CÁC HỆ QUẢ VỀ VIỆC HOA KỲ BỎ RƠI ĐÔNG DƯƠNG

The Century-Old Vietnam War Puzzle

The Consequences of U.S. Abandonment of Indochina

Professor Robert F. Turner

Center for National Security Law

University of Virginia School of Law

Orange County năm 2010

 

Nan Đề Trăm Năm Về Cuộc Chiến Việt-Nam

CÁC HỆ QUẢ VỀ VIỆC HOA KỲ BỎ RƠI ĐÔNG DƯƠNG

Giáo sư Robert F. Turner

Center for National Security Law ~ Trung Tâm Luật Về An Ninh Quốc Gia

University of Virginia School of Law ~ Phân Khoa Luật Đại Học Virginia

Đọc tại Hội Nghị Về Việt Nam ở Orange County năm 2010

image002

Kính chào quý vị.

Tôi xin được ca tụng cả các mạnh thường quân đã đứng ra tài trợ cuộc hội quan trọng này, cùng luôn cả mọi người đã bỏ chút thì giờ để đến đây ngày hôm nay, hầu nghiêm túc hồi tưởng về một đoạn bi hùng, nhưng không kém phần quan trọng của lịch sử của chúng ta.

Cách đây ba mươi lăm năm, tôi đã rời Việt Nam lần cuối trong chuyến di tản cuối cùng khỏi Sài Gòn. Trước hết thì tôi đã bắt đầu dính líu bằng việc theo học  môn Vietnam War ~ Cuộc Chiến Việt Nam như là một sinh viên vào năm 1965. Tôi đã  là một trong những sinh viên tương đối ít oi từng tin tưởng là việc bảo vệ các dân tộc Đông Dương chống lại nạn xâm lược của Cộng sản đã là một việc chính đáng, và trong ba năm kế tiếp, tôi đã từng tham dự hơn cả 100 vụ “teach-in ~ dạy tại chổ”, rồi nào là các cuộc tranh luận và nhiều chương trình khác. Lần đầu tiên tôi đến Nam Việt Nam một thời gian ngắn với tư cách một phóng viên trong năm 1968, rồi đã trở lại hai lần như là một sĩ quan lục quân bổ trách cho Phân Phòng North Vietnam/Viet Cong Affairs ~ Công Tác   BắcViệt/Việt Cộng thuộc Tòa Đại sứ Mỹ, và sau đóthì cũng đã đến thăm nhiều lần trong vai trò cố vấn an ninh quốc gia cho một thành viên của Ủy ban Thượng viện Hoa Kỳ về Quan hệ Đối ngoại. Trong hơn hai mươi năm trời, tôi đã vẫn giảng dạy các môn ‘seminar ~ khóa cao đẳng’ tại Đại học Virginia về cuộc chiến này.

Thời giờ dành cho tôi thì cũng là hạn chế, nên tôi sẽ phải ngắn gọn. Nhưng trước khi đi về đế tài được giao phó thì tôi muốn được nói thêm một lời đề cao. Phần lớn “sự hiểu biết khôn thông thường” tại Mỹ ngày nay về cuộc chiến Việt Nam chỉ đơn giản là sai lầm mà thôi. Thật là đáng buồn, điều đó có nghĩa là phần lớn những gì đang được giảng dạy trong các trường trung học và đại học Mỹ thì đều chỉ là loại huyền thoại thay vì phải là có tính cách lịch sử.

Chỉ cần nêu ra đây hai ví dụ thôi:

  • Người ta vẫn cứ từng tuyên bố là Cuộc Chiến Việt Nam “bất thắng”. Tôi muốn được gia nhập vào số sử gia nỗi tiếng nhất của chúng tôi mà ngày hôm nay đang lớn tiếng tranh luận là không những nó đã có thể được chiến thắng, mà trên thực tế, chúng ta đã từng chiến thắng xong trên căn bản vào đầu thập niên 1970. (Và khi tôi dung chữ “chúng ta” thì không có nghĩa là chỉ quân đội Mỹ, mà đó chính đã là một nỗ lực phối hợp của quân đội  Nam Việt Nam và Mỹ cùng với người dân Nam Việt Nam). Đáng buồn thay, dưới áp lực của cái gọi là “phong trào hòa bình”, Quốc hội Hoa Kỳ trong tháng 5 năm 1973 đã thông qua một đạo luật hầu ngăn cấm Tổng thống chi tiêu hầu bảo vệ các nạn nhân của xâm lược Cộng sản ở Đông Dương. Khi làm như vậy, Quốc hội quả thật đã cướp giật chiến thắng đang có để biến nó thành một thất bại. Quốc hội cũng đã cam đành ngăn cản quân đội Việt Nam Cộng Hòa và nhân dân miền Nam Việt Nam tự bảo vệ bằng cách cắt đứt tiền, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, và đạn dược tối cần thiết để chống lại một cuộc xâm lược theo đúng nghĩa cổ điển của Bắc Việt với hang đoàn xe tăng do Liên Xô chế tạo. Đúng khi Quốc hội phản bội cam kết lịch sử của nước Mỹ để bảo vệ các quốc gia không Cộng sản tại Đông Dương, thì Liên Xô và Trung Cộng lại đã tăng cường viện trợ của chúng cho Hà Nội.

    *   Cái huyền thoại thứ hai mà tôi muốn nói sơ đến đã là chủ trương cuộc chiến Việt Nam là một cuộc chiến tranh “vô nghĩa” không có lý do chính đáng. Nhiều người Mỹ đã thành thật tin là chúng ta đã tham chiến tại Đông Dương chỉ vì một sự hiểu lầm trong Vịnh Bắc Bộ vào đầu tháng 8 năm 1964. Trong thực tế, như tôi đã từng nêu lên vào năm 1966 trong luận án cấp danh dự (honors thesis) của tôi và vào năm 1975 trong cuốn sách của tôi, Vietnamese Communism ~ Cộng sản Việt Nam, thì trong tháng 5 năm 1959, Đảng Lao Động tại Hà Nội đã quyết mở đường mòn Hồ Chí Minh và gửi hàng ngàn bộ đội lẫn vô số tấn thiết bị vào Nam Việt Nam với mục đích lật đổ chính phủ của quốc gia đó. Kể từ khi chiến tranh kết thúc, Hà Nội đã nhiều lần thừa nhận cái sự thực đó.

Nói một cách đơn giản, Mỹ đã chỉ tham chiến giúp đỡ người dân miền Nam Việt Nam tự bảo vệ, đúng y cùng cái lý do mà đã khiến chúng ta tham chiến tại Hàn Quốc vào năm 1950 – đó là để bảo vệ tự do của nhân loại và thực thi các quy định cấm xâm lược quy định bởi Hiến chương Liên Hợp Quốc. Đó cũng hoàn toàn phù hợp với những lý do từng khiến chúng ta đã chiến đấu trong thế chiến I và II. Tôi không có đủ thời giờ để thảo luận về điểm này ở đây, nhưng theo quan điểm của tôi, việc ngăn chận cuộc xâm lược của Cộng sản ở Đông Dương cũng tuyệt đối quan trọng như chống lại xâm lược trong những cuộc chiến tranh khác; và nếu chúng ta mà đã không quyết chí chống cự lại vào năm 1964, thì chắc hẳn chúng ta có thể cũng đã phải thua trong cuộc Chiến tranh Lạnh mất rồi.

Bây giờ tôi xin quay về lại với đề tài được giao phó: các hệ quả của việc bỏ rơi Đông Dương vào tay Cộng Sản.

“Phong trào hòa bình” thì vẫn từng bảo đảm với chúng ta là nếu chúng ta chỉ việc có rút quân và chấm dứt chiến tranh thì chúng ta sẽ thúc đẩy được các “nhân quyền” và “chấm dứt chết chóc”. Tôi rất ngại phải đề cập đến những gì đã xảy ra ở Việt Nam sau khi chúng ra rút quân, bởi vì vẫn đang có những người ngay trong căn phòng này cũng như ở mọi nơi khác tại “Little Saigon” mà đã từng đích thân phải buộc trải qua nên cũng đã phải biết nhiều hơn so với bất kỳ mọi điều mà các “học giả” Mỹ vẫn cầu mong được biết. Nhưng vẫn có một vài điều đã thật là quá ư rõ ràng.

Trước hết, tôi muốn đề cập đến vấn đề nhân quyền. Vào tháng 4 năm 1975, khi đã rỏ ràng cho mọi người là Cộng sản sẽ phải chiến thắng, Bí thư thứ nhất Đảng Lao Động là Lê Duẩn đã tuyên bố là, sau khi “giải phóng” được miền Nam Việt Nam, “Chúng ta sẽ biến mọi nhà tù thành những trường học”. Đến tháng 10 năm 1978, tờ báo London Times rất cóuy tín đã tường thuật đúng sự thật: bọn  Việt Cộng đã biến các trường học và trại trẻ mồ côi thành những trại tù vì họ đã có quá ư là quá nhiều tù nhân so với số các nhà tù đang có.

Cho dù Điều 11 của Hiệp Định Ba Lê 1973 đã ngăn cấm “mọi hành vi trả thù và phân biệt đối xử đối với các cá nhân hay tổ chức đã từng hợp tác với bên này hoặc bên kia” và đặc biệt bảo đảm quyền tự do báo chí, tự do tôn giáo, tự do sinh hoạt về chính trị, và một số các quyền thiêng liêng khác, thì trong tháng 3 năm 1977, tờ Quân Đội Nhân Dân lại công khai tuyên bố rằng: “chúng ta quyết cấm mọi hành vi nhằm chống đối chế độ xã hội chủ nghĩa và sẽ ngăn cấm bọn thù địch mọi quyền tư do vì chúng vẫn cứ oán ghét chủ nghĩa xã hội”. Bài báo này còn tuyên bố: “Đối với bọn  phản cách mạng . . . nhân dân ta quyết ngăn cấm quyền tự do ngôn luận và sẽ trừng phạt nặng nề bọn chúng”.

Vị dân biểu duy nhất của Quốc hội Việt Nam Cộng Hòa được phép cho tham gia vào cái gọi là  “Quốc hội Thống nhất” thì sau đó có tuyên bố: “Nhà cầm quyền mới đã cai trị bằng bạo lực và khủng bố. . . . Hoàn toàn không có tự do thành lập hiệp hội; không có tự do báo chí, hay cả tôn giáo, hay. . . thậm chí cả ý kiến cá nhân riêng rẻ . . . . Sợ hãi tràn lan khắp mọi nơi”.

Tự Do Báo Chí

Vào tháng 9 năm 1970, Daniel Sutherland, Trưởng Phòng tại Sài-gòn của tờ Christian Science Monitor (mà cũng là bạn của tôi vào lúc đó), đã có viết một bài  dài về “tự do báo chí” ở Nam Việt Nam. Ông đã viết: “Theo luật báo chí mới ban hành, Nam Việt Nam hiện nay đang có một trong những nền báo chí tự do nhất trong khu vực Đông Nam Á. . . . “. Tôi chắc chắn là tôi không phải là người duy nhất trong căn phòng này mà có thể làm chứng cho sự thật đó. Đã có tới hơn cả 30 tờ báo chỉ riêng ở Sài Gòn thôi, mà nhiều tờ thì lại cứ mạnh mẽ chống chính phủ.

Thật vậy, để lấy tài liệu cho nền tự do này thì tôi cũng thỉnh thoảng mang máy chụp hình của tôi và đi lang thang khắp Sài Gòn vào những buổi chiều chủ nhật khi tôi đã không phải làm việc. Tôi đã được thấy một cách công khai bày bán những cuốn sách như quyển People’s War, People ‘s Army ~ Chiến Tranh Nhân Dân ~ Quân Đội Nhân Dân của tướng Võ Nguyên Giáp (sách hướng dẫn khởi nghĩa của Việt Cộng), hay quyển Ho Chi Minh on Revolution ~ Tuyển Tập Hồ Chí Minh về Cách Mạng, hay cả một số sách của tay Cộng sản Cu-ba  là Che Guevara, và luôn cả sách của cùng về tay lãnh tụ Cộng sản Trung cộng Mao Trạch Đông.

Chỉ một ngày sau khi “giải phóng”, bọn chiến thắng Cộng sản bèn “tạm thời” đình chỉ xuất bản tất cả các tờ báo và tạp chí độc lập Nam Việt Nam. Chưa đầy một tháng sau đó, mọi hiệu sách đều bị đóng cửa và mọi buôn bán hay sở hữu bất kỳ tác phẫm nào từng được xuất bản “dưới chế độ cũ” đều bị cấm triệt để.

Tù Chính Trị

Một trong những  đề vấn lớn nhất đối với cácg người biểu tình chống Việt Nam đã là việc cái gọi là “chế độ phát xít” tại miền Nam Việt Nam vẫn đang nắm giữ hơn cả 200.000 “tù nhân chính trị”. Khi tôi trở lại Đông Dương vào tháng 5 năm 1974, (mà nhân đó, tôi cũng đã có đến thăm Campuchia và Lào), tôi đã quyết chí phải điều tra những cáo buộc này.

Tôi đã tới gặp Linh mục Chân Tín, người từng được xem như là lãnh tụ của “thành phần thứ ba”, nhưng rất là đáng nghi chỉ là một gián điệp của Hà Nội mà thôi. Tôi hỏi ông ta do đâu ông đã đưa ra con số “202.000 tù nhân chính trị”. Ông ta đã nói với tôi rằng ông đã chất vấn theo ước lượng của các cựu tù nhân cùng gia đình của họĩ. (Tôi nghỉ là đương sự đã chuẩn bị sẳn các câu trả lời trước rồi). Trên thực tế thì chỉ có khoảng 35.000 tù nhân trong tất cả các nhà tù của Nam Việt Nam mà thôi.

Tôi cũng đã có gặp một lãnh tụ cùa “lực lượng thứ ba” là bà Ngô Bá Thành, người mà đã nói với tôi là định nghĩa của bà ta về “tù nhân chính trị” thì sẽ cũng bao gồm luôn tay Sirhan Sirhan, tên cuồng tín Palistinian từng đã ám sát Thượng nghị sĩ Robert Kennedy vào tháng 6 năm 1968. Động cơ của đương sự, theo bà ta giải thích, khi đi giết vị ứng cử viên tổng thống nổi tiếng của Mỹ “đã là chính trị”.

Rồi thì cũng là đề tài nhiều tai tiếng là các “chuồng cọp” ở đảo Côn Sơn, từng bị mô tả với những lời này:

  • “. . . phòng giam dưới mặt đất, với trần làm bằng những thanh sắt thay vì là phải ở hai bên mà thôi. Trần giam đã bị cố tình xây quá thấp để các tù nhân sẽ không thể nào đứng thẳng lên được . . . . “.

 

  • “. . . những hố nhỏ đào sâu trong lòng đất và bị bao che bằng lưới sắt”.

 

  • “[Các chuồng] thậm chí lại là quá chật không đủ ngay cả cho một người Việt nhỏ thó mà có thể nằm dài xuống được và trần chuồng thì lại quá ư là thấp nên tù nhân hầu như không có thể đứng thẳng lên được”.

Do đó, tôi đã đi đến Côn Đảo và đã tận mắt xem xét được những cái từng bị gọi là “chuồng cọp” đó. Tôi nghĩ là ai cũng phải đồng ý quả tôi hơi lớn xác so với đa số người Việt Nam, ấy vậy tôi cũng đã không thể nào tuyên bố được là đã có thể vói gần được tới đụng các thanh sắt ở phía trên cùng của các phòng giam – mà trên thực tế, lại cao cả tới ba thước tây (khoảng 10 feet) nếu đo từ trên sàn lên.

Ngay cả cầu thủ bóng rổ Trung cộng là Yao Ming, chơi vai trung tâm trong đội bóng rổ Houston Rocket, mà chỉ cao có 7 foot 6 inches thì cũng sẽ có thể thoải mái vươn tay trong cái phòng giam rộng 5 foot by 10 foot của mấy cái gọi là “chuồng cọp” đó.

Ít ra thì cũng có một số trong đám biểu tình chống cuộc chiến Việt Nam mà cũng từng phàn nàn về “các chuồng cọp” đó thì cũng đã biết là chúng chỉ đang nói láo mà thôi. Tôi đã có cho một tên trong bọn trước khi đi Việt Nam vào năm 1974 là tôi đã dự trù sẽ đến thăm nhà tù Côn Sơn để đích thân tận mắt nhìn, và y ta đã trở thành rõ ràng rất ư là bối rối – rỏ ràng vì đã biết trước là tôi sẽ tìm thấy ra được những gì đó mà thôi. Y ta bèn cho tôi biết là vấn đề thực sự hiện nay thì lại là đang xẩy ra tại nhà tù Chí Hòa tại Sài Gòn.

Vì vậy, sau khi đi thăm Côn Sơn, tôi đã xin được phép vào thăm nhà tù Chí Hòa, và trong vòng không hơn 48 tiếng đồng hồ sau đó, tôi đã được phép thăm viếng trong nhiều giờ ở đó. Quả đó không phải là một nơi tôi sẽ chọn lực để sinh sống qua ngày, nhưng nó cũng đã không tồi tệ hơn so với đa số các nhà tù và tôi đã không có thấy dấu hiệu nào về một chính sách đối xử bất nhân. Tôi đã có nói chuyện riêng tư được với một số tù nhân người, và tuy họ cũng đã có rất nhiều bất mản, tất cả họ đều xác nhận với tôi là họ đã không hề đã bao giờ nghe thấy “những tiếng gào thét trong đêm khuya”, mà cũng không hề nói về việc từng bị tra tấn hay đối xử tàn tệ khác.

Hãy Chấm Dứt Việc Cứ Bừa Bãi Giết Người Mà Thôi

Điều cực kỳ bi thảm đã là việc sai lầm của cái đám biểu tình chống đối cuộc Việt Nam, khi chúng đã cứ khẳng định là nếu cắt đứt viện trợ cho Nam Việt Nam thì rồi chúng ta sẽ “chấm dứt được việc cứ bừa bãi giết người”. Và quả là chúng quá ư sai lầm.

Người bạn thâm giao của tôi là Giáo sư R. J. Rummel (người từng đã nhiều lần được đề cử cho giải Nobel Hòa bình) đã có ước tính là tổng số người thiệt mạng ở Nam Việt Nam sau khi “được giải phóng” đã lên tới cả là 643.000 người.

  • Có đến cả 100.000 người đã bị đơn giản hành quyết khi Cộng sản nắm quyền, mà thậm chí một hình thức về “thủ tục” hay xét xử cũng đã không hề có mà thôi.

 

  • Giáo sư Rummel ước tính đã có tới 400.000 người đã phải bỏ mạng trên biển cả như là những “thuyền nhân” nhân khi đang cố gắng chạy trốn khỏi chế độ độc tài và áp bức đang đắm chìm quê hương của họ. Cao Ủy Liên Hiệp Quốc về Người Tỵ Nạn đã có ước tính là khoảng một phần ba những người chạy trốn bằng thuyền đều đã chết trên biển cả -khi các chiếc thuyền chật nghẹt của họ bị chìm hay cũng ví đói khát, còn những người khác thì sau khi đã bị cướp bóc và hãm hiếp bởi bọn cướp biển. Cao Ủy cũng từng báo cáo là cuối cùng cũng đã có tới 840.000 người dân Nam Việt tới được Hồng Kông hay các nước không cộng sản ở vùng Đông Nam Á. Nếu chúng ta chấp nhận ước tính theo tỷ lệ đã từng có “một phần ba đã bỏ mạng”, thì con số này cho thấy đã từng có khoảng 1 triệu 3 người bỏ chạy trốn khỏi miền Nam Việt Nam bằng thuyền, và khoảng 420.000 người đã chết trong cố gắng đi tìm tự do. Như vậy thì cũng không phải là khác xa với con số ước tính 400.000 của Tiến sĩ Rummel.

 

  • Giáo sư Lewis Sorley, tác giả của cuốn sách cực kỳ quan trọng và nghiêm túc, A Better War ~ Một Cuộc Chiến Đúng Ra Đã Phải Tốt Hơn (mà tôi xin nồng nhiệt giới thiệu với quý vị), cũng có ước tính là đã từng có khoảng 250.000 cựu công chức và quân nhân Miền Nam Việt Nam trước đây, đã phải bỏ mạng trong các “trại cải tạo” do chế độ Cộng sản thiết lập.

 

  • Độ 1 triệu rưỡi người dân Nam Việt đã bị đày đi đến những nơi gọi là Vùng Kinh Tế Mới để phải sống trong những điều kiện khắc nghiệt khủng khiếp, và khoảng 48.000 người đã thiệt mạng ngay ở những nơi đó. (Tôi có quen rất nhiều người ngay trong cộng đồng này mà sẽ có thể kể những câu chuyện cá nhân của họ về cả các “trại cải tạo” và luôn “các vùng kinh tế mới”, và tôi xin khuyến khích mọi sinh viên hiện diện hãy tự đi thu thập và ghi nhận lại những đau thương đó cho lịch sử về sau).

Và rồi sau đó thì là đến phiên đất nước Campuchia. Khi Tổng thống Nixon gửi quân Hoa Kỳ vào Campuchia vào năm 1970 để tháp tùng với các lực lượng của QLVNCH Nam Việt, các trường đại học Mỹ từng đã bị phải đóng cửa vì các cuộc biểu tình đầy bạo lực nhằm chống lại cuộc xâm lược “bất hợp pháp”. Trên thực tế, cũng như Nam Việt Nam, Campuchia đã là một trong những “Protocol States ~ Quốc Gia Quy Định” mà Hiệp ước SEATO năm 1954 đã cam kết sẽ bảo vệ chống lại sự xâm lăng Cộng sản. Mười năm sau, khi Quốc hội biêu quyết với tỷ lệ 99,6% để ban hành một đạo luật hầu cho phép Tổng thống Johnson tham chiến ở Đông Dương, thì quy chế này tuyệt đối cũngáp dụng được cho Campuchia cũng như là Nam Việt Nam và Lào. Nghị quyết chỉ đơn giản viện dẫn đến các “Protocol States ~ Quốc Gia Quy Định” của Hiệp ước SEATO.

*****

Theo tài liệu của người chuyển ngữ nhận được từ GS Robert Turner thì chỉ có bấy nhiều trang trên.

Nhưng tại trang http://honqueviet.blogspot.ca/2013/01/hau-qua-cua-viec-hoa-ky-bo-roi-ong-duong_14.html  thì trong bài dưới đây, đã có thêm đoạn sau:

Hậu quả của việc Hoa Kỳ bỏ rơi Đông Dương

http://honqueviet.blogspot.ca/2013/01/hau-qua-cua-viec-hoa-ky-bo-roi-ong-duong_14.html

MONDAY, JANUARY 14, 2013,  BỞI HỒN QUÊ VIỆT

CĂM BỐT

Và còn chuyện xứ Căm Bốt nữa.

Khi Tổng thống Nixon gửi quân đội Hoa Kỳ sang Cam Bốt vào năm 1970 đề yểm trợ các đơn vị Việt Nam Cộng Hòa, khuôn viên các Đại học Mỹ bị đóng vì những cuộc phản đối đầy bạo động chống lại vụ xâm lược “phi pháp”.

Thật ra, về pháp lý thì y như Việt Nam, Căm Bốt là “quốc gia thành viên của Nghị định thư” -Protocole States- đã được cam kết bảo vệ chống Cộng sản xâm lăng trong khuôn khổ Hiệp ước SEATO năm 1954.

Mười năm sau, và với tỷ lệ đầu phiếu là 99,6%, khi Quốc hội Hoa Kỳ cho phép Tổng thống Johnson tham chiến tại Đông Dương, quy chế ấy hoàn toàn có thể áp dụng cho Căm Bốt như cho Việt Nam và Lào.
Nghị quyết ấy của Quốc hội chỉ cần dẫn chiếu “Protocole States” của hiệp ước SEATO (South East Asia Treaty Organization).

Tôi thăm viếng Căm Bốt nhiều lần trong năm 1974 và trong nhiều năm đã viết về Khờme Đỏ.

Thời ấy, việc họ là những kẻ sắt máu có dự tính tàn sát không tưởng tượng nỗi với đồng bào Khờme của họ thật ra chẳng còn là bí mật và dĩ nhiên, khi tôi trở lại Việt Nam vào Tháng Tư năm 1975, một trong những mục tiêu chính của tôi là để cố gắng cứu lấy đám trẻ cô nhi tại Căm Bốt.

Tôi đến quá trễ và có lẽ những đứa trẻ tôi hy vọng cứu được chắc là đã chết.

Không hề có một cuộc khảo sát dân số tại Căm Bốt và chẳng ai biết thực sự có bao nhiêu người đã sống tại nơi ấy.

Con số ước đoán về nạn nhân có những dị biệt lớn, với một số chuyên gia thì cho lả có hơn hai triệu.

Tài liệu khảo cứu khá nhất mà tôi được đọc là của Đại học Yale, nơi mà Chương trình của Yale về nạn Diệt chủng Căm Bốt ước tính là Pol Pot và bọn đao phủ của hắn đã thảm sát một triệu bảy trăm ngàn người – hơn 20% dân số toàn quốc.

Một bài báo về “các vùng thảm sát” của Căm Bốt trên tạp chí Nattonal Geographic Today trong số tháng Giêng năm 2004 cho chúng ta những chi tiết này: “Nhân viên hướng dẫn giải thích rằng đạn quá quý để dùng cho việc tàn sát. Rìu, dao và gậy tre thật đắc dụng hơn. Còn về trẻ em thì bọn đồ tể chỉ đơn giản dọng chúng vào thân cây”.

Ông Douglas Pike đã quá vãng, người mà tôi hoán đỗi công vụ nhiều lần trong Sứ quán Hoa Kỳ, có viết như sau về hậu quả nhân sinh của việc Hoa Kỳ bội ước sự cam kết của mình là sẽ bảo vệ người dân của các nước không cộng sản ở Đông Dương: “Dù có ước l­ượng dè dặt nhất, có nhiều thường dân Đông Dương bi bạo sát sau Chiến tranh Việt Nam hơn là tổng số nạn nhân trong thời chiến, ít ra là hơn hai triệu… Nỗi khổ đau lên tới mức chưa từng thấy, còn thê thảm hơn những ngày chinh chiến”.

Thật bi đát vì tôi nghĩ rằng ông Pike có lý. Và tôi lại càng tin rằng cộng đồng tại đây, đôi khi ngay trong hội trường, có những người có thể cung cấp những dữ kiện trực kiến về thảm kịch nêu ra như ta muốn tìm đến họ và ghi nhận lời chứng của họ.

Việc này thì chẳng ai có tâm trí bình thường lại thích làm, nhưng là điều mà những ai muốn truy lùng sự thật tới cùng vẫn có nhiệm vụ thực hiện.

Chúng ta phải kể lại chuyện này -một cách chính xác và cẩn trọng– để người khác sẽ biết rất lâu về sau, khi các nhân chứng cuối cùng không còn tại thế nữa.

Chúng ta phải kể lại, nếu không chuyện đó sẽ lại tái diễn.

Những ai thấy bàng hoàng về những chuyện đã xảy ra khi Cộng sản khống chế người dân Miền Nam Việt nam và của Căm Bốt hay Lào thật ra không hiểu gì về lịch sử hiện đại.

Nếu quý vị muốn biết rõ hơn về thảm kịch, tôi xin đề nghị tập sách do nhà Harvard University Press xuất bản có tên là “The Black Book of Communism”.

– Cuốn Hắc thư về Chủ nghĩa Cộng sản” do một nhóm trí thức Âu Châu thuộc khuynh hướng trung tả biên soạn, cuốn sách kết luận là trong thế kỷ 20, chủ nghĩa cộng sản quốc tế đã gây ra cái chết cho từ 80 đến 100 triệu sinh linh.

Những ai muốn biết sâu xa hơn về Chiến tranh Việt Nam có thể còn bị lầm lạc lớn nếu không chịu khó tìm đọc các cuốn sách do chư vị diễn giả nơi đây hoặc bằng hữu của chúng tôi đã biên soạn.

Đây là một vinh dự cho tôi khi được thuyết trình trước một cử toạ quan trọng như hôm nay và trong cơ hội long trọng này. Với những người giận dữ về sự bội phản của nước tôi 35 năm về trước, xin cho tôi được nói rằng sự giận dữ này cũng là sự giận dữ của bản thân tôi. Tôi yêu quý Hoa Kỳ và tin rằng đây là một xứ tuyệt vời nhất trên địa cầu nhưng khi đa số dân biểu, nghị sĩ của Quốc hội Hoa Kỳ phản bội nạn nhân của Cộng sản xâm lược họ cũng phản bội 58 ngàn 200 lính Bộ binh, Hải quân và Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ đã dâng hiến mạng sống trong sự hy sinh cao quý nhất cho chính nghĩa này. 

Họ cũng phản bội sự hy sinh của hai triệu bảy trăm ngàn người Mỹ đã từng phục vụ tại Việt Nam từ năm 1959 cho đến 1975.

Chúng ta không cải sửa được điều ác đã xảy ra nhưng chúng ta có thể nghiên cứu nó và có thể hành động để người Mỹ chúng ta lánh xa truyện thần thoại sai lạc mà hiểu rõ thảm kịch lớn lao của sự bội tín.
Tôi thiết tha kêu gọi giới trẻ trong cử toạ nơi đây là hãy tự nguyện giành một chút cố gắng để học hỏi trang sử này và chia sẻ với ng­ười khác.

Quan trọng nhất, hãy chú ý đến các cựu chiến binh và những người sống sót trong cộng đồng, hãy ghi lại lời kể của họ khi mình còn cơ hội.

Nếu mình làm được như vậy thì may ra những hy sinh lớn lao của thảm kịch bi đát này sẽ không bị uổng phí.

Xin cảm tạ quý vị và cầu xin Thượng Đế sẽ phù hộ chúng ta./.

***** 

Advertisements
%d bloggers like this: