Roger Canfield’s Americong #7

Comrades in Arms

How the Americong Won the War in Vietnam

Against the Common Enemy— America

Copyright Roger Canfield, Ph.D.

1986-2012

No commercial transaction allowed except that approved by the author, copyright holder.

Obtain a prepublication release of a CD-R in Microsoft Word in ENGLISH at a discounted price of $15 from Roger Canfield Rogercan@pacbell.net at 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 or at http://americong.com.

Completely SEARCHABLE for any name, date, place or event of the War and its protesters.   

Cover: Design Stephen Sherman. Photos: Roger Canfield, March 2008. TOP: War protestHawaii, February 1966 displayed at War Remnants (Crimes) Museum,Saigon. Bottom: Praetorian Guard

***** 

Các đồng chí cùng chiến tuyến

Làm thế nào MỹCộng thắng cuộc chiến Việt Nam

Chống kẻ Thù Chung – Mỹ

Giữ bản quyền Roger Canfield, Tiến Sĩ

1986-2012

Không được sử dụng vào mục đích thương mại nếu không có sự đồng ý của Tác giả, người giữ bản quyền.

Có thể mua một tiền bản dưới dạng CD-R Microsoft Word bằng Anh ngữ với giá đặc biệt US$15 ngay từ tác giả Roger Canfield  Rogercan@pacbell.net tại 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 hay tại  http://americong.com.

Hoàn toàn có thể TRA CỨU hoặc bằng tên, bằng ngày tháng hay biến cố liên quan đến cuộc Chiến cùng cả luôn bọn tham dự biểu tình .

******************************************************

* Tác giả giữ bản quyền © Roger Canfield 1986-2012

  • Lê Bá Hùng chuyển ngữ  (với sự chấp thuận của Tác giả)

*****

Chương 7

 

Students for a Democratic Society SDS

(Sinh Viên cho một Xã Hội Dân Chủ)

Nắm Quyền Lãnh Đạo Phong Trào Phản Chiến

Chuẩn Bị Cho Một Chương Trình Hành Động Toàn Quốc

Đến cuối năm 1964, nhờ cố gắng cận lực của bọn Việt, của CPUSA, của SDS và những tên khác, phe tả cực đoan bắt đầu phối hợp hành động về vấn đề Việt Nam.

SDS đã điều khiển chương trình hội nghị tại một địa điểm ưa thích của phe tả là Cloakmaker Hall ở thành phố New York  953  vào tháng 12 năm 1964. Hội đồng quốc gia SDS đã tụ hợp để thảo luận cách nào hầu phản đối cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Lúc đầu Tom Hayden bác bỏ một cuộc tuần hành mà đã dành được nhiều tán đồng. ”  954 Tiếp theo sau hướng dẫn của Hayden một số kẻ đã nghĩ rằng diễn hành về vấn đề Việt Nam thì quả quá yên lành. Todd Gitlin muốn ngưng thi hành quân dịch, ngưng chiến tranh bằng việc cổ động cho cam kết:

” Tôi sẽ không đi quân dịch cho đến khi Hoa Kỳ ra khỏi Việt Nam. ” Jeff Shero thì muốn theo phía địch bên kia, và đề nghị gửi các vật liệu y tế cho Việt Cộng.  955

Suốt trong thời gian này, Tom Hayden vẫn tiếp tục chống lại việc tổ chức một cuộc diển hành với duy nhất một mục tiêu là chống lại chiến tranh ViệtNamcho đến khi Bob Ross thuyết phục được y thay đổi ý . Khi mà Hayden, tay sáng lập SDS, thay đổi quan điểm thì đại hội SDS liền ủng hộ một Cuộc Tuần hành về Washington. Ngày 17 tháng 4 năm 1965 đã được chọn (tình cờ hay không, nhưng đây chính là kỷ niệm lần thứ tư Fidel Castro đánh bại cuộc xâm lược của các người di tản lưu vong Cuba tại Vịnh Con Heo mà Kennedy ủng hộ).

Bọn Mác-Lênin đã từng bàn tán rất nhiều về “chiến tranh giai cấp” và “chủ nghĩa đế quốc.” Bọn sáng lập Tã Đỏ (Red Diapers) của SDS cũng vậy. Cũng như là thành viên của các Câu lạc bộ Dubois, của Đảng (Maoist)  Lao động Cấp Tiến, của Liên minh Thanh Niên Xã Hội (Trotskyite), và của Thanh niên (Trotskyite) chống Chiến tranh và Chủ nghĩa phát xít.

Dù bất kỳ nhóm nào cũng có thể tham gia cuộc diễn hành tháng 4, chính các chi nhánh cộng sản mới là những kẻ đầu tiên chấp nhận lời mời SDS và đã hoạt động hăng say nhất.

Tháng Chạp 1964 – CIA Khám Phá Ra Giới Trẻ Bất Đồng Chính Kiến

Trong khi phe tả đang phối hợp tổ chức sự kiện Tháng 4 với bọn cộng sản, bất kể sự chống đối công khai của những người xã hội dân chủ và các người chủ hòa thì CIA lại đã tập trung vào nhiều vấn đề trừu tượng hơn, chẳng hạn như ý nghĩa thực sự của sự bất đồng chính kiến trong giới trẻ trên thế giới.

Ngày 1 tháng 12 năm 1964, báo cáo của CIA về “Thanh niên bất đồng chính

kiến: Các Tính cách năng động của sự phản đối” , phúc trình, ” Đã không có bằng chứng là cộng sản kiểm soát [sữa đổi] các sinh viên bất đồng chính kiến . ” Trong khi SDS và phe tả của thời xưa lo tổ chức thì Liên Xô lại trợ cấp cho CPUSA và Cộng sản đã ký xuất các chi phiếu cùng đi thuê văn phòng, báo cáo của CIA đã cho thấy vậy , “các tay bất đồng chính kiến ở khắp mọi nơi mà lớn tiếng nhất đều cảnh giác để khỏi bị bắt gặp đang hoạt động trong các tổ chức bị kiểm soát bởi Moscow … hoặc là Trung Cộng hay Cuba.”

Trong nhiều thập niên Cộng sản đã thành lập những nhóm tiền phương mà Willi Munzenberg đã mô tả như là những Câu lạc bộ vô tội để “nắm giữ các nghệ sĩ và các giáo sư … để phổ biến học thuyết rằng Nga chuẩn bị sẵn sàng để hy sinh tất cả mọi thứ cho hòa bình.” Tương tự như vậy, Otto Kuusinen đã cho biết “Chúng ta phải thành lập  … những tổ chức … nằm dưới ảnh hưởng của đảng chúng ta (không phải dưới sự lãnh đạo máy móc). ”  956 Điều có hiệu quả không phải là do máy móc, nhưng mà là do ảnh hưởng chính trị. Các chính trị gia Mỹ đã hiểu về ảnh hưởng chính trị, nhưng CIA thì tìm kiếm yếu tố kiểm soát và đã không bao giờ tìm thấy nó.

Báo cáo năm 1964 của CIA quả thật là lười biếng và cẩu thả: nó đã trích dẫn kiểu lập luận tình cảm của cánh tả trong Tuyên ngôn Cảng Huron khi thành lập Students for a Democratic Society mà đã được gán một cách sai lầm cho Hội nghị Thành Lập SDS Cảng Huron vào năm 1959 [1962], và đã quên không nói tới lời tuyên bố đạo đức của SDS về sự tương đương của chủ nghĩa đế quốc Liên Xô với đế quốc Mỹ, và bỏ qua hoàn toàn một cuộc tranh đấu kịch liệt của nhóm xã hội dân chủ chống lại bọn bênh vực cho Cộng sản tại Port Huron vào năm 1962.

CIA đã không hề bao giờ soạn được một báo cáo khá hơn về phong trào phản chiến.

Sau này Tổng thống Nixon sẽ nói với trưởng ban nhân viên của ông, H. R. Haldeman, “CIA không có đáng gì hết. CIA đã không tường trình được bất kỳ thứ gì cho tôi mà tôi đã không từng đọc ba ngày trước đó trong tờ New York Times. ” Tổng Thống ” đã định nghĩa tình báo [như] làm thế nào để chi tiêu tới $ 5 tỷ để không thu lượm được tin tức gì cả! “.. 957 Về vấn đề giới trẻ bất đồng chính kiến thì thậm chí CIA cũng đã không đọc New York Times.

Có lẽ một trong những sinh viên vừa tốt nghiệp Đại học Yale của CIA đã viết cái báo cáo CIA. 958 Nó chỉ đáng điểm C +. Cũng như môn học: bọn phân tích mới tốt nghiệp này của CIA thì luôn luôn có một cái nhìn đầy màu hồng đối với các  chế độ Cộng sản cũng như đối với bọn ủng hộ tại Mỹ. 959 CIA, y như các kinh tế gia theo Keynes, 960 đã đánh giá quá cao một cách cực kỳ mức độ tăng trưởng và kích thước của nền kinh tế Liên Xô. 961 Tổ chức tiền nhiệm của CIA, là OSS đã tích cực tuyển dụng bọn Cộng sản làm điệp viên và kháng chiến quân trong Thế chiến II ở Tây Ban Nha, Ý, Pháp, Albania, và các nơi khác. 962 Thật vậy, vai trò của OSS  tại Việt Nam đã được kỷ niệm trong những bức ảnh của Tướng Giáp chụp chung với viên sĩ quan của OSS là Archimedes Patti treo trong viện Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh. 963

 

 

Hình: Tướng Giáp và Patti, 1945, Viện Tàn Tích Chiến Tranh,

Sài gòn, tháng 3, 2008

Hồ Chí Minh đã gửi vô Nam những bức ảnh y chụp với sĩ quan OSS Allison Thomas để thuyết phục người miền Nam là Mỹ hỗ trợ y. 964 Đúng vậy, OSS đã thu nhận điệp viên số 19 cho OSS với  bí danh “Lucius.” 965 Theo ông Hoàng Văn Chí, “Đã chỉ có một người Việt Nam duy nhất được biết công khai là có nhận được tiền trực tiếp từ CIA … (OSS) … và rằng người đó là Hồ Chí Minh.”  966 Sau đó, do việc kế thừa OSS,  CIA đã tiếp tục cho thấy không biết gì về Cộng Sản như họ đã từng phạm ởTrung Quốc và Nam Tư.

J. Edgar Hoover đã cung cấp một cách nhỏ giọt những bí mật Venona – tài liệu giải mã các thông tin liên lạc của Liên Xô về trên hơn 300 điệp viên được xác định bên trong Hoa Kỳ – với CIA. Hoover đã tự viết tay trên một bản phúc trình ngày 23 tháng 5 năm 1952 để giải thích sự thận trọng của mình: “Chiếu theo các phương pháp lỏng lẻo của CIA và của một số nhân viên rất đáng nghi ngờ, chúng ta phải rất thận trọng.”  967

Trong cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba, các nhà phân tích CIA đã không tìm thấy  bằng chứng về các tên lửa của Liên Xô tại Cuba và đã lập luận rằng Liên Xô sẽ không bao giờ làm một điều như vậy.  968

Ngược lại một cách rỏ ràng, đôi khi sau này một báo cáo của FBI về SDS đã cho thấy một sự hiểu biết vượt xa sự lu mờ của CIA về những điều trong nước. Trước vụ 9 / 11 vấn đề chia sẻ thông tin tình báo giữa FBI và CIA đã trở nên tồi tệ hơn trong cuộc chiến lâu dài chống lại chủ nghĩa phát xít Hồi, bởi vì đã có ít thông tin tình báo hơn để chia sẻ giữa các cơ quan mà sau vụ Watergate đã bị tan nát.

Về việc chia sẻ thông tin tình báo quốc nội và quốc tế tại Việt Nam, FBI sẽ đã nói,

Tình báo nước ngoài hoặc kiểm soát đã không đơn giản chỉ là một vấn đề giới hạn trong những người tham gia vào việc thu thập tình báo cụ thể. Cũng vậy, không phải hoạt động cách mạng cho cho một thế lực ngoại bang trong lĩnh vực chính trị lại có thể được phân loại như chỉ đơn thuần là “trong nước, ngụ ý là mực độ nguy hiểm thấp hơn. … Bọn làm cách mạng không hề bị hạn chế bởi các thuật ngữ có tính cách ràng buộc như tình báo “quốc nội. “  969

Khi hành xử, Hà Nội không hề phân biệt giữa quốc nội hay quốc tế.

Bọn phát xít Hồi tương tự như vậy cũng lợi dụng được việc này vào ngày 11 tháng 9,  2001 bởi vì “Đã không cố tìm kiếm một mối đe dọa từ nước ngoài vào các mục tiêu trong nước.”  970 Sự khác biệt giữa trong và ngoài nước đã trở thành một “bức tường” có tính cách vừa pháp lý vừa quan liêu , một “ống khói lò nấu ăn”,  một mầm chia rẻ tuyệt vời nhằm cản trở việc chia sẻ thông tin giữa FBI,  CIA và NSA.  971

Khủng Bố của Việt Cộng và Việc Tuyển Quân

Trong suốt thời gian này, các lực lượng khác tuy chưa bị phát hiện cũng đã tụ hợp lại. Từ khoảng 5.000 vào đầu năm 1959, lực lượng của Việt Cộng đã tăng lên khoảng 100.000 vào cuối năm 1964. Chỉ riêng số lượng xâm nhập vô Namtrong thời gian đó cũng được ước tính là 41.000. 972  Đã không có sự phân biệt giữa chính trị và chiến tranh, giữa quốc nội và quốc tế.

Đầu năm 1965, Đài phát thanh Hà Nội và Đài phát thanh Giải phóng công bố là VC đã phá hủy 7.559 làng tại miền Nam Việt Nam. 973 Trong một trường hợp thì người vợ đang mang thai của một trưởng làng đã trở thành đối tượng của tấm lòng thương xót dịu dàng của Việt Cộng. Chúng đã chặt bà ta cho đến khi

 Cả hai chân của bà chỉ còn treo lủng lẳng bằng những sợi thịt … Chồng bà, một trưởng làng, [đã] …bị bóp cổ chết trước mắt của , và đức con ba tuổi thì bị bắn chết. … [Sau đó] thì bà ta đã bị cắt bỏ đôi chân, và hư cái thai đang mang trong bụng. Nhưng có lẽ điều tồi tệ nhất xảy ra với bà ta ngày hôm đóbà ta vẫn phải  sống sót. “  974

 Một ví dụ khác trong vùng đồng bằng phía bắc, Việt Cộng đã mổ bụng một thôn trưởng mới nhận chức, rồi chặt đầu con của ông ta và cũng mổ bụng luôn người  vợ lúc đó hãy còn sống sót. 975 Các nhà lãnh đạo dân sự Mỹ  không hề biết được các thực tế khủng khiếp này khi phải giao chiến với bọn độc tài mà đã xem  chính trị và chiến tranh như là một mà thôi.

Các chính trị gia Hoa Kỳ nghĩ rằng họ đã có một cái nhìn tinh vi hơn và uyển chuyển về thế giới hơn so với các đối thủ chất phác trong thế giới thứ ba hay ngay cả với các tướng của chính họ, nhưng chính họ mới là những kẻ sống trong một thế giới tưởng tượng của chính các ảo tưởng của họ.

Chiến Đấu và Các Trò Chơi Hầu Chiến Thắng

Cũng trong đầu năm 1965, Tổng thống Johnson đã họp với McNamara, hai anh em Bundy và Tướng Không quân Curtis LeMay. LeMay nói rằng ông ta có thể kết thúc chiến tranh trong ba tháng với các vụ đánh bom liên tục. Nếu đánh bom  không thành công thì LeMay tuyên bố cần phá hủy đê điều kiểm soát lũ lụt sông Hồng – sau khi cảnh cáo trước Bắc Việt Nam. Điều này có thể sẽ đã kết thúc chiến tranh, nhưng LeMay đã bị mang tiếng  976 là khi kết thúc bài thuyết trình của mình đã trổ tài hùng biện mà nói rằng ông “sẽ ném bom cho tới khi bọn chúng bị trở lại thời kỳ đồ đá.”

Một người trong hai anh em Bundy, có lẽ là McGeorge Bundy mà đã đổ cử nhân Toán đại học Yale, đã nói là dù sao thì Bắc Việt cũng đã đang sống trong thời kỳ đồ đá. Tổng thống Johnson đã đồng ý. Các tướng lãnh đã tranh luận thua giới trí thức và việc thua này của giới lãnh đạo quân sự quốc gia dã thật sự lớn hơn nhiều nếu so với việc thua một trò chơi chữ tại phòng khách Ivy League.

LeMay sau đó đã nói: “Tôi không bao giờ nói chúng ta nên đánh bom đem họ trở lại thời kỳ đồ đá. Tôi chỉ nói là chúng ta có khả năng làm điều đó. ”

Giới Quân Sự bị Khinh Dể: “Tướng” Elsberg: Nhà Chiến Lược

Vậy là các tướng bị đẩy sang một bên. Vào tháng Bảy năm 1964, John McNaughton, Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng đặc trách về An ninh quốc tế, đã yêu cầu Daniel Ellsberg làm phụ tá đặc biệt chịu trách nhiệm giúp phối hợp chiến lược quân sự. Ellsberg, một tiến sĩ lý thuyết gia về các trò chơi, 33 tuổi thôi, đã được chấp thuận nghạch GS-18 dân sự tương đương với hàng một thiếu tướng trong quân đội Mỹ.

 Một thanh niên trẻ mới vừa tốt nghiệp có vài năm đã được biến thành tương đương với một vị tướng quân đội mà lý ra là đã phải mất nhiều thập niên để xứng đáng chức tước ngay tại chiến trường hay ít nhất thì cũng là phải đã nghiên cứu học hỏi về những chiến trận.

Từ đó trở đi, McNamara và các anh em nhà Bundy đã đưa ra các quyết định dựa trên lý thuyết trò chơi – chiến tranh giới hạn , tăng lần áp lực, dùng các tín hiệu, phân tích so sánh chi phí-lợi ích, và phân tích các hệ thống – thay vì tùy thuộc vào các tướng lĩnh quân đội để họ thông báo cho biết chiến lược quân sự của họ. Và cũng từ đó thì mọi việc cũng không khá gì hơn. Giấy tờ cá nhân của McNamara cho thấy sự khinh miệt của y đối với quân đội Mỹ, với những hàng chữ viết nguệch ngoac, “Tôi không tin điều này” hoặc “Đây chỉ toàn là rác rến” trên các tài liệu Lầu Năm Góc. 977 Sau đó thì Tổng thống Nixon đã trì hoãn phiên họp đầu tiên của mình với các Tham mưu trưởng Liên quân vào cuối năm đầu tiên của nhiệm kỳ, vào mùa thu năm 1969. 978 Nixon đã tin tưởng nơi một giáo sư Đại học Harvard, Henry Kissinger để soạn thảo chiến lược quân sự cho mình.

 Trong một lần của những sự trùng hợp ngẫu nhiên tốt đẹp của cuộc chiến tranh Việt Nam, hai mươi tên biểu tình phản chiến, dân trốn quân dịch có đặc quyền của các gia đình và các trường đại học , đã gọi các nhà lãnh đạo quân đội Mỹ là “ngu ngốc”, tuyên bố là binh sĩ và các nhà lãnh đạo của họ có đầu óc thấp, 979  chế giễu các tình báo quân sự như là loại bản văn kiểu chơi chữ mâu thuẫn  và chế giễu ngay cả khái niệm an ninh quốc gia.

Kết quả của sự kiện cuộc chiến tranh đang bị điều hành bởi các trí thức Washington, các kẻ hiểu biết rất ít hoặc không biết gì về lịch sử, nghệ thuật và khoa học của chiến tranh, thay vì bởi các tướng lĩnh quân sự chuyên nghiệp đã khiến cho Hoa Kỳ không bao giờ có được một chính sách rõ ràng và chắc chắn là đã không có chiến lược nhằm dành chiến thắng.

Cuộc chiến tranh được tiến hành như một loạt lúc có lúc không  leo thang quân sự , theo sau là những lần tạm dừng ném bom có tính cách để gửi đi những tín hiệu về phí tổn so vớu lợi ích cho kẻ địch hầu chúng có thể tự đánh giá hành vi của chúng. Việc sử dụng vũ lực không phải là để tiêu diệt ý chí và khả năng quân sự của địch. Nó là “liên hệ với họ.” 980 Thông điệp mà họ hy vọng sẽ truyền đạt: Nếu không thương lượng thì sẽ phải trả giá . Đã có những phần thưởng cho việc chịu đàm phán hầu chấm dứt chiến tranh. Trong tâm trí của đám trí thức Washington, vấn đề  đơn giản chỉ là đàm phán về kinh tế khi kẻ địch chịu công bố hòa bình.

Lý thuyết  chiến tranh giới hạn này giả định rằng kẻ thù rồi thì sẽ phải khôn ngoan quyết định đàm phán và sẽ sẵn sàng tìm kiếm hòa bình mà không cần chiến thắng.

 Ngày 9 tháng 2 năm 1965, bài xã thuyết tờ trên New York Times đăng , “Phương cách tốt đẹp nhất để rút khỏi [Việt Nam] là ngoại giao, quốc tế, chính trị, kinh tế – chớ không phải là quân sự. Một giải pháp sẽ không thể tìm thấy được bằng cách cứ giao chiến càng ngày càng thêm khốc liệt. . . . “Chiến thắng” cho cả hai phía đều là không tưởng. “

Ngược lại, trong năm 2007, Tướng David Petraeus đã áp dụng những bài học về chống nổi dậy và những thành công tại Việt Nam để mang lại những kết quả  không ngờ được tại Iraq. Trong luận án tiến sĩ tại Princeton, Petraeus đã viết, “[Một] lực lượng thích hợp phải được sử dụng ngay từ đầu để  bảo đảm  xung đột có thể được giải quyết  trước khi người dân Mỹ rút lại sự hỗ trợ của họ cho nó.”  981

Tuy vậy, những ảo tưởng về lợi ích của chủ trương phân tích chi phí vẫn cứ tồn tại. Trong tháng 12 năm 2007, Tổng thống Bush nhận được một Đánh giá Tình báo Quốc gia NIE (National Intelligence Estimate) hoàn toàn bị sửa đổi mà đã  tuyên bố rằng Iran không còn phát triển vũ khí hạt nhân nữa. Iran thì lại đã đang mua hàng nghìn máy ly tâm để chế tạo chất ra chất uranium để làm bom  (tích lũy tới 90% thay vì 7% để dùng cho một nhà máy điện), nhưng lẻ dĩ nhiên NIE đã rất tự tin khẳng định là Iran đang không chế tạo bom, lý do duy nhất khiến phải có chất uranium tích lũy đến 90% .

Và đúng y như đã từng nói như vậy trước kia, NIE tuyên bố, “Các quyết định của Tehran là do chủ trương chi phí-lợi ích chứ không phải là một cuộc chạy đua vũ khí mà không để ý tới các phí tổn về chính trị, kinh tế và quân sự. ”  982 Bọn ngu xuẩn lại nắm quyền điều hành cái nhà thương điên nữa rồi.

Chỉ trong vòng vài tuần lể, Tổng thống Iran, Mahmoud Ahmadinejad đã sẽ tuyên bố “chiến thắng”  bởi vì bản Đánh giá này quả là một “tuyên bố đầu hàng” của Mỹ . 983  Đến năm 2009, Tổng thống Barack Obama đã cầu xin Nga để giúp ngăn chặn chương trình hạt nhân của Iran và sẵn sàng hy sinh các hỏa tiễn phòng thủ của Mỹ tại Ba Lan, Hungary, Cộng hòa Tiệp và Ukraine để đền bù lại.

Trong khi đó kẻ mà đã có tầm nhìn chiến lược rõ ràng là Hà Nội thì lại hoạt động  không ngừng nghỉ để tổ chức một phong trào phản chiến rất hiệu quả phía sau chiến tuyến địch nhằm đối phó với việc chống đối đang suy giảm của cánh tà dân chủ. Tướng H. Norman Schwarzkopf có nhớ một đơn vị dù Nam Việt từng tịch thu một chỉ thị của Hồ Chí Minh tuyên bố thật sự là  “Chúng ta sẽ giành chiến thắng trong cuộc chiến tranh chống Mỹ như chúng ta đã thắng cuộc chiến  chống Pháp, không phải trên chiến trường, nhưng ngay trên quê hương của  kẻ thù. ”  984

Không Cần Kiểm Tra Các Ứng Viên – Cộng Sản Ghi Danh Thoải Mái

Trong khi CIA không hề biết gì cả, vào đầu tháng giêng năm 1965 A.J. Muste và các tên người hoạt động cho hòa bình khác đã bắt đầu phản đối sự kiện là cuộc diển hành sắp tới vào ngày 17 tháng 4 đã bị khống chế bởi các Nhóm Mác-Lê nin. 985 Trong năm 1966 Muste sẽ đích thân đi hành hương tại  Hà Nội. Để trả lời Muste, Paul Booth, phối hợp viên về diễn hành của SDS tại Washington , tuyên bố là SDS sẽ tìm kiếm sự bảo trợ mục tiêu hòa bình của họ từ bất cứ nơi nào có thể có được – sẽ không có cố gắng để “kiểm tra các ứng viên. ”  986

Giống như bọn trai trẻ của McNamara, Bộ Ngoại giao cũng đã đang cố gắng để dùng toán học mà tìm hiểu địch.

Bộ Ngoại Giao Đánh Giá Thấp Sức Mạnh Địch – Tháng 2 năm 1965

Trong tháng 2 năm 1965, Bộ Ngoại giao Mỹ đã hoàn thành một bạch thư về việc  xâm nhập của bộ đội và cán bộ Bắc Việt vô Nam. Theo Merle L. Pribbenow, bạch thư này vào lúc đó đã bị “chỉ trích khắp mọi nơi… như là bị phóng đại và có tính cách tuyên truyền mà thôi.”

Tuy vậy, Bộ Ngoại giao thực sự “đã đánh giá thấp đến mức đáng kể nhịp độ xâm nhập của Bắc Việt.” Bạch thư đã ước tính có khoảng 19.000 đến 34.000 từ năm 1959 tới năm năm 1964. Lịch sử chính thức năm 1994 của Quân đội nhân dân Việt Nam (PAVN), do chính Pribbenow dịch, cho thấy có hơn 40.000 bộ đội của Quân đội nhân dân Việt Nam PAVN từ năm 1959 đến năm 1963. Hầu hết đều là những người miền Nam tập kết ra Bắc đã được quân đội Bắc Việt đào tạo để đi về lại miền Nam. Chiếu theo ngay lịch sử của Quân đội nhân dân Việt Nam thì vào năm 1963, các kẻ xâm nhập gồm có “50% các binh sĩ chính quy và 80% các sĩ quan và cán bộ kỹ thuật phụ trách về chỉ huy và lãnh đạo các tổ chức” mặc dù “. … những thiệt hại đau đớn nghiêm trọng ” gây ra do viện trợ quân sự của Mỹ và các cố vấn quân sự,”  Sức mạnh Cộng quân … [đã] tăng trưởng gần gấp năm lần, từ 15.000 binh sĩ chính quy … đến 70.000 binh sĩ chính quy  ” suốt trong ba năm đến năm 1963. 987

Trong năm 1965, ngay sau bạch thư của Bộ Ngoại giao thì mặt trận Việt Cộng gồm bọn xâm nhập và tân binh, đã đạt tổng cộng là 300.000 bộ đội và chính trị viên –  được hỗ trợ bởi một lực lượng Bắc Việt gồm 230.000 người.  988

Phong trào hòa bình Mỹ đã không phản đối cũng như không nhìn nhận việc miền Bắc xâm lược . Chỉ riêng việc miền Bắc từ chối có tiến hành chiến tranh ở miền Nam thì cũng  luôn luôn đủ để xoa dịu cánh tả Mỹ. Và ngày nay các cách định nghĩa của bọn Jihadist về Hồi giáo và về Jihad cũng đã làm thỏa mãn những người phản đối việc quân đội Mỹ can thiệp và các hành động tình báo chống lại  Chủ nghĩa phát xít Hồi. Quả thật dể dàng để nhìn thấy người Hồi giáo như chỉ là những tín hữu Baptists đơn thuần tại MiềnNamhoặc các người Thiên chúa  giáo La Mã dù Hồi giáo là một cách sống và một nền văn hóa cũng như là một tôn giáo toàn thời gian 24 / 7.

Johnson Dội Bom Bắc Việt – Phong Trào Phản Chiến Bất Mãn

Vào ngày 7 tháng 2 năm 1965 Việt Cộng tấn công và giết chết tám người cùng làm bị thương 126 nhân viên Mỹ tại trung tâm cô vấn mà cũng là phi trường  Pleiku. Chỉ trong vòng 12 giờ, Hoa Kỳ đã trả đũa đánh các mục tiêu ngay bên trong Bắc Việt Nam. Moscova phản đối vào ngày 8 tháng 2. 989   Đó đã là một cuộc biểu tình tập thể của người dân ở Moscova … tập hợp lại để hỗ trợ Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước … ”  990

Ngày 11 tháng 2 năm 1965, LBJ giải thích rằng các vụ dội bom của Mỹ – chiến dịch Tên Lữa Flaming Dart – là một “sự trả đủa có hạn chế” cho các cuộc tấn công vào các đơn vị cố vấn Mỹ đang đối đầu với cán bộ Việt Cộng ở miền Nam Việt Nam. Sau đó, các cuộc thăm dò dư luận Mỹ cho thấy 80% chấp thuận hành động quân sự của Mỹ tại Việt Nam. 991 Công chúng chắc đã có nghĩ rằng chiến thắng là một giải pháp. Liên Xô xúi dục các cuộc biểu tình ở các quốc gia trong Khối Đông Âu và của các đảng cộng sản Anh, Pháp và Ý. Người Hung tấn công và phá nát các văn phòng của sứ quán Mỹ tại Budapest chỉ một tuần sau  các cuộc tấn công của Việt Cộng. 992

Để phản đối vụ dội bom, ngày 16 tháng 3, Helga Alice Herz, một thành viên sáng lập của Women’s Strike for Peace đã tự thiêu ở Detroit  993 và tại Hà Nội tờ Vietnam Courier số ra ngày 18 tháng 3 đã tường thuật vụ kinh dị này, mà đúng ra có lẽ chỉ là bằng chứng của bệnh tâm thần hơn là một hành vi phản đối về chính trị . Tờ Courier tuyên bố là dân Mỹ biết rằng việc Johnson “cố gắng để xóa tan  các quốc gia nhỏ hơn ”  quả là một  “vết dơ cho danh tiếng của nhân dân Mỹ” . 994  Chính các lực lượng quân sự của Hà Nội đã đang xâm lăng quốc gia nhỏ bé là Nam Việt Nam, xâm chiếm các vùng của các tiểu quốc Cam-pu-chia và Lào và giết chết người Mỹ đang bảo vệ họ. Washington lại là kẻ xâm lược, thay vì Hà Nội.

Trên mặt trận quốc nội, vào ngày 5 tháng 3, Paul Booth đã viết rằng nhiều nhóm tăng cường khác đang dự trù tham gia cuộc diển hành của SDS vào tháng 4 tại Washington. Như chúng ta cũng đã thấy thì cùng một thời gian Việt Bắc đã lặng lẽ thâm nhập 40.000 cán bộ vào miền Nam.  995

Thủy Quân Lục Chiến Đổ Bộ tại Đà Nẳng – Địch Sẳn Sàng tại Bắc Kinh, Stockholm, Hà Nội

Chân ướt chân ráo ngay sau khi đổ bộ tại Đà Nẳng vào ngày 8 tháng 3 năm 1965, số 3.500 Thủy Quân Lục Chiến đã phải đối mặt với bốn trung đoàn Bắc Việt đã có mặt ở miền Nam và vô tình không biết là có một tướng Trung cộng đang xem xét họ từ trên bờ. 996  Sử dụng các hồ sơ tối mật của tạp chí Time, tên siêu gián điệp Phạm Xuân Ẩn đã cảnh cáo Hà Nội, ” ngay từ miệng của Westy tới thẳng tai Giáp”, rằng quân chiến đấu Mỹ đang trên đường tới và dành được một huy chương về công thu thập tin tình báo và phân tích của y.  997

Cũng ngay vào ngày đổ bộ của Thủy Quân Lục Chiến , Giám đôc KGB là Yuri Andropov đã ra lệnh cho Romesh Chandra, một điệp viên ăn lương của KGB Liên Xô và là chủ tịch của Hội nghị Hòa Bình Thế Giới được tài trợ bởi Liên Xô , World Peace Conference WPC, để triệu tập một hội nghị ở Stockholm nhằm lên án Mỹ xâm lược.  998

Vào tháng 6 thì Việt Cộng đã có lưu hành được một phúc trình chi tiết về tình báo phối hợp Mỹ với Nam Việt, về cách tổ chức, về số nhân viên, xe cộ, cách huấn luyện cùng các chiến dịch chống lại Việt Cộng.  999

‘Hannah Hà Nội “(Thu Hương và Trịnh Thị Ngô) cùng  Văn Tùng đã bắt đầu phát thanh chương trình Tiếng nói Việt Nam trên Đài phát thanh Hà Nội nhắm vào quân đội Mỹ. Cùng với âm nhạc thịnh hành, do bọn Mỹ “tiến bộ” cung cấp,Tiếng nói Việt Nam bao gồm các bài phát biểu và các bài thơ của tù binh chiến tranh Mỹ, của các tên đào ngũ và bọn hoạt động phản chiến. Tiếng nói Việt Nam báo cáo về những hành vi chống chiến tranh Việt Nam của lính Mỹ tại ngũ, ở Mỹ và ở Châu Âu, và sau đó là về những hoạt động của Vietnam Veterans Against the War (Winter Soldier Investigation, Operation Heart of America, và People’s Peace Treaty).  Và mổi ngày Hà Nội Hannah đọc danh sách tên của người Mỹ bị giết hoặc bị bắt giữ. 1000

Ngày nay thì giới truyền tin Mỹ lại đang thực hiện vai trò của Hà Nội Hanna để cung cấp tên và số lượng tử thi của người Mỹ chết tại Iraq và Afghanistan.

Chín ngày sau khi Thủy Quân Lục Chiến đổ bộ, còn cán bộ Hà Nội thì tiếp tục xuôi Nam, hôm 17 tháng 3 năm 1965 Robert F. Williams, lãnh tụ của một  tổ chức đang tìm cách lật đổ Chính phủ Mỹ, đã tuyên bố trên Đài phát thanh Hà Nội, “Với tư cách một đại diện của Phong trào Hành động Cách mạng [Revolutionary Action Movement RAM], tôi đang ở đây [Hà Nội, Bắc Việt Nam] để hỗ trợ cho người dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh của họ chống lại đế quốc Mỹ xâm lược … ”  1001

Sau khi bị đưa đến một hội nghị về “chủ nghĩa đế quốc” để tiếp xúc với một phái đoàn Mỹ, tù binh chiến tranh Everett Alvarez đã gặp Robert Williams và bạn gái đồng hành của y. Williams đã lên án Mỹ là phân biệt chủng tộc. Alvarez đã từ chối cho thu băng một tin nhắn cho chương trình bất hợp pháp The Voice of Free Dixie của William. Alvarez đã nghỉ là quả thật Williams ngu ngốc, đang phạm tội , và ngây thơ. 1002  Chiếu theo trang web của FBI thì Phong trào hành động cách mạng của William, RAM, đã là “một tổ chức quân sự tối mật với mục tiêu thay thế chủ nghĩa tư bản bằng chủ nghĩa xã hội. ”  Williams là một tên đào tẩu chạy trốn đi Cuba năm 1961. Năm 1965 và 1966, Williams đã làm bốn chương trình phát thanh trên Đài phát thanh Hà Nội cho quân nhân Mỹ (17 tháng 3 năm 1965, 20 tháng 9, 12 tháng 10 năm 1965 và 18 tháng 2 năm 1966) Đài Radio Free Dixie ngưng phát thanh vào tháng 3 năm 1966 và Williams chuyển qua Bắc Kinh nơi mà Trung cộng đã tài trợ tạp chí Crusader của y. 1003  Robert Williams có khả năng là một trong những lãnh tụ da đen, kể cả các tên Black Panthers mà Fidel Castro đã cung cấp tiền bạc.  1004

Sau cuộc gặp gở giữa Wilfred Burchett và bốn tù nhân chiến tranh bị Việt Cộng đang giam giữ vào năm 1963, cuộc tiếp xúc của Alvarez với Williams đã là vụ đầu tiên của nhiều loạt cố gắng nhằm khai thác tù binh chiến tranh trong “chiến dịch tuyên truyền rộng khắp thế giới của Hà Nội, và vài tù binh chiến tranh có thể đã bị dụ dổ hoặc bị tra tấn để phải hỗ trợ cho quan điểm của Bắc Việt “.  1005

Tem: Tài liệu của Nat. Ward. Phi công Mỹ đều là kẻ cướp, kẻ phạm hình tội

Cuộc Phản Đối Trong Tháng 4 Lớn Mạnh

Trong khi đó thì các công việc sữa soạn trong nước cho việc tổ chức cuộc phản đối vào tháng 4 của SDS đã tiến khá xa.

Vào cuối tháng 3, Tom Hayden bám theo được Robert Moses, Chủ tịch Ủy ban Điều Hợp các Sinh viên bất bạo động (Student Non-violent Coordinating Committee SNCC) tại Macomb và tuyển dụng được y để nói chuyện tại cuộc biểu tình sắp tới.

Việc đi tìm một diển thuyết gia da đen đã rất khó khăn, bởi vì Tổng thống Johnson đã dẫn đầu cuộc đấu tranh cho Đạo Luật Dân Quyền, Đạo luật về Quyền bầu cử và đã phát động cuộc Chiến tranh chống Nghèo đói  1006 và Martin Luther King cùng hầu hết các nhà lãnh tụ da đen đều đã không muốn chuyển hướng lưu tâm  từ cuộc đấu tranh dân quyền qua vấn đề Việt Nam. Trong vòng một năm SNCC sẽ thay thế Robert Moses với Stokely Carmichael, một tên Mác xít hung dữ cộng tác tích cực với Hà Nội.

Một số chủ trương hòa bình và xã hội dân chủ tiếp tục có những dè dặt trên  nguyên tắc đối với cuộc biểu tình mùa xuân năm 1965 chống lại chiến tranh Việt Nam.Taychủ hòa A. J. Muste và tay chống cộng xã hội dân chủ Norman Thomas đã thay đổi lúc thì ủng hộ cuộc biểu tình của SDS, rối lại tính đến việc rút lui, và cuối cùng thì chỉ hỗ trợ một cách lãnh nhạt thôi.

Bắc Việt và SDS Bác Bỏ Thương Thuyết Về Hòa Bình

Mười ngày trước cuộc biểu tình, ngày 7 tháng 4, LBJ đã yêu cầu có “các cuộc thảo luận vô điều kiện” với Bắc Việt và cam kết sẽ cung cấp 1 tỷ Mỹ kim viện trợ tư nhân nhằm hy vọng xoa dịu ” các chị em đang khóc nức nở cùng các tổ chức vì hòa bình”  1007 và để hối lộ Hà Nội đến bàn đàm phán. Muste và Thomas đã hoan nghênh đề nghị hòa bình ngày 7 tháng 4 của LBJ. Có vẻ mọi người đều muốn có hòa bình. Bắc Việt đả bác bỏ đề nghị của LBJ.

Cho dù là đã bắt đầu nhận được các chỉ thị đầu tiên từ Hà Nội hay chỉ hành động theo sáng kiến riêng của mình, ngay ngày hôm sau, một thông cáo báo chí của SDS đã công kích LBJ vì đã không thỏa mãn yêu cầu của Bắc Việt về một lệnh ngừng bắn trước bất kỳ cuộc đàm phán nào. 1008 A. J. Muste và Norman Thomas không đồng ý với “một số thành phần trong cuộc diển hành” và một lần nữa hoan nghênh nỗ lực hòa bình của LBJ. 1009

Cộng Sản Quốc Tế Ủng Hộ Nồng Nhiệt Cuộc Biểu Tình

Tại Đại học Rutgers ở Newark, nơi Tom Hayden đang giảng dạy trong khi cũng tổ chức các hoạt động cộng đồng Newark , Eugene Genovese, một nhà sử gia  Mác-xít và đồng hành du lịch đã là cố vấn tại đại học của SDS. Ngày 23 tháng 4 năm 1965, Genovese sẽ đã nói, “Tôi không sợ hay hối tiếc việc Việt Công sắp chiến thắng tại Việt Nam, tôi mong chờ nó.”  1010

Chỉ hai ngày trước cuôc biểu tình tháng 4, Hồ Chí Minh đã nói:

Hiện nay, [15 tháng 4 năm 1965]  nhiều tổ chức quần chúng và cá nhân ở Hoa Kỳ đang đòi hỏi chính phủ của họ phải chấm dứt cho rồi cuộc chiến  bất công này rút quân Mỹ khỏi miền Nam Việt Nam. Chúng tôi … xin bày tỏ tình bạn của chúng tôi với nhân dân tiến bộ Mỹ .

Cũng giống như vậy, trong một diển văn vào tháng 4 năm 1965 thì Thủ Tướng Phạm Văn Đồng đã nói,

 Việc chống đối mạnh mẽ và không ngừng nghỉ [từ] … nhân dân thế giới … có  tác dụng ngăn chận đẩy lùi … (các) … âm mưu gây hấn và phổ biến chiến tranh của đối phương. Thật vậy, hậu phương ” của địch đang tan rã.”  1011

Càng ngày một chủ đề sẽ càng được lặp đi lặp lại, “Cuộc đấu tranh của nhân dân Mỹ đang đóng một vai trò quan trọng trong cuộc đấu tranh chung của các dân tộc để ngăn chận các hành vi của Chính phủ Hoa Kỳ tại Việt Nam.”  1012

Có lẽ Hồ Chí Minh đã nói với thành viên Jeff Shero của SDS , kẻ đã từng tình nguyện chiếu đấu chung với cộng sản, “Chúng tôi nồng nhiệt chào đón các bạn trẻ của nhiều quốc gia khác nhau mà đã bày tỏ sẵn sàng đến Việt Nam và tham gia với chúng tôi trong cuộc chiến chống kẻ xâm lược Mỹ.”  1013  Hồ đã đồng ý với các giá trị của Mỹ, nhưng y cũng hoan nghênh các bạn Mỹ của y tham gia  Đấu Tranh, cả về chính trị lẫn vũ trang. SDS đã phản ứng thuận lợi về cả hai mặt này.

SDS đã phát hành một bích chương có hình một trẻ em Việt Nam bị sẹo vì bom na-pan với thông điệp: “Tại sao chúng ta đang đốt cháy, tra tấn, giết chết người dân Việt Nam … để ngăn chặn các cuộc bầu cử tự do?” Hồ và đồng bọn luôn luôn yêu cầu có các cuộc bầu cử tự do ở Sài Gòn, nhưng không bao giờ ở Hà Nội. Miền Namhiểu, nhưng phong trào hòa bình Mỹ thì không. Trong mổi cuộc bầu cử ở Nam Việt Nam, ” hơn 80% cử tri Việt Nam mà có đủ điều kiện đã không đếm xỉa tới mối đe dọa [của Việt Cộng] và “ sau mổi cuộc tấn công bằng súng cối, thì họ lại xếp hàng bỏ phiếu. ” 1014  Và trong năm 1964, 1966, 1968 với 1970, đa số công chúng Mỹ cũng tiếp tục phản đối việc Mỹ đơn phương rút khỏi Việt Nam.  1015

Cho dù báo chí Mỹ vá phong trào phản chiến coi thường tiến bộ thành lập các định chế dân chủ của Nam Việt thì nhân dân và chính phủ của họ rất quan tâm trong vấn đề này.

Tem: Nam Việt Nam ăn mừng tự do và công lý. Tài liệu của Nat. Ward

Mặc dù cánh tả thường cáo buộc tính cách vô nhân đạo, cũng đã có một phần  nhân đạo nào đó khi Hoa Kỳ sử dụng một số vũ khí.

Tổng thống Johnson đã ra lệnh tấn công hỏa tiển SAM và các địa điểm phòng không , nhưng chỉ bằng cách sử dụng ” những vũ khí chỉ có khã năng làm giảm thiểu nguy cơ thiệt hại các cấu trúc đê điều … bom lữa, bắn đại liên tối đa từ phi cơ, dùng bom bi, và các vũ khí chống cá nhân khác.”   1016

Nếu tiêu huỷ đê điều thì đã có thể đã giết chết hàng trăm ngàn thường dân cũng như binh lính và các xe chuyên chở đạn dược tại các địa điểm quân sự. Thay vì tàn sát thường dân một cách vô trách nhiệm, chính sách của Johnson chỉ nhằm tránh gây thiệt hại cho  thường dân tại các vùng đồng bằng lũ lụt rộng lớn của miền Bắc Việt Nam.  Là một cán bộ chính trị có kinh nghiệm từng làm việc với người Mỹ trong thế chiến thứ I và Thế chiến II, Hồ Chí Minh đã học được giá trị mà người Mỹ đã nhìn nhận cho mổi cá nhân, tức là tự do và mạng sống của mổi người, đã biết được mặc cảm tội lỗi của Mỹ về chế độ nô lệ và sự miễn cưỡng khi cam kết ở nước ngoài. Hồ hiểu rỏ những điều này và khai thác tất cả mọi điều  trong suốt cuộc chiến.

Một phần công tác tuyên truyền của tả phái đã tìm cách xác định là miền Bắc Việt Nam được tự do hơn và ít tham nhũng hơn so với miền Nam … Người Mỹ sẽ rất quan tâm về điều này. Một bài hát SDS đã có lời, “Tôi bỏ phiếu cho Hồ Chí Minh hay trở lại miền Bắc và được tự do.” 1017 Tại Ann Arbor, Ruth Stein, Bill Ayers, Stan Nadir đã phân phối “phiếu dữ kiện” Việt Nam từ số văn hóa phẫm được chuyển “qua” Paris và Vancouver, – rỏ ràng là hoặc từ Hà Nội hoặc từ một  nhà in tuyên truyền Đông Âu. Năm 1967 nhà xuất bản Xunhasaba của Hà Nội đã đang phân phát tài liệu thông qua China Books and Periodicals (Sách và định kỳ Trung Quốc ở San Francisco), mà đã có tác quyền về cuốn sách nhỏ màu đỏ, Trích dẫn từ Chủ tịch Mao Trạch Đông (Quotations from Chairman Mao Tse-tung) tại Hoa Kỳ. Hà Nội cũng đã gửi tài liệu cho tờ Giải phóng (Liberation) , National Guardian  và cho nhiều cá nhân.  1018

Ngày 17 tháng 4 của cuộc biểu tình, tờ  New York Post  đã đăng:

Một số lãnh đạo của Phong trào Hòa bình đã lưu ý rõ ràng hầu ngăn chận các cố gắng để biến sự kiện này thành một việc ủng hộ Cộng sản…. [Sau đó] các lời kêu gọi của Johnson cho các cuộc đàm phán vô điều kiện, đã không có gì có thể   biện minh được cho việc biến cuộc xuống đường thành một cuộc  trình diển điên cuồng chống Mỹ.  1019

Theo một tay sử gia có thiện cảm với SDS  là James Miller, thì không giống như tại Port Huron, ” Lần này, vấn đề cũ về ‘ Thống Nhất Mặt Trận ‘ nay rỏ ràng : SDS đã tham gia vào một liên minh tạm thời với các nhóm Mác Lê-nin.”  1020

Thật vậy, liên minh này đã trở thành thường trực và đã có tính cách quyết tử đối với Mỹ tại Đông Dương.

17 Tháng 4, 1965 – SDS Thành Công, Hà Nội Cảm Tạ

Khi từ chối loại trừ bọn cộng sản – đúng ra là khi chào đón sự hỗ trợ của các tên tự xưng là Cộng sản (Liên Xô và Trotskyite) – SDS đã tổ chức một cuộc biểu tình với một mặt trận thống nhất ởWashingtonvào ngày 17 tháng 4 năm 1965.

Đối với một cái nhóm nhỏ và chia rẻ như là  SDS, sự kiện có tới 20.000 người bất ngờ tham gia quả thật là một thành tựu phi thường về tổ chức. Đó là cuộc tụ họp phản chiến lớn nhất tính cho đến ngày hôm nay.

Bọn Cấp Tiến và Cộng Sản Bản Xứ

Jack Newfield, thẫm quyền đầy tự hào của Tân Tả đã mô tả những người biểu tình SDS khi họ bao quanh đài tưởng niệm George Washington: “Họ thật sự là những người cấp tiến bản xứ, gan lì, dân chủ, độc lập, sáng tạo, năng động , không tình cảm. ”  1021 Có lẽ là đúng nguyên văn mà một phân tích gia CIA đã dùng khi viết các báo cáo trống rỗng về bọn ” trẻ năng động ” cho Tổng thống ba năm sau đó.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã trả lời đầy thiện cảm, ” Việc phản đối mạnh mẽ và không ngừng nghỉ ” từ “nhân dân thế giới … có tác dụng chận đứng và đẩy lùi các ” âm mưu hung hăng và phổ biến chiến tranh của kẻ thù”. Y nói, ” hậu tuyến ” của đối phương đang ” đang tan rã. ” Nước Mỹ đã là, tuy chưa tuyên bố ra, Mặt trận thứ hai trong chiến tranh Việt Nam.

J. Edgar Hoover đã tuyên bố, ” Gần hơn bảy mươi cựu đảng viên hay đảng viện hiện thời của Đảng Cộng sản chỉ tại New York … đã được quan sát thấy trong số những người tham gia.” 1022 Con số bảy mươi quả là một con số nhỏ nhưng nó có ý nghĩa trong đám đông 20.000 này.  Lãnh tụ CPUSA Bettina Aptheker giải thích giá trị của một số nhỏ người trong ban tổ chức là rất dấn thân:

Các truyền đơn  và các cuộc biểu tình quả không đủ. Để tổ chức một cách thành công … hầu như tất cả mọi người đều phải … đối mặt với nhau kinh nghiệm của chúng tôi đã luôn luôn cho thấy rằng không có vấn đề làm tạm trong việc tổ chức. 1023

Thật vậy, một tay tổ chức không ngừng nghỉ đầy kinh nghiệm, với tư tưởng quyết chí cho lý tưởng của mình, luôn luôn là vũ khí tối mật của chính trị – dù hữu hay tả. Hơn nữa, vào năm 1965, các tổ chức hoàn tòan cho hòa bình như SANE 1024  và SPU đã thiếu một giới lãnh đạo quyết chí để tổ chức được các cuộc biểu tình quần chúng và điều động các nổ lực phản chiến toàn quốc. Lợi dụng khoảng trống này, cánh Tả, mới và cũ, trong tháng 4 năm 1965 đã thâm nhập vào. Nhóm SDS nhỏ bé đã không thể và không có tổ chức được cuộc tuần hành tháng 4 với chỉ một mình họ mà thôi.

Dù sao thì việc giới lãnh đạo của SDS đã cộng tác với Cộng sản vào ngày 17 tháng 4 năm 1965 đã đảo ngược lại một cách rỏ ràng chính sách củ của SDS mà đã từng được tranh luận mạnh mẽ khi thành lập SDS tại Port Huron, nhưng sau đó đã bị không thèm đếm xỉa tới về vấn đề phải loại trừ bọn “chuyên chế”  (Cộng sản).

Cuộc biểu tình ngày 17 tháng 4 bao gồm nhiều bài phát biểu đáng chú ý và âm nhạc của Phil Ochs, Bill Frederick, Judy Collins và Joan Baez. Hayden đã tuyển dụng được Robert Moses. I.F. Stone và Paul Potter đã thuyết trình.  So sánh Mississippi với Việt Nam, Moses đã nói rằng việc giết người  “đã nằm trong cấu trúc của xã hội … Hãy sử dụng Mississippikhông như là một thanh đao soi sáng về đạo đức, nhưng … như là kiếng nhìn của bạn .” Cả  tại Mississippivà Việt Nam, xã hội Mỹ đã đang giết người  ” bằng cách dựa trên lý thuyết cho rằng những người mà họ đang tiến hành cuộc chiến chống lại là Cộng sản cùng người ủng hộ họ.”  1025 Bọn cộng sản trong đám đông chắc đã phải cười khúc khích.

Potter: Hãy Đặt Tên Cho Chế Độ: Tư Bản Chủ Nghĩa

Chủ tịch SDS Paul Potter đã kết thúc cuộc biểu tình ngày 17 tháng 4 với một bài phát biểu đầy tính bi đát mà đã tiết lộ ra sự thật chính Newfield đã che dấu. Potter đã nói:

Cuộc chiến tranh đáng kinh ngạc tại Việt Nam đã cung cấp chiếc dao cạo, với nét cắt sắc bén đáng sợ cuối cùng đã cắt đứt di tích cuối cùng của ảo tưởng khi cho là đạo đức và dân chủ đã các nguyên tắc hướng dẫn Chính sách đối ngoại của Mỹ. …

Loại chế độ gì biện minh được cho việc chiếm đoạt số phận của nhân dân Việt Nam … Loại chế độ gì cướp đoạt quyền tự do của nhân dân miền Nam, để khiến từ hàng triệu này qua  hàng triệu người khác trên khắp đất nước bị nghèo khổ và bị loại khỏi … niềm tin  của Hội Mỹ … và vẫn cứ tiếp tục cho là mình tự do … và tự tin là mình xứng đáng để làm cảnh sát thế giới?

Chúng ta phải đặt tên cho chế độ này, Potter đã nói một cách như chờ đợi. Có kẻ đã nói: ” Chủ nghĩa tư bản! “

Potter vẫn tiếp tục,

 “Chúng ta phải đặt tên cho nó, phải mô tả nó, phải phân tích nó, phải hiểu nóphải thay đổi nó.”

 Potter không bao giờ đặt tên cho chế độ là Tư bản, nhưng Paul Booth thì nhớ,

Chúng tôi đã có các cuộc tranh luận vui nhộn về việc đặt tên cho chế độ. Vâng, tất cả chúng tôi đều biết đó chủ nghĩa tư bản, nhưng liệu chúng tôi có nên nói như vậy không? Có lẽ chúng tôi nên gọi nó Chủ nghĩa đế quốc, hoặc có lẽ chúng tôi không nên nói gì cả.

Cuối cùng, SDS quyết định “để cho nó như là một bí ẩn rằng sẽ có hay không có một chề độ tư bản ở Hoa Kỳ.” 1026 Rất nhiều người trong đám đông đã không  khó khăn gì để hiểu tin nhắn mã hóa của Potter.

Sau bài phát biểu của Potter và bài ca “Chúng tôi sẽ Vượt qua – We Shall Overcome” đầy tính cách khích động đấu tranh bởi Joan Baez và Judy Collins,  đám đông đã tiến về điện Capitol Hoa Kỳ. Staughton Lynd đã nghỉ là sẽ không gì có thể ngăn chặn được họ: “Có lẽ lần sau thì chúng ta nên cứ tiếp tục đi, rồi chiếm luôn … căn phòng để từ đó lệnh sẽ được ban ra.”  Đối với một số người, cuộc cách mạng đã bắt đầu vào ngày mùa xuân của tháng 4 năm 1965 đó. Một số nhà quan sát có thành kiến quả hy vọng như vậy. Một số khác thì không. Todd Gitlin đã sửa đổi “Bài Hát Cho Tự do – Freedpm Song”, với những chữ  “Và trước khi tôi sẽ bị rào chắn, tôi sẽ bỏ phiếu cho Hồ Chí Minh, hay trở về miền Bắc và được tự do.”  1027

Trong tháng 4 năm 1965, 85% công chúng Mỹ hỗ trợ việc ném bom Bắc Việt Nam và 80% rằng nó rất quan trọng để ngăn chặn miền Nam Việt Nam khỏi trở thành Cộng sản.  1028

Dù được công chúng ủng hộ mạnh mẽ, Tổng thống Johnson đã bác bỏ các kiến nghị của các Tham Mưu Trưỏng Liên Quân hầu tăng cường chiến dịch “Rolling Thunder” đánh bom ở Bắc Việt Nam vì sợ nó sẽ kích thích thêm các cuộc biểu tình như vào ngày 17 tháng 4 và khiến Quốc hội nổi lên chống đối.

Chương trình quốc nội Đại Xã Hội của LBJ phải là ưu tiên.  1029

Báo Cáo của FBI cho Johnson về Vụ Phản Đối Tháng 4: Ảnh Hưởng Chính Trị của Cộng Sản

Vào cuối tháng 4 năm 1965, Johnson gặp Giám đốc FBI J. Edgar Hoover, để thảo luận về “tình hình chống Việt Nam.”  Là một thiên tài về tổ chức chính trị  1030 , Lyndon Johnson đã không có “nghi ngờ gì” về âm mưu Cộng sản “đứng  sau những rối loạn.”  Hoover cho biết SDS đã đang chuẩn bị biểu tình vào mùa thu sắp tới trong 85 thành phố và SDS  “chủ yếu đã bị cộng sản xâm nhập …”  1031

Trong một phiếu nhắc nhở gởi nhân viên FBI,  Hoover nói SDS không phải là “một  tổ chức cộng sản ,” nhưng “tôi muốn cho Tổng thống biết rỏ  … về ảnh hưởng cộng sản … để ông nắm vững được tình hình.” Các cuộc biểu tình phần lớn “đã bị cộng sản tham gia vào mặc dù họ đã không phát động. ”  Cộng sản đã “tham gia và đẩy mạnh vấn đề.”

Johnson muốn “hành động kịp thời và nhanh chóng.” 1032  Bản đúc kết dài tám trang của FBI đã mô tả các nỗ lực của Cộng sản nhằm “khuyến khích” việc bất đồng chính kiến trong nước bằng “một loạt tăng cường chỉ trích nhằm vô hiệu hóa mọi nỗ lực của Hoa Kỳ để ngăn chặn Việt Nam khỏi bị nhận chìm bởi cộng sản xâm lược “. Bản đúc kết của Hoover xác nhận hầu hết những người biểu tình đều không là cộng sản cũng như không bị chúng điều khiển. “Tuy nhiên, Đảng Cộng sản Mỹ … đã mạnh mẽ hỗ trợ các nhóm này và gây ảnh hưởng;” và “Tuy là cuộc xuống đường tiến về Washington] không phải do Cộng sản khởi xướng … các đảng viên Đảng Cộng sản từ khắp toàn quốc gia đã tham dự.”  1033

FBI đã thấy rỏ ảnh hưởng chính trị đang lan tràn. Nhưng khi ráng điều tra “kẻ điều khiển”  thì CIA đã không bao giờ tìm thấy hay hiểu được.

Khi đã tham gia được và có ảnh hưởng trong nền chính trị Mỹ, bọn Cộng sản Mỹ đã là điệp viên gây ảnh hưởng chính trị của các cường quốc Cộng sản ngọai quốc.

Không giống như CIA, FBI dường như hiểu được vấn đề ảnh hưởng chính trị và chắc chắn là các vị dân cử – cả đảng Dân chủ và đảng Cộng hòa – khi phàn nàn về bọn Cộng sản thì họ đã biết hơn các nhà phân tích và các viên chức CIA khá nhiều về nghệ thuật và khoa học chính trị. Giám đốc FBI hiểu biết về những vấn đề tế nhị của việc ảnh hưởng chính trị trong khi tụi trai trẻ tại CIA thì lại sẽ phí cả một thập niên đi tìm kiếm cho ra việc Cộng sản “kiểm soát” – tìm những con rối và dây dưa rể má – để không bao giờ tìm thấy được và để tuyên bố đã không có ảnh hưởng của nước ngoài một cách đáng kể trong phong trào phản chiến.

Không ai tin là bọn trai trẻ mà đã từng đi tiệm để làm móng tay móng chân rồi còn  xức dầu thơm và tốt nghiệp từ Yale và Harvard, từng đứng chận đường để phản đối, hay đi vòng vòng các khuôn viên, hay phá phách lung tung, hay gọi điện thoại, hay cầu xin tiền đóng góp, hay đi yêu cầu được bảo trợ, hay tổ chức một liên minh mà lại là giỏi hơn là hàng trăm hoặc hàng ngàn người khác để tiến hành các hoạt động chính trị như vậy. Đây là những kỹ năng của những điệp viên chính trị và của các tay tổ chức về nghiệp đoàn và tổ chức cộng đồng, những kẻ mà bọn phê bình cánh tả của Mỹ có đầy dẫy.

Một vài gương mặt chủ hòa và phản chiến đã rất biết về ảnh hưởng của Cộng sản, nhưng vẫn tuyên bố là họ độc lập của họ và phô trưong các thành tích  chống chiến tranh của họ.

Lần Chống Cự Cô Đơn Cuối Cùng của Bọn Phản Chiến

Trong tháng 4 năm 1965, những người mà vẫn còn không tham gia phía bên kia – vài tên trong bọn tự cho là chủ hòa, bọn tranh đấu cho quyền dân sự và tôn giáo, đã quyết định thấu cáy trong việc biểu tình chống cuộc chiến tranh ở Việt Nam.

Đối với một vài tên thì đó là lần cuối cùng mà chúng còn giả bộ đứng trung lập  trước khi đi theo hẳn phía bên kia. Tờ Công nhân Công giáo (Catholic Worker) , Ủy ban hành động bất bạo động (Committee for Nonviolent Action CNVA), Liên minh Hòa bình Sinh viên (Student Peace Union  SPU), và Liên Đoàn Chống Chiến Tranh (War Resisters League WRL) đã xuất bản  tờ “Tuyên ngôn của lương tri chống chiến tranh ở Việt Nam.”  Đã có khoảng 6.000 chữ ký kể cả của  David Dellinger, 1034   Dorothy Day, Ammon Hennacy, Bradford Lyttle, AJ Muste, Robert Swann, Bevel James, John Lewis, Robert Moses, A. Philip Randolph, Bayard Rustin, Kenneth Boulding, WH Ferry, Erich Fromm, Paul Goodman , Linus Pauling và Staughton Lynd.

Nhân đây, chúng tôi xin tuyên bố từ chối, theo lương tâm của chúng tôi, để hợp tác với chính phủ Hoa Kỳ trong việc tiến hành cuộc chiến tranh tại Việt Nam.”

Chúng kêu gọi phải có hành động chống lại quân dịch. “Chúng tôi khuyến khích những người mà chiếu theo lương tâm có thể … từ chối phục vụ trong quân đội , [hay]  … để yêu cầu xuất ngủ …. Những người trong chúng ta … mà bị gọi đi quân dịch … thì hãy từ chối phục vụ. ”

Chúng tìm cách để ngăn chặn việc sản xuất  và việc nghiên cứu cùng phát triển về quân sự . “Chúng tôi kêu gọi những người khác hãy từ chối … … sản xuất hay (chuyên chở) … thiết bị quân sự, hoặc [thực hiện] … nghiên cứu và phát triển vũ khí.”

Và, nếu cần, chúng ủng hộ việc đích thân ngăn chặn đưa quân đội, vũ khí và vật tư. ” Chúng tôi … khuyến khích … những hành vi bất bạo động … để ngăn chặn việc đưa lính Mỹ và đạn dược qua Việt Nam.”  1035

Bọn Tham Gia Chủ Hòa

Với nhóm chủ hòa cùng tham gia phản đối thì việc phân biệt họ với bọn hồng vệ binh đang căm thù việc Mỹ kháng cự lại âm mưu thôn tính của Cộng sản đã trở thành khó , đó là chưa nói đến sự hiện hữu song song của Việt Cộng ở miền Nam Việt Nam. Việt Cộng đã cấy điệp viên trong các tổ chức sinh viên và tổ chức các cuộc biểu tình chống việc gọi nhập ngũ tại Sài Gòn, Huế và Đà Nẵng. 1036  Việc này đã trở thành một vấn đề ở Mỹ mặc dù 75% của quân đội Mỹ đều là tình nguyện, và chỉ có 25% là đi quân dịch.

Một cách có vẻ rất vô tư, Walter D. Teague, III, đã thành lập Ủy ban Hoa Kỳ viện trợ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, (U.S. Committee to Aid the National Liberation Front of South Vietnam USCANLF-SV), và sau đó là Ủy ban Đoàn kết Đông Dương  (Indochina Solidarity Committee) nhằm buộc Mỹ rút, và phân phối tài liệu văn học Việt Công tại Hoa Kỳ và kêu gọi “tất cả mọi người hãy gửi viện trợ y tế và tiền bạc … cho MTGPMN …” Thông qua Teague, phái bộ Cuba với  MTGPMN đã gửi một lá thư cảm ơn “tổ chức tiến bộ của Bắc Mỹ.”  1037

Một tuyên bố của Tổng thống Truman từng được ghi nhận trong  bộ luật  Trading with the Enemy Act of 1964 (Giao dịch với Địch năm 1964) cho phép chính phủ Mỹ kiểm soát tiền gửi cho các quốc gia nước ngoài. Walter D. Teague, III, sau đó đã thách thức Internal Revenue Service  IRS về việc áp dụng đạo luật này nhưng đã thua kiện trong vụ Teague chống Alexander.  1038

Phải Làm Gì Về Cuộc Chiến Việt Nam?

Vậy nay phải làm sao? Tối chủ nhật sau cuộc diễn hành ngày 17 tháng 4, Tom Hayden và bảy mươi tên từng tham dự đã gặp lại nhau. Vì vẫn chưa chú ý vào vấn đề Việt Nam, Hayden muốn tập hợp một Đại hội Xuyên Bang SDS để thành lập “Một chính phủ mới núp ngay phía sau cái cũ.”  1039 Đề nghị của Hayden đã bị bác bỏ.

Một đề nghị gửi một nhóm SDS đi Hà Nội sau đó đã được gửi đến một ủy ban để nghiên cứu. Bí thư Toàn quốc của SDS là Clark Kissinger tuyên bố SDS nên  thuyết phục thanh niên không ghi danh nhập ngũ và từ chối trình diện để nhập ngũ – một vi phạm trong Đạo luật Gián Điệp năm 1917 (Espionage Act of 1917). Clark Kissinger sau đó đã cho biết, “Thất bại lớn nhất của chúng tôi … là đã không gửi được lính tuyển mộ đi Bắc Việt Namđể cùng chiến đấu với Bắc Việt ”  1040 SDS đã thuê Carl Oglesby để thu thập thêm tin tức về chiến tranh.  1041

Số 5 đường Beekman

Các nhóm hoặc mới thành lập hoặc  mới được thay đổi,  Committee for Non-violent Action, Student Peace Union, War Resisters League, Fellowship for Reconciliation, Catholic Peace Fellowship, đã thuê hay được cung cấp văn phòng  trên tầng 10 số 5 Beekman Street ở Wall Street, Lower Manhattan cùng với tạp chí Giải phóng ( Liberation) của Dellinger. 1042  Các hành động tiếp theo của SDS là tập trung vào việc huấn luyện tại các khuôn viên đại học.

Huấn Luyện về Quân Dịch và Việt Nam

Một tháng sau cuộc biểu tình ngày 17 tháng 4, trong tháng 5 năm 1965, SDS và Uỷ ban Liên-Đại học Tranh luận về Chính sách đối ngoại (Inter-University Committee for Debate on Foreign Policy)  đã bắt đầu những buổi “dạy tại chổ” khá sáng tạo về vấn đề quân dịch tại nhiều khuôn viên đại học. Với vài ngoại lệ, ai ủng hộ chính sách của Mỹ tại Việt Nam thì dĩ nhiên không cần phải ghi danh.

Ủy ban Liên-Đại học đã chạy quảng cáo trong tờ New York Times  với chi phí từ $ 60.000 đến $100.000. FBI cho biết một Giáo sư Đại học Michigan và hai tên   Cộng sản giàu có, từng nhận giải thưởng Lê-nin về Hòa Bình vào năm 1960, Cyrus Eaton và  thành viên CPUSA, Corliss Lamont, đã trả tiền cho các quảng cáo đó và sau đó trả $ 50.000 cho tất cả các chi phí máy bay và đi lại của một hội nghị quốc tế ở Ann Arbor, Michigan.  1043

Noam Chomsky và tên Mác xít từng bị xác định là Cộng sản tên Howard Zinn 1044 đã hỗ trợ và có lẽ đã giúp Eaton cùng Lamont tài trợ cho một sinh viên Việt Nam tại Harvard (Cử nhân, Cao học, Tiến sĩ) tên Ngô Vĩnh Long. Bằng cách nào đó Long đã đi khắp nước và  thường xuyên đứng ra đại diện tiêu biểu cho hình ảnh một  sinh viên Việt Nam tại các buổi “dạy tại chổ” . Hơn nữa, Ngô Vĩnh Long đã xuất bản một bản tin sinh viên Việt Nam từng được phân phát khắp nơi, Thời Báo Ga  trong vòng sáu năm và điều khiển một Trung tâm Tin Tức Việt Nam (Vietnam Resources Center)  1045  đi theo đúng đường hướng Hà Nội trong mọi vấn đề.  1046

Cho tới tháng năm 1965, nhiều tên trong phong trào phản chiến đã chấp nhận tính cách chính đáng của cuộc đấu tranh của Việt Cộng ở miền Nam Việt Nam và một số khác thì chấp nhận tính chất bất hợp pháp của nước Cộng hòa Lập hiến  Mỹ. 1047  Mặt trận giải phóng quốc gia , một giả tưởng do Hà Nội tạo ra và kiểm soát đã được chấp nhận như là đại diện duy nhất của nhân dân miền Nam Việt Nam.  1048

Trong tháng 6 năm 1965, các tướng Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ đã tổ chức một cuộc đảo chính mà cuối cùng sẽ mang lại sự ổn định và khã năng  lãnh đạo quốc gia của miền Nam Việt Nam mà đã phân hóa kể từ vụ ám sát Diệm. Và với thời gian , Thiệu và Kỳ sẽ mang lại được phong cách tự do hóa của phương Tây, tuy là khá khiêm nhường – các cuộc bầu cử, chính phủ địa phương độc lập, báo chí tự do, và cải cách ruộng đất –  không được đánh giá cao bởi bất kỳ ai ngoại trừ ngay chính người nông dân ViệtNam. Tuy đôi khi có tham nhũng, không hoàn hảo và không đủ khã năng nhưng những việc cải cách như vậy ở trongNamđã không bao giờ có ở ngoài Bắc cộng sản.

Các Người Không Cộng Bất Mãn với Các cuộc Biểu Tình Mùa Xuân

Các người tự do chính thống Mỹ đã không hài lòng về các cuộc biểu tình của tháng 4 và các cuộc “dạy tại chổ” trong tháng 5.

Các nhà lãnh đạo … của những tổ chức chủ hòa như … SANE … đã tìm cách tự bảo vệ bằng việc cách biệt vị trí của họ rời xa bọn Cộng sản và bằng cách thiết lập các tiêu chuẩn và kiểm soát nhất định để bảo vệ tổ chức của họ chống lại việc cộng sản xâm nhập …

Đã không có gì trong hồ sơ công cộng để cho thấy rằng các nhà lãnh đạo của phong trào “dạy tại chổ” cũng đã cố tìm cách phân biệt tách rời vị trí của họ với  vị trí của Cộng sản …

Việc kiểm soát của phong trào rõ ràng đã bị chuyển … vào tay … các thành phần  công khai có cảm tình với Việt Cộng và công khai thù địch với Hoa Kỳ.

Các khóa “dạy tại chổ” trên toàn quốc trong ngày 15 tháng 5 năm 1965 đã nhận được sự hỗ trợ tròn vẹn từ Cộng sản … các ấn phẩm … giống như các tờ Worker, Peoples World, National GuardianThe Militant.  1049

Johnson và Phó Tổng thống Hubert Humphrey cũng không hài lòng cả với cuộc biểu tình ngày 17 tháng 4 năm 1965 và các buổi “dạy tại chổ” trong tháng 5 năm 1965 .  Người ta đã biết đuợc là LBJ đã “đổ quạu” vì “các âm mưu cộng sản.” Phó Tổng thống Hubert Humphrey cáo buộc là “phong trào Cộng sản quốc tế [đã] tổ chức và điều khiển chiến dịch chống lệnh nhập ngũ [tháng 5 năm 1965].”  1050

Vào cuối tháng 5 năm 1965, Chưởng lý Nicholas Katzenbach đã cho phép nghe trộm điện thoại của SDS. 1051 Việc theo dõi về điện tử này đã dựa trên sự kiện đã có hành vi âm mưu lật đổ chính quyền khã dỉ đủ để đe dọa an ninh quốc gia-một sự xác tín là có các cá nhân hoặc nhóm đã bị kiểm soát, được tài trợ, hay dính líu với một thế lực thù địch ngoại quốc.

Phải chăng khã dỉ đã có một thế lực ngoại quốc?  chẳng hạn COMINFIL, của  Cộng sản để xâm nhập gây ảnh hưởng hay trực tiếp điều khiển thực hiện các mục tiêu của SDS? Hay là SDS thực sự chỉ là những người hùng lãng mạn bản xứ Mỹ của Newfield hay là “Giới Trẻ Năng Động” của CIA ? Tổng thống Johnson cũng muốn dùng các hồ sơ của FBI để kiểm tra lý lịch các kẻ chỉ trích mình trên báo chí.  1052

Trong một bức thư gởi cho một thành viên của Thanh niên chống chiến tranh và chủ nghĩa phát xít (Youth Against War and Fascism ) vào ngày 18 tháng 6 năm 1965,  Hồ Chí Minh đã bày tỏ nổi hài lòng đối với “nhân dân tiến bộ Mỹ” vì đã tỏ ra “bất bình trước những tội ác man rợ gây ra tại Việt Nam của đế quốc Mỹ.” Hồ đã bằng lòng về những tên tham gia “ phong trào chống chiến tranh xâm lược ở Việt Namvà hỗ trợ cho nhân dân Việt Nam. ”  1053

Vào mùa xuân năm 1965, công chúng Mỹ vẫn còn ủng hộ chính sách Việt Nam của Johnson. Tùy thuộc vào câu hỏi được đặt ra và cách thức ta có thể chơi số  thì 83% tiếp tục ủng hộ viện trợ Mỹ cho miền Nam Việt Nam. Chỉ tổng cộng lại các lập trường khã dỉ là phản chiến (ngừng bắn, rút quân, đàm phán) thì cũng chỉ có 29% là có thể được mô tả như là “chống” cuộc chiến tranh ở Việt Nam.  1054

Một Tổng Thống Loay Hoay tìm một Chính Sách cho Việt Nam

Để đối phó với áp lực của cánh tả, chớ chắc chắn không phải với công chúng Mỹ, vào tháng 5, LBJ đã ra cái lệnh ngưng ném bom đầu tiên trong loạt mười sáu lần rất vô ích như vậy. Đàm phán bí mật bắt đầu tại Paris mà không có kết quả. Trong khi trong chốn riêng tư Bắc Việt đòi hỏi thống nhất toàn vẹn Việt Nam thì ngoài công khai, chúng tuyên bố là chỉ đơn thuần muốn một cuộc ngừng bắn.

Sau khi phàn nàn là đã không có kế hoạch cho một chiến thắng – dù quân sự hay ngoại giao – , trong tháng 7Johnson đã nhận được ba giải pháp để lựa chọn hầu hỗ trợ miền Nam Việt Nam. 1. Westmoreland đề nghị dùng 150.000 quân Mỹ để đánh Cộng sản khi chúng chiụ lộ diện để chiến đấu. 2. George Ball đề nghị duy trì số 72.000 quân nhân hiện tại và đàm phán dàn xếp hòa bình. 3. William Bundy thì trung dung đề nghị duy trì 85.000 quân trong vòng hai tháng để thử “kiểm tra” là các vụ đánh bom ở Lào và ở miền Bắc Việt Nam liệu  có thể đánh bại cộng sản hay để có thể nâng cao tinh thần miền Nam Việt Nam.  

Những giải pháp này là bằng chứng của trò chơi lý thuyết về tính hợp lý của đám trẻ thần đồng. John McNaughton và Daniel Ellsberg đã xem kế hoặch của Bundy như chỉ là một cách bỏ rơi Nam Việt một cách để khỏi mất mặt – với một sự thay đổi lập trường , “ một bệnh nhân đã chết bất chấp những nỗ lực phi thường của một bác sĩ tốt.”  1055  Bọn trẻ thần đồng đã sẵn sàng để rút lui, nếu tình trạng trở nên bày nhày, mặc dù chỉ có 11% người dân Mỹ là đã có quan điểm như vậy trong tháng 7 năm 1965.  1056 Và vào mùa Thu 1965, 75% của “lứa trên đưới 20” sẽ đã ủng hộ việc gửi quân đến Đông Nam Á. 1057  Đám trẻ của Johnson đang tìm cách rút lui mà không mất mặt, một chính sách mà đã sẽ mô tả chính xác chính sách của Kissinger-Nixon sau này về một “khoảng thời gian đúng đắn” giữa việc rút quân / sự phản bội của Mỹ và cuộc xâm chiếm của Cộng sản.

Tới tháng 7 năm 1965, thì rõ ràng đối với một Lyndon Johnson mà đã luôn luôn ở trong thư thế chần chừ là không thể không cần thêm các lực lượng bộ binh Mỹ để ngăn sức tấn công mau lẹ của Bắc Việt cùng với Việt Cộng và để bảo vệ uy tín của Mỹ ở châu Á và trên thế giới. Cuối cùng Hoa Kỳ đã đáp ứng một cách miễn cưỡng, ngập ngừng và đầy lo âu trước các hành động quân sự của Bắc Việt.

Đám trai của McNamara đã bắt đầu một trò chơi xác xuất được thu xếp rất cẩn thận dựa trên lý thuyết với chiến dịch dội bom trong ba năm rưởi xen kẻ với những lần tạm dừng đánh bom. Những lần tạm ngưng dội bôm đã nhắm báo hiệu cho cộng sản biết rằng Mỹ nóng lòng muốn thực hiện một thỏa thuận để có được hòa bình. Ngược lại, làm như vậy đã liên tục cho thấy thiếu ý chí chính trị. Việc này phù hợp hoàn toàn với chiến lược cộng sản – chúng không bao giờ muốn bất cứ điều gì ngoại trừ một thắng lợi hoàn toàn.

Vì ngại quân đội Liên Xô hay Trung Quốc sẽ can thiệp,  chiến dịch “Rolling Thunder” chỉ cẩn thận nhắm các mục tiêu đã lựa chọn ở Bắc Việt Nam và Lào, nhưng đã không bao giờ đi tới mức đánh ngã địch và dành chiến thắng. Johnson nói với Hội đồng An ninh quốc gia, “Tôi nghĩ là chúng ta có thể được công chúng hỗ trợ mà không phải tỏ ra quá khiêu khích và hiếu chiến.”  1058

Tuy vậy, các thăm dò đã cho thấy là “công chúng” đã muốn Johnson hiếu chiến hơn để thăng cuộc chiến.

Đại Hội SDS Tháng 6 Năm 1965

Nhân đang trên đà đang có nhiều thắng lợi của cánh tả trong tháng 4 tại Washington và tại các “buổi dạy tại chổ”  ở đại học trong tháng 5, SDS đã tổ chức đại hội  vào tháng 6 gần Kewadin, Michigan.

Đại Hội đã ra chỉ thị cho các thành viên của SDS là không được chỉ trích Việt Cộng.

Hơn nữa, Đại Hội tháng 6 năm 1965 đã sửa đổi văn kiện thành lập của SDS để  loại bỏ các tham chiếu về việc loại trừ chế độ độc tài trong khi chỉ giữ lại những liên quan mơ hồ về các phương pháp và phương tiện dân chủ . “[SDS]  là tổ chức  dân sự tự do trong việc đối xử với những người mà tổ chức không đồng ý, nhưng dứt khoát đối lập với bất kỳ nguyên tắc phản dân chủ nào như là căn bản  về … tổ chức.” 1059  Như  thành viên SDS kiêm sử học gia James Miller đã ngây thơ ghi nhận,

Đại Hội [tháng 6, 1965] đã cho thấy không thể nhứt  trí vế bất cứ vấn đề nội dung nào, ngoài việc [chính thức] lặp lại [sic] cam kết của SDS về việc phi độc quyền, tức là chối từ trên nguyên tắc việc bác bỏ cùng hành động chung với các nhóm Mác-xít nin-nít.  1060

Quả thật bọn Cộng sản không hề thật sự phi dân chủ mà chính ra chỉ người Mỹ mới vậy.

Mặt Trận Thống Nhất để Chống Chiến Tranh

 Đại Hội tháng 6 năm 1965 của SDS công khai bao gồm các phái đoàn đại diện từ tổ chức Trotskyite YSL, đảng CPUSA Sì-ta-lin-nít, nhóm Trotskyite Spartacist , và tổ chức Mao-ít  PLP cùng Phong Trào 2 tháng 5.  1061 Tất cả bọn tả phái đều tham dự. Trong số ra ngày 19 tháng 6 của tờ Pravda, Hồ Chí Minh đã nói rằng “Bọn Đế quốc Mỹ … đang bị chỉ trích nặng nề hơn bao hết … ngay cả tại Hoa Kỳ.”  1062

 Tờ báo chính thức Izvestia của Liên Xô đã đăng một bài báo của “Herman Brown” nói rằng, “Ngày 17 Tháng Tư, [1965] tại Washington … 30.000 [sic] người đổ xô lại thủ đô Hoa Kỳ như là một dấu hiệu của việc chống lại cuộc chiến tranh ở Việt Nam.” Báo Izvestia của “Herman Brown,” đã ghi nhận “cuộc đấu tranh chống chiến tranh [trong] các môi trường đại học,” do ” Phụ Nữ Chiến Đấu [sis] cho hòa bình (Women Fight for Peace)” và do các nghiệp đoàn. ”  Đồng chí Brown đã nhận xét ,” Quả thật là cần thiết phải nhấn mạnh đến vai trò của Đảng Cộng sản … [và] hàng trăm tổ chức của mặt trận tiến bộ – cấp tiến. ”  1063

 Có tính cách trung thực hơn là việc sau này Hayden đã gạt bỏ sự tham gia của Cộng sản trong phong trào phản chiến, và cùng phù hợp với Izvestia, tên lãnh đạo phản chiến Mác-xít và cựu thành viên Sidney của CPUSA là Sidney Peck đã nhớ lại:

Số ôn hòa … đã kiểm soát về chính trị và thống trị phong trào . .  .  hòa bình cho đến năm 1965 thông qua tồ chức SANE. Họ muốn có một phong trào hòa bình đáng kính và một hình thức đối lập đáng kính.

Họ đã rất hạn chế . Họ tiếp tục các mô hình của McCarthy (Nhử-Mồi-Cộng-sản) trong phong trào hòa bình. Họ loại trừ phe tả ra.

SDS đã dành được chiến thắng trong cuộc biểu tình vào tháng 4 [17, 1965] . Từ năm 1965 trở đi, số lãnh đạo chi phối liên minh phản chiến đã nằm trong tay của bọn tả phái câp tiến dựa trên khuynh hướng không loại trừ bất kỷ ai

Chúng tôi [ nhóm câp tiến] gánh vác vai trò lãnh đạo của phong trào bất kể sự chống đối cực kỳ của các  lực lượng (dung hòa) khác.  1064

Tom Hayden chắc chắn đã biết ngôn ngữ của Peck về việc “loại trừ” và ” không loại trừ,” mà đã là những danh từ mật mã ám chỉ cộng sản và không cộng sản.  1065

Như Izvestia và nhà sử học James Miller đã thừa nhận, các sinh hoạt của SDS  trong tháng 4 năm 1965 đều có tính cách thông dụng cổ điển / Chiến lược Mặt trận Thống Nhất : xây dựng một liên minh rộng lớn bao quanh một mục tiêu với tính cách cải cách –  chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam. Ý niệm mặt trận nhân dân rất được trau dồi trước đó rồi. Lenin đã đề xuất ra nó, Quốc tế cộng sản đã ra lệnh thi hành nó, và các Đảng Cộng sản đã nghiêm túc áp dụng nó trên khắp thế giới. 1066   Đảng Cộng sản Việt Nam đã thi hành nó rất sớm vào năm 1930. 1067  Nhà sử học Arthur Schlesinger với khuynh hướng tự do đã từng mô tả các kẻ tự cho là tự do mà cộng tác với các mặt trận nhân dân như là “một rối loạn tâm thần khi suy luận theo kiểu trí thức của New York – a psychosis of New York intellection”  và  là “hậu quả của tham nhũng”, mà cũng là hậu quả của “sự ngây thơ”.  1068

Tình trạng rối loạn tâm thần và băng hoại này cũng đúng cho những tên trong thâp niên 1960 và 70 mà đã từng lãnh đạo hàng triệu người vô tội kế bước liên tục trên những vết mòn của những lối đi mà chúng hằng xử dụng cho mặt trận thống nhất. Các người cấp tiến Mỹ chân thật đi tìm hòa bình và chủ nghĩa xã hội đã khám phá ra là họ bị lèo lái bởi các hướng dẫn viên du lịch bí mật Cộng sản .

Tuy nhiên, vào năm 1960, yếu tố vô tội không là lý do biện minh đối với bọn lãnh đạo hàng đầu cánh tả Hoa Kỳ . Như tên dân chủ xã hội chủ nghĩa Michael Harrington và các đồng minh trong thành phần lao động của y đã tranh luận tại hội nghị thành lập SDS Port Huron hồi ba năm trước, thì đúng ra chúng hẳn phải  biết rỏ.

Mặt khác, hầu hết số 20.000 người tham gia trong cuộc biểu tình chống chiến tranh ngày 17 tháng 4, năm 1965  và cả hàng triệu người mà sau này sẽ tham gia trong phong trào phản chiến, quả thật không có bất kỳ lý do nào để nghi ngờ là họ đã vô tội. Họ là những người yêu nước chân chính, những người chủ hòa  trung thực, những nhà dân chủ xã hội và những con người liêm chính chỉ muốn thực hiện quyền hiến định của họ để phản đối cuộc chiến tranh ở Việt Nam.

Họ là những người vô tội về chính trị mà đã có lý do riêng tư để tham gia và đã không thể nào hoàn toàn biết được động cơ riêng của thiều số người đứng ra tổ chức, lập kế hoạch và chỉ đạo các biến cố quần chúng như vậy. Vài trăm tên đã biết rỏ những gì đã đang xảy ra và chúng là đối tượng mà chúng tôi quan tâm.

Trong mọi trường hợp, SDS, Cộng sản Mỹ và Izvestia, tất cả đều dành công chính cho sự thành công chung của chúng mà đã đưa đến cuộc biểu tình ngày 17 tháng 4 năm 1965  1069 và Hồ Chí Minh đã tỏ long mang ơn. Hơn nữa, cuộc biểu tình ngày 17 tháng 4 đã chứng minh được hiệu quả về chính trị của một mặt trận thống nhất và đã đẩy các người chủ hòa ra ngoại vi của phong trào phản chiến. Tại trung tâm của một phong trào phản chiến thành công là một mặt trận thống nhất trong việc thù ghét Mỹ quốc. Sự kiện này có nguồn gốc từ các sách vở và các hội nghị. Ngày nay, Internet đã thay thế cho nhu cầu tuyên truyền mặt-đối-mặt để biến thành chính sách và chiến tranh của Jihad và Trung Quốc.

*********

953 Zaroulis, trang 32.

954 Sale, SDS, trang 159.

955  Miller,  trang 226.

956  M. Stanton Evans, Black listed by History: The Untold Story of Joe McCarthy and his Fight Against America’s Enemies, New York: Crown, 2007, trang 54 viện dẫn Eugene Lyons, The Red Decade, Bobbs Merrill, 1941, trang 47

957  Chủ nhật 25 tháng 7, 1971, H.R. Haldeman, The Haldeman Diaries: Inside the Nixon White House, New York: Berkley Books, 1994, trang 401; Cũng như  “Rediscovered” , các ghi chú của Haldeman tại National Archives mà đã được công bố trong tháng chạp 2007 và được viện dẫn trong James Rosen, “CIA Shortcomings Infuriated Nixon, Newly Released Documents Reveal,” Fox News, 30 tháng 11, 2007.

958 CIA, FOIA, Trường hợp số: EO-2000-00020, Dissident Youth: The Dynamics of Protest,” 1 tháng chạp , 1964. Các tác giả phê bình: C+. “Viết khá, nhưng là một khảo sát không có bề sâu và chỉ lặp lại các tài liệu có tính cách giải bày của SDS. Đã thiếu sót không dẫn chứng là đã dựa phần chính nơi báo Times dể viết..”

959 Trong cuộc tranh luận bầu Tông Thống ngày 13 tháng 10, 1960 John F. Kennedy đã nêu ra viên Giám đốc CIA như là thẫm quyền đã tuyên bố ” Kinh tế Liên Xô đã phát triển hơn chúng ta nhiều. Ông Dulles đã nói là nó lớn hơn kinh tế của chúng ta gấp hai hay ba lần.” The New York Times, 14 tháng 10, 1960, trang 21.

960 Paul Samuelson, Economics, 1989, trang 837.

961 Cơ quan Kế Tóan Chính Phủ, “The Soviet Economy: Assessment of How Well the CIS Has Estimated the Size of the economy,” ADA344823, 30 tháng 9, 1991;  John Howard Wilhelm, “The Failure of the American Sovietological Economics Profession,” Europe-Asia Studies, Bộ 55, Số 1, tháng giêng 2003, trang 59-74; Paul Craig Roberts, “My Time with Soviet Economics, Independent Review, Bộ II, số 2, Mùa Thu 2002 trang 259-264.

962 Elizabeth P. McIntosh, Sisterhood of Spies: The Women of the OSS, Annapolis: Naval Institute Press, 1998, McIntosh nêu tên Helen Tenny và Constantine Contogenia tại trang 48-49, trang 76; A.H. Belmont gởi cho D.M. Ladd, phúc trình TỐI MẬT , [viết lại] Gián điệp – R, 23 tháng 5, 1952, 1 và 23 tháng 6, 1952, trang 2-3 kể tên Maurice Halperin, Duncan Chaplin Lee, và Donald Niven Wheeler. Căn cứ theo Venona và các nguồn tin khác, Stanton Evans nêu tên George Vucinich, David Zablodowski, Trung úy Milton Wolfe, Trung úy Irving Fajans, Duncan E. Lee, Shjii Fujii, Cedric Belfrage và tình nghi Đại úy Linn Farish, Julius Joseph, Donald Wheeler, Woodrow Borah, Carl Manzani, trang 92-97, trang 129.    

963 Hình và các ghi chú thuộc tài liệu của tác giả  DSC_317-18, 393-4 chụp tại War Remnants Museum (Viện Tàn Tích Chiến Tranh) tại Saigon vào tháng 3, 2008.

964  Bà  Lê Thị Anh, “Revolution,” trong Santoli, To Bear Any Burden, trang 34-35.

965 Tiến sĩ Ernest Bolt, “Advising the Viet Minh,” trong United States Advisory Experience: early commitments, 1954-1965, môn học trên Internet, đại họcRichmond vào mùa thu 1999, 

http://facultystaff.richmond.edu/~ebolt/history398/advisingthevietminh.html

966 Hoàng Văn Chí trả lời Daniel Teoduro, National Student Coordinating Committee,  20 tháng chạp 1972, in trong phần Appendix III, bổ túc cho Phúc Trình của Daniel E. Teodoru, Quốc hội Mỹ, Thượng viện, Ủy ban Committee on Judiciary, The Human Cost of Communism in Vietnam-II, Washington; Cơ quan ấn hành Chính Phủ Mỹ, 5 tháng giêng, 1973, trang 47.

967 A.H. Belmont với D.M. Ladd , phúc trình TỐI MẬT, [tái biên soạn] Espionage-R,  23 tháng 5, 1952, trang 3. 

968 ghi chú  Check Weiner, Timmerman

969 FBI, FOIA, Weather Underground. Nguồn chính đến từ  Đương nhiệm SACChicago báo cáo cho Giám đốc bản phúc trình “Foreign Influence-Weather Underground Organization,” 20 tháng 8, 1976, trang 2.

970 Phúc trình của Ủy ban 9/11 , trang 263.

971 Phúc trình của Ủy ban 9/11 , trang 328 và 353

972 http://25thaviation.org/history/id545.htm

973 “The Blood-Red Hands of Ho Chi Minh,” Readers Digest, tháng 11, 1968 tại http://www.paulbogdanor.com/ho-chi-minh.html.

974 Bác sĩ A. W. Wylie, một y sĩ Úc phục vụ tại một bịnh viện ở châu thổ sông Cữu Long đã kể trong “The Blood-Red Hands of Ho Chi Minh,” Readers Digest, tháng 11,  1968 tại http://www.paulbogdanor.com/ho-chi-minh.html.

975 Malcolm W. Browne, The New Face of War,Indianapolis: Bobbs-Merrill, 1965, trang 103.

976 Art Buchwald đã nói là nhà xuất bản đầu tiên của mình là MacKinlay Kantor từng  dùng trong những lần sữa chữa trước quyển của LeMay’s tên là Mission with Lemay. “Tôi không bao giờ nói là chúng ta phải đánh bôm để đem họ trở về lại thời kỳ đồ đá. Tôi chỉ nói là chúng ta có khã năng để làm việc này thôi ” LeMay đã nói trong năm 1968. 

977 Hans Heymann, một đúc kết của các tài liệu Pentagon Papers, ngày 26 tháng 9,, 1991 viện dẫn tại  cia.gov/library/center-for-the-study-of-intelligence/csi-publications/books-and…

978 Haldeman, Nhật ký .

979 Đầy những sự cao ngạo như vậy nằm trong rất nhiều trích dẫn thuộc Tom Wells, The War Within: America’s Battle Over Vietnam, New York: Henry Holt, 1994; cũng vậy thì có H.R. McMaster, Dereliction of Duty,New York: Harper Collins, 1997, rải rác nhiều chổ.  

980 H.R. McMaster, Dereliction of Duty,New York: Harper Collins, 1997, trang 62.

981 David H. Petraeus, “The American Military and the Lessons of Vietnam; A study of Military Influence and the Use of Force in the Post-Vietnam Era,”  luận án Tiến sĩ, Woodrow Wilson School, Princeton University 1987, viện dẫn trong Washington Post, 14 tháng giêng,  2007, B04.

982 Bret Stevens, “The NIE Fantasy: The intelligence community failed to anticipate the Cuban Missile Crisis,” Wall Street Journal, 11 tháng chạp, 2007; “David Ignatius: Iran report shows intel agency changes,” Sacramento Bee, 6 tháng chạp, 2007.

983 Reuters, “Iran saysU.S. report a “declaration of surrender” 16 tháng chạp, 2007.

984 Tướng H. Norman Schwarzkopf  nói với Peter Petre, It Doesn’t Take a Hero: The Autobiography,New York: Bantam Books, 1993, trang 208-9.

985 Miller, trang 227-228, ghi chú 24.

986 “The Perennial Marchers,” Reporter, Bộ 32, Số  9 (6 tháng 5, 1965), trang 8-9.

987  Merle L. Pribbenow, “North Vietnam’s Master Plan,” Vietnam Magazine tháng 8,  1999 tại  http://www.historynet.com/wars_conflicts/vietnam_war/3038076.html

988  Dale Andrade và Trung Tá James H. Willbanks, USA (hồi hưu) Tiến sĩ, “CORDS/Phoenix: Counterinsurgency Lessons from Vietnam for the Future,” Military Review, tháng 3 và 4, 2006, trang 9.

989  H.R. McMaster, Dereliction of Duty, trang 215; Ghi chú và hình của cuộc phản đối tại  Moscow thuộc tài liệu của tác giả Viet II DSC_347, 348 được chụp tại cuộc triển lãm đề cao các bọn phản chiến thuộc Viện Bảo Tàng Di Tích Chiến Tranh tại Sài Gòn trong tháng 3, 2008.

990 Viện dẫn  và hình tại Viện Bảo Tàng Di Tích Chiến Tranh ở Sài gòn thuộc tài liệu của tác giả Viet II DSC 347,348.

991  The History Place—Vietnam War 1965-1968 tại  historyplace.com/united states/Vietnam/index-1965.html

992  Janos Radvanyi, Delusion and Reality,South Bend: Gateway Editions, Limited, 1978, trang 38-9.

993  Việc kinh khủng này được tưởng nhớ trong viện bảo tàng Museum of “Hanoi Hilton,” Nhà tù Hỏa Lò , Hà Nội, tháng 3, 2008 trong bộ tài liệu của tác giả Viet I DSC_ 196.

994  Mary Hershberger, Traveling to Vietnam, Syracuse University Press, 1998, trang 2-3.

995  Pike, Viet Cong, trang 334-335.

996  Jung Chang, Mao… trang  575 note *.

997  Zalin Grant, “Pham Xuan An:Vietnam’s top Spy, Why Did U.S. Journalists Love Him?’  http//www.pythia press.com/wartales/spy.htm

998  Ion Mihai Pacepa, “Kerry’s Soviet Rhetoric,” National Review, 22 tháng 4, 2004.

999  Trích từ thông tư USMACV Dec, CDEC, Doc Log no. 12-1650-65, bị tịch thu bởi  bP934605, Tóan Tiền Thám, Căn cứ Lực Lượng Đặc Biệt Trung Dũng, phổ biến ngày 29 tháng chạp 1965.

1000  http://www.vvaw.org/veteran/article/?id=271

1001 Robert F. Williams, The Crusader, tháng 3, 1965, trang 5.

1002  Everett Alvarez nói với Anthony Pitch, Chained Eagle, New York: Donald Fine, 1989, trang 30 viện dẫn trong Craig Howes, Voices of the Vietnam POWs, New York: Oxford University Press, 1993, trang 84 ghi chú 31.

1003 Tom Charles Huston, Phúc trình đặc biệt cho Tổng Thống , TỐI MẬT, ĐÍCH THÂN THÔI – Rất tế nhị, Foreign Communist Support of the Revolutionary Protest Movement in the United States, tháng 7, 1969, trang 18-9, 22, Giải mật ngày 11/10/2008 theo yêu cầu của  Max Friedman.

1004 “US Bans 2 Cuban Envoys, Black Panther Link Hinted,” Washington Star, 6 tháng 4, 1969 viện dẫn trong Yohuru Williams, “American exported Black nationalism: The Student Coordinating Committee, the Black Panther Party, and the Worldwide Freedom Struggle, 1967-1972-SNCC,” Negro History Bulletin, tháng 7-8, năm 1997.  

1005 Craig Howes, Voices of the Vietnam POWs,New York: Oxford University Press, 1993, trang 41.

1006  Cagin and Dray, trang 438.

1007 McMaster, Dereliction… trang 260, 262.

1008 Miller, trang 230 ghi chú 31.

1009 Miller, trang 230 ghi chú 33.

1010 Kirkpatrick Sale, 1984. Trong thập niên 40, Genovese đã xin lổi với đảng Cộng sản Hoa kỳ rằng mình đã không thay đổi lập trường được những khi cần thiết . Y đã từ bỏ thuyết Mác xít vào thánh chạp năm 1996 để vô đạo Công giáo La mã.

1011 Giác thư CIA, “The Vietnamese Will to Persist.” Phụ đính X, The Effect of the International Political Climate on the Vietnamese Communist Plans and Capabilities,” 26 tháng 8, 1966, X-1.

1012 Giác thư CIA, “The Vietnamese Will to Persist.” Annex X, The Effect of the International Political Climate on the Vietnamese Communist Plans and Capabilities,” 26 tháng 8, 1966, X-3.

1013 Fall, ed. Ho, trang 327, viện dẫn Vietnam Courier (15 tháng 4, 1965).

1014 “The Blood-Red Hands of Ho Chi Minh,” Readers Digest,
tháng 11,  1968 tại  http://www.paulbogdanor.com/ho-chi-minh.html.; Peter Grose, “U.S. Encouraged by Vietnam Vote: Officials Cite 83% Turnout Despite Vietcong Terror,” New York Times,  4 tháng 9, 1967, trang 2.

1015 Adam Garfinkle, Telltale Hearts: The Origins and the Impact of the Vietnam Antiwar Movement, NY: St. Martin’sGriffin, 1997.

1016 Robert F. Turner, The Fonda Fallacies…, http://www.vvlf.org/default.php?page_id=41 viện dẫn W. Hays Parks, “Linebacker and the Law of War.” Air University Review, Bộ  XXXIV, Số 2 (tháng giêng và tháng 2, 1983), trang 15-16; Tad Szulc, “Nine-month Raids Exceed Total War For All 1971,” Evening Star and Daily News, 4 tháng 10, 1972. Christopher Hitchens cáo buộc Henry Kissinger phạm tội ác chiến tranh “war crimes,” nhưng lại không hề có việc dội bom đê điều. Christopher Hitchens, “The Case Against Henry Kissinger – Former Secretary of State,” Harper’s Magazine, tháng 2 và 3,  2001.

1017 Miller, trang 229 ghi chú 29.

1018 Carol Cohen McEldowney, (Eds. Suzanne Kelley McCormack, Elizabeth R. Mock), Hanoi Journal, 1967, Amherst: University of Massachusetts Press, 2007, trang 101; Henry và Gertrude Noyes thành lập China Books and Periodicals năm 1959, Nhà Phân phối Louis Swift of L-S  ở San Francisco đã khuyến dụ họ đưa trụ sở về San Francisco. Xem Sally Taylor, “China Takes Over China Books: The Longer Story,” Publishers Weekly, 11/10/2003. http://www.publishersweekly.com/article/CA334957.html

1019  Miller, trang 230 ghi chú 33.

1020  Miller, trang 231.

1021  Jack Newfield, “Revolt Without Dogma:  The Student Left,” The Nation, Bộ 20, Số 19 (10 tháng 5, 1965), trang 491-495.

1022 Khai trình trước tiểu ban Hạ viện Appropriations Sub-Committee ngày 10 tháng 2, 1966, viện dẫn trong H.C.U.A., Communist Origins and Manipulation of Vietnam Week

( 8-15 tháng 4, 1967), 31 tháng 3, 1967, trang 37.

1023 Bettina Aptheker, “On Organizing Student Strikes for Peace,” Student Mobilizer 17 tháng giêng, 1967. Tác giả có thể làm chứng về giá trị của kẻ tổ chức chính trị nhờ nơi kinh nghiệm trong nhiều cuộc vận động và tổ chức từ gốc rể trong nhiều thập niên. 

1024  8 tháng 4, 1967 Chưởng Lý Ramsey Clark van xin Marvin Watson theo một phúc trình của FBI với Ủy ban National Committee for a Sane Nuclear Policy.

1025 Cagin và Dray, trang 439.

1026  Miller, trang 232-233, ghi chú 35, 37.

1027  Studies on the Left, Bộ 5, Số 2, Mùa Xuân 1965.

1028  Terry H. Anderson, “Vietnam is Here: The antiwar Movement,” trong David L. Anderson, John Ernst (eds.) The War Never Ends: New Perspectives on Vietnam War,Lexington:University ofKentucky, 2007,  trang 247.

1029  H.R. McMaster, Dereliction of Duty,New York: Harper Collins, 1997, trang 263.

1030  Robert Caro, Master of the Senate: Lyndon Johnson, New York: Knopf.

1031  Nhắc nhở củaHoover gởi các viên chức FBI ngày  4/28/65 nêu ra trong “Church Committee Report.”

1032  Nhắc nhở củaHoover ngày 4/28/65 nêu ra trong “Church Committee Report.”

1033  Thơ Hoover gởi McGeorge Bundy, Phụ tá Đặc biệt của Tổng Thống (An ninh Quốc gia) ngày  4/28/65, có bao gồm thông cáo của FBI , Nội dung : “Communist Activities Relative to United States Policy on Vietnam” nêu ra trong “Church Committee Report.”

1034 Andrew E. Hunt, David Dellinger: The Life and Times of a Nonviolent Revolutionary,New York: New York University Press, 2006, trang 132-3 đã bị gán cho một cách sai lầm là vào tháng 4 năm 1964.

1035 Bản sao của Samuel Shapiro- Prof. of History, University of Notre Dame, CONTINUIUM, mùa Xuân 1965-“Vietnam:The History of the Tragedy.”

1036 “Missions To Be Carried Out,” CDEC, Hồ sơ số 01-1289-66,USMACV Dec, S/N 106, bị tịch thu vào tháng chạp 1966, công bố ngày 13 tháng giêng 1967. 

1037 FBI, FOIA, Abbot Howard Hoffman, New York, FBI LHM, “Youth International Party, aka Yippies Internal Security-Misc,”  15 tháng 7, 1970, trang 8 viện dẫn một tài liệu của USCANLF-SV, 20 tháng 7 năm 1966.

1038 662 F.2d 79, 213 U.S. App. D.C. 234, 82-1 USTC P 9261, Walter D. Teague, III, Indochina Solidarity Committee…, Appellants, v. Donald C. Alexander, et al.

1039 Kirkpatrick Sale, trang 194.

1040 Wells phỏng vấn Clark Kissinger, The War Within, trang 44.

1041 Miller, trang 234-235, ghi chú 39.

1042 Alice Widener, “The First Annual Socialist Scholars Conference,” USA, 3-17 tháng 9, 1965; Roy Lisker, “The Antiwar Movement in New York City 1965-67,” Ferment Magazine, nguyên gốc trong Les Temps Modernes, tháng 9 năm 1968 tại fermentmagazine.org/Bio/newleft1.html; Andrew E. Hunt, David Dellinger: The Life and Times of a Nonviolent Revolutionary, New York: New York University Press, 2006, trang 141.

1043 Rothrock Divided… trang 88 ghi chú 14 viện dẫn FBI, The Organized Opposition of the American Left to US Policy on Vietnam, 1-2. Văn khố Texas Tech.

1044 FBI, FOIA, Howard Zinn, báo cáo về Darrel B. Currie, Boston, 7 tháng 3, 1966 và  7 tháng 3, 1967 kể về những lần xuất hiện của  Zinn tại Boston University, Harvard, Case Western Reserve, Chicago.

1045 Chris Norlund, “The First Vietnamese to Attend Harvard,” Migration Letters, Bộ 2, Số 1,  trang 78-9.

1046 Đánh bom đê điều, Hóa chất màu da cam, Việt Cộng.

1047 Roger Canfield, Democratic Legitimacy…1972  rải rác trong nhiều tài liệu. 

1048 James Rothrock trang 45 ghi chú 31 viện dẫn Roger Swearingen, The Vietnam Critics in Perspective, (in lại từ Communist Affairs, tháng 5-6 năm 1966), trang 3 và Jack A. Smith, “Students Plan new War Protests,” National Guardian, 1 tháng 5, 1965, cả hai đều thuộc Văn khố Texas Tech.

1049 Gốc có thể từ Check Gannon, Gottleib, hay Kirkpatrick Sane.

1050 Chiếu theo Doris Kearns viện dẫn trongReunion. Trang 178.

1051 Cũng là Student Non-Violent Coordinating Committee (SNCC). Phúc trình  J. EdgarHoover gởi Chưởng Lý , 5/25/65 viện dẫn trong phúc trình Church.

1052 Johnson đòi các hồ sơ FBI điều tra về Bình luận viên NBC David Brinkley (tháng 2 va 5, 1965), phóng viên AP Peter Arnett, nhà báo Joseph Kraft ( 27 tháng giêng , 1967), văn phòng trưởng báo Life tại Washington Richard Stolley ( 6 tháng 4, 1966), văn phòng trưởng báo Chicago Daily News tại Washington Peter Lisagor (24 tháng 2, 1966), và  Ben W. Gilbert của tờ Washington Post ( 6 tháng 4, 1966).

1053 www.iserved.com/v-v-a-r-.org.

1054 “What the Polls Told LBJ”, US News & World Report, 10 tháng 5, 1965. trang 11; Xem thêm  “The Use of Power with a Passion for Peace,” Time,  25 tháng 6, 1965.

1055 The Pentagon Papers, Bộ 3, trang 556-9, trang 683-4; Gibbons, The U.S. Government and the Vietnam War, Bộ  2, trang 348 viện dẫn trong Moyar, Triumph… trang 319 ghi chú 47, trang 408 ghi chú 38

1056 Washington Post, 28 tháng 6, 1965 viện dẫn trong Moyar Triumph  trang 414 ghi chú 58.

1057 Terry H. Anderson, “Vietnam is Here: The antiwar Movement,” trong David L. Anderson, John Ernst (eds.) The War Never Ends: New Perspectives on Vietnam War,Lexington:University ofKentucky, 2007, trang 248.

1058 David Halberstam, The Best and the Brightest,New York, 1972, trang 599.

1059  Bản Điều lệ của SDS, tu sữa tháng 6 năm 1965, Điều III, Đoạn 1 mà tác giả hiện đang có.

1060  Miller, trang 240.

1061  Kirkpatrick Sale ; HCIS, Terrorism.… 1974, trang 107.

1062  Đọc : “Effects of U. S. Criticism:  Ho Is Encouraged by Dissent in U.S. An Interview with Pravda Hanoi Chief Cites Criticism,” New York Times (20 tháng 6, 1965).

1063  Herman Brown, “Not All Is Quiet In America,” Izvestia (15 tháng giêng, 1966).

1064   Who Spoke Up, trang 418.

1065  Mãi tới ngày 15 tháng 9 năm 1975 khi mà một ứng cử viên vào Thượng viện là Hayden đã công khai tố cáo Tổng Thống Ford về “những chính sách loại trừ của thời Chiến tranh Lạnh” khi Ford chống đối tư cách thành viên của Việt Nam mà lúc đó đang ráng lấy hai phiếu biều quyết tại Liên Hiệp Quốc – Bắc và Nam. Đọc :  “Hayden Wants Both Vietnams in the U.N.,”Los Angeles Times (16 tháng 9, 1975).

1066  Sau một  quyết định ở Moscow thì chiến lược mặt trận nhân dân đã trở thành chính sách chính thức của Liên Xô mà đã được quyết định tại Đại Hội Thứ 7 của Cộng Sản Quốc Tế tại Moscow trong tháng 7 và 8 năm 1937.  Bọn Cộng sản Âu châu nào mà đã không chịu theo đường lối cộng tác của Stalin với bọn Xã hội dân chủ và đồng bọn thì đều bị tố cáo, thanh trừng hay giết chết. Đọc:   Arthur Koestler, The Invisible Writing. Đọc thêm :  Klehr, Heyday of Communism. Ngay từ đầu, vài kẻ , chứ không phải là tất cả, thuộc thành phần cấp tiến và có khuynh hướng tự do Mỹ đã chống lại các mặt trận nhân dân vì sợ bọn cộng sản chế ngự các tổ chức này. Rất nhiều, kể cả bọn cộng sản không theo Liên xô đã tố cáo các mặt trận này như là có tính cách Stalinist .

1067  The United National Front in Vietnamese Revolution:  The Vietnamese Experience (Hanoi:  Foreign Language Publishing House, 1986), viện dẫn trong Indochina Chronicles, Bộ VII, Số 2 (tháng 4-6, 1988), trang 19.

1068  Allen Weinstein, Perjury, trang 52; thêm tại trang 197-198, trang 514-516.

1069  Xem thêm :  Militant (10 tháng 10, 1969).

*****

Advertisements

Một phản hồi to “Roger Canfield’s Americong #7”

Trackbacks/Pingbacks

  1. Giới thiệu tác phẩm AMERICONG (MỸ-CỘNG) – Lê Bá Hùng | Ngoclinhvugia's Blog - 05/01/2016

    […] Roger Canfield’s Americong #7 […]

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: