Roger Canfield’s Americong #40

 image002

 Comrades in Arms

How the Americong Won the War in Vietnam

Against the Common Enemy— America

Copyright Roger Canfield, Ph.D.

1986-2012

No commercial transaction allowed except that approved by the author, copyright holder.

Obtain a prepublication release of a CD-R in Microsoft Word in ENGLISH at a discounted price of $15 from Roger Canfield Rogercan@pacbell.net at 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 or at http://americong.com.

Completely SEARCHABLE for any name, date, place or event of the War and its protesters.   

Cover: Design Stephen Sherman. Photos: Roger Canfield, March 2008. TOP: War protest Hawaii, February 1966 displayed at War Remnants (Crimes) Museum, Saigon. Bottom: Praetorian Guard

Các đồng chí cùng chiến tuyến

Làm thế nào MỹCộng thắng cuộc chiến Việt Nam

Chống kẻ Thù Chung – Mỹ

Giữ bản quyền Roger Canfield, Tiến Sĩ

1986-2012

Không được sử dụng vào mục đích thương mại nếu không có sự đồng ý của Tác giả, người giữ bản quyền.

Có thể mua một tiền bản dưới dạng CD-R Microsoft Word bằng Anh ngữ với giá đặc biệt US$15 ngay từ tác giả Roger Canfield  Rogercan@pacbell.net tại 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 hay tại  http://americong.com.

Hoàn toàn có thể TRA CỨU hoặc bằng tên, bằng ngày tháng hay biến cố liên quan đến cuộc Chiến cùng cả luôn bọn tham dự biểu tình .

******************************************************

* Tác giả giữ bản quyền © Roger Canfield 1986-2012

  • Lê Bá Hùng chuyển ngữ  (với sự chấp thuận của Tác giả)

***************

 Chương 40

BIẾN CỐ TẾT MẬU THÂN XOAY BIẾN NHƯ VỤ

 

Dù đó là một thất bại quân sự vĩ đại và thiệt hại nhân sự quả quá khủng khiếp, bọn Bắc Việt, bọn bạn Mỹ của chúng, cộng với phong cách tường trình rất yếu kém và sai sót của giới báo chí, của giới truyền thanh và truyền hình đã thành công trong việc biến thất bại quân sự của Hà Nội trong dịp Tết Mậu Thân thành một trong những chiến thắng chính trị lớn nhất trong lịch sử chiến tranh.

Đó quả như một trận ‘judo’ chính trị mà theo đó, sức mạnh quân sự của Hoa Kỳ và các đồng minh đã bị bóp méo để bị lật ngược thành những yếu điểm chính trị. Việc Mỹ sử dụng sức mạnh quân sự vượt trội chống lại chủ nghĩa khủng bố và hành vi xâm lược của Cộng Sản Bắc Việt đã bị biến thành những loại tội phạm  dã man, vô đạo đức và bất hợp pháp trong cảm xúc và suy tư của nhiều người.

Peter Arnett đã tường trình sai lầm là Tòa Đại Sứ đã bị tràn chiếm

Các chương trình truyền hình rất là ngoạn mục được phát trên toàn thế giới vào lúc đó đã cho thấy những tử thi trong công viên Tòa Đại Sứ Mỹ tại Sài-gòn nhân một cuộc tấn công cảm tử của Việt Cộng và suốt trong nhiều ngày, căn cứ vào một phóng sự mà Peter Arnett đã gởi về cho AP, các giới truyền tin cùng báo chí  báo cáo sai lầm là Việt cộng đã đánh chiếm vào Tòa Đại Sứ và đang chiếm giữ tầng trệt. Trên thực tế, những tên VC đã chỉ phá vở một lỗ xuyên bức tường ngoài và đã đều bị giết hay bắt giữ ngay tại chổ, ở cả phía ngoài và trong tòa Đại Sứ với chỉ một tên là vào được bên trong Sứ quán.

Đại sứ Bunker và tướng Westmoreland đã cùng đứng ngay tại địa điễm của Tòa Đãi Sứ để phủ nhận việc chiếm đóng này nhưng cả hai đều không được ai tin cả. Do đó cũng ít có ai để ý là 24 giờ sau đó, Arnett đã đính chính sai lầm của y.

Sài-gòn bị tuyên bố thành bình địa

Các phóng viên tại Sài-Gòn, rất gần kề với những biến chuyển ngay tại Tòa Đại Sứ  Mỹ, cũng đã gởi đi một số lớn tường trình là toàn thành phố Sài Gòn đã bị tan hoang trong nhiều vùng rộng lớn thì cũng đều  trật lất. Tướng Bruce Clark cho biết Việt Cộng “đã chiến đấu xung quanh khách sạn Caravelle và, vì vậy, từ cái nhìn của một phóng viên hạng thường tại chổ, và y như một con gà chỉ bị quả cây sồi rớt trúng đầu, gà [phóng viên gà] bèn la lớn: ‘trời xụp mất rời.” 2253

Thái độ bình tỉnh của người dân Việt trong dịp Tết ở Sài Gòn đã tương phản rỏ ràng với tâm trạng cuồng loạn của giới truyền tin vào lúc đó.

image004

Hình: Không hề hoảng sợ, người dân Sài-gòn yên bình đi ngang một tử thi VC trên đường phố nhân dịp Tết Mậu Thân. Cảnh Sài-gòn (Tháng 2 năm 1968): SPF James B Eagan, Quân đội Hoa-kỳ

 

Tuy nhiên, từ một chiếc trực thăng, nhiếp ảnh gia John Nance thuộc AP đã nhận xét là “khoảng 95% của thành phố (Sài Gòn) có vẻ tương đối không hề hấn gì” và phóng viên Charles Mohr  của tờ New York Times  thì đã kể, “khu vực bị tàn phá có vẻ rộng khoảng 500 đến 700 ‘yard’ vuông.”

Walter Cronkite của CBS thì lại tuyên bố chửng chạc đầy thẫm quyền là căn cứ không quân ở Đà Nẵng đã “bị tàn phá và không còn sử dụng được.” Trong thực tế, Đà Nẵng đã vẫn sinh hoạt suốt dịp Tết và chỉ bị thiệt hại vài phi cơ thôi (nhờ chúng đã được bảo vệ bằng tường bê tông). 2254

Một lần nữa, từ Hồng Kông, Stanley Karnow lại đã tuyên bố về những hình ảnh không hề đúng thật với những gì đang xẩy ra tại Việt-nam, “Cho đến nay tuy những người Cộng sản đã cho thấy là họ thiếu đủ mạnh để dành được một chiến thắng rõ ràng nhưng họ lại đủ năng động để tránh khỏi bị thất bại.” 2255

Ngày 3 tháng 2, Đại sứ Bunker nói là dù Cộng sản bị thiệt hại lớn lao nhưng chúng đã không đạt được mục tiêu của chúng. Đó đúng là một “thất bại quân sự đáng kể” cho Hà Nội.

Hà Nội tái nhấn mạnh Chiến dịch Địch vận tại Mỹ

Tết Mậu Thân đã giúp Hà Nội biết đánh giá cao hơn về hiệu quả của các hoạt động dành ảnh hưởng chính trị của chúng đối với giới truyền tin và phong trào phản chiến. Hơn nữa, trận tổng công kích của chúng cũng đã thất bại mất rồi.

Tướng Leonard F. Chapman nói rằng Hà Nội nay đã thay đổi chiến lược. Trong mùa xuân năm 1968, Bộ Chính trị nhận thức được là địch vận, hình thức đấu tranh chính trị trong nhân dân Hoa Kỳ, “có thể được sử dụng có hiệu quả” để giành chiến thắng “ngay ở Hoa Kỳ”.

Giới truyền tin, giới khoa bảng, bọn đào ngũ phản chiến và ngay Quốc hội đã giúp Hà Nội phát động “một kế hoặch ăn sâu có tính toán … để làm suy yếu sự ủng hộ của công chúng cho chiến tranh.”  2256

Phạm Văn Đồng có nói, “Mục đích của chúng tôi là … gây nhiều thương vong Mỹ  và do đó, làm hao mòn ý chí của Mỹ ngõ hầu các ảnh hưởng phản chiến sẽ đạt được sức mạnh chính trị có tính cách quyết định.” 2257  Tướng Võ Nguyên Giáp sau đó có nói với Morley Safer, “Cuộc chiến tranh đã diển ra trên nhiều mặt trận. Vào thời điểm đó (Tết Mậu Thân), quan trọng nhất đã là công luận Mỹ.” 2258 Các tựa đề báo chí và bình luận truyền hình đều đã kêu gào lên,” Mỹ Thua Trận.”

Trương Như Tảng sau đó đã khoe khoang, “Tuyên truyền của chúng tôi đã chuyển đổi một thất bại quân sự thành một chiến thắng rực rỡ.” 2259 Năm 1971 phim trường Feature Film Studio Hà Nội sẽ sản xuất “Đường về thôn củ” với đề tài tay bộ đội VC gặp lại mẹ nhờ cuộc chiến thắng Tết Mậu Thân mà hãy còn vang dội khắp nơi. 2260

Vào cuối năm 1968, sau khi ấn tượng ban đầu đã in sâu vào tiềm thức của công luận, Jack Fern, một nhà sản xuất của NBC tại Việt Nam có đề nghị một loạt phim ba phần để chứng minh là vụ Tết Mậu Thân đã nguyên đúng  là một chiến thắng của đồng minh. Robert J. Northshield chê bỏ ý tưởng này vì vụ Tết Mậu Thân đã bị ghim sâu vào tâm trí của công chúng như là một thất bại, và do đó, nó quả phải là một thất bại thiệt sự của Mỹ.”  2261

Y thị nhà báo thiên Hà-nội là Frances Fitzgerald trong tài liệu Fire in the Lake (1972) viết là vụ Tết đã “xóa sổ … các cán bộ giàu kinh nghiệm nhất” và “cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân dã là một thất bại lớn cho địch.” Bùi Tín, kẻ sau này sẽ đón nhận sự đầu hàng của miền Nam vào tháng 4 năm 1975 cũng cho biết vậy. Và Tướng Giáp thì đã nói với Bùi Tín về Tết Mậu Thân là một thất bại về quân sự nhưng là một chiến thắng về chính trị.

Arthur Herman từng chỉ rõ là vụ Tết Mậu Thân đã phát minh ra cái kiểu tường thuật mà từ đó đến nay chỉ có mục đích tối thiểu hóa tất cả các thành công quân sự của Hoa Kỳ, kể cả việc tướng Petreus dành được thắng lợi ở Iraq. “Chính sách quân sự của Mỹ đã tiếp tục mang theo những vết thẹo từ thời Việt Nam đến nay … Tất cả đúng ra đều đã phải tránh được, nếu không từng có những điều dối trá của vụ Tết Mậu Thân”. 2262

Giới thông tin không biết gì vế những vấn đề quân sự

Peter Braestrup đã ước tính là trước Tết Mậu Thân, chỉ có độ 40 trong số 354 phóng viên báo chí và truyền hình là đã thực sự đích thân chứng kiến các trận chiến. 2263

Nhiếp ảnh gia Armond Noble của tạp chí Time khi mới đến Sài Gòn nhớ có hỏi đồng nghiệp Charles Mohr là anh ta đã từng có mặt ở đâu tại Việt Nam. Câu trả lời đã là những địa điểm xa lạ, mà sau này Noble mới khám phá ra là tên những con phố gần kề của Sài Gòn và .. cũng là tên những chiến trường xa xôi nào đó . Phóng viên tờ New York Times đã nói với Armond Noble  của tạp chí Time, “Chúng ta đang thua trận.” Noble hỏi lại: “Ở đâu?”.  Mohr đã trả lời: “Ở khắp mọi nơi.”

Không phải Ở ĐÂY, nơi chúng ta đang ngồi, Noble đáp lại. Noble hỏi tiếp là mình có thể đi đâu để thấy được là ta đang thua trận? Đã không hề có câu trả lời, đã không hề có địa điểm nào để đến điều tra, đã không có nơi nào để thấy được chiến tranh là gì. 2264 Tết Mậu Thân đã làm khiếp sợ các cư dân trên tữu lầu Rooftop Bar ở sân thượng của khách sạn Rex. Họ đã chỉ cảm nhận đề rối tường thuật là kết cuộc của chiến trận đã gần kề … mà đúng ra thì việc này cũng phải hơn bảy năm sau mới xẩy ra.

Tương tự như vậy, những người rất an toàn nằm nhà tại Hoa Kỳ lại cũng bôi xấu  Nam Việt nào là hèn nhát và ca ngợi các thành tựu siêu nhân của đối phương. Trong thực tế, miền Nam đã chiến đấu một cách đáng nể phục trong dịp Tết Mậu Thân cũng như vào năm 1972 và 1975.

QĐVNCH rất đảm đương nhưng lại không được nói tới

Bộ trưởng Ngoại giao Dean Rusk vào ngày 10 tháng 2 năm 1968 đã nói: “Chỉ trong vài ngoại lệ, quân đội miền Nam Việt Nam đã chiến đấu một cách can đảm và kiên trì. Các chiến tích của họ trong 12 ngày vừa qua đủ để chôn vùi huyền thoại từng cáo buộc là quân đội Việt Nam Cộng Hòa sẽ không chịu chiến đấu. ”

Sư đoàn 21 Quân Lực VNCH trên bán đảo Cà Mau đã đánh bại cuộc tấn công biển người của nhiều tiểu đoàn Việt Cộng trong tháng chạp và trong ba ngày Tết đã thành cộng như vậy khi đánh tan nhiều trung đoàn địch và hạ tại trận gần 400 bộ đội. 2265 Vào tháng 4 thì số Việt Cộng đương đầu với Sư Đoàn 21 sẽ chỉ toàn là thiếu nhi 12 và 13 tuổi. 2266

CIA không biết gì về khã năng của QĐVNCH

Sau Tết Mậu Thân một tháng, một bản phúc trình của CIA dự đoán, “Có thể là … tình hình chung … sẽ đi vào ngã rẽ quyết định … Chúng tôi không nghĩ là kỳ này sẽ thuận lợi cho Hoa Kỳ / Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa  … Chúng tôi thấy không có bằng chứng gì là Chính Phủ Miền Nam sẽ quyết định nắm thế chủ động …. Chúng tôi nghi ngờ ý chí và khả năng của họ.” 2267

QĐVNCH tại Huế

Trong thực tế, các bằng chứng ngược lại đều đã rất là áp đảo. Sư đoàn 1 của miền Nam dưới sự chỉ huy của Trung tướng Ngô Quang Trưởng đã đánh lui hai sư đoàn quân Bắc Việt và bảo vệ được Huế trong cả một tháng.

“240 quân nhân của Đại đội Hắc Báo đã chiến đấu không ngừng nghỉ ngơi hay được trợ giúp trong 72 giờ. Cuối cùng … chỉ còn lại 19 người và họ vẫn tiếp tục chiến đấu.” 2268

Trong suốt 25 ngày đêm Đại tá “Harry” Trần Ngọc Huề đã chỉ huy Đại Đội Hắc Báo chống giữ bộ tham mưu sư đoàn và đã bị thiệt hại gần tới 200 trong tổng số 250 lực lượng của mình. Harry đã nhận được huy chương  Sao Bạc Silver Star của Mỹ. 2269

Các thành tích chiến đấu can cường của đồng minh của Mỹ là Quân Lực VNCH hầu như hoàn toàn không được viết đến hay nghe thấy nói.

Vào ngày 24 tháng 2, Sư Đoàn 1 xé lột một lá cờ cộng sản đang treo trên tường của  Thành Nội và treo lên lá cờ của Nam Việt. 2270 QĐVNCH đã đánh đuổi đi bọn  Cộng sản ở khắp mọi nơi ở nông thôn và đối phương đã không còn nắm giữ được  thủ phủ của bất kỳ một tỉnh nào cả. Lời khen ngơi đề cao của Dean Rusk đối với Quân Lực VNCH đã không bao giờ được phổ biến công khai; sự kiện này bị xem như thể chưa bao giờ xảy ra. 2271 Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ đã được báo cáo như đã chiếm lại được Nội Thành Huế thuộc Quân Đoàn I, ám chỉ là do chỉ chính họ mà thôi, không đếm xuề gì đến 11 tiểu đoàn quân VNCH mà đã đảm trách phần lớn các cuộc giao tranh bên cạnh 3  tiểu đoàn Mỹ. “Đại Đội Hắc Báo của Trần Ngọc Huế và Tiểu Đoàn 2 của Trung Đoàn 3 của Phạm Văn Định, dù thiếu quân số cũng đã đánh bại quân Bắc Việt và VC mà từng được đề cao lâu nay… ” 2272

Nam Việt Nam bị tổn thất 384 quân nhân trong tổng số 500 thương vong tại Huế – 77% là tại Huế. Ở Huế và chung quanh thì cộng sản bị chết 8.000 người . 2273

QĐVNCH tại Khe Sanh, Quảng Trị, Plei-ku và Ban-mê-thuột

 

Tiểu đoàn 37 Biệt-động-quân đã chiến đấu oai hùng bên ngoài căn cứ Khe-sanh.

Xa tầm mắt các nhà báo Mỹ, tại Quảng Trị, Kon-tum, Plei-ku và Ban-Mê-Thuột thì quân lực VNCH đều phản công đánh đuổi cộng quân. . 2274

Các  lực lượng người Thượng tại Buôn Ale-A đã yểm trợ Sư đoàn 23 Quân Lực VNCH để đánh lui các lực lượng cộng sản hầu ngăn cản chúng đánh chiếm Ban- Mê-Thuột. 2275

Chiến thắng kết thúc trận chiến tại Quảng Trị của Quân Lực VNCH đã được ghi nhận khắp mọi nơi.

Giới Truyền Tin không đếm xỉa gì tới QĐVNCH

NewsweekTime không hề có một bài viết nào về QĐVNCH.

Điều rất phổ biến và được tin là các Sư Đoàn 5, 18 và 25 trấn đống xung quanh Sài Gòn đều yếu kém nhưng chỉ có 8 trong số 170 phóng viên có thẻ hành nghề đã thực sự ghé thăm họ để tận mắt xác định ra sao.

Trong số 100 phim tài liệu quay để phát hình thì CBS chỉ thật sự quay QĐVNCH có 18 lần mà thôi. 2276

 

image006

Tem: Nam Việt rất hãnh diện về các chiến thắng Tết MậuThân.

 Tài liệu Nat Ward

 

Ít nhất có một lần, một nhà báo phản chiến đã góp phần  trực tiếp gây thương vong cho Quân Lực VNCH. Vào giữa một trận chiến, một phóng viên lấy tin, rất  lớn con, đứng cao ngễu sừng sững trên giữa đường lộ, mặc một chiếc áo sơ mi màu đỏ đang “đi lên đi xuống như để diễn hành” và rồi bèn nhập bọn với năm người khác để điều tra một viên cố vấn là một Trung úy Hoa Kỳ, về tính cách đạo đức của chiến tranh. Hành vi lố lăng của người lấy tin mặc áo màu  đỏ đã thu hút hỏa tiển Việt Công xuống những đội quân Nam Việt. 2277 Tiêu chuẩn đạo đức trong trường hợp này thì đã không hề được thảo luận đến.

“Đôi khi đã cần phải tiêu hủy cả thành phố để cứu thành phố đó”

Một Trích dẫn giả tạo ~ Peter Arnett

Vào ngày 7 tháng 2, từ Bến Tre, một căn cứ địa Việt Cộng, Peter Arnett đã gởi đi một tường trình với “một đoạn sáo ngữ tồn tại lâu dài về cuộc chiến tranh ” nay trở thành “Đôi khi đã cần phải tiêu hủy cả thành phố để cứu thành phố đó.”

Trích dẫn này cứ mãi xuất hiện như là tượng trưng cho đặc tính căn bản của toàn bộ cuộc chiến tranh.

“Bỏ ngoài tất cả những lập luận khác … thời điểm đã đến để chúng ta phải quyết định quả là vô ích nếu chúng ta phải tiêu diệt Việt Nam để cứu nó.” Tay phóng viên phản chiến Peter Arnett ban đầu đã gán lời này là của một cố vấn quân sự Mỹ, một thiếu tá mà y giấu tên và không xác định lý lịch, tại tỉnh Bến Tre trong cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân. “Có hai thiếu tá đang nói chuyện với nhau thì một viên đã phát ngôn như vậy,” Arnett tường thuật mà không ghi rỏ gì hơn.

Không biết là cả chính viên thiếu tá này hay bất kỳ một người nào khác mà đã có nghe được nhận xét này hay không, 2278 nhưng nó lại xuất hiện đầy trên các mục tin tức buổi tối, trên các cột báo, trên các tạp chí và trên các truyền đơn phản chiến. 2279

Mười sáu thủ phủ tỉnh ở vùng Châu thổ vẫn vô sự. Bọn phóng viên đã không đi thăm 12 trong số 16 thủ phủ  tỉnh ở đồng bằng sông Cữu Long mà phần lớn là “không hề hấn gì,” một sự kiện mà chắc đã có thể sẽ làm giảm bớt quy mô phóng đại của các tường trình về mực độ phá hủy từng luôn luôn bị nêu ra trong mọi tường thuật.

Báo chí từ lâu đã tường trình các điểm cần thảo luận do Hà Nội đưa ra và chúng vẫn là khuôn mẫu trong kỳ Tết Mậu Thân. Hàng trăm tổn thương về thường dân thì đều đã bị quy kết cho bom đạn Mỹ trong khi các tội ác và việc sử dụng thường dân bị bắt cóc để làm lá chắn đở đạn của Việt Cộng thì không hề được đề cập tới.

Tết Mậu Thân đã không hề là một thảm họa quân sự không thể nào xoa dịu được, nhưng mà nó vẫn bị tường trình theo kiểu như vậy. 2280

Arnett: chuyên viên ngụy tạo

Peter Arnett, tất nhiên, từng nổi tiếng là chuyên viên ngụy tạo:  y đã viết một báo cáo sai về việc Thủy quân lục chiến đã sử dụng khí độc. Họ chì đã sử dụng loại hơi cay khiến chảy nước mắt cùng hơi hạt tiêu vô hại – mà về phương diện kỹ thuật chỉ là một loại bột chứ không phải là khí vẫn thường dùng để huấn luyện cơ bản các tân binh.

Tên phóng viên non trẻ Arnett đã luôn luôn bực bội với tất cả mọi người tại Việt Nam.

Năm 1963, cảnh sát Sài Gòn đã đánh Arnett nhân một vụ ẩu đả mà đã có tranh cải về việc ai đã khởi đầu hành hung trước và Phái bộ Sài Gòn (Saigon Mission) với William Truehart đã  từ chối ủng hộ quan điểm của Arnett về nội vụ. 2281 Macolm W. Brown đã chụp ảnh cảnh cảnh sát bao quanh David Halberstam với Arnett và tuyên bố y cũng đã bị tấn công khi đang lấy tin về một cuộc biểu tình ở Sài Gòn. 2282

Mãi sau này, sau cả thời chiến tranh VN,  Arnett lại đã dính líu tới một tường thuật gian trá khác trong tài liệu “Talewind” của CNN, và đó cũng lại một câu chuyện là y từng gời tin đi từ Việt Nam về vấn đề sử dụng hơi độc .

Pete Arnett hiện đang được thần thánh hóa tại BảoTàng Viện cácTội Ác Chiến Tranh tại Sài-gòn.

image008

Hình: Tường trình của Arnett năm 1967 tại Bảo Tàng Viện Chiến Tranh , Sài-gòn, tháng 3 năm 2008 ~ Roger Canfield

 

Một vị Tướng giả tưởng

Robert Elegant kể về chuyện một phóng viên nổi tiếng mà đã viết những chuyện xoay quanh một vị Tướng Mỹ vô danh từng rất chỉ trích cuộc chiến. Elegant gọi ông là “Vị Tướng giả tưởng ~ Imaginary General” sau khi nghe tên phóng viên này cười một cách ngạo mạn với bạn bè của y tại một quán bar ngoài sảnh đường của khách sạn Hotel Continental lúc y cam kết vị tướng này đã là một nguồn tin an toàn tuyệt đối. Tên phóng viên đã ngụy tạo ra viên tướng – hoàn toàn nghiển đặt ông ta ra. Vị tướng lại đã được cho phép biểu diễn trong quyển sách về Việt-nam rất được tán thưởng của y. 2283

Những câu chuyện ngụy tạo sẽ lại xuất  hiện trong thời chiến tranh Iraq để rồi được biến thành những phim ảnh cũng như là những sự thật để mọi người phải đón nhận tin theo.

Trong bối cảnh của cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân, Hà Nội vẫn tiến hành cuộc chiến tranh tuyên truyền của chúng để tiếp tục nhận được sự đáp ứng của các tên phản chiến luôn luôn sẳn sàng giúp Hà Nội để khai thác các tù binh.

Hà-nội phóng thích các tù binh – Berrigan và Zinn

Vào ngày 17 tháng 2 năm 1968, chiếu theo một yêu cầu đã được đánh điện đi bởi  Ủy ban Hòa bình Việt Nam với lý do “thái độ ăn năn” của một số tù binh vào ngày 28 tháng giêng năm 1968 mà đã được gởi đến David Dellinger, Tom Hayden và David Dellinger đã phối hợp 2284 để có được một cuộc phóng thích tù binh thứ nhì hầu giao họ cho Linh mục Daniel Berrigan và tay giáo sư mà cũng là một tên Cộng sản bí mật  tên Howard Zinn.

Tại một cuộc họp báo ở sân bay JFK tổ chức bởi Dellinger và Hayden, Zinn nói là y đã được lựa chọn bởi vì y là một người hoạt động chủ trương rút quân tức thì khỏi Việt Nam. Zinn và Berrigan đã bay trên chuyến Scandinavian Airlines 912 từ New York vào ngày 1 tháng 2 đi Copenhagen và tiếp tục với chuyến SAS 985 đến Bangkok rồi Vientiane, Lào.  2285

Ngay khi đến cái “thành phố bị phá nát” là Hà Nội thì tay linh mục Công giáo và cũng là một nhà thơ tên Daniel Berrigan đã chợt nghĩ, “sự kiện đáng yêu nhất của mọi việc đã thật không đáng kể và khó nắm bắt nhất, chúng tôi đã nhận được bông hoa”, 2286  cũng có dép râu và những bài thơ của Hồ Chí Minh. 2287

“Cảm giác chiến thắng tại Hà-nội trong kỳ VC tấn công vàoTết Mậu Thân”

Tại toà Đại sứ Bắc Việt ở Vientiane, Lào trong dịp Tết, ngày 9 tháng 2, Berrigan nói là Việt Nam Hà Nội “quá nhân đạo để lợi dụng khai thác về những thiệt hại của chúng ta [trong Tết Mậu Thân]. Trong khi không ai để ý thì thời gian đã là đồng minh của họ, ” Họ đã quá ư là  lịch sự và mềm mỏng “trong một tuần mà  quân Đồng minh phải gắn chịu bao nhục nhã.”  2288  Zinn thì tuyên bố, “đã có nhiều cảm giác chiến thắng tại Hà Nội trong cuộc tấn công Tết Mậu Thân của Việt Cộng. … Quân giải phóng quả là một lực lượng có quyền tự hãnh diện”. 2289

“Chúng tôi rất muốn tự mình ra đi lang thang chơi ngoài phố, nhưng họ nói với chúng tôi làm vậy thì nguy hiểm.” 2290

Thay vì đi để đích thân thấy những gì đang xẩy ra thì  Zinn và Berrigan đã bỏ ra sáu tiếng đồng hồ để nghe Đại tá Hà Văn Lâu giảng dạy 2291  và sau đó là những ngày được bố trí kỹ càng để đi ‘tham quan’ những nơi bị bom tàn phá, những bệnh viện bị hư hại, những viện bảo tàng về chiến tranh, thị xã, nghệ thuật dân gian và một bộ phim về cuộc đời của Hồ.

Họ được cho thấy những mãnh vụn tử thi (như là “ốc và sọ và tim và lòng”) trong những lọ đựng của các nạn nhân do những lần thả bom. Tất cả đều nhằm chứng minh là Mỹ đã đang tiến hành “một cuộc chiến tranh khổng lồ cố ý diệt chủng.” 2292 Berrigan cũng từng tin là những ổ chuột ‘ghettos’ của người da đen cũng là bằng chứng về “ý định diệt chủng.” Lòng thù ghét Mỹ của Berrigan dường như là nhiên liệu hâm nóng tình yêu y dành cho Hà Nội. 2293

Thủ Tướng Phạm Văn Đồng: “đại thông minh . . . đại lượng về lòng trắc ẩn.”

Ngày 16 tháng 2 năm 1968, Berrigan và Zinn đã gặp Thủ tướng Phạm Văn Đồng tại ngôi biệt thự có vườn bao quanh kiểu Pháp nằm sau những  cánh cửa bọc thép của y.

Berrigan đã thấy được trong “khuôn mặt của người đàn ông này … một nét phức tạp bàng bạc … sinh và tử … đại thông minh và cũng tràn đầy lòng trắc ẩn.” (Bảy năm sau thì ngay thân mẫu của Đồng cũng không thấy được cái nét trắc ẩn đó và đã phải bỏ chạy trốn xa trước cuôc xâm lược của con trai bà ta).

“Chúng tôi đang chiến đấu ở đây, còn quý bạn thì ở đằng đó.”

Căn cứ theo những ghi chú của Berrigan thì Đồng đã nói, một phần nào đó, “Chuyến thăm của quý bạn thật là quan trọng … Chúng tôi đề nghị … quý bạn gỉải thích rõ tính cách thật sự của chiến tranh cho đồng bào Mỹ của quý bạn.” Đồng cho biết, “công luận ​​ở nước quý bạn quả là điều cốt yếu.” Y còn thêm “chúng ta có một mặt trận chung. Chúng tôi đang chiến đấu ở đây  và quý bạn thì ở đằng đó.” 2294 Chúng đều là những đồng chí cùng chiến tuyến.

Phạm Văn Đồng đã minh định là chiến tranh ở Việt Nam và ở Hoa Kỳ đều là một và như nhau. “Chúng ta phải tiếp tục phối hợp các nỗ lực của chúng ta. … Chúng tôi sẽ giữ liên lạc với các đại diện của phong trào của quý bạn … (trong) các cuộc họp trong tương lai … ở đây hoặc ở một nơi khác, chẳng hạn như là ở Bratislava.” 2295

Để đáp lại lời kêu gọi của số Thượng nghị sĩ chủ hòa Mansfield, John Sherman Cooper, Robert Kennedy và Eugene McCarthy nhằm ngưng không tạc nhân cuộc tấn công Tết Mậu Thân của Hà Nội, Đài Hà Nội đã cảm ơn họ là đang chọn “đúng cách”. 2296

Các Tù Binh: Thái Độ Đúng Đắn

Bọn Việt cộng đã giải thích với Berrigan và Zinn lý do tại sao chúng phóng thích tù binh phi công. “Chúng tôi đang cố gắng để giáo dục các phi công. … Quả không dễ dàng để thuyết phục những người đó về một đường lối mới, cần một cách giải thích lâu dài và kiên nhẫn . …. Có thể chăng là (các phi công sẽ) … làm một cái gì đó cho phong trào phản chiến tại Hoa Kỳ? ” 2297 Trong một thông cáo sau đó vào ngày 5 tháng 4 năm 1968, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã tuyên bố “ba trong số các phi công được phóng thích là nhờ thái độ đúng đắn của họ trong thời gian bị giam cấm.” 2298

Trung tá Jon David Black, Thiếu tá Norris Miller Overly và Trung úy David Paul Matheny đều bị giam tại nhà tù Đồn Điền ~ Plantation nơi mà Dick Stratton đã ra lệnh cho tất cả mọi người, ngoại trừ Doug Hegdahl, là không được chấp nhận chịu phóng tích sớm. Thêm nữa, theo John McCain, nếu được phóng thích, “họ đã bị lưu ý là khi về tới nhà thì không được nói gì tới là đã từng bị đối xử ra sao ngõ hầu không gây thiệt hại cho những người vẫn còn bị giam cầm như chúng tôi.” 2299 Norris Overly đã cho biết là các tù binh và giới chức quân sự, sau hai ngày thảo luận – đã tự nguyện quyết định không nói gì về điều kiện tại các nhà tù “để không gây nguy hiểm … cho những người còn ở lại đó …” 2300

Tại nhà tù Đồn Điền ~ Plantation các tù binh vẫn còn bị giam đều chê trách những kẻ được phóng thích là những tên phản bội nhục nhã mà đã “phá vỡ đức tin và kỹ luật quân ngũ” … khi hợp tác với kẻ địch. 2301 Sau đó Overly có tuyên bố , “Tôi có thể hiểu được tại sao những người đó đã muốn giết  tôi.” . 2302

Xuyên qua các kẻ hở nứt trên tường xà-lim, các tù binh đã chứng kiến màn trình diễn của báo chí cùng quan chức tại Đại Hộ ~ Big House, cái “Phòng Biểu Diễn” trong Đồn Điền ~ Plantation lúc các tù binh Matheny, Overly và Black, bọn đê tiện, “thu băng những lời ăn năn hối tội … như là một điều kiện để được phóng tích.” 2303

Đồng chí Ray Mungo của Thông Tấn Xã Giải phóng ~ Liberation News Service ở Bratislava đã nhận được một Telex, “mà không nghi ngờ gì là đã được viết bởi  số người Việt Nam mà tôi đã gặp tại Bratislava, và đó là do Zinn và Berrigan chuyển lại”:

BA QUÂN NHÂN KHÔNG QUÂN SẮP ĐƯỢC PHÓNG THÍCH.

BẮC VIỆT RẤT BẤT MÃN VÌ KHÔNG TẠC CỨ TIẾP TỤC NHƯNG VẪN GIỮ LÒNG TRẮC ẨN ĐỐI VỚI SỐ QUÂN NHÂN KHÔNG QUÂN MÀ ĐANG TRONG THẾ TIẾN THỐI LƯỠNG NAN CHỈ VÌ CÁC QUYẾT ĐỊNH CỦA HOA-THỊNH-ĐỐN.

HY VỌNG QUÂN NHÂN KHÔNG QUÂN PHÓNG THÍCH THÌ SẼ KHÔNG CÒN KHÔNG TẠC NHƯNG VẪN TIN LÀ CÓ KHÃ NĂNG CÁC PHI CÔNG ĐƯỢC PHÓNG THÍCH SẼ QUAY LẠI VIỆT-NAM ĐỂ THẢ BOM.

CHÚNG TÔI RẤT CẢM ĐỘNG ĐỐI VỚI LỚI TUYÊN BỐ CỦA BẮC VIỆT LÀ “CHO DÙ ĐIỀU NÀY CÓ XẨY RA, THÌ CHÚNG TÔI VẪN VỮNG NIỀM TIN NƠI LÒNG CÔNG MINH CỦA NHÂN DÂN HOA-KỲ.”  2304

Không còn phải là con tin

Đã có một lũng cũng trong thông báo tuyên truyền được công bố.

Các tù binh đã được “hộ tống không xa hơn Vientiane, nơi mà các sĩ quan [tù binh] chọn lựa để được chuyển giao qua phi cơ quân sự Mỹ.” 2305 Thay vì linh mục  Berrigan và Giáo sư Zinn thì nay các tù binh đã có các viên chức chính phủ Mỹ hộ tống họ. 2306

Todd Gitlen viết, “[Vào] đầu năm 1968, linh mục Daniel Berrigan và Giáo sư Howard Zinn đi kèm với ba hành khách trên phi cơ … dừng lại ở Lào trên đường rời Hà Nội. Đại sứ Mỹ ở Lào [William Sullivan] đã lên phi cơ  … cho ba hành khách trên phi cơ hiẻu rất rỏ ràng là chính phủ của họ mong đợi họ rời xa  Berrigan với Zinn và nên bay trở về Hoa kỳ bằng phi cơ của Không Lực Hoa Kỳ. Họ đã làm đúng như vậy.” 2307

Zinn gọi sự can thiệp của quân đội trong việc phóng thích là, “nguy hiểm, không hợp lý và tàn nhẫn”. 2308

Họ đến New York trên chuyến bay Air France 015 từ Paris vào ngày 23 tháng 2. Quan thuế tạm thời tịch thu các bản sao nhật ký tù của Hồ Chí Minh mà Zinn mang về.

Berrigan đã viết cho gia đình các tù binh là tinh thần và thể xác của họ đều tốt cũng như là họ không hề bị ốm yếu xuống cân. Berrigan đã có đủ mọi lý do để tin là bọn Việt cộng từng cư xử một cách “nhân đạo với tù nhân.” 2309

Berrigan đã tin Bắc Việt. Tù binh đã chỉ được cải tạo như các tù nhân Pháp trước họ qua “một quá trình thay đổi nội tâm.” Và do đó, “không cần phải ướm lời,” các tù binh đã sẵn sàng nói với Berrigan là thực phẩm cùng việc chăm sóc y tế của họ đã tốt đến dường nào. .” 2310

Cựu tù binh đã tường trình quá lộ liễu cho Quốc hội về việc từng bị đối xử ra sao

Vài tháng sau khi được phóng thích thì Đại tá Overly đã bí mật điều trần trước Ủy ban Hạ viện House Armed Services Committee trong những phiên họp kín. Matheny 2311 đã cung cấp tên của 70 tù binh cho Ủy ban và đã mô tả việc bị đối xử không gì là quá “khoan dung” của mình. Overly đã phải chịu đựng 29 ngày bị nhốt nằm xấp trong một cái lồng tre, tay và chân đều bị trói chặt. Có một lần, tên bảo vệ đã đập ông bằng báng súng trường của y.

Ngày 23 tháng 3 năm 1971, Overly đã khai chứng trước Ủy ban Đối ngoại và đã mô tả về những chương trình phát thanh Cộng sản hàng ngày kéo dài tới 5-6 giờ mà luôn luôn mang cùng một thông điệp,

“Chúng tao rồi đây sẽ đánh bại tụi mày ngay trong các trường đại học và trên các đường phố của tụi mày bằng cách xoay chuyển công luận tụi mày quay lại chống chiến tranh, … chính phủ của tụi mày … sẽ rút đi … chúng tao sẽ phát động một cuộc tổng tấn công và đánh bại tụi mày, cũng giống như chúng tao đã từng làm  với tụi Pháp tại Điện Biên Phủ”. 2312

 

Đây cũng chính là quan điểm của bọn Hồi giáo thánh chiến Jihadist – là chúng sẽ sử dụng các quyền tự do được quy định của chúng ta để thay đổi chiều hướng tâm tư công luận và từ đó sẽ đánh bại chúng ta ngay từ bên trong, và thật vậy, Anh quốc và Tây Ban Nha cũng đang tự quy hàng một cách nhanh chống nếu được, và các vùng khác của châu Âu thì cũng vậy mà thôi.

Những Tin Gì Đây?

Việc rất tiêu biểu về thái độ luôn luôn có thành kiến của giới truyền tin là đã không hề có có ai trong giới này chịu phí phạm chút thì giờ để yếu cầu Thiếu tá Norris Overly bàn luận về cuộc sống tù nhân của ông ta sau khi trở về lạI được quê hương vào cuối thập niên 70. 2313 Họ chỉ lưu tâm về những hoạt động của bọn “chủ hòa” như Berrigan. Tờ New York Times đã liên tục tường trình về bọn “thăm dò hòa bình” mà rồi sẽ không đưa tới đâu. Vào cao điểm của cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân,  tờ Times đã dành tới 70% số tin tức trong nước cho các bọn hoạt động phản chiến và chỉ 30% cho số diều hâu hay chính quyền. 2314

Berrigan, tà-lọt của các tù binh: tên Dòng Tên Jesuit từng đốt cháy các thẻ trưng binh

Thời năm 1967, Berrigan đã từng đụng độ mạnh với cấp bề trên trong Dòng Tên Jesuit của y khi muốn đi Hà-Nội với nhóm Hữu nghị để Hòa giải ~ Fellowship of Reconciliation hầu đem vật tư y tế yểm trợ địch. Thomas Merton đã khuyên Berrigan là nên nghe theo lương tâm của mình. 2315

Đám tà-lọt theo Thiếu tá Norris Overly như Daniel Berrigan và tám tên khác là Philip Berrigan, David Darst, John Hogan, Tom Lewis, Marjorie Melville, Thomas Melville, George Mische và Mary Moylan đã được giới báo chí truyền tin biết đến nhiều như là bộ Cantonsville Cữu ~ Cantonsville Nine.

Chúng đã tổ chức việc dùng ‘napalm’ để đốt các hồ sơ trưng binh của 378 người rồi bỏ vô các thùng rác bằng dây kẽm trước một đám đông các phóng viên tại Hội đồng Quân dịch Catonsville, Maryland. Allan Brick của FOR đã gán cho đó là một hành động bất bạo động của lương tâm. 2316

Biên tập viên của tờ Evening Baltimore Sun và của nhiều tờ báo Công giáo là Pat Joyce đã nhớ lại, “Thành công chính của họ là đã làm khiếp hãi các bà già yếu đuối tại văn phòng Trưng Binh Catonsville.” 2317 Bị kết tội và kết án ba năm tù, Berrigan đã bỏ trốn đi sống bất hợp pháp rồi đã bị bắt lại và phải ở tù 18 tháng trước khi được ân xá vào năm 1972.

Tại Quốc Nội: Các Cuộc Xuống Đưòng

Liệu Mỹ sẽ sử dụng vũ khí nguyên tử ở Khe-sanh hay không?

Khởi xuất do một cuộc gọi điện thoại nặc danh tới Quốc hội và cơn nổi điên của các giới truyền tin về những tin đồn là đang có thảo luận về việc sử dụng các vũ khí nguyên tử để bảo vệ Khe Sanh khỏi trở thành một Điện Biên Phủ khác, vào cuối tháng 2, Ủy ban Diển Hành Đại lộ số 5 vì Hòa bình Việt Nam đã tổ chức một cuộc biểu tình tại Plaza Liên Hiệp Quốc để phản đối việc Mỹ có thể leo thang chiến tranh tại Việt Nam bằng cách sử dụng vũ khí hạt nhân. 2318

Trong tháng 3, nhóm SDS Đức đã tổ chức một Hội nghị Việt Nam ở Berlin mà đã có 6.000 người tham dự. 2319

Mary McCarthy tại Hà-nội

Nối gót thày tu Daniel Berrigan và thày giáo Howard Zinn trong vụ phóng thích các tù binh, tháng 3 năm 1968, Mary McCarthy, tay tự xưng là nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng đã đến Hà Nội vào giữa khi cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân đang xẩy ra. Cùng đi có các tên hòa giải tự phong Harry Ashmore và William Baggs với Charles Collingwood của CBS .

Giáo sư Franz Schurmann

Mary McCarthy, khách mời của Ủy ban Hòa bình Việt Nam, đi cùng với một thành viên tại Viện Nghiên cứu chính sách thiên Hà-nội là tay giáo sư Mác-xít tại Berkeley tên Franz Schurmann mà đã từng đụng độ với Đại sứ William Sullivan ở toà Đại sứ Pháp tại Vietianne, Lào. Một tay Schurmann say sưa đã công bố, “Tôi là một tay chuyên âm mưu lật đổ.” Đại sứ Sullivan bèn trả lời, “Tôi hy vọng là anh sẽ thoả mãn với những hành vi trong cung cách con nít của anh”. Schurmann liền đáp: “Gọi tôi là ‘đứa con nít’ một lần nữa thì tôi sẽ đánh anh.” Cô McCarthy phải can thiệp và ngày hôm sau Schurmann đã có xin lỗi . 2320

Nhiều người có thể nghĩ là cuốn sách The Politics of Escalation in Vietnam  ~ Chính trị của sự leo thang tại Việt Nam của Schurmann đã có ý cổ xúy lật đổ chể độ bởi vì Schurmann cáo buộc Mỹ leo thang chiến tranh và đã từ chối đàm phán để mưu tìm hòa bình. Bọn chỉ trích chính sách của Mỹ, chẳng hạn như tên thày giáo Mác-xít Schurmann, thì dễ được Bắc Việt cho nhập cảnh  hơn những người khác.

McCarthy: Trí Thức Tự Phong

Đến năm 1966, Mary McCarthy đã quyết định rồi là trách nhiệm đặc biệt về đạo đức của trí thức là phải đưa Mỹ ra khỏi cuộc chiến.

Về những gì sẽ xảy ra cho người dân miền Nam Việt Nam sau đó thì y thị dứt khoát không cần để ý tới. Đó không phải là vấn đề của y thị. Đó chỉ là trách nhiệm của các chính trị gia và quân đội. Diana Trilling đã từng cảnh cáo McCarthy, “Không một sự lựa chọn nào mà bất kể tới các hậu quả của nó lại có thể được xem như là một sự lựa chọn có tính cách đạo đức.”

McCarthy thì tin là miền Bắc đã có thành tích tốt khi cho phép người Công giáo di cư vô Nam (Tom Dooley thì đã báo cáo khác) và nay thì Hà Nội tự thấy xấu hổ về khoảng 50.000 bị giết trong phong trào cải cách ruộng đất. Rủi ro này đã được sửa chữa hoàn toàn. Hơn nữa, bây giờ MTGPMN đã có một kế hoạch cho một tương lai dân chủ ở miền Nam Việt Nam. McCarthy tin là để thay thế cho chế độ cộng sản thì tư bản chủ nghĩa vật chất lại còn xấu xa hơn các lý tưởng xã hội chủ nghĩa nhiều.

Hanoi: Hoan Ca, Tái Sanh, Bền Bĩ

McCarthy và thày giáo Schurmann đã đến Hà Nội vào ban đêm lúc đèn đã lên, đã không hề có giới nghiêm và đã được Ủy ban Hòa bình mang tặng những bó hoa xum-xuê. Khi có báo động không tạc thì là một cuộc đua chạy đến hầm trú ẩn, nhưng ở khắp mọi nơi hàng sinh hoạt vẫn bình thường. “Tất cả những hoạt động và tiếng cười nói về đêm gây cho một ấn tượng đầy hoan ca”.

Một cây từng bị ngã đổ vì bom nay lại trổi lá thì quả đúng là “câu trả lời cho những tên giặc lái của Không Lực  và Hạm đội 7.” Các dù nhảy thì nay được sử dụng làm lều. Tất cả đều là biểu tượng của “bền bĩ và tái sinh.” Tuy không được thoải mái cho lắm với những gì mình thấy, McCarthy, không giống như nhiều du khách, đã thấy và đã viết về lưu lượng vĩ đại của vật liệu quân sự được vận chuyển ở khắp mọi nơi y thị đi qua.

Cao Lương Mỹ Vị và Giấy Vệ Sinh Xếp Rất Khéo

Tại khách sạn Metropole thì đã có sẳn nước nóng cùng giấy vệ sinh xếp sẳn theo hình quạt. Họ được cho ăn liên tục. Y thị ghi nhận sự tương phản giữa cao lương mỹ vị của mình với sự kiện có tới “99% người Việt” đang chỉ có “gạo và bánh đậu cho bữa ăn tối đêm nay.” Thêm nữa “khi là khách mời của một tổ chức Việt Nam thì không ai được phép trả tiền cho bất cứ gì, tôi không bao giờ phải tính toán đổi được bao nhiêu đồng cho một đô la.” Các loa phát thanh thì liên tục  phát ra những giọng nói đầy ” nữ tính và êm dịu, ngọt ngào theo từng giai điệu”.

Đường phố Hà Nội sạch hơn so với New York, không hề có rác. [Người viết: New York quả rất giống chuồng heo vào thời đó. Nhân viên đổ rác cũng như  các nghệ sĩ thì luôn luôn đình công.]

Tại Hà Nội, không có người ăn xin, “không có trẻ em rách rưới lở loét,” không có gái mãi dâm.

Báo Động Không Tạc, Nhưng Không Hề Thấy Gì

Mặc dù đã có nhiều lần báo động không tạc và đâm đầu chạy, trong thời gian lưu trú của McCarthy đã không có vụ thả bom nào gần khách sạn. Khi bị đánh thức, McCarthy đã phải rất kinh hãi chạy chân cao chân thấp trong bóng tối đến một hầm trú ẩn bên dưới khu vườn của khách sạn.

Nhưng không hiều sao là y thị đã không để ý là trung tâm Hà Nội không hề bị không tạc, mặc dù cuộc tấn công Tết Mậu Thân đang xẩy ra .

Đại tá Hà Văn Lâu đã đãi bia tại Bảo tàng viện về các Tội ác Chiến tranh, nơi triển lãm những sọ người ghim đầy mãnh bom và bi viên “tàn bạo”. Đại tá Lâu dư biết giá trị quân sự của loại vũ khí này chỉ là để vô hiệu hóa hệ thống không kiểm bằng ‘radar’ và để bảo vệ chống lại các cuộc tấn công biển người, (như tại Ia Drang, Khe Sanh). Không dùng đến loại bom chùm trong kho vũ khí đồng minh sẽ có thể tạo nhiều lợi thế cho quân cộng sản và bỏ qua khã na7ng kỷ thuật quân sự của Hoa Kỳ  mà khã dỉ có thể tiết kiệm sinh mệnh người lính Mỹ.

Những Chiếc Nhẫn, “Gắn một huy chương”

Tại viện Bảo tàng về các Tội ác Chiến tranh, Mary McCarthy và băng đảng đã  nhận những chiếc “nhẫn được làm từ phi cơ Mỹ bị bắn rơi” … (chiếc thứ 2818 và cứ thêm mỗi ngày). “Giống như một chiếc nhẫn cưới, chiếc của tôi được khắc ngày 1 tháng 8 năm 1966.” Và thêm một chiếc lược dùng cho phụ nữ . Đó là một hình thức “Gắn huy chương”. Chúng rất  “tự hào khi gắn chúng”. Y thị đã cảm thấy khó chịu khi phải đeo nhẫn này và có viết là mình đã không bao giờ dùng chiếc lược để chải tóc mình.

Trở về lại với vấn đề nghiêm trang hơn, tay tên Phan của Ủy ban Hòa bình cho biết là làng người cùi tại Quỳnh Lập đã bị đội bom tới 39 lần. Họ đã nhìn thấy một tượng thánh không còn đầu của John the Baptist tại nhà thờ Little Flower, nhưng đã không tới được khu vực tại trung tâm thành phố Hà Nội mà Harrison Salisbury đã từng mô tả là bị tàn phá . 2321

Gặp tù binh Risner: “Khã năng trí tuệ thấp”

Tại Phòng Biểu Diễn của Nhà tù Đồn Điền ~ Plantation, “Villa Hà Nội,” Mary McCarthy được gặp tù binh Robbie Risner và giữ đúng lời hứa chỉ hỏi các câu hỏi mà y thị đã có “nạp trước” rồi.

Y thị “bị bất ngờ … vì đụng độ với một kiểu nói cứng ngắt và cách viết vụng về lặp đi lặp lại như con nít …” Ông ta “nói tiếng Anh rất chậm chạp, giống y một người Việt Nam đang tập nói ngôn ngữ này.” Risner “khúm núm trước các sĩ quan Việt cộng. Hèn hạ. … Tỏ lộ rất đội ơn: “Ồ, á, có chuối nữa?”  Ông ta khoái chí một cách thật ồn ào khi có được kẹo Việt. McCarthy bèn nhủ lòng là các phi công từng tốt nghiệp đại học quả có khã năng trí tuệ quá thấp.” 2322

Than ôi, Mary McCarthy, một kẻ gọi là trí có thức, đã đúng là một cái đầu rổng trong căn phòng đó mà không nhận ra được là người tù binh Risner đang ráng cho thấy là mình bị hăm dọa, bị bỏ đói, và đã từng bị tra tấn. Trong tác phẫm Đêm qua đi ~ Passsing of the Night, Risner mô tả từng bị tra tấn nhiều lần trước khi bị buộc phải gặp khách thăm. Trước khi gặp Mary McCarthy, ông ta đã bị hăm dọa, “ráng kiểm soát cuộc nói chuyện. … Chúng tôi … không muốn cô ta hỏi những câu ướm lời. Cấm nói bất cứ điều gì để làm nhục hay lăng mạ đất nước chúng tôi. ”

Khi được hỏi có muốn gì không thì Risner đã xin các bộ Kinh Thánh. Bọn bộ đội bảo vệ đã không trả lời. McCarthy nói: “Tôi không nghĩ rằng họ hiểu tôi”. Risner lại nhíu mày và nói: “Tôi nghĩ rằng họ có hiểu chứ.” McCarthy bèn “gõ trên gỗ”, ý hy vọng cho chiến tranh kết thúc sớm. Sau đó, Risner đã bị thẩm vấn trong ba giờ liền để phải giải thích hành vi gõ trên gỗ và nhướng lông mày có nghĩa kín là gì? 2323

Rõ ràng, trong dịp Tết Mậu Thân, bọn Bắc Việt đã không bỏ hết vốn liếng ra để hỗ trợ Việt Cộng, nhưng lại đã từng dùng tiền bạc để tuyên truyền chính trị tại Mỹ với sự giúp đở của những kẻ ngu dốt bị lừa như Mary McCarthy. Chúng đã thắng trong chiến dịch chính trị dù đã thất trận về quân sự và đã bị cả hàng chục ngàn cán bộ Việt Cộng phải bỏ mạng. Bắc Việt đã có những cố vấn về chính trị rất giỏi phục vụ trong phong trào phản chiến và trong các giới truyền tin.

Cuộc Chiến Tranh Báo Chí: Phạm Xuân Ẩn và Walter Conkrite

Phạm Xuân Ẩn

Suốt cuộc chiến, tường thuật của giới truyền tin đều khá tiêu cực và thường là theo đường hướng của Hà Nội, đôi khi lại có sự hỗ trợ chuyên nghiệp của Việt cộng.

Số phóng viên báo chí Hoa Kỳ non trẻ và thiếu kinh nghiệm ở Sài Gòn đã phụ thuộc vào người Việt tại địa phương, trong đó có Phạm Xuân Ẩn, một tay chuyên giựt dây làm cho Reuters.

“Anh ta đã giúp các nhà báo hiểu thông được các biến chuyển chính trị, luôn luôn theo kiểu bất lợi cho chế độ [Nam Việt Nam]. Phạm là một điệp viên Cộng sản … đã được lệnh … để trở thành một nhà báo … ngõ hầu gây ảnh hưởng đến giới truyền tin phương Tây tại Việt Nam,” 2324 theo như Armond Noble, người từng quen Ẩn tại Sài Gòn.

Chuyên viên giựt dây cũng là “điệp viên hoàn hảo” Phạm Xuân Ẩn từng ngồi chểm chệ vào mổi buồi chiều tại Café Givral bên kia đường với các khách sạn Continental và Caravelle, ở góc bọc quanh từ khách sạn Rex, rỏ ràng là để phân tích vụ Tết Mậu Thân cho các phóng viên Mỹ như y đã tường trình trước rồi cho Hà Nội. 2325 Tên điệp viên này đã có rất nhiều thính giả nơi chốn công cộng, vì Café Givral có món ‘súp’ Tàu ngon nhất Sài Gòn 2326 và Ẩn với Nguyễn Hùng Vương đã là “cái kho lưu trữ của tất cả các mưu đồ, tranh cãi lặt vặt, tham nhũng, nói xấu , bôi bẩn nhau, âm mưu và đại âm mưu …. ” 2327

Dĩ nhiên thì các nhân tài về truyền tin Mỹ cũng không thiếu.

Kẻ Được Tin Cậy Nhất Nước Mỹ, Walter Cronkite ~ 27 tháng 2 năm 1968

Trận công kích Tết Mậu Thân của Cộng Sản lại đã có những kẻ phiên giải đầy thiện cảm rất đáng ngạc nhiên trong các giới truyền tin  Mỹ.

Các nhân viên trong giới truyền tin, kể cả hệ thống truyền hình CBS, đều đã là những mục tiêu cổ điển của tình báo ngoại quốc. Các hồ sơ VENONA đã tiết lộ là  hai  phóng viên CBS là Stephen Laird với Ricardo M. L. Setero – đã không hề là những phóng viên vô tư nhưng mà là các điệp viên Liên Xô. 2328 David Schoenbrun, trưởng phòng CBS ở Paris đã là một kẻ ủng hộ việc phản kháng chế độ quân dịch và đòi hỏi quân đội Mỹ đơn phương rút quân , 2329  cũng là kẻ đã đi Hà Nội năm 1967, 2330  và là bạn của Hồ Chí Minh. 2331 Peter Jennings đã từng ăn tối với bọn bạn bè Weathermen  – Diana Oughton, Bill Ayers –  của tình nhân của mình là  Christine Oughton.

Đám phóng viên trẻ nít tại Sài Gòn đều cùng theo hỏi tình hình chính trị với Phạm Xuân Ẩn, một tên điệp viên của Bắc Việt. 2332  Và mọi người đều tin tay phóng viên kỳ cựu của CBS là Walter Cronkite.

Sau khi trận công kích Tết Mậu Thân của địch đã bị đánh bại ở khắp mọi nơi, trong một vài ngày giữa tháng 2, Walter Cronkite đã đến thăm những địa điểm rất tiện nghi và an toàn ở Sài Gòn với Huế để chuẩn bị làm tin gởi về khán thính giả quốc nội.

Cronkite mặc áo quần hóa trang

Đứng giữa đống đổ nát hoang tàn để tiêu biểu về chiến tranh, một phụ tá đã giúp đỡ Cronkite hóa trang mặc lên một chiếc áo khoác Flack chống đạn và đầu thì đội thêm một mủ sắt của lính Mỹ.

 image009

Hình: Người đưa tin chính của CBS, Walter Cronkite,

 Huế, Tháng 2 năm 1968 ~ TQLC Hoa Kỳ

image011 

Hình: Cronkite đầu đội mủ sắt được quay đang phỏng vấn vị chỉ huy TQLC, Trận Huế, 20 tháng 2 năm 1968 ~ TQLC Hoa Kỳ; ARC Id. 532454

 

Rồi thì Walter Cronkite, ăn mặc rất đúng điệu nhằm tạo một ảnh hưởng tối đa và cho thấy là mình đang ở “tại Việt Nam,”  đã bắt đầu cất tiếng,  “Những di tích này là ở Sài Gòn, thủ đô và thành phố lớn nhất của Việt Nam. … Đã có những nghi ngờ về tầm mức của VC thành công hay thất bại. … ” Và chỉ sau đó thì y mới cởi  áo Flack chống đạn và tháo mủ sắt xuống. 2333

Cronkite thẳng thừng không chịu tin những lần mình từng được thuyết trình mà chỉ phát biều tất cả những gì y đã có thành kiến sẳn rồi.

Các tường thuật của Cronkite vào dịp Tết  Mậu Thân đều cùng như nhau mà lại hoàn toàn sai lầm:

• Căn cứ không quân Đà Nẵng đã bị tàn phá và không còn sử dụng được  (Láo khoét);

• Việt Cộng đã chiếm được một từng của tòa Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn (Láo khoét); 2334

• Huế đã hoàn toàn bị tiêu hủy  (Láo khoét);

• Tết Mậu Thân đã là một thất bại quân sự (Láo khoét);

• Chương trình Bình định đã bị tan vở hòan toàn  (Không có gì để chứng minh);

• Hầu hết trung tâm thành phố Sài Gòn đã bị phá hủy (Láo khoét);

• Hầu hết các thị trấn đồng bằng sông Cữu Long đều bị thiệt hại nặng nề (chỉ 4 trong số 16 thành phố);

• Cuộc bao vây Khe Sanh là một mô hình thu nhỏ của Việt Nam, một kiểu thất trận loại Điện Biên Phủ sắp xảy ra (Không bao giờ);

• Khã năng Quân Lực VNCH rất yếu kém (Láo khoét).

Những bằng chứng tiên khởi về các tại thảm sát ở Huế đã sớm thuyết phục Cronkite là không nên lên án sự tàn bạo của cộng sản nhưng phải làm bất cứ giá nào để chấm dứt chiến tranh. 2335

Cronkite: Lời Chúa

Chỉ sau vài ngày như vậy ở Việt Nam, rồi khi trở về New York vào ngày 27 tháng 2 năm 1968, cái giọng ‘ baritone’ đầy thẩm quyền của CBS, giống như Lời Chúa, đã tuyên bố,

“Chúng tôi đã thường quá thất vọng bởi sự lạc quan của các nhà lãnh đạo Mỹ …. để còn tiếp tục ráng tin vào những lời dịu ngọt trong khi mây mù đen tối nhất đang phủ đầy….

Bởi vì bây giờ đã chắc chắn hơn bao giờ hết là cuộc thí nghiệm đẫm máu tại Việt Nam đang kết thúc trong bế tắc ….

Đối với mọi lần mà chúng ta phải leo thang thì kẻ thù đều đã có thể đáp ứng được. … Và cứ với mỗi lần leo thang thì thế giới lại đến càng gần hơn tới bờ vực của thảm họa,  vượt quá sức tưởng tượng của con người.

… Nhưng ngày càng rõ ràng đối với người phóng viên này là phương cách duy nhất để rút ra là sẽ phải đàm phán, không phải với tư cách là những kẻ chiến thắng, nhưng như là một dân tộc đáng kính mà đã sống đúng theo cam kết của họ để bảo vệ nền dân chủ. …

Đây là Walter Cronkite. Chúc ngủ ngon. ”  2336

Lời Chúa đã ban. Đó đã là  Việt Nam Đi Ngũ Đi. THUA TRẬN. Các  kết luận của Cronkite đã đi liền sau những tường thuật sai lầm trầm trọng về vụ Tết Mậu Thân của y.

Cronkite lại cũng có quân tiếp viện.

Bọn Phóng Viên Đấu Thầu dành Hòa Bình:  Ashmore với Boggs

Ngày 20 tháng 3 năm 1968, sau lần phát thanh khả-ố của y thì Bắc Việt cho phép Walter Cronkite đi Hà Nội, 2337 nhưng CBS lại đã gửi Charles Collingwood  đi thay. Khi đến nơi vào ngày 29 tháng 3 năm 1968, Charles Collingwood thấy mình đã bị buộc phải nhập bọn với bọn nhà thầu hoà bình thuộc  Center for Democratic Institutions ~ Trung Tâm Các Tổ Chức Dân Chủ  2338 như cựu biên tập viên của tờ Little Rock Gazette, Harry Ashmore và biên tập viên của tờ Miami News, William Baggs, 2339 cả hai tên đã từng gặp Hồ Chí Minh vào tháng giêng năm 1967.

Collingwood Không Hề Thấy Đã có Không Tạc hay có Chủ Trương Diệt Chủng

Trong vòng tám ngày, Collingwood mô tả là các tay đồng hành của mình và “ba quan chức” đã đi ‘tham quan’ những nơi bị không tạc và Việt cộng đã “xua những người sống sót chạy lúp xúp ra để nhìn chằm chặp” vào họ.

Collingwood đã không là thằng ngốc. “Mặt chúng xệ xuống  …” khi Collingwood  từ chối đi vô các hầm trú ẩn để tránh bom trong sáu lần có báo động không tạc. Collingwood quyết tín là Mỹ sẽ không bao giờ dội bom các “trung tâm dân cư”. Collingwood đã gặp Phạm Văn Đồng, Bộ trưởng Ngoại giao và một Đại Tá (có thể là Hà Văn Lâu) trong một giờ để họ công bố “những tố cáo theo thông lệ về chính sách diệt chủng”  dùng toàn ” từ ngữ tuyên truyền ” và bày tỏ lạc quan sẽ rốt cuộc chiến thắng mà thôi. 2340

Ashmore: Thấy được Tình Người, Tính Liêm Khiết và Trường Phái Lãng Mạn

Y như mười bốn tháng trước đó, Ashmore và Baggs đã thường xuyên gặp trong nhiều ngày Hoàng Tùng, biên tập viên của báo Nhân dân. Ashmore đã nói là chủ nghĩa xã hội “khã dỉ chấp nhận được, miễn là nó được điều hành bởi những người có lòng nhân đạo như Hồ Chí Minh mà đã từng chứng minh được về tính liêm khiết của mình.” Y tìm thấy ở Hoàng Tùng “một nét của chủ nghĩa lãng mạn mà đôi khi giúp làm êm dịu hơn những tranh luận về trí tuệ cứng ngắt thường có .”  2341

Sau lần đầu thăm biên tập báo Nhân dân, khi  trở về Metropole thì Mary  McCarthy đã ôm hôn Ashmore và Baggs để báo tin vui là Tổng thống Johnson đã ngưng không tạc để có đàm phán hòa bình và quyết định không tái tranh cử.

Trong các chuyến đì ‘tham quan’ với Vũ Quốc Thanh, Nguyễn Hạp và Thịnh Hải thì Ashmore và Baggs đã phát hiện ra rất ít thiệt hại tại Hà Nội, với các ngọn tháp các nhà thờ vẫn còn nguyên vẹn giữa những đống đổ nát, lưu thông hỏa xa  và đường lộ rất nhộn nhịp cùng với Phủ Lý vẫn rất phát triển dù đã mãi không được chỉnh trang mãi từ năm 1967. 2342

Những Nhân Vật này Chỉ Ao Ước có được một Giải Nobel

Ashmore và Baggs đã lên đường và có mang theo những ghi chú ghi nhận trong những lần thuyết trình của Bộ Ngoại giao và trong khi ở Hà Nội đã liên tục gửi  những bức điện báo cáo tiến bộ của họ trong việc giao tiếp giữa hai bên. 2343  Tuy Ashmore và Baggs đã nghĩ là họ đang thi hành một sứ mệnh hòa bình mà đã được Bộ Ngoại giao phê duyệt thì sau đó George Ball cũng đã bác bỏ những nỗ lực của họ như là có tính cách không chuyên nghiệp. … Bill Baggs và Harry Ashmore, các nhân vật này thật sự thì cũng chỉ ước muốn nhận được một giải Nobel mà thôi.”  2344

Bọn Đồng Chí: New York, Moscow

Trong dịp Tết Mậu Thân, bọn đồng chí cùng chiến tuyến cũng không ngừng hoạt động ở mặt trận thứ hai. Ngày 2 tháng 3 và 24 tháng 3, tờ New York Times có tường thuật số 16 và sau đó là 24 sinh viên Việt Nam ở Mỹ, do Ngô Vĩnh Long đang học tại Harvard dẫn đầu, đã kêu gọi hòa bình 2345 ngay trong lúc các lực lượng cộng sản đang tấn công trên khắp miền Nam Việt Nam. Ngày 17 tháng 3 tại London và 19 tháng 3 tại Moscow, cái đám trung kiên này đã tụ đàn lại để bày tỏ tình đoàn kết với Hà Nội

 image014

image016

Hình: Hội nghị Đoàn kết Moscow, Viện Bảo tàng Chiến tranh,

Sài-gòn, Canfield Tháng 3 năm 2008

 

Tại London khi đang có một biểu ngữ: “Thanh niên Cộng sản tố cáo Johnson là tên sát nhân”, thì tại Huế các đội ám sát cộng sản đang đi từ nhà này đến nhà khác để thi hành lệnh thủ tiêu giết người một cách có hệ thống . 2346

 image018

image020

Hình: Biểu tình phản đối tại Luân-đôn, 17 tháng 3 năm 1968,

Viện Bảo tàng Chiến tranh, Sài-gòn, Canfield Tháng 3 năm 2008

 

Trong tháng 4,  Steve Halliwell  bèn đi Hà Nội  2347 và Ken Cloke thì gặp một phái đoàn Hà Nội ở Thụy Điển. 2348

Vụ Tết Mậu Thân Đã bị Công bố như là một Chiến Thắng của Cộng sản  

Đám Báo Chí đã Quyết định Ai là Kẻ Chiến Thắng  

Trung Tướng Lâm Quang Thi (QLVNCH), có cho biết: “Tôi tin tưởng mạnh mẽ là giới truyền tin Hoa Kỳ đã đóng một vai trò chính yếu trong sự sụp đổ vào lúc cuối  của miền Nam Việt Nam. 2349 Ông có nhớ một tay nhà báo Việt Nam thiên cộng trốn đi Paris đã từng nói là  “Một bác sĩ khi phạm lổi thì chì giết chết bệnh nhân của ông ta, một viên tướng thì sẽ xóa sồ cả một sư đoàn;  một nhà báo khi sai lầm thì giết chết cả một quốc gia.”

Tướng Võ Nguyên Giáp tuyên bố với truyền hình Pháp là lực lượng du kích quan trọng nhất trong thời chiến đã chính là báo chí Mỹ. Khi bình luận vào năm 1989 về vụ Tết Mậu Thân, Giáp đã nói với  Morley Safer của CBS ,

Chúng tôi đã phải trả một giá cao, nhưng quý vị cũng vậy thôi  … không chỉ về mạng sống và vật liệu … Đừng quên là chiến tranh đã bị đưa vào ngay trong phòng khách của người dân Mỹ …

Kết quả quan trọng nhất của Tết Mậu Thân đã là quý  vị phải xuống thang về không tạc và buộc quý vị phải đến bàn đàm phán.

Do dó, quả thiệt là một chiến thắng …. Chiến tranh phải xem như xẩy ra trên nhiều mặt trận.

Vào thời điểm đó (Tết Mậu Thân), yếu tố quan trọng nhất đã là công luận Mỹ. 2350

Tòa Đại sứ Liên Xô tại Hà-nội thì đã nhận xét,

Những người bạn Việt Nam của chúng ta … càng ngày càng thấu hiểu nhiều hơn là để đạt được chiến thắng trước bọn xâm lược Mỹ mà chỉ thông qua các phương tiện quân sự thì sẽ cực kỳ khó khăn. …

Do đó vào năm 1968, họ đã bắt đầu liên tục tuyên truyền theo một công thức với ba kiểu đấu tranh: quân sự, chính trị và ngoại giao ”  2351

Điệp Viên Phạm Xuân Ẩn được ghi công

Điệp viên Phạm Xuân Ẩn dã nhận được một “Huy Chương Khai thác  ~ Exploitation Award” khác để tưởng thưởng các công tác gián điệp của y nhằm nghiên cứu các ngõ đường xâm nhập trong dịp Tết Mậu Thân để giúp đỡ Cộng sản. Điều này chỉ đã thực hiện được bởi “nhiều điệp viên cùng đồng gởi báo cáo cùng lúc,” Ẩn thừa nhận với Larry Berman như vậy. Tuy nhiên, Phạm Xuân Ẩn “là kẻ duy nhất mà đã viết là chúng ta đã giành một chiến thắng tâm lý, là tuy chúng ta đã thua nhưng chúng ta vẫn đã thắng. … Chúng ta thua về chiến thuật, chúng tôi thắng về chính trị. … Tôi tin rằng công luận Mỹ sẽ giúp chúng ta trong trường kỳ. ”  2352

Rất có vẻ như là nhờ việc Ẩn tường thuật về một chiến thắng tâm lý – một hình thức phản tuyên truyền – đã đem lại cho y huy chương về vụ Tết Mậu Thân cũng như là nhờ việc bộc lộ tùm lum suy tư cùng mục đích này của y với các đồng nghiệp Mỹ.

Bộ Đội Bắc Việt được Giảng Dạy: Tết  Mậu Thân Đã là Một Chiến Thắng

Chỉ thị  ngày 4 tháng 4 của Đơn vị 491, bộ phận phụ trách về chính trị của Sư đoàn 3 quân Bắc Việt đã nhồi sọ các bộ đội là cuộc tổng tấn công và nổi dậy đã là “thành công vĩ đại và toàn diện.” Chỉ thị đã cố giải thích sự dối trá lộ liễu này.

Bọn  “đế quốc Mỹ” đã ngày càng “bị cô lập hơn bao giờ hết  trên thế giới và, thậm chí ngay trong dân chúng Mỹ.” Rõ ràng, “các nguyện vọng của những người yêu chuộng hòa bình … đã gây ra cho đối phương những xung đột nội bộ càng ngày càng gay gắt.” Bộ đội đã được nhắc nhở về sự cần thiết phải “phối hợp chặt chẽ cuộc đấu tranh quân sự và chính trị  [đấu tranh] với các cuộc tấn công về ngoại giao “.  2353

Với biên chuyển này, ngoại trừ Arnaud de Borchgrave, gần như tất cả các phóng viên Mỹ đều đã nghỉ là, thôi xong rồi – Tết Mậu Thân đã là một thất bại và họ cứ mãi mãi bám vào lập trường này của họ .

2008: Chiến Thắng Tết Mậu Thân

Để ăn mừng cuộc “chiến thắng” của cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân, vào năm 2008, Bí thư đảng Cộng sản tại Sài Gòn, Lê Thanh Hải đã cho biết cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân đã đẩy mạnh “các cuộc đấu tranh chính trị để tạo điểm ngoặt cho cuộc kháng chiến”  và  “giúp mở ra một mặt trận về ngoại giao và tạo ra một kỷ nguyên mới cho cuộc kháng  chiến. ”  2354  Và ở khắp mọi nơi tại Việt Nam vào cuối tháng 3 năm 2008, tác giả đã có nhìn thấy những bảng quảng cáo kỷ niệm thứ 40 năm của cái mà không hề bao giờ đã thực sự xẩy ra – một cuộc nổi dậy tuyệt vời của toàn dân và một chiến thắng quân sự dạo Tết Mậu Thân. 2355

Và tại Iraq, giới truyền tin lại dự đoán sẽ thất bại và cứ bám cứng vào chủ đề thua trận mà bất kể đến những gì đang thực sự xẩy ra. Thành kiến về thất trận, dù thật hay tưởng tượng hay bị tạo dựng lên thì cũng có những hậu quả chính trị và chiến lược quan trọng.

Tổng Thống Johnson Bỏ Cuộc

 

Vụ Tết Mậu Thận đã khiến Tổng Thống Johnson ngở ngàng và mất tinh thần. 2356

Người Dân Mỹ: “Diều Hâu”,  Mong  Muốn Một Chính sách Quân Sự Mạnh Mẻ Hơn

Ấy vậy vào tháng 2 năm 1968, Gallup làm thống kê cho thấy có độ 61% người Mỹ tự cho mình là “diều hâu” trong khi chỉ có 23% là chim bồ câu. Số Diều hâu đã tăng 8% kể từ tháng 12 và bọn chim bồ câu thì đã giảm 11%. 2357

Hiểu Sai Lầm Về Số Phiếu Bỏ cho McCarthy tại New Hampshire

Tuy nhiên, hầu hết các tay chủ hòa đềuđã sai lầm khi nghỉ là chúng đang có được những tin bầu cử tốt. Trong lần sơ bộ tại New Hampshire, ứng cử viên hàng đầu của đảng Dân chủ là Thượng nghị sĩ Eugene McCarthy (Dân chủ -Wisconsin) đã nhận được sự hỗ trợ mạnh mẽ của cử tri, chống lại Tổng thống Johnson. McCarthy đã nhận được 42% số phiếu phổ thong, so với 49% của Johnson vào ngày 12 năm 1968.

Kết quả cuộc bỏ phiếu cho McCarthy đã được mọi người hiểu như là một cuộc bỏ phiếu chống chiến tranh. Nhưng quả đó không là, như từng được nồng nhiệt tuyên bố mãi đến sau này, một cuộc bỏ phiếu chống chiến tranh  –  mà đúng ra là một cuộc bỏ phiếu chống lại cách thức  Johnson đối phó với chiến tranh Việt Nam. Với một tỷ lệ 3 chống 2,  các cử tri bầu cho McCarthy muốn một chính sách quân sự mạnh mẽ hơn tại Việt Nam để đè bẹp số ủng hộ McCarthy chủ trương là phải rút quân ngay lập tức. 2358

Đa số những người ủng hộ McCarthy đã bỏ phiếu cho George Wallace và Curtis LeMay vào tháng 11. 2359  Những cử tri này của McCarthy đã muốn có một chiến lược để phải giành thắng lợi  –  chiến thắng, thì đã vượt xa số người đã không muốn vậy. Người dân Mỹ đã trở nên hiếu chiến hơn.

Bỏ qua vụ Tết Mậu Thân thì Tổng thống đã từng 70 lần đề nghị hoà bình kể từ năm 1964. Tổng thống Johnson cứ liên tục hiểu lầm ​​công luận cùng ảnh hưởng của phong trào phản chiến và việc này đã tăng cường mặc cảm của bọn cố vấn  thiếu quyết đoán của ông ta mà nhiều người trong số đó lại có con đang tham gia phong trào phản chiến. 2360 Hơn nữa, các cử tri dường như đã tỏ ý là một Johnson yếu đuối và cứ bị mãi ám ảnh bởi hòa bình thì nên phải ra đi. Ông ta đã hiểu vậy.

image022

Hình: Con quỷ LBJ đã mang lữa hỏa ngục tới Việt Nam,

Yết thị tuyên truyền của Hà-nội, 1967

 

Vào ngày 31 tháng 3 năm 1968, LBJ công bố sẽ không tái ứng cử.

Ngưng Không Tạc

Không những vậy, ông còn công bố tạm ngừng không tạc  – mà sẽ kéo dài cho đến khi có các cuộc bầu cử năm 1968 và kêu gọi các cuộc đàm phán công khai với Hà Nội. 2361

Hà Nội nhận định là Mỹ “đã bị buộc phải hạn chế các vụ thả bom và khởi đầu các cuộc đàm phán vì các áp lực chính trị trong nước đang gia tăng … Hà Nội tin tưởng là đòi hỏi hòa bình ở Mỹ rất là phổ biến rộng rãi và có ảnh hưởng về chính trị.” 2362

Mary McCarthy, một Mỹ kiều giàu có tại Paris, một  tiểu thuyết gia và phê bình gia về văn hóa dân-gian và chủ nghĩa tư bản của Mỹ, đã hân hoan khui rượu đổ vung đầy để mừng tin vui ngay tại phòng khách sạn của Wilfred Burchett ờ Hà Nội. 2363

Trận Huế: Giới Truyèn Tin Lại Sai Lầm Lần Nữa

Khuôn mẫu mới: Phá tan thành phố để cứu nó

Giới truyền tin, khi lấy tin về 26 ngày mà bọn cộng sản chiếm đống Huế đã tập trung vào chi-tiết có hàng ngàn nạn nhân dân sự và việc thành phố đã bị phá hủy hoàn toàn tới 80%, kể cả nhà cữa và các địa điểm nổi tiếng như Cung điện và Thành Nội. Ở khắp mọi nơi, chết chóc và hoang tàn đổ nát đã gợi nhớ các khung  cảnh của Stalingrad và Monte Cassino trong Thế chiến II hay Seoul trong Chiến tranh Triều Tiên. Đó rõ ràng đã là một thất bại lớn.

Huế Bị Thiệt Hại nhưng Không Bị Tiêu Hủy

Núp lum khum trong những khu vực nhỏ, các phóng viên thật sự chỉ mô tả không phải những gì họ thấy mà đúng ra chỉ là những gì mà họ sợ nhất. Một vài sự kiện phát xuất từ những khu riêng biệt của thành phố, rối thêm mắm thêm muối vào bằng những giai thoại được nghe kể lại, thế là hoàn hão xong một khuôn mẫu mới: thành phố đã bị phá hủy vì cần phải cứu nó.

Cả thành phố cũng như người dân đều không hề bị hủy diệt. Trong thực tế, số thương vong dân sự, nếu loại ra số bị Việt Cộng và Bắc Việt xử tử (đọc bên dưới), đã ở dưới 1.000 trong một tổng dân số là 140.000; 4.500 ngôi nhà đã bị phá hủy. Nhiều ngôi nhà khác nữa thì cửa sổ bị phá vỡ, tường lỗ chổ nhưng  vẫn còn đứng vững.

Các bức tường của Thành Nội và Cung điện có bị hư hỏng, nhưng không hề bị phá hủy. 2364

Trong cái gọi là chiến thắng không tưởng của chúng trong ngày Tết, bọn Cộng sản đã thực sự phạm những tội ác mà các phương tiện truyền thông Mỹ hầu như không hề tường thuật lại.

Không kể đến sự kiện đời sống chính trị của LBJ đã bị kết thúc, miền Nam Việt Nam, kể từ đó đắm chìm trong bóng tử thần mà sẽ không  hề ai đoái mài tới  …

 *****

2253  Peter Braestrup, Big Story, New Haven: Yale University Press, 1978, trang 73-118, 121, 147, 190.

2254   Tác giả có thấy được các bục che bằng bê-tông cốt sắt bị cháy đen vẫn còn hiện diện vào tháng 3 năm  2008. 

2255   Stanley Karnow, “What Are the Communists Trying to Prove?”, Washington Post,  2 tháng 2 năm 1968, viện dẫn trong sách của Braestrup, Big Story, trang 168 và  James Banerian với ủy ban  Vietnamese Community Action Committee, Losers Are Pirates: A close Look at the PBS Series “Vietnam: A Television History,” Phoenix: Tiếng Mẹ  Xuất bản, 1984, trang 163.

2256   Phillip B. Davidson, Vietnam At War: the History: 1946-1975, New York: Oxford University Press, 1991, trang 28, 609.

2257   Peter Braestrup, Big Story, New Haven: Yale University Press, 1978, trang 125.

2258   Morley Safer, Flashbacks: On Returning to Vietnam, New York: St. Martin’s Paperbacks, 1990, trang  21.

2259  New York Review of Books viện dẫn trong Tường trình AIM Report Tháng 4 năm  1983, trang 4 và William F. Jasper, “Seven Myths About the Vietnam War,” New American, 25 tháng 3 năm 2002.

2260   “The Road Back to His Native Village,” Vietnam (Hanoi), 1972,  trang 172 .

2261   Peter Braestrup, Big Story, New Haven: Yale University Press, 1978, trang 509; Đọc thêm Edward Jay Epstein, TV Guide 6 tháng 10 năm  1973 viện dẫn trong báo cáo AIM Report A Tháng 11 năm 1973 và William F. Jasper, “Seven Myths About the Vietnam War,” New American, 25 tháng 3 năm 2002

2262   Peter Braestrup, Big Story viện dẫn trong sách của Arthur Herman, “The Lies of Tet,” Wall Street Journal, Tháng 2 năm  2008.

2263   Như trên

2264   Noble nói với tác giả  trong các năm  2007, 2009, 2010.

 2265  Ken Moorefield, “The Gathering Storm,” trong sách của Santoli, To Bear Any Burden, trang 113-5.

2266   Ken Moorefield. “Ticket-punching,” Al Santoli, To Bear Any Burden, trang 188.

2267  Tóm lược của CIA, “Questions Concerning the Situation in Vietnam,” 1 tháng 3 năm 1968, trang  6-7.

2268   Denis Warner trong Certain Victory, trang 56 được viện dẫn trong sách của James Banerian và Vietnamese Community Action Committee, Losers Are Pirates: A close Look at the PBS Series “Vietnam: A Television History,” Phoenix: Tiếng Mẹ Xuất bản , 1984, trang 109.

2269   Eugene Patterson, “A Hero of Vietnam finds victory in defeat,” Tampa Bay Times,  20 tháng 9 năm  2010.

2270   Douglas Pike, The Viet-Cong Strategy of Terror, United States Mission, Viet-Nam, 1970,  trang 26.

2271  Trung Tưóng Lâm Quang Thi, QĐVNCH, THE VIET NAM WAR REVISITED: A VIEW FROM THE OTHER SIDE OF THE STORY.

2272   “Battle of Hue,” Department of Army, trang 14 viện dẫn trong sách của Andrew Weist, “Vietnam’s Forgotton Army,” trong  sách của  Joachim Lê Tinh Thông, (ed.), The Missing Pieces in the Vietnam War Puzzle, the Vietnamese-American Nationalist in Diaspora, Wesminster, 28 tháng 4 năm 2010, trang 151.

2273   Tướng William Westmoreland, A Soldier Reports, trang 402 viện dẫn trong sách của  James Banerian và Vietnamese Community Action Committee, Losers Are Pirates: A close Look at the PBS Series “Vietnam: A Television History,” Phoenix: Tiếng Mẹ Xuất bản, 1984, trang 170.

2274   Peter Braestrup, Big Story, New Haven: Yale University Press, 1978, trang 541 ghi chú  29.

2275   Mike Benge, “Ethnonationalist Movements,” trích dẫn  ngày 8 tháng 7 năm  2009. 

2276  Peter Braestrup, Big Story, New Haven: Yale University Press, 1978, trang  531.

2277  Robert Elegant, “How to Lose a War: The Press and Vietnam,” Encounter, (London), bộ LVII, Tháng 8 năm  1981,  trang 73-9- tại Wellesley.edu/Polisci/wj/Vietnam/readings/elegant.htm

2278  Don Oberdorfer, Tet!: The Turning Point in the Vietnam War.

2279  Peter Braestrup, Big Story, New Haven: Yale university Press; 1978, trang 193-197 viện dẫn AP, UPI, New York Times, James Reston, Sen. Albert Gore, Drew Pearson, the New Republic, The New Yorker; High school Student Mobilization Committee, truyền  đơn, “Yankee Come Home,” Vietnam War Era Ephemera Collection, University of Washington Libraries, Special Collections Division, Hộp 7/8, 1971.

2280   Peter Braestrup, Big Story, New Haven: Yale university Press; 1978, trang 191-193, 200.

2281   Mark Moyer, Triumph Forsaken, trang 225 ghi chú 81 kể vụ Sài-gòn báo cáo với Bộ Ngoại giao ngày 7 tháng 7 năm 1963, FRUS, 1961-1963, Bộ 3, trang  210.

2282   Malcolm W. Browne, The New Face of War, Indianapolis: Bobbs-Merrill, 1965, hình giữa hai trang 128 và 129.

2283   Robert Elegant, “How to Lose a War: The Press and Vietnam,” Encounter, (London), bộ  LVII, Tháng 8 năm 1981, trang 73-9- tại  Wellesley.edu/Polisci/wj/Vietnam/readings/elegant.htm

2284   FBI, FOIA, Howard Zinn.

2285  FBI, FOIA, Howard Zinn kể ra những nguồn tin bí mật, “May Send Aide to Hanoi for Pilots,” Newark Evening News, 31 tháng giêng năm 1968 và “2 Fly to Hanoi to Return 3 Pilots Due to Be Freed,” New York Times, 1 tháng 2 năm 1968.

2286   Daniel Berrigan, Night Flight to Hanoi, trang 38, 134 viện dẫn trong sách của Paul Hollander, Political Pilgrims, trang 356.

2287  Daniel Berrigan, Night Flight to Hanoi, XIV, viện dẫn trong sách của Paul Hollander, Political Pilgrims, trang 371.

2288   Daniel Berrigan, Night Flight to Hanoi, New York: Macmillan, 1968,  trang 31.

2289  FBGI, FOIA, Howard Zinn, BS 100-35505

2290  Daniel Berrigan, Night Flight to Hanoi, New York: Macmillan, 1968, trang 41.

2291  Daniel Berrigan, Night Flight to Hanoi, New York: Macmillan, 1968, trang 50-6.

2292   Daniel Berrigan, Night Flight to Hanoi, New York: Macmillan, 1968, trang 65.

2293   Daniel Berrigan, Night Flight to Hanoi, New York: Macmillan, 1968, trang 55; Daniel Berrigan, Night Flight to Hanoi, trang 78-9, 86, 111 viện dẫn trong sách của Paul Hollander, Political Pilgrims, trang 201.

2294   Daniel Berrigan, Night Flight to Hanoi, New York: Macmillan, 1968, trang 128.

2295   Daniel Berrigan, Night Flight to Hanoi, New York: Macmillan, 1968, trang 129.

2296  Peter Braestrup, Big Story, New Haven: Yale University Press, 1978, trang 473, 591-2 ghi chú 10 nêu ra trong  “Hanoi Lauds Four Senators for Asking Halt in Bombing,” Washington Post.  2 tháng 3 năm1968, trang 10.

2297  Daniel Berrigan, Night Flight to Hanoi, New York: Macmillan, 1968, trang 42-3.

2298  Harry S. Ashmore và William C. Baggs, Mission to Hanoi, New York: G.P. Putnam, Tháng 9 năm 1968, trang 145.

2299  Trung tá Hải quân Lieut. Commander John S. McCain III, U.S. Navy, “How the POW’s Fought Back,” US News & World Report, 14 tháng 5 năm 1973. http://www.pierretristam.com/Bobst/library/wf-193.htm

2300   Norris M. Overly, Đại tá Không quân Col. USAF nói với Louis Stockstill, National Press Building, 16 tháng 4 năm 1971, đăng trong American Prisoners of War in Southeast Asia, 1971, HEARINGS BEFORE THE SUBCOMMITTEE ON NATIONAL SECURITY POLICY AND SCIENTIFIC DEVELOPMENTS OF THE COMMITTEE ON FOREIGN AFFAIRS, HOUSE OF REPRESENTATIVES, NINETY-SECOND CONGRESS, FIRST SESSION, 23, 24, 25, 30, 31 tháng 3 và 1, 6, 20 tháng 4 năm 1971.   http://homepage.ntlworld.com/jksonc/docs/vietnam-hcfrpows-19710420.html

2301   Stuart I. Rochester và Frederick Kiley, Honor Bound, American Prisoners of War in Southeast Asia 1961-1973, Annapolis: Naval Institute Press, 1999, trang 367.

2302   Được trích dẫn một cách quá lố trên tờ Boston Globe theo lời Kay MacPherson, Viewpoint, Canadian Broadcasting National Television Network, 11 tháng giêng năm  1971.

2303  Stuart I. Rochester và Frederick Kiley, Honor Bound, American Prisoners of War in Southeast Asia 1961-1973, Annapolis: Naval Institute Press, 1999, trang 367

2304   Ray Mungo, Famous Long Ago: My Life And Hard Times With Liberation News Service, Citadel Press, 1970, trang 28.  http://www.sunrisedancer.com/radicalreader/library/famouslongago.pdf

2305   CIA, FOIA, hồ sô số EO11978-00207, “International Connections of US Peace Groups—III,” trang 2-3.

2306  Tom Hayden, “Impasse …”  Ramparts, 24 tháng 8 năm 1968, trang 18.

2307   Gitlen, trang 264.

2308  FBI FOIA, Howard Zinn, viện dẫn  “Hub Man Who Helped Free POWs Raps U.S. Handling of Flight Home,” Boston Globe, 18  tháng  2  năm  1968.

2309  (Rev) Daniel Berrigan nói với Dear Friends, Cornell University, Ithaca, New York, 3 tháng 3 năm 1968.

2310  Daniel Berrigan,  Night Flight to Hanoi, trang 78-9, 86, 111 viện dẫn trong sách của Paul Hollander, Political Pilgrims, trang 353.

2311   Stuart I. Rochester và Frederick Kiley, Honor Bound, American Prisoners of War in Southeast Asia 1961-1973, Annapolis: Naval Institute Press, 1999, trang 367.

2312  Khai chứng của Overly, Hạ viện, American POWs in southeast Asia, các buổi điều trần trước ủy ban Committee on Foreign Affairs, 1971, trang 6 viện dẫn trong sách của  Rothrock Divided… trang 202 ghi chú 25.

2313  American Prisoners of War in Southeast Asia, 1971, HEARINGS BEFORE THE SUBCOMMITTEE ON NATIONAL SECURITY POLICY AND SCIENTIFIC DEVELOPMENTS OF THE COMMITTEE ON FOREIGN AFFAIRS, HOUSE OF REPRESENTATIVES, NINETY-SECOND CONGRESS, FIRST SESSION, 23, 24, 25, 30, 31 tháng 3 và 1, 6, 20 tháng 4 năm 1971.

2314  Peter Braestrup, Big Story, New Haven: Yale University Press; 1978, trang 494-95.

2315   Berrigan, Daniel. Night Flight to Hanoi: War Diary with 11 Poems. New York: Macmillan, 1968.

2316  Allan Brick, Tường thuật về đám Cantonsville Nine: What is Nonviolence Today? Pamphlet at Political Pamphlet Collection, University of Missouri Special Collection; Marion Mollin, Radical Pacifism in Modern America: Egalitarianism and Protest, University of Pennsylvania Press, 2006.

 2317  Joyce  nói với tác giả.

 2318 Peter Braestrup, Big Story, New Haven: Yale University Press, 1978, trang 475-484.

2319  Jessica C.E. Gienow-Hecht và Frank Schumacher, Cultural and International History, New York: Berghahn books, 2003, trang 145.

2320  Time số 29 tháng 3 năm 1968.

2321   Mary McCarthy, Seventeenth… trang 173-4, 182, 184-5, 191-3, 197-98, 201-5, 208-9, 211-2, 215-6, 222-4, 232.

2322   Mary McCarthy, Seventeenth… trang  299.

2323   Robinson Risner, The Passing of the Night, New York: Random House, 1973 nêu ra trong sách của James Banerian và Vietnamese Community Action Committee, Losers Are Pirates: A Close Look at the PBS Series “Vietnam: A Television History,” Phoenix: Tiếng Mẹ Xuất bản, 1984, trang  252.

2324   Armond Noble, Military, tháng giêng năm 2007, trang 55 trích dẫn một cột tin  trên tờ National Review về quyển sách của Mark Moyar tựa đề là Triumph Forsaken.

2325   Tiệm Givral nằm ở một địa điểm chiến lược dể quan sát các viên chức quan trọng Mỹ Việt thưòng lui tới cũng như là để biết những ai đang  liên lạc với nhau .

2326  Morley Safer, Flashbacks: On Returning to Vietnam, New York: St. Martin’s Paperbacks, 1990, trang 52.

2327   Morley Safer, Flashbacks: On Returning to Vietnam, New York: St. Martin’s Paperbacks, 1990.

2328   FBI, FOIA, Venona, trang 57, 59 phóng ảnh của phúc trình TỐI MẬT của FBI, A.H. Belmont gởi cho D.M. Ladd, [ghi viết lại] Điệp vụ – R 23 tháng 6 năm 1952, trang 6,8.

2329  Combat, Bộ 2, Số 3, 1 tháng 2 năm 1970.

2330  James Clinton, The Loyal Opposition: Americans in North Vietnam, 1965-1972, University of Colorado, 1995.

2331   DuBerrier, Tháng 4 năm 1982.

2332  Armond Noble, Military, Tháng giêng năm 2007, trang 55 trích dẫn một cột tin của tờ National Review về quyển sách của Mark Moyar tựa đề là Triumph Forsaken.

2333   Một nhân viên của đoàn quay phim của CBS đã kể lại là Armond Noble, làm cho tạp chí Time, đã cho mình biết chi tiết Cronkite đã sữa soạn hóa trang cho lần tường thuật lịch sữ này. 

2334   Peter Braestrup, Big Story, New Haven: Yale university Press; 1978, trang 116-7, 134-5, 188, 199, 208, 257, 303, 387, 413, 425.

2335   Phillip B. Davidson, Vietnam At War, New York: Oxford University Press, 1988, trang 486 nêu ra bức thư Cronkite gởi cho Westmoreland, 15 tháng 6 năm 1982.

2336  Walter Cronkite, “We are Mired in a Stalemate, broadcast, CBS News, 27 thángh 2 năm 1968 tại Pacifica Radio/UC Berkeley Social Activism Sound Recording Project, Media Research Center, Moffitt Library UC Berkeley, tại http://www.lib.berkeley.edu/MRC/Pacificaviet.www.lib.berkeley.edu/MRC/Pacificaviet.

2337   Harry S. Ashmore và William C. Baggs, Mission to Hanoi, New York: G.P. Putnam, Tháng 9 năm 1968, trang 160.

2338   Oberdorger Tet! , viện dẫn trong sách của Peter Braestrup, Big Story, trang 596 ghi chú 88.

2339   Ashmore, Harry S. và William. C. Baggs, Mission to Hanoi: A 1968 Chronicle of Double Dealing in High Places, New York: Putnam, 1968.

2340   “Television: Mission to Hanoi,” Time , 19 tháng 4 năm 1968; “The War: Hopeful Half Steps, Time 12 tháng 4 năm 1968.

2341   Harry S. Ashmore và William C. Baggs, Mission to Hanoi, New York: G.P. Putnam, Tháng 9 năm 1968, trang 150-1.

2342   Harry S. Ashmore và William C. Baggs, Mission to Hanoi, New York: G.P. Putnam, Tháng 9 năm 1968, trang 132-6.

2343   Harry S. Ashmore và William C. Baggs, Mission to Hanoi, New York: G.P. Putnam, Tháng 9 năm 1968, trang 119-27, 138-142.

2344   Trích lục cuộc phỏng vấn George Ball Oral History Interview I, 7/8/71, bởi Paige E. Mulhollan, Internet Copy, Thư viện LBJ Library.

2345   “16 South Vietnamese in U.S. and Canada Support a Halt,” New York Times, 2 tháng 3 năm 1968; Ngô, V.L., T.M.V. Lr và  H.Q. Nguyễn, “Vietnamese Students’ Appeal, New York Times, 24 tháng 3 năm 1968; Chris Norlund, “The First Vietnamese to Attend Harvard,” Migration Letters, Bộ 2, Số 1, trang 78-9.

2346   Đều được tưởng nhớ bằng những khắc ghi và hình tại Viện Bảo tàng Di tích Chiến tranh tại Sài-gòn, tài liệu của tác giả Viet II DSC_349, 351, 361-2.

2347   Ủy ban Hạ viện Committee on Internal Security, Investigation of Students for a Democratic Society, Phần 7-A, 9-11, 16 tháng chạp năm 1969, Phụ đính A, Tang vật của Ủy Ban số 3, trang 2321.

2348   Tài liệu tình báo giải mật của Chính Phủ Hoa kỳ về đề tài móc nối giữa Weather Underground với cộng sản và ngoại quốc. Nêu ra như là bằng chứng, chiếu theo thỏa thuận giữa công tố và luật sư biện hộ trong phiên xét xử W. Mark Felt và Edward S, Miller,”  trang 13 tại  www.usasurvival.org.

2349  Trung Tướng Lâm Quang Thi, (QLVNCH), THE VIET NAM WAR REVISITED: A VIEW FROM THE OTHER SIDE OF THE STORY.

2350  Safer phỏng vấn Giáp năm 1989, nêu ra trong sách của Howard Langer, The Vietnam War: An Encyclopedia of Quotations.

2351   CIA, FOIA, “Political Report of the Embassy of the USSR in the Democratic Republic of Vietnam For the Year 1970,” [TFR 136-22A, [viết tay “22”] Tối mật, Bản sao số 3, 12 thá ng 3  năm 1971, ấn bản số 114 [Đóng dấu “TsK KPSS, 10987, 16 tháng 3 năm 1971, trang 180/ Đề tài sẽ thuộc Đoạn Tổng quát General Section TsK KPSS”] DRV, thành phố Hà-nội, tháng 3 năm 1971, trang 6. [viết tay “100”].

2352   Berman, Perfect Spy, trang 176-77.

2353   Chỉ thị ngày 4 tháng 4 năm 1968, công bố bởi Đơn vị  491, (Ban Chính ủy), Sư đoàn 2  Bắc Việt, Tổng hành dinh), “Đơn vị   491 gởi mọi đơn vị, #487, đính kèm Thông cáo Báo Chí số #75-68, Trung Tâm Báo Chí Hoa Kỳ ~ U.S. Mission Press Center, Sài-gòn, 28 tháng 4 năm 1968, Bộ Sưu tầm của Pike, Unit 4-Political Settlement, TTU, Virtual Archive, tài liệu số 2300602031. 

2354   “1968 uprising still offers lessons,” Viet Nam News, 2 Tháng 2 năm 2008.

2355  Các tấm bảng Tuyên Truyền tại Hà-nội và Sài-gòn, sưu tầm của tác giả  Viet I DSC_ 763-4, 767-71 và Viet II DSC_410, 533, 534.

2356   Later Cronkite rồi sẽ lên án các chiến thắng nhỏ của Mỹ tại  Grenada và Tripoli. Đọc: Newsweek, Tháng Chạp 1988, “Cronkite: An Anchor Unchained.”

2357   Nêu ra trong sách của Garfinkel, Telltale Hearts, trang 158; James Robbins, “This Time We Win,” The Missing Pieces in the Vietnam War Puzzle, Westminster: the Ngo Dinh Diem Foundation ~ Viện Ngô Đình Diệm, 28 tháng 4 năm 2010, trang 194.

2358   Herbert S. Parmet, Richard Nixon and His America, New York: Konecky & Konecky, 1990, trang 465.

2359   Robert Turner nói với tác giả ngày 25 tháng 5 năm 2009, có viện dẫn sách của Leslie Gelb và Richard Betts, The Irony of Vietnam: The System Worked.

2360   Garfinkle, Telltale Hearts, trang 19-20, 158, 160.

2361   Trước khi LBJ cuối cùng đành chấm dứt nhiệm kỳ, ông đã có khởi xướng tới 70 cố gắng  để đàm phán với độ chừng 16 lần ngưng không tạc. Đọc: Palmer, trang 177.

2362   Phúc trình Tình Báo CIA, “Hanoi’s Negotiating Position and concept of Negotiations,” Số 0587/68, 6 tháng 5 năm 1968,  trang 4;  Đọc thêm: Phúc trình Tình Báo CIA, “Speculation on Hanoi’s Motivations,” 8 tháng 4, trang 3.

2363   Mary McCarthy, The Seventeenth Degree:  How It Went, Vietnam, Hanoi, Medina, Sons of the Morning, New York: Harcourt Brace, 1967, 1968, 1972, 1973, 1974, trang 31-32.

2364   Peter Braestrup, Big Story, New Haven: Yale university Press; 1978, trang 202-5.

 

*****

Một phản hồi to “Roger Canfield’s Americong #40”

Trackbacks/Pingbacks

  1. Giới thiệu tác phẩm AMERICONG (MỸ-CỘNG) – Lê Bá Hùng | Ngoclinhvugia's Blog - 05/01/2016

    […] Roger Canfield’s Americong #40 […]

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: