Roger Canfield’s Americong #63

image002

Comrades in Arms

How the Americong Won the War in Vietnam

Against the Common Enemy— America

Copyright Roger Canfield, Ph.D.

1986-2012

No commercial transaction allowed except that approved by the author, copyright holder.

Obtain a prepublication release of a CD-R in Microsoft Word in ENGLISH at a discounted price of $15 from Roger Canfield Rogercan@pacbell.net at 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 or at http://americong.com.

Completely SEARCHABLE for any name, date, place or event of the War and its protesters.   

Cover: Design Stephen Sherman. Photos: Roger Canfield, March 2008. TOP: War protest Hawaii, February 1966 displayed at War Remnants (Crimes) Museum, Saigon. Bottom: Praetorian Guard

Các đồng chí cùng chiến tuyến

Làm thế nào MỹCộng thắng cuộc chiến Việt Nam

Chống kẻ Thù Chung – Mỹ

Giữ bản quyền Roger Canfield, Tiến Sĩ

1986-2012

Không được sử dụng vào mục đích thương mại nếu không có sự đồng ý của Tác giả, người giữ bản quyền.

Có thể mua một tiền bản dưới dạng CD-R Microsoft Word bằng Anh ngữ với giá đặc biệt US$15 ngay từ tác giả Roger Canfield  Rogercan@pacbell.net tại 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 hay tại  http://americong.com.

 

Hoàn toàn có thể TRA CỨU hoặc bằng tên, bằng ngày tháng hay biến cố liên quan đến cuộc Chiến cùng cả luôn bọn tham dự biểu tình .

******************************************************

* Tác giả giữ bản quyền © Roger Canfield 1986-2012

  • Lê Bá Hùng chuyển ngữ  (với sự chấp thuận của Tác giả)

 *****

Chương 63

Trận Giặc “Đem Chiến Tranh Về Nhà”

Xẩy Ra Trên Đường Phố vì Lý Do Hòa Bình

 

 “Hành động Toàn Quốc” của Weathermen – Cleveland

Georgie Anne Guyer và Keyes Beech viết, “Trong tháng 8 năm 1969  nhân viên tình báo (Phái bộ Cu-ba tại Liên Hiệp Quốc) … đã cố vấn cho Mark Rudd và Jeff Jones của SDS về vấn đề các khẩu hiệu sẽ được sử dụng trong những cuộc biểu tình dự trù vào mùa thu.” 3016

Từ 28 tháng 8 đến 2 tháng 9 năm 1969, SDS đã tổ chức một hội nghị đặt tên là “Hành động Toàn quốc” ở Cleveland. David Millstone đã tuyên bố là Việt Cộng đang chiến thắng. 3017 Bill Ayers đã cổ võ đề cao cho khẩu hiệu “Đem Chiến Tranh về Nhà” mà tuyên bố đó là “một chiến lược để giành chiến thắng, để cụ thể giúp đỡ MTGP” 3018 và đem cách mạng tới Mỹ. Những hành động trên toàn quốc đã được chuẩn bị khởi đầu cho cuộc cách mạng này.

Văn phòng quốc gia thuê thêm nhân viên để chuẩn bị cho cuộc tấn công; Kathy Boudin, Bernardine Dohrn, Terry Robbins, Robert Roth, Bob Tomashevsky, Russell Neufeld, Sam Karp, Larry Weiss, Joseph Kelly và Howard Machtinger. 3019

Số New Left Notes ngày 23 tháng 8 năm 1969 đã cổ động thành viên khi tuyên bố kế hoặch “Hành Động Toàn Quốc” là một phong trào đồng minh mà mục tiêu là đề nghị viện trợ giúp đở nhân dân Việt Nam.

… Nhiệm vụ chính là thành lập một mặt trận khác trong cuộc chiến tranh quốc tế về giai cấp – không chỉ để đánh bại bọn đế quốc tại Việt Nam mà còn MANG LUÔN CHIẾN TRANH VỀ NHÀ!

Chiến thuật của chúng ta … chúng ta di chuyển bằng những nhóm được tổ chức chặt chẽ … những nhóm liên hệ với nhau. Vào mùa hè thì luyện tập võ Karaté … và kỷ thuật cấp cứu khẩn cấp. 3020

Vào ngày 4 tháng 9 năm 1969, một nhóm 26 mụ phụ nữ thành viên của Weathermen đã bị bắt giữ khi chạy băng qua trường Trung học South High School Hills ở Pittsburgh, miệng thì la hét những khẩu hiệu phản chiến và đề cao kế hoặch “Hành Động Toàn Quốc” vào tháng 10.

Hồ Chí Minh nghẻo cù tèo

“Xin đừng đau khổ khóc. Xin đừng khóc khi ly biệt. Đừng khóc khi chết chóc. Hãy dành những giọt nước mắt của bạn cho chiến thắng”, Bernardine Dohrn đã viết như vậy và 100 mụ phụ nữ SDS đồng ký một điện tín gởi cho Huỳnh Văn Ba,  Đại sứ Bắc Việt tại Cu-ba và Phạm Văn Đồng, Thủ tướng Chính phủ CHNDVN vào ngày 9 tháng 9 năm 1969. 3021

Tại Bắc Việt, một chương trình học tập tới 15 ngày được tổ chức để đầu độc mọi người về di sản của Hồ. “Bạn bè của chúng tôi trên khắp năm châu, không phân biệt đã cùng buồn đau cho cái chết của ông. Nhân dân thế giới quý trọng Hồ như là biểu tượng của cuộc đấu tranh . . . cho độc lập và tự do…” Tuy nhiên, Hồ thực sự là một “tên lính nổi tiếng của phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế .” Tư tưởng của Hồ Chí Minh đã có tính cách “Mác-Lê-nin”. Y đã là “một chiến binh Cộng sản danh tiếng.” 3022

Vài tên Mỹ đã lấy cảm hứng từ Hồ để tự xem mình như là những chiến binh Cộng sản.

Liberation News Services Hanoi: “Người Việt cần chúng ta giúp”.

Sau khi gặp Cộng Sản Việt Nam tại Havana, George Cavalletto, lãnh tụ của Liberation News Services đã viết một bản ghi nhớ “Chỉ sử dụng trong nội bộ – Không được in, Xin lưu ý” mà trong đó đã nói là Việt Cộng “cảm nhận được công tác tuyên truyền đã có tầm quan trọng cao nhất trong cuộc Đấu tranh Cách mạng.” Thật vậy, “Hơn bao giờ hết, lúc này Việt Nam đang cần sự giúp đỡ của chúng ta.” Trong một bài xã luận, LNS đã viết,” Người Việt Nam, những kẻ từng trả giá cao nhất so với bất kỳ ai trong cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ, đã yêu cầu phong trào phản chiến nên tái sinh hoạt … Cuộc chiến đấu của họ và của chúng ta chỉ là một mà thôi.” 3023

Hành động Toàn Quốc – Tháng 9 và Tháng 10 năm 1969

Chuẩn Bị Các Ngày Nổi Điên (Days of Rage): Trại Fort Dix, Chicago, Washington

Bọn Weathermen, nhiều tên như Bernardine Dohrn, Kathy Boudin và John Frappier, sau khi trở về từ các chuyến đi Cu-ba vào mùa xuân và mùa hè, đã chuẩn bị mang cờ Việt Cộng mở một cuộc xâm chiếm trại Fort Dix với ý định đá đít cho được các quân nhân Mỹ (GI)”, những màn hoan lạc náo loạn phá phách  trong tháng 10 đã được đặt tên trước là “Days of Rage ~ Ngày Nổi Điên” dự trù sẽ xẩy ra trên các đường phố Chicago và một màn điên loạn khắp phố thị của Washington.

Tại Princeton, vào ngày 20 tháng 9, một Ủy ban được đại diện bởi nhiều thành phần tên là Committee to Free the Fort Dix 38 (Ủy ban để giải cứu 38 Người trại Fort Dix) đã tìm cách để tránh cuộc xâm chiếm đã được Weathermen dự trù bằng cách dời ngày một cuộc biểu tình là 28 tháng 9 thành 12 tháng 10. 3024

Ngày 24 tháng 9 năm 1969, một đoàn Weathermen sôi máu lên đã quyết chí không tuân lệnh cảnh sát để giải tỏa một con đường trong khi đang kêu gọi mọi người tham dự “Hành động Toàn quốc” cùng phản đối phiên tòa xét xử bọn Chicago Eight.

Ngày 1 tháng 10 năm 1969, Bernardine Dohrn nói với Ted Gold là mình sẽ có mặt ở New York từ ngày 2 đến 4 tháng 10 và dự định sẽ gặp Jose Viera, viên cố vấn tại phân bộ Mission Cuba. Viera, tên đầy đủ là Jose Paul Viera Linares, đã được xác định là một sĩ quan tình báo Cu-ba, DGI. 3025

Vào ngày 6 tháng 10 năm 1969, trước lúc nửa đêm ở Chicago, Tổ chức Weather Underground đặt bom phá bức tượng cảnh sát Haymarket để “tưởng nhớ Các Thánh Tử Đạo” cũng như là các hành động của cảnh sát. 3026

Ngày hôm sau thì bọn Weatherman bèn điên cuồng đi đập phá khắp Chicago. 3027

Ngày 8 đến 11 Tháng 10 Năm 1969 – Những Ngày Điên Loạn ở Chicago

Những Chiến Binh Trên Đường Phố của SDS

Ngày 8 tháng 10 năm 1969, bọn SDS Weathermen cùng hội tụ tại Chicago nhân biến cố “Những Ngày Điên Cuồng ~ Days of Rage” để đập phá tài sản và đánh nhau với cảnh sát  trên các đường phố của Chicago. Dù có nhiều tháng để chuẩn bị, lờihứa hẹn của một cuộc chiến trên đường phố đã không đem lại con số 20.000 kẻ làm cách mạng tới tham gia như đã dự kiến​​, nhưng chỉ có vài trăm tên biểu tình trên đường phố. Chiếu theo ngay cả số lượng được thổi phồng của Weathermen thì có lúc đã có tới 600 người đối mặt với “30.000 con heo”. 3028

Trong biến cố này thì tên đứng ra tổ chức mà cũng đích thân tham dự ngay trên đường phố là Bill Ayers có nhớ lại,

… Một nhóm nhỏ kiên quyết chuẩn bị để giao chiến … trang phục … với mũ an toàn dung khi đi xe gắn máy hay thuộc đồ thặng dư quân đội … đeo kiếng an toàn lao động và mặt nạ phòng độc, cùng giày ống và găng tay kiên cố …

Hầu hết chúng tôi đều mang theo cả một kho vũ khí gồm … ống sắt và ná bắn, dây xích sắt, gậy gộc, cây chùy mà có bỏ thêm những cuộn gói tiền xu bằng đồng để thêm trọng lượng khi đánh … [C]hẳng bao lâu thì các nhóm lửa trại của chúng tôi đã rực cháy, nhờ dùng gổ … các băng ghế công viên bị phá nát ra….

Đám đông gào lên … HỒ, HỒ, HỒ CHÍ MINH, VIỆT CỘNG RỒI SẼ THẮNG …

Bernardine (Dohrn) … hét to: “HÃY MANG CHIẾN TRANH VỀ NHÀ”. 3029

 

David Fenton và Allen Young thuộc Liberation News Service, lúc đó làm việc với tư cách là phóng viên nhưng lại đã cố vấn chiến thuật cho mấy mụ phụ nữ tham dự là hãy dùng cây gổ cở 2×4 để tấn công cảnh sát. 3030 Dẫn đầu cuộc tấn công đã là Kathy Boudin và Linda Sue Evans tay dương cao những cờ thật lớn của Việt Cộng. 3031 Lúc 10 giờ tối, Tom Hayden, tên chủ trương cách mạng vũ trang và bạn của Hà Nội, đã tuyên bố với đám đông tại Lincoln Park là bọn  Chicago Eight  tán trợ các hành động của chúng. 3032

Trang bị bằng xích sắt cùng ống nước, bọn Weathermen đầu thì đều đội mủ chơi ‘football’ – Bill Ayers, Jim Mellen, Peter Clapp và John Jacobs cùng dẫn đầu 3033 chạy dọc các đường phố phá nát cữa kính các thương hiệu mãi cho tới khi bọn ‘heo’ rượt theo được. Năm mươi người đã bị thương – đa số là bọn Weathermen – nhưng không ai bị thiệt mạng, 59 cảnh sát viên đã bị thương – vết cắt, bầm tím, bị bọn biểu tình cắn, răng thì bị đánh lung lay và mắt bị chấn thương .

Một luật sư tại thành phố Chicago, Richard Elrod, đã bị liệt toàn than cả đời (Brian Flanagan đã bị truy tố) khiến sau đó đám Weathermen đã chế giễu bằng một bài hát.

New Left Notes số ngày 21 tháng 10 năm 1969 hoan ca về những thành tích như sau:

500 trong bọn chúng tôi di chuyển qua các khu giàu nhất của Chicago, dẫn đầu là những lá cờ VC, để đập vỡ cửa sổ các chung cư và các cửa tiệm sang trọng, phá tan vòng vay và gây thương tích cho một số lớn ‘heo’….

Phụ nữ SDS đã dùng gậy để đánh nhau với bọn ‘heo’ có vũ trang … 8 người trong bọn chúng tôi đã bị bắn, và hơn 100 bị bắt ….

Đó quả thật đúng là chiến tranh – chúng tôi biết rỏ và bọn ‘heo’ cũng biết vậy. Chúng tôi đã đến Chicago để tham gia với phía bên kia … ngõ hầu bắt đầu chiến đấu chung cùng với VC …” 3034

 

Geyer và Beech có viết, “Đám Weathermen đầu đội mủ an toàn quả thật đã thực hiện đúng theo khẩu hiệu xung trận của chúng là “Mang Chiến Tranh Về Nhà”. Chúng đã mở một mặt trận thứ hai ở Chicago để giúp các đồng chí của chúng mà đang mắc kẹt phải lo chiến đấu mãi tận Việt Nam.” 3035

Ngày 9 tháng 10 năm 1969, tên Weatherman Jonathan David Lerner đã tổ chức một cuộc họp báo ở Civic Center tại Chicago, “Chiếc nhẫn tôi đang đeo trên tay  đã được làm ở Bắc Việt  từ xác một chiến đấu cơ Mỹ … Nhân dân Việt Nam là đội tiên phong. Cuộc đấu tranh đầy chiến thắng của họ đã là một tấm gương cho tất cả những dân tộc bị áp bức trên thế giới,” và y bèn hứa hẹn sẽ còn có nhiều cuộc bạo động nhiều hơn nữa. 3036

Hayden thì đã gian dối báo cáo là một thành viên Weather Underground Organization WUO là mụ Diane Oughton vừa trở về từ “Peace Corp ở Guatemala” vào đầu tháng 10 năm 1969. Trong số các công trình tốt đẹp mà Oughton đã thực hiện tại đó đã có một chương trình American Friends Service Committee AFSC nhằm dạy trẻ em nghèo đọc, rồi là ngủ chung với một linh mục và sau đó là gặp gở các du kích quân Mác-xít. 3037

Và, dĩ nhiên, Diane Oughton thì trong thực tế đã vừa trở về từ công tác vào tháng 7 năm 1969 nhằm thành lập các Lữ đoàn Venceremos ở Cuba, nơi mà cái “công tác được gọi là cho hòa bình” lại đã bao gồm việc được huấn luyện về khủng bố, tuyên truyền và tình báo, 3038 hoàn toàn không hề có trong chương trình giảng dạy đã được chính thức phê duyệt của Peace Corps mặc dù John McAuliff đã có chấp thuận những hoạt động như vậy cho Ủy ban những Tình nguyện viên Trở  Về ( Committee of Returned Volunteers ~ CRV) mà từng làm việc cho Peace Corps.

Các Vụ Bắt Giam và Truy Tố

Độ 287 thành viên Weathermen đã bị bắt giam vì hành vi phá rối tập thể nơi công cộng, chống cự lại nhân viên công lực khi bị bắt giữ, sử dụng bạo lực với trường hợp gia trọng. Đại Bồi Thẫm Đoàn Quận Cook đã biểu quyết chấp thuận truy tố 64 tên. 3039

Mark Rudd và Bernardine Dohrn cùng bị truy tố ra tòa án liên bang về tội bạo loạn nơi công cộng (riot) chung với 10 người khác – William Ayers, Kathy Boudin, Judy Clark, Linda Sue Evans, John Jacobs, Jeff Jones, Michael Spiegel, Howard Machtinger, Terry Robbins và Lawrence Weiss. 3040 Một tay hoạt động nổi tiếng khác là Cathy Wilkerson thì bị bắt và truy tố về tội tiểu bang là có tham dự bạo loạn nơi công cộng và chống cự lại một cảnh sát viên. Trong số những tên bị truy tố, một số sau đó đã trốn không hầu tòa và đã  trở thành những kẻ trốn tránh pháp luật bị nằm trong Danh sách Cần Tầm Nã Nhất của FBI.

Số đồng lõa không bị truy tố về tội liên bang đã là Corky Benedict, John Buttney, David Chase, Peter Clapp, Karen Daenzer, Dianne Donghi, Howie Emmer, Courtney Esposito, Brian Flanagan, Lynn Garvin, Ted vàng, Ann Hathaway, Lenore Kalom, Samuel Karp, Mark Laventer, KarenLatimer, Jonathan Lerner, Chip Marshal, Celeste McCullogh, Brian McQuerry, Jeff Melish, Jim Mellen, David Millstone, Diana Oughton, John Pilkington, Roberta Smith, Susan Stern và Cathy Wilkerson.

Hai đại bồi thẩm đoàn Detroit đã truy tố thêm những tên từng thoát được khỏi  bị truy tố về tội liên bang: Bo Burlingham, Ronald Fliegelman, John Fuerst, Larry Grathwohl, Leonard Handelsman, Naomi Jaffe, Russ Neufeld, Mark Real, Jane Spielman, Robert Smith và Cathyln Platt Wilkerson.

Miển Nghị vì Lý Do Từ chối Tiết lộ “Nguồn tin tình báo nước ngoài”

Một vụ về tội liên bang và một vụ tại tòa ở Detroit đều đã bị tuyên miển nghị sau khi chính phủ từ chối tiết lộ “nguồn tin tình báo nước ngoài”. Các nguồn tin tình báo nước ngoài có giá trị nhất của FBI, CIA và NSA về các móc nối với cộng sản Cu-ba và Việt Nam của bọn bị truy tố thì đã rất là hiếm hoi”.

Vụ Trại Fort Dix 38

Trong khi đó, vào ngày 12 tháng 10, một liên minh phản chiến lớn đã được thành lập để hỗ trợ cho bọn Trại Fort Dix 38.

Tổ chức này đã gồm The Resistance, Fifth Avenue Peace Parade Committee, Student Mobe, Black Panther Party, the Young Lords, Clergy and Laity Concerned About Vietnam, Women Strike for Peace, the W.E.B. Dubois Clubs, Movement for a Democratic Society, mọi bè phái SDS, Catholic Peace Fellowship, Greenwich Village Peace Center, War Resisters League.

Ngoài việc hỗ trợ cho bọn Trại Fort Dix 38, liên minh cũng đòi hỏi phải phóng thích tất cả quân nhân và thường dân đang bị cầm tù như là những tù nhân chính trị cùng việc rút tất cả các các lực lượng chiếm đóng của Mỹ (không của Hà Nội) tại Việt Nam.

Bạo Động Đường Phố Trong Tháng 6

Trong một cuộc bạo động đường phố ngày 5 tháng 6 năm 1969, bọn Trại Fort Dix 38 đã bị buộc tội ném các tủ có gắn khóa qua khỏi các cửa sổ gắn kiếng, đốt nệm giường và phá nát bàn ghế cùng đồ dùng. Sau đó chúng đã bị buộc tội âm mưu, bạo loạn, đốt phá và hủy hoại tài sản.

Hành vi bảo vệ binh vực bọn bạo loạn đã trở thành một mục tiêu lừng danh của phong trào phản chiến đã không phải là vì tình trạng đối xử tàn bạo đối với các tù nhân tại Fort Dix, nhưng mà là vì đã có tới 750 tù nhân mà độ 250 thì đang thụ hình hay đang chờ bị xét xử về tội vắng nhiệm sở không phép và tội đào ngũ.

Bọn tả phái đã chủ trương hay chỉ việc tuyên bố là tất cả các tù nhân tại Trại Fort Dix đều là những người trốn quân dịch, những người phản đối vì lý do lương tâm và các nhà hoạt động chống chiến tranh. Chỉ có 38 tù nhân là đã bị buộc tội âm mưu, đốt phá và bạo loạn mà trong số đó có lẽ một tá đã thực sự đào ngũ chứ không phải chỉ là những quân nhân chỉ bị trể mất một vài giờ hay vắng mặt trong nhiều ngày mà không có phép.

Hai Tên Đào ngũ Terry Klug và Donald Williams

Trong số phản chiến nổi tiếng đã có Terry Klug. Sau khi tình nguyện gia nhập Trường Officer’s Candidate School, y đã mới phát hiện ra được mình là một kẻ chống đối vì lý do lương tâm mà đồng thời cũng biết được là sẽ bị đi phục vụ tại Việt Nam. Terry Klug bèn đào ngũ rồi sống nữa năm sau của 1967 và nguyên năm 1968 ở Ba-lê để làm việc cho Resistance Inside the Army, RITA (Kháng chiến trong Quân đội). Klug đã  mô tả một thành viên RITA như là, “một kẻ chống cự ngay bên trong Quân đội, một quân nhân Mỹ chống lại hành vi xâm lược đế quốc ở Đông Nam Châu Á. Các lý do của đương sự có thể là chính trị, là vì chủ hòa hoặc bất cứ điều gì khác.”

Một tên bạo loạn khác là tay đào ngũ Donald Williams mà đã từng phàn nàn đã bị đánh đập sau khi tự nguyện trở về từ nơi lưu vong tại Thụy Điển. 3041 Tại Trại Fort Dix, Terry Klug cuối cùng đã bị kết tội kích động và tội đã tham gia vào cuộc bạo động, nhưng lại đã được tha bổng vào ngày 9 tháng 4 năm 1970 bởi vì các nhân chứng đã khai trước tòa là họ đã phải làm chứng dưới áp lực của Quân đội. 3042

Terry Klug, làm việc trong Andy Stapp’s American Servicemen’s Union, ASU,  đã bị phát giác ráng tổ chức “những ‘sô-viết’ ngay bên trong quân đội đế quốc Mỹ”, 3043 sau đó đã được biết đến, không do việc phản đối các điều kiện nhà tù, nhưng với việc tổ chức chống đối tại Trại Fort Dix. 3044

Các Nhóm Phản Đối Chính: Coffee House,  Phân Bộ Hành Động SDS

Số lãnh đạo của các nhóm cuộc biểu tình trong tháng 10 đều làm việc chính trong Fort Dix Coffee House và đã là Ronald Carver, Saul Shapiro, Gary Harris, James Wallen, Herb Dreyer, Corina Fales, Steve Ornstein, Bob Tomaschevsky, tay thừa kế tài phiệt  thuốc lá và tài chính gia của SDS Josephine Drexel Duke Brown, John Marshall Brown 3045  và Haven Logan. 3046

Trong số thuộc SDS thì có Ronald Glick, Fred Bogardus, Carl Broege, Fred Halper và Dick Fried. Bọn Black Panthers hiện diện đã là Carl Nichols, Frank Kaiser, Mac Feggin và Frank Hall. Đại diện cho Committee for Returned Volunteers [thuộc Peace Corps] thì là John McAuliff và cho Ủy ban Fifth Avenue Parade là Abe với Debbie Weisbud.

Phân bộ Hành động của SDS là Bob Tomaschevsky và Sam Karp mà đã viết The GI Movement: Its Importance in Defeating Imperialism (Phong trào GI: Tầm quan trọng của nó trong việc đánh bại chủ nghĩa đế quốc) đều làm việc tại Fort Dix Coffee House và xuất bản tờ Shakedown tại Fort Dix, cả hai đều là dự án của SDS. Trong The GI Movement, chúng viết: “Để cho một cuộc cách mạng xảy ra được ở đất nước này, quân đội ít nhất phải bị vô hiệu hóa. Dù sao, . . . một số đơn vị của quân đội cũng rất có thể có một thái độ tích cực trong cuộc chiến chống lại chủ nghĩa đế quốc [Hoa Kỳ]. ” 3047

Trong số những tên biểu tình ủng hộ cho bọn Trại Fort Dix 38 vào ngày 12 tháng 10 năm 1969, vài quân nhân GI phản chiến, lấy cảm hứng từ chủ nghĩa Mác-Lê-nin, có thể là Terry Klug, đã tuyên bố: “Với tư cách là quân nhân, bây giờ chúng tôi khám phá ra được là mạng sống của chính chúng tôi đang bị hy sinh một cách ích kỷ cho những động cơ kinh tế và chính trị bệnh hoạn của giai cấp thống trị của đất nước này.” Thêm nữa, “vì là quân nhân, chúng tôi hiểu được là với chính cái chế độ mà đã bắt giam các lãnh tụ da đen, các người chống quân dịch và các sinh viên dấn thân để rồi đàn áp họ, thì chúng tôi cần phải cùng chiến đấu chung với nhau.”

Các Người Tổ Chức Trong Ủy Ban

Các người tổ chức trong Ủy ban đã thuê 100 xe buýt để đi đón khắp New York và Philadelphia chở 5.000 người về Trại Fort Dix tại Wrightstown New Jersey hầu ủng hộ bọn Trại Fort Dix 38. 3048

Các lãnh tụ về chiến thuật của cuộc biểu tình ngày 12 tháng 10 là “Larry”, Barbara Reilly, Maryann Weissman, Jim Eagan, Richard Rosman. Một Lữ đoàn Phụ nữ, Barbara Reilly và Maryanne Weissman, dự trù dẫn đầu và có trang bị với gậy dài năm ‘feet’ cầm nganh hông để đối đầu với quân cảnh (y như những chị em của họ đã từng làm trong mấy ngày Days of Rage tại Chicago). Một khẩu hiệu “Không còn vụ Dix nào nữa” đã bị bác bỏ. Một truyền đơn khác đã được bàn cải rất nhiều thì đã tuyên bố là cuộc diễn hành không phải để chống lại binh lính và có tính cách bất bạo động nhưng lại đã kết luận, “Khi Độc tài chỉ huy thì cần phải có Cách mạng. Phải đập tan Chính quyền! Nhân dân hãy chiếm lấy quyền hành! ”

Không được mang theo cờ Việt Cộng.

1000 “mặt nạ phòng độc” dã chiến đã được làm từ loại mũ che tóc khi đi tắm. Một số thành viên SDS đội mũ an toàn và mang theo những cây gậy thật bự. Để chuẩn bị cho bạo lực sẽ xẩy ra, Ủy ban Medical Committee for Human Rights đã chuẩn bị  các Bác sỹ June Finer và  William Rothman.

Bọn Chủ Trương Vô Chính Phủ Xuất Hiện

Bọn chủ trương vô chính phủ cũng xuất hiện cùng tham gia như là Robin Palmer, Sharon Krebs, Vincent Tsao, Martin Lewis, và George Demmerle, cùng đám Black Panthers (Zahed Shakur, Suzanne Bellamy, “Sabu”), U.S. Committee to Aid the National Liberation Front (Karen Atkin), tụi chủ hòa (Peter Kiger), Veterans for Peace and Reservists for Peace (Mike Spector, John Seeley, Robert Levine, Frank Hoffman, Jack Godoy, Jerry Chodick, Bob Marinaro), Workers Youth World Party group, Youth Against War and Fascism (Sam Marcy (Balan), Dave Axel, Andy Stapp, Dierdre Griswold Stapp, Arthur Rosen, Rita Freed, Shirley Joels, Sharon Martin, Joel Meyers).

Giới Truyền Tin Tường Thuật Về Các Cuộc Phản Đối

Nhóm Newsreel (Melvin Margulis, Roz Payne), Liberation News Service  (Howie Epstein, Barbara Rothkrug và David Fenton) với nhiếp ảnh gia Louis Salzberg, một điềm chỉ viên của FBI đã có tới để lấy tin. 3049 Cũng như là Đài phát thanh Bắc Kinh.

Đài phát thanh Bắc Kinh đã tường thuật cuộc biểu tình:

8.000 nhân dân Mỹ đã can đãm xung phong và tràn ngập căn cứ quân sự Fort Dix ở  New Jersey … để phản đối sự xâm lăng của đế quốc Mỹ tại Việt Nam và chống lại việc ban quản huấn trại đã hành hạ các quân nhân Mỹ mà đã từng phản đối cuộc chiến tranh xâm lược … Miệng cùng hô to “Nhân dân hãy cùng nhau chiếm quyền”…. họ buộc phải phóng thích các quân nhân đang bị tù cùng mọi tù nhân chính trị đang bị giam cầm … Hoảng sợ trước thái độ gần như điên loạn của người biểu tình …, ban quản huấn phản động vội vàng gọi 800 quân cảnh trang bị vũ khí đầy người (mà) đã dã man tấn công họ … với lưỡi lê và hơi cay. 3050

 

Vào phút cuối, các nhân viên truyền tin và các sĩ quan chỉ huy đều được phân phối máy ‘walkie talkies’ với băng tay.

Đoàn Biểu Tình Tụ Lại Bên Ngoài Căn Cứ Fort Dix, 12 tháng 10

Ngày 12 tháng 10 năm 1969, một đoàn biểu tình đã tập hợp tại quán cà phê bên ngoài Fort Dix nơi Barbara Dane đang dùng loa ca những bài hát phản chiến và sau đó là các diển giả:  Herb Dreyer của quán cà phê; Kathy Russell, vợ của Jeff Russell, một quân nhân tại Fort Dix; Zayed Malik Shakur và “Sabu” thuộc tụi Black Panthers; “tay giảng đạo” William Fensterman: và luật sư Arthur Turco đã tuyên bố,” Nếu chúng ta không đòi được những gì chúng ta muốn, chúng ta sẽ đốt cháy bỏ chúng luôn”.

Lữ đoàn Phụ nữ đi hàng ngang tám mụ dẫn đầu cuộc tuần hành kéo dài tới nữa dặm, tay cầm những biểu ngữ, “Hãy Thả Nhóm Fort Dix 38” và “Đem Hết Lính Về Nhà Ngay”.

Khi được báo hiệu, đoàn đã tung chạy vượt qua một cánh đồng cỏ về phía một con đường bên trong Fort Dix thường dành cho công chúng.

Khoảng 1.000 người đã tách ra khỏi số 5000 người diễn hành để vượt qua các bảng cảnh cáo, rồi phủ những tấm thảm trên hàng dây kẽm gai và đuổi chạy một đoàn cảnh sát đang đứng chận đường rồi đến được hàng rào bằng trụ kiên cố của trại giam, nơi mà 500 quân cảnh đã chận lại được cuộc xung phong.

Sau khi cảnh cáo nhưng vô hiệu quả, quân cảnh đã bắn lựu đạn cây vào đám nổi loạn mà nay đành phải rút lui một cách hổn loạn khỏi chiến trường. 3051 Cuộc diễn hành vẫn tiếp tục quanh chu vi căn cứ và thỉnh thoảng thì cũng có màn mắng chửi  tục tĩu các quân cảnh đang lạnh lùng đứng canh chừng.

Không hề có ai bị bắt giữ.

“đám trẻ bị chút hơi cay và khám phá ra là mình đã không bị bắt giam.”

Khi leo lên xe buýt trở về New York, một tên trong ban tổ chức đã nói, “Tụi lính thì không có gì là quan trọng. Bây giờ thì đám trẻ đã bị chút hơi cay và khám phá ra là mình đã không bị bắt giam nên chúng ta sẽ có thể đem được chúng ra các đường phố them nữa.” 3052 Tuy nhiên, Quân đội Mỹ rồi sẽ tuyên phạt Jeff Russell, một tên bạo loạn tại doanh trại Fort Dix, ba năm lao động khổ sai. Quả là quá nhiều chỉ cho việc giúp đỡ phản đối của vợ y.

Đây đã chính là việc mà bọn Weathermen đã chờ đợi từ lâu nay.

Chuck Sollish, một quân nhân tại Fort Dix, đã có cảnh cáo, “Khi tấn công vào binh lính … chúng ta sẽ bị xem như là kẻ thù của họ.” 3053 Dĩ nhiên, bọn Weathermen đã từng coi các quân nhân tại Fort Dix servicemen như là kẻ thù của chúng, như một sự kiện khủng khiếp sau này vào tháng 3 năm 1970 sẽ cho thấy một cách rỏ ràng không thể nào chối cải được.

Bọn bắn sẻ tại Tổng Hành Dinh Cảnh sát Cambridge

Ngày 8 tháng 11 năm 1969, một tên bắn sẻ đã nổ súng xuyên qua một cửa sổ của Tổng Hành Dinh Cảnh sát Cambridge (Massachusetts). Ngày 17 tháng 11 năm 1969, 23 tên Weathermen đã bị bắt về tội âm mưu cố sát cùng với bốn súng trường, một ‘shotgun’ và hàng trăm viên đạn đã bị tịch thu. James K. Kilpatrick và James H. Reaves đã bị truy tố về tội hành hung với mục đích cố sát.

Nhân chứng duy nhất của công tố là James W. Paradise cho biết cảnh sát đã buộc ông phải làm chứng 3054  và ngày 28 tháng 11, một thẩm phán tuyên bố là đã không có nguyên nhân khã chấp để biện minh cho việc lục soát, các bằng chứng đều bất hợp lệ và đã bác bỏ tất cả mọi tội buộc. Eric Mann, Thomas Brainerd Cook và Marial Rita Feinberg  đã nằm trong số những người bị bắt, truy tố và được miển nghị. 3055

Trong khi đó, Hà Nội mạnh mẽ và công khai thừa nhận luôn cả Lệnh Đình Moratorium cùng các cuộc biểu tình sắp tới của New Mobe trong tháng 10 và 11. Tại một cuộc họp báo vào ngày 4 tháng 9 năm 1969, Tổng thống Nixon cho biết ông đã luôn luôn dự đoán sẽ có các cuộc biểu tình phản chiến. “Tuy nhiên, trong mọi trường hợp, tôi sẽ không bao giờ bị chúng ảnh hưởng tới.” 3056

Các Kế Hoặch Lừa Phỉnh của Mỹ Không Thành Công

Với một Kissinger đang cố giảm thiểu các chiến dịch mà từng được thi hành chỉ với mục đích lừa gạt địch, hầu  tránh “sự hỗn loạn quốc nội và quốc tế,” Nixon đã tìm cách gây áp lực với Liên Xô để buộc Bắc Việt phải đàm phán ở Ba-lê. Vào cuối tháng 9, Nixon đã nói với Đại sứ Liên Xô Anatoly  Dobrynin, “con tàu vừa rời ga và đang gia tăng tốc độ”. Người Khùng Nixon rất có thể sẽ làm một cái gì đó thật là nguy hiểm.

Trong tháng 10, có vẻ như Ngũ Giác Đài đã sắp đặt các lực lượng hạt nhân của Hoa Kỳ trong tư thế ứng chiến cao trong suốt ba tuần tập trận. Chiến hạm và phi cơ tham dự các sứ mệnh báo động trên toàn thế giới. Haldeman đã ghi lại vào ngày 17 tháng 10 năm 1969 là Tổng thống “đã bung ra khắp thế giới tất cả các  hoạt động loại tín hiệu để cố gắng làm điên đầu Liên Xô và Bắc Việt.” 3057

Cả Liên Xô cùng Bắc Việt đều không hề lo ngại đối với các hoạt động giả bộ như vậy của Mỹ mà đã đột nhiên đã chứng minh là ý chí chính trị mạnh mẽ trước đây cũng đã từng không được rõ ràng.

 *****

 

3016 Georgie Anne Geyer và Keyes Beech, “Cuba: School for US Radicals,” Chicago Sun Times, Tháng 10 năm 1970 được nêu ra trong tài liệu của FBI, FOIA, Weather Underground. Nguồn tin chính đã là phúc trình của Đương nhiệm  SAC Chicago gởi cho Giám đốc, “Foreign Influence-Weather Underground Organization,”  20 tháng 8 năm 1976, trang 42.

3017  FBI, FOIA, Weather Underground. Nguồn tin chính đã là phúc trình của Đương nhiệm  SAC Chicago gởi cho Giám đốc, “Foreign Influence-Weather Underground Organization,”  20 tháng 8 năm 1976, trang 337.

3018  Bill Ayers tại hội nghị và trong “A Strategy to Win,” New Left Notes 12 tháng 9 năm 1969 được nêu ra trong tài liệu của FBI, FOIA, Weather Underground. Nguồn tin chính đã là phúc trình của Đương nhiệm  SAC Chicago gởi cho Giám đốc, “Foreign Influence-Weather Underground Organization,”  20 tháng 8 năm 1976, trang 36, 110.

3019  Kathy Boudin, Bernardine Dohrn, Terry Robbins, “Bringing the War Back Home,” được nêu ra trong tài liệu của FBI, FOIA, Weather Underground. Nguồn tin chính đã là phúc trình của Đương nhiệm  SAC Chicago gởi cho Giám đốc, “Foreign Influence-Weather Underground Organization,”  20 tháng 8 năm 1976, trang 110.

3020  Kathy Boudin, Bernardine Dohrn, Terry Robbins, “Bringing the War Back Home,” nêu ra trong tài liệu của FBI, FOIA, Weather Underground. Nguồn tin chính đã là phúc trình của Đương nhiệm  SAC Chicago gởi cho Giám đốc, “Foreign Influence-Weather Underground Organization,”  20 tháng 8 năm 1976, trang 111-113.

3021  FBI, FOIA, Weather Underground. Nguồn tin chính đã là phúc trình của Đương nhiệm  SAC Chicago gởi cho Giám đốc, “Foreign Influence-Weather Underground Organization,”  20 tháng 8 năm 1976, trang 119.

3022  Chỉ thị của Bộ Chính trị Đảng ủy về việc Khuyến khích Sinh hoạt Chính trị để Nghiên cứu và Thực hiện với Di chúc Hồ Chủ tịch, Học Tập, Việt ngữ, Số 10, Tháng 10 năm 1969, trang  9-13, Sưu tầm của Pike, TTU, Virtual Archive, tài liệu số  2360511013.  

3023  “Liberation News Service Rallies U.S. Left for Cong,” Combat, Bộ 1, Số 28, 15 tháng 10 năm 1969.

3024  Combat (National Review), Bộ 1, Số 29, 1 tháng 11 năm 1969.

3025  FBI, FOIA, Weather Underground. Nguồn tin chính đã là phúc trình của Đương nhiệm  SAC Chicago gởi cho Giám đốc, “Foreign Influence-Weather Underground Organization,”  20 tháng 8 năm 1976, trang 142.

3026  Chiếu theo tờ Daily Kos 2005/3/8, CHRONOLOGY OF BOMBINGS AND ACTIONS CARRIED OUT BY THE WEATHER UNDERGROUND ORGANIZATION, “mọi tin tức trong [cái] danh sách về những vụ đặt bom của WUO đều được thu lượm từ các nguồn tin sau đây: 1) Dohrn, Bernardine, Bill Ayers, Jeff Jones và Cecilia Sojourn.  Prairie Fire: The politics of Revolutionary Anti-Imperialism.  San Francisco: Prairie Fire Organizing Committee, 1974. 2) Gilbert, David.  Students For A Democratic Society and the Weather Underground Organization.  Toronto: Arm The Spirit Press, 2002 nêu ra tại  http://www.diyzine.com/weatherundergroundarticle3.html  hay tại http://www.dailykos.com/story/2005/3/8/01927/77742 – 107k

 

3027 Chuyện kể không thể nào chối cải được lien quan Weatherman thuộc hồ sơ FBI, FOIA, Weather Underground. Nguồn tin chính đã là phúc trình của Đương nhiệm SAC Chicago gởi cho Giám đốc, “Foreign Influence-Weather Underground Organization,”  1976. Phúc trình của FBI này đã nêu ra nhiều tường trình từ các nhiệm sở FBI gởi về và “Cuba: School for US Radicals, ”Georgie Anne Geyer and Keyes Beech, Chicago Daily News, Tháng 10 năm 1970.  

3028  Truyền đơn Weatherman, Seattle, “Taste the Sweetness of Destiny, Racist Pig!!!” Vietnam War Era Ephemera Collection, Thư viện đại học University of Washington Libraries, Đơn vị Special Collections Division, Hộp 14/5.

3029  Bill Ayers, Fugitive Days, trang 266-269.

3030  Herbert Romerstein, “What Was the Weather Underground,” America’s Survival, 2009, 39; bản sao của lời điều trần của đương sự trrước ủy ban Hạ viện Committee on Internal Security, Investigation of Students For A Democratic Society, Phần 7-B, 17-8 tháng chạp năm 1969, trang 2471.

3031  FBI, FOIA, Weather Underground. Nguồn tin chính đã là phúc trình của Đương nhiệm SAC Chicago gởi cho Giám đốc, “Foreign Influence-Weather Underground Organization,” 20 tháng 8 năm 1976, trang 388.

3032  Wells, trang 367.

3033  FBI, FOIA, Weather Underground. Nguồn tin chính đã là phúc trình của Đương nhiệm SAC Chicago gởi cho Giám đốc, “Foreign Influence-Weather Underground Organization,” 20 tháng 8 năm 1976, trang 389.

3034  New Left Notes, 21 tháng 10 năm 1969 nêu ra trong hồ sơ của FBI, FOIA, Weather Underground. Nguồn tin chính đã là phúc trình của Đương nhiệm  SAC Chicago gởi cho Giám đốc, “Foreign Influence-Weather Underground Organization,”  20 tháng 8 năm 1976, trang 115-16.

3035  Georgie Anne Geyer và Keyes Beech, “Cuba: School for US Radicals,” Chicago Sun Times, Tháng 10 năm 1970 nêu ra trong hồ sơ FBI, FOIA, Weather Underground. Nguồn tin chính đã là phúc trình của Đương nhiệm  SAC Chicago gởi cho Giám đốc, “Foreign Influence-Weather Underground Organization,”  20 tháng 8 năm 1976, trang 113.

3036  FBI, FOIA, Weather Underground. Nguồn tin chính đã là phúc trình của Đương nhiệm  SAC Chicago gởi cho Giám đốc, “Foreign Influence-Weather Underground Organization,”  20 tháng 8 năm 1976, trang 318; Herbert Romerstein, “What Was the Weather Underground,” America’s Survival, trang 39 có đăng một bản sao của lần đương sự khai trình trước ủy ban Hạ viện Committee on Internal Security, Investigation of Students For A Democratic Society, Phần 7-B, 17-8 tháng chạp năm 1969, trang 2470.

3037  Ayers, Fugitive Days.

3038  “Tin tình báo được giải mật của Chính phủ Mỹ về các móc nối giữa cộng sản và ngoại quốc với Weather Underground. Được trình ra như là bằng chứng, chiếu theo thỏa thuận giữa công tố và luật sư biện hộ tại phiên xử W. Mark Felt và Edward S, Miller,” trang 64 tại  http://www.usasurvival.org.

 

3039  FBI, FOIA, Weather Underground. Nguồn tin chính đã là phúc trình của Đương nhiệm  SAC Chicago gởi cho Giám đốc, “Foreign Influence-Weather Underground Organization,”  20  tháng 8 năm 1976, trang 115. Trong số bị truy tố đã có “Chip” Marshall theo lời của “The Seattle Liberation Front,” Information Digest, 2 tháng 5 năm 1970, trang 4, tại  speccoll.library.kent.edu/4may70/box107/107f9p8.html. 

3040  Thượng viện, ủy ban Committee on the Judiciary, tiểu ban Subcommittee to Investigate the Administration of the Internal Security Act and Other Internal Security Laws, The Weather Underground, Committee Print, Tháng giêng 1975, trang 26.

3041  LNS, “Freedom’ at Fort Dix,” The Circle (Marist College), 23 tháng 10 năm 1969; Terry Klug xuất hiện trong phiên bản năm 2007 Sir! No Sir!

3042  “150 Riot at Ft. Dix: Fires Set and Windows Broken,” New York Times, 6 tháng 6 năm 1969, trang 33; Joan Crowell, Fort Dix Stockade: Our Prison Camp Next Door, New York: Link Books, 1974; Murray Kempton, “Workers’ Defense League, New York Review of Books, Bộ 15, Số 8,  5 tháng 11 năm 1970.

3043  Terrorism, a Staff Study, 1 tháng 8 năm 1974, trang 102.

3044  James E. Westheider, Fighting on Two Fronts, New York: New York University Press, 1997, trang 152

3045 “Josephine Drexel Duke Is Engaged To John Marshall Geste Brown Jr.” New York Times, 31 tháng 8 năm 1969, trang 49

3046  Combat (National Review), Bộ  1, Số  29, 1 tháng 11 năm 1969.

3047  Herbert Romerstein, “What Was the Weather Underground,” America’s Survival, 2009, trang 37, bản sao của lần đương sự điều trần trước ủy ban Hạ viện Committee on Internal Security, Investigation of Students For A Democratic Society, Phần 7-B, 17-8   tháng chạp năm 1969, trang 2464-5.

3048  Combat (National Review), Bộ 1, Số 29, 1 tháng 11 năm 1969.

3049  Combat (National Review), Bộ 1, Số 29, 1 tháng 11 năm 1969.

3050  Đài Phát thanh Bắc kinh Radio New China News Agency, International Service bằng Anh ngữ, 15:26 giờ Greenwich, 14 tháng 10 năm 1969 trong Combat (National Review), Bộ 1, Số 29, 1 tháng 11 năm 1969.

3051  CPS, “5,000 March at Fort Dix,” The Circle (Marist College), 23 tháng 10 năm 1969, trang 2; Combat (National Review), Bộ 1, Số 29,  1 tháng 11 năm 1969.

3052  Combat (National Review), Bộ 1, Số 29, 1 tháng 11 năm 1969.

3053  Combat (National Review), Bộ 1, Số 29, 1 tháng 11 năm 1969.

3054  Thượng viện, ủy ban Committee on the Judiciary, Subcommittee to Investigate the Administration of the Internal Security Act and Other Internal Security Laws, The Weather Underground, Committee Print, Tháng giêng 1975, trang 18.

3055  FBI, FOIA, Weather Underground. Nguồn tin chính đã là phúc trình của Đương nhiệm  SAC Chicago gởi cho Giám đốc, “Foreign Influence-Weather Underground Organization,” 20  tháng 8 năm 1976, trang 265, 287.

3056  New Mobilization Committee to End the War in Vietnam, “Moratorium Mushrooms. Builds Momentum for November 13-15,” New Mobilizer, Số  3, 8 tháng 10 năm 1969.

3057  Mục đề Nhật ký, Thứ sáu, 17 tháng 10, Nhật ký H.R. Haldeman Diary, Dự án Nixon Presidential Materials Project, Hồ sơ Đặc biệt. Đuợc viết tay trong Handwritten Journals and Diaries của Harry Robbins Haldeman. 

  

*****

Advertisements

Một phản hồi to “Roger Canfield’s Americong #63”

Trackbacks/Pingbacks

  1. Giới thiệu tác phẩm AMERICONG (MỸ-CỘNG) – Lê Bá Hùng | Ngoclinhvugia's Blog - 05/01/2016

    […] Roger Canfield’s Americong #63 […]

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: