Roger Canfield’s Americong #34

image002 

Comrades in Arms

How the Americong Won the War in Vietnam

Against the Common Enemy— America

Copyright Roger Canfield, Ph.D.

1986-2012

No commercial transaction allowed except that approved by the author, copyright holder.

Obtain a prepublication release of a CD-R in Microsoft Word in ENGLISH at a discounted price of $15 from Roger Canfield Rogercan@pacbell.net at 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 or at http://americong.com.

Completely SEARCHABLE for any name, date, place or event of the War and its protesters.   

Cover: Design Stephen Sherman. Photos: Roger Canfield, March 2008. TOP: War protest Hawaii, February 1966 displayed at War Remnants (Crimes) Museum, Saigon. Bottom: Praetorian Guard

Các đồng chí cùng chiến tuyến

Làm thế nào MỹCộng thắng cuộc chiến Việt Nam

Chống kẻ Thù Chung – Mỹ

Giữ bản quyền Roger Canfield, Tiến Sĩ

1986-2012

Không được sử dụng vào mục đích thương mại nếu không có sự đồng ý của Tác giả, người giữ bản quyền.

Có thể mua một tiền bản dưới dạng CD-R Microsoft Word bằng Anh ngữ với giá đặc biệt US$15 ngay từ tác giả Roger Canfield  Rogercan@pacbell.net tại 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 hay tại  http://americong.com.

Hoàn toàn có thể TRA CỨU hoặc bằng tên, bằng ngày tháng hay biến cố liên quan đến cuộc Chiến cùng cả luôn bọn tham dự biểu tình .

******************************************************

* Tác giả giữ bản quyền © Roger Canfield 1986-2012

  • Lê Bá Hùng chuyển ngữ  (với sự chấp thuận của Tác giả)

 

***************

Chương 34

CHÍNH PHỦ HOA-KỲ CHÀO MỪNG

CÁC TÙ BINH VÀ HAYDEN

 

Dù sao thì chính quyền Mỹ cũng đã can thiệp ở Beirut. Hayden nói với Sheehan là các tù binh đã “chấp nhận được giúp đỡ ” tại Beirut.  2115  Họ đã không còn nằm trong tay Hayden nữa. Sau này thì Hayden đã mô tả vụ dừng chân bất ngờ tại Beirut như  sự kiện “chấp nhận được giúp đỡ” mà y từng kể với phóng viên Sheehan. Bây giờ thì y lại nói dừng chân tại Beirut là để tắm rữa và ăn đồ ăn Mỹ – một việc mà rất dể sắp xếp ở Bombay, đó là chưa kể đến nếu là tại Bangkok.

Hayden cũng có đề cập đến một đề nghị của Cuba nhằm cho phép tị nạn chính trị. “Tôi đã lể phép cảm ơn [người Cuba đó] và tự hỏi từ đâu ông ta đã có ý nghỉ là những người này có thể đào ngũ”. 2116  Vậy thì thực sự từ đâu? Sheehan lúc đó chưa hề phỏng vấn Hayden hay thậm chí  cũng chưa sưu tập tài liệu về cái câu chuyện “đào thoát” y sẽ kể. Không ai biết nhưng rất có khã năng là vụ Cuba đã là Kế hoặch B, nếu kế hoạch đào ngũ tại Tiệp Khắc đã sẽ không thực hiện được hay nếu chính quyền Mỹ ở Beirut đã không can thiệp kịp thời.

Dù sao thì tựu chung, đó chỉ là chính sách của Việt cộng. Tù binh đã được dự kiến ​​sẽ bỏ trốn, sẽ đào ngũ. Theo Bell và Veith khi tra cứu các tài liệu cộng sản:

Các tên đào ngũ … cần được sử dụng … để ảnh hưởng đến suy tư của thân nhân gia đình của chúng, cũng như của nhân dân Mỹ …. phân cục Tuyên truyền về quân sự từng có những băng thu âm … và các chương trình phát thanh trong thời chiến đã được phát đi từ Hà Nội cũng như Cuba ”  2117  Một hàng binh, hay đào ngũ … theo Hiến pháp và pháp luật Việt Nam, có đủ điều kiện để nhập tịch Việt Nam nếu họ … đã góp phần vào lý tưởng che chở và bảo vệ quê hương đất nước Việt Nam.”  2118

Tù Binh Được Giải Cứu Khỏi Tay Cộng Sản tại Beirut

Tù binh Dan Pitzer sau này đã mô tả khái niệm “giúp đở” của Hayden.

Bởi vì Pitzer và tờ New York Times vẫn tin là tù binh sẽ bị đưa đến Prague nên  Pitzer đã gọi việc xảy ra ở Beirut là một màn giải cứu. Pitzer đã nhờ một nhân viên thu dọn làm vệ sinh trên máy bay mang lậu dùm đến Tòa Đại Sứ Mỹ một mẫu tin nhắn nhân một lần chuyến bay tạm đáp để lấy thêm nhiên liệu. “Mẫu tin nhắn nói là chúng tôi gồm ba người Mỹ không có thông hành hay chứng minh về lý lịch đang đi trên một phi cơ cộng sản.”  2119

Pitzer đã mô tả việc mình được giải thoát tại Beirut. Art Beaton, một viên chức Mỹ đã sải bước nhanh tới phi cơ và cố ý đứng chắn giữa các tù binh với bốn người  ngoại quốc: hai Nga và hai Cuba. Theo lời Pitzer thì các tên này đã hiện diện cùng trên phi cơ để kiểm chứng là quả chúng tôi có tới đúng nơi bị chỉ định trước hay không. Chúng giả vờ chỉ là người qua đường vô tội … Tom Hayden … đúng ra là đã phải đưa chúng tôi đến Prague … “. 2120  Beaton sau đó đã hộ tống các tù binh ra khỏi máy bay và họ tức thì được các giới chức Mỹ ở Beirut bảo vệ.

Trên tờ Reunion, Hayden thì đã kể lại một câu chuyện khác hẳn về biến chuyển Beeton (cách Hayden viết tên nhân vật này). Hayden đã cho là Beeton đã cố bảo vệ các tù binh và y để tránh bọn nhà báo hung hăng (Vladimir Posner?  Saul Landau?  Wilfred Burchett?) tại Rome. Chứ không phải là ở Beirut.  2121

Tại sao những chuyện kể lại của Hayden và Pitzer lại khác biệt nhau nhiều như vậy? Chúng ta không biết, nhưng quả Pitzer  ít có lý do hơn Hayden để sữa lại lịch sử . Gitlen viết, “Rất ít tù binh đã bị thuyết phục bởi lập trường của Hà Nội và … Ngũ-giác-đài đã nhanh chóng bảo vệ họ và không để bọn phản chiến lợi dụng họ.”   2122

Trên tờ Reunion, bằng cách tránh không đề cập đến hay đối chất trực tiếp với câu chuyện giải cứu của Pitzer , Hayden vẫn đã tấn công cá tính và uy tín của Pitzer  – một kỹ thuật tố cáo y từng đã sử dụng chống lại nhiều người mà đã chỉ trích y.  2123  Hayden nói là ngay trước khi phi cơ hạ cánh tại Beirut thì Dan Pitzer đã say rượu, nôn mữa đầy ra và đã phải được rữa ráy sạch sẽ trước khi ra khỏi phi cơ. Không có gì là bất thường về một người đàn ông đã uống rượu sau bốn năm ở tù Cộng sản. Và cũng không phải là bất thường mà Hayden lại đích thân tố cáo tư cách của các người chỉ  trích y.

Về việc giải thoát mà y đã không hề đề cập nhưng lại còn biến đổi thành một vụ tắm mát cùng một bữa ăn nóng ở Beirut, Hayden nay lại nói: “Tôi đã muốn, nếu được thì cứ bay thẳng đến New York.”  2124  Rất là đặc trưng về cái khã năng nhớ lại rất có vấn đề của Hayden, vì hai mươi năm sau, điểm đến Prague đã trở thành thành phố New York!

Hayden bây giờ thì lại đề cập đến chiếc máy bay thuộc sở hữu của chính phủ Tiệp  Cộng sản như là “chuyến bay tư nhân của chúng tôi để về lại quê hương như là Việt Nam đã yêu cầu.”  2125

Các Chào Đón Tại  Nữu Ước 

Sau khi được giải thoát tại Beirut, các tù binh đã bay về nhà qua ngõ Rome chứ không phải Prague trên phi cơ của một hãng hàng không tư Mỹ. Họ đã hạ cánh ở thành phố New York sau khi dừng chân ở Rome, nơi Hayden đã được chào đón bởi Constance Brown, tên đồng hành thân thiết của y và cũng là tay tổ chức về chính trị ở Newark, và sau đó, tại Đại học Columbia và tại Hội nghị Dân chủ ở Chicago.

Hayden đã chỉ định ủy ban chào đón riêng cho y: Benjamin Spock, Martin Luther King, Dave Dellinger và Julian Bond. Các tường thuật lúc đó trên báo chí đã hầu như không đề cập gì đến cái “ủy ban” đặc biệt này của Hayden. Kỷ niệm của Dan Pitzer về vụ đón tiếp Hayden tại New York rất là đặc biệt nhưng không có vẻ gì là quá  thân thiện:

Khi chúng tôi đáp xuống New York, tôi sẽ không bao giờ quên được, có hai tay khoác  áo choàng đen đã nhấc bổng Tom Hayden lên. Tôi không nghĩ là chân anh ta đã chạm được mặt đất mãi cho tới khi vào tới trạm đón tiếp.  2126

Hayden thì lại mô tả mối quan hệ của y với chính phủ Mỹ một chút tốt đẹp hơn, theo cái kiểu ngoại giao “tài tử” của y. Năm 1986, Hayden tuyên bố là y đã nói chuyện với các nhân viên CIA:

về đủ mọi vấn đề trong thời gian nhiều tuần lễ … để khuyến khích họ xem đó [việc phóng thích tù binh] như là một cử chỉ nhỏ mà lại có thể tạo ra một lối thoát ngoại giao … [và] về những vấn đề liên quan đến nhân đạo và các nỗ lực để khuyến khích liên lạc với nhau, thì tôi đã có dính líu trong những vụ này.

Thêm nữa, sau đó y còn tuyên bố là:

Đã hợp tác với các sĩ quan thuộc Cục Tình báo bộ Ngoại giao Hoa Kỳ (U.S. State Department Intelligence)  và các thành viên của Thượng và Hạ viện Mỹ trong các phiên chât vấn về việc phóng thích tù binh, về các thăm dò ngoại giao và những nỗ lực khác nhằm thúc đẩy tiếp xúc giữa các đối thủ đang giao chiến. Tôi đã là nhịp cầu. Tôi đã là kẻ mang đi qua lại dùm một số trao đổi nhằm giải thích lập trường của nhau trong một vài dịp. 2127

Điều chắc chắn là các tài liệu báo chí lúc đó về vụ phóng thích các tù binh đã không có cho thấy được là Hayden đang thực hành việc ngoại giao, rõ ràng là không phải vì lợi ích của đất nước y. Rất lộ liễu là Tom Hayden đã đại diện cho Bắc Việt chứ không phải cho Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ. Thật vậy, một bài báo đương thời được viết bởi tên bạn Jack Newfield của Hayden đã không cho thấy bất kỳ sự công khai rỏ ràng nào về phần của Hayden đối với chính phủ Mỹ, chứ chưa nói gì tới bằng chứng về việc hoạt động về ngoại giao, về quan niệm nhân đạo, về tính cách trung gian đưa tin hay về việc hợp tác của y.

Trong “Kẻ không thể là cấp tiến” (Improbable Radical), Newfield đã mô tả “chủ nghĩa cấp tiến tuyệt đối” của Hayden và nói, “Y ta có một cảm nhận cực kỳ về tính cách tội lỗi của cái xã hội giàu có và hầu như là phát-xít”. 2128

Cuốn sách năm 1967 của Newfield, tựa đề là Tân Tả: Một thiểu số tiên tri (The New Left: A Prophetic Minority), nói rằng từ năm 1962, Hayden “đã là một tay cấp tiến ôn hòa … chịu ảnh hưởng bởi Michael Harrington và [Albert] Camus.” Trên thực tế, chúng ta được biết là Hayden đã hoạt động chống lại chủ thuyến chống cộng của các nhà dân chủ xã hội chủ nghĩa như Michael Harrington vào năm 1962 tại Port Huron. Hơn nữa, chúng ta cũng  không có bằng chứng đủ thuyết phục mọi người là quan niệm cấp tiến của Hayden đã từng là “ôn hoà”. Newfield  đã tiếp tục:

Tuy nhiên, theo thời gian [từ 1962 đến 1967], quan điểm chính trị của Hayden đã ngày càng có đặc tính cách mạng và cay đắng thêm khiến y đã không còn tin vào việc hợp tác với nhóm theo chủ thuyết xã hội  tự do và ôn hòa.  2129

Làm sao mà một tên làm cách mạng đang nghỉ là mình đang sống trong một “xã hội gần như là phát-xít”, lại đã “mất niềm tin vào việc hợp tác với bọn theo chủ thuyết xã hội  tự do và ôn hòa” và đã từng có những quan hệ mật thiết với các tay lãnh đạo Cộng sản – làm thế nào mà một kẻ như vậy lại “hợp tác” với CIA? Trong thực tế, “CIA” đã là một danh từ khinh bỉ mà Hayden thường hay sử dụng để biểu lộ sự nghi ngờ một kẻ nào khác. Loại ngoại giao nào sẽ được một kẻ có tư cách như vậy thi hành? Chúng ta có được câu trả lời chiếu theo cái gọi là  “ngoại giao” của y liên quan đến các tù binh còn bị giam cầm tại Việt Nam.

Vào tháng 11 năm 1967, như là một kết quả của sự hợp tác rất rõ ràng của Hayden với Việt cộng, ba tù binh đầu tiên đã được phóng thích và thư từ bắt đầu được cho gởi đi một cách nhỏ giọt – độ hai thư cho mổi tù binh cho mổi năm. Những nỗ lực sau đó của Hayden đưa đến kết quả là độ một tá hay hơn tù binh khác đã được phóng thích vào tay những người Mỹ mà Hayden đã từng đích thân cho phép đại diện hay chỉ định.

Các vụ phóng thích tù binh đều đã có những mục đích rõ ràng. Bell và Veith viết, “Trước khi … được phóng thích, lý lịch bản thân các tù binh đã được kiểm tra. Một báo cáo trong thời chiến nhân một cuộc họp của Cục MR 3 thuộc  MTGPQG đã cho biết:

VC đã cẩn thận kiểm tra lý lịch và gia đình của tất cả các tù binh trước khi phóng thích họ. Các dữ liệu cá nhân của mỗi tù binh đều bị sàng lọc bởi VC và Đảng Cộng sản. Một số tù binh Mỹ từng được phóng thích đã tham gia các phong trào và các cuộc biểu tình đòi hỏi hòa bình với rút quân toàn bộ tại Đông Nam Á “. 2130

Chiếu theo cuốn sổ tay của một cán bộ, “Chúng tôi phóng thích các tù binh giống như khi chúng tôi nuôi chim bồ câu để rồi sẽ thả, sau đó, chúng sẽ dụ mang cả  đàn chim trở lại nhà của chúng tôi. ” 2131 Đôi khi những con chim bồ câu lại xử sự rất là tồi.

Tất cả, chim bồ câu hay con người nào mà không tuân lời, thì đều sẽ bị vô hiệu hóa đi . . . chúng ta có thể nói như vậy.

Tù Binh John McCain

Trong khi đó, vào ngày 26 tháng 10 năm 1967, Bắc Việt đã bắn rơi chiếc Skyhawk của John McCain trong một phi vụ không tạc một nhà máy điện ở Hà Nội. Ông nhảy dù rớt xuống phía tây bắc của trung tâm thành phố Hà Nội trong hồ Trúc Bạch gần sông Hồng. McCain đã bị thương vì tai nạn và sau đó đã bị tra tấn khiến ông ta không bao giờ sử dụng hoàn toàn được các cánh tay của mình.

Cho dù nhờ tra tấn hay do tin tình báo,chỉ trong vòng bốn ngày thì Hà Nội đã có được trong tay toàn bộ lý lịch của gia đình McCain (cha ông là Đô đốc, vợ và con gái) và tài liệu của phi vụ (hỏa hoạn trên tàu USS Forrestal, 23 phi vụ trên Hải Phòng và Hà Nội.)

Khi phát thanh về Nam Việt, Hà Nội đã công bố “những chiến công” của McCain trong việc “nhà thường dân  bị phá hủy và phụ nữ, người già và trẻ em Hà Nội bị giết chết bởi loại bom bi bằng thép bung rải ra .” Đó đã là một cuộc chiến tranh bất công và mất lòng dân mà đã không mang lại chút  vinh quang gì cho đô đốc McCain. 2132

Ngày 9 tháng 11, một cuộc phỏng vấn John McCain đã được công bố trên báo Nhân dân và chuyển tiếp cho tờ Prensa Latina rồi được phân phối trên toàn thế giới bởi Thông tấn xã Việt Nam, VNA.

“John McCain đã rất sợ mạng lưới phòng không dữ dội tại Hà Nội …. Ba trong  mỗi nhóm 25 chiếc máy bay đã bị bắn rớt. Ông đã tuyên bố là Hoa Kỳ không thể nào chịu đựng được nếu cứ 3 chiếc  trong tổng số 25 lại cứ bị bắn rơi.”

Một đoạn trích dài hơn của cuộc phỏng vấn trên tờ Nhân Dân đã đuợc gửi ra ngoài bằng Pháp ngữ, mô tả chi tiết phi vụ cuối cùng của McCain với hệ thống phòng không chết người của Hà Nội. “McCain kêu lên: Rất khốc-liệt, rất chính xác …” Và “Tất cả các phi công … có sợ hỏa lực này không?”  McCain: “Vâng, chắc chắn … Rất nguy hiểm. … Tôi thấy hai hỏa-tiễn bay vút bên hông tôi và thật là kinh khủng khi thấy vậy. Chúng bay rất nhanh, rất uy dũng. ”

Tờ Nhân Dân kể tiếp, “Đột nhiên tên không tặc tắt tiếng như thể vẫn còn bị ám ảnh khi nhớ lại phi vụ đầy thảm họa của y”.  Các nhận xét của McCain về hệ thống phòng không với tờ Nhân Dân  trong tháng 11đã được lặp lại trên đài Đài phát thanh Moscow trong bài tường trình Pravda Review ngày 8 tháng 12 năm 1967.

Ta hãy kiểm lại tất cả các bài tường thuật.  2133 McCain đã nói: “Tôi đã không bao giờ nghi ngờ [sic] ; Mọi việc đã đang diễn ra một cách thuận lợi cho Bắc Việt. Đặc biệt, trước dư luận thế giới hiện nay, chúng tôi (hầu như) rất lẻ loi.” 2134  Edward Joseph Cabanes  AFP đã trích dẫn McCain, “Tinh thần của nhân dân Việt Nam rất cao … và Hiệp-chũng-quốc có vẻ bị cô lập. ” 2135

Trên một chương trình phát thanh bằng Pháp ngữ tại Beirut vào ngày 28 tháng 12 năm 1967, một phóng viên truyền hình Pháp, Francois Chalais đã kể về cuộc phỏng vấn của y với John McCain trong bệnh viện Gia Lâm.

Có lẽ với sự khuyến khích của Việt cộng, câu chuyện của McCain bây giờ rất là được cải thiện so với nguyên bản ngày 9 tháng 11.

Lởi Kể của McCain về Việc Bị Đối Xử Ra Sao Ngày Càng Được Cải Thiện Cứ Sau Mởi Lần Kể Lại Thêm

Câu chuyện mới là John McCain đã bị bất tỉnh nhưng được cứu khỏi bị chết đuối  và ngay lập tức được đưa vào bệnh viện. Vào ngày 9 thì McCain đã tỉnh lại. “Tôi đã bị người Việt Nam bắt và đẩy vào bờ. Họ tước khí giới của tôi và đưa tôi đến nhà tù [Plantation]. ”  2136

Theo chuyện kể lại của McCain, phù hợp với các tường trình lúc đó, thì Pigeye và Big Ugh đã tra khảo McCain để ông phải khai ra các chi tiết về phi vụ của mình trước khi ông được chăm sóc về y tế. Ông đã không được đưa đến bệnh viện trước khi Việt cộng  biết được thân phụ ông là một Đô đốc. 2137 McCain vẫn còn ở trong bệnh viện khi ông bị phỏng vấn vào tháng chạp. Điều kiện đưa ra đã là ông phải chịu bị phỏng vấn bởi tay phóng viên Cộng sản Pháp trước khi được điều trị cái chân. 2138

François Chalais đã chất vấn: “Ông bị đối xử ở đó ra sao?

McCain: “Rất tốt. Mọi người đều tốt với tôi.” 2139

Tới tháng 9 năm 1968, sau gần một năm và bốn ngày bị biệt giam và cứ mỗi  2 hay 3 giờ thì bị mang ra đánh đập, cuối cùng John McCain “đã ký một lời thú tội về những sai phạm và xin lỗi.”  2140

 image004

Tem: Hà-nội Liên Hoan Khi Bắt Được Các Phi-công Mỹ.

 Tài liệu của Nat Ward.

Sau khi trở về với các con tin tù binh của y là Jackson, Johnson và Pitzer thì  Tom Hayden đã sắp xếp cho một nhóm  SDS khác đi gặp bọn Việt cộng.

Băng đảng tại Phnom Pênh , 16 tới 26 Tháng 11 năm 1967

Được mời bởi Liên đoàn Thanh niên của CHDCVN (Bắc Việt) qua trung gian của  Tom Hayden, vào ngày 16 tháng 11 năm 1967, bọn thành viên SDS là Cathy Wilkerson (Swarthmore, Chester, New Left Notes), Jeff Jones (cũng có tên là 2141 Norman Kenneth Bailey, Duane Lee Compton, Jason Robert Russell, JohnHerman), và Karin Koonan (CPUSA tại UCLA, 2142 Oakland Ngăn Chận Việc Gọi Quân Dịch – Oakland Stop the Draft), đã lên đường từ sân bay Kennedy đến Ba-lê để VC duyệt sổ thông hành,  2143  hầusau đó bay đi Hà Nội.

Khi đến Phnom Penh, Cam-pu-chia, bọn chúng được thông báo là không thể  tiếp tục chuyến đi vì một điện tín vừa cho biết là đang có không tạc bên ngoài Hà Nội và Đại sứ Nguyễn Văn Hiếu đã nói với họ, Wilkerson có nhớ lại, là Hà Nội đang ngập chìm trong bom đạn . 2144 Wilkerson đã cảm thấy “nhục nhã tràn đầy … chính phủ của chúng ta đang cố gắng để giết cả gia đình, bạn bè và các đồng nghiệp của mình.”  2145

Dù sao thì cũng đã bị mắc kẹt tại Phnom Penn nên  họ đã trải qua mười ngày  “trò chuyện lâu dài với … các viên chức Bắc Việt, MTGPQG và người Kampuchia”.  Đám Mỹ muốn thảo luận về cách làm thế nào để xây dựng một phong trào thanh niên cách mạng và muốn hiểu biết là làm sao giới trẻ Việt Nam sống được trong “một quốc gia bị tấn công bởi đế quốc Mỹ, trong một quốc gia được huy động dùng vũ khí để chiến đấu.” 2146  Bọn VC đã cố mô tả theo quan điểm của chúng về chiến tranh, đặc biệt  là ” tinh thần binh sĩ  là sự yếu kém của quân đội Mỹ.” 2147  MTGPQG tự tin là mình chắc chắn sẽ thắng  và . . . Hoa Kỳ đang … ở trong một tình trạng vô vọng.”  2148

Họ đã được phục vụ một bữa ăn sáu món,  và được chăm lo bởi Vessa Ossikovska, người vợ Bun-ga-ri  của Wilfred Burchett  và được phục vụ giải trí bởi Đội Vũ của Quân Giải phóng Quốc gia  cố trình diễn cảnh những chiến sĩ và dân làng anh hùng chống lại sự xâm lăng của Mỹ.

Wilkerson đã nhớ lại, “Tôi đã tiếp tục chuyến đi, lòng càng thù ghét chiến tranh nhiều hơn,”. 2149   Khi đi đến Siem Reap thăm các di tích cổ ở Angkor Wat, y thị nhìn thấy một nhà máy Coca-Cola, “Tôi tự hỏi, điều này có phải là một phần lý do tại sao chúng ta đang dội bom Việt Nam?”  . 2150 

“Đa số người Việt đã không có một khuyến nghị cụ thể nào về các hoạt động của  phong trào hòa bình ở đất nước này. … Họ đều cùng rất nhiệt tình về mục tiêu sẽ đạt  được của những hành động qui mô, để có thể gây ra nhiều sự chú ý của quốc tế …

Họ muốn chúng tôi chinh phục được lòng tin  yêu của người dân Mỹ.”

Các lãnh đạo Việt cộng “dựa vào bản chất dân chủ của Hoa Kỳ … nhằm kết  thúc chiến tranh.” Họ “bày tỏ hy vọng rằng chúng tôi sẽ đóng góp vào một phong trào quần chúng chống lại chiến tranh.”   2151 Khi trở về nhà thì Wilkerson đã phổ biến các công bố của Việt cộng, đã phân phối các tài liệu văn học châu Âu và tài liệu văn học chống chiến tranh, rồi còn nói chuyện với các nhóm sinh viên ở Washington, New York, New England, Iowa, Kansas và Wisconsin. 2152

Wilkerson có nhớ lại, “Tôi thấm nhuần niềm tin lạc quan của Việt cộng là hầu hết mọi người trong thâm tâm đều không muốn sống bằng cách xâm lược và lũng đoạn … Họ đã có thể . . .  chối bỏ giới lãnh đạo nào mà dựa trên sự tàn bạo.” Cathy Wilkerson tin rằng Hồ Chí Minh đã chống lại việc tôn sùng cá nhân, đã ăn nói nhẹ nhàng, lại còn làm thơ và dạy người dân của mình để chống lại “sự nguy hiểm tàn phá của hận thù và ý muốn phục hận.”  2153

Khi về lại quê hương thì bọn lãnh đạo các nghiệp đoàn lao động tại những tiểu bang có thiện cảm với Hà Nội đã cố gắng gia nhập lực lượng lao động tham gia vô phong trào phản chiến.

Lãnh Đạo Lao Động Quốc Gia vì Hòa Bình, 11 và 12 Tháng 11 Năm 1967

Ngày 11 và 12 tháng 11, tại Đại học Chicago, các tay lãnh tụ lao động theo khuynh hướng tả phái đã tập họp một hội nghị với sự tham dự của 523 người từ 50 nghiệp đoàn và 38 tiều bang. Các tay tổ chức chính là thành viên bí mật CPUSA  Abe Feinglass của Amalgamated  Meat  Cutters and Butcher  Workers với Moe Foner  thuộc Hospital Workers Local 1199 of New York. Các tên lãnh tụ lao động khác là Al Hartong của International Woodworkers of America, Pat Gorman của Amalgamated  Meatcutters, Emil Mazey, United  Auto  Workers và Frank Rosenblum thuộc Amalgamated  Meat Cutters, Mary Jo và Walter Uphoff của Trung tâm Hòa bình Boulder.

Trong số các diễn giả thì đã có Walter Reuther của Congress of Industrial Organizations, CIO và Eugene McCarthy, ứng cử viên Tổng Thống. Cái loa thì là Martin Luther King, người đã từng lập luận một cách nhiệt tình là các chi phí  về  kinh tế và đạo đức của chiến tranh đã đang cản trở nỗ lực để kết thúc nạn nghèo đói . Việc giới lao động tả phái đã chỉ trích hành động của  AFL-CIO ủng hộ chiến tranh đã chứng minh  ảnh hưởng của CIA (Victor Reuther) và của “đế quốc Mỹ với một nhãn hiệu nghiệp đoàn” (Harry Bridges, thành viên CPUSA và lãnh tụ của nghiệp đoàn Longshoreman) . 2154

Chủ tịch AFL-CIO là George Meany cho biết hội nghị đã được tổ chức tại Hà Nội. Chắc chắn là Đài Hà Nội đã tường thuật hội nghị lao động và đã mô tả:

“một  tuyên bố nói là không có gì có thể biện minh được cho sự hy sinh của vô số sinh mệnh quý báu của thanh niên Mỹ và của đàn ông, phụ nữ và trẻ em Việt-nam. .. Chúng tôi đòi hỏi chấm dứt ngay lập tức và vô điều kiện việc ném bom của Mỹ trên VNDCCH. Tuyên bố cũng đòi hỏi Mỹ phải chịu đàm phán .. để chấm dứt chiến tranh.  . 2155

Trong tháng chạp, tại Hội nghị thường niên lần thứ 7 của AFL-CIO ở Miami Beach, 900 đại biểu đã tái khẳng định sự phản đối của nghiệp đoàn “về một Chiến tranh Xâm lược của Cộng sản” . Meany đã tuyên bố là hội nghị hòa bình Tháng 11 đã được tổ chức tại Hà Nội.

Chắc chắn là bọn Việt Cộng đã rất được tổ chức tại Hà Nội và từ đó, đã khổi phát một cách rất tàn nhẫn tiến trình xâm chiếm khủng bố của chúng.

Việt Cộng Đánh Napalms (bom lữa) Các Người Thượng tại Đắc-sơn, gần Sông Bé

Ngày 5 tháng chap năm 1967, trong vùng thuộc ảnh hưởng Việt Cộng, khoảng 20 cây số cách Campuchia và 75 dặm về phía đông bắc Sài Gòn, con Sông Bé đang chảy  vòng quanh bọc theo một ngọn đồi tại Đắc Sơn, một thị trấn với 2.000 người thuộc tỉnh Phước Long. Trên một địa hình có hình dáng một “ngón tay” chỉa ra từ đồi, có một số 800 người Stiengan , đồng bào sắc tộc nguyên trước đó từng bị Việt Cộng  cưởng bách làm nô lệ và nông nô cho chúng, đã tái định cư  bên ngoài chu vi được bảo vệ của thị trấn.

Vào lúc nửa đêm, 300 tới 600 Việt Cộng đã xối xả tấn công bằng súng máy, đạn cối và hỏa tiển những người dân không vũ trang này. Vì yếu thế, khoảng 140 lính Nam Việt phụ trách bảo vệ họ đã bỏ chạy  trốn về các vị trí kiên cố cách đó một dặm tại Sông Bé và bị thiệt hại hai người chết, ba người bị thương và ba người mất tích.

Việt Cộng đã không đuổi theo các lực lượng Nam Việt – một mục tiêu quân sự – nhưng lại quay 60 súng phun lửa napalm tàn sát thường dân Thượng đang vô phương chống  cự lại được. Người cùng với gà, ngũ cốc đều bị nướng chết thui ngay bên trong các túp lều của họ cùng với cả cây cối bên ngoái.

 

image006

Hình: Việt Cộng đốt cháy các túp lều tại Đắc Sơn,

John Felt, 44th US Signal Battalion

 

Những người khác mà đã núp trốn trong các hang thì đều bị giết bởi napalm, lựu đạn hay vì thiếu dưởng khí.

image008

Hình: Các Tử Thi Bị Đốt Cháy tại Đắc Sơn. Trung Tâm Lưu Trử VN  2156

 

Trong một bản kiến ​​nghị sau đó được chuyển giao cho Liên Hiệp Quốc, nhóm Vietnamese American Youth  ~ Thanh niên Mỹ gốc Việt đã biên soạn liệt kê các tội ác chiến tranh của VC đối với người dân thường trong tài liệu Viet Cong War Crimes Against Civilians ~  Các tội ác chiến tranh do Việt Cộng phạm , 2157 vàđã mô tả cuộc tấn công tại Đắc Sơn như sau:

Sau khi phá vỡ hàng rào phòng thủ mỏng manh của dân quân nhằm bảo vệ ấp , bọn cộng sản đã bắt đầu thi hành kế hoặch tiêu hủy toàn ấp cùng giết hết mọi người dân ấp.

Toàn bộ các gia đình đều bị nướng sống trong các túp lều lợp mái cỏ của họ hoặc trong các hố núp đào phía dưới giường của họ. Tất cả những gì cháy được đều bị tiêu hủy: nhà ở, mùa màng mới thu hoặch được còn phơi trên mặt đất, gia súc, hàng rào, cây cối, người dân.

Sau khi dùng hết chất napalm, Việt Cộng bèn lôi 160 người ra khỏi hố núp và xử tử họ – 2/3 là phụ nữ và trẻ em.

Lúc bình minh Việt Cộng rút đi, bắt theo 100 người sống sót còn lại vào rừng.

Chiếu theo phúc trình của Nam Việt  tại Liên Hợp Quốc: Độ 252 người đã chết, “hai phần ba … phụ nữ và trẻ em; 200 bị bắt đi mà đã không bao giờ trở về lại được.”

Tờ Time  đã tường thuật:

“Mùi thịt người bị nướng cháy … bao phủ mọi thứ. … Những lổ chó … chứa đầy những xác người bị thui đỏ, xưng phù và da bị lột cháy tiêu đi. Có những trẻ em bị đốt cháy chết cứng một cách kinh khủng trong vòng tay nhau, có những trẻ sơ sinh chết dính vào vú mẹ. ”

Kết quả thật là khủng khiếp: 252 bị xử tử, 50 người bị thương tích (33 nạn nhân  bị bỏng độ cấp ba), 100 bị bắt đi và gần 500 người thì mất tích. 2158

Một quan sát viên Mỹ tới hiện trường vào ngày hôm sau đã tả mình thấy và ngửi:

Khi chúng tôi đến gần nơi đó thì tôi nghĩ là mình đang thấy những đống củi cháy đen như mình thường thấy củi được chất đống chồng chất ngăng nấp lên nhau bên cạnh đường. Khi chúng tôi tới gần hơn, tôi mới nhận ra được đó chính là xác cháy đen của độ vài tá trẻ em.

Mùi  thịt người bị đốt cháy, mà thực sự là một mùi ta không bao giờ quên được, tràn đến chúng tôi lúc còn ở bên ngoài làng và dĩ nhiên đã càng trở nên nặng mùi hơn nhiều ngay trung tâm làng. Mọi người đều phải cố gắng thở bằng cách lấy lá bắp cải che trước mủi…

Tôi nhìn thấy một em bé trai cùng một em bé gái mà chắc là em hay chị gì của cháu tan dính vào với nhau như trong một vòng ôm tan  tóc. Tôi thấy một bà mẹ bị đốt cháy đen mà tay vẫn còn ráng ôm bảo vệ hai con trẻ mà cũng bị đốt cháy đen thui. Mọi vật đều bị thui rụi đen thui.

Điều tồi tệ nhất là tiếng kêu gào than khóc của những kẻ sống sót mà đang ráng tìm kiếm trong các đống đổ nát vẫn còn âm ỉ bốc khói. Một người đàn ông cứ tiếp tục kêu thét và kêu thét cho tới lúc tàn hơi. Ông ta cứ gào la như vậy trong nguyên cả một tiếng đồng hồ. Ông ta đã không hề lộ vẻ đau đớn theo như ý tôi nghỉ. Ông ta cứ tiếp tục gào la cho đến khi một bác sĩ chích cho ông một mủi ‘morphine’  hay một thứ gì đó. . .

Tôi đã học được là lữa khiến thân người phình lên và sau vài giờ thì da sẽ nứt, tróc ra và cong queo lại . . . Cuối làng thì không bị đốt cháy vì bọn cộng sản đã không còn ‘napalm’ nữa trước khi tới đó. 2159

Patrick Lang nhớ lại là vào ngày hôm sau, “Mùi của thịt người bị nướng chín, cảnh các tử thi khô phồng cùng lời than khóc của những người sống sót trở về lại làng quả đã đánh mạnh vào tiềm thức”.  Sau đó “một chiếc trực thăng Huey của Air America … đổ đậu ngược dốc … thổi đầy các mảnh vụn lên tất cả chúng tôi.” Ai đó đã hỏi điều gì đã xảy ra, “Tôi, đúng nguyên văn, đã nắm tay dẫn ông ta đến nhìn một người mẹ cùng đứa con bị cháy đen tuy còn nhận ra được rỏ ràng . . . Bà ta vẫn còn ôm xiết con trong tay khi chết. Ông ta bèn nôn mữa ra liền. ”  2160  Việc tiêu hủy nhà của dân làng quả rất quy mô và đã khiến có rất nhiều người thành kẻ tị nạn. 2161

Mike Benge, một cố vấn dân sự về bình định tại tỉnh Đắc Lắc (Ban Mê Thuột) và cũng là một cựu tù binh có nhớ lại,

“Có lẽ là ít hơn 100 người còn nhớ được, và ít hơn một tá đã nhìn thấy những hình ảnh của những gì đã xảy ra khi quân Bắc Việt tràn ngập một ngôi làng của dân tộc thiểu số Stiêng … và đã đốt sống một cách có hệ thống cả đàn ông, đàn bà, trẻ em và luôn cả bé con còn đang được bồng trong tay bằng súng phun lửa  – biến cả ngôi làng thành chỉ còn là một đống xác người cháy đen. ”  2162

image010

Hình: Một tử thi thường dân Việt bị VC giết

bằng sung phun lữa tại Đắc Sơn. Quân đội Hoa Kỳ

image012

Hình: VC đã thui đốt Đổ Diệu khiến nay thành kẻ không nhà, không cha tại Đắc-Tô, 6 tháng chap năm 1967. Quân đội Hoa Kỳ

VC còn tàn tệ hơn nhiều như chúng ta sẽ thấy trong Bộ II và III.

*****

2115 Neil Sheehan, New York Times, 18 tháng 11 năm 1967.

2116 Reunion, trang 230.

2117 Bell và Veith

2118 Bell và Veith

2119 Dan Pitzer theo sách của Al Santoli, Bear Any Burden, trang 162.

2120 Như trên

2121 Reunion, trang 237.

2122 Gitlen, trang 64.

2123 Một Nữ Khoa trưởng tại University of Michigan; Những người chủ trương tự do tại Port Huron; Robert McNamara; David Shell; Gil Ferguson, v. v. . .

2124 Reunion, trang 234.

2125 Như trên.

2126 Dan Pitzer theo sách của Al Santoli, Bear Any Burden, trang 163.

2127 Theo thống tấn AP, “Hayden Reveals His CIA Role During the Vietnam War,” San Francisco Examiner, 21 tháng 6 năm 1986.

2128 Phần nhấn mạnh là của tác giả. Jack Newfield, “Improbable Radical,” New York Times, 13 tháng 11 năm 1967, trang 2.

2129 Newfield, The New Left: A Prophetic Minority, nêu ra trong “Improbable Radical,” New York Times, 13 tháng 11 năm 1967.

2130 Bell và Veith

2131 Bell và Veith

2132 MCCAIN ONE OF MANY PILOTS DOWNED OVER HANOI, tại Hà-nội bằng Anh ngữ gởi các quân nhân Mỹ đang phục vụ tại Nam Việt [không đọc đuợc] GMT 30 tháng 10 năm 1967; Sydney H. Schanberg, “Why Has John McCain Blocked info on MIAs,” Nation, 17 tháng 9 năm 2008.

2133 Bài phỏng vấn McCain, Hà-nội VNA International Service chương trình Pháp ngữ 13:39 GMT, 9 tháng 11 năm 1967 (phỏng vấn tù binh Mỹ Lt. Cdr. John Sidney và McCain đăng ngày 9 tháng 11 trên tờ Nhân Dân).

2134 Cmdr Waldner, FBIS 50 chỉ dành cho chính phủ dùng, bản tin của thống tấn viên từ Hà-nội bằng Anh ngữ đăng trên tờ Prensa Latina, 12:05 GMT, 9 tháng 11 năm 1967.

2135 Paris AFP Anh ngữ, 12:53 GMT, ngày 10 tháng 11 năm 1967.

2136 Phỏng vấn với McCain, Hà-nội VNA International Service bằnh Anh ngữ 13:39 GMT, 9 tháng 11 năm 1967 (phỏng vấn tù binh Mỹ Lt. Cdr. John Sidney và McCain đăng ngày 9 tháng 11 trên tờ Nhân Dân).

2137 Stuart I. Rochester và Frederick Kiley, Honor Bound, American Prisoners of War in Southeast Asia 1961-1973, Annapolis: Naval Institute Press, 1999, trang 360.

2138 Stuart I. Rochester và Frederick Kiley, Honor Bound, American Prisoners of War in Southeast Asia 1961-1973, Annapolis: Naval Institute Press, 1999, trang 361.

2139 “The U.S. Prisoners Do Not Understand,” FBIS Kyrenia, Beirut, L’Orient in French 29 tháng chạp năm 1967, P I M, một số loạt bài viết bởi phóng viên “nổi tiếng” đài Truyền hình Pháp tên Francois Chalais, L’Orient, “Life in Hanoi.”

2140 Stuart I. Rochester và Frederick Kiley, Honor Bound, American Prisoners of War in Southeast Asia 1961-1973, Annapolis: Naval Institute Press, 1999.

2141 AKA, Also Known As (có nghĩa là Cũng Được Biết Với Tên), là những tên khác của các thành viên nhóm Weather Underground mà thường được dùng.

2142 “The Weather Underground Organization,” Information Digest, Bộ XIV, Số 22, 13 tháng 11 năm 1981, trang 337-8.

2143 Cathy Wilkerson, Flying Close to the Sun, New York: Seven Stories Press, 2007, trang 154.

2144 Cathy Wilkerson, Flying Close to the Sun, New York: Seven Stories Press, 2007, trang 155.

2145 Cathy Wilkerson, Flying Close to the Sun, New York: Seven Stories Press, 2007

2146 “Bound for North Vietnam,” The New York Post, 17 tháng 11 năm 1967; “Delegation to Hanoi Returns,” New Left Notes, 18 tháng chạp năm 1967; nêu ra trong tài liệu FBI, FOIA, Weather Underground. Nguồn tin chính là bản tóm tắt của Đương nhiệm SAC Chicago gởi cho Giám đốc, “Foreign Influence-Weather Underground Organization,” 20 tháng 8 năm 1976, trang 42; Sale, SDS, trang 92; The Movement, Tháng Chạp 1967: trang 1,7; “The Weather Underground Organization,” Information Digest, Bộ XIV, số 22, 13 tháng 11 năm 1981, trang 33.

2147 Cathy Wilkerson, Flying Close to the Sun, New York: Seven Stories Press, 2007, trang 157.

2148 Cathy Wilkerson, “The U.S. is Losing in Vietnam, A Report on a Trip to Cambodia,” (SDS) Spark, (University of Maryland), Bộ 2, số 3, 15 tháng giêng năm 1968 nêu ra trong tài liệu FBI, FOIA, Weather Underground. Nguồn tin chính là bản tóm tắt của Đương nhiệm SAC Chicago gởi cho Giám đốc, “Foreign Influence-Weather Underground Organization,” 20 tháng 8 năm 1976, trang 229; Cathy Wilkerson, Flying Close to the Sun, New York: Seven Stories Press, 2007, trang 174.

2149 Cathy Wilkerson, Flying Close to the Sun, New York: Seven Stories Press, 2007, trang 159.

2150 Cathy Wilkerson, Flying Close to the Sun, New York: Seven Stories Press, 2007, trang 160.

2151 Cathy Wilkerson, Flying Close to the Sun, New York: Seven Stories Press, 2007, trang 161, 162, 151

2152 Cathy Wilkerson, Flying Close to the Sun, New York: Seven Stories Press, 2007, trang 187, 203.

2153 Cathy Wilkerson, Flying Close to the Sun, New York: Seven Stories Press, 2007, trang 162, 295.

2154 Michael Honey (ed), Labor Has Dignity, Beacon Press, trang 137-149; Albert Vetere Lannon và Marvin Rogoff, “We Shall Not Remain Silent: Building the Anti- Vietnam War Movemenmt in the House of Labor,” Science & Society, Bộ 66, Số 4, Mùa Đông 2002-2003, trang 536.

2155 “Condemnation of U.S. Aggression Continues,” Hanoi VNA International Service bằng Anh ngữ, 02:04 GMT, 17 tháng giêng năm 1968.

2156 http://www.vnafmamn.com/untoldpage/VCterror_DakSon1.jpg

2157 Ted Sampley và Xuân Nhị, Vietnamese American Youth, “Vietnamese Communist Party’s Crimes Against Humanity, một kiến nghị đệ trình Bà Mary Robinson, Cao Ủy Trưởng Về Nhân quyền và cho tất cả các Tổ chức Về Nhân Quyền, 2002

2158 ‘The Massacre of Dak Son,” Time, 15 tháng chạp năm 1967.

2159 Ted Sampley và Xuân Nhị, Vietnamese American Youth, “Vietnamese Communist Party’s Crimes Against Humanity, một kiến nghị đệ trình Bà Mary Robinson, Cao Ủy Trưởng Về Nhân quyền và cho tất cả các Tổ chức Về Nhân Quyền, 2002

2160 W. Patrick Lang, 29 August 2006 at 12:25 PM ismoot@turcopolier.com;
http://turcopolier.typepad.com/sic_semper_tyrannis/2006/08/vietnam_war.html#comment-21688839

2161 Báo Cáo Hậu Sự ~After Action Reports 13

2162 Mike Benge, ”Open letter to Vietnamese-Americans, Vietnam and other Veterans concerning the upcoming elections,”
http://www.amigospais-guaracabuya.org/oagmb009.php

*****

Advertisements

Một phản hồi to “Roger Canfield’s Americong #34”

Trackbacks/Pingbacks

  1. Giới thiệu tác phẩm AMERICONG (MỸ-CỘNG) – Lê Bá Hùng | Ngoclinhvugia's Blog - 05/01/2016

    […] Roger Canfield’s Americong #34 […]

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: