Roger Canfield’s Americong #5

Comrades in Arms

How the Americong Won the War in Vietnam

Against the Common Enemy— America

Copyright Roger Canfield, Ph.D.

1986-2012

No commercial transaction allowed except that approved by the author, copyright holder.

Obtain a prepublication release of a CD-R in Microsoft Word in ENGLISH at a discounted price of $15 from Roger Canfield Rogercan@pacbell.net at 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 or at http://americong.com.

Completely SEARCHABLE for any name, date, place or event of the War and its protesters.   

Cover: Design Stephen Sherman. Photos: Roger Canfield, March 2008. TOP: War protestHawaii, February 1966 displayed at War Remnants (Crimes) Museum,Saigon. Bottom: Praetorian Guard

***** 

Các đồng chí cùng chiến tuyến

Làm thế nào MỹCộng thắng cuộc chiến Việt Nam

Chống kẻ Thù Chung – Mỹ

Giữ bản quyền Roger Canfield, Tiến Sĩ

1986-2012

Không được sử dụng vào mục đích thương mại nếu không có sự đồng ý của Tác giả, người giữ bản quyền.

Có thể mua một tiền bản dưới dạng CD-R Microsoft Word bằng Anh ngữ với giá đặc biệt US$15 ngay từ tác giả Roger Canfield  Rogercan@pacbell.net tại 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 hay tại  http://americong.com.

Hoàn toàn có thể TRA CỨU hoặc bằng tên, bằng ngày tháng hay biến cố liên quan đến cuộc Chiến cùng cả luôn bọn tham dự biểu tình .

******************************************************

* Tác giả giữ bản quyền © Roger Canfield 1986-2012

Lê Bá Hùng chuyển ngữ  (với sự chấp thuận của Tác giả)

*****

Chương 5

 

Cung Cách Hành Xử của Việt Nam tại Khu Vực và Trên Thế Giới

Trong khi hoạt động tại địa phương để chiếm và nắm quyền lực trong các thôn làng, Cộng Sản Hà Nội cũng đã soạn kế hoạch chính trị trên toàn cầu của chúng.

Bắc Việt Đẻ Ra cái Mặt Trận Giải Phóng Quốc Gia

Năm 1959 -1961, Đảng Cộng sản Bắc Việt đã phát họa, tổ chức và kiểm soát một tổ chức hoàn toàn phụ thuộc chúng với tên gọi là Mặt trận Giải phóng Quốc Gia tại miền Nam Việt Nam, bọn Việt Cộng. Trong tháng 1 năm 1961, một chỉ thị của Ủy ban Trung ương Quân sự Đảng ở Bắc Việt đã quy định, ” Quân đội Giải phóng miền Nam Việt Nam là thuộc cấp của Quân đội nhân dân Việt Nam.”  663 Việc miền Bắc phải cung cấp yểm trợ về các cán bộ chính trị và các lực lượng du kích cho Việt cộng ở miền Nam Việt Nam đã  một điều cần thiết bởi vì Chính phủ Nam Việt Nam do Ngô Đình Diệm lãnh đạo đã gần như quét sạch phong trào Cộng sản ở trong Nam.

Một quyết nghị trong tháng 2 năm 1961 đã tuyên bố là cuộc đấu tranh quân sự ở miền Nam Việt Nam bây giờ sẽ là quan trọng như cuộc đấu tranh chính trị trong Nam. 664 Vào thời điểm đó, Việt Cộng chỉ có ba tiểu đoàn lực lượng chính quy tại miền Nam Việt Nam, khoảng 15.000 binh sĩ và cán bộ chuyên nghiệp . Kế hoạch tổ chức lại Quân đội nhân dân Việt Nam cần 3 tới 5 sư đoàn chính quy từ 25.000 đến 40.000 bộ đội. (Các quân đội với ảnh hưởng Liên Xô thì có những sư đoàn gồm độ 10.000).  Trong năm 1961, khoảng 7.664 sĩ quan và bộ đội của Quân đội nhân dân Việt Nam kéo nhau đi xuống đường mòn Hồ Chí Minh vô Nam, 665 một con số gấp đôi tổng số của hai năm 1959 và 1960.

Kế hoạch của Quân đội nhân dân Việt Nam trong năm 1961 đã là tìm cách để tuyển quân tại miền Nam Việt Nam, nhưng cũng đã gửi vô miền Nam khoảng 30.000 và 40.000 bộ đội chính quy mà đã được huấn luyện đầy đủ. Đa số đều “có kinh nghiệm trước đây khi làm việc hay chiến đấu ở miền Nam Việt Nam.” Merle L. Pribbenow, dịch giả của bản lịch sử chính thức của Quân đội nhân dân  Việt Nam đã viết, miền Bắc – … muốn duy trì … sự từ chối [của] Bắc Việt Nam là đã hỗ trợ và kiểm soát cuộc chiến tranh ở miền Nam.  666 Mãi cho tới khi có Hiệp định Hòa bình Paris vào năm 1973, đa số các nhóm phản chiến luôn luôn trung thành lặp lại như vẹt đường lối Hà Nội từng nói là không có vấn đề miền Bắc xâm lược , mà chỉ là một cuộc chiến do Việt Công thưự hiện tại miền Nam .

Nhằm trả lời lại việc Bắc Việt xâm nhập, trong thời gian 1961-62 các cuộc tấn công bằng máy bay trực thăng và thiết vận xa M-113 Mỹ  đã gây tổn thất nặng nề cho các lực lượng của Quân đội nhân dân Việt Nam của Hà Nội , chiếu theo tạp chí chính thức của chúng. 667  Tạp chí Time số ngày 25 tháng 8 năm 1961 đã tường thuật một trận chiến thành công chống lại kẻ thù trong vùng Đồng Tháp Mười và chỉ huy bởi Đại tá Huỳnh Văn Cao mà đã được Mỹ huấn luyện. Trước khi lâm trận, Đại tá Cao giải thích chiến lược của ông cho Đại tá Schooley, một cố vấn Mỹ mà sau đó đã mô tả lại như là một lần đi câu cá chơi. 668  Trong vụ này, Cao đã sữa soạn và bung ra một cái bẫy phức tạp, sử dụng không quân và lục quân để dụ  địch vào Mỹ Tho trên kênh Đồng Tiến, loại được tới 500 bộ đội của Quân đội nhân dân Việt Nam trong khi QLVNCH không hề bị hao tổn, theo lời của Cao. 669 Sư đoàn 7 của Cao được vinh danh với một cuộc diễn hành tại Saigon. 670 Tuy nhiên từ tháng chạp đến tháng 2 năm 1962, các lực lượng của Việt Cộng đã tăng trưởng qua việc tuyển dụng ngay tại địa phương và qua việc xâm nhập từ con số 20.000 đến con số 25.000 bộ đội. Cao thì không tin tính cách chính xác của những con số này do từ phía tình báo Mỹ. 671

Từ ngày 16 tháng 2 đến 3 tháng 3, năm 1962, Đại hội Thứ Nhất của Mặt trận Giải phóng Quốc gia, với trên 100 đại biểu đã gặp nhau tại miền Nam Việt Nam và thông qua tuyên bố về chính sách 10 điểm của Ủy ban Trung ương Tạm Thời. Đại hội của Mặt trận Giải phóng Quốc gia,

Kêu gọi chấm dứt cuộc chiến tranh của Diệm chống lại nhân dân, rút các lực lượng can thiệp của Mỹ , bầu cử một tân Quốc Hội  và một tân Tổng thống thông qua tiến trình  bỏ phiếu “không-gian lận” , giải tán các trại tập trung và trả tự do cho  các tù nhân chính trị, chấm dứt phương pháp cưởng ép nhập ngũ có tính cách phe đảng, áp dụng các biện pháp khác nhau để chấm dứt nạn độc quyền về kinh tế của gia đình Diệm, tôn trọng Hiệp định Geneva năm 1954, cùng một chính sách ngoại giao hòa bình và trung lập.

Điều này là chiếu theo tên điệp viên KGB 672 kiêm nhà báo Wilfred Burchett Úc. Việc tuyên bố cam kết trung lập và chủ quyền toàn vẹn cùng nền độc lập của Đông Dương, gồm có miền Nam Việt Nam, Campuchia, và Lào. Đã có hứa hẹn bồi thường một cách công bằng cho các địa chủ trong việc cải cách ruộng đất; giúp cho các cựu quân nhân của Diệm; không có bất kỳ liên minh quân sự nào; thống nhất đất nước trong hòa bình của miền Bắc và miền Nam Việt Nam – trên nguyên tắc tự do và dân chủ, đàm phán và thỏa thuận giữa hai bên; cho phép miền Nam Việt Nam – được nhận viện trợ vô điều kiện … từ nhiều nước có hệ thống chính trị khác nhau ; tôn trọng . . . chủ quyền, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, chính sách hòa bình và trung lập của các vương quốc láng giềng Cam-pu-chia và Lào; và các lực lượng quân sự của họ long trọng cam kết sẽ không xâm phạm bất kỳ một tấc đất nào của lãnh thổ Cam-pu-chia và Lào … Trong thực tế, do một sự tình cờ, miền Bắc Việt Nam, dù là một thành viên của phe xã hội chủ nghĩa, lại không thuộc bất kỳ liên minh quân sự nào, Wilfred Burchett đã viết vậy. Các tù binh chiến tranh Mỹ đã gọi y, Wilfred Burchett, là tên Chuyên Môn Ăn Cứt Bò (Well-fed Bullshit). Hầu như không có gì y viết mà đã là sự thật và không có gì mà Mặt Trận Giải Phóng Dân tộc hứa hẹn đã thành hiện thực. Hà Nội … đã làm đúng ngược lại trong từng trường hợp một.  673

Tuyên bố này bảo đảm – bình đẳng tuyệt đối (của các dân tộc thiểu số) trong mọi lĩnh vực và việc thành lập các khu tự trị, nó còn hăm là Mặt trận Giải phóng Quốc gia sẽ … kiên quyết chiến đấu để … giải phóng miền Nam Việt Nam, để bảo vệ độc lập và dân chủ  và – Mặt trận Giải phóng Quốc gia sẽ sử dụng một cách có hiệu quả quyền hợp pháp để kêu gọi nhân dân và chính phủ Bắc Việt Nam, cùng các dân tộc yêu chuộng hoà bình, dân chủ và các chính phủ trên thế giới để … hỗ trợ về vật chất và nhân lực.

Burchett giải thích, – Người dân miền Nam Việt Nam đang dùng vũ khí để chiến đấu chống lại một – chủ nghĩa tân phát xít Á châu không kém phần nguy hiểm cho hòa bình thế giới như là  chủ nghĩa phát xít Âu châu của năm 1930. 674 Wilfred Burchett, một tên điệp viên của KGB, đã là một nhân viên gây ảnh hưởng rất có hiệu quả cho bọn Việt cộng, và nằm trong số rất nhiều tên trong phong trào phản chiến, như Tom Hayden, Cathy Wilkerson 675 và nhiều tên khác. Trong khi đó, vào năm 1961, Blair Clark, tay biên tập viên xã hội chủ nghĩa của tờ Nation mà nói chung có khuynh hướng Mác-xit, đã thuyết phục được chủ tịch CBS News là Richard Salant để giao cho Walter Cronkite điều khiển chuơng trình CBS Evening News, 676 trong tháng 4 năm 1962, một quyết định trọng yếu mà sẽ có rất nhiều ảnh hưởng đến kết quả của chiến tranh Việt Nam.

Mặt trận Giải phóng Quốc gia Xuất Hiện trên Chính Trường Quốc Tế

Về Quốc tế, Mặt trận Giải phóng Quốc gia đã chính thức ra mắt vào năm 1962 trong “Phe Xã hội Quốc tế.” Không một chính phủ phi cộng sản nào đã công nhận Mặt trận , trừ Indonesia.

Ngay từ đầu, Bắc Việt đã chỉ định một nhóm lãnh đạo tài năng và giàu kinh nghiệm cho Việt Cộng. Nguyễn Văn Hiếu trở thành Tổng thư ký của Mặt trận Giải phóng Quốc gia, MTGPQG vào tháng 3 năm 1962. Hiếu đã là “Lê-nin của MTGPQG.” Y đối phó với phương Tây cũng như với các nước Cộng sản. Y là một “thiên tài về khã năng tuyên truyền và tổ chức.” 677 Như chúng ta sẽ thấy, Hiếu đã gặp và chinh phục các tên lãnh đạo của phong trào phản chiến Mỹ tại Moscow, Helsinki, Bratislava, Stockholm, Hà Nội và chắc chắn còn ở nhiều nơi khác. Một phần những cá nhân này gồm có, Tom Hayden, Dave Dellinger, Rennie Davis, Barbara Bick (CPUSA), Vivian Rothstein, Norm Fruchter, Carol McEldowney, Cathy Wilkerson, Jeff Jones, Steve Halliwell, Bronson Clark, Sidney Peck, Cora Weiss, và Mike Myerson, đại diện cho Students for a Democratic Society, Women Strike for Peace, CPUSA‘s DuBois Clubs, Quakers và những nhóm khác.

Nhờ các quen biết của Hiếu và nhiều liên hệ đã được Hà Nội thiết lập, các tên Mỹ hoạt động phản chiến đã rất nhanh chóng bao gồm luôn Strike Ruth Gage-Colby của Women Strike for Peace. Thông tấn xã Việt Nam, TTXVN, vào lúc 14:28 giờ GMT ngày 20 tháng 3 năm 1962 đã cho biết:

Mọi phụ nữ Việt Nam đều hết lòng hỗ trợ Women  Strike for Peace,  … [Chúng tôi] đang rất phấn chấn … rằng phụ nữ Mỹ đang tham gia vào một chiến dịch để bảo vệ hòa bình thế giới …. Với cùng một ước muốn hòa bình –  phía phụ nữ Việt Nam luôn luôn sát cánh với phụ nữ Mỹ …  678

Ruth Gage-Colby đã gặp Thủ Tướng Bắc Việt là Phạm Văn Đồng.

Trong tháng 6 năm 1962 tại Hà Nội,  – Hầu như tất cả mọi người, từ những học sinh tiều học cho tới các phu kéo xe đều  tay đeo băng màu với khẩu hiệu “Đã đảo Ngô Đình Diệm”; các kẻ phản bội cho thấy là họ đang đẩy mạnh tuyên truyền chống lại Nam Việt Nam, nhắm trực tiếp vào ông Ngô Đình Diệm, Đặng Chí Bình, một điệp viên Nam Việt đã viết lại như vậy. 679

Trong khuôn viên các đại học Hoa Kỳ, thường chính bọn “em bé mang tã đỏ”, mà cha mẹ là đảng viên của cái đảng Cộng sản Mỹ, CPUSA do KGB của Liên Xô tài trợ, 680 đã là các tên tổ chức các cuộc biểu tình đầu tiên tại Mỹ để chống chiến tranh Việt Nam, ở Berkeley vào tháng 6 năm 1962. David Horowitz đã nhận diện chúng như là Bob Scheer, Maurice Zeitlin, Sol Stern, và Susan Griffin trong Radical Son của y. 681 Chúng tôi coi Tổng thống John F. Kennedy như là một tên lính xảo-quyệt của Chiến tranh Lạnh, một điệp viên tự do của giai cấp đế quốc đang cầm quyền mà phải chịu trách nhiệm về “ phóng xạ , Phản ứng, và Đàn áp”. 682 Tên cán bộ Berkeley này sẽ sớm dùng khẩu hiệu, – Đem Quân đội về”, bởi vì nếu các binh sĩ được đưa về nhà … thì Mỹ sẽ bị đánh bại, và Cộng sản sẽ chiến thắng –  một lợi ích cho cách mạng . 683 Chẳng bao lâu thì Horowitz đã tới London, nơi – mà Lev, nhân vật thứ ba tại Đại sứ quán Liên Xô, sẽ cố gắng tuyển dụng y để thu thập thông tin về NATO. Horowitz kể là y đã giận dữ trả lại phong bì với 150 tờ đô la một đồng. Sau đó, Lev đã tiếp tục cùng ăn trưa thường xuyên với những tên Mỹ khác mà Horowitz biết. 684 Các lưu trử  văn khố của Quốc tế Cộng sản ở Moscow cũng như của  FBI đã cho thấy rằng Liên bang Xô viết từ lâu từng tài trợ cho CPUSA Mỹ và đã tuyển dụng hàng trăm gián điệp  và các nhân viên Mỹ để phục vụ cho các mục tiêu của họ,  685 việc trưng dụng bọn thuộc viên cộng sản tại Mỹ thường đi du lịch của họ đã rất dễ dàng. Cũng vậy, cũng như đối với bọn hoạt động cho hòa bình không cộng nhưng lại dễ dàng bị quyến rũ để gia nhập các mặt trận nổi do cộng sản kiểm soát.

Khởi Đầu của Cộng Sản Việt – Lidice, Helsinki

Do Nguyễn Văn Hiếu lãnh đạo, MTGPQG , bọn Việt Cộng, đã ra mắt quốc tế lần đầu tiên tại Tiệp Khắc vào ngày 26 tháng 6 năm 1962. Trong thời gian ở đó, Hiếu đã đến thăm Lidice, một đài tưởng niệm Cộng sản của các nạn nhân của cả chủ nghĩa phát xít và vũ khí hạt nhân của Mỹ. 686 Sau đó, Hiếu đã tới Moscow, nơi mà tổ chức Công đoàn Đoàn kết nhân dân Á Phi và Đại hội Thế giới về Giải trừ Quân bị và Hòa bình đã chào đón y cùng phái đoàn. Một số phụ nữ Mỹ trong Women Strike for Peace, WSP, cũng có tham dự hội nghị giải trừ quân bị tại Moscow. Đúng như CIA đã nghi ngờ, 687 Liên Xô đã trả mọi chi phí của WSP, theo lời của Barbara Bick. 688 WSP sẽ cải thiện thêm mối quan hệ đã rất là thân thiện với bọn Cộng sản ở trong nước – gồm việc WSP khoe khoang  chào đón các tên Cộng sản qua các tiêu đề đập mắt về lời khai của – những “bà nội trợ và bà mẹ “ trước House Committee on Un-American Activities (Uỷ ban về Những Hoạt động Chống Mỹ) vào tháng chạp năm 1962. 689 Một số Cộng sản – Barbara Bick, Mary Clarke đã thuộc thành phần lãnh đạo chóp bu của WSP. 690 Mary Stalcup Markward xác định Barbara Bick,  lãnh đạo của WSP, là một đảng viên của Đảng Cộng Sản Hoa Kỳ CPUSA tại DC trong những phiên điều trần của thập niên 1950. Mary Clarke cũng đã nhìn nhận như vậy với tác giả Robbie Liberman.

 Trong tháng 7 năm 1962, Hồ Chí Minh đã nói với học giả Pháp Bernard Fall: “Chúng tôi sẽ vận động công luận thế giới về cuộc chiến bất công này mà đang chống lại nhân dân miền Nam Việt Nam.” 691 Các sứ giả của Hồ đã nhanh chóng tuyển dụng được một số lớn cán bộ Mỹ để mang thông điệp của y về một chiến tranh không công bằng trong khi các chiến dịch khủng bố của Cộng Sản đối với dân thường không may mắn trong thôn làng Nam Việt thì hiếm khi được loan tin đi.

Helsinki – Đại Hội Trẻ – Những Kẻ Đồng Sàng Kỳ Quái 1962

 Từ 29 tháng 7 đến 6 tháng 8 năm 1962,  số người Việt tham dự Đại Hội Giới Trẻ Thế giới tại Helsinki đã có cơ hội để gặp không phải là một số ít nhưng mà là cả 450 Mỹ kiều. Các tay giúp vui Pete Seeger, Phil Ochs, Tom Paxton, Judy Collins, Odetta và Bob Dylan đã giúp gây quỹ tại Đại học Thành phố New York, mà cuối cùng cũng là để trang trải chi phí cho nhiều tên Mỹ đi buồi gặp mặt thân mật của Liên Xô tại Helsinki. Willard Uphaus, kẻ ủng hộ mặt trận Cộng sản  692 và Carlton Goodlettt với Victor Rabinowitz, từng bị xác định là đảng viên của Đảng Cộng Sản Hoa Kỳ CPUSA  693 đã gởi một lá thơ nhằm gây quỷ cho đại hội vào ngày 2 tháng 4 năm 1962, công bố trên tờ National Guardian. Nguyễn Văn Hiếu rất có thể cũng đã tham dự Đại Hội Giới Trẻ Thế giới tại Helsinki. Bobbie Rabinowitz, một thành viên của Liên đoàn Thanh Niên Cộng sản đã nhớ lại, – Chúng tôi … gặp đoàn đại biểu Việt Nam và biết được về sự tham gia của Hoa Kỳ ngày càng gia tăng trong khu vực đó. (Thông tin này đã bị che dấu với chúng tôi ở nhà).  Trước đó, chủ đề tuyên truyền này đã được phát triển:  – Chúng ta phải giúp đở những người đã bị tra tấn bởi chính phủ Mỹ. Điều chính nhất là –  “Hầu hết tất cả – (Chúng tôi) … đã có thể có được tài liệu để mang về cho một phong trào phản chiến chống cuộc chiến Việt Nam mà hãy còn non dại …  694 Các tên cùng tham dự đã ngã theo cộng sản đã là Charles Berrard, 695 Michael Eugene Myerson, Harold Supriano 696 và Michele Hall, con gái của Longshoremen  thuộc Đảng Cộng sản Mỹ do  Liên Xô kiểm soát ở Hawaii và vợ tương lai của Dân Biểu Tiểu bang, Thượng Nghị Sĩ Tiểu bang, rồi là Dân biểu và Chủ tịch Đảng Dân chủ John Burton (Dân chủ -California). 697 Giáo sư Howard Zinn, một đảng viên được xác định của Đảng Cộng Sản Hoa Kỳ CPUSA rất tích cực trong các mặt trận cộng sản (American Peace Mobilization và đãng Cộng sản New York CP bị khuynh đảo bởi American Veterans Committee), đã giúp tuyển mộ người tham dự đại hội Helsinki. 698

Trong thời gian đó, Gloria Steinem đã được CIA tuyển dụng hầu xâm nhập vào buổi hội thảo cộng sản này và để tài trợ – cho số người Mỹ tự do tham gia trong số 450 thành viên của nhóm hòa bình Mỹ và các hoạt động viên của CPUSA. Điều này chỉ là vô ích. Trong số những người mà Steinem tuyển dụng dưới chiêu bài CIA, Independent Research Service (Dịch vụ Nghiên cứu độc lập) , thì đã có Zbigniew Brzezinski, Barney Frank, 699 Clay Felker, 700 Mục sư rất cấp tiến William Sloan Coffin, luật sư Tom Garrity và phóng viên Robert Kaiser. 701 Trong số những người được mời, nhưng không tham dự đã là Michael Harrington và Tom Hayden. Hayden đã đồng ý tham dự với tư cách là đại biểu của National Student Association (Hiệp Hội Sinh viên Quốc Gia) , nhưng đã bị trở ngại về lịch trình. 702 Hayden tuyên bố là Steinem, – đã giải thích được làm thế nào mà một phái đoàn Mỹ bao gồm nhiều người tự do lớn tiếng như tôi lại có thể bảo vệ Hoa Kỳ để chống lại các đoàn đại biểu do Liên Xô tài trợ trong lễ hội năm 1962 Helsinki mà đã rất háo hức để khai thác việc kỳ thị chủng tộc tại Mỹ. Trong thực tế, Hayden đã chống lại các nhà xã hội dân chủ và rất căm thù các người có khuynh hướng tự do. Mùa xuân đó tại Port Huron, Michigan ở hội nghị sáng lập của Students for a Democratic Society , Hayden đã đánh bại Michael Harrington, có khuynh hướng dân chủ xã hội , người đã mong muốn loại trừ cộng sản ra khỏi Tân Tả Phái. Tuyên bố của Hayden tại Port Huron đã chấp nhận tư thế của công luận về sự tương đương đạo đức giữa chủ nghĩa đế quốc Mỹ và chủ nghĩa đế quốc Cộng sản. Tuy nhiên, Hayden và SDS đã không hề tin tưởng nơi sự tương đồng này mà lại chỉ nghỉ là Cộng sản có một tầm nhìn cao hơn về tương lai.

Vài người tuyệt đối chống cộng sản mà đã tham dự lễ hội Helsinki, với tư cách cá nhân, đã là Tin Mừng Ki-tô hữu John Jesberg và Linh mục William A. Drury với Young Americans for Freedom, YAF, chỉ vừa mới được thành lập dưới sự bảo trợ của Bill Buckley tại Sharon, Connecticut. Đã có tuyên bố là –  Chưa bao giờ trước đó đã có từng ấy số đông đảng viên Cộng hòa trẻ tuổi mà lại phân phối được từng ấy văn phẫm xã hội một cách nhiệt thành như vậy. ”

 Vài ngưòi đã gây phiền toái tại Helsinki; Linh mục Drury nhớ lại đã tranh luận với Cộng sản:

Tôi đã nói rằng họ làm thay đổi các cuộc sống … trẻ em ở Việt Nam đã chết vì chủ nghĩa cộng sản và họ đã làm thay đổi cuộc sống của những đứa trẻ đó. Vì vậy, đã có vô số phản đối la ó  và khi chúng tôi đã cố gắng [để nói chuyện] …thì tên phá thối cộng sản mà  nói được tiếng Anh đã bảo đây là”  lễ hội của chúng tôi”. Không ai muốn có qúy vị. Quý vị  không hề được mời. Chúng tôi đến đây để hội  họp giữa chúng tôi. “

Tạp chí Time  tường trình là các sinh viên Phần Lan đã tích cực cố gắng phá hoại lễ hội Thanh niên cộng sản ở quê hương của họ. [CIA tài trợ?] – Sinh viên Phần Lan đã thuê bao tất cả các xe buýt ở Helsinki … đã thuê trụm tất cả các phòng khách sạn có sẵn. Trong suốt hai đêm lễ hội, 5.000 thanh niên thanh nữ Phần Lan đã hô to những khẩu hiệu chống cộng sản, … đã từ chối giải tán …. cảnh sát kỵ mã đã tấn công … đã ném hơi cay và sử dụng vòi chữa lữa. Độ 149 người đã bị bắt giữ và 14 người Đông Đức đã đào thoát.

Steinem có nói với tờ New York Times vào năm 1967, “Tôi không bao giờ bị yêu cầu phải báo cáo về những người Mỹ khác hoặc đánh giá các người ngoại quốc mà tôi gặp.” Trong thực tế, để thỏa mãn C.D. Jackson, Steinem đã có viết về các liên hệ tả phái của nhiều người Mỹ khác nhau đối với Ủy Ban Lể Hội do Liên Xô hậu thuẫn. 703 Và vào tháng 2 năm 1962, FBI đã quyết định hành động với Ủy ban tổ chức Lễ hội Hoa Kỳ của Đại Hội Thế giới Giới Trẻ lần thứ tám khi thực hiện hai lần xâm nhập lén lút – ngày 16 tháng 2 năm 1962 và buổi sáng ngày 7 tháng 6 năm 1962 – văn phòng của lễ hội tại số 460 Park Avenue. FBI đã chụp 225 bức ảnh mà trong đó có 200 tên cùng địa chỉ của các kẻ tham dự. 704 Các cuộc xâm nhập của FBI đã phát hiện ra rằng không thiếu gì kẻ cầu mong hoạt động cho Liên Xô – để làm việc cho hòa bình.

Và ở Nam Việt, cũng đã có những tên phát ngôn viên rất thoải mái khi tường trình về những quan điểm của cộng sản Việt Nam với thế giới.

David Halberstam: Một Phóng Viên của Hướng Đạo và Các Nguồn Tin Bất Khã Tín: John Paul Vann và Phạm Xuân Ẩn

Chúng tới  trại, rồi trà trộn  vào bọn lười biếng và thu lượm  tin đồn nhãm để rồi in ra như là những sự kiện có thật.

Tướng  William Tecumseh Sherman

Trong tháng 11 năm 1962, kẻ tốt nghiệp Đại học Harvard và là một phóng viên trẻ của New York Times tại Sài Gòn, David Halberstam, 28 tuổi, đã hướng dẫn Việt Cộng bằng cách viết một bài báo cho độc giả của y, kể cả Việt Cộng, làm cách nào để tấn công các lực lượng Nam Việt Nam có hiệu quả hơn. Nguồn tin của y là một cố vấn Mỹ vô danh. 705 Sử gia Mark Moyar cho rằng trong vòng chỉ mười lăm tháng, Halberstam đã làm hại nhiều đến các quyền lợi của Hoa Kỳ hơn bất cứ nhà báo nào khác trong lịch sử nước Mỹ.  706 Trong số các nguồn tin của y, Halberstam đã dựa rất nhiều vào hai kẻ: một cố vấn quân sự Mỹ cho Nam Việt – John Paul Vann và một gián điệp của Bắc Việt là Phạm Xuân Ẩn, hay còn gọi là Trần Văn Trung, bí danh là Z.21, 707 với tên khai sanh là Nguyễn Văn Trung. John Paul Vann là một kẻ tham vọng, mà sự nghiệp đang tiến đã bị dừng lại bởi việc bị truy tố về hiếp dâm chiếu theo hồ sơ quân sự của y, đã từng cung cấp cho các nhà báo một cách liên tục những loại giải thích tiêu cực cùng những điều hoàn toàn láo khoét về khã năng của Mỹ và đặc biệt là của Nam Việt. 708 Phạm Xuân Ẩn, tên mà đã chinh phục và trỏ thành rất thân cận với các sinh viên, các phóng viên 709 và các cấp chỉ huy quân sự hàng đầu Mỹ cùng các giới chức CIA sẽ trở thành một anh hùng của Quân Đội Nhân Dân, được ban thưởng mười sáu Bằng Khen Thưởng về Khai thác Quân sự và được thăng cấp lên Tướng nhờ công lao cung cấp tình báo chiến lược cho Bắc Việt, 710 kể cả các học thuyết và tài liệu thực hành chống nổi dậy của Mỹ. Ẩn đã có một lớp võ ngoài được chuẩn bị rất chu đáo như là kẻ do trưởng trạm CIA là Edward Lansdale đở đầu, đã từng là sinh viên bảo trợ bởi Asia Foundation ở California, 711 đã là một nội trú thực tập tại tờ Sacramento Bee 712 ở Sacramento và đã là phóng viên cho Reuters và tạp chí Time.

Việc tạo ảnh hưởng trong giới báo chí tại Nam Việt Nam đã đem lại một phần thưởng sớm và lâu dài về tuyên truyền trong việc tường trình một trận cốt yếu đầu tiên có vai trò cố vấn của Mỹ cho Quân đội miền Nam của Việt Nam Cộng Hoà , Quân Đội VNCH. Bởi vì nó sẽ trở thành khuôn mẫu của – sự thất bại,  cho đa số các tường thuật về các cuộc chiến ở Nam Việt Nam,  nên ta cũng cần thảo luận vô chi tiết.

Trận Ấp Bắc: Một Câu Chuyện Về Chiến Tranh mà đã bị Tường Thuật Lại Một Cách Sai Lầm

Ngày 20 tháng 7 năm 1962, Sư Đoàn 7 đã xuất sắc thực hiện một cuộc tấn công ban đêm quy mô bằng trực thăng vận tấn công một tiểu đoàn Việt Cộng trong vùng Đồng Tháp Mười và đã loại khỏi cuộc chiến 141 bộ đội và chỉ thiệt hại mất 30 quân nhân. 713 Năm 1962, tướng Huỳnh Văn Cao tuyên bố đã diệt trừ hơn 4.000 Việt Cộng – phân nửa toàn bộ tử vong của quân đội miền Nam Việt Nam. Số cố vấn thận trọng của Mỹ đã tính ra là Sư đoàn 7 của tướng Cao chỉ huy đã loại được không ít hơn là 2.000 trong năm 1962. (Các con số bị cáo buộc là được thổi phồng của Mỹ hóa ra đã là quá thận trọng – chỉ là độ phân nữa tổng số mà sau đó Bắc Việt  đã thừa nhận sau chiến tranh). Dưới sự lãnh đạo của Tướng Huỳnh Văn Cao vào cuối năm 1962, Sư Đoàn 7 QLVNCH đã được công nhận là một trong những đơn vị chiến đấu can cường và thành công nhất trong quân đội miền Nam Việt Nam. Tướng Cao cũng là một người trung thành với Diệm, luôn luôn sẵn sàng để bảo vệ Diệm chống lại các mối hiểm nguy thường trực của một cuộc đảo chính quân sự do giới mưu đồ chính trị tại Sài Gòn. Cho tới năm 1963,  tất cả các sư đoàn của QLVNCH đều được tự do soạn thảo các chiến lược quân sự của riêng họ, Tướng Cao nhớ lại như vậy. 714

Hình: Bộ Sưu tầm của Tướng Huỳng Văn Cao: diển hành chào mừng tại Sài Gòn sau chiên thắng Đồng Tiến, 1962

Thường thì Việt Cộng bỏ chạy đi thay vì đứng lại chiến đấu. Phạm Xuân Ẩn, rất được  tin cậy bởi báo chí và CIA,  715, đả có được các bản sao về các chiến lược và chiến thuật chống nổi dậy bí mật của Mỹ , bèn chụp ảnh, phân tích, bọc các tường trình này chung  trong số cá ương và chuyển về Hà Nội. 716 Người đưa thư lâu năm của y đã là Nguyễn Thị Ba và tên xếp về tình báo của y tại Củ Chi là Tư Canh. 717

Vì vậy ngày 3 tháng giêng năm 1963, đột nhiên Việt Cộng lại rất am tường về chiến thuật (nhờ Phạm Xuân Ẩn) và gây ra thương vong nặng cho Sư đoàn 7 từ những vị trí tăng cường kiên cố trên kênh đào bao quanh ba mặt của thôn Ấp Bắc. Lực lượng miền Nam Việt Nam đã bị tổn thất nặng nề khi cố gắng để tiến và lún trong xình lầy đến đầu gối trong các cánh đồng lúa, với kẻ địch đã bao vây trọn ba hướng dẫn đến làng. Trước trận chiến, một viên cố vấn Mỹ quá tự tin, John Paul Vann, đã phản đề nghị một chiến lược mà Tướng Cao và Đại tá Bùi Đình Đàm đã đồng ý tại sân bay Cần Thơ vào đầu tháng giêng. Để thống nhất chỉ huy, Đại úy Lý Tòng Bá phải chỉ huy hai đại đội. Sau khi Đại tá Nguyễn Hữu Hạnh và viên cố vấn,  Đại tá Daniel Boone Porter công bố một kế hoạch đã bị sửa đổi, Cao nói ông đã nói với Hạnh và Porter là , – Sư đoàn 7 sẽ không thắng trận kỳ này. Kế hoạch này đã không được thi hành như tôi đã đề nghị với Đại Tá Đàm trước đó. Thay vào đó họ đã thi hành kế hoạch tấn công của John Vann .  718

Trong suốt trận chiến, viên cố vấn Mỹ quá tự tin mà lại thiếu thận trọng , John Paul Vann, đã ra lệnh tấn công bằng bộ binh được trực thăng vận thẳng vào các lực lượng Việt Cộng đang trực xạ. Hậu quả cho trực thăng là – năm chiếc bị phá hủy và chín chiếc bị thiệt hại – đã có tiếng vang xấu và thêm lại có ba người Mỹ bị thiệt mạng. Các cuộc tấn công với thiết xa, nhưng lại mở nắp chỉ huy , cũng không khá gì hơn. Không có đơn vị, hay trực thăng, hay thiết giáp nào đã phá bỏ và vượt qua được các công sự sắp xếp kiên cố khắp ba mặt của Việt Cộng trên các cánh đồng lúa đó.

Đại úy Lý Tòng Bá, thông thường nguyên là một kẻ chỉ huy rất năng động, đã đình lại việc tăng viện thêm quân vào một cái mà nay ông đã biết là một bãy chết. Tướng Cao đã ra lệnh ngược lại với cố vấn John Paul Vann không dùng bộ binh tấn công xuyên qua 180 ‘yards’ bùn lày. Thay vì vậy, Cao đã gọi pháo binh và máy bay đánh các tuyến VC. Chiến thuật này sau này sẽ trở thành tiêu chuẩn bất cứ khi nào Cộng sản đám đứng lại để  chiến đấu. Việc không may là VC chỉ đã chiến đấu chỉ vào những thời điểm và địa điểm mà chúng lựa chọn  – khi mà không hề bị cản trở theo các quy tắc tác chiến của Mỹ nhằm cấm đuổi theo sang Lào hoặc Campuchia.

Ngay sau đó John Paul Vann đã che đậy các sai lầm gây thất bại của mình – một trực thăng vận thực hiện rất lụm cụm và một quyết định vô trách nhiệm để xung phong vô kẻ địch như sắt thép đang nằm kích sẳn trong bùn – bằng cách đổ lỗi cho người  Nam Việt là ráng tránh thương vong. Tuy nhiên, trong năm 1963, Nam Việt  đã bị 14.000 thương vong, 719 nếu so tương đương thì hơn nhiều số tử vong của Mỹ.

Sau trận này, Phạm Xuân Ẩn, tên điệp viên và phản tuyên truyền của Hà Nội , “đã đâm bổ vô văn phòng [báo chí]” … và từ đó trở đi – đã chứng minh tầm quan trọng của “ trận chiến” là thế nào cho các ông chủ của y như là Nick Turner và Neil Sheehan và David Halberstam. 720  Phạm Xuân Ẩn đã nhớ lại , – Tôi đã ở đó … giúp các đồng nghiệp của tôi hiểu được những gì đã xảy ra … Tuy nhiên dù ảnh hưởng của Ẩn tại Ấp Bắc đến mức nào thì , ở độ tối thiểu nào đó Ẩn cũng đã chứng thực được cho lập luận đầy căm giận của Vann nhằm tự biện minh để giải thích cho sự sai lầm về vai trò cố vấn quân sự của mình với tin sai lạc về kết quả trận chiến của phía QLVNCH và Ẩn đã bênh vực cho Vann.

 Sau này thì Ần đã nói với người viết tiểu sử mà đã rất ngưỡng mộ y là Larry Berman, – Ấp Bắc cho thấy những sai lầm về sự lãnh đạo của QLVNCH và về chính sách dựa trên lòng trung thành với Diệm mà không nhằm vào khã năng chuyên nghiệp. Ẩn cho biết Tướng Huỳnh Văn Cao là một kẻ hèn nhát yếu kém , mà đã được nhanh chóng nâng chức chỉ vì đã – hôn tay của Nhu và Diệm.  721 Nhiều người đã tin rằng Cao là một kẻ hèn nhát. Các phóng viên non trẻ đã không biết được về kinh nghiệm chiến trường nổi bật của  Cao chỉ vài tháng trước năm 1962 và cuộc diễu hành ăn mừng mà Tổng thống Diệm dành cho Cao và lực lượng của ông ở Sài Gòn. Phạm Xuân Ẩn đã không hề kể vậy.

Làm thế nào mà giới truyền tin lại dễ dàng bị lừa như vậy? Trung tá Pete Conaty, (sĩ quan Mỹ hồi hưu), từng là bạn tại đại học với Phạm Xuân Ẩn ở  Orange Coast College và sau đó đã là một sĩ quan tình báo tại Việt Nam có nhận xét, – Bởi vì người Mỹ chúng ta quá yếu kém về ngôn ngữ ngoại quốc nên chúng ta có xu hướng tin tưởng ngay lập tức người ngoại quốc nào mà nói được tiếng Anh. Conaty tin là – Nếu không có kinh nghiệm tại Orange Coast College cùng với khã năng nói được tiếng Anh, Ẩn cũng đã chỉ là một người Việt vô danh tiểu tốt như bất cứ người Việt nào tại Sài Gòn. Và bởi vì y đã từng đến Mỹ và lại thích chúng ta, nên y phải đáng tin cậy.  722 Ảnh hưởng của Ẩn rất tế nhị. Bill Laurie và Mike Benge lập luận rằng y đã chỉ cung cấp thêm vào kiểu loan tin có thành kiến trước của các phóng viên. Quả đã không có gì là khó khăn khi muốn ảnh hưởng vào các kẻ đã có thành kiến sẳn để chạy tựa các bài . 723 Trong số 60 phóng viên làm việc thu thập tin tức tại Việt Nam vào cuối 1968 thì không một ai nói được tiếng Việt, chỉ một số rất ít là có kinh nghiệm quân sự, đa số không dám mạo hiểm ra khỏi Sài Gòn để chứng kiến chiến tranh, và rất ít đã học được một chút gì trong suốt các nhiệm kỳ ngắn hạn của họ mà chỉ kéo dài từ 1 đến 18 tháng (về giới Truyền Hình thì chỉ 1 đến 6 tháng). 724 Ngoài ra, trong những năm đầu của thời kỳ  Mỹ tham dự thì nhiệm sở tại Sài Gòn không phải là một nhiệm sở có tính cách tưởng thưởng cho phóng viên. Các phóng viên lão luyện về châu Á, các phóng viên có kinh nghiệm về chiến tranh và các phóng viên truyền hình đã không được giao phó nhiệm vụ toàn thời gian ở đó. Tạm thời thì họ đã phải bay từ các nhiệm sở tốt hơn, ví dụ như Robert Shaplen thì từ Hồng Kông.

Hoàn toàn khác xa với việc bị chê là hèn nhát – vì không muốn bị thiệt hại như câu chuyện kể cứ đã từng bị lặp đi lặp lại – tại Ấp Bắc có 80 người Việt đã hy sinh và có 100 người bị thương. Trong thực tế, suốt toàn bộ cuộc chiến, Nam Việt đã có số thương vong –  lớn hơn nhiều so với tổng số thiệt hại của toàn bộ các lực lượng đồng minh Mỹ, Hàn Quốc, Úc và Tân Tây Lan.  725 Tại Ấp Bắc, Quân Lực VNCH đã bị thiệt nhiều nhưng cũng gây tổn thương nhiều cho địch – các đơn vị trang bị hùng hậu của Việt Cộng cũng đã bị mất khoảng 100 bộ đội do quân đội  Nam Việt.

Khi trời tối lại, cuối cùng thì Việt Cộng đã lợi dụng bóng đêm để rút đi qua các cánh đồng lúa đầy bùn  – đã không phải là một hành động hèn nhát, nhưng mà là thận trọng, mà Tướng Cao cũng đã khôn ngoan thi hành ngày hôm đó, nhưng mà John Paul Vann lại đã lên án để tự bào chữa, và điệp viên Phạm Xuân Ẩn đã đúc kết rồi bán tin đi hay chỉ cần xác nhận với các tay nhà báo non dại rằng là vì hèn nhát. Vann và báo chí đã ta thán là  toàn bộ một trung đội địch đã thoát được ra ngoài, ít kẻ đã biết được là ngay Tướng Montgomery và Patton cũng đã không thể ngăn chặn bốn sư đoàn Đức thoát khỏi đảo Sicily trong Thế Chiến Thứ 2. 726 Sau trận Ấp Bắc, dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Khoa Nam, Sư Đoàn 7 Bộ Binh QLVNCH một cách kỳ diệu, một lần nữa đã trở thành một – đơn vị rất thiện chiến.  727 Sư Đoàn cũng sẽ chiến đấu rất tốt đẹp trong những giờ cuối cùng của cuộc chiến vào năm 1975. Sự thật đúng là Sư Đoàn 7 của QLVNCH quả đã không bao giờ là một đơn vị hèn nhát , trước, trong hoặc sau trận Ấp Bắc.

Ngay sau đó, – truyền đơn tuyên truyền của Cộng sản, in bốn màu rất chuyên nghiệp, được rải khắp đồng bằng để ca ngợi các bộ đội của trận Ấp Bắc.  728  

Tuyên truyền đã cho thấy Việt cộng diệt tăng và trực thăng bằng súng cá nhân và tay không.

Tem. Việt Cộng Diệt tăng và Trực thăng, do Nat Wrad cung cấp

 

Và kể từ đó thì giới truyên tin Mỹ chỉ đơn giản không bao giờ tường thuật các chiến công của  QLVNCH nữa. Có những ví dụ rõ ràng về giá trị của QLVNCH. Khi sử dụng tin tình báo một cách có hiệu quả cùng với những chiến thuật vượt trội ở Quảng Ngãi, ở Tây Nguyên, trong tháng 4 năm 1963 Đại tá Lữ Lan đã chỉ huy một trung đoàn của Sư đoàn 25 Bộ binh miền Nam Việt Nam để tiêu diệt toàn bộ lực lượng chính quy Việt Cộng . Câu chuyện về lòng dũng cảm và khã năng của QLVNCH tại Quảng Ngãi đã phần lớn không được báo chí ngoại quốc tường thuật. Để làm việc này thì cần phải theo một chuyến bay đêm từ Saigon 729 và lại phải tường trình ngược lại với kiểu khuôn mẫu trận Ấp Bắc về đặc tính hèn nhát, bất tài và tham nhũng. Tương tự như vậy, Bill Laurie đã thông báo cho phóng viên Donald Kirk của Chicago Tribune là , Sư đoàn 7 đưới quyền Tướng Nguyễn Khoa Nam tại Đồng Tâm đã – liên tục đánh nát VC / bộ đội Bắc Việt,  nhưng Kirk đã không thèm loan tin này. 730 Rồi John Berthelson của Newsweek đã nói với nhiếp ảnh gia Armond Noble của tạp chí Time là nhân một trận chiến vào cuối năm 1966 hoặc đầu năm 1967, các đơn vị của  QLVNCH đã giết  400 quân Bắc Việt và xếp xác chồng lên nhau như phơi củi cho mọi người xem. Câu chuyện đáng sợ này đã được Berthelson viết lại nhưng đã bị từ chối đăng  trên tạp chí Newsweek, nhưng ông đã không khiếu nại thêm sau đó. 731

 

Từ đó, huyền thoại về sự hèn nhát của  Nam Việt tại Ấp Bắc và trên tất cả các chiến trường khác, dù bất kể có biết bao nhiêu sinh mệnh đã bỏ cuộc trong chiến tranh, đã trở thành tiêu chuẩn cho sự khôn ngoan thông thường mà cứ mãi bị luân lưu bởi các phóng viên như là Neil Sheehan, David Halberstam, Stanley Karnow, và nhiều tên khác. 732

 

Một cách chắc chắn, toàn thể tin tức về QLVNCH rất là nhỏ nhoi. Ví dụ, với gần 10.000 bản tin về chiến tranh Việt Nam của ABC, CBS và NBC thì chỉ có 392, một con số 2,7% nhỏ xíu, là liên quan đến QLVNCH hay các đề tài liên hệ. 733 Và việc chỉ một vài tin như trận Ấp Bắc mà lại đã có thể được sử dụng để nói lên toàn bộ khã năng của QLVNCH. Trong trận Tết năm 1968, trong trận tấn công Phục Sinh vào năm 1972 và trong cuộc chiến cuối cùng trong năm 1975, những người lính và người dân của miền Nam Việt Nam đã không bao giờ nhận được sự công nhận về lòng can đảm và khã năng  bảo vệ nhà cửa trước nạn xâm lược của Cộng sản.

 

Ta có thể hình dung ra như thể y đang quỳ dưới chân  Phạm Xuân Ẩn và John Paul Vann để tỉ mỉ ghi chú lại mọi lời sai bảo, sau đó thì Halberstam đã sớm viết trong tờ New York Times, – Các cố vấn [Vann và Ẩn] đều cảm thấy là vẫn còn có quá nhiều chính trị can dự vào và việc thăng thưởng đã quá thường xuyên phụ thuộc vào lòng trung thành chính trị hơn là khả năng quân sự . 734  Ngày 17 tháng 4 năm 1963, thì tới phiên CIA tham gia hợp xướng với Phạm Xuân Ẩn,  – việc thăng thưởng đã quá thường xuyên phụ thuộc vào lòng trung thành chính trị với Diệm hơn là khả năng quân sự.  735  Sau đó thì Halberstam đã nói với Sheehan, Phạm Xuân Ẩn đã là một khuôn mặt chính trong cuộc chiến do khả năng có ảnh hưởng đối với các nhà báo Mỹ mà y đã có. Ẩn sau đó đã khẳng định là y không bao giờ loan tin sai. 736

 

Với những lập luận quân sự vững chắc, phóng viên thời Thế Chiến 2 về Guadalcanal là Richard Tregaskis, Đại tá Daniel Boone Porter, nhân viên OSS kỳ cựu Roger Hilsman, và viên cố vấn là Đại Úy Andrew P. O’Meara đã tuyên bố hoàn toàn trái ngược lại với tên gián điệp Ẩn, với Halberstam và với CIA. Họ đều nghĩ rằng John Paul Vann đã xuyên tạc Nam Việt  nhân vụ Ấp Bắc. Trung tướng Dave R. Palmer sau đó đã viết rằng quyết định sử dụng pháo binh và hỏa lực của trực thăng để cứu quân mình của Cao là đúng với những gì các vị chỉ huy chuyên nghiệp Mỹ đã thường xuyên thi hành sau đó. Nếu làm khác hơn thì đủ để có lý do cách chức Tướng Cao . 738  Tướng H. Norman Schwarzkopf đã nói với khán thính giả Mỹ rằng các khuôn mẫu báo chí chê trách Nam Việt hèn nhát, bất tài và tham nhũng đều chỉ là những lời tuyên bố xấu xa. 739

 

Vài ngày trước khi bị ám sát, Diệm đã rất nhân đạo chỉ phê bình John Paul Vann là – thiếu thận trọng.

 

Hạ thấp lòng trung thành cá nhân đã là một lời chỉ trích kỳ lạ mà lại trống rõng về tính cách đạo đức chính trị toàn cầu. Hồ Chí Minh, JFK, LBJ  740 và Richard Nixon đã thường đặt nặng giá trị của lòng trung thành hơn lá khã năng. Hơn nữa, có khã năng mà thiếu trung thành, ví dụ như Cassius, Brutus, Benedict Arnold, Vichy, Quisling, đã là mầm móng của phản bội, phản quốc, đảo chính và ám sát. Tất nhiên, các chính trị gia chỉ bổ nhiệm những người trung thành với họ, mà nhiều người cũng rất có khã năng. Một số khác thì không. Âm mưu chính trị và mưu toan đảo chính ở Sài Gòn và Huế đã khiến cho việc trung thành trở thành một điều thiết yếu cho Diệm và những người sau đó kế tiếp ông để nắm được quyền lực. 741 Sự việc không thể khác được. Việc này không khiến cho tính cách vô khã năng trở thành một đức tính, nhưng lòng trung thành thì vẫn được xếp hạng cao nhất.

 

Chương Ấp Bắc trong lịch sử đã được in sau trong tâm trí của Halberstam, rồi xuyên qua  các trang của tờ New York Times và tồi tệ hơn nữa là vào luôn cách tình báo CIA ước tính cho các nhà lãnh đạo về chính trị. Theo Times và nhiều nguồn tin khác thì quả đã có sự cố tình nghi ngờ có tính cách tiêu cực. Điều này phát triển thành một khuôn mẫu về hoài nghi và chua cay mà gần như hoàn toàn chỉ để đánh giá phía bên đồng minh. Tâm lý có tính cách gọi đàn tại Sài Gòn đã từng nhạo báng những phóng viên nào mà đã tường trình  tốt là đã bị giới quân sự lừa gạt hoặc tung tin cho một tổng thống chế có tính cách đế quốc. Khi nhìn lại thì các nhân vật huyền thoại tại Việt Nam, như Halberstam và Sheehan, đều là những khuôn mặt có tính trò hề bị phỉnh gạt trong lịch sử của Việt Nam.

 

Nhà báo Úc Peter Arnett đã phàn nàn rằng sau trận Ấp Bắc Đại sứ Nolting đã muốn các phái đoàn báo chí Sài Gòn – chấm dứt những lời chỉ trích ăn không ngồi rồi, châm dứt các lời nhận xét khắc nghiệt và các ý kiến không cần thiết cũng như loan truyền các cáo buộc và tin đồn có nguồn gốc từ phía Cộng sản hay phụ giúp cho chúng.  742 Chester L. Cooper, viên chức về An ninh Quốc gia đã cho biết, – Tổng thống phải đối phó với hai cuộc chiến không tuyên bố, một là với Việt Cộng, và hai là với báo chí Mỹ, trong khi ở Sài Gòn bà Nhu đã gọi các phóng viên Mỹ là tồi tệ còn hơn là Cộng sản.  743 John Mecklin, Trưởng Phái bộ Thông tin Mỹ cho biết, –  Một người từ sao Hỏa xuống  … thì cũng có thể được tha thứ nếu đã nghỉ là các phóng viên, cũng như Việt Cộng, đều là kẻ thù.  744  Khi nhìn lại, Lyndon Johnson và bà Như đều có lý. Báo chí khi tườngtrình dưới chiêu bài khách quan của họ, đã tỏ ra đáng tin cậy hơn và đã có hiệu quả hơn trong việc phá hoại sự lãnh đạo của đồng minh hơn là ngay báo chí cộng sản trong khi mà họ vẩn còn tiếp tục tham khảo và tin tưởng tên điệp viên Phạm Xuân Ẩn với Đài phát thanh Hà Nội. Quả thật đáng buồn khi tường trình là Tổng thống Diệm và tướng lãnh của ông tham nhũng, độc ác và bất tài đúng y như sách Cộng sản khi dùng … – những hình ảnh và cáo buộc với ngôn từ y  hệt – như đã dùng để phá hủy danh tiếng của Tướng Draja Mihailovich ở Nam Tư và Tưởng Giới Thạch ở Trung Hoa. 745 Cơ quan tiền nhiệm của CIA từng thân thiện với Cộng sản đã có thể xác nhận về các cuộc tấn công tuyên truyền kiểu này. Sau cuộc đảo chính và các vụ ám sát của thời Diệm thì đã không có một bằng chứng nào khã dỉ cho thấy được bất kỳ người thân nào của Ngô Đình Nhu là đã … làm giàu cá nhân một cách cực kỳ.  746 Cũng vậy, dưới thời Thiệu, Trung Tướng Đặng Văn Quang, một người thân cận của Thiệu đã bị đồn và báo cáo là tham nhũng vì buôn bán ma túy. Merle L. Pribbenow đã viết một báo cáo bí mật cho CIA với kết luận là Quang không phải là một kẻ buôn ma túy. Hơn nữa sau đó thì Quang đã sống một cuộc sống gần như cơ cực ở Mỹ và phải cư trú trong một nhà dưởng lão tại Sacramento, California. 747 Bôi nhọ cá nhân đã là một  nghệ thuật của cánh tả mà theo đó, các cứu cánh của một xã hội chủ nghĩa không tưởng do một thiểu số điều khiển đã biện minh cho bất cứ phương tiện nào.

 

Trong nhiều nền văn hóa thì khi được tham dự đã được xem như là một phần của việc khen thưởng. 748  Việc hối lộ rồi thì cũng sẽ được xem như không hơn gì việc cho tiền chạy bàn. Tham nhũng là một khía cạnh của cuộc sống tại Chicago và thường thì là tiêu chuẩn tại New Jersey. Công chức chính phủ tham nhũng và bọn cảnh sát hư thối đã là lịch sử của các thành phố Los Angeles, New York, Chicago, New Orleans … tham nhũng đã là đặc tính của lịch sử loài người và bản tính trời sinh của con người và là một vấn nạn tại miền Nam Việt Nam. Ấy vậy, chính bọn cầm quyền Liên Xô và các tay công tử mới của Trung cộng mới đã thực sự hoàn thiện nghệ thuật tham nhũng. Số đông cán bộ ViệtNam, cao hay thấp, đều là tham nhũng nhưng hầu như không phải chỉ họ. Những phóng viên người Mỹ mà đã từng phê bình là các nhà lãnh đạo miền Nam Việt Nam, như Diệm và Thiệu, đã rất tham nhũng thì cũng phải nghiên cứu lại lịch sử của các tiểu bang và thành phố lớn Mỹ, hay là nhớ lại huyền thoại về Tweed , Fitzgerald, Pendergast, và Daly. Hoặc họ vô tội hoặc họ kém suy tư thì họ cũng đã không nghỉ là cả chiến tranh lẫn chính trị đều có thể dễ dàng được trong sạch hóa đi chỉ do thiện chí. Trong thực tế, Diệm đã thành công dẹp sạch được bọn côn đồ Bình Xuyên ra khỏi Sài Gòn, một thành tích không đơn giản trong cuộc chiến sống còn của quốc gia.

 

Tổng thống Lyndon Johnson đã cảnh cáo các phóng viên mới vô nghề sẽ đi Việt Nam, – Đừng giống mầy thằng nhỏ Halberstam và Sheehan. Chúng là những tên  phản quốc.  749 Nhiếp ảnh gia Eddie Adams của AP đã nói, – Bọn phóng viên chiến trường tại Việt Nam đã không bao giờ tự xem [mình] là người Mỹ.  750 Sau này khi được cho biết  Phạm Xuân Ẩn là một điệp viên thì Halberstam vẫn là một người bạn của y. Halberstam đã đặt câu hỏi, – Lòng trung thành là gì? Lòng yêu nước là gì? Sự thật là gì? … Tôi không bao giờ đã cảm thấy bị phản bội bởi Ẩn.  751 Một Ben Stein, từng tự nghỉ như bị xúc phạm, khi nói về bài viết đầy yêu thương của Thomas Bass đối với tay gián điệp Phạm Xuân Ẩn, -The Spy Who Loved Us,  đã ghi nhận là ngay cả Bass, chớ chưa nói tới Phạm Xuân Ẩn, đã không hề có một chút xíu hay một gợi ý nào cảm thông cho những người lính Mỹ đã chiến đấu và đã chết hoặc bị thương tại Việt Nam. Không một chút xíu căm hận đối với kẻ đã ngữa tay nhận tiền Mỹ đề quay ra giúp giết người Mỹ.  Điều này cho thấy một sự thiếu vắng của tính cách đạo ly. 752 Đối với Halberstam và Bass, thì chúng ta có thể nói là để trở thành một phóng viên trung thực thì cần phải đã là một con người tốt. Cả hai đều không không hiểu được lòng trung thành có thể là một đức hạnh trong chiến tranh và về chính trị.

 

Phạm Xuân Ẩn đã nhận một huy chương Khai thác Quân sự với trận Ấp Bắc nhờ đã cung cấp tin tình báo chiến lược – tài liệu và phân tích  – mà y đã cung cấp cho Bắc Việt với những chi tiết về chiến thuật chống nổi dậy của Mỹ, Chiến Thuật Đặc Biệt của Mỹ. 753 Thomas Bass đã tin những gì Ẩn kể lại tới mức mà anh ta đã thực sự tường trình là chiến thuật cùng chiến lược tại Ấp Bắc đúng là cách đào tạo bọn Việt Cộng để chiến đấu chống lại trực thăng vũ trang cùng thiết vận xa . 754 Thomas Bass đã nói là Ẩn – đã nghiên cứu  ra được chiến thuật để dành chiến thắng.  755 Ẩn đã cung cấp cho Công sản các cẫm nang của Mỹ về cách chống nổi dậy và đã giúp chúng điều chỉnh chiến lược đánh rồi chạy tại Ấp Bắc. Cái huy chương duy nhất khác thì dành cho tên chỉ huy bộ đội cộng sản tại Ấp Bắc.

 

Như chúng ta đã thấy, chiến lược của Ẩn cũng bao gồm luôn phần lớn về chiến tranh chính trị và tâm lý chiến. Chúng ta sẽ rất công bằng khi ghi nhận là Phạm Xuân Ẩn, một sĩ quan chiến tranh tâm lý tuyên truyền trước đây và cho cả Việt Minh và QLVNCH  756, cũng đã được trả lương và ban thưởng huy chương cho công báo cáo tin tức của y về cái vụ mà nay đã được giới báo chí về chính trị  gọi là – sự kiện xoay tròn (spin) Ấp Bắc –  Chủ của y tại tờ Time, Nick Turner, nay tin rằng câu chuyện Ấp Bắc đã được viết đúng y như cộng sản muốn. Thật vậy, Ẩn đã là phóng viên đầu tiên tung những tin tức ( tại Ấp Bắc).  757

 

Ấy vậy mà Larry Berman , kẻ viết tiểu sử được chính thức cho phép của Phạm Xuân Ẩn và hầu hết các phóng viên đều không nói là y đã cung cấp thông tin sai lạc cho nhiều nhà báo bạn của y. Họ lập luận là nếu làm như vậy thì Ẩn làm tổn thương cái bề ngoài khách quan của một nhà báo. Với các phóng viên thì nếu phải thừa nhận là mình bị lừa dối thì cũng như là chấp nhận mình đã là những tên bị bịp hay là những tên cộng tác viên. Berman tin rằng Ẩn là một phân tích gia, và không bao giờ là một điệp viên tuyên truyền. 758 Đã có rất nhiều nguồn tin về cuộc chiến tại Ấp Bắc mà Ẩn đã có thể sử dụng, nhưng y không bao giờ làm vậy. Thay vào đó, thì y đã chọn lựa cách đánh giá tiêu cực mà John Paul Vann ưa thích để phê bình khã năng Nam Việt.

 

Có thể chỉ là một sự trùng hợp ngẫu nhiên rất đẹp, nhưng một mô hình được lặp đi lặp lại không ngừng về những gì Halberstam viết trong tờ New York Times  đã rất kỳ lạ giống hệt với những gì mà Ẩn từng tường trình cho các phóng viên Mỹ. Cuối cùng, xuyên tạc về chính trị thì không cần phải là phải nói láo một cách trắng trợn, vì như vậy sẽ cho dể cho thấy là gian dối, mà chính phải là việc  tường thuật lại về các sự kiện, với một khã năng làm chủ được những uẩn khúc, cách xoay quần, kiểu nói chuyện vòng vo tam quốc, nhưng mà tất cả đều là chung chủ đề và bài tường thuật phục vụ cho một kế hoặch nào đó. Nói láo hay nhất là khi chỉ nói ra phân nữa sự thật. Chỉ một mình Arnaud de Borchgrave đã gọi Phạm Xuân Ẩn là một điệp viên phản tuyên truyền.  759

 

Sau mổi buổi sáng thả vòng đi bộ qua những địa điểm tốt nhất ở Sài Gòn để thu lượm tin đồn, tin tức và thông tin tình báo, Phạm Xuân Ẩn, ông Tướng Givral sẽ dành hầu hết các buổi chiều tại quán cà phê Givral ở đường Catinat (Tự Do) để giải thích với một thứ tiếng Anh thành thạo, về văn hóa và lịch sử Việt Nam cho các nhà báo trẻ tuổi ngồi quanh sửng sờ lắng tai nghe cùng các quân nhân với các viên chức tình báo nào mà quan tâm. Cửa hàng cà phê Givral nằm ở một vị trí chiến lược gần với Continental và khách sạn Caravelle và gần gốc đường, chỉ cách khách sạn Rex có một lô nhà . Biệt thự của Tạp chí Time tại đường Hàn Thuyên chỉ cách Dinh Tổng Thống có 200 ‘yards’.

 

Phạm Xuân Ẩn đã đứng ra bảo bộc Beverly Deepe, thanh niên 25 tuổi, làm việc cho tờ New York Herald Tribune. Time đã tường trình, –  Khi cô ta không biết điều gì thì cô thường hỏi được hai người phụ tá Việt Nam, cả hai đều rất rành rọt trong chính trường rối răm của đất nước lúc đó. Deepe – đã sẳn sàng để học hỏi về lịch sử và con người Việt Nam hầu giúp cô ta có thể hiểu được cuộc chiến.  760 Không giống như hầu hết những kẻ  khác, Deepe sau đó đã cảm thấy bị Ẩn phản bội, kẻ mà cả nhà Deepe đã chăm sóc và kẻ mà cô ta đã trả dùm các hóa đơn bác sỹ cùng tiền thuốc men, tiền bệnh viện. Jon Larsen, một Trưởng phòng của Time, có nhớ Ẩn. Ẩn đã là kẻ môi giới thông tin của chúng tôi . … Tôi đã biết anh ta như là một người quốc gia cuồng nhiệt.  761

 

Phạm Xuân Ẩn đã dạy dổ và kết bạn 762  với Robert Sam Anson, phóng viên 24 tuổi của  tạp chí Time mà đã đến trong bối cảnh đầu năm 1970 như là một kẻ có kinh nghiệm phản chiến từng đã chủ trương là chiến tranh này có tính cách thuộc địa, vô đạo đức, bất hợp pháp và không thể thắng được. 763 Sau đó khi bị đày đi khỏi Sài Gòn qua Campuchia do thái độ phản chiến lộ liểu của mình, Anson đã kết bạn với các tên cộng sản Đông Đức Eric Dieters và Otto Bernke mà đã rất quan tâm đến các quan điểm phản chiến của y. 764 Đi về nông thôn và xông xáo khắp nơi , Anson đã khám phá ra và viết về những lực lượng tham nhũng của Lon Nol và các cuộc thảm sát dân thường Việt Nam tại Prasaut và Takeo. 765 Anson đã từng giải cứu được tại Campuchia hai tá người Việt thoát khỏi sự tàn bạo của quân đội Campuchia. Những bản tin đăng ngay trang đầu về chuyện những tội ác của một đồng minh Mỹ đã là – Takeo … lần cuối mà thường dân Việt Nam đã bị tàn sát tại Campuchia. 766  Sau đó thì Anson trở nên mạo hiểm và đi lạc vô tay lính chính quy Bắc Việt và khi bị bắt làm tù binh đã hỏang sợ – kêu than lên Hòa -binh, để xin bình an với các kẻ bắt mình. Một sĩ quan Bắc Việt, tên Hoa đã cho Anson một chiếc áo len và thuốc lá rồi nói chuyện với Anson về Jane Fonda, về Lệnh Đình Chỉ, về Kent State và về Norman Morrison. Với thời gian, Anson đã thuyết phục bọn Cộng sản y là phe chúng. Cuối cùng thì chúng đã sẵn sàng để thả Anson, bởi vì chúng nói là chúng nợ y một món nợ máu do việc y đã cứu được các trẻ em ở Takeo. Số Một nói – Bạn thuộc phe chúng tôi. Một bộ đội cách mạng. Anson đã thu xếp để công bố hầu thể hiện lòng biết ơn về cách mình được đối xử và về những quan điểm phản chiến của y. Anson cũng đã cải sữa nhật ký của mình bằng cách loại bỏ các nhận xét làm mếch lòng liên quan đến việc quân đội Bắc Việt đã đang đóng bên trong Campuchia và thường ăn thịt chó. 767

 

Sau khi được thả, Anson đã từ chối để bị phỏng vấn bởi Campuchia hoặc CIA về số lượng và các bố trí của quân đội Bắc Việt. Tại một cuộc họp báo Anson nói, – Họ không phải là … kẻ thù của tôi. Tôi không bao giờ coi nhân dân Việt Nam hoặc Campuchia hoặc Lào là kẻ thù của tôi. Tôi tin vào hòa bình … và vì vậy họ đối xử với tôi như một người bạn. … Chúng ta phải đều cùng là anh em. Cuộc họp báo đã tận dụng các lời tuyên bố của Anson từng được phát qua Đài phát thanh Hà-nội. 768 Trong tháng 8 năm 1986, khi thăm Việt Nam,  Anson đã gặp Phạm Xuân Ẩn mà đã cho Anson biết y đã là một điệp viên và đã báo cho Bắc Việt về vụ Anson cứu các trẻ em Việt Nam tại Takeo. 769  Ẩn, tên gián điệp từng  yêu mê chúng ta, đã cứu mạng cho Anson và có lẻ cũng cho rất nhiều  người khác. Có lẽ Anson đã tự cứu mạng mình bằng cách dành quyền được gọi là một chiến sĩ của cách mạng và đã từng bị xác định có tuyên bố rằng cuộc chiến là bất hợp pháp, vô đạo đức và không thắng được và rằng chống lại cuộc chiến tranh là hình thức tuyệt đỉnh của lòng yêu nước. Anson đã đề tặng quyển War News của y cho Phạm Xuân Ẩn.

 

Bằng các hành vi có tính cách bạn bè mà cũng là thông tin, Phạm Xuân Ẩn, tên điệp viên Cộng sản, chắc đã thuyết phục được những người bạn Mỹ rằng mình là một người Việt quốc gia yêu nước . Một lần Ẩn có nói với Neil Sheehan là người dân ở vùng Đồng Tháp Mười gọi Việt Cộng là Việt Minh – những người quốc gia chớ không phải là cộng sản. 770  Ta cũng có thể nói là y cũng gọi Hồ Chí Minh là  một người quốc gia cho dù Hồ đã ăn lương của Liên Xô trong nhiều thập kỷ và đã là tên đao phủ từng giết biết bao nhiêu là người quốc gia. Ẩn đã có khả năng thuyết phục Sheehan rằng Bắc Việt Nam đã là –  một xã hội hiện đại năng động còn Nam Việt Nam chỉ là một chế độ hậu phong kiến đang dãy chết. 771

 

Pete Conaty, một tay chuyên vận động hành lang ở California mà đã luôn luôn duy trì quan hệ tốt với giới truyền tin và cũng là bạn của Ẩn tại đại học ở California đã nói với Larry Berman, người viết tiểu sử của Ẩn là , – Tôi tin tưởng chắc chắn rằng y đã lợi dụng vị trí của mình … để ảnh hưởng đến giới truyền tin  Mỹ … để làm hại Mỹ và Nam Việt trong suốt cuộc chiến. Được vậy là do nơi lòng yêu mến y của các phóng viên Mỹ tại Việt Nam. Sẽ không thể nào không tin là y đã  không cố ảnh hưởng một cách tinh tế đến giới truyền tin cho mục đích của các bậc thầy của y.  Các tuyên bố  sau này của giới truyền tin rằng Ẩn không có một ảnh hưởng gì đã – quá đau đớn để thừa nhận  và – quả thật chỉ tuyền sáo rỗng.  772

 

Nhiều kẻ trong số vẫn bám giữ quan điểm theo tập quán về cuộc chiến tranh Việt Nam đã từ chối thừa nhận họ đã sai lầm khi giúp cộng sản tuyên truyền và một số lại còn cổ vũ cho kẻ thù.

 

Chỉ 24 giờ sau khi Lào bị trung lập vào ngày 23 tháng 7 năm 1962,  viên lãnh đạo Đảng là Lê Duẩn đã công bố sự hỗ trợ cho một miền Nam Việt Nam trung lập của Hà Nội. Lê Duẩn giải thích sự thiếu can thiệp quân sự tức khắc của Hà Nội trong một lá thư gởi Nguyễn Văn Linh. –  Nếu hoạt động quân sự đã leo thang … tình hình … thậm chí có thể gây ảnh hưởng xấu cho mục tiêu của chúng ta nhằm chiến thắng. … Chiến tranh đã sẽ … khiến Mỹ phải can thiệp.  Việc trung lập hóa giúp cho cuộc đấu tranh hiệu quả hơn – nhằm chống lại việc phát xuất   cuộc chiến tranh địa phương bởi bọn đế quốc,  Lê Duẩn đã viết như vậy trong báo Nhân dân ngày 24 tháng 7.

 

Ngày 10 tháng 8, Mặt Trận Giải Phóng Quốc Gia công bố một bản tuyên bố mới gồm 14 điểm, mà các điểm đáng lưu ý nhất  là: rút các quân đội nước ngoài; duy trì một đội quân bảo vệ biên giới Nam Việt Nam; miền Nam Việt Nam độc lập; các người nước ngoài vẫn ở lại miền Nam Việt Nam; miền Nam Việt Nam sẽ cùng Lào và Campuchia tạo thành một khu vực hòa bình và trung lập ở Đông Nam Á; nền trung lập sẽ được đảm bảo bởi hiệp ước ký kết giữa hai khối Đông và Tây. 773

 

Bên cạnh việc tạo ảnh hưởng với báo chí quốc tế ở Sài Gòn, Hà Nội bắt đầu tiến công ra quốc tế bằng cách sử dụng các tổ chức tiền phương và các hội nghị của cộng sản, một mô hình mà sẽ cứ tiếp tục trong suốt chiến tranh.

 

Mặt Trận Giải Phóng Quốc Gia trên Đoạn Đường Đảng: Budapest, Moscow

 

Là một phần trong kế hoặch lộ diện ra quốc tế của mình, Mặt Trận Giải Phóng Quốc Gia đã tham gia một số mặt trận tiền phương của Liên Xô về luật sư, phụ nữ, sinh viên và nhà báo. Năm 1961, Đại hội của một mặt trận của Liên Xô, Hiệp hội Luật gia dân chủ quốc tế, đã diễn ra tại Budapest và kêu gọi Mỹ rút khỏi Việt Nam. Tại Budapest, Nguyễn Văn Hiếu đã tham dự một Đại hội của Tổ chức Quốc tế các nhà báo. Tháng 2 năm 1963, Liên đoàn Thế giới Thanh niên Dân chủ cũng đã tổ chức một cuộc họp của ủy ban điều hành ở Budapest. Liên đoàn đã thành lập Ủy ban Thanh niên quốc tế đoàn kết với cuộc đấu tranh tại Việt Nam và đã soạn một thỉnh nguyện thư nhằm phổ biến sau này. Võ Công Trường, Nguyễn Thị Bình, và Nguyễn Văn Hiếu đã tham dự Hiệp hội Giải phóng của Phụ nữ , mà đã trở thành  nguồn chính của một phong trào liên tục khiếu nại, báo cáo, lên án, ra tuyên ngôn, và gửi thư ngỏ  cho các người, các tổ chức, và các chính phủ bên ngoài Việt Nam . 774 Ngày 28 tháng 6 năm 1963, tại Moscow, đại diện của Hiệp hội Giải phóng phụ nữ đã tường thuật về “những kinh nghiệm cá nhân [đối với] các hành vi dã man và tội phạm không kể xiết của chế độ phát xít miền Nam Việt Nam “. 775.

 

Về Quốc tế, ở Tây phương và ở tại Hoa Kỳ các sáng kiến hòa bình mà cộng sản   ủng hộ vẫn bị có đối thủ. Từ 4 đến 7 tháng giêng năm 1963, những người không phe phái và không cộng đã tổ chức hội nghị tại Somerville College Oxford để  bày tỏ lo ngại về ảnh hưởng của Liên Xô trong các hội nghị của World Council of Peace, Partisans of Peace, East-West Roundtable  tại Pugwash và Dartmouth. Các đại biểu Mỹ từng nghi ngở Liên Xô thì gồm có Homer Jack, Donald Keys, Alfred Hassler, AJ Muste, Baynard Rustin, Robert Gilmore. Các tham dự viên có thiện cảm với Liên Xô bao gồm hai kẻ đã và sẽ nhận giải Hòa Bình Lê-nin , Sean MacBride và Andrea Gaggero và các tổ chức, cá nhân mà sau đó sẽ hợp tác sâu đậm với Hà Nội như Linus Pauling, Peggy Duff, Ruth Gage Colby của Women Strike for Peace, American Friends Service Committee, War Resisters League and Fellowship of Reconciliation, Committee for Nonviolent Action .

 

Bọn Bào chữa cho Liên Xô bị đón tiếp một cách lạnh nhạt

 

Colby và Pauling đã bị từ chối vì tư cách sĩ quan và đoàn đại biểu Mỹ phản đối gần như xin lỗi về sự tham dự của các đại biểu của Hội đồng Thế giới vì hòa bình (Council for Peace) , ví dụ như Romesh Chandra, Ilya Ehrenburg, JD Bernal, Velio Spano. Để làm giảm bớt căng thẳng Đông-Tây, hội nghị quyết định  không thuộc Moscow hoặc phương Tây, nhưng sẽ cho phép Nam Tư, Ba Lan và những chi nhánh Anh của Hội đồng Thế giới vì Hòa Bình do Liên Xô kiểm soát được tham gia. 776

 

Những tên Cộng sản bị SANE khai trừ

 

Tương tự như vậy vào ngày Chúa Nhật Phục Sinh năm 1963, Ủy ban cho một chính sách hạt nhân Lành Mạnh (Committee for a Sane Nuclear policy) đã tổ chức một cuộc đi bộ cho hòa bình  ở thành phố New York, và giữ không cho có các bảng và các diển giã Cộng sản trong cuộc diễu hành của họ. David Dellinger đã đốc thúc đám đông để ngăn chặn sự can thiệp của Mỹ tại Việt Nam và đã bị Norman Cousins, Norman Thomas, Homer Jack, Picket Clarence, và Bayard Rustin, các nhà hoạt động tự do cho hòa bình phản đối. 777 Homer Jacks đã khai mạc hội nghị Oxford bằng cách nói rằng trong khi đại biểu Mỹ – đặt nền hòa bình thế giới trên cả lòng ái quốc, thì họ cũng đã không xem các giá trị của nền dân chủ và của cộng sản là như nhau. Với thời gian rồi thì nhiều kẻ đã  hỗ trợ cho kẻ thù chiến thắng mà vẫn đòi hỏi được gọi là người yêu nước.

 

Một hoạt động tuyên truyền thành công khác tại miền Nam Việt Nam đã liên quan đến việc lợi dụng khéo léo các người Phật giáo bất đồng chính kiến và báo chí ở miền Nam Việt Nam.

Hình: Larry Berman thuyết trình tại Texas Tech, 2008: Điệp viên Ẩn thì thầm vào tai của phóng viên Shaplen

Phân Tích các Chính sách Phật Giáo và vụ Diệm bị Ám sát

Trong khi Việt Cộng đã đốt chùa và giết các tu sĩ Phật giáo trong nhiều thập kỷ, và các tu sĩ Phật giáo hoàn tòan không có tại Hà nội thì các tổ chức Phật giáo do cộng sản lũng đoạn ở miền Nam đã cáo buộc là chính nhà cầm quyền miền Nam mà đã từng dựng chùa cho họ lại chính là kẻ khủng bố họ.

Tên Gián điệp Ẩn phiên dịch lời của Lãnh tụ Phật giáo cho Shaplen

Đặc biệt, Conein nhớ lại các  cuộc phỏng vấn của Shaplen với Trí Quang, lãnh tụ của phe đối lập Phật giáo. Các bài của Shaplen đăng trên tờ New Yorker – đã không giống chút xíu gì với những gì Conein nghe Trí Quang đã nói với  Shaplen. Sau những lần gặp Trí Quang, Shaplen sẽ lại gặp Ẩn để được nghe tên này nói lại rằng tay hoạt động chính trị Phật giáo Trí Quang – đã thực sự muốn nói gì và Shaplen đã viết đúng lại y như vậy. 780 Về sau này khi biết được  người bạn cũ của mình là tên gián điệp, Robert Shaplen đã rất đau khổ và tự thấy bị phản bội.  781

Trong khi đó, sự thiệt hại đầy đau thương đã không thể cứu vãn được.

Các Cuộc Biểu Tình của Phật Giáo

Ngày 18 tháng 8 năm 1963, 20.000 người biểu tình đã tập hợp tại chùa Xá Lợi ở Sài Gòn đòi hỏi lật đổ chính phủ Diệm vì đã đàn áp một cách có có hệ thống các Phật tử mộ đạo. Đó là một cáo buộc giả mạo mà đã bị quan trọng hóa thêm bởi  bởi các nhà báo Mỹ ngu dốt.

Sứ Mạng của Higgins

Trong tháng 7 năm 1963, ban điều hành của tờ New York Herald Tribune  gửi phóng viên Marguerite Higgins của thời Chiến tranh Triều Tiên đến Việt Nam để làm một điều tra sâu rộng về việc đàn áp Phật tử của Diệm. Truy nguyên rồi theo dõi để điều tra, các tên cùng địa điểm nơi các cuộc bách hại đã bị cáo buộc là đã xẩy ra tại nông thôn cũng như là thành thị, ở đồng bằng sông Cửu Long, tỉnh Phan Thiết, Phan Rang, Huế, Sài Gòn, từ làng này qua làng kia, Higgins đã thấy không có sự đàn áp tôn giáo nào đối với các Phật tử. – Không có Phật tử nào đã bị cấm cư trú tại bất kỳ địa phương nào hay theo học  trường nào hay đãm nhận một công việc nào theo lịnh của chính quyền.  Chỉ có sáu người là Công giáo trong nội các 17 thành viên của Diệm. Tu sĩ Phật tử được miễn đi quân dịch trong khi linh mục Công Giáo thì lại không được vậy. 782  Dưới thời Diệm số chùa Phật giáo đã tăng hơn gấp đôi từ 2.206 vào năm 1954 lên đến 4.776 ngôi chùa đang hoạt động vào năm 1963. Ông Công Giáo tên Diệm đã xây dựng được 1.275 ngôi chùa và phục hồi lại 1.295 ngôi chùa khác.  783 Trong năm 1963, cuộc điều tra của Liên Hợp Quốc công bố vào ngày 7 tháng 12 năm 1963 và sáu người Mỹ độc lập nói được tiếng Việt cùng xác nhận rằng các cáo buộc về đàn áp đều là giả mạo. 784 Từ đâu đã phát xuất những cáo buộc về đàn áp này?

Chiến Dịch Chính Trị của Phật giáo, một Mặt Trận Cộng sản?

Marguerite Higgins đã khám phá ra một chiến dịch chính trị  tinh vi nhằm phổ biến lan truyền những câu chuyện sai sự thật và cố huy động các cuộc biểu tình để lật đổ chính phủ Diệm của Nam Việt Nam. Chiến dịch này mang đầy sắc thái  của một – cuộc đấu tranh chính trị từ Hà Nội. Ở ngoài chùa Xá Lợi, các dịch vụ  điện thoại, các tổng đài, các máy quay rô-nê-ô và các cuộc họp báo hàng ngày đã được dùng để hỗ trợ cho các chiến dịch  báo chí và các cuộc biểu tình chính trị.

Bị đạo diển và tiêm thuốc trước

Khám phá kinh khủng nhất của nhà phóng viên dũng cảm Higgins là việc chuẩn bị trước và công bố công khai trước các vụ tự thiêu của các nhà sư Phật giáo mà trước đó đã bị lừa và bị chích  thuốc . Thích Đức Nhiếp đã phổ biến trước thông cáo báo chí cho mỗi kế hoạch tự tử. Các nhiếp ảnh gia Mỹ mà vì không thể phát âm tên của y được , đã phải hỏi, Ê Tích Tóc Toe, khi nào vụ nướng thịt kế tiếp theo sẽ xẩy ra.  785 Các hình không liên tục của Malcolm Browne thuộc hãng AP về vụ đốt cháy Thích Quảng Đức vào ngày 11 tháng 6, 1963 tại Sài Gòn, cho thấy nhà sư đầy lữa nhưng bất động từ 9: 30 am đến 9:33 am, 786 cho thấy khá rõ ràng là đã bị chích thuốc nặng nề để không còn biết đau khi bị  thiêu sống. Các nhân vật được tập trung để xem thì đều mặc áo choàng của các nhà sư Phật giáo và mang những bảng hiệu với ngôn ngữ Anh, A BUDDHIST PRIEST BURNS FOR BUDDHIST DEMANDS  (MỘT TU SĨ PHẬT GIÁO CHÁY CHO CÁC ĐÒI HỎI PHẬT GIÁO), 787 không PHẢI là cho khán thính giả Việt Nam, nhưng là để dành cho đoàn báo chí cả tin và lười biếng Mỹ.

Thích Trí Quang : tên Machiavelli biết dùng nhang khói

Thêm Rất Nhiều vụ Tự thiêu được dàn cảnh trước

Thích Trí Quang đã là tay đại âm mưu của bộ máy chính trị tuyên truyền Phật giáo, kẻ mà Marguerite Higgins đã mô tả như là – một tên ‘Machiavelli”’ với nhang khói.  Quang đã nhờ Higgins nói với Tổng thống Kennedy hãy tách rời  khỏi Ngô Đình Diệm, nếu không, – sẽ có nhiều vụ tự thiêu hơn nữa . … Mười, bốn mươi, năm mươi … những sự kiện mà sẽ bôi nhọ tiếng tăm của Tổng thống Kennedy cũng như của Diệm.  Quang đã không nhận là y muốn mặc cả với vị Tổng thống. Higgins đã hỏi là việc đưa các tu sĩ đến cái chết kinh khủng này có  là đạo đức không  thì Quang đã trả lời, – trong một cuộc cách mạng có rất nhiều điều phải làm,  788 một đặc tính hoàn toàn giống với của đám lãnh đạo Cộng sản Hà Nội, Hồ và Giáp.

Trở lại cuộc biểu tình năm 1963, bọn cộng sản đã tán dương các nhân viên của chúng  về khã năng tụ hợp đám đông để rồi xử sự như chúng muốn khi đóng vai những người mộ đạo Phật. 789 Chính bọn – (chuyên viên khuấy động này ) đã từng năm này qua năm khác xuất hiện. 790 Quang đã nói với Denis Warner rằng y chuẩn bị chờ đợi các cuộc tấn công của chính phủ, ‘Ông có nghĩ rằng sẽ có lợi cho chúng tôi nếu vài người trong số chúng tôi sẽ bị giết? Các tên điều khiển biều tình – thu xếp phụ nữ và trẻ em ở phía trước để cho cảnh sát phải – xông lên xuyên qua phụ nữ và trẻ em trước khi tới được bọn đang ném đá. 791 Để tỏ lòng ủng hộ tuyệt đối với vị lãnh đạo Công Giáo của họ là Diệm, vào ngày 21 tháng 8, tướng Nam Việt Nam là Đính và Đôn – cả hai đều là Phật tử – đã xâm nhập các chùa đang bị chiếm đóng, và đã phát hiện ra vũ khí cùng tài liệu của Việt Cộng.

Halberstam đổ thêm dầu vô cuộc khủng hoảng Phật giáo

Cuộc nổi dậy của Phật giáo đã bị chận lại, nhưng David Halberstam đã sử dụng những  nguồn tin vô danh để giật được giải Pulitzer bằng những công bố giả tạo trong tất cả mọi vấn đề: máu đã đổ ra rất nhiều; cuộc đột kích đã được soạn thảo bởi Ngô Đình Nhu mà ai cũng thù ghét và đã bị quân đội Nam Việt phản đối; phong trào chống chính phủ đã phổ biến rộng rãi; và binh sĩ đã đang đào ngũ tập thể. Không có điều nào là đúng. Nguồn gốc tin phản tuyên truyền về bất đồng chính kiến trong quân đội đối với cuộc khủng hoảng Phật giáo là do không ai khác hơn là tay tổ sư giật dây và gián điệp của Reuters là Phạm Xuân Ẩn. 792 Tuy nhiên, các giải thưởng Pulitzer đều đã có một thành tích tuyệt hảo rất đáng xấu hổ là đã không bao giờ đúng kể từ khi Walter Duranty của tờ Times giúp che đậy việc Sì-ta-lin bỏ đói hàng triệu người gốc Ukraine, cả một vụ mùa của đau thương, do nạn đói nhân tạo do y cố tình gây ra. 793

Đáng buồn thay, việc tố cáo Diệm tham nhũng, độc tài và bất tài đều đúng là sách vở Cộng sản. Cộng sản đã sử dụng giống y hệt cùng những hình ảnh và cáo buộc  … cũng cùng những cách hành văn mà đã từng gây ảnh hưởng lớn đối với Tướng Draja Mihailovich ở Nam Tư và cũng để chống lại nhà ái quốc Tưởng Giới Thạch ở Trung hoa. 794 Bị ảnh hưởng bởi các thông dịch viên Cộng sản về những sự kiện và các cá nhân, cơ quan tiền nhiệm của CIA, OSS đã giúp lật đổ cả Mihailovich và Tướng George C. Marshall đã cấm vận không cung cấp vũ khí cho Tưởng Giới Thạch trong khi Mao thì đã vẫn nhận được tiếp tế thông qua ngõ Mãn Châu. Trong năm 2009 đã có những than phiền  là Tổng thống Afghanistan Hamid Karzai có thể đã không theo đúng những tiêu chuẩn cao nhất về mực độ liêm khiết như từng có tại Chicago, quê nhà của Tổng thống Obama ở tiểu bang Illinois, đó là chưa kể đến New Jersey hay lịch sử của những cảnh sát viên tồi bại tại các thành phố như Chicago, Los Angeles, New York, New Orleans, Houston, v. v.

Khi đọc tờ New York Times,  nhiều tướng lãnh  Nam Việt bắt đầu tin rằng chính phủ Mỹ không còn hỗ trợ Diệm, trong khi ở Washington, các chuyện kể của Halberstam tới tai Averill Harriman và Roger Hilsman, và họ đã chât vấn Đại sứ Lodge. Chẳng bao lâu thì Lodge cũng gia nhập nhóm chống Diệm. Lodge sau này sẽ phê duyệt cuộc đảo chính mà đã có kết quả trực tiếp và ngay tức thì là việc ám sát Diệm. 795 Những nhà báo có kinh nghiệm – Marguerite Higgins, Keyes Beech và Joseph Alsop đã binh vực Diệm chống lại những câu chuyện của Halberstam, nhưng cũng không có kết quả. Higgins đã viết, – Các phóng viên ở đây [Việt Nam] đều muốn thấy chúng ta thua trận để chứng minh được là họ đúng … 796 Cũng giống vậy, đa số các tường thuật về cuộc chiến ở Iraq và Afghanistan đều rất tiêu cực. Các tin tốt thì lại là không đáng tin và bị tường trình lại một cách rất thiếu sót.

CIA cũng đang chiếu tướng Diệm. Tài liệu Đánh giá tình báo quốc gia 53-63 của CIA phản ảnh đúng những gì Cộng sản đã muốn, rằng các vụ rối loạn Phật giáo sẽ tiếp tục và rằng Diệm đã quá mất lòng dân đến mức mà một cuộc đảo chính sẽ rất khã dỉ. Không sao đâu, – Cộng sản sẽ không nhất thiết hưởng lợi nếu Diệm bị lật đổ.  Sẽ có dư thừa những nhà lãnh đạo Nam Việt có khã năng, CIA nghĩ vậy. 797 Một trong những khuôn mặt lãnh đạo tương lai mà CIA thích là Đại tá Phạm Ngọc Thảo, một điệp viên Cộng sản bí mật, 798  mà từng thường thức khuya nói chuyện với các phóng viên Mỹ, ví dụ như Malcolm Browne của AP 799 và thường xuyên âm mưu đảo chính chống lại nhà lãnh đạo Nam Việt này tới nhà lãnh đạo Nam Việt khác. 800 Làm thế nào mà CIA đã quyết đoán như vậy? Phạm Xuân Ẩn đã từng là một con bài của CIA khi làm việc với Edward Landsdale và Rufus Phillips trong thập niên năm mươi 801, và có thể các điệp viên cộng sản khác cũng nói với CIA rằng Phạm Ngọc Thảo là đáng tin cậy.

Các nguồn thông tin đáng tin cậy về lịch sử, văn hóa, ngôn ngữ và chính trị Việt Namrất hiếm như răng gà mái . Rất ít học giả đã nghiên cứu Việt Namvà ít có người Mỹ nói được tiếng Việt, một ngôn ngữ với ngũ âm mà mỗi nhóm danh từ lại cùng có thể có nhiều ý nghĩa. Đường xá hư xấu và cái nóng oi bức nhiệt đới khiến việc đi du lịch là chằn ăn. Các phóng viên phải lệ thuộc vào chỉ một vài máy đánh tin để đáp ứng đúng hạn kỳ quy định lại rất ít khi dám mạo hiểm ra khỏi Sài Gòn. Trong suốt cuộc chiến, họ rất ít chịu học tiếng Việt, và lại càng ít kẻ hơn chịu vô sống trong các thôn làng hay trại lính Việt Nam chung với các binh sĩ  Nam Việt.  Đa số quân đội Mỹ đều có một nhiệm kỳ ngắn chỉ một năm không làm sao đủ để hiểu được ngôn ngữ và văn hóa. Thông thường thì người Việt duy nhất mà người lính có thể gặp lại là một sinh viên nói được tiếng Anh, một tên điệp viên VC rất sẳn sàng để bàn chuyện chính trị 802 hoặc không khá hơn gì thì cũng là một thành viên của giới tinh hoa Việt Nam luôn luôn mưu đồ chính trị. Đã có 26 đảng phái chính trị ở Nam Việt và vô số giáo phái, mà với một số ít thì người Mỹ không bao giờ học được bất cứ điều gì. Edward Landsdale, Rufus Phillips và các cố vấn khác cũng như các chuyên gia bình định đều kêu gọi người Mỹ phải ráng hiểu người Việt Nam và hãy để họ tự lo chiến đấu, nhưng mãi cho đến khi Việt Nam hóa chiến tranh thì các cố vấn thiếu kiên nhẫn Mỹ – đã có xu hướng chịu trách nhiệm làm việc này mà không phải là luôn luôn làm có kết quả tốt nhất. Robert McNamara đi kinh lý khắp miền Nam Việt Nam,  nắm tay của Tướng Khánh giơ cao lên biểu lộ sự ủng hộ toàn diện của Mỹ, điều đặc biệt cần thiết sau khi đã đồng lõa trong cuộc đảo chính và vụ ám sát Diệm. Thật không may, McNamara đã phát âm sai, viet (vịt) nam (nằm) muon (muốn) nam (nằm xuống) có nghĩa  là một con vịt bị bắn rơi, vịt bị ốm, vịt bị tét ra, hay tệ hơn tất cả là, một con vịt muốn nằm xuống để chết. 803  Tay trong tương lai sẽ nhận được Giải thưởng Lê-nin Hòa bình là Nguyễn Hữu Thọ đã phát biểu về vụ hớ hên ngôn ngữ của McNamara, – Nó đã giúp cán bộ tuyên truyền của chúng tôi rất là nhiều.  804

Một trong những thành tựu ít được nói đến của chế độ Diệm là việc bình định các ấp bằng việc bắt đầu cung cấp nơi trú ẩn an toàn, các công sự nằm ngoài khu ảnh hưởng của Việt Cộng. Hà Nội đã nhanh chóng mô tả các ấp chiến lược của Diệm như là các trại tập trung, một đặc tính đúng ra dành chính xác hơn cho Hà Nội thay vì là cho chính sách của Sài Gòn.

Quan Điểm của Đảng: Bình Định – Tàn Bạo và . . . Vô Hiệu

Phạm Xuân Ẩn cũng lo lắng làm sao cho người Mỹ hiểu là các chương trình bình định đều thất bại -Hợp Tác, Phượng Hoàng-CORD – và cố giải thích là không hiệu quả mà còn tàn bạo. Đó là một trong những dự án dài của Ẩn. Y đã giúp Bắc Việt biết rỏ được những tin tức về tất cả các nỗ lực bình định. Có một lần, Phạm Xuân Ẩn lái chiếc xe Renault màu xanh lá cây xập xệ của y để chở Rufus Phillips, chuyên gia bình định Mỹ về Chợ Lớn, nơi mà một đơn vị gồm 100 bộ đội Việt Cộng đã phục kích lực lượng tự vệ Nam Việt tại làng An Phú. Theo lời kể lại của Phillip thì Phạm, một người bạn Việt đã cho hay – về một vụ mới xảy ra ngày hôm qua, ngay bên ngoài Sài Gòn. Khu vực này không an toàn, không khác gì địa ngục. Phạm Xuân Ẩn cho biết, – Đã có rất nhiều nơi tôi có thể đưa  Rufus đến, nhưng nơi này thì đã có những người vô tội … bị giết … và cũng không có điều gì mà gọi được là an toàn với các chương trình này. Việt Cộng đã tấn công xuyên qua các Vòng Đai Théo từng được Tướng Westmoreland khoe khoan, nơi mà các đơn vị Nam Việt không được thống nhất đã không liên lạc được với nhau và đã mất đến sáu tiếng đồng hồ để đáp ứng. Phillips đã chuyển tin này cho Edward Lansdale và Thiếu Tướng Fritz Fine, kẻ sau đó đã viết các báo cáo, nhưng – tổ sư cha, không có gì đã xẩy ra cả.  805

Tuy Rufus Phillips tin là động cơ thúc đẩy Ẩn đã là mối quan tâm đến thảm kịch của con người tại An Phú  806, nhưng tay điệp viên Ẩn cũng đã đạt được mục tiêu phản tuyên truyền, nhằm cho thấy là công tác bình định đã không thực hiện được đối với một người đàn ông nhiệt tâm giúp người Việt trong việc bình định và xây dựng quốc gia. Viên chỉ huy ở miền Bắc của tay điệp viên là Mai Chí Thọ thì đã cho là việc công kích tính cách hiệu quả của chương trình bình định do Ẩn thi hành đã là một trong những thành tựu vĩ đại nhất, 807 nhưng Mai Chí Thọ đã không giải thích cho Larry Berman, tay viết tiểu sử của Ẩn, lý do tại sao các báo cáo về chương trình bình định của Ẩn lại có giá trị tăng cao thêm như vậy. Dù sao thì Bắc Việt cũng đã có được báo cáo từ hàng ngàn cán bộ khác của họ trong các thôn làng của miền Nam Việt Nam mà đã tận mắt chứng kiến hàng ngày trong cả ngàn thôn ấp. Giá trị của việc làm của Ẩn chính là gieo mầm phản tuyên truyền giữa các đồng minh, cho rằng hiệu quả lại là không hiệu quả và nhân đạo lại là vô nhân đạo. Mark Moyar đã gôm được tài liệu chứng minh được là các chương trình bình định đã có những thành công đáng kể trong Phoenix and The Birds of Prey 808, một cuốn sách mà chỉ đã được ghi sổ mượn đọc có hai lần trong suốt một thập niên từ các kệ của  đại học UC-Davis của giáo sư Larry Berman, nơi ông và những người khác đã dạy các khóa học về chiến tranh Việt Nam cho một tập thể sinh viên gần 20.000 người.

Cần phải có một chiến dịch tuyên truyền vĩ đại để xuyên tạc chương trình bình định, cuộc chiến trong bóng tối mà bọn cộng sản cuối cùng đã thua. Cho tới ngày nay, lịch sử đã tường trình sai lầm về chương trình bình định, đặc biệt là Phượng Hoàng, như là tàn bạo và không hiệu quả. Sau đó, thì Bắc Việt lại thừa nhận rằng Phượng Hoàng đã hữu hiệu 809  tuy nhiên chúng đã thành công làm suy yếu tính chất hợp pháp của nó. – Lịch Sử,  Nã-phá-luân từng nói, là một sự gian lận đã được thỏa thuận trước.

Hình: PFC Andy Jenson, một tổ viên trong tổ ám sát của Việt cộng đang chỉ dẫn về bốn đồng bọn cho Tiểu đoàn 2, Sư đoàn 27, “Wolfhounds”  810

Nick Turner của Reuters sau đó đã viết, vai trò bí mật  của Phạm Xuân Ẩn … không làm tôi ngạc nhiên, tôi đã luôn luôn nghi ngờ … Tôi đã thận trọng về việc chia sẻ thông tin nhạy cảm với y, và rõ ràng y bực bội việc này … [và] chuyển qua làm cho văn phòng. Time. 811

Phạm Xuân Ẩn đã có tới mười năm để giải thích một cách quỷ quyệt và thiên vị các sự kiện thông thường như về tinh thần dân tộc của Cộng sản Việt Nam, về Diệm, về các cuộc biểu tình của Phật giáo, về chương trình bình định, về vụ Tết Mậu thân. Và y có được một số đông phóng viên trẻ và dể bị ảnh hưởng luôn luôn ngồi dưới chân y để ghi chú và viết bản tin đầu tiên, và thật đáng buồn thường cùng là bản thảo cuối cùng của lịch sử. Nhiều nhà báo khác cũng đã có những thành tích riêng ủng hộ Hà Nội.

 Tù Binh Chiến Tranh Nhận Được Cách Đôi Xử Quốc Tế – Phóng Viên và Thẫm Vấn Viên

 Trong năm 1963, Roger Pic, một nhiếp ảnh gia Pháp và Wilfred Burchett, một nhà văn  Úc mà đã từng thẩm vấn tù binh Mỹ trong chiến tranh Hàn Quốc để tìm kiếm các lời thú tội gian trá về chiến tranh vi trùng học 812 và cũng từng viết các tuyên truyền của Bắc Triều Tiên cho khán giả phương Tây, đã đến thăm một số các tù binh Mỹ của Việt Cộng. Bức hình tuyên truyền của Pic về 4 tù nhân chiến tranh xếp hàng trước mặt Wilfred Burchett đã chứng minh được là SFC Ike Camacho, SFC Kenneth Roraback, SSgt. Claude McClure và SSgt. George E. Smith vẫn còn sống và không còn bị liệt kê như là mất tích trong khi thi hành nghĩa vụ. Thật là điều may mắn vì Việt Cộng đã đối xử với hai binh sĩ Hoa Kỳ khác không như vậy, mà đã dùng những cọc sắt hai ‘foot’ đâm vô hậu môn và xuyên dương vật của họ.  813 Sau khi Burchett và Pic về, thì bọn Cuba, Marta Rojas và Raul Valdes Viva lại đến để thẩm vấn các tù binh chiến tranh. Lúc đó thì tại Havana, Cuba các bích chương tôn vinh những người  Việt Nam anh hùng được treo đầy và kế tiếp đón chào các phái đoàn Việt Nam, các nữ anh hùng Việt Nam, các trẻ mồ côi Việt.  Rojas và Valdes đã viết là viên chỉ huy trại, Oil Can Harry,  Lê Hòa, đã là một anh hùng của thời cách mạng Việt Minh. 814

David Dellinger của tờ Giải phóng  đã trở lại trong vòng một tháng ở Cuba từ 29 tháng  4 đến 21 tháng 5, 1964. 815 Được khuyến khích một phần bởi Dellinger 816, vẫn còn nhiều kẻ khác – các bọn Mỹ cấp tiến đả gặp gỡ với Bắc Việt tại Havana, và thậm chí còn nhận được những hướng dẫn rỏ ràng để hoạt động phản chiến ở Hoa Kỳ.  817

 Kennedy Quyết Định Hành Động: Lodge là một Dụng Cụ để Ám Sát Diệm

John F. Kennedy đã nhanh chóng bị chỉ trích là quá yếu đuối trong các cuộc đối đầu trong Chiến tranh lạnh với Cộng sản – rút khu trục hạm Mỹ, ngưng không trợ và không giải cứu cho các chiến sĩ tự do Cuba tại Vịnh Con Heo, mềm yếu trước các thương thảo đầy tính bắt nạt của thủ tướng Nga Nikita Khrushchev tại Vienna, trốn né để rồi sau đó để cho  Bức tường Berlin bị xây lên, cam kết không bao giờ tấn công Cuba, thỏa thuận việc trung lập hóa và trang bị vũ khí bí mật cho người Hmong tại Lào thay vì đáng ra phải bảo vệ Lào như là một tiền đồn chống lại sự bành trướng của cộng sản ở châu Á. Và do đó, Tổng thống John Fitzgerald Kennedy đã quyết định một cách muộn màng để chứng minh khã năng Hoa Kỳ cho Khrushchev. Kennedy nói với James Reston, – Đây là đúng lúc, Việt Nam là đúng nơi.  818 Kennedy tuyên bố tại Câu lạc bộ Kinh tế ở New York vào năm 1962, “Việt Nam đã sẽ phải sụp đổ ngay lập tức nếu không được sự hỗ trợ của Hoa Kỳ”. 819

Các cố vấn của Kennedy đã không được tường trình đầy đủ bởi Halberstam của tờ New York Times , bởi CIA và có lẽ luôn Phạm Xuân Ẩn – đặc biệt là Đại sứ Henry Cabot Lodge, người đã bị lợi dụng đến mức đã vỡ mộng với nhà lãnh đạo miền Nam Việt Nam là Ngô Đình Diệm. Trong một cuộc đảo chính quân sự ngày 2 tháng 11 năm 1963, Diệm đã bị ám sát, tay bị buộc và bị bắn sau ót theo kiểu hành hình. CIA đã thông báo cho Tổng thống Kennedy vào tháng 7 năm 1963 là một chế độ thừa kế không Cộng (sau Diệm) có thể sẽ không hiệu quả gì hơn là Diệm trong cuộc chiến chống Việt Cộng. Tuy nhiên, đang có một số lượng lớn về nhân lực chưa được sử dụng đến nhưng lại đầy kinh nghiệm và đã được huấn luyện  … mà khã dỉ có thể là cấp lãnh đạo có hiệu quả … 820 Trong lúc bối rối do sự do dự của Kennedy về vấn đề này, Đại sứ Hoa Kỳ, Henry Cabot Lodge đã khuyến khích một cuộc đảo chính vì bất mãn với cách Diệm xử lý các cuộc biểu tình Phật giáo. Ngày 29 tháng 8, Lodge đã đánh điện, – Chúng tôi đã khởi đầu một quá trình mà sẽ không thể nào quay trở lại mà không bị khinh bỉ: lật đổ chính phủ Diệm  Trong khi vẫn dành quyền có thể đổi ý, Tổng thống Kennedy đã ủng hộ các tướng đảo chính, kể cả tuyên bố nhiều lời đe dọa là sẽ cắt đứt viện trợ cho miền Nam Việt Nam nếu Diệm không từ chức. 821 Lodge chỉ định Tướng Phillip Hawkins nói chuyện với các tướng tham gia đảo chính mặc dù John Richardson đã cảnh cáo các tướng, có nghĩa là Khiêm, chưa sẵn sàng, điều mà Hawkins đã xác nhận vào ngày 31 tháng 8. John Richardson điện cho DCI Helms, – Cuộc đảo chính đặc biệt này nay kết thúc. … Chúng ta đã ráng hết sức nhưng vẫn bị thất bại. 822 Ngày 2 tháng 9 năm 1963, tờ Times of Vietnam của anh em Diệm Nhu phát hành với tiêu đề, – Mưu toan đảo chánh do CIA tài trợ.  823 Ngày 4 tháng 9 năm 1963, R.J. Smith, với tư cách Phó Giám đốc đương nhiệm đã cảnh cáo viên Giám đốc của CIA là vấn đề Phật giáo không ảnh hưởng gì đến các nỗ lực chống nổi dậy của chế độ Diệm và các cuộc biểu tình phản đối không chứng minh được cho việc ngưng ủng hộ ông. Dù sao thì người Anh cũng đã phải mất tới chín năm để dẹp cuộc nổi loạn Cộng sản tại Mã-lai-á. 824 Các lời phản đối yếu ớt của các Tham Mưu Trưởng Liên Quân đã không có hiệu lực gì . 825

Ngày 5 tháng 10, Phó trưởng đoàn thuộc Bộ Ngoại giao là William Trueheart đã viết, “Chúng tôi không dứt khoát chống lại âm mưu ám sát bởi vì hai giải pháp thay thế khác có nghĩa là hoặc một cuộc tắm máu tại Sài Gòn sẽ xẩy ra, hoặc một cuộc chiến kéo dài mà sẽ nát quân đội và đất nước ra.” 826 Nhận xét như vậy quả là quá mạnh như gật đầu để các tướng Nam Việt đầy tham vọng thi hành công việc bẩn thỉu. Cũng cần một sự kiểm soát của kẻ cả và chuẩn bị che dấu mặt thật của các phúc trình. Do đó Giám đốc CIA đã gửi hai công điện cho nhiệm sở Sài Gòn. Cái đầu xác nhận “[Chúng ta] không thể ở trong vị trí để khuyến khích, phê duyệt, hoặc hỗ trợ cho việc ám sát, “ 827 và bức thứ hai thì nói,” Chúng ta không thể ở trong vị trí tích cực tha thứ cho một hành vi như vậy và do đó mà cam kết phần trách nhiệm của mình. 828 Trong tháng 9 và 10 Tổng thống và các cố vấn của ông lại càng thêm phân vân không chắc là một cuộc đảo chánh sẽ thành công hoặc dẫn đến kết quả tốt hơn đối với cộng sản. 829 Ngày 01 tháng 11, Diệm phàn nàn về việc Hoa Kỳ kích động các tu sĩ Phật giáo và về việc cộng sản lũng đoạn các sinh viên đại học. 830

Dù sao, với sự khuyến khích không ngừng của Lodge, có tính cách tích cực hay không, thì hành vi bẩn thỉu – cuộc đảo chính và ám sát – cũng đã được thực hiện. Diệm đã đầu hàng và ra lệnh cho quân đội của mình làm vậy, nhưng một thiếu tá tên Nguyễn Văn Nhung, thân cận với Tướng Dương Văn Minh, Minh Lớn, và Tướng Mai Hữu Xuân, đã bắn Diệm và Nhu ở sau ót trong khi tay họ vẫn bị trói chặt sau lưng và đang nằm trên sàn của một thiết vận xa. 831

Sau một cuộc đảo chính thứ hai vào tháng giêng năm 1964, CIA đã nhận ra được sai lầm. 832 Việc ám sát Ngô Đình Diệm đã sẽ dẫn đến nhiều năm bất ổn chính trị, kéo lùi lại chương trình bình định và đã cực kỳ giúp ích cho kẻ địch. Vào thời điểm đó, Nguyễn Hữu Thọ, Chủ tịch Mặt Trận Giải Phóng Quốc Gia (Việt Cộng) đã nói với Wilfred Burchett,  tên gián điệp cộng sản và cũng là phóng viên rằng vụ ám sát Diệm là một món quà Trời cho chúng tôi.  833 Hồ Chí Minh thì nói với Wilfred Burchett, “Tôi khó có thể tin rằng người Mỹ sao mà ngu dữ vậy.”  834 Bộ Chính trị Hà Nội đã báo cáo, “Diệm đã là một trong những cá nhân cương quyết nhất chống lại nhân dân và các người cộng sản. . . . Diệm là một trong những tên đày tớ có khã năng nhất của đế quốc Mỹ. ” 835

Việc Hà Nội hỗ trợ cùng tổ chức cho Phật giáo và các cơ sở báo chí Sài Gòn đã có kết quả. Các kẻ thừa kế Diệm đã phá tan lực lượng cảnh sát và thay thế họ bằng những tên phe đảng tham nhũng và kém cỏi hơn so với những người trung thành nhưng tham nhũng của Diệm. Họ không có khã năng và ý chí để tiếp nối chương trình bình định chống lại chính phủ ma của Việt Cộng. Thật vậy, Đại tá Trần Bá Thanh, Phó Giám đốc Cảnh sát quốc gia mà đã có thể là một điệp viên cộng sản, – đã trả tự do cho một số tù nhân chính yếu Việt Cộng, rồi tiêu hủy các hồ sơ Việt Công được lưu trữ bởi cảnh sát, và đã ít nhất cho một tên từng được nhận dạng là điệp viên cộng sản để làm việc  … trong hệ thống cảnh sát.  836 Các chính trị gia Phật giáo, đặc biệt là Thích Trí Quang, đều đã cố gắng lật đổ tất cả các chính phủ miền Nam Việt Nam vào thời gian sau đó. Cho dù nếu Trí Quang thực sự yêu nước, thì những hành động của y trông đúng như những sự trùng hợp ngẫu nhiên mà tốt đẹp, theo sát với những mong muốn của Hà Nội.

Cá tính tham nhũng của con người và trong chính quyền đã khiến nhiều người bối rối. Các nhà báo, các chính trị gia và công chức Mỹ đã có một cái nhìn cực kỳ ngây ngô về  những khó khăn trong việc xây dựng một nền dân chủ mới mà vừa cùng tiến hành một cuộc chiến tranh như ở miền Nam Việt Nam. Không còn ai nhớ đến là George Washington đã từng xử tử các tù binh chiến tranh, các kẻ phản quốc, và những kẻ đào ngũ. Giới tinh túy Mỹ đã chờ đợi các nhà lãnh đạo miền Nam Việt Nam là Diệm và tất cả các người kế nhiệm của ông sẽ ngay lập tức biến đổi một xã hội Việt Nam mà đã từng chia rẻ và tranh chấp với nhau trong nhiều thế kỷ, mà đã bị Pháp gọi và công bố là – một giỏ cua, một thùng cua  837, sẽ thành một nền dân chủ tự do kiểu phương Tây. Một thành tích như vậy sẽ vượt xa 700 năm mà Vương quốc Anh đã phải trải qua để đến được một chính phủ hợp hiến, hay vượt xa 150 năm mà Mỹ đã cần để xây dựng một hiến pháp và ban hành quyền bỏ phiếu bằng nhau, hay cả luôn 14 năm mà người Pháp đã cần để tái lập lại nền cộng hòa sau Thế chiến II, hay 5 năm để bình định nước Đức Na-zi sau Thế chiến II, 838 hay để Caesar Mỹ là Douglas McArthur biến đổi nước Nhật Bản phong kiến … đó là chưa nói đến cuộc sống ngắn ngủi của nền dân chủ không tưởng  của nước Cộng hòa Đức Weimar. Trong một thời gian dài, Hoa Kỳ và Nam Việt Nam sẽ không thể tìm lại được một người lãnh đạo tương đương để thay thế Diệm mà đối mặt với kẻ thù quốc nội trong các làng xã miền Nam Việt Nam. 839 Trong khi đó thì Hà Nội và bọn phản chiến thì lại tích cực tăng cường mục tiêu chung của chúng mà đang ngày càng khuếch trương ra tại Mỹ.

*********

663 Merle L. Pribbenow, ―North Vietnam’s Master Plan, Vietnam Magazine tháng 8,  1999 tại  http://www.historynet.com/wars_conflicts/vietnam_war/3038076.html

664 Như trên

665 Như trên

666 Như trên

667 Victory inVietnam: The Official History of the People’s Army of Vietnam, (Bìa cứng) của William J. Duiker (Foreword), Merle l. Pribbenow. (Chuyển ngữ)

668 Tướng Huỳnh Văn Cao gởi ‘e-mail’ cho Canfield, 14 tháng 11, 2007

669 Tướng Huỳnh Văn Cao gởi ‘e-mail’ cho Canfield, 14 tháng 11, 2007. ― Phần còn lại được ghi y như tác giả đã viết, Cao viện dẫn đa số ghi nhận chiếu theo Mark Moyar.

670 Tướng Huỳnh Văn Cao gởi ‘e-mail’ cho Canfield, 14 tháng 11, 2007

671 Tướng Huỳnh Văn Cao gởi ‘e-mail’ cho Canfield, 14 tháng 11, 2007 : Mark Moyar, Triumph Forsaken, 153.

672 Kẻ đào thoát George Karlin đã nhận dạng Burchett như là một điệp viên của KGB nhân các lần tường trình trước Quốc hội trong Indochina Chronology, Bộv II, Số 3. 28. 

673 Bill Laurie nói với Canfield và các kẻ khác, 27 thas1ng 11, 2008.

674 Wilfred Burchett The Furtive War, Liberation Front http://www.marx.org/archive/burchett/1963/the-furtive-war/ch05.htm

675 Cathy Wilkerson, Flying Close to the Sun,New York: Seven Stories Press, 2007,81. 

676 Joseph Farah, ―Meet the real Walter Cronkite, WorldNet Daily, 18 tháng 7, 2009.

677 Douglas Pike, Viet Cong. 216.

678 Phự nữ ủng hộ U.S. Strike for Peace, Hanoi, VNA (Thông Tấn Xã Việt Nam , 14:28 GMT 20 tháng 3, 1962 viện dẫn thơ của Ủy ban Đương Nhiệm của Women‘s Union gởi cho Bà Ruth Gage Colby tại New Your. Bản văn trong Rothrock, 147; văn khố của TTU . 

679 Đặng Chí Bình, (bản dịch bởi Robert C. Trando) BLACK STEEL, 47.

680 Điềm chỉ viên của FBI, Morris Childs và người anh em Jack đã chuyển giao $26 triệu tiền mặt từ Moscow qua cho CPUSA trong suốt 22 năm nếu tính tới năm 1978 và FBI đã ghi lại tất cả các con số của những tờ bạc này. John Barron, Operation Solo, Regnery, 1996, 58, 62, 305; Harvey Klehr, John Earl Haynes, Fridrikh Igorevich Firsov (ed.), The Secret World of American Communism, (New Haven and London: Yale University Press, 1995; Khai trính của Ed O‘Malley với FBI, Soviet Active Measures, Tường trình trước Ủy ban Permanent Select Committee on Intelligence, Hạ viện, Nhiệm kỳ 97, Khóa 2, 14 tháng 7, 1982, 202-3.

681 David Horowitz, Radical Son: a Generational Odyssey, New York: Free Press, 1997, 102, 104; William T. Pool, ―The Anti-Defense Lobby Phần 3: Coalition for a New Foreign and Military Policy, Institutional Analysis #12, Heritage Foundation, 19 tháng chạp, 1979, 17-18.

682 Horowitz, Radical Son, 104.

683 Horowitz, Radical Son…, 112.

684 Horowitz, Radical Son…, 139-41.

685 “Đã không còn có thể chủ trương là Liên Xô không tài trợ đảng Mỹ, rằng CPUSA đã không duy trì bộ mặt nổi, và rằng các lãnh tụ cùng đảng viên đều vô tội không dính líu tới các điệp vụ do thám của Liên Xô. Trong toàn bộ văn khố đồ sộ của Cộng sản Quốc tế hay của chính đảng Hoa Kỳ, tác giả đã không tìm thấy tài liệu nào cho thấy được là Xô Viết hay các viên chức đảng đã phản đối việc các tên Cộng sản Mỹ cộng tác với tình báo Xô viết hay ít ra cũng có một chút xíu suy tư về mối quan hệ. Cả Liên bang Xô viết lẫn giới lãnh đạo Cộng sản Mỹ đều xem những hoạt động này như là bình thường và đúng đắn. Điều duy nhất bọn chúng lo sợ chỉ là bị lộ ra cho công chúng biết được.” Harvey Klehr, John Earl Haynes, Fridrikh Igorevich Firsov (ed.), The Secret World of American Communism, (New Haven and London: Yale University Press, 1995).

686 Hayden rồi cũng đi thămLidice trong tháng chạp, 1965.

687 Robbie Liberman, The Strangest Dream: Communism, Anticommunism, and the U.S. Peace Movement, 1945-1963, 184  việc theo dỏi, kiểm thơ từ cùng các điệp viên hai mang của CIA  kể cả Ethel Taylor đã trả $100 mổi tháng để tham dự các buồi họp của  WSP ở Adams, Peacework, trang 14 nêu ra bởi Liberman 184 ghi chú 3

688 Robbie Lieberman, The Strangest Dream: Communism, Anticommunism, and the U.S. Peace Movement, 1945-1963, 70 ghi chú 32 nêu ra phỏng vấn của Lieberman với Bick vào năm 1992.

689 Robbie Lieberman, The Strangest Dream: Communism, anticommunism, and the U.S. Peace Movement, 1945-1963, 171-173.

690 Robbie Lieberman, The Strangest Dream: Communism, anticommunism, and the U.S. Peace Movement, 1945-1963, 161-173. 

691 Bernard Fall, (ed.) Ho..., 322.

692 Tiểu ban An ninh Quốc nội Thượng viện , Phúc trình, The Nationwide Drive Against Law Enforcement Intelligence Operations, phần 2, 14 tháng 7, 1975, trang 150, văn thư của American Committee for Protection of Foreign Born, 12 tháng 4,, 1973, Tiến sỹ Willard Uphaus, Đồng Chủ tịch.

693 HCUA, Phúc trình hàng năm 1962, ―Communist Youth Activities, 275.

694 The Festival Movement: We Were There!, Tạp chí Dynamic, tháng 8, 2005. http://www.yclusa.org/article/articleprint/1693/-1/302/

695 http://content.cdlib.org/xtf/view?docId=kt4w1003q8&doc.view=content&chunk.id=d0e1496&toc.depth=1&brand=oac&anchor.id=0 

696 Quốc hội – Hạ Viện. Ủy ban Un-American Activities Committee (HUAC). Subversive Influences in Riots, Looting, and Burning. Washington,D.C.: GPO, 1968. Pt. 6: Subversive Influences in Riots, Looting, and Burning (San Francisco -Berkeley) (tháng 6, 27 và 28 tháng 7, 1968). Tài liệu số Y4.Un1/2:R47/pt.6, 27 và 28 tháng 6, 1968, Quốc hội Nhiệm kỳ 90 – Khóa 2 http://www.aavw.org/protest/subversive_huac_abstract09_excerpt.html

697 Tocsin, Bộ 6, Số 3, 28 tháng giêng, 1965.

698 FBI, FOIA, Howard Zinn, SA Robert R. Nichols, báo cáo Howard Zinn Security Matter 100-360217, Atlanta, GA 31 tháng 7, 1963.

699 http://portland.indymedia.org/en/2005/02/310075.shtml

700 http://portland.indymedia.org/en/2005/02/310075.shtml

701 Sau khi từ Helsinki về, Robert Kaiser đã ra ấn bản tiếng Pháp của tờ báo tên là  Helsinki Youth News.

702 Hayden, Reunion, 37. 

703 Gloria Steinem nói với C.D. Jackson, 3/19/59, DDE; NYT, 21 tháng 2, 1967; Xem thêm Sol Stern với Lee Webb, Michael Ansara và Michael Wood, “A Short Account of international Student Politics and the Cold War with Particular Reference to the NSA, CIA, etc., “ Ramparts tháng 3, 1967, 29-38 tại  ―The CIA and the National Student Association,  cia-on-campus.org/nsa/nsa.html. 

704 SA [sữa chữa] #41 với Sac (100-142451). Ủy ban U.S. Festival Committee, Inc. (8th World Youth Festival), IS-C (Bufile 100-436225), Về: 460 Park Avenue South, Phòng  807,  13 tháng 2, 1962; ADIC, New York (190-1) gởi Giám đốc, ―Identification of Source Used in An FBI Memorandum; Freedom of Information—privacy Act, (FOIPA) matter (BU Deadline COB 5/16/77) 13 tháng 5, 1977.

705 Mark Moyar, Triumph Forsaken, 171 ghi chú 21 viện dẫn David Halberstam, New York Times, 27 tháng 11, 1962.

706 Mark Moyar, Triumph Forsaken, 170.

707 Thomas A. Bass, The Spy Who Loved Us,New York: Public Affairs, 2009,6.

708 Mark Moyar, Triumph Forsaken, 172-75. 

709 Armond Noble, nhà xuất bản của Military Magazine đã từng có lần làm chung tại văn phòng Time ở Sài-gòn với Ẩn. Sau khi rời Việt-Nam, Noble đã khám phá ra là mình mắc nợ món món thuế khá lớn. Ẩn đã giúp ông ta né hệ thống giấy má về thuế của ViệtNam. Noble kể lại với Canfield vào tháng 6, 2007.

710 Larry Berman, The Perfect Spy: The Incredible Double Life of Pham Xuan An, Time Magazine Reporter & Vietnamese Communist Agent, New York: Harper Collins, 2007, passim; Thomas A. Bass, The Spy Who Loved Us,New York: Public Affairs, 2009.

711 Tại Orange Coast College,  Phạm Xuân Ẩn đã mê hoặc Ross Johnson, kẻ trong tương lai sẽ là lãnh tụ Cộng Hòa viện Lập Pháp California và Pete Conaty, mà sẽ là một sĩ quan tình báo cũng như là một tay vận động hành lang Quốc hội Mỹ rất thiện nghệ. Gian trá là một điều kiện thiết yếu cho những kẻ sống núp lén. Một đồng môn của tác giả, Randy Kraft, đã chinh phục được tác giả, luôn vợ y, anh chị em y và đã trở thành một tên sát nhân chuyên tái phạm.

712 Ký giả Việt Nhằm Chống lại Tuyên Truyền Đỏ, Sacramento Bee, 5 tháng 7, 1959, B-4 cung cấp bởi Larry Berman.

713 Mark Moyar, Triumph Forsaken, 168. 

714 Tướng Huỳnh Văn Cao gởi điện thư cho Canfield, 14 tháng 11, 2007.

715 Frank Snepp trong Thomas A. Bass, ―The Spy Who Loved Us, The New Yorker,  23 tháng 5, 2005, thomasbass.com/work1.htm.

716 Larry Berman, The Perfect Spy; Thomas A. Bass, ―The Spy Who Loved Us, The New Yorker, 23 tháng 5, 2005  thomasbass.com/work1.htm.

717 Zalin Grant, ―Phạm Xuân Ẩn: Vietnam‘s top Spy, Why Did U.S. Journalists Love Him?‘,   http//www.pythia press.com/wartales/spy.htm 

718 Tướng Huỳnh Văn Cao gởi điện thư cho Canfield, 14 tháng 11, 2007; ―Limited War, Time, 25 tháng 8, 1961. 

719 Marguerite Higgins, Our Vietnam Nightmare,New York: Harper & Row, 1965, 129.

720 Nick Turner gởi điện thư cho Larry Berman, 10 tháng 10, 2006 và David Halberstam, The Making of a Quagmire, New York: Ballentine Books, 1968 viện dẫn trong Berman, The Perfect Spy: The Incredible Double Life of Pham Xuan An, Time Magazine Reporter & Vietnamese Communist Agent, New York: Harper Collins, 2007, 144-145.

 721 Larry Berman The Perfect Spy: The Incredible Double Life of Pham Xuan An, Time Magazine Reporter & Vietnamese Communist Agent, New York: Harper Collins, 2007,142 

722 Pete Conaty gởi điện thư cho Larry Berman, (N.D.), bản sao gởi cho Canfield, 21 tháng 5, 2007.

 723 Trao đổi điện thư giữa tác giả và Rufus Phillips, Mike Benge với Bill Laurie, 26-28 tháng 8, 2010.

724 Peter Braestrup, Big Story,New Haven: Yale university Press; 1978, 10-12, 24.

725 Bill Laurie, ―RVNAF, 1968-1975, http://www.buttondepess.com/secretstuff/ttu2006/RVNAF_1968_1975.pdf.

726 Armond Noble nói với tác giả; Sicily 9 tháng 7-17 tháng 8, 1943

http://www.history.army.mil/brochures/72-16/72-16.htm 

727 Bill Laurie, RVNAF, 1968-1975, http://www.buttondepess.com/secretstuff/ttu2006/RVNAF_1968_1975.pdf.

728 Malcolm W. Browne, The New Face of War,Indianapolis: Bobbs-Merrill, 1965, 15.

729 Rufus Phillips, Why Vietnam Matters: An eyewitness account of lessons not learned, Naval Institute Press, 2008, 335.

730 Bill Lauriet nói với Roger Canfield, 25 tháng 5, 2010.

731 Armond Noble nói với Roger Canfield.

732 Moyar, Triumph Forsaken, 186-205. 

733 Bill Laurie, ―RVNAF, 1969-1975, trang 16 tại buttondepress.com/secretstuff/ttu2006/RVVNAF_1968_1975.pdf.

734 New York Times, 11 tháng giêng, 1963 trong Moyar Triumph.., 195 ghi chú số 27.

735 Giám đốc CIA và Hội đồng U.S. Intelligence Board, ―Prospects in South Vietnam, National Intelligence Estimate, Số 53-63, NIE 53-3, 17 tháng 4, 1963, trang 8.

736 Zalin Grant, ―Phạm Xuân Ẩn: Vietnam‘s top Spy, Why Did U.S. Journalists Love Him?‘,  http//www.pythia press.com/wartales/spy.htm

737 Tài liệu có tính cách cổ điển của Richard Tregaskis là Guadalcanal Diary đã được viết dựa theo kinh nghiệm tường trình do ở sát cận và có tính cách cá nhân trong những chiến hào chung với binh sĩ Mỹ suốt những trận đánh đẫm máu với lính Nhựt cuồng tín mà đã từng khoe trương lòng dũng cảm y như Việt Cộng đã xem như đó là huyền thoại . 

738 Dave R. Palmer, Summons of the Trumpet: U.S.-Vietnam in Perspective,Novato: Presidio Press, 1978, 37 viện dẫn trong Moyar, Triumph… 192 ghi chú 15.

739 Tướng H. Norman Schwarzkopf nói với Peter Petre, It Doesn‘t Take a Hero: The Autobiography, New York: Bantam Books, 1993, 159.

740 H.R. McMaster, Dereliction of Duty,New York: Harper Collins, 1997, passim.

741 Marguerite Higgins, Our Vietnam Nightmare,New York: Harper & Row, 1965, 246. 

742 Peter Arnett, Live From the Battlefield, 98 viện dẫn tại  cia.gov/library/center-for-the-study-of-intelligence/csi-publications/books-and…

743  Chester L. Cooper, The Lost Crusade:America inVietnam, 196-197 viện dẫn tại  cia.gov/library/center-for-the-study-of-intelligence/csi-publications/books-and…

744 Peter Braestrup, Big Story,New Haven: Yale university Press, 1978, 3.

745 M. Stanton Evans, Blacklisted… 96-97, 102-3 viện dẫn David Martin, The Web of Disinformation, Harcourt Brace Jovanovich, 1990, 201,150; Herbert Romerstein, ―Aspects of World War II History Revealed through ‗ISCOT Radio intercepts,  Journal of Intelligence History, Hè 2005; The Amerasia Papers: A Clue to the Catastrophe of China, soạn thảo bởi ủy ban Thượng viện Internal Security subcommittee, 26 tháng giêng, 1970, 577, 592, 1015.

746 Marguerite Higgins, Our Vietnam Nightmare,New York: Harper & Row, 1965, 71.

747 Merle L. Pribbenow, ―Drugs, Corruption, and Justice inVietnam andAfghanistan: A Cautionary Tale, Washington Decoded, 11 tháng 11,  2009.  

748 Tướng William C. Westmoreland, A Soldier Reports,New York: Dell, 1976, 319.

749 David Halberstam, The Powers That Be, New York: Knopf, 1979, 450 viện dẫn trong Berman, The Perfect Spy: The Incredible Double Life of Pham Xuan An, Time Magazine Reporter & Vietnamese Communist Agent, New York: Harper Collins, 2007, 145 số 52.

750 Eddie Adams, ―The Tet Photo, Al Santoli, To Bear Any Burden, 183.

751 Thomas A. Bass, The Spy Who Loved Us, The New Yorker, 23 tháng 5, 2005, 11-13 thomasbass.com/work1.htm; Thomas A. Bass, The Spy Who Loved Us, New York: Public Affairs, 2009, 3-4. 

752 Ben Stein, ―A New Yorker Kind of Guy, the American Spectator,  9 tháng 6, 2005. spectator.org/util/print.asp?art_id=8276.

753 Larry Berman, The Perfect Spy: The Incredible Double Life of Pham Xuan An, Time Magazine Reporter & Vietnamese Communist Agent, New York: Harper Collins, 2007,115, 135, 137, 140-145, 146, 154, 171, 183, 275, 304n.

754 Thomas A. Bass, The Spy Who Loved Us,New York: Public Affairs, 2009, 137.

755 Thomas A. Bass, ―The Spy Who Loved Us, The New Yorker, 23 tháng 5, 2005, 11-13   thomasbass.com/work1.htm.

756 Thomas A. Bass, ―The Spy Who Loved Us, The New Yorker, 23 tháng 5, 2005, 11-13   thomasbass.com/work1.htm.

757 Thomas A. Bass, The Spy Who Loved Us,New York: Public Affairs, 2009,137-8.

758 Berman nói với Canfield tại buổi ký sách ngày 16 tháng 6, 2007. Khi được hỏi là có bao giờ Phạm Xuân Ẩn đã cung cấp tin sai, có nghĩa là xuyên tạc cho Halberstam và nhiều người khác thì Berman trả lời là việc này không thuộc phần hành của Ẩn. Đã có đầy đủ bọn gián điệp cộng sản để làm công việc này. Herman cũng có mô tả ngồi đọc hàng trăm trang ghi chú trong văn khố của Shaplen (Wisconsin Historical Society), McCulloch (University of Nevada, Reno), Sheehan và Halberstam (Công Khố National Archives) và đã không bao giờ tìm thấy được có chổ nào là xuyên tạc. Sau đó khi chính tác giả đọc lại quyển sách của Berman thì đã thấy được nhiều đoạn mà trong đó Ẩn đã tường thuật các sự kiện mà chắc chắn là có lợi cho cộng sản và gần như luôn luôn phản ảnh xấu về Mỹ và các đồng minh. Đó là kiểu nhìn của một tên lâu năm phục vụ về chính trị trong vai trò của một nhà bình luận phân tích chính trị về báo chí. Pete Conaty, một cựu sĩ quan tình báo tại Việt nam và cũng là bạn đồng môn với Phạm Xuân Ẩn tại Orange Coast College cũng tin là chắc chắn Ẩn đã từng đưa tin gian dối cho bọn Mỹ này.

759 Thomas A. Bass, The Spy Who Loved Us,New York: Public Affairs, 2009, 226.

760 The Press: Self Reliance in Saigon, Time  8 tháng giêng, 1965, ―Femininity at the Front, Time, 18 tháng 10, 1966 viện dẫn trong Larry Berman, The Perfect Spy: The Incredible Double Life of Pham Xuan An, Time Magazine Reporter & Vietnamese Communist Agent, New York: Harper Collins, 2007, 165 ghi chú 24-25  

761 Berman phỏng vấn John Larsen, viện dẫn trong Larry Berman, The Perfect Spy: The Incredible Double Life of Pham Xuan An, Time Magazine Reporter & Vietnamese Communist Agent, New York: Harper Collins, 2007, 167 ghi chú 31.

762 Robert Sam Anson, War News,New York: Simon and Schuster, 1989, 63-4.

763 Robert Sam Anson, War News,New York: Simon and Schuster, 1989, 26, 40, 69

764 Robert Sam Anson, War News,New York: Simon and Schuster, 1989, 111-113.

765 Robert Sam Anson, War News,New York: Simon and Schuster, 1989, 120-1.

766 Robert Sam Anson, War News,New York: Simon and Schuster, 1989, 135-143.

767 Robert Sam Anson, War News,New York: Simon and Schuster, 1989, 257, 271-2. 

768 Robert Sam Anson, War News,New York: Simon and Schuster, 1989, 280-1, 283-5.

769 Robert Sam Anson, War News,New York: Simon and Schuster, 1989. 312.

770 Larry Berman, The Perfect Spy: The Incredible Double Life of Pham Xuan An, Time Magazine Reporter & Vietnamese Communist Agent, New York: Harper Collins, 2007,

771 Thomas B. Morgan, ―Reporters of the Lost War, Esquire, tháng 7, 1984, 52 viện dẫn trong Berman, The Perfect Spy: The Incredible Double Life of Pham Xuan An, Time Magazine Reporter & Vietnamese Communist Agent, New York: Harper Collins, 2007, 146. 

772 Pete Conaty gởi điện thư cho Larry Berman, (N.D.), phóng ảnh cho Canfield, 21 tháng 5, 2007. Chính Conaty cũng là một tay tôn sư về giật dây báo chí quốc nội, kể cả tác giả, trong việc theo dõi và tạo ảnh hưởng chính trị tạiCalifornia.

773 Robert S. McNamara, James G. Blight, Robert K. Bingham, Thomas J. Biersteker, Argument Without End, In Search of Answers to the Vietnam Tragedy, New York: Public Affairs, 121, 122, 124. 

774 Pike, Viet Cong, 173.

775 RadioMoscow, bằng tiếng Việt cho người Việt (5 tháng 7, 1963).

776 Homer A. Jack và Donald Keyes, ― Đại hội Oxford của các tổ chức vì hòa bình không liên kết , National Committee for a Sane Nuclear Policy, 30 tháng giêng, 1963 có tại   www.radioradicale.it 

780 Gerald Hickey, Window on a War: An Anthropologist in the Vietnam Conflict, Lubbock: Texas Tech University Press, 2002, 2002, 292; Neil Sheehan nói chuyện với  Conein,  22 tháng 9, 1976,  Hộp  62, Hồ sơ 9, Sheehan Papers cùng được viện dẫn trong  Larry Berman, The Perfect Spy: The Incredible Double Life of Pham Xuan An, Time Magazine Reporter & Vietnamese Communist Agent, New York: Harper Collins, 2007, trang 158 ghi chú 14, trang 160 ghi chú 15.

 781 Thomas A. Bass, The Spy Who Loved Us,New York: Public Affairs, 2009,162.

782 Marguerite Higgins, Our Vietnam Nightmare,New York; Harper & Row, 1965, 37, 39, 43-44

783 Marguerite Higgins, Our Vietnam Nightmare,New York; Harper & Row, 1965, 45.

784 Marguerite Higgins, Our Vietnam Nightmare,New York; Harper & Row, 1965, 58, 63, 79. 

785 Marguerite Higgins, Our Vietnam Nightmare,New York; Harper & Row, 1965, 24

786 Malcolm W. Browne, The New Face of War,Indianapolis: Bobbs-Merrill, 1965, between 128-9.

787 Malcolm W. Browne, The New Face of War,Indianapolis: Bobbs-Merrill, 1965, 179-80.

788 Marguerite Higgins, Our Vietnam Nightmare,New York; Harper & Row, 1965, 27, 35.

789 Việt Cộng đã tổ chức nó – Hồ Đại Sơn và Trần Phan Chấn, Lịch Sử Sài gon – Chợ Lớn – Gia Định Kháng Chiến (1945-1975), Ho Chi Minh City: Ho Chi Minh City Publishing house, 1994, 364, viện dẫn trong Mark Moyar, Triumph Forsaken, 231 ghi chú số 3.

790 Marguerite Higgins, Our Vietnam Nightmare,New York; Harper & Row, 1965, 27. 

791 Marguerite Higgins, Our Vietnam Nightmare,New York; Harper & Row, 1965, 30, 85.

792 Moyar, Triumph Forsaken, 248, 256.

793 Robert Conquest, Harvest of Sorrow,

794 M. Stanton Evans, Blacklisted… 96-97, 102-3 viện dẫn David Martin, The Web of Disinformation, Harcourt Brace Jovanovich, 1990, 201,150; Herbert Romerstein, ―Aspects of World War II History Revealed through ‗ISCOT Radio intercepts, Journal of Intelligence History, Hè 2005; The Amerasia Papers: A Clue to the Catastrophe of China, soạn thảo bởi tiểu ban Thượng viện Senate Internal Security subcommittee, 26 tháng giêng, 1970, 577, 592, 1015. 

795 Các Tướng Lãnh đã làm vậy – New York Times, 30 tháng 8, 1963; Le Clung, Phong Trào Phật Giáo Miền Nam Việt Nam, , 1999, 305-9; Đảo chánh của Nhu –  New York Times,  23 tháng 8, 1963; Không Ai Chết —Liên Hiệp Quốc, Đại Hội Đồng, khóa 18. Tài liệu A/5630, ― Báo cáo của Phái đoàn đi Tìm hiểu tại Nam Việt ,7 tháng chạp, 1963, 75-67 tất cả đều được viện dẫn trong  Mark Moyar, Triumph Forsaken,232-237.

796 Marguerite Higgins được viện dẫn trong Philip Knightly, ―The War Correspondent as Hero, Propagandist, and Myth Maker, The First Casualty, 1975, 380, trong Robert Elegant, ―How to Lose a War: The Press and Vietnam, Encounter, (London), bộ LVII, tháng 8, 1981, 73-9- tại  Wellesley.edu/Polisci/wj/Vietnam/readings/elegant.htm

797 SNIE 53—2-63, ―The Situation in South Vietnam, 10 tháng 7, 1963(S) viện dẫn trong  cia.gov/library/center-for-the-study-of-intelligence/csi-publications/books-and…

798 Doug Pike, “The Vietcong Secret War, ” trong Robert Manning, (Editor) War in Shadows,Boston: Boston Publishing Co., 1988, trang 6.

799 Malcolm W. Browne, The New Face of War,Indianapolis: Bobbs-Merrill, 1965, trang 1.

800 Marguerite Higgins, Our Vietnam Nightmare,New York: Harper & Row, 1965, trang 243.

801 Pete Conaty đã tìng nghi là Ẩn làm cho CIA và phóng viên tờ Time là Zalin Grant cũng nói vậy. Zalin Grant, ―Pham Xuan An: Vietnam‘s top Spy, Why Did U.S. Journalists Love Him?‘  http//www.pythia press.com/wartales/spy.htm 

802 Tướng Lữ Mộng Lan, ―What is Beautiful, trong Santoli, To Bear Any Burden, trang 119.

803 Rufus Phillips, ―The Cyclops, trong Santoli, To Bear Any Burden, trang 87; Rufus Phillips và một ghi chú để giải thích trong Mike Benge tại ―  hội nghị War and Remembrance 26 tháng 9,  2009; Rufus Phillips, Why Vietnam Matters, Annapolis: Naval Institute Press, 2008, trang 230.

804 Rufus Phillips, The Reason for ‗Why Vietnam Matters, trong Võ M. Nghĩa, Đặng  V. Chất, Võ V. Hiền (eds.), War and Remembrance, SACEI Forum 36, Denver: Outskirts Press, Inc, 2009, trang 6. 

805 Rufus Phillips, ―Rings of Steel, Al Santoli, To Bear Any Burden, trang 167-8.

806 Rufus Phillips, Why Vietnam Matters: An eyewitness account of lessons not learned, Naval Institute Press, 2008, trang 270-272.

807 Larry Berman, The Perfect Spy: The Incredible Double Life of Pham Xuan An, Time Magazine Reporter & Vietnamese Communist Agent, New York: Harper Collins, 2007, trang 178-9. 

808 Mark Moyar, Phoenix and the Birds of Prey; The CIA‘s Secret Campaign to Destroy the Viet Cong, Annapolis: Naval Institute Press, 1997; Xem thêm Lewis B. Sorley, A Better War: The Unexamined Victories and Final Tragedy of America‘s Final Years in Vietnam, New York: Harcourt, Brace 1999.

809StanleyKarnow,Vietnam a History, trang 601-2. 

810 25th Infantry Division Association, Tropic Lightening, Bộ 1, số 30, 16 tháng 9, 1966, 25th Infantry Division Museum, Ron Leonard, 25th Aviation Battalion, Kirk Ramsey, 2nd Bn., 14th Inf.  tại http://images.google.com/imgres?imgurl=http://www.25thida.com/TLN/tln130-16.jpg&imgrefurl=http://www.25thida.com/TLN/tln1-30.htm&usg=__GL-RX9smtMs2Ukp0K0DedpAL1nk=&h=432&w=289&sz=29&hl=en&start=22&itbs=1&tbnid=qlgHJNoRIv9UkM:&tbnh=126&tbnw=84&prev=/images%3Fq%3DArmy%2Bassassination%2BOR%2Batrocity%2BOR%2Bmassacre%2B%2522viet%2Bcong%2522%26start%3D20%26hl%3Den%26sa%3DN%26as_st%3Dy%26ndsp%3D20%26tbs%3Disch:1.

811 Media and War: Reflections on Vietnam viện dẫn trong Larry Berman, The Perfect Spy: The Incredible Double Life of Pham Xuan An, Time Magazine Reporter & Vietnamese Communist Agent, New York: Harper Collins, 2007, trang 616 ghi chú 18.

812 Báo cáo của Committee on Government Operations, Permanent Subcommittee on Investigations, Communist Interrogation, indoctrination and Exploitation of American Military and Civilian Prisoners, 31 tháng chạp, 1956, trang 15, 17.

813 Dan Pitzer, ―POW trong Santoli, To Bear Any Burden, trang 90. 

814 Marta Rojas và Taul Valdes Viva, Vietnam del sur  viện dẫn trong Stuart I. Rochester và Frederick Kiley, Honor Bound, American Prisoners of War in Southeast Asia 1961-1973, Annapolis: Naval Institute Press, 1999, trang 642 ghi chú 12-13.

815 Andrew E. Hunt, David Dellinger: The Life and Times of a Nonviolent Revolutionary,New York: New York University Press, 2006, trang 133.

816 Jack Newfield và James Miller tố cáo ảnh hươỏng của Dellinger đối với SDS. Andrew E. Hunt, David Dellinger: The Life and Times of a Nonviolent Revolutionary,New York: New York University Press, 2006, trang 135.

817 Georgie Anne Geyer và Keyes Beech, ― Cuba: School for US Radicals, Chicago Sun Times, tháng 10, 1970 viện dẫn trong FBI, FOIA, Weather Underground. Nguồn tin chính là của SAC Đương Nhiệm tạiChicago gởi phúc trình cho Giám đốc ―Foreign Influence-Weather Underground Organization,  20 tháng 8, 1976, trang 43, 139.

818 H.R. McMaster, Dereliction of Duty,New York: Harper Collins, 1997 trang 6; Karnow trang 265.

819 Diển văn và Câu Hỏi cùng Trả Lời tại Câu Lạc Bộ Kinh TếNew York, 14 tháng chạp, 1962, PPP: 886. 

820 Giám đốc, CIA và Ủy ban Tình báo Mỹ, ―The Situation inSouth Vietnam, SNIE 53-2-63, 10 tháng 7, 1963, trang 6.

821 FRUS, 1961-63, IV Vietnam, tháng 8 tới tháng chạp, 1963, trang 26-36 viện dẫn trong  Thomas L. Ahern, CIA And The Generals, CIA Center for the Study of Intelligence, tháng 10, 1998, MẬT, công bố ngày 19 tháng 2, 2009, trang 181.

822 Richardson gởi McCone, Chronology of Events, 28 tháng 9, 1963 và SAIG 0499, 31 tháng 8, 1963 viện dẫn trong Thomas L. Ahern, CIA And The Generals, MẬT, CIA Center for the Study of Intelligence, tháng 10, 1998, công bố ngày 19 tháng 2, 2009, trang 182-183.

823 Thomas L. Ahern, CIA And The Generals, MẬT, CIA Center for the Study of Intelligence, tháng 10, 1998, công bố ngày 19 tháng 2, 2009, trang 185.

824 R.J. Smith to Director of CIA, ―ONE Memorandum ―South Vietnam‘s Leaders, September 4, 1963.

825 H.R. McMaster, Dereliction of Duty,New York: Harper Collins, 1997, trang 38-41. 

826 Công điện của CIA, Nhiệm sở Sài-gòn gởi DCI, 10/5/63 viện dẫn như là CAP 63630, 5 tháng 10, 1963, FRUS, 1961-63, IV Vietnam, tháng 8 đến tháng chạp, 1963, 379; SAIG 1447, 5 tháng 10, 1963 trong Thomas L. CIA Center for the Study of Intelligence, tháng 10, 1998, CIA And The Generals, MẬT, công bố ngày 19 tháng 2,  2009, trang 194(?).

827 Công điện của CIA, DCI gởi Sài-gòn, 10/5/63,

828 Công điện của CIA, DCI gởi Sài-gòn, 10/6/63; SAIG 1448, 5 tháng 10, 1963, viện dẫn trong Thomas L. Ahern, CIA And The Generals, MẬT, CIA Center for the Study of Intelligence, tháng 10, 1998, công bố ngày 19 tháng 2, 2009, trang 196.

829 Bromley Smith, ―Nhật ký về phiên họp với Tổng Thống, Tòa Bạch Ốc, Washington 29 tháng 10, 1963 và công điện của Bundy gởi cho Lodge theo các đường dây CIA (không bảo mật) 29 tháng 10, 1963 trong  FRUS, 1961-63, IV Vietnam, tháng 8 tới tháng chạp 1963, trang 468-471, 479-481, 484-88, 500 viện dẫn trong Thomas L. Ahern, CIA And The Generals, MẬT, CIA Trung Tâm Center for the Study of Intelligence, tháng 10, 1998, công bố ngày 19 tháng 2, 2009, trang 205.

830 Tòa Đại sứ tại Sài-gòn , 1 tháng 11, 1963 viện dẫn trong Thomas L. CIA Trung Tâm Center for the Study of Intelligence, tháng 10, 1998, CIA And The Generals, MẬT, công bố ngày 19 tháng 2, 2009, trang 208.

831 Hai biên bản sổ nhật ký không có ký tên, ―Circumstances of the Deaths of Diem and Nhu, và  ―Description of the Death of President Diem and Ngo Dinh Nhu viện dẫn trong Thomas L. Ahern, CIA And The Generals, MẬT, CIA Trung Tâm Center for the Study of Intelligence, tháng 11, 1998 công bố ngày 19 tháng 2, 2009, trang 214. 

832 Giám đốc, CIA và Ủy Ban Tình Báo Mỹ, ― Các Khã năng Trong Tương Lai gần tại Đông Nam Á, SNIE 50.64, 12 tháng 2, 1964, trang 3.

 833 Marguerite Higgins, Our Vietnam Nightmare,New York: Harper & Row, 1965, trang 241.

 834 Marguerite Higgins, Our Vietnam Nightmare,New York: Harper & Row, 1965, trang 302.

835 Viện dẫn trong Mackubin Thomas Owens, ―A Winnable War (The argument against the orthodox history of Vietnam), Weekly Standard, 15 tháng giêng 15, 2007.

836 Giám đốc, CIA và Ủy Ban Tình Báo Mỹ, ― Tình Hình Nam Việt-nam, SNIE 53-2-64, 1 tháng 10, 1964, trang 10; Moyar, Triumph Forsaken… trang 479 ghi chú 38. 

837 Rufus Phillips, Why Vietnam Matters: An eyewitness account of lessons not learned, Naval Institute Press, 2008, trang 5.

838 Harold W. Rood, ―The Long View: Democracy and Strategy in Iraq, Claremont Review of Books, Mùa Thu 2003 tại  www.claremont.org.

839 Mark Moyar, Phoenix and the Birds of Prey; The CIA‘s Secret Campaign to Destroy the Viet Cong, Annapolis: Naval Institute Press, 1997, trang 41. 

******

 

 

 

 

Một phản hồi to “Roger Canfield’s Americong #5”

Trackbacks/Pingbacks

  1. Giới thiệu tác phẩm AMERICONG (MỸ-CỘNG) – Lê Bá Hùng | Ngoclinhvugia's Blog - 05/01/2016

    […] Roger Canfield’s Americong #5 […]

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: