

https://en.wikipedia.org/wiki/Stanley_Karnow

Sara Altherr

Tuy bộ phim Burns / Novick có thừa nhận tính cách xuyên tạc của giới truyền tin về cuộc chiến tranh vào thời điểm Tết Mậu Thân năm 1968, nhưng họ cũng chỉ nói thoáng sơ qua mà thôi. Họ không hề ngừng lại đẻ giải thích thêm vụ này. Tài liệu này rồi đã có cung cấp những quan điểm khác biệt từ nhiều nhân chứng đã từng hiện diện tại chổ trong thời kỳ đó, nhưng cũng hoàn toàn bỏ qua không nói gì tới sự hiểu lầm của giới truyền tin. Để biết được vè vụ này thì chúng ta phải quay qua để đi tìm hiểu nơi tác phẫm đồ sộ Big Story của Peter Braestrup 7 và quyển This Time We Win của James Robbins. 8

Như Robbins có cho thấy, đây quả là một sự cố tình gây hiểu lầm với ý đồ ráng khoác được lên một bộ mặt chính danh. Bộ phim tài liệu tuy đã có dành thì giờ để nhìn lại vụ Woodstock (nhưng lại  bị pha lẫn với đoạn phim cắt quay cảnh chiến trường Việt Nam), mà lại không có được thì giờ để trình bày, chỉ chút xíu thôi, về quan điểm chỉ trích thái độ vô đạo đức của giới truyền tin dạo đó. Ngược lại, bộ phim tài liệu lại tái chế cái phiên bản từng chủ trương là các phương tiện truyền tin chính là những vị anh hung mà thôi. Để làm ví dụ, bộ phim tài liệu bèn đưa ra vụ Pentagon Papers.

Bộ phim tài liệu có tham vọng quá ư là cao sang, nhưng ngược lại kết quả thật là đáng thương hại, khi tự cho mình chỉ là kẻ nhận xét đứng bàng quan mà thôi. Bộ phim tài liệu đã chấp nhận các kiểu chỉ trích củ xưa từng có của đám cánh tả, nhằm cáo buộc cuộc chiến tranh đó như là một “cuộc nội chiến” không can dự gì tới chúng ta, và còn thêm nữa, đã đi giúp bên gian ác. Ở Việt Nam thì chúng ta chỉ mãi lo “đi săn ma” mà thôi. Cuộc chiến đó quả là bất khả thắng. Bộ phim tài liệu đã cố hài hòa phối hợp các lời khẳng định này để phải trở thành những biện luận hầu trang điểm cho bộ phim, mãi tù ngay tập một cho tới tận tập mười luôn.

Các loại màu mè này thì cũng chỉ nhằm phụ họa một quan điểm đã rất ư là cà nhắc rồi, một kiểu lập luận cũng càng cà nhắc luôn mà thôi. Trong nhiều sự việc khác được nêu lên, đã có cái chiêu bài thuộc cái “cuộc nội chiến”, hàm ý cho là Việt Nam Cộng Hòa không hề là một quốc gia hợp pháp. Sự ám chỉ từ bộ phim tài liệu này hoàn toàn đã không hề được bất kỳ ai nào đó mà đã có minh thị đồng ý, ngoài cái đám từng bưng bô cho cái chính sách của bọn Bắc Việt, tuy là cũng có một hay hai người miền Nam nào đó thì cũng đã coi đó như là một chiến tranh huynh đệ tương tàn.

Ngay tập đầu tiên, một cách bóng gió, bộ phim tài liệu đã đập vào mắt người xem cái chủ trương của họ. Khi kể lại về sự dính líu của chế độ thuộc địa Pháp vào Việt Nam, bộ phim tài liệu đã không còn tôn trọng thời gian tính nữa, mà lại cứ cho xen kẻ lẫn lộn, lúc này lúc kia lẫn lộn giữa sự can dự có tính cách thuộc địa của Pháp sau Thế chiến II, cùng với sự tham gia của Mỹ vào cuộc chiến dạo giữa thập niên 1960. Sự ám chỉ không nói ra chính là việc Hoa Kỳ tham gia thì cũng chỉ là sự tiếp tục của cái chủ nghĩa thực dân Pháp mà thôi, hay là Hoa Kỳ chỉ đã kế tiếp Pháp tại Việt Nam mà thôi.

Cho dù đã chụp lên cái nhãn hiệu “nội chiến”, nhưng tài liệu này dĩ nhiên cũng đã phải công nhận và theo đó, thực sự xác định vai trò của Bắc Việt trong việc đã đứng ra thành lập, rồi điều khiển và hỗ trợ cái đám Việt Cộng. Nhân khi điểm lại quyển sách của Geoffrey Ward, 9 cái tài liệu đồng hành của bộ phim này, chính tay viết mà cũng lo phụ trách phần thuyết trình cho bộ phim này, sử gia (thiên tả) David Greenberg cũng đã gióng lên tiếng chuông báo động, đặc biệt là ngay trên tờ New York Times. Giáo sư Greenberg đã ghi nhận là tay Ward đã đưa ra một “hình ảnh ngây thơ và con nít cực kỳ về Hồ Chí Minh“. Ấy vậy, đây cũng chỉ là một sự kém hiểu biết khá ư què quặt trong sự hiểu biết về bọn địch của chúng ta, như tôi vẫn tiếp tục có quan niệm về y (và cả Lê Duẩn, Lê Đức Thọ và đám còn lại của bọn lãnh đạo Bắc Việt).

Geoffrey Ward

 

David Greenberg

Bộ phim tài liệu này thì cũng không có phô trương cái đường lối mà tôi đã bị đầu độc từ bọn sử gia phản chiến dạo củ như là KahinLewis với quyển The United States in Vietnam (1967) nhằm quyết đoán cuộc đụng độ chỉ là một cuộc tranh dành hạn chế giữa các phe phái Nam Việt mà thôi. Bây giờ thì đâu còn ai mà lại đi la lối là cuộc chiến đó chỉ là một cuộc “nội chiến” theo cái kiểu đó. Bọn Tả phái thì cũng đã đi lo chuyện khác mất rồi.

Cái kiểu trân trọng gìà Hồ đó thì cũng có trong bộ phim tài liệu này, nhưng thái độ trân trọng này lại đã còn bàng bạc khắp toàn cả bộ phim tài liệu luôn. Không những họ đã đề cao Hồ Chí Minh, dĩ nhiên, nhưng mà họ lại cũng còn bênh vực cho các vụ bức hại và các hành động tàn bạo của bọn Cộng sản. Đã có biết bao nhiêu thường dân vô tội Việt Nam từng đã bị cộng sản giết hại ở Huế? Bộ phim tài liệu thì đã không hề nói vụ này, nhưng câu trả lời đã phải là cả “hàng ngàn”. Bộ phim cũng đã trân trọng phong trào phản chiến của Mỹ. Tuy nhiên, cái tên John Kerry thì cũng đã không thể nào mà không bị lộ ra bộ mặt gian ác trong nội vụ.

Nhân khi đưa ra trình bày những lời phát ngôn nhằm đại diện cho nhiều quan điểm khác nhau, thì bộ phim tài liệu lại đã rất thiên vị một cách rất lạnh lùng và tàn nhẫn. Ngoài nhiều chuyện khác, nó đã chỉ lướt thoàng qua những lời tuyên bố hào hùng của các quân nhân Hoa Kỳ, những người rất ư là hãnh diện với vai trò đóng góp của mình tại Việt Nam, mà cũng hoàn toàn không hề bao giờ đã phải bị tỉnh cái mộng chút nào cả. Bing West đã rõ ràng minh bạch trong quan điểm này (mà lại còn nhiều hơn nữa) trong mục bình luận New York Post column về bộ phim này, 10 cũng như là George Veith trong cùng bài viết trên. Quả đúng như tôi đã nói rõ, giọng điệu ráng ra vẻ vô tư của bộ phim tài liệu cũng chỉ là một màn giả bộ đầy gian dối mà thôi. 11

Bing West

https://en.wikipedia.org/wiki/Bing_West

George Veith

https://www.vvfh.org/33-research/books/book-authors/91-george-j-jay-veith.html

 Bộ phim tài liệu cũng có các cuộc phỏng vấn những sĩ quan như Matt Harrison từng tốt nghiệp West Point (khóa năm 1966, Harrison cũng xuất hiện trong quyển The Long Gray Line của Rick Atkinson) 12 và Đại Tướng Không quân đã về hưu (mà lúc đó hãy chỉ là Thiếu Tá) Merrill McPeak. Khi nhắc lại chuyện xưa thì họ cũng rất ư là hùng hồn nhưng cũng không kém phần đắng cay.

Merrill McPeak 13

https://en.wikipedia.org/wiki/Merrill_McPeak

 Những người trong con số 2 triệu 7 người Mỹ từng đã phục vụ ở các cấp thấp hơn tại Việt Nam, từ mấy kẻ bị vở mộng đến những người chán chê: Karl Marlantes, John Musgrave, Bill Ehrhart, Roger Harris, Denton “Mogie” Crocker (hy sinh tại chiến trường khi chỉ mới 19 tuổi, nhưng tâm tư vẫn tồn tại được qua các thư còn lại và cũng qua lời kể của gia đình), Tim O’Brien, Vincent Okamoto, James Gillam, Ron Ferrizzi và mấy người khác. Lời kể lại của những chứng nhân này đều không sao mà có thể bị đem ra bóp méo được để lợi dụng mà thôi. Trên một khía cạnh nào đó, họ đã coi nhẹ cái tuổi trẻ của chính bản thân họ trong việc thi hành nghĩa vụ hay qua việc hằng tin vào chính nghĩa mà mình đang phục vụ. (Nhân đây, tôi xin phép được hỏi là tại sao Leslie Gelb, một cựu công chức, mà lại đã gọi điện thoại vô để cùng hòa điệu vói cái dàn hợp ca kiểu Hy Lạp này?).

Rồi, tôi cũng lại tự hỏi, là những ai đó, chẳng hạn như anh bạn Tim Kelly của tôi, vị luật sư nổi tiếng tại tổ hợp luật ở Minneapolis của công ty luật Dykema? Tim tốt nghiệp từ trường Đại học Minnesota và đã nhập ngũ qua quy chế Army Reserve Officers’ Training Corps ROTC vào năm 1968. Sau đó, Tim tình nguyện gia nhập lục quân để đi phục vụ ở Việt Nam. Anh đã phục vụ như là một sĩ quan bộ binh Mỹ tại Việt Nam và Campuchia từ năm 1968 đến năm 1970, và lên được cấp bậc Thiếu úy. Tôi có hỏi Tim đã nghĩ sao về bộ phim tài liệu này. Anh đã trả lời:

“Có coi chỉ một khúc duy nhất trong chỉ một phần thôi và đã phải tắt máy vì nó đã quá ư là  bóp méo sự thật. Chỉ cần so sành tài liệu đầy tranh luận này với quyển Huế 1968 của Mark Bowden. 14 Quyển Huế này thì có vẻ thiên tả nhưng như vậy thì cũng đúng luật chơi mà thôi, trong khi tài liệu này thực sự chỉ là một loại tuyên truyền thuần túy.

Tôi nghĩ là hầu hết những quân nhân từng đã có phục vụ ở Việt Nam đều cũng nghĩ rằng việc làm của họ đúng là cao quý, nhưng cũng có những quan điểm dị biệt về việc liệu cái nỗ lực chiến tranh, ngay tự nó, có hợp lý hay không. Đúng ra thì ai cũng chỉ muốn hoàn tất nhiệm kỳ rồi trở về nhà mà thôi”.

Nói ngay thì Tim cũng chưa hề nổi tiếng là một người cực kỳ nhút nhát khi phải đưa lên quan điểm của mình, nhưng dù sao thì các tay làm bộ phim Vietnam War vẫn cứ bỏ qua anh ta cùng nhiều người khác như anh ta, trong ròng rã suốt cả tới mười năm trời mà họ đã tốn phí để làm bộ phim tài liệu này.

Paul Mirengoff đã viết về sự thiên vị từng được phản ảnh ngay cả trong cái phần nhạc đệm của tài liệu. Trời ơi, mấy quý vị làm phim thì đã quá ư là hãnh diện về loại nhạc đó mà thôi. Trong phần tóm lược phía trên của mổi tập, họ cũng có liệt kê ra các bài hát trong mỗi tập. Nhạc nền đã dùng các bài nhạc loại “folk, rock, blues và soul” của dạo đó, nhưng mà tại sao vậy ta? Nó biểu lộ một sự đề cao về tình cảm, chẳng hạn cái bản nhạc đệm của The Big Chill.

Nó cũng lộ ra sự nhìn nhận một cái loại kinh điển từng được chấp nhận, theo cái kiểu giống như là bộ sưu tập của Samuel Johnson về các trích dẫn có tính cách tượng trưng thông dụng trong dân gian của bộ Dictionary of the English Language (Từ điển Anh ngữ). Bob Dylan thì quả là một tay nặng ký – và tôi nhấn mạnh ở đay mấy chữ nặng ký – được Burns và toàn đoàn sản xuất yêu mến, đặc biệt là ngay trong những phút ban đầu. Trang trên Liên Mạng của bộ phim tài liệu này cũng có các lời viết ghi chú của David Fricke về loại nhạc đệm của phim này. Fricke có ca tụng cái tính cách đượm “đầy bầu không khí sống động và bén nhạy về bình luận” của bộ phim tài liệu này.

David Fricke 15

 Quý vị thì chắc cũng có thể nhớ lại được hình ảnh tàn bạo của vụ tàn sát ở Cam-pu-chia vào năm 1984 qua bộ phim The Killing Fields. Cách thức bộ phim tường trình về nổi kinh hoàng đó thì cũng đã khiến mọi người đã không thể nào mà chỉ tự cho phép mình chỉ nháy mắt thôi hầu rồi phải thiếu xem một cảnh nào đó. Ấy vậy, phim đã kết thúc qua bài hát Imaginecủa John Lennon, như thể chính là cái chủ nghĩa dân tộc hay chủ nghĩa ái quốc hay đức tin tôn giáo truyền thống hơn là cái chủ nghĩa cộng sản mới đã khiến cho những cánh đồng chết chóc đó xảy ra. Quả không khác gì hơn là một sự ngu ngốc và đần độn mà thôi.

Và đó cũng là trường hợp của mấy lần có âm nhạc đệm theo kiểu như là để bình luận ở đây, từ “A-Gonna Fall” và “Masters of War” của Bob Dylan, cho đến “Let It Be” của Beatles. Bị dùng như để bình luận ngầm về cuộc chiến đó, đúng quả thật là tuyệt, tuyệt ngu si mà còn lại điên khùng nữa.

Và nếu chúng ta sẽ cần phải nghe lại P.F. Sloan, thì hãy thưởng thức “Sins of a Family” hoặc “Where Was You When I Needed You” hay “Let Me Be” với “Secret Man Man“. Tội thôi, bài nào cũng được, nhưng đừng là bài “Eva Destruction“.

 

P.F. Sloan 16

Bộ phim tài liệu của Burns / Novick đã bổ sung thêm cho tập phim tài liệu, cũng từng là của PBS, và cuốn sách cùng tên của dạo năm 1983 bởi tay Stanley Karnow. Mấy đoạn về chiến trận thì quả rất hấp dẫn. Tiếng nói và quan điểm phía Việt thực sự cũng đáng quan tâm. Tôi nghĩ rằng nó cũng đáng để coi, đặc biệt nếu quý vị đã có được một sự hiểu biết tương đối khá đủ về cuộc chiến đó, ngõ hầu để thấy ra được mục đích của bộ phim tài liệu này. Song le, tài liệu này lại vẫn chỉ là đi lặp lại cái quan điểm của Karnow mà Mackubin Thomas Owens đã từng chứng minh là hoàn toàn sai lầm trong bài điểm sách thuộc Claremont Review of Books. 17 Chúng ta hãy xem dưới đây:

“Sai lầm cực lớn của Karnow là ông ta đã nhấn mạnh đến việc cứ xem Bắc Việt và Việt Cộng chính yếu chỉ là “những người quốc gia” chứ không hề là những người Cộng sản. Trong khi ông ta quả có góp phần nào trong việc thảo luận về cuộc Chiến Việt Nam như là một phần trong cuộc đấu tranh có tính cách lịch sử suốt cả 2000 năm của người Việt Nam nhằm chống lại ngoại xâm, ông ta đã không hề chịu để ý cho đủ đến sự khác biệt về hai tính cách, giữa chủ nghĩa dân tộc Việt Nam truyền thống và cái chủ nghĩa theo kiểu Sì-ta-li-nít của Hồ Chí Minh.

Có lẽ điều này cũng là điều bất khả chấp đối với Karnow thôi. Dù sao thì ông ta cũng đã từng bắt đầu cái nghề viết báo của mình khi làm phóng viên và viết cho tờ báo tả phái National Guardian vào dạo thập niên 1940. Những bài viết của ông trong thời kỳ đó đã cực kỳ chống lại khuynh hướng chống cộng và rất là cực thiên Mác. Năm 1949, ông đã là chuyên viên lặp đi lặp lại cái kiểu tuyên truyền của Liên Xô nhằm vu cáo kế hoạch Marshall và các “con rối xã hội chủ nghĩa” ở Pháp mà cứ đang bị các thế lực Hoa Kỳ đang giựt dây điều khiển. Cũng ngay trong tháng 4 năm đó, ông ta đã mô tả là Kế hoạch Marshall đã từng giúp cho Pháp tra tấn các nông dân yêu nước Việt Nam, và đến tháng Tám thì cũng lại tố cáo là Pháp đã giết 80.000 thường dân trong một “biển máu ở Madagascar”.

Tuy bộ phim tài liệu về Việt Nam bây giờ đã rõ ràng cho thấy một sự thay đổi quan điểm của từ thời còn cộng tác với The Guardian, nhưng rồi người ta không thể nào mà không lại bị đập vào mắt cái chi tiết là quan điểm của đương sự về chủ nghĩa dân tộc Việt Nam dường như đã thay đổi rất ít trong vòng 25 năm vừa qua. Trong khi nay Karnow cũng đã chịu thừa nhận rằng Cộng sản thường là bọn đàn áp, tàn bạo và giáo điều, đương sự vẫn chấp nhận hoàn toàn và tuyệt đối cái chủ trương cho là chúng vẫn chính yếu chỉ là người ái quốc, nhưng ái quốc với một viển tượng có tính cách mạng cho một xã hội nông nghiệp mà thôi.

Và đây cũng chính là cái điểm mà nhiều người từng đã ca tụng cuốn sách của Karnow cũng cần nên phải biết rõ hơn. Trong khi Karnow đã bỏ qua cái kiểu hùng biện của loại tuyên truyền Mác-xít mà đã từng rất là đặc trưng cho cách đặt bút xuống của đương sự dạo còn con nít nhằm thay mặt cho bọn “chống đế quốc”, thì ngày nay đương sự vẫn bám giữ sát theo cái quan điểm Mác xít về lịch sử. Đối với Karnow, thì tuyệt đối, hoàn tòan không có thể nào mà Mỹ đã có thể thắng được trong cuộc chiến đó mà thôi. Chúng ta chỉ đơn giản là thuộc về bên thua cuộc trong tiến trình lịch sử mà thôi; rồi thì các lực lượng tiến bộ cũng sẽ không thể làm gì khác hơn được gì ngoài việc nghiền nát chúng ta mà thôi.

Do đó, Karnow bèn viết một quyển sách, mà nhìn thoáng qua, thì có vẻ trung dung. Nhưng đề tài đưa ra của đương sự thì lại cũng giống như là của mấy nghiên cứu gia về cái mấy vụ ma quỷ nhập xác người mà thôi: chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ rõ ràng là vô vọng nếu mà không chịu nhìn nhận cái tính cách chính đáng của “mô hình cách mạng”. Đương sự đã không hề cho chúng ta biết là cái mô hình cách mạng này thì cũng chỉ nhằm phá hủy cái mô hình của đảng Cộng hòa, cái ví dụ thành công nhất đó của cái đất nước Hoa Kỳ này. Trong khi ngay chính những người theo chủ nghĩa quốc gia đã không hề coi chế độ của Mỹ như là địch (tuy là đôi khi thì họ cũng đã có có thể xem ngay Mỹ như là kẻ đặc thù của họ), bọn cách mạng cộng sản thì vẫn như vậy. Nếu quả thực sự cái đám Việt Cộng mà chỉ là những tay ái quốc mà thôi, thì chúng đã đâu có ra tay loại bỏ tất cả những người quóc gia yêu nước độc lập”.

Sau những thay đổi cần thiết thì những lời chỉ trích của Mac Owens cũng rất ư là thích đáng cho cái bộ phim của Burns / Novick này. Và đó cũng là điểm mà Mark Moyar đã có ghi nhận trong cột báo trên tờ Wall Street Journal đã nêu lên ở trên. Những gì chúng ta đang chứng kiến hiện nay thì cũng quả đúng là một trường hợp lịch sử (về truyền thông) lại được tái diễn mà thôi.

***

Hình và phụ chú đều do người chuyển ngữ sưu tầm trên Liên Mạng.

KHÔNG hiểu tai sao, nhưng mọi hình của mấy tên thiên Cộng đều lộ nét GIAN ÁC ra mặt, nên rốt cuộc, chúng tôi đã nảy ý cần đưa lên “dung nhanˮ của chúng cho mọi người cùng “chiêm ngưỡngˮ!

Các đoạn nhấn mạnh bằng màu và có gạch đít là của người chuyển ngữ.

►1

Mackubin Thomas Owens, sanh năm 1945, đã trở thành Khoa trưởng và giáo sư tại Institute of World Politics vào năm 2015 tại Washington DC. Ông cũng từng là Phó Khoa Trưởng Associate Dean of Academics for Electives and Directed Research, cũng như là một biên tập viên cộng tác với tờ National Review, hội viên Danh dự của Foreign Policy Research Institute (FPRI) tại Philadelphia, chủ bút tờ Orbis, tam cá nguyệt san của Viện.

Từ 1990 tới 1997, Tiến sĩ Owens đã là Chủ bút trưởng của tam cá nguyệt san về quốc phòng Strategic Review và là giáo sư bán thời gian tại International Relations tại đại học Boston University. Ông cũng là thành viên của hội dồng cố vấn của Hiệp hội Alexander Hamilton Society.

Ông đã về hưu vào năm 2014, sau 28 năm trong vai trò giáo sư về môn National Security Affairs (Strategy and Force Planning) tại Đại học US Naval War College, Newport, Rhode Island.

http://www.claremont.org/crb/contributor-list/346/

2

Victor Davis Hanson sanh năm 1953, là một bình luận gia quân sự cổ điển có gốc là một nhà nông, từng viết về chiến tranh xưa và nay, về chính trị đương thời cho National Review, The Washington Times và nhiều báo khác. Ông là giáo sư danh dự (professor emeritus) về cổ điển học tại California State University, Fresno và hiện đang là Hội viên của Martin and Illie Anderson Senior Fellow về cổ điển học và quân sử tại Stanford University’s Hoover Institution. Ông chủ tọa nhóm cộng tác Hoover về Military History and Contemporary Conflict và cũng là tổng biên tập của trang trên Liên Mạng Hoover với tên gọi là Strategika. Ông cũng là giáo sư thỉnh giảng tại Hillsdale College về thế giới quan, chiến tranh xưa và nay, cũng như là hội viên Wayne and Marcia Buske Distinguished Fellow về môn Sử từ năm 2004.

Ông là tác giả quyển Carnage and Culture: Landmark Battles in the Rise of Western Power (2001), đoạt giải New York Times best-selling book.

Tổng Thống George W. Bush đã trao tặng ông Huy chương National Humanities Medal trong năm 2007 và đã được chỉ định bởi Tổng Thống để phục vụ trong American Battle Monuments Commission nhiệm kỳ 2008-09 chuyên lo về các nghĩa trang và đài kỷ niệm tử sĩ của Hoa Kỳ ở ngoại quốc.

3

James S. Robbins sanh năm 1962, là một bình luận gia trên tờ USA Today và cũng là Hội viên Danh Dự về các Đề tài An ninh Quốc gia trong Hội đồng American Foreign Policy Council. Ông đã là Chủ Bút Trưởng về các Đề tài Ngoại quốc của tờ Washington Times, và cũng là một tác giả, bình luận gia về chính trị và một giáo sư đầy kinh nghiệm về vấn đề an ninh quốc gia và các đề tài quốc tế cùng quân sự. Ông cũng đã là phụ tá đặc biệt trong Văn phòng Bộ Trưởng Quốc Phòng. Ông cũng là bình luận gia về chính trị và cộng tác viên của National Review Online.

Các tác phẫm của ông gồm có The Real Custer: from Boy General to Tragic Hero (2014), Native Americans: Patriotism, Exceptionalism and the New American Identity (2013), This Time We Win: Revisiting the Tet Offensive (2010) Last in Their Class: Custer, Pickett and the Goats of West Point (2006).

4

Burns and Novick on Vietnam: A Neutral Film, or a Rifle Butt to the Heart?

by GEORGE J. VEITH  / OCTOBER 6, 2017
http://www.libertylawsite.org/2017/10/06/burns-and-novick-on-vietnam-a-neutral-film-or-a-rifle-butt-to-the-heart/

5

Ken Burns’s ‘Vietnam’ Is Fair to the Troops, but Not the Cause

by MARK MOYAR / Oct. 6, 2017 5:07 p.m. ET

https://www.wsj.com/articles/ken-burnss-vietnam-is-fair-to-the-troops-but-not-the-cause-1507324058

6

35 years later, Vietnam through a different prism

by Kevin Cullen / GLOBE STAFF  SEPTEMBER 28, 2017

https://www.bostonglobe.com/metro/2017/09/28/years-later-vietnam-through-different-prism/sFqbQLA36HkDgwRhrh3IDL/story.html

Stanley Abram Karnow (1925-2013) là một phóng viên và sử gia Mỹ từng được nổi tiếng về đề tài Cuộc Chiến Việt Nam.

Sau khi phục vụ trong binh chủng Không quân tại chiến trường Miến điện trong dạo Thế chiến 2, đương sự học và tốt nghiệp cử nhân tại đại học Harvard vào năm 1947, rồi qua học tiếp tại đại học Sorbonne ở Pháp tới năm 1948, rồi kế tiếp tại Institut d’Études Politiques de Paris. Sau đó, ông làm phóng viên cho tờ Time tại Ba Lê vào năm 1950, đãm trách về Trung đông và Phi châu.

Năm 1960 đương sự qua Á châu và đã phục vụ tới năm 1974 cho các tờ Time, Life, Saturday Evening Post, London Observer, Washington Post NBC News.

Karnow cũng đã bắt đầu viết quyển Vietnam: A History mà sẽ được xuất bản vào năm 1983, và là cộng sự viên chính cho loạt phim tài liệu dài 13 tiếng đồng hồ Vietnam: A Television History trên PBS, mà sau đó, lại được phát hình lần nữa cũng trên PBS với một tựa đề khác là American Experience, và cũng là hình ảnh tượng trưng tiêu biểu của đám truyền tin thiên vị tại Nam Việt từng bị Phạm Xuân Ẩn xỏ mủi dắt đi!

7

Big Story: How the American Press and Television Reported and Interpreted the Crisis of Tet 1968 in Vietnam and Washington

by Peter Braestrup (Author) – Abridged, January 1, 1983

https://www.amazon.com/Big-Story-Television-Interpreted-Washington/dp/0300028075/ref=sr_1_1?s=books&ie=UTF8&qid=1507380220&sr=1-1&tag=amazon0156-20

8

This Time We Win: Revisiting the Tet Offensive

by James S Robbins (Author) –  October 16, 2012

https://www.amazon.com/exec/obidos/ASIN/1594036381/amazon0156-20/

9

The Vietnam War Then and Now

by David Greenberg – Sept. 14, 2017

https://www.nytimes.com/2017/09/14/books/review/the-vietnam-war-geoffrey-ward-ken-burns-documentary.html

10

Missing from Ken Burns’ ‘Vietnam’: The patriotism and pride of those who fought

http://nypost.com/2017/09/19/missing-from-ken-burns-vietnam-the-patriotism-and-pride-of-those-who-fought/

Francis J. “Bing” West sanh năm 1949 tại Boston, Massachusetts, là một nhà văn Mỹ và từng là Assistant Secretary of Defense for International Security Affairs (Phó Bộ Trưởng Quốc Phòng Đặc trách về An ninh Quốc tế) dưới quyền TT Reagan.

https://en.wikipedia.org/wiki/Bing_West

11

George J. Veith nguyên là một đại úy lục quân Mỹ, từng viết rất nhiều về đề tài Cuộc Chiến Việt Nam, cả sách lẫn những bài đã được đăng trên nhiều báo chính và cũng đã thuyết trình tại nhiều buổi hội thảo. Ông cũng đã hai lần ra tường trình trước Quốc hội Hoa Kỳ về vấn đề Tù binh Chiến tranh/Quân nhân bị mất tích.

https://www.vvfh.org/33-research/books/book-authors/91-george-j-jay-veith.html

12

The Long Gray Line: The American Journey of West Point’s Class of 1966 back – by Rick Atkinson – October 27, 2009

https://www.amazon.com/exec/obidos/ASIN/080509122X/amazon0156-20/

13

Merrill Anthony “Tony” McPeak sanh năm 1936 khi về hưu trong chức vụ Tham Mưu Trưởng Không Quân Hoa Kỳ thứ 14 là một vị đại tướng Không Quân 4 sao vào năm 1994.

Năm 1993, ông từng là Bộ Trưởng Bộ Không Quân và cho tới ngày hôm nay, vẫn là người duy nhất, trong khi tại ngũ với chức vụ Tham Mưu Trưởng Không Quân mà vẫn kiêm nhiệm chức vụ Bộ Trưởng Bộ Không Quân Hoa Kỳ.

14

Hue 1968: A Turning Point of the American War in Vietnam

by Mark Bowden – June 6, 2017

https://www.amazon.com/exec/obidos/ASIN/0802127002/amazon0156-20/

15

  1. F. “Flip” Sloan(tựPhilip Gary Schlein, 1945 – 2015) nguyên là một nhạc sĩ kiêm nhạc gia Mỹ rất nổi tiếng dạo thập niên 60.

https://en.wikipedia.org/wiki/P._F._Sloan

16  

The Vietnam War – The Soundtrack, were written by David Fricke, senior editor for Rolling Stone.

http://www.pbs.org/kenburns/the-vietnam-war/music/david-fricke-soundtrack-notes/

David Fricke sanh năm 1952 là chủ bút trưởng của tờ Rolling Stone chuyên viết về loại nhạc “rock”, với sự nghiệp trải dài từ ba mươi năm rồi, trước khi từ nhiệm trong thập niên 90.

https://en.wikipedia.org/wiki/David_Fricke

17  

VIETNAM REVISITED

http://www.claremont.org/crb/article/vietnam-revisited/

Cũng từng đã được nói tới trong bài đăng ngày 7 tháng 10 năm 2017 cũng của Scott Johnson.

*****

~ VIII ~

 BỘ PHIM “THE VIETNAM WAR“

THEO KIỂU CỦA KEN BURNS (Tiếp theo)

  ~ Lê Bá Hùng chuyển ngữ ~

ĐĂNG NGÀY 14 THÁNG 10 NĂM 2017 BỞI SCOTT JOHNSON TRONG MỤC CULTURE, HISTORY, MEDIA, MUSIC

http://www.powerlineblog.com/archives/2017/10/the-ken-burns-version-contd.php

Tôi đã có trình bày toàn vẹn quan điểm của mình về bộ phim tài liệu The Vietnam War của Ken Burns / Lynn Novick / Geoffrey Ward tại

http://www.powerlineblog.com/archives/2017/10/notes-on-the-ken-burns-version.php

Tôi nghỉ bộ phim đã cố gắng bóp méo một cách sai lầm sự thật mà thôi. Với chỉ duy nhất một cái ví dụ, như tôi cũng đã từng đã có nói trong mấy bộ “Notes” của tôi, Burns và đồng bọn quả đã không thể nào tìm ra được chỉ có được một quân nhân nào, mà lại đã có nhớ lại thời gian từng phục vụ tại Việt Nam như là một thời gian mang đầy ảo tưởng, buồn nôn và tủi hẹn. Cũng còn nhiều việc cần phải làm đối với cái công trình cừc kỳ gian ác này hầu tránh cho nó sẽ có thể trở thành một loại tài liệu lịch sử có quyền được đại diện cho của cuộc chiến đó.

Để so sánh cái phản ứng đầy cảm xúc của mình đối với bộ phim tài liệu này với những nhận xét của những vị quan sát viên có kiến thức hơn, tôi đã có viết hỏi giáo sư Charles Hill của Yale. Giáo sư Hill là một công chức thuộc Bộ Ngoại giao và là giảng viên về Quốc Tế Học tại Đại học Yale, cũng như là thành viên của viện Hoover Institution.

Charles Hill1

 Trước khi tới giảng dạy tại Đại học Yale, Giáo sư Hill đã trải qua một sự nghiệp cực kỳ nổi tiếng ở Bộ Ngoại giao. Trong đời công chức, ông đã có phục vụ tại Sài Gòn trong thời cao điểm của cuộc chiến Việt Nam (1971-1973). Trong số những nhiệm vụ của mình, thì ông đã từng là điều hợp viên về công tác (mission coordinator) tại tòa Đại sứ Hoa Kỳ. Molly Worthen cũng đã có tường trình về việc làm của Giáo sư Hill tại Việt Nam trong chương 6 của cuốn tiểu sử viết khá sớm của bà vào năm 2005 với tựa là The Man on Whom Nothing Was Lost: The Grand Strategy of Charles Hill. 2

Giáo sư Hill đã thật cẩn thận và cũng nghiêm trang ráng ngồi xem toàn bộ phim tài liệu này. Tôi có xin Giáo sư Hill bình luận về bộ phim tài liệu, cho dù chỉ ngắn gọn mà thôi. Ông đã trả lời:

“Cái phụ đề buồn nôn nhất đã bắt đầu ngay từ lúc đầu khi một cựu chiến binh tuyên bố: “Tôi đã quá kinh hãi. Tôi đã rất thù chúng. Tôi đã QUÁ Ư là kinh hãi!”. Cái kiểu cạp cạp như vịt la hét trong chuồng từng bị gán cho quân đội Mỹ này thì cũng cứ bị lặp đi lại lại trong suốt cả tới luôn 18 giờ đồng hồ, thường thì qua hình thức chỉ im lặng và dùng những bức ảnh chỉ được cho chiếu thoáng qua rất nhanh, hầu chỉ cho thấy cảnh những quân nhân Mỹ mặt mày hớt ha hớt hãi”.

Trong một bức thơ khác, ông có bình luận về cái kiểu mà bộ phim tài liệu đã mô tả cuộc chiến về sau năm 1968:

“Khi mà chính nghĩa của Mỹ và miền Nam Việt Nam đã đưa được cuộc chiến tranh tại hiện trường theo một chiều hướng cực khác và cũng đang bắt đầu thực sự giành chiến thắng (tôi đã đang ở tại chổ vào lúc đó), giới chóp bu về viết lách của đám Haight-Ashbury và Woodstock, được thúc đẩy bởi giới truyền tin, đã chỉ đơn giản không còn chịu nói gì nữa về cuộc chiến tranh đó để mà các trận chiến thắng đầy vinh quang không ngờ của Nam Việt Nam trước bọn bộ đội Bắc cộng đang tràn xuống xăm lăng, trên cả ba chiến tuyến quốc tế vào năm 1972 thì lại đã bị nói phớt qua mà thôi. Mưu đồ của Burns chỉ là nhằm nắm chắc làm sao cho thế hệ từng bị ngang chướng (sic) gọi là “Millennials” sẽ mãi mãi bị u tối trong cung cách gọi là “tường thuật” của cái đám tả phái ngay đúng vào lúc mới vào đời để sinh hoạt – mà đối với đương sự, thì mới đúng là cái ‘Thế Hệ Vĩ Đại’“. 3

Tôi nghỉ là chúng ta nay thì cũng đang bắt đầu nhận chân ra được sự thật rồi.

Vào đầu tuần này thì Philip Jennings đã có viết trên một bài báo của New York Sun với đề tựa “Justifying betrayal of Vietnam emerges as the raison d’être of Ken Burns’ Film on the War ~ (Biện hộ cho việc phản bội Việt Nam đã lộ ra là mục đích chính yếu của bộ phim về Cuộc Chiến Việt Nam của Ken Burns)”. 4 Giống như những gì tôi đã có ghi nhận rồi trong mấy bài bình luận trước, Jennings đã nhận xét là: “Burns ngay cả thậm chí đến việc ráng tìm cho ra chỉ có được một người quân nhân Mỹ hay VNCH nào mà lại chịu nồng nhiệt ủng hộ cái cuộc chiến đó, một người mà đã chịu từng hãnh diện phục vụ trong quân ngũ và đã đau thương trước hành vi đành đoạn bỏ rơi cái người bạn của mình, kẻ mà chỉ đang mưu tìm tự do mà thôi, thì cũng không chịu làm”. Ông có thêm: “Mà rõ ràng là hiện đang có cả hàng trăm ngàn người của chúng tôi mà vẫn chủ trương như vậy”.

Philip Jennings

 Hôm qua, tờ Weekly Standard đã có đăng một bài tham luận quan trọng của Stephen Morris về bộ phim tài liệu này dưới tự đề “Cuộc chiến xấu xa“.  5

Morris đã nắm vững được đề tài mình thảo luận. Viết xuống một cách thật là nghiêm túc, ngay đến cả từng chi tiết, theo một phong cách rất ư là cẩn thận, bài tham luận đã đóng góp một điều quan trọng – mà tôi cũng sẽ dám nói là vô giá – vào hồ sơ về bộ phim tài liệu này. Nếu quý vị vẫn đang theo dõi bài bình luận về bộ phim tài liệu này cho đến nay, thì chắc quý vị cũng nên chịu khó tìm đọc nó luôn. Như tôi đã nói mà, rồi thì chúng ta cũng đang bắt đầu thấy được sụ thật rồi đó.

Stephen J. Morris 6

***

Hình và phụ chú đều do người chuyển ngữ sưu tầm trên Liên Mạng.

Các đoạn nhấn mạnh bằng màu và có gạch đít là của người chuyển ngữ.

1

Charles Hill sanh năm 1936 nguyên là một công chức Bộ Ngoại Giao (Diplomat-in-Residence) và cũng là giáo sư tại đại học Yale. Ngoài ra, ông cũng từng còn là vị cố vấn trưởng của George Shultz, Henry Kissinger, Ronald Reagan, cũng như là Boutros Boutros-Ghali, Tổng Thư Ký Thứ 6 của Liên Hiệp Quốc.

Môn ông dạy chung tại Yale với Paul Kennedy John Gaddis Studies in Grand Strategy“, một môn rất đòi hỏi có tính cách liên hợp cả về tài lãnh đạo, quốc gia hành chánh và ngoại giao.

https://en.wikipedia.org/wiki/Charles_Hill_(diplomat)

2

The Man on Whom Nothing Was Lost: The Grand Strategy of Charles Hill (.) by Molly Worthen (2006-02-15) Hardcover – 1867, by Molly Worthen

https://www.amazon.ca/Man-Whom-Nothing-Was-Lost/dp/B01K2EN83E/ref=sr_1_1?s=books&ie=UTF8&qid=1511227480&sr=1-1&keywords=The+Man+on+Whom+Nothing+Was+Lost%3A+The+Grand+Strategy+of+Charles+Hill+by+Molly+Worthen

3

Haight-Ashbury nguyên là một quận của San Francisco, tiểu bang California, dược đặt tên do nơi ngã tư hai đường Haight Ashbury, cũng từng được gọi là The Haight and The Upper Haight. Vùng lân cận bao quanh từng nổi tiếng với lịch sử là cái nôi của phong trào “hippie“ chống lại nền văn hóa đương thời.

Woodstock Music & Art Fair, thường được đơn giản gọi là Woodstock, nguyên là một đại hội nhạc tại Mỹ vào năm 1969 mà đã thu hút cho tới cả 400.000 người tới tham dự, và được tổ chức tại một nông trại vùng núi Catskill Mountains ở Nam tiểu bang Nữu Ước, nằm hướng tây bắc của thành phố New York City, được dự trù từ ngày 15 tới ngày 17 tháng 8 năm 1969, nhúng rốt cuộc đã kéo dài tới luôn ngày thứ hai 18 tháng 8 luôn..

Millennials ám chỉ thế hệ đã được sinh vào năm 1981 và chấm dứt vào năm nào thì hãy còn tranh luận, nhưng theo đa số, thì có lẻ là vào năm 2004.

4

Justifying Betrayal of Vietnam Emerges as the Raison d’être Of Ken Burns’ Film on the War

http://www.nysun.com/national/justifying-betrayal-of-vietnam-emerges-as-raison/90094/

5

The Bad War

http://www.weeklystandard.com/the-bad-war/article/2010065

6

Stephen J. Morris nguyên là thành viên của Johns Hopkins University SAIS, Harvard University, Center for International Affairs and Russian Research Center, Harvard University: Russian Research Center , Thư ký Secretary of the Navy Senior Fellow tại US Naval War College, cũng như từng sản xuất các bộ phim tài liệu của CBC News, và cũng đã từng giảng dạy tại Boston University và với đại học University of New South Wales. Tác phẫm rất có giá trị về Cuộc Chiến Việt Nam đã là quyển Why Vietnam Invaded Cambodia. Political Culture and the Causes of War (Stanford University Press, 1999)

*****

~ IX ~

 BỘ PHIM “THE VIETNAM WAR“

THEO KIỂU CỦA KEN BURNS (Tiếp theo)

  ~ Lê Bá Hùng chuyển ngữ ~

ĐĂNG NGÀY 18 THÁNG 10 NĂM 2017 BỞI SCOTT JOHNSON TRONG MỤC HISTORY, MEDIA

http://www.powerlineblog.com/archives/2017/10/the-ken-burns-version-contd-2.php

Tôi đã bắt đầu đăng bài viết về bộ phim tài liệu này vào ngày 7 tháng 10 rồi 1 để chờ cho những quý vị am tường hơn về đề tài này sẽ có thì giờ đưa ra các quan điểm của họ về cái kiểu phiên diễn đang được cập nhật hóa kỳ này của đám tả phái. Thay vì giữ lấy một vị thế vô tư, chúng lại đã lại cống hiến cho chúng ta một kỳ vọng về một giả thuyết không tưởng là chúng quá đang ư là đau buồn tiếc thương mà thôi. Thay vì trình bày một hình ảnh trung thực của những người đã từng chiến đấu trong cuộc chiến đó, chúng lại đã chỉ đưa lên những tiếng nói từ sự vỡ mộng, rồi cả đến niềm hổ thẹn theo đó. Bộ phim tài liệu này không thể nào được quyền trở thành cái lập trường được công nhận nếu mà chúng ta cứ mãi lặng im hay chịu chấp nhận lập luận của nó.

Tôi có nói là chúng tôi đặc biệt chờ nghe quan điểm của Mackubin Thomas Owens, 2 trong số mọi người khác. Tôi đã quen được Mackubin thông qua Viện Claremont Institute. Hiện ông là khoa trưởng tại Institute of World Politics (Học viện Chính trị Thế giới) và là chủ biên của tờ Orbis, một tạp chí về các vấn đề thế giới. Orbis là ấn phẩm hàng tam cá nguyệt của Foreign Policy Research Institute (Viện Nghiên cứu Chính sách Đối ngoại), có thể ghi danh nhận tin ở đây: https://www.journals.elsevier.com/orbis/). Mackubin là tác giả của US Civil-Military Relations After 9/11: Renegotiating the Civil-Military Bargain. Mackubin cũng là một cựu chiến binh Thủy Quân Lục Chiến thời Việt Nam, nơi mà từng đã là tiểu đội trưởng rồi lên trung đội trưởng dạo 1968-1969, nơi ông cũng đã bị thương tại chiến trường hai lần và đã được ân thưởng Huy chương bạc Silver Star.

Ngoài ra, Mackubin cũng là biên tập viên của tờ Providence, một tạp chí chuyên về Thiên Chúa Giáo và Chính sách Đối ngoại của Hoa Kỳ. Đọc giả có thể biết thêm về Providence theo đường nối này 3 và có thể ghi danh ở đó. 4 Đọc giả cũng có thể nhấn chuột vào một mục ‟tabˮ tại hai trang đó để ghi danh hầu sẽ được nhận những bản tin điện thư của tạp chí đó.

Providence đã cho đăng lại bài điểm của Mackubin về bộ phim tài liệu “Burns / Novick / War” trong hai phần: “Mission Failure: The Burns & Novick ‘The Vietnam War’ Misses its Target | A Review (Part I) 5 và “A Failure to Discern: Burns’ & Novick’s ‘The Vietnam War’ is Bad History | A Review (Part II)”. 6

Mackubin nguyên là một trong rất nhiểu những cựu chiến binh của cuộc chiến đó, mà đã từng rất tự hào về thời gian thi hành quân dịch của mình, nhưng những kẻ như Burns cùng đồng bọn đã tuyệt đối bỏ lơ không đếm xuể gì tới, trong suốt cả toàn thời gian mười năm mà họ đã từng dành ra để thực hiện bộ phim tài liệu này. Ông cũng là một học giả và từng là sinh viên chuyên ngành về cuộc chiến tranh này. Chẳng hạn, trong Phần 1, Mackubin đã có viết như sau:

“Tôi đã quả thật quá ư ngở ngàng khi không hề nghe và thấy được quan điểm của rất nhiêu người. Đã hoàn toàn không hề có ý kiến của những người từng đã binh vực một cách thật hữu lý, cả về mục đích lẫn cách thức tiến hành cuộc chiến tranh đó, đặc biệt là ông Jim Webb. 7 Cũng không có đề cập gì đến Mark Moyar, 8 người đã chịu ngồi xuống và viết lại cái tài liệu nghiên cứu hầu phân tách cuộc chiến đó, hoặc cả của Bob Sorley 9 với công trình đóng góp cực quan trọng về giới lãnh đạo quân sự trong cuộc chiến tranh đó, mà cũng đã gây ra một cuộc tranh luận rất ư là sôi nổi trong giới quân sử Hoa Kỳ. Sorley thì quả cũng có xuất hiện trong bộ phim tài liệu này, nhưng nếu mà thực sự ông ta đã có được yêu cầu thảo luận về cái quan niệm lịch sử bị đổi thay về cuộc chiến đó thì chắc là ai đó, cũng đã cắt bỏ quăng luôn đoạn đó xuống đất mà bỏ mất đi rồi trong phòng ráp phim thôi. Tôi cũng đã quá ư là ngỡ ngàng trước sự kiện lòng ái quốc cùng ý thức trách nhiệm mà đã từng nung đúc ý chí của bao người Mỹ từng phục vụ tại Việt Nam đã bị xem thường – kể cả số hai phần ba mà đều là người tình nguyện. Rồi cũng không hề có nói gì đến trường hợp có thể cuộc chiến đó quả thật là chính đáng, cho dù nếu vào lúc cuối, nó đã bị điều khiển một cách sai làm. Mà cũng đã không hề có bất kỳ ý kiến nào cả hầu chứng minh là cuộc chiến đó đã chỉ bị sai lầm, chính yếu là về phương diện chiến lược mà thôi, thay vì là về phương diện đạo đức”.

Trong Phần II, Mackubin thảo luận về cách thức cuộc chiến tranh đó đã được tiến hành ra sao. Tôi cũng không muốn trích dẫn nó ra tại đây. Nếu quý vị có quan tâm đến đề tài này thì tôi xin đề nghị hãy đọc toàn bộ bài đó. Quan điểm của Mackubin là chính đáng. Ông ta nắm vững điều mình đang nói.

Bộ phim của Ken Burns quả không có thể bị bỏ lơ qua được, mà không khỏi sẽ rồi cũng sẽ mang lại sự ô nhục cho cả lịch sử của chúng ta, cùng luôn cho mọi cựu chiến binh của chúng ta, dù cho họ vẫn còn đang sống hay đã ra đi vỉnh viễn mất rồi. Tôi nghĩ là bộ phim đã cố tình bóp méo và làm sai lầm các dữ kiện lịch sử. Burns và các đồng nghiệp đã tỏ lộ tham vọng ráng lũng đoạn rồi tiếm quyền, qua hành vi tự cho quyền quay đi kiểm soát quá khứ. Chúng ta cần Mackubin và những người khác, những kẻ đã can đãm đứng lên để thách thức tay Burns, để cung ứng một sự thật căn bản và chân thật, trong mục đích chống lại cái mưu đồ đen tối đó mà thôi.

***

Hình và phụ chú đều do người chuyển ngữ sưu tầm trên Liên Mạng.

Các đoạn nhấn mạnh bằng màu và có gạch đít là của người chuyển ngữ.

1

Bài đã chuyển ngữ VII phía trên.

2

Đã có giới thiệu trong bài VII nói trên.

3

https://providencemag.com/about/

►4

https://providencemag.com/subscribe/

5

Mission Failure: The Burns & Novick ‘The Vietnam War’ Misses its Target| A Review (Part I) ~ Sứ Mệnh Thát bại: Bộ ‘Chiến tranh Việt Nam’ Đã Không Đạt Được Mục Tiêu (phần I)”

https://providencemag.com/2017/10/vietnam-war-ken-burns-novick-pbs/

6

“A Failure to Discern: Burns’ & Novick’s ‘The Vietnam War’ is Bad History | A Review (Part II)”.

“Chối Bỏ Sự Thật: Bộ Phim ‘Chiến tranh Việt Nam’ của Burns & Novick là gian sử | Điểm phim (Phần II)”.

https://providencemag.com/2017/10/burns-novick-vietnam-war/

7

 

Jim Webb

James Henry Webb Jr., sanh năm 1946, nguyên là một Thủy Quân Lục Chiến Mỹ, để sau đó đắc cử Thượng Nghị Sĩ thuộc tiểu bang Virginia, và cũng nguyên là Bộ Trưởng Bộ Hải Quân, Phó Bộ Trưởng Quốc Phòng Đặc Trách về Lực LượngTrừ Bị và Cố vấn cho Ủy Ban Hạ Viện Hoa Kỳ Về Cựu Chiến Binh.

Vợ ông ta là bà Lê Thị Hồng, một luật sư chuyên về chứng khoán và công ty, từng chào đời tại Nam Việt Nam và đã tới định cư tại Hoa Ký lúc chỉ mới bảy tuổi ngay sau khi Sài Gòn thất thủ.

https://en.wikipedia.org/wiki/Jim_Webb

8

 

Mark Moyar

 Mark Moyar sinh năm 1971 là thành viên của Nhóm Công tác thuộc Viện Hoover về vai trò của Quân sử trong Các Tranh Chấp Đương Thời và cũng là Giám đốc của Chương Trình Quân sử và Ngoại giao tại Center for Strategic and International Studies. Trước đó, ông đã là một Giảng viên cao cấp (senior fellow) của Foreign Policy Research Institute vào năm 2015. Ông cũng đã là Giảng viên cao cấp tại Joint Special Operations University từ năm 2013. Và cũng trước đó, ông đã là Giám đốc của Orbis Operations từ tháng 7 năm 2010, sau khi đã từng giảng dạy tại Marine Corps University, nơi ông nắm giữ chức vị Chủ Tịch Kim T. Adamson Chair of Insurgency and Terrorism.

Mọi người thì cũng đã rất biết về Mark Moyar qua những loạt bài ông từng đã viết về Cuộc Chiến Việt Nam.

9

Bob Sorley

 Lewis Stone “Bob” Sorley III thì chúng tôi cũng đã có dành NGUYÊN một phân trang tại

https://lehung14.wordpress.com/ts-lewis-sorley-gioi-thieu/

*****

~ X ~

 BỘ PHIM “THE VIETNAM WAR“

THEO KIỂU CỦA KEN BURNS (Tiếp theo)

  ~ Lê Bá Hùng chuyển ngữ ~

ĐĂNG NGÀY 21 THÁNG 10 NĂM 2017 BỞI SCOTT JOHNSON TRONG MỤC CULTURE, HISTORY

http://www.powerlineblog.com/archives/2017/10/the-ken-burns-version-contd-3.php

Tôi đã tự bắt phải xem toàn bộ dài cho tới 18 giờ đồng hồ cái bộ phim The Vietnam War do Ken Burns / Lynn Novick / Geoffrey Ward thực hiện. Phải đi mất mãi cả mười năm để thực hiện, đi lượm lặt từ muôn trùng tài liệu, chỉ để rồi quay đi bóp méo lịch sử của chúng ta mà thôi. Nó đã ráng phủ lên cuộc chiến đó, cái bộ mặt đúng theo chủ trương của bọn tả phái phản chiến, với mong muốn rồi đây sẽ có được cái tiêu chuẩn có được của một loại tài liệu từng được chuẩn chấp bởi công luận. Từng là một kẻ ham mê nền văn hóa phản chiến của thời đó, tôi cũng đã bắt đầu sáng mắt ra vào lúc bọn Bắc Việt xua tăng tấn công Sài Gòn vào năm 1975. Trong bộ phim, Burns đã giúp cho chúng ta biết được các quan điểm của những cựu chiến binh thời Việt Nam của chúng ta, từ phần A chỉ đến cả phần B mà thôi!  1

Dĩ nhiên Burns thì cũng có được rồi toàn bộ hệ thống ngột ngạt văn hóa chữ nghĩa của đám tả phái hỗ trợ cho bộ phim của y mà thôi. Ví dụ như tờ Star Tribune thì hôm nay, có đăng bài viết về cái y thị cùng làm bộ phim tài liệu là Lynn Novick, cùng xuất hiện với tay xướng ngôn viên chính của bộ phim là Tim O’Brien tại Macalester College. Liệu mà rồi ai sẽ có đủ khả năng hay hiểu biết hầu “chống” lại đây? Xử sự đúng y bon theo khuôn mẫu mà nhà văn George Orwell 2 đã từng tiên tri, bộ sậu Burns đã cố gắng lũng đoạn tương lai bằng kiểu lũng đoạn quá khứ và cũng đã chứng minh rằng ai lũng đoạn được hiện tại thì cũng lũng đoạn được quá khứ mà thôi.

Những sinh viên có am tường về đề tài này thì nay cũng đã bắt đầu lên tiếng phản biện lại. Mục đích của loạt bài này chỉ nhằm lưu ý mọi người phải lưu ý đến công việc của họ. Bài tham luận hàng tuần của Stephen Morris với tựa đề “The Bad War ~ Cuộc Chiến Xấu Xa” 3 thì cũng đã có góp phần khá quan trọng vào mục đích đó, cũng như bài thảo luận gồm hai phần của Mac Owens mà tôi đã có nói tới trong tuần trước rồi cũng tại trang này. Tôi cũng xin trích dẫn cái quan điểm xem ra không có gì là hoan nghênh của vị giáo sư tại đại học YaleCharles Hill về bộ phim của Ken Burns ở đây. 4 Trong suốt cả mười năm gọi là bỏ ra để làm cho được cái bộ phim tài liệu này, bằng cách nào đó, Burns đã không bao giờ tìm ra được được một cái cơ hội nào cả, hầu phỏng vấn cho được chỉ một cựu chiến binh như là vị luật sư Tim Kelly tại Minneapolis, người đã thay mặt cho bao nhiêu kẻ khác bằng cách chỉ đơn giản biểu lộ nổi tự hào khi được phục vụ cho đất nước của mình. Tôi đã có trích dẫn Tim trong bài “Notes on the Ken Burns version“. 5

Tạp chí City Journal cũng đã có đăng bài viết của Mark Moyar, “A warped mirror6 Moyar nguyên là một học giả uyên thâm hàng đầu về cuộc Chiến Việt Nam đó. Ngược lại với cái lời huynh hoang tự cho là công bằng và vô tư của bộ phim tài liệu, Moyar đã nhận ra được chính nó lại đã “đề bạt một chương trình nghị sự, mà tựu chung đã cũng thật là lộ liễu cho mọi cựu chiến binh, nhưng tiếc là lại sẽ không được minh bạch rõ ràng đối với những người còn quá trẻ chưa chào đời trong thời gian xảy ra cuộc chiến đó. Burns và Novick mong muốn chứng tỏ được rằng Mỹ đã tham chiến một cách không cần thiết và cũng đã không thể nào mà sẽ thắng trận được cả, và cũng chỉ vì lòng kiêu căng tự đại vô lối của quốc gia mà thôi”. Trong bài viết thì Moyar cũng có trích dẫn nhiều tài liệu rất hữu ích qua các đường nối (chẳng hạn bài chỉ trích của John Del Vecchio) 7 và cũng đã bổ túc một quan điểm cực giá trị về bộ phim tài liệu đó.

*****

Hình đều do người chuyển ngữ sưu tầm trên Liên Mạng.

Các đoạn nhấn mạnh bằng màu và có gạch đít là của người chuyển ngữ.

1

Chú ý là Scott W. Johnson có một kiểu viết rất châm biếm tế nhị, mà nếu hiểu ra được, thì rất ư là đắng cay và mỉa mai! Toàn bộ chữ cái trong Anh ngữ gồm có 27 chữ, từ A tới Z, nhưng tác giả ‘phê bình’ sự hiểu biết của tay làm phim Burns nghèo nàn như một bộ chữ cái chỉ có hai chữ từ A tới B mà thôi!

2

George Orwell

https://en.wikipedia.org/wiki/Nineteen_Eighty-Four

3

The Bad War

http://www.weeklystandard.com/the-bad-war/article/2010065

4

Đã viện dẫn trong bài VIII ở trên.

5

Đã viện dẫn trong bài VII ở trên.

6

A Warped Mirror by Mark Moyar

https://www.city-journal.org/html/warped-mirror-15531.html

7

Burning History: Slogging Through…

https://john-delvecchio.squarespace.com/lets-talk-america/2017/9/28/burning-history-slogging-through

*****

~ XI ~

 BỘ PHIM “THE VIETNAM WAR“

THEO KIỂU CỦA KEN BURNS (Tiếp theo)

  ~ Lê Bá Hùng chuyển ngữ ~

ĐĂNG NGÀY 3 THÁNG 11 NĂM 2017 BỞI SCOTT JOHNSON TRONG MỤC HISTORY, MEDIA

http://www.powerlineblog.com/archives/2017/11/the-ken-burns-version-contd-4.php

Tôi đã đúc kết và trình bày tất cả những gì mà tôi đã từng sưu tập được về bộ phim tài liệu của Ken Burns / Lynn Novick / Geoffrey Ward có tên gọi là The Vietnam War vào trong loạt bài với tựa đề “Notes on the Ken Burns version”. Tôi nghĩ rằng cái bộ phim tài liệu này thì cũng chỉ đi nhằm ngụy tạo sử liệu mà thôi.  Ngay chỉ với có một ví dụ mà thôi, như tôi đã có nêu lên trong bộ bài phê bình “Notes” nói trên, Burns và quý vị đồng sự của đương sự thì cũng đã dường như không thể nào đi tìm ra được chỉ một người lính nào đó mà đã có nhớ lại thời gian thi hành quân dịch của mình mà lại không có chút xíu gì là vỡ mộng, chán nản và xấu hổ. Nhưng cũng phải còn rất nhiều việc phải làm đối với cái công trình gian manh này, hầu tránh cho nó sẽ trở thành được một quân sử liệu khả chấp.

Người mà tôi hằng mong nhất để được biết quan điểm ​​về bộ phim này của Ken Burns đã là giáo sư Charles Hill 1 của Đại Học Yale. Giáo sư Hill là một công chức Bộ Ngoại giao đặc trách về giải thích chính sách ngoại giao Mỹ cho công luận và cũng là giảng viên về International Studies (Quốc tế học) tại Đại học Yale và đồng thời cũng là hội viên đặc trách về nghiên cứu của Học viện Hoover. Tuy nhiên, trước khi đến Yale, Giáo sư Hill cũng đã từng là một công chức tuyệt xuất sắc ở Bộ Ngoại giao. Trong quá trình công chức, ông cũng từng đã phục vụ tại ngay Sài Gòn trong thời gian cao điểm của chiến tranh Việt Nam (1971-1973). Một trong những chức vụ của ông đã là điều hợp viên về các điệp vụ tại Tòa Đại sứ Hoa Kỳ. Molly Worthen thì cũng từng viết về vai trò của Giáo sư Hill thời Việt Nam trong chương 6 của cuốn tiểu sử có vẻ hơi sớm, vừa rồi mới xuất bản trong năm 2005 của bà, “The Man on Whom Nothing Was Lost: The Grand Strategy of Charles Hill”.  2

Giáo sư Hill thì cũng đã từng nghiêm túc bỏ thì giờ ra để xem cái bộ phim tài liệu này. Tôi xin trích dẫn từ một điện thơ mà ông gởi cho tôi về bộ phim tài liệu này mà có liên quan đến tập đầu của loạt bài này. 3 Viện Hoover nay đã đăng bài viết của Tiến sĩ Hill về vụ này qua bài “OnThe Vietnam War“. 4 Bài đã bắt đầu như sau:

“Vẫn từ lâu, đã có câu nói “Lịch sử thì cũng chỉ do kẻ chiến thắng viết ra mà thôi”, mà Winston Churchill cũng từng đã, tuy khôi hài nhưng lại cũng thật là chí lý, kể lại trong mẫu tự truyện về dạo Thế Thứ Hai. Nay thì Ken Burns và Lynn Novick với bộ phim “The Vietnam War” thì quả cũng đã chứng minh là lời nói này thì cũng đúng thôi một lần nữa, nhưng lần này thì lại với một sự bóp méo thật là độc đáo. Tuy là người Mỹ, họ thì cũng là một trong số những người từng bị xem như là thua cuộc, nhưng bộ phim tài liệu của họ lại quay đi đề cao kẻ chiến thắng – bọn Cộng sản Bắc Việt. Đồng thời, bọn họ cũng thuộc thành phần đang thắng thế trong cuộc tranh luận tại quốc nội Hoa Kỳ giữa phong trào phản chiến chống lại cuộc chiến Việt Nam, với phía những người chủ trương là cuộc chiến đó đã là thiết yếu trong cái cuộc Chiến Tranh Lạnh ngày càng cứ lan rộng”.

Nhân khi xem bộ phim của Ken Burns, Giáo sư Hill có đặc biệt chú ý tới cách thức họ đã lợi dụng các cựu chiến binh, cùng luôn cả các mẫu hình tượng trưng của họ:

“Để nhằm cho khán thính giả rồi sẽ phải chấp nhận cái câu chuyện kể lại theo kiểu mới này, thì mấy người làm phim đã đưa ra một số cá nhân khác nhau, hầu tường trình về những gì đã xảy ra tại Việt Nam. Rồi thì cũng đã có những vị cựu chiến binh Mỹ đã vào lúc xế chiều của cuộc đời, mà lại đâm đầu đi tự mô tả mình là một loại “phản anh hùng”, chịu đi vào chi tiết để cho thấy là họ đã từng bắt đầu phục vụ đầy tự hào ái quốc, nhưng rồi qua kinh nghiệm đắng cay, họ đã bèn quay qua phản chiến. Cũng đã có những nhân viên ngoại giao và các chuyên gia về chính sách đối ngoại nổi tiếng từng nêu ra những sai lầm ngu ngốc và các chính sách ngu xuẩn mà các công chức ngu đần Mỹ đã từng áp đặt vào họ. Và rồi thì cũng đã có các quý vị phóng viên chiến trường, loại như là Neil Sheehan, 5 mà các bài phóng sự rất ư là hợp thời cũng đã ráng nêu ra sự vô đạo đức của cuộc chiến đó.

Tuy được rải rác xuyên toàn mười tập của bộ phim này, nhưng nếu được nhập chung lại thì tiếng nói của những chứng nhân này lại sẽ đóng trọn vẹn vai trò của một nhóm Hợp ca Hy Lạp trong một bi kịch cổ điển, đồng lòng tuyên vang báo trước những lời cảnh cáo bi ai sắp tới. Các tay làm bộ phim đã dùng các cựu chiến binh để tuyên bố là các quân nhân Mỹ phục vụ ở Việt Nam thì đều khiếp hãi: “Tôi sợ họ. Tôi ghét họ. Tôi đã quá ư là kinh hãi”. Và rồi sự kiện này đã được ma lanh cho biến thành một ẩn dụ gian ác cứ liên tục được kéo dài hàng loạt, cứ được phụ họa bằng bằng những khúc phim im lặng chỉ ghi nhận hình ảnh của người chiến binh Mỹ ngay tại chiến trường hay cũng gần đó thôi, với từng khuôn mặt hằn nét đầy sợ hãi. Rồi thì nào là các nhân viên và các chuyên gia ngoại giao thì cứ liên tục lên án sự ngu dốt cùng ngang tàng của giới lãnh đạo Mỹ. Và cũng rồi thì quý vị nhà báo cũng bèn cùng nhau bật lên đồng ý hoan hô “quào!”.

Giáo sư Hill đã nêu lên rõ ràng cách thức mà Burns hiện đang dùng để trình bày quan điểm về cuộc chiến đó của riêng y như sau:

“Cách thức được dung để bình luận cuộc chiến đó và cách đánh bóng nội dung của cái cặp Burns-Novick thì chỉ là nhằm chứng minh là không những, cuộc Chiến tranh Việt Nam đã từng là một chiến thắng của Hà Nội đối với Hoa Kỳ, mà cũng rõ ràng đã là một chiến thắng của tất cả các tầng lớp xã hội- chính trị-văn hoá-cá nhân trong cuộc cách mạng của thập niên 60. Khi đâm đầu đi tái khẳng định về phương diện lý thuyết của cái phong trào phản chiến thì cũng chỉ là đi xóa bỏ hết tất cả những đổi thay rộng lớn đã có về đặc tính của nước Mỹ, từng được mang lại bởi chính những kẻ cực đoan của thập niên 60, cái thể hệ mà ngay chính bộ phim cũng đã công nhận là thế hệ thực sự vĩ đại nhất. Vì vậy, bộ phim tài liệu của Burns-Novick cũng ít hay nhiều, hay còn có phần nhiều hơn nữa, thì cũng liên hệ đến cái nước Mỹ trong thế kỷ 21, y như là cái nước Mỹ của dạo những năm từ 1954 tới 1975 ở Đông Nam Á. Thời đó đã là một cuộc xung đột về chính trị và quân sự; nay nó đã lại trở thành và để nay là một giai đoạn mới khác chỉ dính líu về tiêu chuẩn ưu thế của đạo đức thôi“.

Giáo sư Hill quả thật đã có đóng góp một phần tối cần thiết giúp cho sự hiểu biết về bộ phim của Ken Burns. Rồi thì cũng còn có nhiều điều hơn nữa. Mọi người chỉ cần chịu khó bỏ chút thì giờ đọc những gì ông đã viết mà thôi. Mọi việc thì cũng thật là rõ ràng ở đây:

https://www.hoover.org/research/vietnam-war

*****

Hình đều do người chuyển ngữ sưu tầm trên Liên Mạng.

Các đoạn nhấn mạnh bằng màu và có gạch đít là của người chuyển ngữ.

1

Charles Hill đã có nói tới trong bài VIII ở trên.

2

The Man on Whom Nothing Was Lost: The Grand Strategy of Charles Hill

https://www.amazon.com/exec/obidos/ASIN/0618872671/amazon0156-20/

3

Đã viện dẫn trong bài VIII ở trên.

4

On “The Vietnam War”

https://www.hoover.org/research/vietnam-war

5

 

Neil Sheehan, sanh năm 1936, là một phóng viên Mỹ làm việc cho báo thiên tả The New York Times dạo 1971, người đã dược Daniel Ellsberg trao cho bộ tài liệu mật Pentagon Papers. 

*****

~ XII ~

Veterans angry, disappointed following PBS’ Vietnam War documentary

By TATIANA SANCHEZ | tsanchez@bayareanewsgroup.com | Bay Area News Group

PUBLISHED: September 29, 2017 at 6:06 pm | UPDATED: October 3, 2017 at 11:54 am

http://www.mercurynews.com/2017/09/29/veterans-angry-disappointed-following-pbs-vietnam-war-documentary/

CÁC CỰU CHIẾN BINH TỨC GIẬN, CHÁN CHÊ SAU KHI BỘ PHIM TÀI LIỆU “THE VIETNAM WAR“ CỦA PBS ĐƯỢC TRÌNH CHIẾU

Bởi TATIANA SANCHEZ | tsanchez@bayareanewsgroup.com | Bay Area News Group

ĐĂNG NGÀY: 29 Tháng 9, 2017 lúc 6:06 pm | CẬP NHẬT HÓA: 3 Tháng 10, 2017 at 11:54 am

  ~ Lê Bá Hùng chuyển ngữ ~

Một bộ phim tài liệu về Cuộc Chiến Việt Nam – từng được nhiều người xem như là một diễn trình kiệt tác về cuộc trường chiến mà đã từng gây chia rẽ trong đất nước – nay lại đã khiến cho nhiều cựu chiến binh Mỹ và Việt Nam cực kỳ bất mãn, mà thậm chí còn có cảm tưởng là họ đã bị phản bội.

“Cuộc Chiến Việt Nam” – bộ phim tài liệu của PBS gồm 10 phần, kéo dài cả 18 tiếng đồng hồ do hai nhà làm phim Mỹ Ken BurnsLynn Novickđã chấm dứt vào tối thứ năm rồi – đã tường trình lại lịch sử của cuộc chiến tranh bằng những hình ảnh, những đoạn phim và phỏng vấn của hơn cả 80 cựu chiến binh và nhân chứng từ mọi mặt. Bộ phim này đã được đề cao như là một tài liệu sống động và đánh mạnh vào thị hiếu về cuộc chiến này, cũng như là vào ngay mọi nhân vật liên hệ.

Nhưng các cựu chiến binh trong QLVNCH thì cho biết là họ hầu như bị bỏ qua không hề được nói tới, tiếng nói của họ bị chìm đắm trong ý đồ của bộ phim chỉ đặt trọng tâm vào phía Bắc Việt và tay lãnh tụ cộng sản của chúng là Hồ Chí Minh. Và nhiều cựu chiến binh Mỹ thì cũng cho biết là loạt phim này có một số thiếu sót thật là quá ư lộ liễu và đã tập trung ủng hộ quá nhiều vào cho những đám tả phái từng biểu tình phản chiến, cùng mấy người lính có tới tham dự để chống lại cuộc chiến đó.

Vào tối thứ Năm, vài giờ trước khi bộ phim cuối cùng được truyền hình, một nhóm cựu chiến binh Mỹ và VNCH đã cùng nhau tụ họp tại một ngôi nhà ở San Jose để cùng chia sẻ gợi nhớ lại những kỷ niệm về thời chiến và cũng để bàn về bộ phim tài liệu này.

Võ Sutton, một cựu thiếu tá công binh VNCH, đã bỏ thì giờ ra xem bộ phim nhưng đã khuyên bạn bè và gia đình đừng mất thì giờ vô ích mà thôi. Ông nói bộ phim chỉ “thuần túy là tuyên truyền mà thôi“.

Ông Võ, nay 80 tuổi rồi, đã phê bình “Cuộc chiến tranh Việt Nam thì đã liên hệ đến cả quân nhân Mỹ, VNCH và Bắc Việt Nam. Nhưng trong suốt toàn 18 giờ đồng hồ trình chiếu, cái vai trò của phía VNCH đã thật là chỉ có chút tí xíu mà thôi. Đã tự cho là tài liệu thì cần phải nên công bằng và cần phải nói sự thật với mọi người”.

Khi cuộc chiến chấm dứt, ông Võ đã bị đày đi đến một nhà tù được gọi là “trại cải tạo” của cộng sản, nơi mà chúng đã giam cầm ông trong cả 13 năm trời. Ông ta cho biết là đã có một thời gian, sau một lần ráng trốn tù, ông đã bị biệt giam trong suốt ba tháng dài trong một gian phòng đen như mực suốt 24 giờ mỗi ngày – chân thì bị còng và tay thì bị trói bằng dây cao su. 1

Ông tuyên bố, “Cho dù VNCH đã sụp đổ vào năm 1975, nhưng những người lính miền Nam chúng tôi cũng đã ráng làm tất cả những gì đã có thể làm được, với những gì mà chúng tôi đang có được vào lúc đó”.

Chúng tôi đã ráng chiến đấu hết sức mình cho đất nước chúng tôi. Chúng tôi đã đâu cần người Mỹ làm dùm cho chúng tôi. Chúng tôi không hề đã cần những quân nhân Mỹ phải đến và chiến đấu dùm cho chúng tôi. Chúng tôi chỉ cần tài chánh, tiếp liệu và sự hỗ trợ của quốc tế”.

Giống như ông Võ, ông Đông Văn Cang cũng đã từng bị đày đọa trong trại cải tạo, rồi cuối cùng đã được trả tự do vào năm 1987. Ông họ Đồng, năm nay thì 70 tuổi, Giám đốc của phân bộ trực thuộc Hiệp Hội Associates of Vietnam Veterans of America, 2 thì chỉ vừa mới bắt đầu xem loạt phim này, nhưng ông cho biết là đã bất mãn với những điều mà ông ta nghỉ là chi đi vinh danh cái tên họ Hồ của bọn làm phim.

Ông khẳng định, Toàn bộ chỉ là bố láo mà thôi. Đối với dân tộc chúng tôi, tên Hồ Chí Minh chỉ là một thằng đại bố láo và vô đạo đức mà thôi.

Cựu chiến binh Jim Barker, 70 tuổi tại San Jose, cũng nói là mình đã rất ngạc nhiên về tầm quan trọng mà bộ phim đã đi dành cho phía những bộ đội Bắc cộng  trong bộ tài liệu phim ảnh đó.

Barker, cố vấn của một đơn vị tình báo VNCH ở Tây Nguyên mà đã sống sót sau kỳ Kontum bị bao vây vào năm 1972, đã ngỏ ý: “Điều làm tôi khó chịu chính là cái tính cách ngạo mạn mà họ luôn luôn tự phô trương như họ là hơn cả mọi người khác. Tôi quả thật đã không thể nào chấp nhận được cái thái độ đó mà thôi. Tính cách một chiều này đã có ý đồ để khiến khán thính giả bỏ quên mất đi sự hiện diện của người dân Nam Việt Nam và luôn cả cái chính nghĩa lý tưởng nhân cuộc chiến đó”.

Trong một cuộc phỏng vấn mới đây với New America Media, ►3 Novick cũng thừa nhận rằng về phương diện lịch sử, những mẫu chuyện liên hệ đến miền Nam Việt Nam đều rất ư là bị tối thiểu hóa đi bởi giới truyền tin Mỹ, khi y thị nói là họ đã luôn luôn chỉ mô tả miền Nam Việt Nam như hoàn toàn chỉ là “bất tài và tham nhũng” mà thôi.

Y thị tuyên bố: “Nhưng bộ phim cũng đã cố gắng để tường trình về họ, vế đặc tính oai hùng và về những chuyện hy sinh cá nhân của bên phía những người thua trận”.

Khi bị hỏi về những chỉ trích rằng có bao chuyện đã không hề được nhắc tới trong bộ phim tài liệu này, thì cũng trong cùng cuộc phỏng vấn đó, Burns đã nói rằng mình cùng Novick đã từng phải lấy “những quyết định quan trọng, nhức nhối“.

Burns nói, “Làm sao mà chúng tôi lại đi có thể đem kể ra chuyện của hết tất cả mọi người.  Cho dù nếu mà làm dài cho tới cả 180 giờ đồng hồ, thì người ta rồi cũng sẽ nói là đã bỏ đi điều này điều nọ thôi. Mục đích chỉ là kể lại cho được mẫu chuyện của người mẹ với Ngôi Sao Vàng để đại diện cho mọi người mẹ với Ngôi Sao Vàng khác, và mẫu chuyện của người dân Sài Gòn này thì cũng là chuyện của nhiều người dân Sài Gòn khác thôi, và rồi người Thủy Quân Lục Quân VNCH này thì cũng là đại diện cho bao, bao là TQLC của VNCH khác mà thôi. Nhưng chúng tôi nghỉ là chúng tôi đã nói lên được tiếng nói của mọi người rồi”.

Tới nay PBS vẫn chưa trả lời liền yêu cầu bình luận của chúng tôi đã gởi họ vào hôm thứ Sáu.

Jack Wells, một trung tá Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đã về hưu, từng phục vụ ở Việt Nam dạo năm 1968 và 1969, có cho bộ phim tài liệu là “một kiệt tác về loại ‘video’ và về độ dài”, mà nhân đó, ông đã biết thêm được một số điều, nhưng cũng ghi nhận một số nhiều thiếu sót mà đã khiến ông phải ngở ngàng thôi.

Ông đã nêu lên cách thức mà bộ phim đã tường trình về vụ Kim Phúc, “cô gái Napalm“, người đã trở thành một biểu tượng nổi tiếng của cuộc chiến đó sau khi bức ảnh chụp năm 1972 cho thấy cô ta lúc còn bé đang chạy trốn trên đường cùng chung với những đứa trẻ khác, lưng thì bị đốt cháy do bom ‘napalm’ thả lầm bởi Không Quân VNCH. Wells thắc mắc là tại sao bộ phim cho biết Phúc đã rời Việt Nam và cuối cùng đến định cư tại Gia-nã-đại nhưng lại hoàn toàn không hề chịu đề cập đến việc cô đã xin tỵ nạn chính trị để thoát khỏi bọn cộng sản Việt Nam, những kẻ đã từng sử dụng cô như một biểu tượng tuyên truyền.

Vị cư dân lão thành 73 tuổi tại Cupertino nhận xét là bộ phim tài liệu đã chứa chất rất là nhiều thành kiến sai lầm trầm trọng.

Wells cho biết: “Trong khi họ có cho trình chiếu cảnh một người biểu tình để phản chiến, thì ngược lại, họ dường như không chịu dành cùng bằng chỉ khoản thời gian đó, cho một người không phải là kẻ đi biểu tình, hay của một người đã nhìn nhận tận mắt mình có nhìn thấy địch đã được đối xử một cách nhân đạo”.

Barker thì đồng ý. Ông nói: “Rất nhiều người trong số chúng tôi cực kỳ tự hào về những gì chúng tôi đã từng cố gắng làm và bảo vệ”.

Beth Nguyen, một nhà văn và cũng là giáo sư của Đại học San Francisco, đã đến Mỹ lúc còn ấu thơ vào năm 1975 sau khi gia đình cô ra đi bỏ nước trốn thoát bằng thuyền. Gia đình bà sau đó đã định cư tại tiểu bang Michigan.

 

Nguyễn Thị Minh Bích BETH ►4

 Bà họ Nguyễn, năm nay 43 tuổi, có nói: “Tôi lớn lên và rồi cũng đã bị biết về cuộc chiến đó, theo cùng một cách mà đa số người Mỹ cũng đã lớn lên và cũng đã bị hiểu biết về cuộc chiến đó, một tiến trình chỉ qua phim ảnh hay sách vở. Hầu hết mọi bộ phim thì cũng đều do một người da trắng thực hiện. Và bộ tài liệu này thì cũng vậy thôi”.

Bà họ Nguyễn nói rằng bà cũng cảm thấy bộ phim đã coi nhẹ tiếng nói của phía miền Nam Việt Nam, mà bà nói là cũng đã từng “mong đợi rồi để thất vọng“.

Bà tiếp, “Nước Mỹ đã bị chia rẽ vì cuộc chiến này. Niềm đau đớn và thống khổ của người Mỹ là điều mà tôi cảm thấy rất quan trọng cần để được bàn cải và suy tư đến, nhưng không phải vì vậy mà mà chúng ta bỏ qua không đếm xuể gì tới chính cũng nổi khổ đau và thua thiệt của người Việt Nam, và đó cũng chỉ đã là điều bình thường hàng ngày của thời đó mà thôi”.

Đối với Andrew Lâm, 54 tuổi, mà thân phụ là một cựu Trung Tướng VNCH, vị sĩ quan mà cũng đã có xuất hiện nhiều lần xuyên suốt trong bộ phim tài liệu này, thì bộ phim tài liệu này lại cũng đã có một ý nghĩa khác biệt.

 

Andrew Lâm 5

 Ông họ Lâm, một cư dân Fremont từng lớn lên ở Milpitas, đã là phóng viên phỏng vấn Novick với Burns hồi đầu tháng này cho New America Media, một cơ quan truyền tin đa dạng về các sắc tộc có trụ sở tại San Francisco.

Ông họ Lâm kể lại là bộ phim này đã làm bật lại và gợi nhớ bao cảm xúc cho thân phụ của mình, cụ Lâm Quang Thi, nay đã 86 tuổi, một điều mà ông chưa từng bao giờ chứng kiến được trong thời gian mình trưởng thành.

Trung Tướng Lâm Quang Thi

https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%A2m_Quang_Thi

http://phaobinhvnch.org/lamquangthi.htm

 Tư lệnh Phó Quân đoàn I & Quân khu I

Sanh năm 1932 tại Vĩnh Trạch, Bạc Liêu, miền Tây Nam phần Việt Nam

Hiện đang sống tại Thành phố Fremont, Tiểu bang California.

 

Ông họ Lâm tâm sự, “Nội vụ đã thật là đầy xúc động, bởi vì tôi tuy đã có biết qua các dữ kiện, nhưng tôi đã chưa bao giờ đã biết được cảm xúc của cha tôi đã là ra sao cả”.

Cái khoảnh khắc quan trọng trong bộ phim đã đến, khi thân phụ của ông được yêu cầu mô tả cảm giác của mình lúc đang trên con tàu trực chỉ về hướng Phi-luật-tân – nơi rồi ông sẽ đành phải xin tỵ nạn chính trị – lúc ông cùng các cựu chiến binh đã bị yêu cầu hạ quốc kỳ VNCH đang phất phới trên cột cờ tàu. 

Ông họ Lâm thú nhận, “Tôi đã nghe được tiếng khóc khô không lệ trong giọng nói của cha, mà đối với tôi thì đó quả là một cú sốc, bởi vì cha tôi là một vị tướng mà. Chúng tôi thì cũng không từng bao giờ tâm sự với nhau về vấn đề nội tâm này”.

 

Tatiana Sanchez

Tatiana Sanchez chuyên tường trình về các đề tài chủng tộc và nhân khẩu học cho Bay Area News Group. Trước đây, Sanchez là phóng viên đặc trách về di dân của San Diego Union-Tribune, đề cập đến chủng tộc, về sự đa dạng và đặc tính đa văn hóa của các cộng đồng trong khu vực. Cô đã tốt nghiệp Cao học Báo chí tại Đại học Columbia. Sanchez chào đời và lớn lên ở vùng Vịnh.

*****

Hình đều do người chuyển ngữ sưu tầm trên Liên Mạng.

Các đoạn nhấn mạnh bằng màu và có gạch đít là của người chuyển ngữ.

1

Ông họ Võ đã hưởng được phúc đức dòng họ: bao người khác đã từng bị VC xử tử tức thì khi mưu toan vượt ngục!

2

http://www.avva.org/

Associates of Vietnam Veterans of America, Inc. (AVVA) là một tổ chức quốc gia phi lợi nhuận về tổ chức dịch vụ hoạt động xuyên qua hơn 600 phân hội địa phương mà đều sinh hoạt một cách độc lập. AVVA nhằm hỗ trợ cho các nhu cầu của tất cả các cựu chiến binh, cùng gia đình và cộng đồng của họ.

Trên trang web này, bạn sẽ có thể tìm thấy hầu như bất kỳ thông tin nào bạn cần về các chức năng căn bản của AVVA. Hãy kiểm tra tất cả các đường nối và các trang khác nhau, để tìm hiểu thêm về AVVA và tiếp xúc với tổ chức, nếu muốn.

3

Đây là bài phỏng vấn Ken Burns Lynn Novick bởi ANDREW LÂM, biên tập viên của New America Media, mà cũng là con trai của Tướng LÂM QUANG THI.

The Vietnam War: An Interview with Ken Burns and Lynn Novick

http://newamericamedia.org/2017/08/the-vietnam-war-an-interview-with-ken-burns-and-lynn-novick.php

(bản tiếng Anh)

http://newamericamedia.org/2017/08/the-vietnam-war-phng-vn-vi-ken-burns-va-lynn-novick.php

(bản tiếng Việt)

4

Nguyễn Thị Minh Bích BETH Giáo sư và Giám dốc Chương Trình Cao Học Master of Fine Arts MFA tại Đại học San Francisco, cũng là tác giả cuốn hồi ký Stealing Buddha’s Dinner, từng đoạt giải PEN/Jerard Award, và cuốn tiểu thuyết ngắn Short Girls mà đã giật được giải American Book Award, cũng như là quyển Pioneer Girl. Bà cũng là đồng tác giả của bộ thi tập Contemporary Creative Nonfiction: I & Eye và 30/30: Thirty American Stories from the Last Thirty Years.

https://en.wikipedia.org/wiki/Bich_Minh_Nguyen

5

Andrew Lâm sanh năm 1964 tại miền Nam Việt Nam, nguyên là con trai Tướng Lâm Quang Thi và là cựu học sinh trường Lycée Yersin tại Dà Lạt, đã tới định cư tại Mỹ năm 1975, sau đó tốt nghiệp cử nhân Sinh Hóa tại Đại học California, Berkeley và học tiếp về viết văn tại San Francisco State University. Trong khi còn ở đại học, ông đã viết cho Pacific News Service và đã được trao giải Outstanding Young Journalist Award của Hiệp hội Society of Professional Journalists.

Ông từng xuất hiện trong bộ phim tài liệu của PBS do WETS sản xuất năm 2004 với tựa là My Journey Home nhằm kể lại lần mình về lại thăm quê hương.

Hiện ông chủ biên trang trên Liên Mạng của New America Media và đồng thời cũng là phóng viên và nhà văn chuyên viết chuyện ngắn, đã có ra mắt bộ sưu tập Perfume Dreams mà theo đó, ông đã ráng phân tích về những khắc khoải của một người gốc Việt trưởng thành trên đất Cờ Hoa và nhờ đó, đã nhận được giải thưởng PEN Open Book Award (trước kia gọi là Beyond Margins Award) vào năm 2006.

Ông cũng là một cộng sự viên thường xuyên cho đài National Public Radio với chương trình All Things Considered.

Quyển sách thứ nhất của ông, East Eats West: Writing in Two Hemispheres là một sự suy nghiệm trầm tư về mối giao lưu Đông Tây và về ảnh hưởng mà người Á châu đã mang lại cho xứ Cờ Hoa. Do đó, ông cũng đã được công nhận là Top Ten Indies bởi Shelf Unbound Magazine trong năm 2010.

Quyển sách thứ nhì của ông, Birds of Paradise Lost, là một tuyển tập về truyện ngắn kể về những khó khăn của các người Việt mới tới định cư tại Mỹ tại Vùng Vịnh San Francisco sau một hành trình đầy bi thương cúa họ.

Ông thường có bài viết trên Huffington Post và cũng là một hội viên của John S. Knight Journalism tại đại học Stanford University trong các năm 2001-2002.

https://en.wikipedia.org/wiki/Andrew_Lam

*****

~ XIII ~

Vào thàng 9 Năm 2017 này, đám Tân Tả Mỹ, mà thực sự chỉ là một bọn cộng sản dưới một hình thức MỚI, mà TS Roger Canfield đã gọi rất chính xác là bọn Mỹ Cộng trong công trình sưu tìm đồ sộ cả 2000 trang mà chúng tôi đã chuyển ngữ, được cái đám truyền tin bình dân ‘mainstream media’ phò tá, tung ra để thăm dò dư luận Mỹ (nói riêng) và dư luận thế giới (nói chung), bộ trường phim The Vietnam War.

Mụch đích của chúng là gì? Và CHÚNG là AI mà đã bỏ tiền ra chi cho tên làm phim thiên tả này?

Trong những lần dạo đàn giới thiệu trước, bộ phim này chỉ đánh lận con đen, kể ra những tổ chức tài trợ CHUNG cho đài PBS để làm khán thính giả hiểu lầm là chính những quỹ và hội thiện nguyện này ĐÃ trực tiếp tài trợ cho cái công trình ma giáo này! Và khi ráng ‘google’ thì cũng không sao mà chính thức tìm ra được AI hay NHỮNG AI đã chi tiền ra cả!

Mà nói ngay, những các gọi là hiệp hội và tổ chức không vì lợi ích đó, tiêu biểu là Ford Foundation, từ thời dưới quyền của tay McGeorge Bundy, cố vấn an ninh cho Kennedy rồi Johnson, đui mù không hiểu biết gì tình hình Việt Nam mà lại cứ đi xúi dại Mỹ trực tiếp can thiệp mạnh, để rồi sau đó, thay vì chuộc lổi như một trí thức liêm chính, lại quay đi lãnh đạo phong trào thiên cộng tả phái để chống lại cái quá khứ sai lầm của y như là một hình thức xin lổi, rồi tạo một môi trường thuận lợi cho Obama lên cầm quyền để thi hành đúng với những gì mà tên sư tổ Mỹ cộng là Frank Marshall Davis đã dạy dổ cái “viên huyền ngọc bị vẫn đục“ này!

Nội tình đen tối và rối răm này, mà vô tình Trời lại định để lôi kéo định mệnh của cái Nước Việt chúng ta phải trả cái nợ diệt chủng tộc Chân Lạp dạo xưa, thì cũng đã được David Horowitz phân tích cặn kẻ trong The New Leviathan. 1

Chỉ điều này cũng nói lên toàn bộ nội vụ: KHÔNG CHÍNH DANH!

Thật sự, bọn Dân Chủ Mỹ Cộng thì nói ngay cũng KHÔNG ưa gì chủ thuyết Cộng sản đâu! Đó cũng là cung cách của đảng Tự Do xứ Gia-nã-đại với anh thày giáo/thủ tướng dựa hơi cái tên TRUDEAU mà thôi! Nhưng để DÀNH chính quyền, chúng PHẢI làm KHÁC với bên Cộng Hòa: và có cách gì để làm khác mà HAY HƠN là theo Cộng?

Người nào có đủ khả năng và thì giờ DƯ GIẢ để ngồi ‘thưởng lãm’ cái công trình vô bổ này, để rồi phê bình BINH VỰC này kia, nếu không có một ý đồ thâm sâu hay một tham vọng hoang tưởng nào đó trong lúc xế chiều của cuộc đời ly hương đau đớn?

Riêng với chúng tôi, thì vào cuối năm 2017, chúng tôi cũng đã ‘lượm’ được trên Liên Mạng độ gần cả trăm bài, chê bai có, mắng chưởi cũng có, hay là cũng đầy căm thù, mỉa mai hay xem như trò đùa vô vị của cái vụ “bộ phim tài liệu của Mỹ Cộng” này.

Ngoài ra, nhân trao đổi điện thơ với TS Roger Canfield, ông ta cũng có nhã ý cung cấp cho chúng tôi một tài liệu do ông sưu tập dài độ 59 trang, dạng chữ Times New Roman cở 11, cũng về bộ phim của đám Dân chủ Mỹ thiên Tả này.

Sau bài này, nếu thuận tiện, chúng tôi sẽ có loạt bài chuyển ngữ khác về các bài này (nếu còn đủ thời sự tính).

Vụ này lại làm chúng ta nhớ lại tiếng cầu cứu cô đơn trong sa mạc của Người Tù Kiệt Xuất của nhà văn Lô Răng Phan Lạc Phúc trong quyển sách Bạn Bè Gần Xa  là Đại Úy Nguyễn Hữu Luyện, một người Người Việt Nam nồng nàn yêu nước, nhưng định mệnh éo le lại bị sanh ra dưới ‘ngôi sao cô đơn’, kẻ mà năm 2000, sau khi vào học tiếp Cao học tại Đại Học University of Massachusetts Boston (UMASS Boston) sau mấy chục năm bị tù đày cộng sản, đã cùng một số người Việt khác (theo sự khởi xướng của Đại Úy Luyện, chiếu theo phán quyết sơ thẫm 450 Mass. 291 (November 8, 2007 – December 21, 2007, Suffolk County) và phán quyết phúc thẫm 66 Mass. App. Ct. 276 (January 11, 2006 – May 11, 2006, Suffolk County), thì gồm có Bùi Diễm, Dinh Tu Nguyen (? tên ghi theo kiểu Anh ngữ trong phán quyết mà người chuyển ngữ đã không thể xác định được), Lê Phước Sang, Nguyễn Tường Bá, Trần Minh Xuân, Phan Nhật Nam, Nguyễn Thanh Liêm và Nguyễn Văn Chức), cùng đứng đơn kiện về hộ cả UMASS Boston và Trung Tâm William Joiner Center for the Study of War and Social Consequences thuộc UMASS Boston, là đã không minh bạch mà lại còn kỳ thị trong thủ tục chọn người cộng tác có trả lương để hoàn thành công trình nói về Người Tỵ Nạn Việt Nam. Các tài liệu Mỹ thì đã dùng nhiều định nghĩa về đề tài này, như là Vietnamese identity in the era following the Vietnam War hay là Vietnamese diaspora như quy định bởi tổ chức Rockefeller Foundation of New York mà đã tài trợ cho công trình khảo cứu này.

Tuy không thành công (vì lý do thủ tục tố tụng, theo quan điểm của người chuyển ngữ), nhưng sự kiện này cũng đã khiến cho công trình nghiên cứu thiên tả và thiên vị này KHÔNG còn giá trị như bọn Thiên Cộng Tân Tả Hoa Kỳ từng mưu đồ trước đó!

Chúng ta có thể đọc thêm và chia xẻ nổi ngậm ngùi của Đại Úy Nguyễn Hữu Luyện tại:

https://vietbao.com/a66815/phong-van-cuu-dai-uy-nguyen-huu-luyen

và tường trình nội vụ tại trích lục của 2 phán quyết:

Phán quyết sơ thẫm 450 Mass. 291

http://masscases.com/cases/sjc/450/450mass291.html

hán quyết phúc thẫm 66 Mass. App. Ct. 276

http://masscases.com/cases/app/66/66massappct276.html

và dĩ nhiên, quá ư là rõ ràng, hôm nay, khi vào trang Facebook của cái Trung Tâm Thiên Tả Thiên Cộng này, thì cũng tràn lan là quảng cáo và ca ngợi bộ phim The Vietnam War mà thôi.

https://www.facebook.com/pg/joinerinstitute/posts/

Chỉ những kẻ TỰ bịt mắt thì mới KHÔNG chịu thấy SỰ THẬT rành rành đó mà thôi!

TỘI!

Lịch sử quả là một sự tái diễn mà thôi!

 

Không thể nào mong đợi cái Đám Tân Tả Mỹ cộng này thay đổi được đâu!

Chúng sẽ mãi mãi sống lê lết cuộc đời của loài ngựa ĐÃ bị buộc dây cương, chỉ phải bị biết nhìn một hướng vì đã chấp nhận mắt bị che bởi CHỦ.

Mãi tới nay, sau bao nhiêu năm với bao nhiêu chết chóc và khổ đau tang tóc của bao nhiêu nạn nhân người Việt trong nước, chúng vẫn KHONG hề lên tiếng về sự sa đọa của cái đám thổ phỉ xuất phát từ núi rừng, cái đám thảo khấu rừng xanh ‘loài VC’, của mấy con khỉ đỏ đít, của mấy thằng cướp mặt xanh lè như lông két, của loài chó hoang mà cứ tưởng ta đây là bà Hoàng (lời TRANG LÊ), cái đám ở truồng mà lại bày đặt đeo dây nịt quần (lời LISA PHẠM), không bao giờ ra khỏi được cái hang Pác Bó hôi tanh đó, cái bọn mà Cha Nguyễn Duy Tân tại giáo xứ Thọ Hoà cũng đã từng tuyên bố: “CS là BÓNG TỐI, CS là GIAN DỐI, CS thích NÓI DỐI!”. Còn Linh mục Phê-rô Nguyễn Văn Khải DCCT cũng từng phê bình: “Cộng sản nó rất SÁNG trong cái ÁC, Cộng sản nó rất TỐI trong cái TỐT.

HOÀN TOÀN CHỈ MẮNG CHƯỞI VNCH MÀ KHÔNG HỀ NÓI, DÙ CHỈ CÓ 1 CHỮ THÔI, VỀ CÁI ĐẤM THỔ PHỈ VC!

Đặc điểm của bọn này là chúng chưởi người khác thì được, nhưng chỉ ngay khi ai nói tới chúng mà không thuận lợi, thì chúng nhảy toáng lên, la làng là bất công và bị ăn hiếp!

Rơi rớt vài quyển sách của cái đám này, chẳng hạn như quyển “Why the North won the VN war” (edited by Marc Jason Gilbert, published by PALGRAVE, 2002), mà người chuyển ngữ đã có điểm tại

http://www.amazon.com/Why-North-Won-Vietnam-War/product-reviews/0312295278/ref=dp_top_cm_cr_acr_txt?ie=UTF8&showViewpoints=1

hay tại

https://lehung14.wordpress.com/linh-tinh-miscellaneous/review-of-why-the-north-won-diem-sach/

hoặc là quyển America in Vietnam: The War That couldn’t Be Won, (by Herbert Y. Schandler, Rowman & Littlefield Publishers, Inc (2009), thì rất đặc biệt, đúng y chang là những tài liệu thậm chí dịch thằng (chứ không phải là chuyển ngữ) từ các tài liệu tuyên truyền của VC, dùng toàn những chữ như là “puppets”, “dictatorship”, “illegitimate”, v. v. . .

Riêng hình thức tràn giang đại hải của bộ phim thì cũng cho thấy là KHÔNG NÓI ĐƯỢC LÊN GÌ CẢ, vì rõ ràng cái thùng rỗng thì phải kêu to mà thôi.

Rồi lại phụ họa là cái lời lửng lơ con cá vàng của cái loa VC (mà đặc biệt chuyên xưng TÔI thay mặt cho cả cái chế độ Pác Bó, nhưng sau khi rời núi, nay cũng tập biết dùng được hai chữ chúng tôi) khi bị hỏi vè bộ phim thiên tả này vào ngày 19 tháng 9 năm 2017: “Chúng tôi mong muốn nhân dân Hoa Kỳ và các nhà làm phim hiểu được tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến cũng như thiện chí của Việt Nam”.

Rồi đây thì thế nào ký giả Rushford cũng sẽ có bài bật mí tất cả cái bề sau dơ dáy của việc tài trợ bô phim thiên Cộng này mà thôi! (và chắc chắn, sẽ được nhanh chóng chuyển ngữ để mọi ngưồi thấy rõ tại trang Liên Mạng cá nhân này!

Rồi cũng vẫn cái khuôn mẫu ngàn đời không đổi (mà không hiểu tại sao có một số người Việt KHÔNG chịu nhìn thấy?), ngay sau khi bộ phim thiên Cộng của bọn Tân Tả này ra mắt, thì cái tổ hợp CSIS ( mà chúng tôi cũng đã từng có nhiều bài giới thiệu và chuyển ngữ về nó, cái Center for Strategic and International Studies CSIS ~ Trung tâm Chiến lược và Nghiên cứu Quốc tế (được biết đến bởi tên viết tắt là CSIS), cái Trung Tâm Mỹ với cái tôn chỉ “đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn” này qua nhiều bài rồi, chẳng hạn như bài: 

Rushford #6: VC Mua Ảnh Hưởng của Mỹ

https://lehung14.wordpress.com/linh-tinh-miscellaneous/rushford-6-vc-mua-anh-huong-cua-my/

và kế tiếp, đã bèn nhập cuộc, như cái Trung Tâm William Joiner Center for the Study of War and Social Consequences thuộc UMASS Boston mà người hùng cô đơn NGUYỄN HỮU LUYỆN đã gần như đơn thương độc mã đứng ra phản đối và gióng lên tiếng chuông báo động (trong khi bao người Việt vẫn mãi lo mưu sinh kiếm sống qua ngày, ngay cả người chuyển ngữ viết bài này (!), như là đã tổ chức hội thảo, nhưng chỉ có TS LEWIS SORLEY (cho có vẻ công bình), nhưng đa số là bọn thiên tả, mà không có các vị học giả lừng danh và công bằng như là Phó Giám đốc Trung Tâm Center for National Security LawTS ROBERT F. TURNER hay TS ROGER CANFIELD, người từng phân tích cặn kẻ lý do nhờ đâu chính bọn Tân Tả Thiên Cộng Mỹ đã đánh thắng VNCH dạo xưa trong tác phẫm tài liệu đồ sộ để tham khảo cả 2 ngàn trang mà tôi đã chuyển ngữ và đăng tại trang nhà (chớ KHÔNG hề là bọn VC đâu, đặc biệt với bài Kế Hoặch Duck Hook):

Kế Hoặch Duck Hook ~ Móc Vịt đã khiến VC chuẩn bị đầu hàng dạo 1969/70

https://lehung14.wordpress.com/linh-tinh-miscellaneous/ke-hoach-duck-hook-moc-vit/

https://lehung14.wordpress.com/ts-roger-canfield-tieu-su/roger-canfields-americongs-book/

CSIS đã quảng cáo như sau:

The VN War Debate…

  1. CSIS: VIETNAM WAR DISCUSSION

Friday, September 29, 2017 3:00 pm – 5:00 pm

Chúng ta cũng nên nhớ là chính cái trung tâm CSIS này, của bọn Mỹ Thiên Tả Thiên Cộng, mà cũng là bọn phụ trách vận động bầu cứ cho mụ Clinton vừa rồi, nhưng thực sự cũng chỉ là bọn SỐNG CHO VÀ VÌ $, cũng đã từng muối mặt, ngữa tay nhận cái đồng $ bố thí mà bọn thảo khấu rừng xanh VC đã cướp của Người Dân Việt cơ hàn đói kém để đành đoạn đuổi nữ bác sĩ NGUYỄN THỂ BÌNH ra khỏi buổi họp báo của tên Trọng Lú tại trụ sở của chúng trong tháng 7 năm 2015 khi y, sau khi cái gọi là đảng CS của Việt, đã đem bao sinh mệnh tuổi trẻ Việt vứt bỏ không thương tiếc dọc Trường Sơn hay trên khắp đồng ruộng phì nhiêu Miền Nam thân yêu, hầu ĐÁNH CHO MỸ CÚT, để rồi nay lại dùng tiền mồ hôi nước mắt Người Dân Nghèo Vô Tội đi trả tiền, cũng lại cho Mỹ, để LẠY XIN MỸ TRỞ LẠI?

Quả là một sự ngồi ỉa trên CHÂN LÝ của Loài Người (chớ không phải là loài vượn)!

https://lehung14.wordpress.com/linh-tinh-miscellaneous/bac-si-nguyen-the-binh-hung-than-cua-trong-lu/

Bang trưởng của đám Tân Tả này là cái tên Noam CHOMSKY, lừng danh thế giới vì từng tự tay bịt mắt, dõng dạc lên tiếng khắp thế giới thẳng tay bác bỏ vụ bọn Pol Pot tàn sát đồng chủng sau khi cướp chính quyền váo năm 1975 là HOÀN TOÀN BỊA ĐẶT!

 

Noam CHOMSKY (1928 – ? ) tại Oak Lane, Pennsylvania

Một tên, gọi là có bằng cấp, xử sự như vậy, nhưng TRÍ KHÔNG THỨC, mà vẫn có rắn rít hùa theo!

HẾT Ý!

Y quan trọng vì đã nhờ cơ Trời (!), từng được nổi tiếng là một tên ngôn ngữ học nổi tiếng của xứ Cờ Hoa.

Có Trời, có Phật, có Chúa, có Mohammed hay không đây?????

Tiêu biểu là cái tên có bằng loại ‘chính khách sa-lông’ nhưng trí KHÔNG THỨC tên là Garry J. Bass, giáo sư về chính trị và các đề tài quốc tế tại Đại học Princeton, trong quyển sách “The Blood Telegram“ mà đã được tờ báo thiên tả New York Times trao giải Book of The Year và được nhà xuất bản Hurst & Company, London xuất bản năm 2014, thì vẫn điềm nhiên gọi Chính Phủ VNCH là bất họp pháp (illegitimate) tại trang xx của sách, kết buộc Sài Gòn là độc tài (dictatorship) tại trang 199,  hay vu cáo là một chế độ tàn ác (cruel) tại trang 217, thậm chí còn đi lặp lại những lời của tên ích kỹ tàn nhẫn chỉ lo thanh danh mà đành hy sinh mạng sống người bạn gái Mary Jo Kopechne là Edward Kennedy, cái tên từng cùng bạn đồng lớp ăn cắp chép nguyên văn bài làm của một sinh viên khác trong môn thi Khoa học, rồi liền kế tiếp sau đó, lại nhờ bạn cùng lớp thi dùm môn Sinh ngữ Tây-ban-nha, đến nổi bất chấp thế lực gia đình, cũng vẫn đã bị đuổi khỏi Đại Học Harvard! Thì cũng chính cái tên đó đã từng ra lời mắng chưởi VNCHchế độ độc tài (regime authoritarian) để được trang trọng nhắc lại tại trang 233 cũng của cái quyển sách MỚI viết vào năm 2014 đó!

Một quyển sách PHE TA trao giải thưởng CHO NHAU, với toàn thể 499 trang, mà nội dung viết thực sự chỉ có 345 trang (tức là 2/3), còn lại thì chỉ là một mớ rối bòng bong tạp lục danh sách ‘hù dọa’ của muôn trùng nguồn tài liệu đã dẫn rất ư là vô ích!

Thái độ và tư cách rất ư là tiêu biểu cho bọn Mỹ cộng: hoàn toàn không nói gì tới “phe ta VC”, bởi vì có được chút xíu gì điều nhỏ nhoi tốt để mà nói, mà chỉ toàn là THỐI THA và DƠ BẨN cùng MAN RỢ mà thôi!

Luôn luôn là cái kiểu CẢ VÚ LẮP MIỆNG EM của đám Tân Tả Cộng sản Mỹ!

https://en.wikipedia.org/wiki/Ted_Kennedy

Nhưng KHÔNG có gì sẽ mãi có thể che dấu được dưới ánh mặt trời đâu: nay đã vừa có 2 bộ phim:

New Film Lays Out ‘Negligent Actions’ of Ted Kennedy in Kopechne Death

https://www.newsmax.com/Newsfront/Mary-Jo-Kopechne-Ted-Kennedy-movie-Chappaquiddick-Island/2017/09/15/id/813935/

Carr: ‘Chappaquiddick’ reveals Ted Kennedy’s ‘Untold story’

http://www.bostonherald.com/news/columnists/howie_carr/2017/12/carr_chappaquiddick_reveals_ted_kennedy_s_untold_story

Nhân những ngày bi đát cuối cùng của VNCH, cũng chính cái tên này, trong Tiểu ban Subcommittee on Refugees and Escapees của Thương Viện Liên Bang Mỹ, đã ra tay đóng cây đinh cuối cùng vào nắp quan tài chôn mất VNCH chúng ta!

Mary Jo Kopechne

Edward Kennedy và đồng bọn John Kerry

Cây cầu tang chứng định mệnh tại Chappaquiddick Island

https://en.wikipedia.org/wiki/Mary_Jo_Kopechne

Garry J. Bass

Một tên Tân Tả New Left có bằng cấp nhưng trí không thức tiêu biểu, tiêu biểu rơi rớt của thời “phản chiến Việt Nam dạo 60”!

Thiết nghỉ, KHÔNG cần lưu ý đến chúng, cũng như đúng ra, Phan Nhật Nam ĐÃ không nên thèm trả lời bọn VC làm gì!

Bọn này nhục nhã KHÔNG biết TỰ nhận mình sai lầm (VÌ dù đã là con người thì ai cũng phải sai lầm cả), Và đó cũng là cái đặc tính tiêu biểu của bọn chúng, kém xa một người nữ du ca Mỹ là Joan Baez đã từng công khai nhận mình sai lầm khi đã ủng hộ VC trước 75 (sau khi đau đớn chứng kiến làn sóng người ‘boat people’) và ráng chuộc phần nào tội lổi qua các buổi gây quỹ giúp Người Tỵ Nạn (hoàn toàn trái ngược với mụ dâm loàn đa phu Jane Fonda!).

Joan Baez

 NHƯNG để làm con người, để được xứng đáng là ‘con người theo ĐÚNG nghĩa của NÓ’ thì PHẢI có bổn phận TỰ khai hóa, phải đi tìm hiểu trên Liên Mạng (mà hiện nay rất ư là dể dàng) về SỰ THẬT.

Theo tôi, không có gì đập vào suy tư hơn là DAVID HOROWITZ, một nhà văn với toàn bộ chỉ liệt kê đề tựa các công trình đã viết (mà có thể nói là ĐỒ SỘ), nếu in theo Font Helvetica 12, thì kéo dài cho tới cả 43 trang, được liệt kê tại

http://www.frontpagemag.com/bibliography

Điểm đặc biệt độc chiết của ông là ông ta đã trưởng thành như một ‘red diaper ~ bé mang tã đỏ, định nghĩa mô tả những con cái của những đảng viên sáng lập viên đảng Cộng Sản Hoa Kỳ.

Sau một thời gian dài lăn lộn chết sống với cái ‘lý tưởng’ đó, David Horowitz cuối cùng ĐÃ nhận chân ra SỰ THẬT và để chuộc lổi, đã tự bắt mình SỐNG LẠI TRONG SƯ MỆNH PHẢI RÁNG DIỆT CÁI ÁC, MÀ TIÊU BIỂU LÀ CỘNG SẢN!

Lòng yêu Nước, sống không vô cảm và phải chống chống Cộng không thể bị đem ra mà đùa giởn: không chống Cộng mà chỉ chống cái Ác thì có nghĩa là VC không ÁC!? Khi đã KHÔNG chính danh, một nhúm nhỏ trẻ Việt mà dám đại ngôn xưng là International Youth Movement for Human Rights (Phong Trào Giới Tre Thế Giới vì Nhân Quyền), ngoài cái đặc tính THA HÓA xa rời với nước Việt, thì đương nhiên ngôn KHÔNG thể nào mà thuận được!

Và rồi, “hoàng tráng“ tổ chức đại hội cùng lúc với cái bộ phim Thiên Tả Thiên Cộng The Vietnam War này ra chầu làng, thì lại càng cho mọi người thấy ở đâu đó, có một cái bàn tay lông lá DƠ DÁY nào đó, lại lần nữa, theo tinh thần “lịch sử là một sự tái diễn“, lại muốn giết VNCH chúng ta lần nữa, khi chúng ta bắt đầu đứng lên lại được sau thời gian quá ư là đau thương!

Và thêm sự kiện rầm rộ trình làng cùng lúc với bộ phim Thiên Tả Thiên Cộng “The Vietnam War`` liệu chăng có phải là một sự tình cờ, hay là một màn kịch rất ư là lớp lang, đã được chuẩn bị kỷ càng từ lâu với một ý đồ ĐEN TỐI nào đó?

một chủ trương rất khoa học và hợp luật pháp quốc tế từng được LS Lâm Chân Thọ đề xướng tại

https://www.youtube.com/watch?v=xVs2cYzyrVk

hay do nhóm của Giáo Sư Lê Nguyễn Công Tâm đang chủ xướng, mà theo tôi, người chuyển ngữ và viết bài này, nghỉ là rất thực tế và khả thi.

Chúng ta tạm thời có thể tham khảo chút ít thêm tại tài liệu YouTube ở đường nối dưới đây:

https://www.youtube.com/watch?v=cGehVSGbvsY

Cũng không phải tự nhiênChính Phủ Indonesia vẫn giữ và trương cờ VNCH tại buổi lễ kỷ niệm 60 năm Hội nghị cấp cao Á Phi hôm 24/4/2015. Indonesia chính là 1 trong 4 thành viên trong Ủy ban Quốc tế về Kiểm soát và Giám sát Đình chiến quy định trong Hiệp định Paris 1973, cùng với Ba Lan, Gia-nã-đại và Hung-gia-lợi. Điều này cho tháy rõ ràng, Indonesia vẫn chủ trương là vai trò trong Ủy Ban đó của họ vẫn chưa hề chấm dứt!

Và VC thì cũng KHÔNG dám lên tiếng phản đối, vì chẳng lẻ lại tự cho là mình đã từng trắng trợn vi phạm Hiệp định?

http://danlambaovn.blogspot.com/2015/04/chu-tich-sang-chup-anh-duoi-la-co-vang.html

 https://vietbao.com/a277012/hay-tinh-thuc-hiep-dinh-paris-1973

 http://vnqvn.blogspot.ca/2018/01/hay-tinh-thuc-hiep-inh-paris-1973.html#more

 Và tôi sẽ chuyển ngữ phần lý lịch và điểm sơ về các bài viết của David Horowitz, mà các nhà điểm sách đều đã công nhận là “extremely prolific ~ cực kỳ phong phú” để đăng ngày gần đây, đặc biệt là quyển mới nhất trong Bộ 10 quyển “Black Book of the American Left: Volume VIII ~ The Left in the University” do Second Thoughts Books Los Angeles xuất bản trong tháng 9 năm 2017 này.

Chính David Horowitz cũng đã từng phơi bày và lột cái mặt nạ đạo dức giả tự gọi là trung lập của cái đài Public Broadcasting Service PBS (và cả National Public Radio NPR) thiên cộng của bọn Tân Tả này tại trang mạng

http://www.discoverthenetworks.org/viewSubCategory.asp?id=1590

gồm đăng một số bài viết đã có trên Journal of the Committee on Media Integrity (COMINT), và cũng đã được chính ông, cùng với Laurence Jarvik, xuất bản mãi tận vào năm 1995 sưu tập các bài viết về cùng dề tài với tựa là Public Broadcasting And The Public Trust, viết chung với Laurence Ariel Jarvik, xuất bản bởi Center For The Study Of Popular Culture.

Bọn này RẤT Ư LÀ NGUY HIỂM, vì chúng thuộc loại có bằng cắp nhưng MA GIÁO, đến mức lũng đoạn được luôn cái Tổ chức Ford Foundation, một công trình có được nhờ hệ thống tư bản chủ nghĩa, nhưng chúng đã cướp đi qua các kỹ thuật tinh vi về luật pháp, và đến năm 1976, chính ngay người con của dòng họ là Henry Ford II đã phải đau đớn bỏ ra đi khỏi cái Tổ chức của chính tiền của gia đình mình đã lập ra! 2

Ngoài ra, trước khi chúng ta “thưởng thức” cái kiểu quảng cáo thuần túy của Cộng sản (nói chung) và Mỹ cộng (nói riêng) về bộ phim “bóp méo SỰ THẬT” này, thì chúng ta cũng lại nên nhớ lại câu nói muôn thuở “Đừng NGHE những gì CS nói mà hãy NHÌN kỹ những gì chúng làm!” qua cái ví dụ thật ư là buồn cười, mà cũng không kém phần oái ăm là tay Obama, một kẻ bị xem như là “anh hùng do Thời thế tạo ra”, khi còn làm giám đốc của Chương trình Chicago Annenberg Challenge từ năm 1995 tới năm 2001, mà rất bí ẩn, lương ngạch đã không được công bố dù là một tổ chức tự cho là thiện nguyện, với ngân sách cả mấy trăm triệu Mỹ kim trong mục dích cải tổ và hữu hiệu hóa hệ thống giáo dục tiểu và trung học nội thành của Chicago, lớn tiếng khoe khoang là giúp học sinh da đen ĐỦ phương tiện và hoàn cảnh để học hành NHƯ là học sinh da trắng tại Chicago, NHƯNG Obama lại vẫn cứ cho hai con gái đi học tại cái trường tư mắc tiền dành riêng cho con cái giới giới thượng lưu là Laboratory School do Đại học Chicago quản trị!

https://www.annenberg.org/annenberg-now/chicago-annenberg-challenge-records-0

Liệu có KHÁC gì với

XƯA thì “Đánh cho Mỹ cút, Ngụy nhào”

NAY thì “Lạy Mỹ qua, Ngụy về”?

Tuy nhiên, bọn Mỹ cộng đâu thể nào cứ múa gậy vườn hoang được?

Một trong những nhóm RẤT nồng nhiệt binh vực VNCH là Vietnam Veterans for Factual History đã nhập cuộc và chúng ta có thể vô đọc được nhiều tin đúng là tin.

A Viewers Guide to the Burns/Novick/PBS series on the Vietnam War

 https://wiki.vvfh.org/index.php/Part_I._Introduction_to_Ken_Burns_and_the_Vietnam_War.

 This guide will, ultimately, be downloadable and offered free to schools and others expressing their interest. There is a Study Guide in Part I which describes how we hope students will use the annotated transcripts to better understand both the good points and the bad points in Burns/Novick video history.

Articles Discussing the Burns/Novick documentary, ‘The Vietnam War’ that recently aired on PBS.

Part I. Introduction to Ken Burns and the Vietnam War

Part II. Episode by Episode Discussions

Part III. Essays

Part IV. Overview and Conclusions

Part V. The Vets Strike Back

Họ sẽ cùng TS Roger Canfield tổ chức hội thảo về Discussion of Burns theo lời thông báo dưới đây:

Tues Jan 12, 1:00pm

San Jose Library

150 e. San Fernando St

Và cuối cùng, trước khi đăng bài, chợt biết được, chắc có lẻ không gì thấm thía hơn là chúng ta hãy ngồi xuống và lắng nghe quan điểm của nhà báo lão luyện BÙI TÍN, người gần trọn cả tuổi đời thanh xuân, đúng ra phải là tươi đẹp, đã bị PHẢI đắp cái chăn có rận VC, nên cũng đã biết rất ư là rõ cái đám rận rệp VC đó tại:

Nhận định của nhà báo Bùi Tín về bộ phim The Vietnam War tại Paris

https://www.youtube.com/watch?v=NiS6T_03P1U

và nhiều bài kế tiếp tại trang ‘blog’ của ông theo đài VOA.

Hay chúng ta cũng có thể thấy được quan điểm của nhà văn PHẠM TÍN AN NINH tại

The Vietnam War – Đôi điều cần phải nói

http://danlambaovn.blogspot.com/2017/11/the-vietnam-war-oi-ieu-can-phai-noi.html#more

Hay cũng có thể vào đọc tài liệu khá dài và công phu (nhưng tiếc là chỉ dành cho người rành Anh ngữ, cùng một hình thức chuyên chú về đọc giả Anh ngữ như Vietnamese American Foundation VAF!) của SACEI tại

http://sacei07.org/Newsletter109_2017_11.pdf

Cái gánh hát đồng quê của ông bầu Burns này chỉ còn có thiếu hề gái Phùng Tuệ Châu hay hề trai Ngô Vĩnh Long thì sẽ rất ư là thành công tại các sân làng Bắc Việt mà thôi!

TUY NHIÊN, hiện nay vấn đê lại cực kỳ trầm trọng và nguy hiểm cho cả tương lai của toàn Nước Việt.

Trước tình hình toàn dân quốc nội quá ư bất mãn và hận thù ngút trời trong nước, để cứu cái quái thai VC của chúng vào dạo 1967, bọn Tân Tả Cộng sản Mỹ nay lại nhập cuộc, với cả một toàn bộ kế hoặch quy mô và còn lố lăng, nhịp nhàng, anh đánh, em tung.

Chúng lại càng khùng điên lên vì với Trump, mấy tay dơ dáy lâu nay vẫn lợi dụng công lao góp tiền của ngay những người quá ư thờ ơ cho đại cuộc, để cho chúng để cứ sống cuộc đời sa đọa và xem thưồng đạo đức cùng dư luận, thì nay đang từ từ bị vạch mặt đưa ra cho công chúng biết, như mấy tên chủ làm phim Hô-ly-vọng hay mấy mụ gọi là cấp tiến tại các đại học thiên tả! Và chúng ta sẽ còn thấy rát nhiều bộ mặt nạ bị rớt xuống mà thôi.

 

https://www.nytimes.com/column/vietnam-67?te=1&nl=&emc=edit_vm_20171107

Chẳng hạn như tờ cực ác thiên tả New York Times cũng đã song song mở một mục MỚI tên gọi là Vietnam’67, với cờ máu ngay nơi trang đầu, với những bài phụ họa, và đặc biệt với những tên Việt gian MỚI tại hải ngoại, vuốt mặt lạnh lùng VÔ CẢM quay qua đi bưng bô liếm gót giày cho bọn Vẹm như là y thị phóng viên THANH TAN tại Seattle, tiểu bang Washington!

Vấn nạn đau buồn của một số gia đình H.O. là khi qua tới Mỹ, vừa lo sinh kế, vừa lo phục hận, họ đã bỏ bê, để đám con cái lớn lên không cha mẹ hướng dẫn và rốt cuộc PHẢI thành những đứa trẻ mất dạy, và vô hình chung, trong tiềm thức, theo một phản ứng về phân tâm học, chúng đã quay ra rất căm giận cha mẹ (mà không đủ khả năng để hiểu dược cái hoàn cảnh độc nhất vô vị của thân phận người dân VNCH sau ngày Quốc Hận 1975), nên đã bị dể dàng lọt vào vòng tay ma quái của bọn Tân Tả Mỹ Cộng: đó là tiêu biểu của của cái trường hợp đáng tiếc Thanh Tan này!

 

Thanh Tan vui đùa VÔ CẢM trước khổ đau trầm kha quốc nội khi trổ tài ăn nói tại Seattle. Cái đầu thì trống hay chứa những gì mà giờ này VẪN còn bày đặt loay hoay ta đây suy tư đi tìm SỰ THẬT, trước hình ảnh Nguyễn Văn Tấn BỊ CẮT CỔ hay Mẹ Nấm bị bắt xa con còn nhỏ dại CHỈ vì lên tiếng YÊU NƯỚC chống Trung Cộng chiếm Nước mình?

Đúng là loài này chỉ có cái đầu chỉ chứa những chất mà LISA PHẠM đã từng mô tả!

(David Ryder/Live Wire Radio)

https://www.nytimes.com/2017/10/03/opinion/what-do-vietnamese-americans-think-of-the-vietnam-war.html?rref=collection%2Fcolumn%2Fvietnam-67&action=click&contentCollection=opinion&region=stream&module=stream_unit&version=search&contentPlacement=1&pgtype=collection

 Thưa cái cô THANH TAN, chúng tôi chống Cộng là vì như trên đây!

 Vì còn quá non dại, y thị cũng KHÔNG thấy trước được là bám theo phe Dân chủ chỉ là đùa giởn với tử thần, thay vì theo Cộng Hòa thì an toàn hơn nhiều, như bài báo tại ‘link’ dưới đây vừa mới tiết lộ:

1/

Developing: Clinton-Linked Death Shakes Dems, Media Panics

(Đang Tiến Triển: Cái Chết-Liên-Hệ-Đến-Clinton Gây úng Động Đám Dân Chủ, Giới Truyền Tin Kinh Hoảng)

http://conservativetribune.com/clinton-linked-death-media/?utm_source=Email&utm_medium=PostUp&utm_campaign=WJConservativeBrief&utm_content=2017-07-18

2/

CLINTON FOUNDATION WITNESS FOUND DEAD

(Nhân Chứng Của Hiệp Hội Clinton Cheest)

http://www.wnd.com/2017/07/clinton-foundation-witness-found-dead/#

Thực sự, cái đám Dân chủ Tân Tả Cộng sản Mỹ thì cũng KHÔNG có thương gì cái bọn VC đâu! Chúng chỉ TỰ thương vì chỉ là “loài tự sướng” và chỉ nhằm bảo vệ cái bộ mặt thối tha phản quốc của chúng dạo thập niên 60 vì hiện nay, đang có một phong trào tái lập sự thật về nội vụ, nhứt là với sự lãnh đạo của Trump và bộ sậu. Đúng với chủ trương của CS, cứu cánh vẫn luôn luôn biện minh cho mọi phương tiện chúng dùng. Và có vẻ người Mỹ (nói chung) và người Việt tại Mỹ (nói riêng) đã quên mất câu tiên tri của tay cu Lê Nin là “rồi đây, chính bọn tư bản cũng sẽ đi bán cho ngay chúng ta cái dây thòng lọng đê treo cổ của chúng mà thôi”! Chúng thật ra chỉ có 1 lý tưởng sống trên đời: CHIẾM QUYỀN và ÔM LẤY NÓ MÃI MÃI, cho dù sẽ cần phải bán cha bán mẹ, giết bạn giết bè hay bỏ vợ bỏ con!

Ít ra, sống đừng thì đừng vuốt mặt đi bưng bô cho VC, rồi cho bọn Dân chủ Mỹ cộng luôn, mà phản quốc !

PHẢI BIẾT LÀ:

1/

ĐẢNG Dân Chủ Mỹ cũng KHÔNG thương yêu gì cái đám VC hay bọn CS Quốc Tế đâu.

2/

Cứu cánh của CHÚNG chỉ là nắm (=cướp một cách hợp pháp) chính quyền.

3/

Vì vậy chúng PHẢI làm ngược lại Đảng Cộng Hòa mà thôi!

Nước Việt Nam chúng ta không hề CẦN và lại càng KHÔNG hãnh diện khi có một lãnh đạo cường quốc khác đến đê ngồi xổm cười nhăn răng Hynos ăn bún chơi mà không hề đếm xỉa gì tới tình trạng người dân ngu cu đen đang quằn quoại dưới ách gông cùm độc tài Cộng Sản không tình người!

Ấy vậy, cái xấu và ngu thì hay bị bắt chước: Trudeau non dại của Gia-nã-đại lại ngu si đi bắt chước cái màn vô học này để bày đặt uống cà-phê vỉa hè tại Sài Gòn thân yêu của chúng ta dù không ai mời gọi cả!

Ngồi cười nhìn đời vô tư lự mà KHÔNG đếm xỉa gì tới Mẹ Nấm, Trần Thị Nga, v. v. . . ? Bay đi cả ngàn dặm xa chỉ để vậy thôi sao? Nước Việt Nam CHỈ là một chổ để ghé đặt đít vỉa hè uống ca-phê cười kép đẹp thôi à?

Ít ra nay thì với Trump thì bọn CS, mà cái thằng ông Nội dẫn đầu hiện nay là cái thằng Trung cộng, mới đã gặp được đối thủ mà cũng là ông thày, chớ không phải như cái tay mơ “huyền ngọc vẩn đục” Ồ-ba-má chỉ biết qua Việt Nam ngồi xổm ăn bún khen ngon, kẻ vô liêm sĩ không biết mắc cở mà lại còn cười khì khì như khỉ khi bị chính Tập Cẩn Bình ra lệnh không cho cầu thang máy bay ra đón, cũng như không có thảm đỏ mà bắt phải đi ra bằng cữa đít phi cơ của mình!

Tuy là Mỹ thì cũng PHẢI thương họ trước khi đi thương người Việt Quốc Gia chúng ta, nhưng liệu khi so sánh một “huyền ngọc vẫn đục” như là Ô-ba-má với một Trump qua Việt Nam dõng dạc nhắc với NGAY người Việt chúng ta cái gương OAI HÙNG của Hai Bà Trưng, hay khi vị Bộ Trưởng Quốc Phòng Jim Mattis của ông ta qua Việt Nam để đi thắp nhang tại Chùa TRẤN QUỐC? Trấn Quốc là gì nếu không là CHẬN GIẶC GIỮ BIÊN CƯƠNG?

Và cái đám bưng bô dơ dáy lâu nay cho bọn Dân Chủ Mỹ Cộng như tên hoang dâm Harvey Weinstein trong hình trên đang thân vui gận kề với mụ Clinton thì cũng đang bắt đầu đang bị quét sạch sẽ bởi chinh quyền Trump!

Và đó cũng là vì sao mà Tập Cẩn Bình đã phải vuốt ve Trump và đón tiếp như là một vị Hoàng Đế, một danh dự mà chưa có lãnh tụ ngoại quốc nào trên thế giới đã nhận được tại Bắc Kinh từ trước tới bây giờ!

https://www.westernjournalism.com/trump-receives-honor-china-no-foreign-leader-ever-earned/?utm_source=push&utm_medium=westernjournalism&utm_content=2017-11-08&utm_campaign=manualpost

Và rồi, nhiều “vị” cũng TỰ cho phép mình đi bình chê TRUMP này kia!

Mình là gì (?) khi mà bày đặt đi bắt chước bọn Mỹ cộng đua đòi chê Trump là không có kinh nghiệm cầm quyền và quản trị? Cũng KHÔNG cần phải là một bộ óc thiên tài để mới biết được một tỷ phú Mỹ cũng KHÔNG phải là một người tầm thường!

Một người ĐÃ tạo nên được tài sản cả TỶ Mỹ kim và, đây mới là điều quan trọng, được nhiều nhân vật có uy tín trên chính trường Mỹ ỦNG HỘ và PHÒ TÁ, mà không có kinh nghiệm quản trị?

Trước một trường hợp cực kỳ hy hữu, chúng ta nên vô tư chờ xem và nhận xét, đừng nên bắt chước như loài khỉ đỏ đít không bao giờ ra khỏi được cái hang hôi tanh Pắc Bó mà Lisa Phạm đã từng điểm mặt! Từ lâu nay, sau khi đắc cử, mọi Tổng Thống Mỹ (tiêu biểu là hai tay Clinton và Obama). đều đã BỊ thay đổi bởi cái hội nhóm độc quyền “Tổng Thống Club” rất ư là hạn chế và bưng bít, ôm nhau mà sống, không phân biệt Cộng Hòa hay Dân Chủ nữa. Trump là một kẻ ngoại cuộc, KHÔNG cần được vô cái hội nhóm này, và cũng sẽ “Dry the swamp ~ Dẹp sạch đầm lầy” như từng hứa.

Sự thật thì nay, cái đa số thầm lặng tại Mỹ (nói chung) và tại Cali (nói riêng) nay đã chịu hết nổi rồi và đã phản ứng qua việc bầu Trump, qua phong trào vì quá chán chê bọn Tân Tả Mỹ cộng lũng đoạn tại Cali nên đã phát động chiến dịch lấy chữ ký đòi tách ra riêng và lập một tiểu bang MỚI với tên gọi là NEW CALIFORNIA, như bài mới đây tại

The Case for New California (Trường Hợp Tân tiểu bang New California)

http://nymag.com/daily/intelligencer/2018/01/the-case-for-new-california.html

Và rồi song song theo đó, số người không còn kiên nhẫn để chờ cái tiểu bang mới này thành hình, thì cũng ĐÃ lũ lượt ra đi, để lại cho cái đám dân cử Dân chủ bưng bô cho cái bọn tỷ phú giàu sang vùng Silicon Valley, chỉ sống trong những khu an toàn, có rào, có an ninh bảo vệ mà cứ bung tiền ra để mê hoặch đám người ngu si tự cho mình là có tư tưởng cấp tiến theo cái thời trang!

Packing up and moving out: People are leaving California in droves, including some High Desert residents (Khăn gói dọn đi: dân cư hàng đoàn kéo nhau bỏ California, kể cả các cư dân vùng High Desert)

http://www.vvdailypress.com/news/20180203/packing-up-and-moving-out-people-are-leaving-california-in-droves-including-some-high-desert-residents

Khổ thiệt!

TUY NHIÊN, đó là chuyện của MỸ: Chuyện CHINH của chúng ta vẫn phải là chuyện VIỆT NAM! Đừng LẠI để lịch sử tái diển nữa! Đừng để 2 cái đảng mủi lỏ mắt xanh mà lại có quyền và có thể quyết định được cả vận mệnh cả một Đất Nước của mình!

Tuy không cố tình, nhưng không hiểu vì sao, chúng tôi đã bắt đầu bài này về một nữ lưu Việt là JANET NGUYỄN, thì lại chấm dứt ở dưới đây với một y thị, nữ THANH TAN vô cảm, nếu không nói là Vẹm cái!

Dạo sau này, nước Việt ta lại có triệu chứng ÂM THỊNH, DƯƠNG SUY: nào là những Lê Thị Công Nhân phát động phong trào yêu Nước, rồi nào là Mẹ Nấm, Bùi Thị Minh Hằng, Trần Thị Nga, v. v. . . , không sao kể hết được, thì chúng ta cũng lại có những đương sự theo hình ảnh của cái “y thị cái loa của cái gọi là Bộ Ngoại Giao của đám VC” mà cứ luôn luôn tự cho phép mình và xưng TÔI để nói dùm cho cái Đảng thảo khấu rừng xanh đó với báo chí ngoại quốc,

Đó là sự kiện TRẦN KIỀU NGỌC bên Úc châu:

Nhóm này KHÔNG có dùng mấy danh từ Việt Nam sau 2 chữ Giới Trẻ của tên Nhóm họ!

Đó là Vọng ngôn!

Chủ tịch của Nhóm này tuyên bố KHÔNG chống Cộng, mà chỉ chống cái Ác?

VC không Ác?

Danh không CHÍNH, thì ngôn làm sao THUẬN được?

UỔNG!

Chúng ta mọi người đều đồng lòng phải diệt cái ÁC, mà tiêu biểu là CỘNG SẢN!

Lòng yêu Nước, sống không vô cảm và phải chống chống Cộng không thể bị đem ra mà đùa giởn: không chống Cộng mà chỉ chống cái Ác thì có nghĩa là VC không ÁC!? Khi đã KHÔNG chính danh, một nhúm nhỏ trẻ Việt mà dám đại ngôn xưng là International Youth Movement for Human Rights (Phong Trào Giới Tre Thế Giới vì Nhân Quyền), ngoài cái đặc tính tha hóa xa rời với nước Việt, thì đương nhiên ngôn KHÔNG thể nào mà thuận được!

Và chúng ta cũng phải ghi nhận cái sự kiện hy hữu này: một kẻ gom được bi toàn bộ, vừa là không chính danh mà ngôn thì cũng không thuận luôn!

Nhưng vấn đề ở đây là (vì y thị cũng chỉ là cái loa mà thôi): cái tổ chức NHIỀU TIỀN đứng đằng sau lưng y thị, đủ tiền bạc đê tổ chức một đại hội mà ngay chính Nam Lộc đã phải gọi là “hoàng tráng”, thì HỌ LÀ AI và HỌ CÓ THAM VỌNG GÍ?

Dĩ nhiên, mọi người Việt Quốc Gia khắp 5 Châu thì cũng rất ư là bất mãn trước một hậu sinh phá thối như vậy.

 

PHỎNG VẤN ÔNG HUỲNH BÁ PHỤNG VỀ TB KHÔNG ỦNG HỘ LS TKN

https://mail.google.com/mail/u/0/?ui=2&ik=a11359d454&view=lg&msg=160dd47661354275

 

Và rồi, biết bao nhiêu là bài phẩn nộ, đau buồn, khinh miệt hay đặt nghi vấn về vụ này!

Để rồi phải thỉnh linh mục Nguyễn Duy Tân qua tận xứ Căn-gu-ru để dạy cho biết “chống Cộng là SAO?”!

Chuyện quốc gia đại sự mà hành xử như con nít trẻ em! Bao nhiêu tiền của phô trương vô bổ đó mà gởi về giúp cho thương phế binh hay cho người khổ nghèo quốc nội thì còn làm đức cho con cháu về sau này thì tốt hơn!

Phải nhận chân ra LÒNG DÂN QUỐC NỘI hiện nay ra sao?

Dù CA Bình Dương giăng lưới B40 chặn, nhưng dòng người tham dự lễ tưởng niệm Cố TT Ngô Đình Diệm, hình ảnh tượng trưng của lòng CHỐNG CỘNG, vẫn bất chấp trong năm 2017 này!

https://www.youtube.com/watch?v=1b32KXZDiVk&feature=em-lss

Không gì NHỤC bằng sống mà mất GỐC và VÔ CẢM!

Và rồi, sau cơn giong bão thì Trời nay lại sáng, và đã có những tín hiệu đầy hy vọng:

Buổi lễ tuyên thệ nhậm chức của Thượng Nghị Sĩ Cộng Hòa gốc Việt – Dean Trần

https://www.youtube.com/watch?v=K96MG-pb6GY

Chiến thắng cực kỳ này QUAN TRỌNG vì đây là Đất Hứa lâu nay của tay Dân chủ cực thù ghét Người Việt Quốc Gia là Ed Kennedy!

https://en.wikipedia.org/wiki/Dean_Tran

***

The Communist: Frank Marshall Davis, The Untold Story of Barack Obama`s Mentor, by Paul Kengor, Publisher: Mercury Ink (July 17 2012)

1

The New Leviathan: How the Left-Wing Money-Machine Shapes American Politics and Threatens America’s Future, 1st Edition by David HorowitzJacob Laksin, nhà xuất bản Crown Forum, New York (2012)

2

Robert Grimm, Notable American Philanthropists: Biographies of Giving ang Voluntaring (Greenwood Publishing Group 2002), p. 97.

******

Nhưng rồi, sự thật vẫn là sự thật, và vào đầu năm Mậu Tuất này, đã có một tin vui: nếu người Việt Quốc Gia hải ngoại giúp đóng góp tài chánh nhanh chóng (Trịnh Vĩnh Bình, Hoàng Kiều ở đâu hè?), thì sẽ được ra mắt bộ phim Saigon 68 : Khoảng khắc của Sự Thật của nhà đạo diển Douglas Sloan để trả lời cho chiến dịch bóp méo SỰ THẬT của bọn VC trong quốc nội nhân tưởng niệm biến cố đau thương Mậu Thân 50 năm xưa, qua việc lạm dụng cái hình Saigon Execution mà chính tác giả Eddie Adams cũng đã chối bỏ!

Đó là chương trình đầu năm của đài RFA, một đài mà tôi rất kính phục lẫn ngưởng mộ:

Mùng 1 Tết ôn lại sự thật đằng sau bức ảnh “hành quyết tại Saigon”

https://www.youtube.com/watch?v=fv6Zbkp66sU

 

Lê Bá Hùng

Xứ Lá Phong buồn xa quê đầu năm Mậu Tuát 2018

 *****

 

 

 

 

 

 

Advertisements
%d bloggers like this: