Roger Canfield’s Americong #33

Comrades in Arms

How the Americong Won the War in Vietnam

Against the Common Enemy— America

Copyright Roger Canfield, Ph.D.

1986-2012

No commercial transaction allowed except that approved by the author, copyright holder.

Obtain a prepublication release of a CD-R in Microsoft Word in ENGLISH at a discounted price of $15 from Roger Canfield Rogercan@pacbell.net at 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 or at http://americong.com.

Completely SEARCHABLE for any name, date, place or event of the War and its protesters.   

Cover: Design Stephen Sherman. Photos: Roger Canfield, March 2008. TOP: War protest Hawaii, February 1966 displayed at War Remnants (Crimes) Museum, Saigon. Bottom: Praetorian Guard

 Các đồng chí cùng chiến tuyến

Làm thế nào MỹCộng thắng cuộc chiến Việt Nam

Chống kẻ Thù Chung – Mỹ

Giữ bản quyền Roger Canfield, Tiến Sĩ

1986-2012

Không được sử dụng vào mục đích thương mại nếu không có sự đồng ý của Tác giả, người giữ bản quyền.

Có thể mua một tiền bản dưới dạng CD-R Microsoft Word bằng Anh ngữ với giá đặc biệt US$15 ngay từ tác giả Roger Canfield  Rogercan@pacbell.net tại 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 hay tại  http://americong.com.

Hoàn toàn có thể TRA CỨU hoặc bằng tên, bằng ngày tháng hay biến cố liên quan đến cuộc Chiến cùng cả luôn bọn tham dự biểu tình .

******************************************************

* Tác giả giữ bản quyền © Roger Canfield 1986-2012

  • Lê Bá Hùng chuyển ngữ  (với sự chấp thuận của Tác giả)

***************

Chương 33

ĐỢT PHÓNG THÍCH TÙ BINH ĐẦU TIÊN

CỦA HÀ-NỘI . . .  CHO HAYDEN

~ 4 TỚI 13 THÁNG 11 NĂM 1967

 

Vai trò điệp viên dành ảnh hưởng của Hayden đã trở nên rõ ràng hơn với các sự kiện liên quan việc phóng thích ba tù binh Mỹ vào tay y mà đã diễn ra trong tháng 11 năm 1967. Sau khi khai sáng ra cái tình đoàn kết với Việt cộng tại Bratislava, và sau khi dẫn đầu một chuyến ‘tham quan’ khắp Bắc Việt cũng như  sau khi hoàn tất hai chương trình phát thanh trên Đài Hà Nội, Tom Hayden đã có thêm một nhiệm vụ để thực hiện cho Bắc Việt: Chỉ một mình y và không có bất kỳ trợ giúp đáng kể nào của những tên Mỹ khác, y đã tiếp nhận các tù binh Mỹ đầu tiên do Bắc Việt phóng thích.

Suốt nhiều tháng trong năm 1967, Việt cộng đã từ chối các yêu cầu chính thức của chính phủ Mỹ – chẳng hạn như lời kêu gọi của Đại sứ Harriman qua trung gian phóng viên Robert Shaplen tới tên điệp viên KGB Burchett – về việc phóng thích tù binh Mỹ. 2066 Trong khi Hà Nội bác chính phủ Mỹ thì chúng lại quyết định giao ba tù binh Hoa Kỳ cho điệp viên của chúng là Tom Hayden. Cú tuyệt chiêu về tù binh của Hayden đã bắt đầu vào tháng 7 năm 1967.

“Củng cố Phong Trào Hòa Bình”

Tom Hayden đã khởi động các cuộc thảo luận với Bắc Việt để phóng thích họ tại một nơi nào đó không rõ “ở châu Âu”, có lẽ là Stockholm. 2067 Hayden đã hỏi Việt cộng là liệu chúng có sẽ chịu phóng thích một ít phi công Mỹ cho y. Một tháng sau đó, vào tháng 8, Tom Hayden vẫn kiên trì dai dẳng, cùng sự tham gia của những tên khác, đã đánh điện lần thứ hai cho Hà Nội nhằm thúc đẩy phóng thích tù binh vì y nhận thấy “việc phóng thích sẽ là một cử chỉ thiện chí để củng cố phong trào hòa bình ở Hoa Kỳ.”

Chịu thua trước lời nằng nì của Hayden và theo chỉ thị của Bắc Việt, Việt Cộng cuối cùng chịu thảo luận trực tiếp với Tom Hayden trong tháng 9 tại Hội nghị Công đoàn Đoàn kết của y tại Bratislava, Tiệp Khắc. Ngay sau đó, phóng viên Neil Sheehan của New York Times đã viết: ” Ý tưởng về phóng thích các người đó như là một cử chí thiện chí với Phong Trào Hòa Bình và cuộc tranh đấu của  những người da đen đã được phát họa cho y [Hayden] tại Bratislava, Tiệp Khắc vào tháng 9 ” bởi Mụ Nguyễn Thị Bình, một đại diện của Việt Cộng. 2068

Mụ Bình nói với y: “Chúng tôi muốn phóng thích các tù nhân thẳng cho ông  . . . cho những người Mỹ đang tranh đấu cho hòa bình.”  2069 Dĩ nhiên, định nghĩa về hòa bình của Hayden có nghĩa là đoàn kết với Việt Cộng mà đang lâm chiến với Mỹ. Sau này thì Hayden sẽ cho rằng nỗi ám ảnh của mình đối với tù binh Mỹ chỉ là một chính sách ngoại giao tài tử và nhân đạo. Tuy nhiên, kiểu ngoại giao tài tử và nhân đạo này đã giúp người Mỹ thì rất ít nhưng lại rất có lợi cho địch.

Sau khi nói chuyện với Bình, đã phải mất thêm ba lần thảo luận với Nguyễn Văn Hiếu ở Bratislava, Hà Nội, và tại Phnom Penh, Campuchia thì “tôi mới có được cảm tưởng rõ rệt rằng việc này sẽ xảy ra, nhưng tôi cũng sẽ không biết được mãi cho đến khi nó thực sự xảy ra. ”  2070

Hayden nói y đã biết được quyết định tối hậu của Việt cộng để phóng thích các tù binh nhân khi đọc tờ Le Monde tại Paris vào ngày 4 tháng 11 năm 1967. Nếu ta lưu ý là y vừa kết thúc cuộc họp với Phạm Văn Đồng vào ngày 20 tháng 10 và đã có muôn trùng lần tiếp xúc từ tháng 7 đến tháng 10, không kể đến tính cách mật thiết của y với Việt cộng mãi từ 1965 cho tới nay, thì đây cũng chỉ là một ví dụ của cái kiểu mờ mờ ảo ảo tự phục vụ của y mà thôi: quả thật là không phải y đã phải cần trung gian của tờ Le Monde 2071  để tiếp xúc với Bắc Việt. Sau khi biết được quyết định của Việt cộng, Hayden đã bay từ Paris đến Phnom Penh, nơi mà y đã được đích thân thông báo là ba tù binh sẽ được phóng thích cho y.

Tất cả những nỗ lực của Hayden dường như đủ để xác quyết là y “đã sắp xếp  việc phóng thích bộ ba (tù binh) … mà đã không hề tiếp xúc trước với các viên  chức Mỹ”, theo nhà báo Robert Shaplen. 2072  Shaplen đã từng chuyển yêu cầu của chính phủ Mỹ về một cuộc trao đổi tù binh mà Cộng sản đã bác bỏ. Hayden cũng tránh không để đại diện của các đồng minh của Mỹ là Úc và Thái Lan dính líu tới vụ này. 2073

Cuộc Họp Báo của các Tù Binh tại Nam Vang, Kam-pu-chia

Sau khi lên tiếng trên đài phát thanh vào ngày 4 tháng 11 thì Hayden đã tới Phnom Penh, Campuchia và ở lại đó một tuần (4 tới 11 tháng 11). Sau khi “thả” các tù binh vào ngày 31 tháng 10, mười ngày sau, vào ngày 11 tháng 11, Việt Cộng đã tổ chức một buổi họp báo cho các tù binh. Chỉ có hai nhà báo Mỹ được phép tham dự cuộc họp báo dù đang có hai tá nhà báo Mỹ tại Campuchia nhân  chuyến thăm của Jacqueline Kennedy mà đã cố tình ở lại để có thể tường thuật bản tin quan trọng nhất về tù binh của cuộc Chiến Việt nam. Khác với các phóng viên Mỹ mà đã bị cấm, truyền hình Liên Xô và 30 nhà báo khác không phải là Mỹ đã được phép tham dự buổi họp báo của tù binh Mỹ.

Tại sao? Câu trả lời không có gì là phức tạp: Theo Bắc Việt, “Báo chí là một vũ khí cách mạng – phóng viên là chiến binh trong quân đội xung kích trên mặt trận tư tưởng.” . 2074  Vốn không chịu dấn thân, một trong hai phóng viên Mỹ, Tillman Durdin khi viết cho tờ New York Times, đã mô tả các tù binh chiến tranh được “trả tự do như là một cử chỉ hợp tác giữa … Việt Cộng và một nhóm Mỹ.” 2075   Durdin đã từng làm phóng viên tại Việt Nam trong thập niên trước. Ông đã mô tả  Hayden như là một cộng tác viên của Việt Cộng. Hayden chính là “cái nhóm Mỹ”  không nói rỏ đó mà đã cộng tác theo kiểu đó. Các tài liệu lịch sử đã không hề cho thấy được tên tuổi gì của “nhóm” này.

Hayden đã nói ở Bratislava rằng y là Việt Cộng. Tại Phnom Penh, khi nói chuyện với một phóng viên Mỹ thì Hayden đã cố gắng ráng tự mô tả phần nào ít hơn là Việt Cộng. Tillman Durdin đã viết:

Hayden phủ nhận là y đang chịu trách nhiệm về … (các tù binh) … và đã nói là  họ “tự do để làm như ý họ “… và nêu ra là … [các tù binh Mỹ] … sẽ trình diện với thẫm quyền quân sự hay cơ quan hữu quyền [Mỹ] đầu tiên mà họ sẽ gặp. 2076

Nguyễn Văn Hiếu, đại diện của Việt Cộng và đồng chí của Hayden tại Bratislava và cũng là “Lê-nin” của Việt Cộng theo Douglas Pike, tuyên bố là các tù binh đã được phóng thích để cùng lúc đáp lể phong trào phản chiến Mỹ mà cũng hỗ trợ luôn cuộc đấu tranh dũng cảm của người da đen chống lại áp bức. Việt Cộng đã từ chối phóng thích tù binh cho chính phủ Mỹ mà, theo kiểu biện chứng Cộng sản, không đại diện cho phong trào phản chiến Mỹ hoặc cho những người da đen bị kìm kẹp.

Sau khi nói rõ tù binh đã được phóng thích cho ai, Việt Cộng bèn cho phép hai tù binh khỏe mạnh lên tiếng. Người thứ ba, Trung sĩ Edward R. Johnson, mà trong tháng 9 2077 đã gần chết rồi thì nay vẫn còn quá yếu để lên tiếng.

Hai tù binh kia đã bắt đầu đúng như những quân nhân gương mẫu bằng cách đưa ra tên, cấp bậc và quân số của họ trước khi trình bày “những bài phát biểu ngắn gọn … rõ ràng là đã được học thuộc lòng trước.” 2078  Các tù binh đã hành động đúng với đòi hỏi của vai trò tù nhân mà họ vẫn còn đang bị và đã thận trọng theo đúng chỉ thị của những kẻ đã bắt họ.

Tù Binh James Jackson Đọc Nguyên Bài của Mình

Đọc lại như vẹt các lời của Hiếu, tù binh Trung sĩ James Alex Jackson, Jr đã cho biết: Việt Cộng nói là đã phóng thích ông để “tỏ tình đoàn kết với phong trào phản chiến vì hòa bình của nhân dân Mỹ” … và “để đáp ứng cho sự đòi hỏi hòa bình của người da đen Mỹ”. Jackson cũng cho biết, “Thái độ [của ông] trong tư cách tù nhân cũng đã giúp “Việt Cộng quyết định” thả ông. 2079

Khi về được nhà, Jackson đã nói với tờ Ebony là ông có biết tuyên truyền Việt cộng về điều kiện người da đen ở Mỹ là không đúng sự thật. “Người da đen đã  (không) bị bắn bằng súng máy trên các đường phố” như Việt cộng nói. Các chương trình phát thanh của Stokely Carmichael không có hiệu lực gì đối với tù binh Johnson. 2080

Việc phóng thích và các tuyên bố như nêu trên đã cùng theo đúng cách thức  của đảng mà ta hằng dự đoán: “Một số quân nhân Mỹ đã được phóng thích sớm  để đáp ứng các nhu cầu tuyên truyền … để phô trương chính sách ‘nhân đạo’ của bọn cộng sản và cũng hy vọng là các tù binh này sẽ góp phần giúp phong trào phản chiến.” 2081  Một tài liệu quân sự theo kiểu truyền đạo giáo mà đã bị tịch thu nói:

Nhấn mạnh rằng tù binh phải . . . bị buộc viết thư ca ngợi chính sách khoan hồng của Mặt trận đối với tù binh Mỹ, nhằm cho các mục đích tuyên truyền quốc tế và để khuyến khích các đồng hương của mình sau khi trở về Mỹ hãy tránh phạm các tội ác chống lại nhân dân Việt Nam. Nếu có thể … thì nên thu băng các tuyên bố trước khi phóng thích chúng.”  2082

Các cách thúc để chuẩn bị đã được quy định là phải bắt đầu ngay:

Ngay sau khi bị bắt, mỗi tù binh Mỹ phải viết xuống để trả lời một danh sách câu hỏi căn bản … mà sẽ được dùng để thu thập tin tức hầu sẽ được sử dụng  …‘ thúc đẩy phong trào phản chiến và kêu gọi quân đội Mỹ cùng đồng minh từ chối tham chiến và đòi hỏi tức khắc được trở về nhà.’ 2083

Vấn đề nan giải cho tù binh Jackson và bạn đồng tù là tự do cho chính bản thân họ đã chỉ có được nếu họ chịu tạm thời cộng tác với địch. Giải pháp còn lại là sẽ bị Việt Cộng xử tử hay như trường hợp của Jackson thì bị luôn cả sốt rét, thiếu dinh dưởng, viêm gan và kiết lỵ. 2084  Việc lựa chọn đã không gì là khó khăn.

Jackson đã tuyệt hảo hát đúng lại những gì mình bị bắt buộc. Chúng ta biết được như vậy vì tên Hiếu, phát ngôn viên của Việt Cộng, đã nói trong bài phát biểu để khai mạc của y là việc phóng thích đã được thực hiện cho phong trào phản chiến “trong kỳ vọng là [các tù binh] … sẽ rồi có thể đóng góp cho phong trào hòa bình của Hoa Kỳ.” Jackson đã lặp lại y chang những câu nói mà trước đó, tay Hiếu, kẻ nắm trong tay sinh mạng của anh ta đã nói. 2085 Khi viết lại từ Phnom Penn lúc việc này xẩy ra thì Stanley Karnow đã gọi đó là một sự “hùng biện về tuyên truyền.” 2086

Màn dàn cảnh của Việt cộng đã được thi hành đúng theo sách vở của chúng.

“Yếu tố Binh vận nhằm vào …  các quân nhân Mỹ đã đào ngũ và các cộng tác viên … để kêu gọi họ giúp đỡ dụ dổ thêm những quân nhân khác cũng làm như vậy . … [Bất kỳ] cá nhân nào mà tự nguyện theo cộng sản sẽ được coi là một “kẻ đào ngũ”. … Binh vận khai thác những cảm xúc như sợ hãi, hận thù, nhớ nhà, v. v. . . , để làm suy yếu và cuối cùng là vô hiệu hóa kẻ địch.”

Bọn cán bộ Binh Vận  là loại cán bộ chính trị được đào tạo riêng cho các nhiệm vụ tuyên truyền dụ dổ để theo đảng  – thường là tại Trường về chủ thuyết  Cộng sản của Đảng, Trường Nguyễn Ái Quốc.2087

Dan Pitzer

Giống như Jackson, tù binh Daniel Lee Pitzer, Jr. cũng bắt đầu xưng tên, cấp bậc của mình và số quân. Rồi thì ông ứng khẩu nói thêm, một phần nào khác với Jackson.

Như tôi đã hứa với [Giải phóng Dân tộc ~ Việt Cộng] Mặt trận … trước khi tôi được thả, tôi muốn nói rằng trong bốn năm tù với họ, tôi đã không hề bị tra tấn hay bị đánh đập. 2088

Pitzer cũng đã công khai cảm ơn Hayden. Nhưng sau khi Pitzer đã thoát khỏi vòng kềm kẹp của bọn Việt cộng và Tom Hayden thì Pitzer đã không còn rất biết ơn theo kiểu như vậy nữa. Dù sao thì Jackson cũng sẽ mãi mãi biết ơn Hayden sau này khi bênh vực Hayden chống lại những nỗ lực để trục xuất tên này khỏi Quốc hội California.

Không Có Các Câu Hỏi Kiểm Chứng Của Báo Chí

Báo chí thế giới đã muốn được phỏng vấn tù binh sau bài phát biểu định trước tại buổi họp báo. Bởi vì các tù binh vẫn hãy còn trong tay địch nên họ  không trả lời các câu hỏi vẫn là tốt hơn. Cho dù ngay cả Hayden hay tên Hiếu mà đã có  cho phép thì họ cũng không dám làm vậy.

Lý do mà Hayden đã tuyên bố về việc không cho phép đặt câu hỏi đã không thuận lý chút nào. “Hayden khẳng định y chỉ thực hiện yêu cầu của tù binh là họ phải được trình diện trước các thẫm quyền quân sự trước khi tuyên bố bất cứ điều gì”. 2089  Tất nhiên, các tù binh thì đã phải tuyên bố cho xong những lời bị bắt buộc trước. Nếu cho phép báo chí sau đó hỏi để kiểm chứng thì có khã năng là họ sẽ không lặp đúng  chính xác lại những gì mình đã phải học thuộc lòng.

Hayden đã không nói với báo chí rằng y và Việt cộng không hề có ý định chuyển giao tù binh cho các giới chức quân đội Mỹ. Nói cách khác, Hayden đã nói láo với Durdin về ý định của y. Hayden đã phủ quyết không chấp thuận một chuyến bay ngắn từ Campuchia sang Bangkok, Thái Lan bởi chính vì đang có giới chức quân sự Mỹ ở đó. 2090  Trong một thời gian thì không có gì chắc chắn là các tù binh sẽ được phép gặp bất kỳ thẫm quyền Mỹ nào cả.

Hayden dường như đã có kế hoạch khác với các tù binh.

Nhiều năm sau, Hayden đã tuyên bố là những lần phóng thích tù binh đều đã là những “cử chỉ thiện chí” của Việt Cộng đối với Chính phủ Hoa Kỳ để xúc tiến việc tìm hòa bình. Tuy nhiên, “thiện chí” của Hà Nội đã đặc biệt nhắm mục tiêu có lợi cho phong trào phản chiến và người Mỹ da đen và rõ ràng là nhằm gây rắc rối và khiến chính phủ  Mỹ bị mang tiếng không danh chánh ngôn thuận. Cuộc họp báo ngày 11 tháng 11 chỉ bày tỏ tình đoàn kết với Bắc Việt chớ không phải với chính phủ Hoa Kỳ.

Tên Điệp Viên Bí Mật – Wilfred Burchett

Sau cuộc họp báo mà đã dược cẩn thận sắp xếp trước đó, một phi cơ của hãng hàng không Tiệp vẫn nằm tại Cam-pu-chia và lúc đó thì Hayden mới tuyên bố là các tù nhân vẫn chưa được chuyển giao cho y. Trong vòng 24 tiếng thì “nơi ở và tình trạng của các quân nhân vẫn còn bị giấu kín.”  2091

Hayden cho là y đã cần tìm đường thoát tránh báo chí Mỹ khi lên chiếc phi cơ Tiệp. Dĩ nhiên y bèn quay qua nhờ một đồng nghiệp – Wilfred Burchett, một nhà báo, một đồng nghiệp và còn là nhiều nhiều cái là hơn nữa. Dù đang có cả hai tá  nhà báo Mỹ ở Cam-pu-chia (để lấy tin vụ Jacqueline Kennedy), Hayden lại đã nhờ tay người  Úc Wilfred Burchett, kẻ mà Hayden mô tả như là một “kẻ cấp tiến thâm niên” 2092  hay “một người Mác-xít độc lập” mà đã có thể là một “kẻ binh vực cộng sản” hay một “nhà phiêu lưu mạo hiểm. ”  2093

Burchett là một  “nhà báo” Úc mà mọi hành động từ lâu đã rất làm hài lòng Liên Xô. Năm 1947, Burchett đã là một đảng viên bí mật của Đảng Cộng sản Úc và từ đó, đã vào biên chế lãnh lương của KGB Liên Xô khi chúng tài trợ cho đảng này. Burchett đã từng tường thuật thuận lợi cho phiên tòa biểu diễn xét xử Đức Hồng Y Hung-gia-lợi Mindszenthy vào năm 1949, một phiên tòa tồi tệ nhất mà đã gợi nhớ đến các vụ xử của Stalin vào thập niên 1930. Kiểu tường thuật của y về cuộc chiến tranh Triều Tiên cũng như cuộc chiến tranh Việt Nam đã làm hài lòng Liên Xô. Burchett đã ký tên trên các bài báo được viết ở Moscow tố cáo nước Mỹ đã thực hiện chiến tranh vi khuẩn tại Hàn Quốc. 2094  Y tẩy não và thẩm vấn cũng như đã viết các “lời thú tội” thế cho các tù binh đồng minh ở Bắc Triều Tiên. 2095

Theo lời Roland Perry, bạn đồng nghề phóng viên và làm phim, người quen và viết tiểu sử thì các nhà bất đồng chính kiến ​​Hungary đã kể cho Burchett những câu chuyện về đàn áp, bỏ tù sai lầm và tra tấn. Các điều đó quả là “không may”, nhưng “chúng ta không bao giờ nên quên kẻ thù thực sự (Hoa Kỳ).” Burchett đã phản bội các chiến sĩ đấu tranh cho tự do của Hungary và đưa tin cho KGB vào năm 1956 để được vào biên chế mà ăn lương của KGB. Hai người Hungary đã bị bắt và hai người khác thì bị xử tử hình.  2096

Thế là Burchett nhận đủ các phơi lương của mình. Perry đã nhìn thấy một tên trung gian KGB trả lương cho Burchett bằng các chi phiếu du-lịch American Travelers. Burchett cũng đã viết cho gia đình biết là mình làm việc có lương cho Cộng sản. Ngoài ra thì Cộng sản cũng đã cung cấp cho Burchett những căn phòng trong chung cư rất sang trọng ở cả Moscow với Hà Nội và Hồ Chí Minh thì đã cho y  một chiếc xe cùng với một thư ký. 2097

Bởi vì các bài viết mà Burchett gởi đi từ Bắc Việt đều rất giống những văn kiện ngoại giao bổ sung về các dữ kiện (diplomatic aides memoire)nên chúng thường bị xem như là  quan điểm chính thức của chính phủ Bắc Việt.  2098  Hơn nữa, Robert Shaplen và chính phủ Mỹ đã thất bại khi ráng dùng Burchett để giúp cho được một tù binh  phóng thích. 2099  Burchett quả đã là một tên tuyên truyền tài giỏi cho Bắc Việt.

Nói tóm lại, Burchett đã là một điệp viên về tuyên truyền do KGB kiểm soát mà đã từng hoạt động cho Liên Xô suốt ba mươi năm (1953-1983), một điều từ rất lâu đã bị mọi người tình nghi nhưng chỉ được chứng minh khi Yuri Krotkov – người đã tuyển mộ Burchett và là điệp viên KGB phụ trách kiểm soát y — đào thoát qua với phương Tây. Vợ của Burchett cũng chính là một điệp viên ăn lương của mật vụ Bun-ga-ri.  2100  Vì vậy, Burchett quả đúng như Hayden mô tả, là “dũng cảm”, một điệp viên kiểu như William S. Stephenson. Điệp viên Dũng Cảm ~ Intrepid thật sự đúng nghĩa thì lại làm việc cho phía đồng minh trong Thế chiến II còn Burchett lại phục vụ cho phía bên kia.

Tại Cam-pu-chia vào năm 1967, rất có khã năng là Wilfred Burchett đã chuyển cho Tom Hayden những chỉ thị vào phút cuối từ bọn Việt cộng, Liên Xô, và / hay  Cuba để phải xử sự ra sao đối với ba tù binh Hoa Kỳ của y.

Vẫn Là Vụ Các Con Tin

Hayden đã có phần nào xử sự một cách “độc lập”, không phải với Việt cộng  nhưng mà là với chính quyền Mỹ. Hayden đã đe dọa Robert Shaplen, “Hãy liên lạc với Harriman ở Washington và nói với y là nếu mấy người này mà thậm chí chỉ bị Ngũ-giác-đài đụng tới thôi, trước khi họ về tới nhà thì điều đó có nghĩa là sẽ không còn tù binh nào sẽ được phóng thích trong một thời gian rất lâu.”  2101  Việc nhắn tin này đã là toàn bộ sự “hợp tác” của Hayden với Bộ Ngoại giao.

Các  mối quan hệ của Hayden với Việt cộng quả thật là ấm cúng nhưng lại là kinh khủng cho các tù binh. Trước khi rời khỏi Campuchia, tù binh Dan Pitzer có hỏi Hayden, “Ông có phải là một loại Cộng sản nào gì đó không?”  2102  Khi nghe vậy, Hayden đã khuyến cáo tên Việt Cộng là Pitzer “có thể sẽ giận dữ la lối với anh đó.” 2103

Tẩy Não Các Tù Binh

Trong khi Hayden đang mãi đùa giởn với Cộng Sản, mưu sự với điệp viên bí mật Burchett của chúng và lo kiểm duyệt  các người Mỹ thì tại Sài Gòn, nơi vốn rất độc lập tại Nam Việt thì mọi người đều cùng đã tuyên bố quá nhiều mà cũng quá sớm. Ngay trước khi tù binh được phóng thích thì Sài-gòn cáo buộc là Việt Cộng đã tẩy não các tù binh. Một người Mỹ cố vấn về Chiến tranh tâm lý , Donald Rochlen có thẫm tra Phùng Văn Tường, một Việt Cộng hồi chánh, kẻ đã xác nhận là chính mình phụ trách  tẩy não người tù binh mà nay Việt Cộng chuyển giao cho Hayden.

Tường cho biết y đã dạy các tù binh  về những “sự kiện của cuộc chiến tranh”: Mỹ đã gây ra chiến tranh; Mỹ đã tạo ra  khổ đau cho nhân dân Việt Nam; đã có những tương đồng giữa các cuộc cách mạng Việt và Mỹ; và các tù binh có những nhiệm vụ phải  thực hiện sau khi được phóng thích. Các “sự thật của chiến tranh” là tù binh “phải cố gắng thuyết phục mọi người khác về việc sai quấy của nguyên nhân mà Mỹ đã viện dẫn ra ở Việt Nam.” 2104 Theo Tường, việc phóng thích các tù binh thực sự đã bị trì hoãn mãi cho đến khi họ thấm nhuần được công tác tẩy não họ. Sự chậm trễ này (31 tháng 10 – 11 tháng 11) trùng hợp y bon với cái tuần mà Hayden đã phải chờ đợi (4 tháng 11 – 11 tháng 11) tại Phnom Penh, mà trong thời gian đó, y đã có cuộc họp với “Mafia”, tên quản giáo  các tù binh. 2105

Cuộc họp báo của tù binh đã cho thấy Tường quả đã thành công trong việc giảng dạy để tù binh thuộc lòng mọi điều. Nguyễn Văn Hiếu đã bảo đãm cho mọi lời tuyên truyền từng bị nhồi sọ phải được các tù binh lặp lại nguyên văn trong cuộc “họp báo” ngày 11 tháng 11 tại Phnom Penh. Tường đã nhồi sọ tù binh cùng đúng với những thông điệp mà Hayden đã công bố tại Bratislava và trên Đài Hà Nội. Sự lặp lại và phối hợp nhịp nhàng  của những thông điệp này, tuy dường như có vẻ từ nhiều nguồn không liên hệ nhau, lại chính là tinh túy của chiến tranh tâm lý.

Một bài viết ngày 14 tháng 11 trên tờ New York Times đã đặt câu hỏi là làm thế nào mà Tường đã có thể tẩy não được các tù binh Mỹ. Y thì chỉ nói được chút xíu tiếng Anh mà thôi. Tờ Times ghi nhận là y có thể đọc được tiếng Anh từ một văn bản. 2106  Khi mà đọc được một ngoại ngữ thì người đó đã phải có căn bản hiểu biết về ngôn ngữ này.Trong một câu chuyện đăng ngày 18 tháng 11 và được viết bởi phóng viên Neil Sheehan của New York Times, Bộ Ngoại giao Mỹ (thông qua Averill Harriman và Robert McCloskey) đã phủ nhận mọi khã năng bị tẩy não của các tù binh, bất kể báo cáo ngược lại của tên Tường. Sheehan tường thuật là, sau khi gặp các tù binh, Hayden đã nói rằng y tin là họ đã “suy nghĩ cho tự bản thân” và không thể nào là từng bị tẩy não. 2107 Trên tờ Reunion, Hayden đã nói: “Một bản tin của Associated Press gởi đi từ Sài Gòn đã báo cáo là dựa theo những nguồn tin không được nêu tên ra [sic] là ba tù binh đã bị tẩy não. Tôi đã không thể truy ra ai đã cố gắng làm mất uy tín của chúng tôi.”  2108  Như chúng ta đã phát hiện thì các thủ phạm chính đã là  thẩm vấn viên Donald Rochlen và hồi chánh viên Việt Cộng Phùng  Văn Tường.

Có vẻ là mấy tay già lão nên lãng trí là Harriman và McCloskey đều cũng u mê về chiến tranh tâm lý và mọi thứ gì khác mà có dính líu tới chiến tranh. Hay, có lẽ, họ chỉ nghĩ rằng bằng cách không làm mất lòng Cộng sản và Tom Hayden, họ có thể giúp thêm vài tù nhân sẽ được phóng thích. Thật vậy, sau đó, họ đã có nhận được khoảng một tá tù binh khác qua đường dây Tom Hayden từ năm 1968 cho đến năm 1972.

Bất kể việc trục trặc về thời khóa biểu của bản tin tù binh bị tẩy não từ Sài-gòn gởi đi đã đụng độ với cảnh cáo của Hayden về các thái độ của tù binh Pitzer, chương trình phóng thích tù binh có vẻ vẫn được tiếp diễn.

“Hãy Cút  Đi”

Ngày 12 tháng 11 năm 1967, ba tù binh thì cuối cùng đã được giao lại cho Tom Hayden tại chiếc phi cơ Tiệp đang đậu trên sân bay. Anh Edward R. Johnson, thân xác tiêu điều, người không có lên tiếng tại cuộc họp báo của Hiếu và Hayden, đã không thể tự mình lên máy bay được. Một bức ảnh chụp cái cử chỉ nhân đạo này của Hayden trong vụ này đã có được đăng trong hồi ký của y.

Vẫn Chưa Thực Sự Được Tự Do – Bọn Tiệp, Cu-ba và Nga Vẫn Bám Sát

Sau khi máy bay cất cánh rời xa Phnom Penh, Dan Pitzer đã không còn phải lựa lời và đã nói thật ý mình với Thomas Emmett Hayden: “Nếu tao mà mở cữa phi cơ được thì tao sẽ đá đít mày ra khỏi máy bay.” 2109  Trong khi bị giao cho Hayden, các tù binh vì theo lịnh của Tom Hayden, đã phải khước từ thực phẩm, các cú điện thoại và việc chăm sóc y tế đã được chuẩn bị đầy đủ chỉ cách có năm mươi phút bay tại căn cứ quân sự của Mỹ gần nhất đó ở Bangkok, Thái Lan. Họ lại đã phải bay về phía Prague, 2110 Tiệp-khắcvới hai tên Cuba và hai tên Nga đi kèm. Trên máy bay, các tù binh đã trao đổi với nhau “một cách chừng mực” về việc họ thấy vài tên ‘quản giáo’ nào thì có vẻ dễ thương, về việc dạy chúng tiếng Anh và “sự kính phục của họ trưóc sức chịu đựng và dấn thân của những kẻ từng giam giữ họ”. 2111

Tù binh Pitzer vẫn không tin là mình đã được tự do. Cả thế giới cũng không tin vậy. Về sau, Pitzer đã viết,

Đúng ra thì [Hayden] đã phải đưa chúng tôi đến Prague, Tiệp Khắc, để tham gia vào một cuộc biểu tình lớn theo kiểu tuyên truyền Cộng sản: trong tinh thần đoàn kết, chúng tôi hỗ trợ Việt Cộng … [Ba] tù nhân … đang trở về nhà … là chính sách khoan hồng của Mặt trận Giải phóng Quốc gia. 2112

Một màn trình diễn tại Tiệp-khác sẽ quả là một kết thúc đầy vinh quang  cho vai trò lãnh đạo của Hayden tại hội nghị  đoàn kết Bratislava bảy tuần trước đó. Trước khi hồi chánh, tay Việt Cộng Tường đã tập dợt chuẩn bị sẵn sàng cho tù binh đọc lại được nguyên văn các “sự thật của cuộc chiến”. Cuộc họp báo ở Phnom Penh chỉ đã là một màn tập dợt thành công chuẩn bị cho một đêm chung kết vĩ đại có thể sẽ xẩy ra tại Tiệp Khắc, nơi mà Hayden đã khởi đầu cuộc phiêu lưu  với Hội nghị Đoàn kết Tháng Chín của y.

Trong khi vụ tù binh đang tiếp diễn vào ngày 11, 12  và 13 tháng 11, tờ New York TimesWashington Post  tiếp tục tường thuật là các tù binh sẽ được giao trả  đến Prague, chứ không phải  về Mỹ.

Khi máy bay dừng lại để lấy thêm nhiên liệu tại Bombay, Ấn Độ thì Dan Pitzer đã toan tính trốn thoát.  2113 Sau khi so sánh với khã năng nơi đến khác có thể xẩy ra  – Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Tiệp Khắc, Pitzer có thể đã nghỉ việc đào thoát tại Bombay đúng là phương cách duy nhất của mình để có được an bình và tự do. Pitzer chắc hẳn đã linh tính là Hayden đang có những mưu tính khác về mình mà không hề dính líu gì tới việc trả tự do cho mình. Các  ý định của Hayden có thể tồi tệ hơn nhiều chứ không chỉ là một màn trình diễn tuyên truyền mà thôi.

Tù Binh Đào Thoát?

Neil Sheehan đã viết là Hayden “tự thấy mình phải giúp cho các tù binh một lựa chọn, hoặc  trở về Hoa Kỳ, hoặc đào ngũ  … dọc đường …” 2114  Phải chăng khã năng một tù binh sẽ “đào ngũ” đã là lý do Hayden từng giận dữ khẳng định là tù binh phải tránh dừng chân lại tại bất kỳ nơi nào mà có quân đội Hoa Kỳ hiện diện, ví dụ như tại Bangkok, Thái Lan?

*****

2066 Shaplen, Bitter Victory, trang  234-235. 

2067  Đường dây liên lạc tích cực và tối mật giữa bọn chủ hòa Mỹ với Bắc Việt tại Âu-châu vào tháng 7 năm 1967 đã là qua trung gian bọn Thụy điển và Na uy (Xem Johnson, Vantage Point, trang 590). Cũng tại đó, từ ngày 6 tới 9, một mặt trận Liên xô là World Peace Council (WPC) đã tở chức Hội nghị Stockholm về Việt-nam. Stockholm cũng là điểm đến của đường dây bí mật Nhật-Liên xô-Thụy điển giúp các quân nhân Mỹ đào ngũ. (Xem tài liệu  Levchenko). Stockholm cũng là nơi xẩy ra Toà Án Tội Phạm Chiến Tranh của Bertrand Russell. Các cuộc thảo luận thật sự của Hayden “tại Âu châu” với Bắc Việt có thể đã xẩy ra vào tháng 7 tại Hội nghị Stockholm về Việt-nam của World Peace Council mà Liên xô lập ra. Dĩ nhiên việc Hayden không cung cấp tên của một địa điểm chính xác tại Âu châu có thể chỉ là vì lơ đểnh mà thôi, tuy nhiên thường thì y rất là chi tiết. Tại sao vậy? Có phải chăng vì Hội nghị Stockholm về Việt-nam đã bị Bộ trưởng Tuyên Truyền Bắc việt (Tố Hữu) và Đảng Cộng sản Nhật đồng điều hành theo hướng dẫn và/hay kiểm soát của Liên xô? (Ngày Nay số ngày 1 tháng 11 năm 1988; tài liệu Levshenko)

2068  Neil Sheehan, New York Times , 18 tháng giêng năm 1968.

2069  Hayden, Reunion,  trang 220.

2070  New York Times , 18 tháng giêng năm 1967.

2071  Một cách giải thích khác có thể là khi viện dẫn chính danh một tờ báo vào một ngày tháng đích xác nào đó thì sẽ giúp cho y một kiểu “cắt bỏ” để làm lu mờ đi các chi tiết cụ thể về những lần tiếp xúc của y “tại châu Âu”. Ví dụ, Nguyễn Văn Hiếu đã là liên lạc chính cho y tiếp xúc với các cán bộ tại các nước cộng sản. Đọc: Viet Cong củaPike.

2072  Shaplen, Bitter Victory, trang 238.

2073   Stanley Karnow, “3 Freed GIs Put On Plane to Europe,” Washington Post, 13 tháng 11 năm 1967.

2074   “The Press in Vietnam: Striving to Usher in a New Period of Development,” Tạp Chí Cộng Sản, Tháng Chạp năm 1983, Joint Publication Research Service, (JPRS), Bộ Thương Mãi ~ Department of Commerce, (Bản dịch ra Việt ngữ) nêu ra trong  Indo…Chron, Bộ III, Số 1, (Tháng Giêng tới Tháng Ba năm 1984), trang 25.

2075  Tillman Durdin, “Mystery Clouds Release of 3 G.I.s by the Viet Cong.” New York Times, 12 tháng 11 năm 1967, trang 1.

2076   Như trên

2077   Stuart I. Rochester  và  Frederick Kiley, Honor Bound, American Prisoners of War in Southeast Asia 1961-1973, Annapolis: Naval Institute Press, 1999, trang 239.

2078   “Foe Hands 3 G.I.’s to Antiwar Group,” New York Times, 11 tháng 11 năm 1967.

2079   New York Times, 12 tháng 11 năm 1967.

2080  James E. Jackson Jr., “18 months as a Prisoner of the Viet Cong,” Ebony, Tháng 8 năm 1968, trang 114-119.

2081   Bell và Veith

2082   Bell và Veith

2083   Bell và Veith

2084   JACKSON, JAMES ELEX JR.

http://www.pownetwork.org/bios/j/j038.htm

2085   “3 Released G.I.s on Way to Prague,” New York Times, 13 tháng 11 năm 1967.

2086 Karnow, Post,  13 tháng 11 năm 1967.

2087   Bell và Veith.

2088   New York Times, 12 tháng 11 năm 1967.

2089   Roberts, Esquire, trang 208.

2090  Reunion, trang 231.

2091   Karnow, Post, 13 tháng 11 năm 1967.

2092   Hayden, Ramparts, 24 tháng 8 năm 1968.

2093   Reunion, trang 230.

2094   Về  đề tài Triều-tiên, hãy đọc: Natalie Grant, “Deception, a Tool of Soviet Foreign Policy” Washington: Nathan Hale Institute, 1987. Cited in Disinformation, Số Hè 1988, Số  9, trang 5.

2095   Samuels gởi cho Farah ngày 26 tháng 10 năm 1990 mà tác giả đang có.

2096   Peter Samuels nêu ra Perry trong một chuyện vào tháng 10 năm 1990 trên tờ  (Melbourne) Sunday.  Perry dựa trên các tài liệu của CIA và hai nhân chứng sở thị  — sĩ quan tình báo Liên-xô Yuri Krotkov và ký giả Hung Tibor Meray.  Các kết luận của Perry vào năm 1990 đã khác với tiểu sử Burchett cũng do y viết vào năm 1988 đăng trên  Exile do William Heinemann of Australia xuất bản.    

2097   Samuels nêu bài viết của Perry trên tờ Melbourne Sunday.

2098   Kraslow và Loory, trang 164.

2099   Shaplen, Bitter Victory.

2100  Đọc:  Bittman, KGB, trang 85, 86 tường thuật lời chứng của Yuri Krotkov trước ủy ban Thượng viện U.S. Senate Committee on the Judiciary năm 1969 và 1970.  Đọc thêm:  Le Matin (Tháng 10 năm 1970), trang 27-28; Denis Warner, “Australian Lord Haw-Haw,” National Review, trang 11 (Tháng 4 năm 1975), trang 395-397, 410; William F. Buckley, “Poor Wilfred Burkett,” National Review (Tháng 6 năm 1977), trang 668; S. Stephen Powell, Covert Cadre, trang 35 ghi chú 40 mà đã viện dẫn Russ Barley, Bad News:  Foreign Policy of the New York Times (Chicago:  Regency Gateway, 1984), trang 28-239, 342-343; Robert Mane, “The Fortunes of Wilfred Burkett:  A New Assessment,” Quadrant (Úc: Tháng 8 năm 1985) nêu ra trong Indochina Chronicles, Bộ IV, Số  3 (Tháng 7-8 năm 1985), trang 21.  Đọc thêm:  Levy, trang 340, 342, 344; Robert Mane, “Agent of Influence: the Life and Times of Wilfred Burkett,” McKenzie Media Report, ghi chú 13 (Toronto), nêu trong Indochina Chronicles (Tháng 4-6 năm 1989), trang 25. 

2101   Reunion, trang 231.

2102   Reunion, trang 228.

2103   Reunion, trang 231.

2104   “Ex-Viet Cong Aide Tells of American POW’s” New York Times, 13 tháng 11 năm 1967.

2105   Nick James Rowe, Five Years to Freedom, trang 292.

2106   Hershberger, trang 143.

2107  Neil Sheehan, “No Brainwashing of 3 POW’s Seen, State Department Dispatches Charge by Aides in Saigon,” New York Times, 18 tháng 11 năm 1967.

2108   Reunion, trang 232.

2109  Dan Pitzer, “The Release,” trong sách của Al Santoli, To Bear Any Burden, trang 162.

2110   Karnow, Post, 13 tháng 11 năm 1967.

2111   Hayden, Reunion, trang 232.

2112  Pitzer trong sách của Al Santoli, Bear Any Burden, trang 162.

2113    Reunion, trang 23.

2114   New York Times, 18 tháng 11 năm 1967.

*****

Một phản hồi to “Roger Canfield’s Americong #33”

Trackbacks/Pingbacks

  1. Giới thiệu tác phẩm AMERICONG (MỸ-CỘNG) – Lê Bá Hùng | Ngoclinhvugia's Blog - 05/01/2016

    […] Roger Canfield’s Americong #33 […]

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: