Roger Canfield’s Americong 1g

Comrades in Arms

How the Americong Won the War in Vietnam

Against the Common Enemy— America

Copyright Roger Canfield, Ph.D.

1986-2012

No commercial transaction allowed except that approved by the author, copyright holder.

Obtain a prepublication release of a CD-R in Microsoft Word in ENGLISH at a discounted price of $15 from Roger Canfield Rogercan@pacbell.net at 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 or at http://americong.com.

Completely SEARCHABLE for any name, date, place or event of the War and its protesters.   

 Cover: Design Stephen Sherman. Photos: Roger Canfield, March 2008. TOP: War protestHawaii, February 1966 displayed at War Remnants (Crimes) Museum,Saigon. Bottom: Praetorian Guard

 *****

Các đồng chí cùng chiến tuyến

Làm thế nào MỹCộng thắng cuộc chiến Việt Nam

Chống kẻ Thù Chung – Mỹ

Giữ bản quyền Roger Canfield, Tiến Sĩ

1986-2012

Không được sử dụng vào mục đích thương mại nếu không có sự đồng ý của Tác giả, người giữ bản quyền.

Có thể mua một tiền bản dưới dạng CD-R Microsoft Word bằng Anh ngữ với giá đặc biệt US$15 ngay từ tác giả Roger Canfield  Rogercan@pacbell.net tại 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 hay tại  http://americong.com.

Hoàn toàn có thể TRA CỨU hoặc bằng tên, bằng ngày tháng hay biến cố liên quan đến cuộc Chiến cùng cả luôn bọn tham dự biểu tình .

******************************************************

* Tác giả giữ bản quyền © Roger Canfield 1986-2012

  • Lê Bá Hùng chuyển ngữ  (với sự chấp thuận của Tác giả)

*****

7. Những lúc ban đầu tại Moscow và Hà-nội        

Chính trị quan trọng hơn là quân sự. (Hồ Chí Minh)

Chính trên phạm vi chính trị thì chúng ta vượt trội và địch lộ rỏ yếu kém về cơ bản. (Tướng  Võ Nguyên Giáp)

Lữ Đoàn Võ Trang Tuyên Truyền, Đơn Vị Đầu Tiên Của Quân Giải Phóng

Ngay từ lúc đầu, các đóng góp về chính trị và tuyên truyền của phong trào phản chiến giúp cho chiến thắng của cộng sản hoàn toàn không là ngẫu nhiên đối với chiến lược chiến tranh lâu dài của Hà Nội. Ngày 22 tháng chạp năm 1944, Hồ Chí Minh đã chỉ thị cho viên tướng – mà sau này sẽ là Võ Nguyên Giáp, rằng đơn vị đầu tiên phải tổ chức của Quân Giải phóng Việt Nam phải là Lữ đoàn vũ trang tuyên truyền, bởi vì Hồ nói với Giáp, – Chính trị là quan trọng hơn so với quân sự và – chiến đấu ít quan trọng hơn so với tuyên truyền. 315 Tướng Võ Nguyên Giáp đã viết đấu tranh, – Đấu tranh chính trị đóng một vai trò chính yếu bởi vì chính trên phạm vi chính trị thì đặc tính ưu việt cơ bản của chúng ta mới lộ rỏ và đặc tính yếu kém cơ bản của địch mới hiện ra. 316

Không chỉ là những lời lý thuyết chính trị mà những quan điểm này đã được đem thực hành  về chính trị cho việc tổ chức, huy động và động viên ở cấp cơ sở. Như Douglas Pike đã giải thích rất rỏ ràng, cộng sản Việt Nam đã có một chiến lược lớn để thắng một cuộc chiến tranh cách mạng. Chiến tranh là một cuộc đấu tranh hợp nhất  kết hợp một phần là cuộc đấu tranh vũ trang và phần kia là cuộc đấu tranh chính trị . Cuộc đấu tranh chính trị có ba yếu tố chiến thuật, hành động chính trị chống lại kẻ thù (địch vận), hành động chính trị chống lại quân đội (binh vận) và hành động chính trị ngay trong nhân dân (dân vận). 317 Chiến lược đấu tranh chính trị là chiến tranh chính trị ngay từ hạ tầng cơ sở ở khắp mọi nơi và bao trùm cả các khác biệt lớn lao về văn hóa. Đó là chính sách chiến tranh toàn diện trên mọi mặt trận từ chiến trường Việt Nam đến các đường phố, các phòng đưa tin, các ban biên tập, các phòng học, và đôi khi – luôn cả các phòng họp các công ty Mỹ.

Các Chính Sách về Chiến Tranh

Các chiến lược chiến tranh chính trị của cộng sản ở Việt Nam đã diễn ra cả ở các làng quê Việt Nam và các đường phố Mỹ. Đó là một chương trình bạo lực, chính trị với súng ống trong đó có cả ám sát và bắt cóc cũng như tổ chức chính trị, động viên và vận động. Nhiều sách đã ghi lại cuộc chiến tranh nhằm chiếm quyền từng diễn ra trong bóng tối của các làng mạc ở Việt Nam, nhưng đã thất bại không biết tới hoạt động chiến lược về chính trị không kém phần quan trọng từng diễn ra trên các đường phố của Hoa kỳ. 318 Trên các đường phố và trong các đại học Mỹ, các điệp viên Mỹ của Hà Nội đã sử dụng những chiến thuật chính trị và những chủ đề tuyên truyền khá tương tự như những chỉ thị từ Hà-nội đối các cán bộ chính trị của Việt Cộng trong cuộc chiến tranh bí mật ở các xã thôn Việt Nam. Các chiến thuật và chủ đề rất cụ thể đã từng bị phát hiện nhiều lần trong các tài liệu tịch thu được của đối phương trên chiến trường Nam Việt. 319 Những chỉ thị đi vào chi tiết và các chủ đề dành cho bộ đội Việt Cộng ở miền Nam Việt Nam thì lại gần giống hệt với lời cố vấn và dặn dò dành cho phong trào phản chiến ở Mỹ, thường giống từ từng hình ảnh, từ từng danh từ được sử dụng, và luôn từ từng con số. Các truyền đơn in tại Hà Nội để phân phối trên các chiến trường miền Nam Việt Nam cũng có thể được tìm thấy trên các đường phố, quán cà phê và đại học Mỹ. 320

Hình: Văn khố Mỹ ARCWEB, Các Kẻ Chống Chiến Tranh Việt-nam, 1967, Wichita, Kansas, 1967

Các tài liệu nội bộ cùng các bản công bố với các ấn phẩm của cộng sản và của phong trào phản chiến cho thấy bọn lãnh đạo phản chiến Mỹ đã gặp cộng sản Việt Nam trên khắp thế giới để phối hợp lịch trình, biến cố và chủ đề tuyên truyền. Cộng sản Việt xem chính trị và chiến tranh là một và giống nhau – một tổng thể tích hợp các đường phố với chiến trường, và các phòng loan tin trên khắp thế giới. Chúng xem như là đồng chí cùng chiến tuyến – phía sau phòng tuyến địch, các tên cốt lõi trong các phong trào phản chiến và trong các phòng loan tin. Hà Nội đã khiến chiến trường lớn hơn. Tương tự như vậy, chính sách quốc tế, ngoại giao của Hà Nội nhằm phục vụ chủ yếu là về quân sự. Một điều kiện tiên quyết để Hà Nội giao phó nhiệm vụ ngoại giao đại diện chúng là một bản lý lịch chứng minh được nhiều năm tháng hoạt động du kích  321 chống Pháp và thủ tiêu các thành phần người Việt quốc gia không cộng. Thật vậy, các bản tài liệu quân sự tịch thu được của các đơn vị quân đội cộng sản Việt Nam đã phân loại bộ đội theo giai cấp xã hội và theo thẻ đảng viên Cộng sản, chiếu theo ngày tháng và số thẻ, nếu có. 322

Mãi cho đến phút cuối cùng, Hà Nội đã thua trận cả trên các chiến trường Nam Việt lẫn  trong trái tim và tâm trí của nhân dân Việt ngay trong cuộc chiến trong bóng tối tại các làng xã Việt. Tuy nhiên, bọn cộng sản đã dành được chiến thắng trên các đường phố Mỹ. Tuy là  thật sự cuộc tấn công cuối cùng vào Sài Gòn là do xe tăng và pháo binh đè nát chính con người, nhưng chính những hành vi chính trị đã dọn đường cho việc Mỹ không còn ý chí  và cho việc phản bội đồng minh không cộng của chúng ta.

Chính sách độc tài toàn trị của Hà Nội phối hợp với chiến lược quân sự đã là một nhân tố bao gồm nổi sợ hãi, lòng thù hận, nạn khủng bố và việc tuyên truyền cũng như là huy động quần chúng, thậm chí cho tới cả trẻ con. Do đó, Hà Nội đã kết hợp các nghệ thuật cũ về chính trị và chiến tranh. Chúng tôi nhấn mạnh về việc cộng sản Việt đã cải tiến các nghệ thuật về chiến tranh – tình báo, chiến tranh tâm lý, sự tán tỉnh ngoại giao, vận động chính trị.

Việc tuyên truyền của Hà Nội đã thành công đến mức mà Mỹ đã bị kết buộc một cách đơn giản là tên vô đạo đức trong chiến tranh Việt Nam. Hà Nội thường có thể tự tin là khi xuất trận có thể dựa vào ABC, CBS, NBC, New York Times, Washington Post và Los Angeles Times. Và luôn cả các đại học Harvard, Cornell, Columbia và nhiều đại học khác nữa. Việc tuyên truyền và chiến tranh tâm lý đã làm gia tăng hiệu năng của bọn lãnh đạo cộng sản tàn nhẫn của Hà Nội, của đám bộ đội đẫm máu người từ biết bao thập niên qua, và, tất nhiên, luôn cả đám xe tăng Liên Xô của Bắc Việt cùng pháo binh và người dân Việt thì bị kinh hoàng. Đích thân Hồ Chí Minh đã từng nhắc nhở văn sĩ và nghệ sĩ rằng họ là – chiến binh.  323 Những tên bộ đội viết văn lành nghề đã quy kết được các nỗi kinh hoàng của chiến tranh Việt Nam vào cho Mỹ. Các sách và bài viết của các nhà báo Mỹ, ví dụ như Harrison Salisbury, và tên hoạt động như Tom Hayden, đã gần như giống hệt như là các phóng ảnh về tuyên truyền in ra bởi Hà Nội. Khi mà ở khắp mọi nơi ta cùng nhìn thấy cùng một kiều tuyên truyền như vậy thì rỏ ràng đó là bằng chứng của một kế hoặch có phối hợp về chiến tranh tâm lý. 324

Chiến Lược

Hà Nội đã thống nhất các chính sách quân sự, ngoại giao và chiến lược chính trị để dành  được chiến thắng. Chiến lược chính trị về chiến tranh của Cộng sản Bắc Việt đã được áp dụng thành công ở ngay chiến tuyên quốc nội của kẻ thù, đó là mặt trận thứ hai ở Mỹ. Trong chiến lược thống nhất về cuộc chiến tranh của Hà Nội, cuộc đấu tranh chính trị ở hậu phương cũng quan trọng, thậm chí còn quan trọng hơn cả cuộc đấu tranh quân sự. Hà Nội và bọn đồng minh đã làm việc chặt chẽ với các thành phần thân thiện trong phong trào phản chiến và giới báo chí để tổ chức các cuộc biểu tình nhằm thay đổi quan điểm của người dân Mỹ, nhưng kết cuộc quan trọng hơn nhiều là chúng đã thành công khiến các dân cử của Quốc hội chủ trương y như chúng mà chấm dứt mọi liên hệ.

Khi chiến tranh kết thúc, Cộng Sản Bắc Việt đã rất tự hào về chiến thắng của họ và viết những chuyện chiến tranh bật mí về thời chiến tranh Việt Nam. Trong các bảo tàng viện về chiến tranh và về kỷ niệm của các sự kiện quan trọng thời chiến, Hà Nội vẫn còn cảm ơn phong trào phản chiến  325 cùng báo chí phương Tây đã đóng góp cho chiến thắng của họ. Robert Elegant, một trong những nhà báo hàng đầu đã tường thuật về cuộc chiến và về châu Á đã nói, – ngòi bút và chiếc máy ảnh đã chứng minh dứt khoát là chúng hữu hiệu hơn nhiều là lưỡi lê và vũ khí cực kỳ hiện đại.  326 Việc tuyên truyền của Hà Nội đã đủ để chiến thắng chính sách hạn chế sử dụng sức mạnh quân sự của Mỹ . Cuối cùng thì chính kỷ thuật quân sự vượt trội của Hà Nội – xe tăng Liên-xô, xe tải và pháo 120 mm – đã đánh bại lực lượng QLVNCH rất đáng thương từ 1973 đến 1975. 327 Dù vậy, đã phải cần đến ngòi bút và chiếc máy ảnh để đánh tan quyết tâm chính trị của Mỹ và tước vũ khí của miền Nam Việt Nam .

Đã không có bằng chứng nào được nêu ra về việc tham dự của cộng sản nước ngoài trong phong trào phản chiến Việt Nam.

Việc Phản Bội Không Bị Cáo Buộc

 Tài liệu tường trình về phong trào phản chiến đầy đủ nhất là tác phẫm dày 706 trang của Tom Well Đánh Từ Trong Ra (The War Within)mà trong đó, ông đã có đủ tư cách để tuyên bố, – Đã không có bằng chứng nào được nêu ra về việc tham dự của cộng sản nước ngoài trong phong trào phản chiến Việt Nam.  328

Tuy vậy, rõ ràng là Liên Xô, Cuba, Trung Cộng , và Tiệp cũng như các cơ quan có thẩm quyền của Bắc Việt đã tích cực hỗ trợ các nhóm phản chiến cánh tả trên toàn thế giới kể cả những nhóm ở Hoa Kỳ, đặc biệt là các tên lãnh đạo hàng đầu của –  phong trào hòa bình. Tổng thống Johnson và Nixon đều đúng rất nhiều hơn là ủy ban Church về tình báo điều tra (phân tách về bộ máy tình báo Mỹ) hay là các nhà sử học mà từng bác bỏ sự hợp tác của phong trào phản chiến Mỹ với nổ lực chiến tranh của Cộng sản. Bọn cộng sản ViệtNamđã khai thác đúng giá trị chiến lược về sự kiện bất đồng chính kiến chính trị trong chiến tranh. Họ – cùng với sự hỗ trợ nhiệt tình của phong trào hòa bình  – đã làm suy yếu ý chí chính trị của  Mỹ để tham chiến hầu dành phần thắng.

Bọn cộng tác với kẻ thù đôi khi tự xưng là Ameri-Công. Đầu tiên chính Hà Nội đã công khai nhìn nhận và vinh danh đi vinh danh lại các tên lãnh tụ phản chiến và các văn sĩ cùng nhà báo là thuộc phe mình, những đồng chí cùng chiến tuyến, cùng sát cánh trong  cuộc chiến chống Mỹ, kẻ thù chung.

Norman Podhoretz đã viết, – Thông thường nếu hợp tác với địch trong thời chiến phải bị xem như là phản quốc … Và nhiều tên trong phong trào hòa bình đã làm điều đó. –  Đó quả thật là một trong nhiều điều kỳ lạ của chiến tranh Việt Nammà công dân Mỹ đã có thể hoạt động cho phe bên kia mà hoàn toàn không bị trừng phạt. Podhoretz đi sâu vào chi tiết.-Bọn biểu tình đã tuần hành dưới lá cờ Việt Cộng, các tổ chức đã kêu gọi các binh sĩ vứt bỏ vũ khí và đào ngũ. Có bọn Mỹ thậm chí còn đi Bắc Việt và tuyên bố trên đài phát thanh để ủng hộ các tuyên truyền của kẻ thù … Và các hậu quả là gì? Tất cả đều không bị bất kỳ hình phạt pháp lý nào hay thậm chí cũng không bị công luận chỉ trích. Thật vậy, trái lại, trong cộng đồng trí thức, những tên đã làm những việc này thường được đối xử như những người hùng hay thậm chí là yêu nước, trong khi những kẻ chỉ trích chúng thì đã bị nguyền rũa và nhạo báng.  329.

Và do đó, khi đã dành được vị trí là mình có đạo đức cao mà không bị chống đối có hiệu quả, Hà Nội và đồng bọn đã thành công biến tội phản quốc trở thành một hình thức cao hơn của lòng ái quốc và bảo vệ an toàn cho nó trong suốt thời chiến. Không có người Mỹ nào đã bị truy tố về tội phản quốc trong chiến tranh Việt Nam. Do lý do Mỹ là gian ác, thì việc thù Mỹ đã trở thành hình thức cao điểm của lòng yêu nước và danh từ phản bội đã không còn nữa trong luật pháp. 330

Trên một chuyến bay đến Hà Nội vào ngày 25 tháng 4 năm 1975, Đại tá Harry G. Summers đã nói với một sĩ quan quân Bắc Việt, Đại tá Nguyễn Tứ – Quý vị đã không bao giờ thắng chúng tôi trên chiến trường.  Viên đại tá đã trả lời : – Đúng vậy. Nhưng điều này thì cũng vô nghĩa thôi.”  331 Các quân nhân Mỹ đã không thua trận, nhưng các nhà lãnh đạo chính trị của Mỹ đã thiếu ý chí chính trị để kiên trì dành chiến thắng vì ảnh hưởng của phong trào phản chiến đối với giới chính trị chóp bu cùng giới truyền tin, nhưng điểm kỳ lạ là không hề có ảnh hưởng đối với người công dân Mỹ.

Ý Nghĩa Chiến Lược của Phong Trào Phản Chiến đối với Hà-nội

Cộng sản Hà Nội đã thu nạp phong trào hòa bình Mỹ và giới truyền tin Mỹ, giống như mặt trận Việt Cộng của chúng ở Nam Việt, rồi đặt tất cả dưới quyền trong trận chiến cùng chiến lược quân sự của họ để chiến thắng. Hà Nội đã hợp nhất quân sự, ngoại giao và chính trị vào một chiến lược nhuần nhuyển để thắng trận. Hà Nội đã không phát minh ra cái gì cả: họ chỉ tinh chế các khái niệm chiến lược của nghệ thuật từ xưa về chiến tranh và cải tiến dựa trên học thuyết chiến lược Cộng sản đương thời. Hồ Chí Minh cũng như Tôn Tử và David với Goliath đã cho thấy làm thế nào kẻ yếu có thể đánh bại kẻ mạnh hơn. Dù là từ thời sơ khai  với tiếng thét trên đồng cỏ rồi đến cú sốc và nổi kinh hãi dành cho các mục tiêu quân sự chen giữa các tòa nhà chọc trời, thì kỹ thuật chiến tranh tâm lý cũng cũ xưa như chính là chiến tranh. Làm suy xụp tinh thần của quân địch bằng cách tạo ra sự sợ hãi, mơ hồ và rối loạn. Hãy tuyên bố là chiến tranh không thể thắng, rằng nó không xứng đáng cho để phải trang trãi chi phí và rằng nó là vô đạo đức. Hãy tuyển dụng các công dân của kẻ thù, các tên biểu tình phản chiến ngay trong nước chúng, ngõ hấu phát động một cuộc chiến tranh chính trị ngay trong nước với chính phủ chúng. 332

Công tác đấu tranh chính trị của Hà Nội trong quân đội (binh vận), trong nhân dân (dân vận), và với kẻ thù (địch vận) đã đạt đến cấp độ tinh tế mới. Cuộc chiến tranh chính trị đã tìm cách làm giảm lòng tin của người dân Mỹ đối với giới lãnh đạo của họ. Nó đã làm thay đổi nhận thức ai là những người giải phóng và ai là những kẻ bị áp bức và bên phe nào là vô đạo đức và bất công. Việc tuyên truyền không ngừng nghỉ của ViệtNam đã gây ra tiếng vang, rối loạn và hổn loạn. Nó đã đủ sức để làm rối răm các liên lạc giữa con người với nhau, làm rối răm luôn việc chỉ huy và các định chế kiểm soát của giới lãnh đạo quân sự và dân sự hàng đầu của quốc gia. Cuộc chiến tranh tâm lý và chính trị thông minh của Hà Nội đã có hiệu quả y như bom thông minh của Hoa Kỳ nhắm đánh phá các mục tiêu thiết yếu về liên lạc. Kẻ địch đã thành công trong việc tranh thủ sử dụng được số đông trong phong trào phản chiến và trong giới truyền tin.

Chiến lược quân sự rất cốt yếu cho Hà Nội để viết lại lịch sử.

Để đánh bóng hào quang lịch sử dân tộc Đông Dương, bọn Cộng sản Quốc tế đã từng tôn vinh nhiều chiến công có tính cách lịch sử của Việt Nam về chiến lược quân sự. Trần Quốc Tuấn (còn gọi là Hưng Đạo Vương) đã đánh bại quân Mông Cổ của Thành Cát Tư Hãn vào năm 1288,  333 Để cải tiến hơn nữa sự kiện về Đức Trần, và tránh không kể đến mấy tên khủng bố ngoại quốc của phe tả độc tài là Robespierre, Lenin, Hitler, Castro, và Mao, Hà Nội đã ghép các chính sách Cộng sản độc tài vô một cuộc chiến toàn diện để  đánh bại chiến lược chiến tranh hạn chế của Mỹ tại Việt Nam. Tướng Võ Nguyên Giáp nói rằng, – Người Mỹ đã không có một chiến lược hữu hiệu … Mục tiêu của chúng tôi là  dành chiến thắng.  334 Dưới quyền Tổng Thống Kennedy, Johnson và Nixon, chiến lược Mỹ chỉ đơn thuần là ráng tránh thất bại mà không bao giờ nghỉ tới vấn đề chiến thắng. 335 Cựu tù binh chiến tranh John McCain viết trong một luận án đệ trình Trường Cao đẳng Chiến tranh quốc gia trong tháng 4 năm 1974, cho biết, – việc đầu hàng vô điều kiện [của kẻ thù] đã không bao giờ là mục tiêu mà chúng ta đã nêu ra từ năm 1945.  Tổng thống Johnson đã không chiến đấu – để dành chiến thắng.  336  Năm1972,  Henry Kissinger, cố vấn an ninh quốc gia của Nixon, nói với Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai rằng Hà Nội đã là một – ‘yếu tố thường xuyên’  và – ‘đơn vị cường mạnh nhất ở Đông Dương’. Thật vậy, – Chúng ta đã không muốn tiêu diệt họ hay ít ra thì cũng đánh bại họ.  337 Hà Nội đã toàn quyền tự do tung tác mà không bị ràng buộc.

Cứu Cánh Chiến Lược Biện Minh cho Mọi Phương Tiện Chiến Thuật – Láo Khoét, Hận Thù, Dùng Dân Đở Đạn, Khủng Bố

Trong một cuộc chiến toàn diện, mọi phuơng tiện đều khã chấp để chiến thắng.

Láo Khoét – Nói về vai trò của Việt Nam lẫn Mỹ, đã có một di sản to lớn toàn là láo khoét, thường bị lặp đi lặp lại và luôn luôn được tin thiệt. Tên Hồ Chí Minh, một tay Mác-Lê-nin quốc tế, lại được mô tả như một người quốc gia từng ngưỡng mộ Thomas Jefferson. Cuộc xâm chiếm miền Nam Việt Nam, chiến dịch chính trị khủng bố và dùng  quân đội để tàn sát những người tị nạn chính trị của Hà Nội lại được mô tả như là một sự giải phóng. Việc miền Nam Việt Nam dùng quân đội để tự vệ lại bị xem như là tội ác chiến tranh và áp bức.  Các lãnh đạo của Hà Nội, những tên sát nhân của cả hàng trăm ngàn người Việt Nam và là những tên đã tịch thu tài sản tư nhân, lại được mô tả như là những biểu tượng của lòng ngay thẳng đạo đức. Các nhà lãnh đạo miền Nam Việt Nam thì chỉ là tham nhũng và bất lực. Dù cho tới 1,1 triệu đến 1,4 triệu bộ đội cộng sản đã chết bởi bệnh tật, sốt rét, rắn cắn, đỉa, chết đuối, chết đói 338 và chết do chiến tranh, – sinh Bắc tử Nam – , huyền thoại Việt Công về tinh thần cao, về lòng quyết tâm và về đặc điểm khôn ngoan trong chiến thuật đã giúp đánh thắng Mỹ. Dù công tác bình định đã thành công ở Nam Việt Nam, thì Việt Cộng vẫn được khen là đã chinh phục được con tim và lòng tin của nhân dân Việt Nam. Chiến thuật phản du kích chiến đã thành công, nhưng tin đồn vẫn lan truyền là ViệtNam đã chứng minh rỏ Mỹ không chống lại quân nổi dậy và du kích được.

Hận Thù –  Cộng sản Việt Nam, y như Carl von Clausewitz, nhà chiến lược quân vỉ đại, đã hiểu rõ sức mạnh của – đạo đức trong việc tiến hành chiến tranh. – Yếu tố vật chât dường không hơn gì cán kiếm bằng gỗ, trong khi các yếu tố đạo đức lại là kim loại quý, là vũ khí thực sự, là lưỡi gươm mài sắt bén, theo Clausewitz. Trong số yếu tố đạo đức, mà Cộng sản Việt Nam đã mài dũa kỹ lưỡng, chính yếu đã là – hận thù và đối địch chống kẻ thù. Clausewitz nói, – … hận thù và đối địch … phải được coi là một sức mạnh tự nhiên và mù quáng. 339 Cộng sản Việt Nam đã hoàn bị lòng hận thù giai cấp đối địch cùng các đối thủ chính trị tại Việt Nam và rồi xuất cảng cái sản phẩm độc hại này qua Hoa Kỳ. Các chính sách về chiến tranh của Hà-nội nhằm ra lệnh cho cán bộ chính trị khuấy động lòng thù hận chống lại địch và khuyến khích người Mỹ ghét Hoa kỳ. Thủ tướng Hà Nội là Phạm Văn Đồng chủ trương là mọi người –  đều nên tràn đầy căm thù với chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc và rằng con tim vớí tâm trí họ phải được gắn liền với chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa quốc tế vô sản.  340 Một phong trào phe tả, – cấp tiến và bị ảnh hưởng nặng nề bởi di sản của phong trào phản chiến Việt-nam vẫn còn thù ghét chủ nghĩa tư bản và tìm cách biến Hoa-kỳ thành một nước xã hội chủ nghĩa.

Carol McEldowney Cohen, một người tổ chức cộng đồng trẻ tuổi từ Cleveland mà thủ lãnh Tom Hayden của tổ chức Students for a Democratic Society đã mời đi chung để hội họp với địch tại Bratislava, Tiệp Khắc và tại Hà Nội đã được đưa đến làng Phú Xá để xem những gì mà dân làng gọi một cách đúng đáng là – Nhà Căm Thù để lưu trữ bằng chứng về các tội ác chiến tranh của Mỹ …  341 Tương tự như vậy, cán bộ Việt Công được huấn luyện để căm thù các kẻ thù Việt cũng như là Mỹ. 342 Ngày này, lòng thù ghét Mỹ có thể được dùng đúng nhất để mô tả bài học mà các kẻ không am tường đã học hỏi được khi đọc đa số các tài liệu lịch sử về cuộc chiến tranh Việt Nam và khi đi du lịch Việt Nam để thăm số đông viện bảo tàng về chiến tranh, – tất cả đều là nhà hận thù. Lính thời Thế Chiến II và tiểu thuyết gia James Jones đã đến thăm Việt Nam vào đầu năm 1973. Viết trong Viet Journal, Jones đã kêu gọi – người Mỹ hãy ngưng tự thù ghét quá sức như vậy.  343

Bảo tàng viện về Tội ác Chiến tranh của Hà Nội hiện nay đã giữ gìn và bảo tồn những hình ảnh khủng khiếp của tội ác Mỹ đối vơi thường dân vô tội tay không, với các phụ nữ xinh đẹp và đối với trẻ em đáng yêu cùng những người biểu tình đòi hòa bình tay đang cầm hoa. Các anh hùng duy nhất của những chuyện tăm tối của Hà Nội lại là những người ngây thơ thuộc phong trào hòa bình Mỹ, như Carol McEldowney ngọt ngào và Tom Hayden mà đã già quá sớm, những kẻ đã đẩy được Mỹ ra khỏi một cuộc chiến tranh gian ác và vô đạo đức. Arthur Herman viết, – Thay vì nhìn thấy thực tế rõ ràng hơn … cánh tả phản chiến đã dựng lên một phiên bản giả tưởng về những gì đã xảy ra tại Việt Nam.  344. Cái mà tự xưng là – phong trào hòa bình, đã thổi phồng vai trò của họ trong việc chấm dứt được chiến tranh. Thù Mỹ, cáo buộc Mỹ là di sản lớn nhất của phong trào hòa bình cho Việt Nam chớ không phải là những lời tuyên bố xa xưa về lòng ái quốc và về các đóng góp lịch sử cho hòa bình và công bằng xã hội. Câu chuyện không được kể ra, một vết nhơ trong lịch sử, là chuyện mà bằng cách nào các lực lượng thiên Hà Nội bên trong Hoa Kỳ đã công khai và cố tình hướng dẫn phong trào phản chiến để hỗ trợ kẻ thù, thậm chí tới mức siêng năng đi phân phối các tờ truyền đơn in tại Hanoi. 345 Một số, tuy là có lẽ vô tội, là những gì mà Lenin đã gọi – những tên ngu đần hữu ích, mà đã thực sự tích cực giúp kẻ thù trong thời chiến.

Từ một căn bản căm thù, khủng bố dễ được minh chứng.

Gây Kinh Hải cho Các Người Vô Tội – Dù khủng bố đã là một chiến thuật cổ xưa trong cuộc chiến Peloponnesian giữa Athens và Sparta , Hà Nội đã dùng nó như là nguyên tắc chiến lược đầu tiên của họ. Tướng Võ Nguyên Giáp đã viết, – con đường đúng đắn nhất để người dân theo, hầu tự giải phóng là bạo lực cách mạng và chiến tranh cách mạng … Con đường này phù hợp tuyệt đối với đạo đức và các nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác-Lê-nin …  346  Trên nhiều phương diện, Chiến tranh Việt Nam một cuộc chiến của Mỹ chống khủng bố luôn cả ở Nam Việt Nam và ở ngay quốc nội.

Không cần là Thường Dân, Ngay cả Trẻ Em Cũng Không Cần  – Toàn thể dân Việt Nam đã bị cưởng bách phục vụ quân đội cộng sản. Arlene Eisen Bergman, một người Mác-Lênin, đã đồng ý khi viết, – Khái niệm rằng mỗi công dân là một binh sỉ … là một truyền thống đã được dùng và thí nghiệm. … Trong cuộc chiến tranh nhân dân của thế kỷ này … không có vấn đề dân thường. … Chiến tuyến ở khắp mọi nơi và mọi người phải tham gia trong cuộc chiến đấu.  347 Tướng Giáp đã nói, – Mỗi người dân là một bộ đội, mỗi làng là một pháo đài …  348

Không thể có thường dân vô tội. Bất kỳ người nào hỗ trợ  – chính phủ phát-xít miền Nam Việt Nam đều xứng đáng để bị trừng phạt, phải bị giết đi. 349

Cũng không thể nào có con trẻ luôn. Một chỉ thị Bắc Việt ra lệnh, –  Việc giáo dục đúng đắn thanh thiếu niên sẽ đảm bảo sự thành công của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, và trích dẫn Lenin, (không phải là Jefferson) – Các tổ chức Thanh niên là phương pháp tốt nhất để giáo dục cộng sản cho trẻ em  350 Trương Mealy đã bị tuyển dụng ở tuổi mới lên mười để gởi đến một trường học cộng sản bí mật nhằm sẽ bị đào tạo để yêu Liên Xô, tôn thờ Hồ Chí Minh và trở thành một người lính không sợ chết. Trương cho biết trẻ em được đào tạo để ném lựu đạn – để làm cho chính phủ hoặc các binh sĩ Mỹ sẽ phải bắn chúng.  Sau đó, thì người Mỹ cảm thấy rất xấu hổ. Và … gọi các binh sĩ của họ là – bọn tội phạm chiến tranh .  351 Khi đúng lúc thì Hà Nội cũng sẽ thí trẻ em trong lứa tuổi 13 và 14 làm bia đỡ đạn ở tiền phương. 352 Tay lãnh đạo lao động hoạt động vì hòa bình Julius Lester sau đó có cho biết Việt Nam đã sẽ sẳn sàng chiến đấu đển đứa trẻ con cuối cùng của họ .

Hình: JUSPAO. (USIA) Một em bé gái đang nách em mình đứng giữa căn nhà đã đổ nát sau một vụ pháo kích của VC. Sài-gòn, 31 tháng giêng 1968

Tướng Giáp từng nổi tiếng khi đã nói, – Mỗi phút trên thế giới đã có hàng trăm ngàn người đàn ông đang chết. Việc sống chết của hàng chục ngàn người trong trận chiến, dù cho cả khi họ là đồng bào, thì cũng gần như vô nghĩa.  353 Tại Việt Nam vào tháng 3 năm 2008, các bích chương tuyên truyền chính trị treo đầy khắp mọi nơi ca ngợi tình yêu của vị thánh Hồ Chí Minh đối với nhi đồng. Tại Sài Gòn, một tờ cổ động cho việc diệt muỗi đã  được dán phía dưới một bích chương với hình Hồ mỉm cười giữa đám trẻ em. Trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam trẻ em đã bị tiêu dùng như là ruồi muổi mà thôi. 354

Hình: Roger Canfield, các bích chương về Hồ, Nhi đồng và Diệt Muổi, tháng 3, 2008

Kẻ dán ké tờ cổ động diệt trừ muỗi theo hình tưởng niệm Hồ Chí Minh yêu thương nhi đồng trong năm 2008 quả thật gan dạ. Ngày nay vẫn có rất nhiều người dũng cảm trong thành phố Hồ Chí Minh mà vẫn tiếp tục gọi nó là Sài Gòn. Trong cuộc chiến chống khủng bố hiện nay, Al Queda cũng chủ trương là không có thường dân. Tại Afghanistan, trường học, bệnh viện và đặc biệt là các nhà thờ Hồi giáo đã được sử dụng cho các cuộc họp, nơi lên kế hoặch cho các cuộc tấn công, nơi chứa vũ khí, đạn dược và cũng là nơi an toàn để dưởng quân.

Dù với một chiến lược rất tàn nhẫn của Hà Nội về một cuộc chiến toàn diện mà đã hy sinh trẻ em coi như ruồi muỗi mà thôi, thì chính Mỹ lại bị cáo buộc nhiều nhất về các hành vi bạo tàn trong thời chiến. Ai có thể đối đáp lại được các câu chuyện kinh hoàng này? Một cựu phóng viên lão thành của tờ Los Angeles Times là Robert Elegant đã mô tả những chuyện về các phóng viên đàn em tại Việt Nam quả đều có khuynh hướng viết theo huyền thoại, không thực tế, lập dị, thiếu suy nghỉ, xuyên tạc, ngu dốt và sai lầm. Đó cũng là quan điểm của bọn lãnh đạo hàng đầu trong phong trào phản chiến. Tiểu thuyết gia và cựu chiến binh Thế chiến II James Jones viết,  – các phóng viên có một chút phần nào giống như các tay chuyên viên về giao tế công cộng (Public Relations) của Hollywood … [họ] đã đi đến mức tin luôn cả những bịa đặt của chính họ, để rồi bị mắc kẹt bởi ngay huyền thoại mà họ đã dựng ra.  355 Khi một bản tin trở thành hấp dẫn, ví dụ như – chúng ta phải phá nát nó trước khi chúng ta có thể cứu nó, mà đã thành công thì nó cứ sẽ được làm khuôn mẫu để cứ mà dùng đi dùng lại. Một cách làm báo mà chỉ kể các con số ra cho đầy cột tin.

Các phóng viên trẻ tuổi bị chỉ định đi làm ở vùng thứ yếu là Việt Nam chưa bao giờ có chứng kiến, chớ chưa nói là tường thuật về chiến tranh trước đó. Nhiều phóng viên đã lẫn lộn tính cách man rợ (và kinh sợ) của chiến tranh nói chung với cuộc chiến tranh đặc biệt ở Đông Dương, mà họ đã kết luận một cách vô lý là đã chưa bao giờ xẩy ra trong lịch sử nhân loại … [điều này] – … Bởi vì sự kiện này quả là mới đối với họ,  Robert Elegant đã hồi tưởng. 356 Báo chí đã mô tả chiến tranh Việt Nam như một địa ngục chưa bao giờ bị thấy trước đây và tên đại quỷ Sa-tăn chính là Hoa Kỳ. Tuy nhiên, các cuộc tàn sát, dù quân sự hay dân sự ở Việt Nam đều xẩy ra ít hơn nếu so với ở Hàn Quốc và trong Thế chiến II. Việc giết hại đàn ông, phụ nữ và trẻ em tại Việt Nam đã không thể nào khiền nó thành trường hợp duy nhất có tính cách độc ác và phi đạo đức hơn là các thương vong dân sự trong các cuộc chiến khác. 357 Sự kiện từ 1 triệu đến 1,4 triệu quân của Hà Nội bị tử vong so với số 58.000 lính Mỹ chỉ là  hệ quả của hỏa lực Mỹ mà đã được sử dụng để giữ cho thương vong của quân đội Mỹ thấp, một chi tiết đạo đức tốt, trái ngược với sự sẵn lòng của Hà Nội để luôn luôn tiêu phí  nguồn tài nguyên quý giá của chúng là thịt xương con người hầu chống lại sắt thép Mỹ.

Đám cả tin đã tung truyền những chuyện tàn bạo thái quá mà không kiểm chứng hay phối hợp. Thậm chí ngày nay vẫn còn một số cứ tin những tuyên bố bừa bãi của cộng sản Việt Nam rằng Mỹ sử dụng khí độc sarin để giết người thay vì đó chỉ là chất làm chảy nước mắt để dể kiểm soát đám đông, ngõ hầu bảo vệ người vô tội và là những loại thuốc diệt cỏ để trừ cây hoang, cỏ dại, trong thời gian chiến tranh Việt Nam. Hơi cay đặc biệt có hiệu quả trong việc xua đuổi ra khỏi các đường hầm nơi Việt Cộng đang trú và dùng người dân thường để làm lá chắn. Hai tay phóng viên thiếu kinh nghiệm khi phát hiện ra việc sử dụng hơi cay đã vội vã đánh đi bản tin là Mỹ sử dụng vũ khí hóa học, mà một phần cũng vì giới quân sự đã –  rụt rè và giữ bí mật về việc sử dụng một phương tiện nhân đạo nhằm kiểm soát đám đông. 358 Tuy vậy, các bản tin lúc ban đầu, bằng chứng của tính cách cực kỳ liều lĩnh và ngu muội của đám báo chí tại Việt Nam, đã loan tin là Hoa Kỳ sử dụng các khí độc thời thế chiến thứ hai mà đã từ lâu bị cấm. Chỉ có tờ Christian Science Monitor là tương thuật câu chuyện hơi cay một cách đúng đắn. Trước thời kỳ dùng tới hơi cay, thường thì một biệt kích chuyên hoạt động trong các đường hầm sẽ đã thủ tiêu tấ cả mọi người ở dưới đó bằng một viên đạn nhắm ngay trán với một khẩu súng lục cở 45 359 Tướng Westmoreland đã mô tả hơi cay như là vũ khí nhân đạo nhất thuộc quyền sử dụng của ông vì đã tránh được việc phải giết các người bị dùng làm bia đở đạn và cũng là một trong những tranh cãi đần độn nhất trong chiến tranh Việt Nam. 360 Đần độn, nhưng vẫn rất hiệu quả về tuyên truyền mà đã bị công nhận do việc lặp đi lặp lại của các tên nhà báo cẩu thả và các điệp viên của Hà Nội rằng đúng đó là loại hơi cấm dùng trong chiến tranh.

Hãy Ngưng Sử Dụng Hơi Độc tại Việt-nam

Ủng Hộ Việt-nam Chống Mỹ

Hình: Bích chương Tuyên Truyền của Hà-nội 1972, M. Anh

Cho đến ngày nay bọn Cộng sản vẫn còn triển lãm xác những bào thai bị biến dạng trong chai lọ và hình ảnh của người tàn tật rồi yêu cầu bồi thường cho số 3 triệu nạn nhân xem như chứng tích của cả hai cuộc chiến tranh hóa học mà đã không hề xảy ra và của những tác dụng chưa từng được chứng minh của Chất độc Da cam, một loại diệt cỏ dại. 361 Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ đã bác bỏ một vụ kiện thay mặt đại diện cho các kẻ gọi là nạn nhân nhằm chống lại 37 công ty hóa chất Hoa Kỳ. 362 Ấy vậy, đám du khách ngây thơ Mỹ khi nhìn thấy các trẻ sơ sinh dị dạng trong chai lọ thì lại bị ‘sốc’. Những cáo buộc về các hành vi  tàn bạo cố tình, nhằm nhắm vào dân thường, thậm chí cả – diệt chủng đã được lặp đi lặp lại và thường được tin theo.

Hình: Canfield, nạn nhân của Hóa chất Da cam, viện Bảo TRàng Tội ác Chiến tranh, Sài-gòn tháng 3, 2008

Các việc tàn bạo gây ra bởi vài tên Mỹ xấu xa ở Mỹ Lai và vài nơi khác là một phần tệ hại nhỏ trong toàn bộ câu chuyện được kể lại ở đây, cùng chung với các tội ác Cộng sản mà mức tỷ lệ thật là khủng khiếp và các chính sách chiến tranh đủ làm lu mờ tội phạm của một vài người Mỹ. Sự kiện Mỹ Lai, một ngoại lệ về phần Mỹ, thì lại chính là cách thức cai trị của cộng sản, – mổi người Việt Nam, cả phụ nữ lẫn trẻ em đều bị đẩy vô phục vụ từ hạ tầng lên đến trên cùng cơ sở , cho nguồn máy chiến tranh – khoảng 2.000.000 người trong số đó. Đó là chính sách của Hà Nội. Chính sách của Mỹ thì chỉ là cố hạn chế số thương vong của cả quân đội Mỹ và dân thường Việt Nam.

Trong cuộc chiến Việt Nam, theo một hoàn cảnh lịch sử chưa từng xẩy ra với những cuộc phản đối của quần chúng, đôi khi đầy bạo lực, 363 nhằm chống cuộc chiến tranh, cùng với các đợt tuyên truyền gần giống hệt nhau từ bọn Cộng sản và phong trào hòa bình, đã thành công trong việc đổi ngược chiến thắng tại chiến trường Việt Nam trở thành những thất bại chính trị trong nước và cuối cùng, đã đưa đến việc phản bội đồng minh của chúng ta trong chiến tranh Việt Nam và tới một chiến thắng Cộng sản. Phong trào phản chiến đã đóng một vai trò cốt yếu trong việc làm xói mòn sự ủng hộ của công chúng đối với chiến tranh, làm xói mòn tinh thần của quân đội tại Việt Nam, và chính nhất là, phá nát ý chí chính trị của giới lãnh đạo  Mỹ nhằm tìm kiếm chiến thắng, thay vì chấp nhận một ảo tưởng đẫm máu đáng xấu hổ gọi là hòa bình . – Việt Nam đã bị thua trên mặt trận chính trị tại Hoa Kỳ, chứ không phải trên chiến trường … Phong trào phản chiến đã tác động với tính cách quyết định trên những mặt trận chính trị,  Richard Nixon sau đó đã viết. 364 Phong trào phản chiến đã luân truyền dùm Cộng sản tài liệu tuyên truyền về tính cách tàn bạo mà không hề kiểm chứng. Hà Nội đã ngàn đời biết ơn phong trào.

CÁC HUY CHƯƠNG CHIẾN TRANH CHO CÁC ĐỒNG CHÍ CÙNG CHIẾN TUYÊN

Trong vài tuần sau vụ ám sát Tổng thống John Fitzgerald Kennedy tại Dallas, Texas, ngày 22 tháng 11, 1963, một khách mời đặc biệt đã ghé lại vào đầu tháng chạp năm 1963, để họp với Hội đồng Quốc gia của học sinh cho một xã hội dân chủ (National Council of the Students for a Democratic Society SDS). Tên y là Alger Hiss. Alger Hiss đã từng là Chủ tịch Carnegie Endowment for World Peace, là một công chức Bộ Ngoại giao tại Yalta, và là Tổng thư ký của Liên hợp quốc khi vừa được thành lập. Khi y bước vào và đã được giới thiệu, mọi người đã vổ tay hoan nghênh. Hiss đã đóng một vai trò quyết định trong một phiên tòa lịch sử nổi tiếng, mà người đối đầu là một dân biểu quốc hội trẻ và  thông minh gốc ở California tên là Richard Nixon. Bồi thẫm đoàn sau đó đã kết án Alger Hiss về tội khai gian. 365  Tất nhiên số công chức nói láo thì cũng không thiếu gì. Điều đặc biệt ở đây là  sự việc liên quan đến các tài liệu bí mật bị đánh cắp và được cất dấu một thời gian dài trong một trục thang máy cũ ở New York và sau đó được dấu qua đêm trên một đám bí ngô ở Maryland. Điều bất thường xảy ra này, phối hợp với các mẫu chữ đặc biệt của một máy đánh chữ Woodstock xưa, đã thuyết phục bồi thẫm đoàn rằng Alger Hiss đã nói dối về những vấn đề cốt yếu, cụ thể là về các hoạt động gián điệp bí mật cho Liên Xô mà đã dính líu tới – công tác chiến đấu sau phòng tuyến địch tại Hoa Kỳ.

Nhiều năm sau khi giải mã các tin nhắn cũ, dự án Venona, và các phúc trình tình báo bí mật của Liên Xô thì đã lòi ra là Liên Xô đã trao tặng Alger Hiss Huy Chương  Ngôi Sao Đỏ  366  để ghi ơn công trình hoạt động bí mật cho hòa bình của y … đằng sau phòng tuyến địch.  367 Huy chương này là một huy chương quân đội dành cho hoạt động chiến đấu đằng sau phòng tuyến của kẻ thù, chẳng hạn như thi hành các nhiệm vụ chính trị quan trọng có giá trị chiến lược quân sự.

Giống như Alger Hiss, một số thành viên của SDS và của các nhóm cổ xúy hòa bình Hoa kỳ sẽ nhận được các huy chương riêng, nhẫn , danh hiệu và vật lưu niệm của chúng, chỉ có khác là lần này thì từ một miền Bắc Việt Nam biết ơn, đã công nhận chúng như là các đồng chí cùng chiến tuyến trên mặt trận thứ hai ở phía sau hậu tuyến của kẻ thù chung, chủ nghĩa đế quốc Mỹ. Các tên lãnh đạo phản chiến Mỹ đã nhận hoặc đã được đề nghị huy chương Hồ Chí Minh, huy chương cao nhất  từng được trao, nó tương đương với Huân chương Danh dự của Quốc hội. Các huy chương giả mạo của loại huy chương này thì nay  được bày bán tại một cửa hàng bán quà lưu niệm nằm xa nơi Hà Nội dành cho phong trào phản chiến tại Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh của họ, nguyên trước kia là Bảo tàng viện Tội ác Chiến tranh tại Sài Gòn, nhưng ở đây thì không hề có nhắc nhở gì đến sự khen thưởng đối với các tên Mỹ này. 368

Vì vậy, trong năm 1963, Students for a Democratic Society, SDS cũng có những anh hùng riêng như là Alger Hiss. Những tên này đã không bao gồm John Kennedy, mà gần đây đã được thánh hóa khi bị ám sát tại Dallas, Texas. Tại cuộc họp tháng chạp của SDS, cách ca tụng tên Alger Hiss đáng kính đã báo trước các hoạt động tương lai của SDS, của tên lãnh tụ sáng lập Tom Hayden và các tên thừa kế Bernardine Dohrn và Bill Ayers, và các nhà tên lãnh đạo hàng đầu khác của phong trào phản chiến tiến bộ, việc này đã  báo trước rỏ là , giống như Alger Hiss, các hoạt động của chúng chính là sẽ bao gồm các hoạt động bí mật đằng sau chiến tuyến địch. Sự nhiệt tình của SDS đối với tên điệp viên gián điệp Hiss của Liên Xô cho thấy rỏ là nhiều tên trong bọn này đã không hề là những người yêu nước bị lầm lẫn nhưng mà là những điệp viên bí mật của kẻ thù đang hoạt động ngay trong quốc nội Hoa Kỳ, dù cho hoạt động của họ chỉ duy nhất là vận động hành lang cũng như là cổ động cho việc thất trận cũng như là do thám. Và, trên thực tế, nhiều tên đã tích cực tham gia để gây ra sự thất bại của chính đất nước của chúng trong chiến tranh Việt Nam, và khi làm như vậy, chúng đã góp phần gây nên đau thương và chết chóc cho ngay đồng bào của chúng mà đang phục vụ trong quân đội. Như Mark Moyar, tác giả của Phoenix and Birds of Prey, sẽ đã nhận xét, việc triệt chống chiến tranh Việt Nam sẽ sớm biến thể và trở thành, – từ lý tưởng của yêu thương và hòa bình để đâm ra hận thù người lính Mỹ.  369 Tay tổ sư từng tổ chức phong trào phản chiến Việt Nam đã chính là Việt Cộng, Ted Gold đã tuyên bố như vậy, cái tên khủng bố của Weather Underground, và rằng Castro đã tài trợ cho Lữ đoàn Venceremos  370 , trước khi y chết, như theo các lời tường thuật, chung với Dianne Oughton đầy miệng lưỡi trong một vụ nổ tại căn phố của Weathermen tại Greenwich mà đã được dùng làm lò chế bom. 371

Lẻ dĩ nhiên Cộng sản ViệtNamđã biết ơn sâu sắc các điệp viên Mỹ của chúng. Todd Gitlen, lãnh tụ của Students for a Democratic Society và cũng là sử học gia, đã ghi nhận, –  … nhiều … người Mỹ đã gặp gỡ các phái đoàn Bắc Việt và NLF [Việt Công] ởMontreal,Havana,Budapest, vàParis.  Trên thực tế, trong ba bộ sách, chúng tôi sẽ tiết lộ tên và kể ra gần hết 200 tay  người Mỹ  biết được đã đến thăm Hà Nội từ 1965 tới 1972, trong đó ít nhất có 82 tên đã lên đài phát thanh Hà Nội – đó là không kể đến số lớn các chương trình phát thanh của các tù binh chiến tranh Mỹ mà đã bị cưởng ép, các POWS. Nhiều chương trình truyền thanh khác sau 1972 thì chỉ được ghi lại một cách thưa thớt. Một số đã gặp công an chìm của Liên Xô, Cuba, và khối cộng sản Đông Âu để sau đó thi hành những điệp vụ tình báo và gián điệp. Chúng tôi báo cáo những tên đã được biết đến.

Có hàng trăm tên hoạt động phản chiến khác đã được huy động để thi hành các công tác bí mật hay công khai cho –  hòa bình (hãy đọc là , đánh bại), – các thành viên của  Women Strike for Peace, Vietnam Veterans Against the War, Weather Underground Organization, Venceremos Brigade, Peoples Coalition for Peace and Justice, National Mobilization, New Mobilization, American Deserters Committee, the Fellowship for Reconciliation, Clergy and Laity Concerned và các nhóm danh xưng là chủ hòa và tôn giáo – và đã gặp kẻ thù – Bắc Việt, Việt Cộng, Pathet Lào, Khmer Đỏ, Liên Xô và các đại diện của khối Cộng sản – ở Paris, Stockholm, Moscow, Bắc Kinh, Havana, Budapest, Sofia, Bratislava, Vancouver, Montreal và Toronto. Chỉ riêng một mình nhóm Vận động quốc gia để chấm dứt chiến tranh ở Việt Nammà đã cất giữ một danh sách liên lạc với nước ngoài của hơn 300 cá nhân và tổ chức. 372 Chúng tôi tường thuật lại những gì được biết về các cuộc họp này với các cá nhân và các tổ chức nước ngoài. Hầu hết những tay tham gia Mỹ đều không chứng tỏ được là chúng vô tội. Hàng ngàn tên , được chọn trước, 373 đã tham gia Lữ đoàn Venceremos do Cộng sản tạo ra để đi Cuba, nơi mà công an chìm của Liên Xô, KGB (hoặc GRU của quân đội ) và công an chìm Cuba, Direccion General de Inteligencia, DGI, thống trị. Các thành viên của Lữ đoàn Venceremos bị nhồi sọ và hầu hết trở lại có một cuộc sống đã cống hiến cho các lý tưởng tiến bộ nhằm lật đổ chính quyền. Một số hiếm  thành viên của Lữ đoàn Venceremos, giống như các Lữ đoàn Abraham Lincoln trước đây ở Tây Ban Nha, đã được đào tạo để hoạt động như điệp viên, như kẻ khủng bố và cán bộ tuyên truyền cho tình báo Cuba, DGI, một sản phẫm hoàn toàn của Liên-xô.

Các tên khác tìm gặp để giúp các lính đào ngủ Mỹ và các tên trốn quân dịch ởCanada, Thụy-điển, Đức. Nhật và Pháp.

Bắc Việt – với sự trợ giúp của Liên Xô, các quốc gia chư hầu, Trung Cộng, Cuba và tất cả các nhóm tiền phong , các điệp viên và các kẻ đồng hành của họ – đều đã có thiên bẩm hào phóng và là những chủ nhân tử tế đối với các du khách Mỹ (và nay vẫn đang như vậy). Như Paul Hollander đã mô tả rất rỏ trong Political Pilgrims (Các người hành hương chính trị ), nghệ thuật hiếu khách thật rất có ảnh hưởng đặc biệt trrong việc du lịch về chính trị. 374 Ron và Allis Radosh mô tả ảnh hưởng đã có khi đến Liên Xô của phe tả Hollywood. 375 Niên sử Amity Shales – The Junket trong The Forgotten Man  về những người mà sau này thuộc nhóm New Deal của Franklin D. Roosevelt đã từng phải có ấn tượng vào năm 1927 bởi cuộc cách mạng khi họ đã được cho thấy tại Liên Xô. 376

Hình: Roger Canfield, Khách sạn Métropole, Hà-nội, tháng 3, 2008

Tương tự như vậy, khách được mời đến Bắc Việt, sau khi đã bị chọn lựa kỷ càng trước đó, đã được cung cấp những tiện nghi tốt nhất đang có sẵn và được  cho cảm giác là mình rất là quan trọng bằng một  sự lưu ý thường xuyên nhằm  được thỏa mãn mọi nhu cầu của họ và bằng các lần được thăm các giới chức cao cấp. Các chuyến đi của họ đều bị kiểm soát chặt chẽ với việc ựa chọn trước những gì sẽ được cho nhìn thấy, thậm chí đến cả các lần gặp gở có vẻ như là tình cờ trên các đường phố. Cộng Sản Bắc Việt đã cung cấp vé máy bay miễn phí, thị thực, khách sạn và thực phẩm cho những khách mời mà chúng hay các điệp viên người Mỹ của chúng đã chọn trước. Xuất phát từ  một –  khách sạn lớn và cầu kỳ kiểu Pháp, 377 tên  Metropole (cũng được biết với tên Thống Nhất, Khách Sạn Thống-nhất), Hà Nội phối trí môtộcách lớp lang các chuyến hướng dẫn du lịch kéo dài từ một tuần đến vài tháng đi các nơi từng bị dội bom mà đã được lựa chọn, các cuộc phỏng vấn với các nạn nhân của chiến tranh, các tù binh chiến tranh và các tay lãnh đạo quân sự và chính trị hàng đầu của Bắc Việt. Cộng Sản cung cấp cho du khách những nữ tiếp viên xinh đẹp, những vòng ôm chào, những hoa đầy màu sắc, những hoa quả hiếm, những rau cải ngọt ngào, các chả giò, trái, bánh ngọt, sách báo, hình ảnh, phim, kịch và ngâm thơ. Sau khi được trao một bó hoa sen đang nở rộ, phóng viên Richard Dudman của tờ Washington Post đã được chào đón, – Tôi biết là ông đến như một người bạn.  378 Carol McEldowney đã viết trong Hanoi Journal của mình ngày 5 tháng 10, 1967 là –  tất cả chúng tôi … đều đang được tiếp đón như vua chúa trong lần duy nhất trong đời của chúng tôi . Và vào ngày 18 tháng 10, – Thật là quá sức chịu đựng khi có những gái xinh đẹp luôn luôn ráng nhét đủ thứ xuống cổ họng của chúng tôi, 3 lần một ngày ngay sau cả những bữa ăn thịnh soạn đã có tại khách sạn rồi. 379 Cộng sản đã sử dụng cái khách sạn sang trọng thời thực dân Pháp, Metropole (còn gọi là Thống Nhất, Khach san Thong-nhat), từ lâu nổi tiếng là một trong những khách sạn thanh lịch nhất trong toàn châu Á, như nhà khách đón các Viên Viên Chức Rất Quan Trọng VIP của chúng, đối với hầu hết các du khách kể cả những tên như Jane Fonda, Joan Baez , Tom Hayden, Rennie Davis và nhiều kẻ khác. Trong những giờ đen tối nhất, nhà văn kiêm du khách Steven K. Bailey tường thuật là khi trú ngụ tại Metropole – các phóng viên ngoại quốc, các tay hoạt động hòa bình và các nhà ngoại giao [đã được cung cấp] – thực phẫm nhiều bội phần hơn so với những gì người dân trung bình Hà Nội đang có để chỉ sống qua ngày … 380

Phóng viên Pháp Jean Thoraval đã căn cứ vào những gì mình thấy và thưởng thức để tin là những vụ không tạc của Mỹ không hề hiệu quả. Đối với anh ta, – món Bouillabaisse tả pí lù súp cá nấu kiểu Pháp toàn tôm hùm và các loại tôm, cua, sò, hến khác cho thấy là tất cả các nhu yếu phẩm đều đã có tại Bắc Việt. 381 Dương Thu Hương, thành viên của Lữ đoàn Thanh niên Cộng sản, thì mô tả cảnh thực tế của người dân bình thường tại Bắc Việt như sau:

Dân đã  sống … đói triền miên không ngừng nghỉ: thèm protein … Chúng cướp các vườn rauruộng  lúa của chúng tôi với danh nghĩa Marx. … Khi liên hoan, chúng liền  đặt nhân dân  lên một bàn thờ, và cúng họ bằng nhang với tro. Nhưng đồ ăn thực sự thì luôn luôn được dành cho chúng.  382

Trương Như Tảng, kẻ sáng lập Mặt Trận Giải Phóng Quốc Gia,  sau đó có cho biết, – Cộng sản là những chuyên viên trong kỹ thuật dụ dổ và sẳn sàng làm đủ mọi cách để thu hút bạn sang phía chúng …. Nhưng một khi mà chúng đã nắm quyền lực trong tay thì chúng đột nhiên trở nên khắc nghiệt, vô ơn, chua cay và tàn bạo.  383 Nguyễn Công Hoan, đại biểu Quốc hội, đã nói là các du khách ngoại quốc phải chuẩn bị là – nhà chức trách sẽ sắp xếp các nơi họ tới, những gì họ sẽ thấy, các người mà họ sẽ tiếp xúc. Thậm chí các cuộc gặp gở ngoài đường – cũng đều đã được đạo diển trước…. Nguyễn Công Hoan cho biết, – Nhà cầm quyền duy trì vài trại để làm tuồng, mô hình nơi làm việc, và một số địa chỉ liên lạc. … 384 Trong một lần do Hà Nội mô tả khi phô trương hai tù binh chiến tranh đã bị huấn luyện trước, Hà Nội cẩn thận tổ chức mọi hành vi và lời hát của 580 cá nhân từ chiều đến tối và đã lần lượt di chuyển các tù binh chiến tranh tới các địa điểm đã lựa chọn trước với việc trình bày các chất độc và việc B-52 dội bom một nghĩa  trang, trường học và nơi hội họp. Mục đích là phổ biến các chiến thắng của Hà Nội, khơi dậy lòng căm thù người Mỹ, thúc đẩy tinh thần chiến đấu , và nhồi sọ các tù binh chiến tranh. 385  Chương trình này chứa đủ bộ ba đấu tranh chính trị, đấu tranh về chính trị cùng hoạt động trong lòng địch, địch vận, trong quân đội, binh vận và trong nhân dân, dân vận.

Tay ngôn ngữ học và tuyên truyền rất giỏi Noam Chomsky đã cảm ơn lòng hiều khách Việt Nam trên Đài phát thanh Hà Nội, – Tôi đã cảm thấy … rất hài lòng y như thật sự đang ở ngay tại nhà mình  … một phần nhờ sự tiếp đón nồng ấm và ân cần tại bất cứ nơi nào mà chúng tôi đã đến. 386 Tom Hayden thì thích yếu tố hiếu khách này đến mức mà y muốn ở lại Việt Nam luôn. Nhiều tên khác đã đề nghị để được chiến đấu bên cạnh các đồng chí cộng sản của chúng. Nhiều kẻ đến Hà Nội cũng đã gặp các tù binh chiến tranh Mỹ từ Hỏa Lò, cái tên gọi của Hà Nội Hilton, một thuật ngữ mà bọn lãnh đạo Việt Nam và phản chiến như Cora Weiss thường sử dụng để tả về các hoàn cảnh tất là dễ chịu. Cựu Chưởng lý Mỹ Ramsay Clark cho biết Hỏa Lò đã không giống như bất kỳ nhà giam nào khác. 387

Hình: Roger Canfield, tháng 3, 2008, Bảo tàng viện tại Hanoi Hilton, các tù binh Mỹ được cho thấy đang nuôi “gà”, loại thực phẫm không hề thuộc khẩu phần hàng ngày của họ.

Một trại tù binh đã được thành lập riêng nhằm cho việc tuyên truyền cho thuận lợi. Cái – Nông trại là một biệt thự thời thuộc địa Pháp với nhiều chổ  dựng nên với – những phòng giam sạch bong, những mảnh vườn, và các hành lang chùi sạch lán bóng dùng để chứng minh cho các điều kiện tốt đẹp trong nhà tù với du khách và các đoàn quay phim. Tầng dưới của ngôi nhà đã dành cho các cuộc phỏng vấn và ba phòng tù rộng rãi, với trần cao mà các tù binh chiến tranh gọi là – Phòng Triển lãm. Các kẻ bị giam giữ ở đó thường là – những phi công trẻ vừa vị bắn rớt , mà đã ít bị tra tấn hay phạt kỷ luật và – do đó là những người thích hợp nhất để trưng ra cho việc tuyên truyền.  388 Thực phẩm ngon lành và các phương tiện giải trí đã được phôi bày. 389 Trong một khung cảnh thân thiện như vậy, các tù binh chiến tranh đã được xếp hàng và gọi ra để nói như vẹt về – sự đối xử nhân đạo và khoan dung đối với họ – một số tù binh chiến tranh đã tự nguyện làm như vậy nhưng nhiều người khác đã bị tra tấn và phải chịu đựng các cuộc gặp gở làm suy sụp tinh thần với bọn Mỹ bạn với địch.

Tùy theo sự chấp thuận hay không của Bắc Việt, các tay lãnh đạo phản chiến được ưa thích như Tom Hayden, David Dellinger và Cora Rubin Weiss đã lựa chọn mọi khách đến từ Mỹ, nhằm bảo đảm là chỉ có những người Mỹ nào mà khã dỉ tin tưởng được là khi trở về Mỹ sẽ phổ biến cuộc chiến tranh tuyên truyền cho Hà Nội  mà không hề chịu suy luận . Chúng sẽ sẵn sàng mô tả việc thả bom napalm khủng khiếp trên thường dân vô tội và việc dội bom liên tục bệnh viện, nghĩa trang, trường học, nhà thờ và chùa. Khi bị từ chối thị thực nhập cảnh, tiểu thuyết gia và cựu chiến binh Thế chiến II James Jones đã viết, – người Bắc Việt từng nổi tiếng là ích kỷ về việc thị thực, chấp thuận cho – những người như Jane Fonda, Wilfred Burchett và Mary McCarthy, người kẻ dứt khoát ở về phía họ, và do đó đã thành công trong việc có được một số lượng to lớn về tuyên truyền mà không hề bị thắc mắc hay xao xuyến.  390. Đa số đã trở về, không hề biết, hay cố tình không nhìn thấy cái lòng hiếu khách rỏ ràng là đã bị đạo diển trước, 391  hoàn toàn bị quyến rũ, bị lừa dối, mắt đầy lệ và giận dữ. Hầu như tất cả sau đó đều quyết chí sống cho một chiến thắng của Cộng sản Việt Nam đối với chủ nghĩa đế quốc Mỹ.

Sau cuôc chiến khi Cộng sản gây ra biết bao nhiêu là kinh khủng chết chóc và đàn áp  hàng triệu nạn nhân, chỉ có một số rất nhỏ những tay hoạt động vì hòa bình sẽ công nhận là mình đã sai lầm. Hơn nữa, nhiều tên đã tấn công một Joan Baez nay đã hối cải và nêu lên  những nổi kinh hoàng tại Việt Nam sau khi Mỹ đã bỏ đi. Đó không phải như tờ New York Times đã từng cả gan in tựa đề, – … Cho Đa số là Một Cuộc Sống Tốt Đẹp Hơn.

Ngày nay, một số tên hoạt động phản chiến vẫn còn sinh hoạt ở các nơi với tư cách là người tổ chức cộng đồng mà ghét – chủ nghĩa đế quốc Mỹ. Chính cuộc chiến tranh Việt Nam, và có lẽ, do vô số lần họp hội với Cộng sản Việt Nam, mà đã hợp pháp hóa việc sử dụng rộng rãi danh từ chủ nghĩa đế quốc và giống như ngôn ngữ Mác-xít trong cách nói chuyên thông thường của Mỹ – tả phái tiến bộ. Tương tự như vậy, đối thủ của – bọn cấp tiến đã khám phá ra là họ bị từ chối không cho sử dụng các từ như cộng sản, âm mưu  hay phản quốc để mô tả những tên đang giúp đỡ địch,  392 đó là chưa nói tới cái màu đỏ mà đã từng là màu chọn lựa rất phổ thông của Tả phái. Lật ngược thế giới lại thì quả thật đã khiến mọi việc thành méo mó và gian dối.

Ngoài tên ngôn ngữ học Mác-xít Chomsky, chính các đế quốc cộng sản – Liên Xô, Khối Đông Âu, Cộng hòa nhân dân Trung Quốc, Bắc Triều Tiên và Cuba của Castro – đều đã giúp đở sống qua ngày trong chiến tranh một Bắc Việt với một nền kinh tế lạc hậu và duy trì các lực lượng của chúng tại Lào 393 với  Campuchia . Đế quốc Cộng sản đã cung cấp hàng tỷ đô la vũ khí hiện đại, hàng trăm ngàn quân, phòng không hiện đại (cung cấp bởi gián điệp Liên Xô Morton Sobell  394), các khả năng tình báo và chính sách tuyên truyền được tài trợ đầy đủ cùng các chiến dịch phản chiến. Viện trợ  của khối Liên Xô từ 1955 đền 1961 đã là $ 1 tỷ. 395 Tới năm 1971 thì nó đạt 3 tỷ. 396 Trung Quốc đã chi 15 tỷ đến $ 20 tỷ  397 và gửi 327, 000 binh lính mặc chính quy đến Bắc Việt Nam. Sử gia Trung Quốc Chen Jian đã viết: “Mặc dù viện trợ của Bắc Kinh có thể đã không tới mức kỳ vọng của Hà Nội, nếu nếu không có nó, thì lịch sử, và ngay cả kết quả của cuộc chiến tranh Việt Nam có thể đã khác đi.” Liên Xô đã cung ứng không ít hơn là $ 1 tỷ hàng năm 398 và đã gởi 55.000 cố vấn qua Bắc Việt, cùng bắt đầu vào năm 1965 , xây dựng hệ thống phòng đa dạng với nhân sự để điều khiển cũng như  đào tạo và cung cấp yểm trợ hậu cần. 399 Do công tác điều khiển hệ thống phòng không và được cho là đã bắn rớt 24 phóng pháo cơ Mỹ, Thiếu tá Liên Xô A. Trombacheavey nhận được Huy chương Lê-nin và Huy chương Khăn Đỏ. 400

Các nhóm tiền phương, những tổ chức từng được đẻ ra, cùng các phương thức tương tự, đều là nhằm làm mờ đi ảnh hưởng của Liên Xô đối với các tổ chức mà đã hỗ trợ chính sách đối ngoại Liên Xô, đứng đằng sau một bộ mặt chỉ là kêu gọi đoàn kết chống lại chiến tranh và bất công và bảo vệ nhân quyền, bất can thiệp …  401 Liên Xô đã chi tiêu thêm 1 tỷ đô la để ra sách báo và phim ảnh cùng tài trợ cho các hội nghị và các chuyến du lịch tới các nơi mà  thành viên của phong trào phản chiến đã từng gặp từ ngày này qua tuần khác các lãnh đạo chính trị và quân sự của Bắc Việt, Việt Cộng, Khmer Đỏ, Lào để thảo luận về chiến lược và chiến thuật hầu đẩy Mỹ ra khỏi Việt Nam và  bảo đảm cho cuộc xâm lăng của Hà Nội vào miền Nam Việt Nam.

Liên Xô đã tài trợ  402 đảng Cộng sản Mỹ, chủ nhân của Anniversary Tours mà đã từng sắp xếp nhiều chuyền đi. – Gài chung vô số các công dân bình thường say mê hòa bình … tự do, công lý [đã là] bọn viên chức cao cấp cũ và đám cán bộ đi theo sát để trông chừng . 403 Thường thì các phiếu ủy quyền về ngân hàng cho các nhóm phản chiến – New Mobilization, PCPJ, NPAC – tên của những tay được phép rút tiền mặt hoặc gửi chi phiếu vô ngân hàng  – đã có tên của bọn hoạt động tả phái cũ như Abe Bloom  404 , Sidney Peck 405 Sidney Stapleton, Patrician Grogan – đảng viên và cựu đảng viên của Đảng Cộng sản Mỹ và của đảng  Công nhân  xã hội Trotskyite (Trotskyite Socialist Workers Party). 406 Helen Anne Gurewitz và Abe Bloom đã vội vã chạy đi ráng tìm tiền để trả một cú gọi điện thoại sau khi một tình nguyện viên đã viết một chi phiếu vô giá trị khiến cuộc gọi  điện thoại của Mobe trước khi xẩy ra một cuộc tụ hợp không thể thực hiện được. 407 Bloom đã thú nhận mình cả đời là Cộng sản trong một bài báo trên Washington Post ngày 5 tháng 7, 1999. Cũng chính những tên cán bộ cao cấp cộng sản này đã cho mượn tiền để thuê văn phòng 408 hay ký các hợp đồng thuê mướn cho các nhóm phản chiến.  409 Phong trào cộng sản quốc tế đã đầu tư vốn liếng hạn hẹp của chúng vào một chiến thắng tại Việt Nam.

Cộng sản luôn luôn đạt hòa bình thông qua chiến thắng. Các lãnh đạo Mỹ ngay từ đầu đã mưu tìm hòa bình thông qua thỏa hiệp, các lần ngừng ném bom, các cuộc đàm phán và cuối cùng  chỉ là phủi tay và chạy trốn, từ bỏ những người Đông Dương. Sau một thời gian đầy nhục nhã, chiến tranh kết thúc như một sự phản bội đê tiện đối với người dân miền Nam Việt Nam, Campuchia và Lào. Từ giữa năm 1964 đến đầu 1967, Tổng thống Johnson đã đưa ra 31 sáng kiến hòa bình mà vẫn vô hiệu, 410 ngoại trừ việc cho phép Hà Nội gia tăng xâm nhập và tiếp tế. -Moscow và các quốc gia chư hầu đã nuôi dưởng các báo cáo sai lệch (về các cuộc đàm phán có tính đột phá) để khuyến khích các lần ngưng dội bom … Cố vấn George Ball của Johnson đã tin vậy. 411

Trong khi đó, liên lạc giữa kẻ thù Việt Nam và một số bọn hoạt động phản chiến đã không chỉ không bị gián đoạn mà thực sự lại trở thành liên tục. Trong trường hợp của Tom Hayden và các tên khác, FBI, CIA, NSA đã chận được các cuộc đàm thoại với các điệp viên của các cường quốc nước ngoài mà đã lên đến hàng chục ngàn trang. Chúng không hề được chuyển lại Hayden và những tên khác bởi vì ngay cả các thẩm phán có khuynh hướng tự do cũng thấy những việc này dính líu một cách đúng nghĩa tới tình báo ngoại quốc – chớ không phải là quốc nội. Các liên lạc bao trùm này và việc khuyến khích hổ tương đã nuôi dưởng cho một sự hợp tác chặt chẽ không thể tưởng tượng nổi giữa phong trào phản chiến ở Mỹ, và kẻ thù ngay trong thời gian chiến tranh. Các liên lạc này mau chóng xẩy ra khắp toàn thế giới – phối hợp gọn gàng 412 của các hoạt động chính trị vào những ngày tháng cụ thể cùng sử dụng chung các chủ đề tuyên truyền phổ biến và ngôn từ mà thường được điều chỉnh để phản ánh điều kiện lúc đó trên chiến trường. Các chủ đề tuyên truyền của phong trào phản chiến đã được thu xếp để đáp ứng đúng nhu cầu đang thay đổi của Bắc Việt trên chiến trường Việt Nam, Campuchia và Lào hay trong các cuộc đàm phán ở Paris. Tù binh chiến tranh James Kasler bị bắt ngồi ngay hàng đầu để nghe trong hàng giờ loại tuyên truyền chiến tranh của Hà Nội mà đã bị lặp đi lặp lại hàng ngày bởi bọn du khách phản chiến đến Hà Nội. – Bọn mà đã tới Hà Nội … đã phát thanh lại các tuyên truyền mới nhất của Cộng sản … Chúng –  phun ra đề nghị đầu hàng hoàn toàn do Bắc Việt chủ trương, công tác tuyên truyền ngăn chận giả dối và những điều khác. Chúng tôi đã sững sờ trước tốc độ mà các chiến dịch tuyên truyền của Việt Nam đã được vài chính trị gia ở các tiểu bang bắt chước ngay tức thì.  413

Việc hợp tác và phối hợp này của các hoạt động phản chiến quốc nội cùng các chủ đề tuyên truyền của đối phương trong thời chiến đã rất rỏ ràng cho bất cứ ai đọc báo hoặc chịu theo dõi các hoạt động của phong trào phản chiến. Các nhà lãnh tụ dân cử và quân sự hàng đầu của Mỹ đã từng đánh giá cao bằng chứng của việc tổ chức chính trị tại nơi làm việc. Cũng khá kỳ lạ là các công chức chuyên nghiệp và giới báo chí có vẻ như đui mù về phương diện hiến pháp và chính trị đối với những gì đã diễn ra trước mắt họ, hay là quá nhút nhát để đối đầu với các chiến dịch đã được thu xếp rất có lớp lang. Bất kề các cuộc biểu tình công cộng, các buổi điều trần công khai và các lần điều tra của Quốc hội, CIA và giới báo chí đã tướng thuật không đầy đủ hay là đã thẳng thừng bác bỏ bất kỳ mọi bằng chứng nào về việc khã dỉ có hợp tác với kẻ địch. Điều này đã là, tất nhiên, dễ dàng hơn so với trường hợp quyết chí đối đầu với chúng trong các vấn đề mà những thảo luận về Tu chính án số Một sẽ tức khắc được nêu ra để bác bỏ mọi đề cập tới việc cộng tác và hợp tác chớ chưa nói chi tới âm mưu lật đổ hay phản quốc.

Cho đến nay, các thành viên của các tổ khủng bố và gián điệp Trung Quốc vẫn hoạt động một cách an toàn dưới sự che chở bảo vệ do việc phải tránh phân loại theo nòi giống hay chủng tộc. Và Tu chính án số Một bảo vệ mọi người để khỏi phải chịu trách nhiệm hay bị làm phiền vì đã luân truyền những lời cáo buộc, các vụ tra tấn hay hành vi dã man tàn bạo của Tổng thống Mỹ, của Hoa Kỳ, và nhân dân Mỹ. Để đối đáp lại các cáo buộc này thì phải can đảm và cần đôi chút tường thuật qua điện thoại, từ các đường phố hay từ các bãi chiến trường.

Cộng sản Hà Nội đã hiểu biết rõ về nghệ thuật và khoa học chính trị và chiến lược của chiến tranh so với giới báo chí và hầu hết các cơ quan tình báo Mỹ. Ngày nay, nhờ vụ Việt Nam, bọn Phát-xít Hồi và Trung Cộng cũng y như vậy.

Đồng Chí Cùng Chiến Tuyến

 Bắc Việt đã gọi các đồng minh cộng sản anh em của họ tại Mỹ là – các đồng chí cùng chiến tuyến trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung là chủ nghĩa đế quốc Mỹ. Tương tự như vậy, Thủ tướng Bắc Việt Phạm Văn Đồng công khai nhìn nhận các tên lãnh tụ phản chiến Mỹ như là các đồng chí cùng chiến tuyến. Một số tên Mỹ đã rất vinh dự là – đồng chí cùng chiến tuyến đã là Stokely Carmichael, Tom Hayden, Eldridge Cleaver, Robert Scheer, và Jane Fonda. 414 Và chắc chắn là Cora Weiss cùng những tên khác mà đã từng giúp đở một cách đáng kể và yểm trợ các kẻ địch, cũng tự cảm thất rất vinh dự. Cora Weiss thực sự đã giữ bản quyền tiếng Anh của sách Đại thắng mùa Xuân của Chúng tôi do tướng Dũng viết, một tường thuật về việc Cộng sản Hà Nội xâm chiếm miền Nam. – Chiến thắng của chúng tôi cũng phát từ nhiều nguyên nhân [bao gồm] cả sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa anh em và mọi bạn bè của chúng tôi trên khắp thế giới.  415 Cộng sản Việt Nam đã đánh giá cao các đồng chí cùng chiến tuyến mà đã cùng chiến đấu với kẻ thù chung là chủ nghĩa đế quốc Mỹ.

 Ngày nay bọn nhập cư Jihadist, nhà thờ và trường học của chúng tương tự cũng là đạo quân thứ năm mới ở Mỹ và trên toàn thế giới, từ Anh đến Phi-luật-tân. Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) kiểm soát hầu hết các phương tiện truyền tin tiếng Trung Hoa tại Mỹ,  416 đang làm tiền và hăm dọa người Mỹ gốc Trung hoa mà có gia đình còn ở lục địa, 417 đã tổ chức các người Mỹ gốc Tàu để phản đối những người ủng hộ nhân quyền cho Tây Tạng, đ ãmua các cổ phần có tính cách kiểm soát trong các công ty Mỹ, đã gieo gợi viễn ảnh lợi nhuận liên tục vào đầu các doanh nhân Mỹ, đã đóng góp một cách bất hợp pháp với tư cách người ngoại quốc cho các cuộc vận động cử tri của các chính trị gia Mỹ và nhờ đó dã mua được khã năng tiếp xúc với các chính trị gia, nếu không nói là mua được họ luôn. 418

Sử gia và cũng là thành viên của SDS Todd Gitlen đã viết:

Nhiều người trong số đông các cộng tác viên đã trở về, tay mang . . . những chiếc nhẫn bí ẩn bằng nhôm . . . được nói là làm từ xác của một phóng pháo cơ  Mỹ bị bắn hạ trong một cuộc không kích … Một số đã nhận được vỏ bom và các viên bi chống cá nhân  … dấu hiệu cho thấy là kỷ thuật siêu đẳng của Mỹ không phải là … bất khả thắng419

Tất cả các chiến công thời chiến này đều đã bị mua với máu của các phi hành đoàn Mỹ mà đã tử nạn. Bill Ayers, đảng viên của SDS Weatherman và cũng là một tên khủng bố đã nhớ lại , Nguyễn Thị Thanh 420 cho y một chiếc nhẫn tại Toronto Canada trong một cuộc họp với một tá người Việt và một phái đoàn mười tám tên Mỹ được tài trợ bởi Women‘s Strike for Peace, WSP. Trên nhẫn được khắc – 500  để kỷ niệm năm trăm máy bay Mỹ bị bắn rơi tại Vietnam. 421

Các huy hiệu và huy chương chiến tranh này đều được mang một cách tự hào ở nơi công cộng. Đập ngược vào mắt là Huy chương Sao Đỏ mà Liên Xô đã trao tặng Alger Hiss thì đã chỉ được đeo một cách bí mật, nếu có, do công tác của y – đằng sau chiến tuyền địch ngay tại Mỹ. 422 Không giống như bạn của y là Morton Sobel, Alger Hiss không bao giờ thừa nhận là đã từng tham gia với phía bên kia. Nhiều tên trong phong trào phản chiến đã từng vui vẻ tuyên bố mình ủng hộ kẻ thù.

Trong tháng 4 và tháng 5, 1985, Jane Fonda 423, Tom Hayden và những tên khác đúng ra sẽ đã được mời dự lể chào mừng kỷ niệm 10 năm xâm lấn miền Nam Việt Nam. Tom và Jane ở lại nhà vì y đã được bầu vào Quốc hội năm 1982 với một bản lý lịch từng được cạo rữa sạch. 424 Như chúng ta sẽ thấy, nhiều cá nhân khác đã chắc chắn cũng nhận được lời mời dự lễ kỷ niệm, nhưng như Hayden và Fonda, có thể đã mong muốn lại đánh bóng một huyền thoại mới, rằng họ chỉ đơn thuần là hoạt động cho hòa bình mà chưa bao giờ là các đồng chí cùng chiến tuyến với Cộng sản. Đáp một máy bay Liên Xô, năm tên khác đã tham dự lể ăn mừng chiến thắng công khai được tài trợ bởi Hà Nội . 425 Ba tên Mỹ mà đã được ghi nhận là đã công khai đi chuyến hành hương đến nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là David Dellinger, 426 một trong những khuôn mặt nổi tiếng nhất của phong trào phản chiến, George Wald, tay được giải Nobel, khách và cũng là cái loa trung thành của tuyên truyền do Hà Nội , 427 và John McAuliff, 428 lãnh tụ của American Friends Service Committee và là thành viên của hội nghị Germantown của Hayden-Fonda mà đã soạn thảo chiến dịch chính trị tại Quốc hội mà đã đưa đến việc Hà Nội chiến thắng sau Hiệp định Hòa bình Paris. John McAuliff cũng là một tên từng bác bỏ nạn diệt chủng tại Campuchia. 429 Bọn ở tại Hà Nội, Dellinger, Wald, McAuliff và hai tên khác chưa biết danh tính, 430 mà rất có khả năng là Douglas Hostetter, tên Mennonite thân thiện với Hà Nội thuộc United Methodist , 431 và một tên nữa đã nhận được sự công nhận đặc biệt về  những đóng góp của chúng cho chiến thắng Cộng sản .

Những tên đã đi Hà Nội để liên hoan, Dellinger, George Wald, John McAuliff, Hostetter, và một tên nữa đã cùng nhận được một huy chương vàng có hình nổi của Hồ Chí Minh nằm trên những dây sọc vàng đỏ . Loại huy chương Hồ Chí Minh này được – tặng cho cá nhân (hoặc tập thể) mà đã có công lớn xứng đáng, với nhiều thành tích xuất sắc về chính trị . . .  quốc phòng, an ninh, ngoại giao hay các lĩnh vực nào khác.  432  Nó tương đương với huy chương Lê-nin và Anh hùng Liên Xô. Những người đã từng  nhận loại Huy chương Hồ Chí Minh đã là những bộ đội của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, dành cho hành vi dũng cảm trước lực lượng địch, các phi công Hà Nội từng bắn rơi phi cơ Mỹ, Bí thư Đảng Cộng sản (Trần Quyết) và một đảng viên thuộc Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản (Trần Độ). Để so giá trị tương đương với Mỹ thì Huy chương Hồ Chí Minh có thể được coi như là Huân chương Tự do của Tổng thống hoặc Huy chương danh dự của Quốc hội.

Nữu Ứơc Ăn Mừng Chiến Thắng Cộng Sản

Năm ngày sau, vào ngày 5 tháng 5, 1985 khi về từ Hà Nội, tên David Dellinger đeo Huy Chương họ Hồ để cùng chung với 1.000 thành viên thuộc 75 tổ chức để liên hoan mừng lễ kỷ niệm 10 năm chiến thắng của Cộng sản tại trường Washington Irving ở New York. Các kẻ liên hoan mà đáng chú ý là mục sư Jesse Jackson, Johnetta Cole, Giáo sư, Lữ đoàn Venceremos , Don Luce, Clergy and Laity Concerned; Leslie Cagan, Mobilization for Survival; Barry Romo, Vietnam Veterans Against the War; ca sĩ Holly Near, Hayden-Fonda Indochina Peace Campaign. Ngoài ra còn có Đảng Cộng sản Mỹ và các tổ chức cộng sự thân cận: National Lawyers Guild, Nicaraguan Support Project and the U.S. Peace Council. 433

Người ta cũng không biết được là có còn ai khác trong bọn đã liên hoan tại New York mà cũng nhận được Huy Chương Hồ Chí Minh, 434 nhưng Đại sứ Việt Nam tại Liên Hợp Quốc, Hoàng Bích Sơn, đã nói, – 30 Tháng 4, 1975 … cũng thuộc về toàn thể nhân loại tiến bộ và cho tất cả mọi người yêu chuộng hòa bình và công lý trên khắp thế giới. Chúng tôi, những người Việt Nam … đã mang ơn sâu sắc … các bạn bè của chúng tôi … đặc biệt là những người ở Hoa Kỳ về sự hỗ trợ tận tình của họ. Bà Nguyễn Thị Bình, đại diện của Việt Cộng trong thời chiến cũng đã gửi một tin nhắn. Chắc chắn, vài tên trong số bọn  lãnh tụ của 75 nhóm mà đã tổ chức lễ kỷ niệm và 1.000 tên tham dự tại New York  435 đã nhận được Huy chương Hồ Chí Minh riêng của chúng.

Tại sao, ngày kỷ niệm ở Mỹ đã bị trì hoãn năm ngày thì không rõ, nhưng sự chậm trễ  năm ngày cho phép Dellinger có cơ hội lên tiếng và cũng đã cho phép Đại sứ Hoàng Bích Sơn trao tặng huy chương cho những tên xứng đáng nào khác mà đã không dự được liên hoan tại Sài Gòn và Huế. Dù sao thì trong suốt cuộc chiến tranh, nhiều tên, giống như Bill Ayers, đã từng nhận những chiếc nhẫn có khắc làm từ máy bay mua bằng máu Mỹ mà đã bị bắn rớt .

Hà Nội đã vinh danh số bạn bè thời chiến của mình theo nhiều cách khác.

Năm 1993, Thượng nghị sĩ John Kerry, Dân chủ – Massachusetts, đã dẫn đầu một phái đoàn đến Việt Nam để thảo luận về số người Mỹ vẫn còn mất tích trong chiến tranh MIA,  tại Việt Nam. Trong thời gian ở đó, Kerry đã bị chụp hình chung với Tổng thư ký Đảng Cộng sản Việt Nam, Đỗ Mười. 436 Tấm hình của cuộc gặp gở này đã được có cùng một vị trí danh dự đặc biệt như hình của các tên Mỹ khác mà từng được công nhận đã đóng góp cho chiến thắng Cộng sản. Hình viên Thượng nghị sĩ và viên Bí thư Đảng Cộng sản có thể được nhìn thấy tại Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh, trước đây là Bảo tàng tội ác chiến tranh của Mỹ ở thành phố Hồ Chí Minh, nguyên là Sài Gòn, Nam Việt. Chú thích đã ghi: “Ông Đỗ Mười, Tổng thư ký của Đảng Cộng sản Việt Nam đã gặp gỡ với Dân  biểu quốc hội và Phái Đoàn Cựu chiến binh tại Việt Nam (ngày 15-18 tháng 7, 1993).” 437  Jane Fonda thì được vinh danh tới hai lần bằng hình ảnh tại Bảo tàng Chứng tích chiến tranh – đứng bên cạnh đại diện của Việt Cộng tại các cuộc đàm phán hòa bình công khai ở Paris, bà Bình – và tại Bảo tàng Phụ nữ ở đó. Cũng như vậy là tay phản đối chiến tranh David Miller từng công khai đốt Thơ thông báo gọi nhập ngũ năm 1965. 438 Tại Việt Nam số người tình nguyện đông gấp bốn lần hơn số người bị gọi quân dịch và 70% số thiệt mạng đều là người tình nguyện, chớ không phải là đi quân dịch. 439 Đã không  có báo cáo nào về các thanh niên Bắc Việt mà đã đốt thẻ gọi khi bị bắt đi làm nghĩa vụ.

Bọn nhận huy chương đã hưởng được những phần thưởng đặc biệt, những vinh dự và được vinh danh cho các đóng góp phi thường của chúng vào chiến lược chiến tranh của  Hà Nội. Những đóng góp này là gì? Điều gì đã khiến chúng là phi thường?

Giáo sư Barton Meyers tại Đại học Brooklyn Thành phố New York, đã liệt kê một cách chính xác số đông những đóng góp cho miền Bắc Việt Nam của phong trào phản chiến :

… Chuyển dư luận Mỹ thành chống chiến tranh, gây thêm một  phí tổn trong nước về chiến tranh bằng các cuộc biểu tình và náo loạn khuôn viên trường học, buộc các chính trị gia  phải ưu tư về những  ảnh hưởng gì sẽ xẩy ra cho sự nghiệp của họ nếu họ ủng hộ  chiến tranh , và góp phần làm suy yếu tinh thần  quân đội Mỹ. 440 Thật vậy, yêu tố phản chiến của  các dân tộccác chính phủ  đồng minh trên toàn thế giới đã hạn chế khả năng của chính phủ Mỹ trong việc tiến hành chiến tranh Việt Nam. 441

Sau 9/11, dùng những bài học chiến lược của Việt Nam, giới báo chí và phong trào phản chiến đã cực lực hoạt động để chuyển công luận thành chống lại cuộc chiến ở Iraq, đã khiến Đảng Dân chủ và một số đảng viên Cộng hòa chấp nhận chiến lược cắt đứt rồi bỏ chạy, và đã hạn chế những hành động khã dỉ có thể có được ở Iran và Syria của Mỹ. Chủ trương chỉ có tôn trọng Trung Quốc, cùng với sự hỗ trợ tích cực của các công ty, cộng với sự lười biếng của giới báo chí truyền thông, hình như đã khiến xẩy ra một sự im lặng tuyệt đối về vấn đề Trung Quốc đang hiện đại hóa quân sự nhanh chóng và về việc đàn áp, thủ tiêu cùng  thu cướp các cơ quan nội tạng của ngay những người bất đồng chính hiền lành nhất – các Phật tử Tây Tạng và các người tu thiền Pháp Luân Công.

Cuốn sách này đã đầy dãy những ví dụ về việc các tướng và các tay lãnh đạo chính trị của Hà Nội từng ca ngợi, khuyến khích và cố vấn cho các phong trào phản chiến Mỹ, mà đã góp phần rất rỏ ràng cho các nỗ lực chiến tranh của Hà Nội. Các đồng chí cùng chiến tuyến đã giành được huy chương của chúng nhờ việc hoàn tất tốt đẹp các nhiệm vụ được giao phó, thực hiện dùm cho các kẻ địch của Mỹ trong thời chiến. Các tên thừa kế của chúng cũng đang làm như vậy trong cuộc chiến tranh chống khủng bố và trong cuộc xung đột sắp xảy ra với Trung Hoa Đỏ. 442

********

315 Hồ Chí Minh, Chỉ thị Thành Lập Các Đơn Vị Tuyên Truyền của Quân Giải Phóng, tháng chạp 1944, Tài liệu Lao Động Lịch Sử, Hà-nội 3 tháng 2, 1970, JPRS, 30 tháng 5, 1970, Văn khố Đông Dương, Đại học California, 011043; Cũng có nguồn từ Trần Văn Định, ― Bao thuốc Lá giúp việc Khởi Đầu Thành Lập Quân Bắc Việt, Collegiate Press Service, (National Student Association) 10 tháng 11, 1967; Arlene Eisen Bergman, Women of Vietnam, San Francisco: People‘s Press, 1975, 148; SGM Herbert A. Friedman, ―Mặt Trận Giải Phóng Quốc Gia, Truyền đơn chống Mỹ trong cuộc chiến Việt-nam, 2, psywarrior.com/VCLeafletsProp.html.

316 Theo Vũ Cận, ―Mặt Trận Giải Phóng Quốc Gia và Cuộc Kháng chiến thứ nhì tại Miền Nam Việt-nam, trong South Viet Nam: From NLF to PRG, Hanoi: Vietnamese Studies #23 1969, 40. 

317 Douglas Pike, Viet Cong; Douglas Pike, People‘s Army of Viet Nam, PAVN; cũng theo Phillip B. Davidson, Vietnam At War: the History: 1946-1975, New York: Oxford University Press, 1991; Mackubin T. Owens, ―Thượng nghị sĩ Kennedy, Iraq is No Vietnam, National Review, tháng 4, 2004.

 318  Douglas Pike; Mark Moyar; Stuart Herrington .

319 Tài liệu phối họp củaTrungTâmKhaiThácExploitationCenter, CDEC, sưu tra theo loại .

320 Seattle, Berkeley. SGM Herbert A. Friedman, ―Race as a Military Propaganda Theme, tại  psywar.org/race.php. 

321 Janos Radvanyi, Delusion and Reality,South Bend: Gateway Editions, Limited, 1978, 13.

322 Ví dụ UMACV, CDEC, Doc.Log # 03-1515-66, KIN, danh sách của Đại đội 3, Tiểu đoàn 7, Lữ đoàn 18B, trong sổ tùy bút tịch thu ngày 23 tháng 6, 1966, MACJ214, 22 tháng 9, 1966.

323 Pelley, trang 118 ghi chú số 12 viện dẫn Lê Thành Khôi, Socialisme et Developpement, Paris: Presses Universitaires de France, 1978, 283-85. 

324 Lời khai của Edward Hunter, ―Nghiện cứu về các hoạt động của Jane Fonda tại Bắc Việt, Hạ viện, Ủy ban Committee on Internal Security, Hearings Regarding H.R. 16742: Restraints on Travel to Hostile Areas, Quốc hội Nhiệm kỳ  92, khóa thứ 2, 19 tháng 9, 1972, 7586

325 ―Chúng tôi trân trọng cảm ơn các đảng cộng sản . . . trên khắp thế giới, . . . các tổ chức dân chủ quốc tế và loài người tiến bộ về sự giúp đở tận tình và cương quyết chống lại Hoa Kỳ để cứu đất nước . Tâm bản phía trong cữa phòng triển lãm số 6 ở Viện Bảo Tàng Di Tích Chiến Tranh tại Sài-gòn tháng 3, 2008, hình chụp của tác giả trong bộ Viet II DSC_316.

326 Robert Elegant, ―How to Lose a War: The Press and Vietnam,‖ Encounter, (London), bộ LVII, số 2, tháng 8, 1981, 73-9 tại  Wellesley.edu/Polisci/wj/Vietnam/readings/elegant.htm

327 Mike Benge nói (hay viết) cho Bill Laurie và nhiều người khác, 1 tháng 4, 2009. 

328 Tom Wells, The War Within: America‘s Battle Over Vietnam, New York: Henry Holt, 1994, 211. 

329 Scott Swett viện dẫn Norman Podhoretz, tác giả của Why We Were in Vietnam tại http://www.viet-myths.net/Session03T.htm

330 Adam Gadahn, kẻ cải đạo theo Hồi giáo mà đã gia nhập al Queda, đã là người Mỹ đầu tiên bị truy tố về tội phản quốc kể từ Thế Chiến Thứ Hai.

331 Đại tá Summers, Harry G., Jr. (về hưu). On Strategy: A Critical Analysis of the Vietnam War. Presidio Press; Novato, California, 1982,1; Garnett ―Bill Bell với George J. Veith, Leave No Man Behind: Bill Bell and the Search for American POW/MIAs from the Vietnam War,Madison: Goblin Fern Press, 2004,91. 

332 J. Michael Waller, Strategic Influence: Public Diplomacy, Counterpropaganda, and Political Warfare,Washington: TheInstitute ofWorld Politics, 2009, 22.

333 Đền Ngọc Sơn, của Bộ Quốc phòng thờ Trần Quốc Tuấn (tức là Hưng Đạo Vương) nằm đối diện với cầu Thê Húc lát sơn mài màu đỏ trên hồ Hoàn Kiếm , hồ mà Kiếm đã được trả lại, ở trung tâm thành phố Hà-nội.

334 Giáp nói với Moore trong quyển của Trung Tướng Harold G. Moore (Hoa kỳ, hồi hưu) và Joseph Galloway, We Are Soldiers Still,New York: Harper Collins, 2008, 32. 

335 Walter Cronkite phỏng vấn Lyndon Baines Johnson mà George Sherman đã tường thuật lại trong bài , “Rusk Was First to Urge Halt in Bombing, John says”, Washington Star,  2 tháng 2, 1970.

336 McCain được kể lại trong Matt Welch, ―McCain‘s Homework, Los Angeles Times,  25 tháng 11, 2007.

 337 Calvin Woodward, ―Kissinger‘s Vietnam Pledge to China, AP, Seattle Times, 27 tháng 5, 2006 viện dẫn các tài liệu công bố bởi National Archives và George Washington University‘s National Security Archives.

338 Phỏng vấn Đại tá Bùi Tín, Morley Safer, Flashbacks: On Returning to Vietnam, New York: St. Martin‘s Paperbacks, 1990, 32. 

339 Carl von Clausewitz, biên soạn và dịch. Michael Howard với Peter Paret, Princeton: Princeton University Press, 1976, 76, 88, 89, 184-5 viện dẫn trong William M. Darley, ―War Policy, Public Support, and the Media,‖ Parameters, Hè 2005, 121-34. Carlisle.army.mil/usawc/Parameters/05summer/darley.htm.

340 Phạm Văn Đồng, ―Education in Vietnam—Fundamental Problems, Vietnam Social Sciences, tháng giêng 1985,Hanoi 7. viện dẫn trong Stephen Denney, ―Human Rights and Daily Life in Vietnam, Phúc trình soạn thảo cho ủy ban Lawyers Committee for Human Rights, 25 tháng 3, 1990, 2 trong số 15.

341 Carol Cohen McEldowney, (Eds. Suzanne Kelley McCormack, Elizabeth R. Mock), Hanoi Journal, 1967,Amherst:University ofMassachusetts Press, 2007, xxix-xxx, 40-41.

342 Douglas Pike, Viet Cong, 283-4.  

343 James Jones Reader: Outstanding Selections from His War Writings,…, 1991, 333.

344 Arthur Herman, ―A Time of War; Vietnam của John Prados, Wall Street Journal,  7 tháng 4, 2009, A13.

345 SGM Herbert A. Friedman, ―Race as a Military Propaganda Theme, tại psywar.org/race.php.

346 Tướng Võ Nguyên Giáp, The South Vietnamese People Will Win, Hanoi 1965 viện dẫn trong Jay Mallin, ―Terrorism as a Political Weapon,  Air University Review, tháng 7-tháng 8, 1971.

347 Arlene Eisen Bergman, Women of Vietnam, San Francisco: People‘s Press, 1975, 118

348 Võ Nguyên Giáp, People‘s War, People‘s Army, Hanoi: Foreign Languages Publishing House, 1960.

349 Hồi chánh, Trưởng Ban Ám Sát, tỉnh Mỹ Tho, tháng 11, 1969 kể cho Douglas Pike, The Viet-Cong Strategy of Terror, United States Mission, 1 tháng 2, 1970, 9.

350 Chỉ thị mới về săn sóc và giáo dục trẻ em, ― Ủy ban Thường Vụ Đương nhiệm Đảng , Hanoi Moi, 31 tháng 5, 1970, 1,4, Pike Collection, TTU, Virtual Archive, tài liệu số  2321414010.

351 Trương Mealy, ―The Underground School, trong Santoli, To Bear Any Burden, 62.

352 James Banerian và Vietnamese Community Action Committee, Losers Are Pirates: A close Look at the PBS Series ―Vietnam: A Television History, Phoenix: Tiếng Mẹ Xuất bản, 1984, 154. 

353 Phillip B. Davidson, Vietnam At War: the History: 1946-1975,New York:OxfordUniversity Press, 1991, 13. 

354 Hình các bích chương thuộc bộ Viet II DSC_531, 532 của tác giả.  

355 James Jones, Viet Journal,New York: Delacorte, 1974, 32.

356 Robert Elegant, ―How to Lose a War: The Press and Vietnam, Encounter, (London), vol. LVII, tháng 8, 1981, 73-9- tại  Wellesley.edu/Polisci/wj/Vietnam/readings/elegant.htm

357 Xem thêm tác giả James Jones chuyên về Thế Chiến Thứ 2 , Viet Journal, New York: Delacorte, 1974. 

358 Peter Braestrup, The Big Story,New Haven:YaleUniversity Press; 1978,15.

 359 Phóng viên tờ Time Armond Noble nói với tác giả, tháng 10, 2009.

360 Tướng William C. Westmoreland, A Soldier Reports, New York: Dell, 1976, 365-6. 

361 Triển lãm ở Viện Bảo Tàng về Tội ác Chiến Tranh tại Sài-gòn. Trưng bày, hình ảnh và chú thích thuộc bộ Viet II DSC_259-261, 295-300 của tác giả.

362 UPI, ― Nhóm Hóa Chất Da Cam soạn thảo một chương trình hành động, 22 tháng 4, 2009. 

363 Roger B. Canfield, ―Democratic Legitimacy and American Political Violence, 1964-1970, luận án Tiến sĩ, Claremont Graduate School, Claremont, California 1972, 5-11. Roger B. Canfield (1973). Black Ghetto Riots and Campus Disorders: A Subculture and Philosophical Study of Democratic Legitimacy and American Political Violence.San Francisco: R & E Research Associates; Samuel Chapman, et al., Eds. (1974).

364 Richard Nixon, No More Vietnams,New York:Avon Books 1985, 15, 23. 

365 Allen Weinstein, Perjury, New York: Alfred A. Knopf, 1978; Sam Tanenhaus, Whittaker Chambers, New York: Random House, 1997; Whittaker Chambers, Witness, New York: Random House, 1952; Herbert Romerstein and Eric Breinde, The Venona Secrets,Washington: Regnery, 2000, 136.

366 Allen Weinstein và Alexander Vassiliev, The Haunted Wood, Random House, 1999, 268-69.

367 Câu nói – ‘hoạt động bí mật cho hòa bình’ là một loại cầu chứng danh dự trong bọn Cộng sản Mỹ . Nó có nghĩa là chúng đã đuợc chọn để trở thành một gián điệp hay một điệp viên của Liên Xô, mơ tưởng cao nhất của một đảng viên Đảng CS Mỹ. 

368 Trong hai lần tác giả đi bảo tàng viện vào tháng 3, 2008.

369 Mark Moyar, Phoenix and the Birds of Prey; The CIA‘s Secret Campaign to Destroy the Viet Cong, Annapolis: Naval Institute Press, 1997, xvi.

370 “The Theory and Practice of Communism in 1972 (Venceremos Brigade) – Part 2, Oct. 16, 18 & 19, 1972, House Internal Security Committee.

371 FBI, FOIA, Nhân viên cao cấp Đương nhiệm  (SAC) Chicago gởi cho Giám đốc FBI. Chủ đề: Foreign Travel and Contacts with Representatives of Foreign governments which Influenced the WUO, in Weather Underground Summary, 20 tháng 8, 1976,203-4; James Rothrock, Divided We Fall, trang 180 ghi chú số 50 .

372 Tom Charles Huston, Phúc trình Đặc biệt dành cho Tổng Thống, TỐI MẬT, CHỈ ĐỂ ĐỌC – Rất nhạy cảm, Foreign Communist Support of the Revolutionary Protest Movement in the United States, tháng 7,1969, 34, Giải mật ngày 11/10/2008 theo yêu cầu của Max Friedman.

 373 The Theory and Practice of Communism, (Venceremos Brigades), Part 2, HISC, Hearings, 16, 18, 19 tháng 10,, 1972. 

374 Paul Hollander, Political Pilgrims: Travels of Western intellectuals to the Soviet Union,China, andCuba,New York: Harper Colophon, 1981, 16-21, 347-399.

375 Ron và Allis Radosh, Red Star Over Hollywood,San Francisco: Encounter books, 2005, 4-12. 

376 Amity Shlaes, The Forgotten Man: A New History of the Great Depression,New York: HarperCollins, 2007, 47-84.

377 McEldowney, Hanoi Journal 1967, 21.

378 Richard Dudman, ―The News Business: Covering ‗the Other Side‘ of a War, Washington Post, 2 tháng 10, 1972.

379 McEldowney, Hanoi Journal 1967, 60, 120. 

380 Steven K. Baily, ―The Metropole: Hanoi‘s Living History Museum, Things Asian,  15 tháng chạp, 2002 tại  www.thingsasian.com/stories-photos/2232. Tác giả đã ở tại khách sạn Metropole.

381 Jean Thoraval, ―Hanoi Appears Well Stocked, 7 tháng 9, 1972.

382 Dương Thu Hương, Novel without a Name (Chuyện Vô Đề), New York: Penguin, 1996, 155, 133, 275 viện dẫn trong Võ M. Nghĩa , ―The War Viewed From All Sides, trong Võ M. Nghĩa, Đặng V. Chất, Hồ V. Hiền (eds.), War and Remembrance, SACEI Forum #6, Denver: Outskirts Press, Inc, 2009, 14-15; Ngay chính tay ngây thơ cụ  Harrison Salisbury cũng tường thuật là thực phẫm khan hiếm, đặc biệt là thịt trong  Harrison E. Salisbury, Behind the Lines-Hanoi, New York: Harper & Row, 1967, 110-111.

383 Đoàn Văn Toại, ―A Lament for Vietnam, New York Times Magazine, 29 tháng 3, 1981, 10 of 13.

384 Nguyễn Công Hoan, làm chứng , Human Rights in Vietnam, trước Subcommittee on International Organizations of the Committee on International Relations of the House of Representatives, Quốc hội Nhiệm kỳ 95, Khóa họp số 1, 26 tháng 7, 1977,148. 

385 Sở Chính Trị thuộc Miền (Vùng, Phân bộ Địch/Dân sự Mới gia nhập), ― Tường trình thuộc một Phúc Trình Công Cộng về Các tù binh Mỹ, tài liệu số 65, Viet-Nam Documents and Research Notes, tháng 8,  1969.

386 RadioHanoi, 4 tháng 4, 1970. http://www.frontpagemag.com/Articles/Printable.aspx?GUID={13E0EDDB-1412-4012-821F-AB6C4B0BFC6B.

387 Phần III và chót của Quân Đội Nhân Dân 13 tường trình: ―The Hanoi Hilton in Recent Days, Hanoi Domestic Service in Vietnamese 1400 GMT 13 tháng 2 — Chỉ dùng cho nhu cầu công vụ. 

388 Stuart I. Rochester và Frederick Kiley, Honor Bound, American Prisoners of War in Southeast Asia 1961-1973, Annapolis: Naval Institute Press, 1999, 340-3.

389 Cũng trong Chiến tranh Triều Tiên. See: Báo cáo của Committee on Government Operations, Permanent Subcommittee on Investigations, Communist Interrogation, indoctrination and Exploitation of American Military and Civilian Prisoners, 3 tháng chạp, 1956, 12. 

390 James Jones, Viet Journal,New York: Delacorte Press, 1973, 8.

391 Bây giờ thì chỉ có hai chuyến đi ‘tua’ ở Việt-nam, yêu người Việt và căm thù Mỹ. Tác giả với tư cách là chủ biên của International Travel News, một du khách tới Việt-nam and cũng là một thành viên trong văn phòng các vị dân cử đã được chiêu đãi đặc biệt và được nịnh hót dành cho các kẻ có khã năng viết những bài thuận lợi về du lịch  hay để cố vấn các chính khách . Tham nhũng đã là đối tượng của chính sách hiếu khách này mà khó có thể cưởng lại trừ phi mình để ý  tới cá tính yếu đuối thông thường của con người này.

392 Khai trình của Edward Hunter, ―Analysis of Jane Fonda Activities in North Vietnam, Quốc hội, Committee on Internal Security, các phiên họp để nghe về H.R. 16742: Restraints on Travel to Hostile Areas, Quốc hội Nhiệm kỳ 92, Khóa họp thứ 2, 19 tháng 9, 1972, 7583, 7590-91.

393 Giám đốc, CIA và Ủy ban Tình báo Mỹ, MẬT ― Toan tính có thể có của CS tại Lào, SNIE 68-2-60, 29 tháng chạp, 1960.

394 Gián điệp Morton Sobel đánh cắp tài liệu bí mật của Mỹ về ra-đa SCR 584 và cung cấp cho Liên Xô, mà đã chuyển các kỷ thuật tinh vi về phòng không cho Hà-nội. Xem: Sam Roberts, ―Figure in Rosenberg Case Admits to Soviet Spying, New York Times, 12 tháng 9, 2008.  SCR 584 phối họp ra-đa chính xác với máy điện toán kiểm soát khai hỏa; SCR 584 use in North Vietnam trong Arthur C. Williamson, ―The EWTES (Echo Range) Story, Johns Hopkins APL Technical Digest, Bộ 21, Số 4, 2000, Bảng 1, 683 và  I.A. Getting,―SCR-584 radar and the Mark 56 naval gun fire control system,  Aerospace and Electronic Systems Magazine, IEEE, tháng 10, 1990, Bộ 5, Số 10, 3-15.

395 Giám đốc, CIA và Ủy ban Tình báo Mỹ, MẬT ― Ảnh hưởng của cuộc tranh chấp Hoa-Xô đối với Bắc Việt và các chính sách của họ, SNIE 14.3-63, 11.

396 Spencer Tucker (ed) The Encyclopedia of the Vietnam War,Oxford: Oxford University Press, 1998, 448-9.

397 Immanuel C. Y. Hsu, The Rise of Modern China, Oxford University Press, 1995, 795-796 viện dẫn bởi Quỳnh Dao, ―Two sides to Every Story: Perspectives on the Vietnam War and the Iraq War, Perspectives on World History and Current Affairs, 26 tháng 5, 2004 tại  pwhce.org.

398 Spencer C. Tucker, Encyclopedia of the Vietnam War, ABC-CLIO, 2000, 415 viện dẫn bởi Quỳnh Dao, ―Two sides to Every Story: Perspectives on the Vietnam War and the Iraq War, Perspectives on World History and Current Affairs, 26 tháng 5, 2004 tại pwhce.org.

399 Vietnam War Statistics http://www.mrfa.org/vnstats.htm.   

400 Báo quân đội, Krasnaya Zvezda, 13 tháng 4, 2008 viện dẫn bởi David Remnick, ―Liên-xô đã có tham chiến tại Việt-nam, Báo đã đăng, Washington Post, April 13, 2008.

401 Harold W. Rood, ―The War for Iraq: A Study in World Politics, AVOT, Claremont Institute, 22 tháng 10, 2007 tại  www.claremont.org.

402 Harvey Klehr, John Earl Haynes, Fridrikh Igorevich Firsov (ed.), The Secret World of American Communism, (New Haven and London: Yale University Press, 1995; Testimony of Ed O‘Malley of FBI, Soviet Active Measures, Các phúc trình trước  Permanent Select Committee on Intelligence, Quốc hội, Nhiệm ký 97, Khóa họp thứ 2,  14 tháng 7, 1982, 202-3.

403 Harold W. Rood, ―The War for Iraq: A Study in World Politics, AVOT, Claremont Institute, 22 tháng 10, 2007 tại  www.claremont.org.

404 Bloom thừa nhận y đã là đảng viên và đã nói láo trong Heming Nelson, Pointing the Way in the Hunt for Communists,” Washington Post  5 tháng7, 1999, A1; Bloom dạy tại CPUSA ―WEB DuBois School về môn Marxist Studies độ chùng vào năm 1972-73. Abe Bloom đã rất tích cực trong SANE and Mobe Committees, National and New and PCPJ, và Gray Panthers theo lời của Max Friedman kể cho tác giả vào ngày 25 tháng 2 và 18 tháng 9, 2008.

405 Các bộ măt bề ngoài của CPUSA là Spring Mobe, National Emergency Civil Liberties, Ft. Hood Three Defense Committee, G.I. Civil Liberties Defense Committee.

406 Các hội viên hay cộng tác viên của CPUSA, Abe Bloom (CP), Sid Peck (CP), và  Brad Lyttle (WRL, và là tay hoạt động thiên Mát-xít từng ủng hộ các mặt trận của Đảng Cộng sản) đã viết chi phiếu cho cả New Mobe và PCPJ; Các đảng viên của Trotskyite Communist SWP, Patricia Grogan and Syd Stapleton, thì ký chi phiếu cho National Peace Action Coalition, NPAC; Carol Lipman (SWP) and Don  Gurewitz (SWP), con của các đảng viên CPUSA được nhận dạng là Casey and Helen Gurewitz, đã ký chi phiếu cho  Student Mobilization, SMC. Carol Lipman (SWP) và Don Gurewitz cũng rất tích cực trong National/New Mobe và Washington Mobe. Xem: http://www.wintersoldier.com/staticpages/index.php?page=KGBKerry.

Hình chụp các chi phiếu đều nằm trong Văn khố Quốc gia theo lời của một tham dự viên chìm, Max Friedman, ―The Uncivil War, Examining the Myths of the Vietnam War, Đoạn 8 (bản sao), viet-myths.net/session08T.htm.

407 Hobson chốngWilson, 237US App DC 219, khai trình của Gurewitz và Bloom II J.A. 86-98, 721-29, 737 F2d 1.

408 Bác sỹ Quentin Young thuộc Medical Committee for Human Rights, một nhóm của  CPUSA, đã trả $1,000 cho tay địa ốc Sudler, mà về sau đã khai là cho mượn nợ với Rennie Davis để góp phần tiền thuê văn phòng cho National Mobe tại số 407 South Dearborn ở Chicago năm 1968. Bản sao các lời khai của Young trước House Committee on Un-American Activities, 3-4 tháng 10, đăng trong Health Rights News, cung cấp bởi Max Friedman cho tác giả bằng email ngày 2 tháng 4, 2008.

409 Các hợp đồng thuê văn phòng : từ tháng 7, 1969 cho tới cuối tháng 2, 1970 Abe Bloom, CPUSA, đã ký nhiều hợp đồng thuê văn phòng cho New Mobilization Committee to End the War in Vietnam tại số 1029 Vermont Ave; từ tháng 8 tới tháng chạp 1969, Carol Lipman, Trotskyite SWP, đã ký nhiều hợp đồng thuê văn phòng tại số 1029 Vermont Ave cho Student Mobilization Committee to End the War in Vietnam; tháng 3 và 4, 1971 Sydney R. Stapleton, SWP đã ký nhiều hợp đồng thuê văn phòng tại số 1029 Vermont Ave. cho cả National Peace Coalition và National Peace Action Coalition; tháng 3, 1971, Brad Lyttle, WRL, cũng là một tên Mát-xít tích cực trong các mặt trận của đảng CS, đã ký nhiều hợp đồng thuê văn phòng cho National Action Group cũng tại số 1029 Vermont Ave. Xem: National Peace Action Coalition, NPAC and People‘s Coalition for Peace and Justice, PCPJ, Phần I, Phúc trình, Committee on Internal Security, House of Representatives, Quốc hội Nhiệm kỳ 92, Khóa họp thứ 1, 18-21 tháng 5, 1971.Washington,D.C., 1782-84. Văn Phòng In Chính Phủ Hoa kỳ $1.75

410 Rothrock Divided…264.

411 George Ball, Phần Giới thiệu Janis Radian, Delusion and Reality,South Bend: Gateway Editions, limited, 1978, xv. 

412 Harold W. Rood, ―The War for Iraq: A Study in World Politics, AVOT, Claremont Institute, 22 tháng 10, 2007 tại http://www.claremont.org.

413 Cung khai của Kessler, Hạ viện, ủy ban Committee on Internal Security, Hearings on Restraints on Travel to Hostile Areas: Các lời cung khai trước những cuộc họp điều tra của Committee on Internal Security, Quốc hội Nhiệm kỳ 93, Khóa họp thứ 1, 1973, 32-3 viện dẫn trong Rothrock Divided… trang 197 ghi chú 14. 

414 Tất cả được vinh danh ở dưới đây đều là Đồng Chí Cùng Chiến Tuyến.

 415 Tướng Văn Tiến Dũng, (dịch bởi John Spragens, Jr.,) Our Great Spring Victory,Hanoi: Nhà Xuất bản Thế Giới, Copyright @ Cora Weiss, bản dịch Anh ngữ, Monthly Review Press, 1977, Ấn bản thứ Hai, 2005, 291. 

416 Lấy từ báo Trung hoa

417 Roger Canfield, ―Terror in Chinatown, New American; Roger Canfield, Chas Lee New American etc

418 RogerCanfield,China Doll:

419 Todd Gitlen, The Sixties, 264.

420 Năm 1986 một người tên Nguyễ Thị Thanh, từng bị đi tù cải tạo và là người tỵ nạn từ Việt-nam đã chấp thuận để được phỏng vấn bởi Cultural Context of Unemployment project cho National Library of Australia. http://catalogue.nla.gov.au/Record/467705

421 Bill Ayers, Fugitive Days, Penguin Books, 2001, 2003, 74.

 422 Allen Weinstein và Alexander Vassiliev, The Haunted Wood, Random House, 1999, 268-69. Thông điệp của Venona ngày 30 tháng 3, 1945 và một phúc trình của KGB ngày 12 tháng 4, 1945. 

423 Một phản lực cơ của bọn Chicago Seven đã tung bay cao, cả ngàn người đã diển hành để đánh dấu Chiến thắng Bắc việt , Los Angeles Times, 30 tháng 4, 1985, 2;

424 Tác giả đã nói chuyện với Bill Cavala, người mà đã ‘tẩy sạch’ từ lúc ban đầu. Cavala xác nhận là những gì tác giả đã viết về vấn đề đó đều đúng cũng như là Pat Henning, một cố vấn về lao động cpo Hayden tại Quốc hộiCalifornia.

425 James W. Clinton, The Loyal Opposition: Americans in North Vietnam, 1965-1972, Niwot: University Press ofColorado, 1995, 244-5.

426 Liz Trotta, CBS Evening News trong ngày thừ ba 30 tháng 4, 1985, Abstract và  Metadata, Vanderbilt University, 1985; Một trong số bảy phản lực cơ đang có đã tung bay, cả nhàn người đã diển hành để đánh dấu Chiến thắng Bắc việt , Los Angeles Times, 30 tháng 4, 1985, 2 ; Nora Bonosky, ―1,000 người cam kết sẽ không còn chiến tranh, Daily World 7 tháng 5, 1985, 2D.

427 Các tù binh chiến tranh không đói, các tù chính trịNam việt, v. v. . . .

428 Một trong số phản lực cơ của bọn Chicago Seven đã tung bay cao, cả ghàn người đã diển hành để đánh dấu Chiến thắng Bắc việt , Los Angeles Times, 30 tháng 4, 1985, 2 ; James W. Clinton phỏng vấn David Dellinger, 23 tháng giêng, 1991 trong James W. Clinton, The Loyal Opposition: Americans in North Vietnam, 1965-1972, Niwot: University Press of Colorado, 1995,53.

429

430 Năm người Mỹ theo lời George Wald nói với James Clinton, The Loyal… 244-5.

431 Các chi tiết về cuộc liên hoan nằm trong hồ sơ của Hostetter: ―Vietnam-Tenth Anniversary Celebration, 1985,  Mennonite Church USA Historical Committee and Archives, Hist. Mss. 1-179 Doug Hostetter Records, 1967-2001, Hộp số 6, 6-15. Chứa đựng trong Hộp số 9 là của tài liệu của Doug Hostetter, ―Vietnam and theU.S.: Ten Years After the War, Where is Reconciliation?

432 Huân Chương Huy Chương, Institute of Orders, Hanoi; Laws of Vietnam, ―Law of Emulation and Commendation, the State President, Order No. 25/2003/L-CTN ngày 10 tháng chạp, 2003 nhân ngày ban hành Luật , Vietnam News Agency, 9 tháng 11, 2004 tin nêu ra ở  VNAnet.vn/vietnamlaw/Service.asp?CATEGORY_ID=2&subcategory_ID…

433 Nora Bonosky, ―Vietnam 10th anniversary celebration: 1,000 pledge ‗no more wars, Daily World,  7 tháng 5, 1985, 2-D.

434 Nhiều huy chương đã rất xứng đáng để trao tặng. Trong một buổi lể tư, tác giả, Đại tá Pete Conaty và nhiều kẻ khác đã nhận một huy chương từ các gia đình của nhóm Nicaraguan ― Contras, cùng do đã yểm trợ về chính trị những người chiến đấu chống bọn Cộng sản Sandinistas và quyên tiền để mua tiếp liệu y khoa thuốc men dưới danh nghĩa của Nicaro Relief Fund.

435 Nora Bonosky, ―Vietnam 10th anniversary celebration: 1,000 pledge ‗no more wars, Daily World, 7 tháng 5, 1985, 2-D.

436 Hình tại  http://kerry-04.org/war/record.php

437 Hình của tác giả trong Viet II DSC_391-2. 

438 Hình của tác giả trong bộ Viet II 336 (Miller), 391-2 (Kerry) chụp tại Bảo Tàng Di Tích Chiến Tranh ở Saigon trong tháng 3, 2008; Jerome R. Corsi, PhD and Jeffrey M. Epstein, Vietnam Vets for the Truth, Kerry Museum.  Hình tài liệu: Cộng sản Việt vinh danh John Kerry, tên Phản Chiến, như là một Anh Hùng của Chiến Thắng Cộng Sản đối với Hoa kỳ trong cuộc chiến Việt Nam , – Phần  II. Tại http://www.tinyvital.com/Misc/KerryHonoredByCommunists2.htm

Xem thêm: Art Moore, ―ĐIỆP VỤ: KHÔNG TƯỞNG TƯỢNG ĐƯỢC . Bảo tàng viện Cộng sản tháo gở hình Kerry. Cựu chiến binh khám phá ra là viên giám đốc đã lấy bỏ nó vô ngăn kéo sau khi bị nói tới quá nhiều, WorldNetDaily, 25 tháng 10, 2004.

439 Susan Katz được nêu ra trong Lewis Sorley, A Better War: The Unexamined Victories and Final Tragedy of America‘s Last Years in Vietnam, New York: Harcourt, 1999, 303.

440 Heineman, Kenneth J. 1993. Campus Wars: The Peace Movement at American State Universities in the Vietnam Era. New York: New York University Press; Heinl, Đại tá. Robert D., Jr. ―The collapse of the armed forces. Armed Forces Journal, 1971 (Tháng 6) 7: 30- 38; Tướng Võ Nguyên Giáp, ―On the strategic role of the self-defense militia,‘ Patrick J. McGarvey (Ed.), Visions of Victory: Selected Vietnamese Communist Military Writings, 1964- 1968. Stanford, CA: Hoover Institution on War, Revolution and Peace, Stanford University 1969, 168-198; Tướng Giáp tháng giêng 1967, diển văn, Radio Hanoi Chương trình quốc nội, 13:30 GMT, 3 và 7 tháng 4, 1963; Tướng Võ Nguyên Giáp, Banner of People’s War, the Party’s Military Line. New York: Praeger 1970;Võ Nguyên Giáp. People’s War against Aeronaval War. Hanoi: Foreign Languages Publishing House 1975; Zaroulis, Nancy, và Gerald Sullivan. Who Spoke Up?: American Protest against the War in Vietnam 1963-1975. Garden City, NY: Doubleday, 1984.

441 Barton Meyer viện dẫn Hoopes, Townsend, The Limits of Intervention. New York: David McKay,1969; Marr, David. 1979. ―The technological imperative in U.S. war strategy in Vietnam, Mary Kaldor và Asbjorn Eide (Eds.), The World Military Order: The Impact of Military Technology on the Third World. New York: Praeger. 17-48. 

442 Roger Canfield, China‘s Trojan Horses, Sacramento: Military Magazine, 2002. 

 

**********

 

 

 

 

 

Một phản hồi to “Roger Canfield’s Americong 1g”

Trackbacks/Pingbacks

  1. Giới thiệu tác phẩm AMERICONG (MỸ-CỘNG) – Lê Bá Hùng | Ngoclinhvugia's Blog - 05/01/2016

    […] Roger Canfield’s Americong 1g […]

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: