Roger Canfield’s Americong #101

image002

Comrades in Arms

How the Americong Won the War in Vietnam

Against the Common Enemy— America

Copyright Roger Canfield, Ph.D.

1986-2012

No commercial transaction allowed except that approved by the author, copyright holder.

Obtain a prepublication release of a CD-R in Microsoft Word in ENGLISH at a discounted price of $15 from Roger Canfield Rogercan@pacbell.net at 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 or at http://americong.com.

Completely SEARCHABLE for any name, date, place or event of the War and its protesters.   

Cover: Design Stephen Sherman. Photos: Roger Canfield, March 2008. TOP: War protest Hawaii, February 1966 displayed at War Remnants (Crimes) Museum, Saigon. Bottom: Praetorian Guard

Các đồng chí cùng chiến tuyến

Làm thế nào MỹCộng thắng cuộc chiến Việt Nam

Chống kẻ Thù Chung – Mỹ

Giữ bản quyền Roger Canfield, Tiến Sĩ

1986-2012

Không được sử dụng vào mục đích thương mại nếu không có sự đồng ý của Tác giả, người giữ bản quyền.

Có thể mua một tiền bản dưới dạng CD-R Microsoft Word bằng Anh ngữ với giá đặc biệt US$15 ngay từ tác giả Roger Canfield  Rogercan@pacbell.net tại 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 hay tại  http://americong.com.

Hoàn toàn có thể TRA CỨU hoặc bằng tên, bằng ngày tháng hay biến cố liên quan đến cuộc Chiến cùng cả luôn bọn tham dự biểu tình .

******************************************************

* Tác giả giữ bản quyền © Roger Canfield 1986-2012

  • Lê Bá Hùng chuyển ngữ  (với sự chấp thuận của Tác giả)

 

*****

Chương 101

 

Ba-lê – Hội Nghị Các Công Dân

Nhằm Chấm Dứt Chiến Tranh Đông Dương

 Tháng 3 Năm 1971

 

Từ 3 đến 10 tháng 3 năm 1971, Hội đồng American Friends Service Committee (Stewart Meacham), tổ chức Clergy and Laymen Concerned (Richard Fernandez) và Fellowship of Reconciliation (Allan Brick) đã tài trợ cho 170 tên  Mỹ rời New York trên chuyến bay Iceland 200 đi tham dự một hội nghị kéo dài một tuần tên gọi là Citizens Conference on Ending the War tại khách sạn Garnier và khách sạn Moder Palace Hotel ở Ba-lê. 3816 Mục sư Richard McCollum và mụ Jane Whitney thì đại diện cho Hội đồng Hòa bình Syracuse. 3817 Elaine Schmitt Urbain, người sáng lập CALC và ủng hộ viên của Daniel Berrigan, đã đến từ Westchester. 3818 Bud Ogle, lãnh tụ sinh viên tại Đại học Virginia, đã đại diện cho phân bộ Charlottesville của CALC. 3819 Mục sư Bruce Pierce thì đến từ Michigan với chín tên khác. Harriet Price, một thành viên của AFSC lại đến từ Hancock County, Maine. 3820

Đám Mỹ do nhà thờ tài trợ đã gặp bọn đại diện Bắc Việt, MTGPQG, Mặt trận Thống nhất Quốc gia Kampuchia, Liên minh sinh viên Lào và “một số các nhóm Nam Việt phản đối chiến tranh (… Phật tử, Công giáo, học sinh và … các thành viên bất đồng chính kiến ​​tại Quốc hội …)”. Trong số Việt cộng, thì có Xuân Thủy, tay đàm phán và mụ Nguyễn Thị Bình (cả hai tới nhưng không ở lại họp), Thích Nhất Hạnh, Cha Thi, Lê Trang, một Thích Châu gì đó.

“Các Chuyên viên về Đông Dương”

Các tay nhà báo và “chuyên gia Đông Dương”  tới tham dự gồm có Wilfred Burchett, Serge Thion, Jacques Decornoy, Madeleine Riffaud và Jean Lacourture. 3821 Các thành viên “chuyên gia Đông Dương” đều là bọn chống đối về chính trị rất điêu luyện y như bọn tuyên truyền trong các bộ tại Hà Nội.

Jean Lacouture là tay viết tiểu sử của Hồ Chí Minh và là một chuyên gia về Campuchia.

Madeleine Riffaud, tự xưng là chị Tám, từng sống chung với Việt Cộng 3822  trong thời chiến và là một anh hùng được trao tặng nhiều huy chương cao cấp  của chính phủ Bắc Việt. 3823

Serge Thion, một nhà xã hội học Pháp và một học viên rất nhiều cảm tình với cuộc cách mạng tàn bạo Campuchia mà sẽ là một kẻ không bao giờ chịu công nhận vụ diệt chủng Campuchia là có thật. 3824

Jacques Decornoy của tờ Le Monde thì từng sống chung với bọn du kích cộng sản Pathet Lào, đã từng tường thuật về những vụ không tạc vào những kẻ “vô tội” tại Lào nhưng lại không hề bao giờ nói tới cái đường mòn Hồ Chí Minh xuyên Lào của Bắc Việt.

Kolko: “Những Cuộc Gặp Gở Rất Ư Là Lợi Ích”

Ai mà đã được Hà Nội thông qua về an ninh thì sẽ được ưu đãi. Giáo sư Gabriel Kolko nhớ lại, “Tôi đã có được những buổi họp liên tục, sâu đậm và cực kỳ bổ ích (trao đổi thường xuyên) với nhân viên Mặt trận Giải phóng Quốc gia và Bắc Việt phục vụ tại châu Âu”. 3825 Jay Veith báo cáo có đọc “một điện văn được dịch trong một cuốn sách của Bắc Việt về ngoại giao vào khoảng cuối năm 1974 mà trong đó cho thấy chúng đã được Gabriel Kolko cung cấp những gì y từng điều trần trước Quốc hội”. 3826  Tài liệu điều trần trước Quốc hội chắc chắn đã là rất “lợi ích” cho Hà Nội.

Đám tham dự hội nghị cũng hứa sẽ gặp các phái đoàn Mỹ và Nam Việt. 3827 Nhưng chỉ có 12 trong số 170 tham dự viên mới đã có một cuộc họp ngắn mang tính cách tượng trưng  với Đại sứ David K. E. Bruce, người Mỹ phụ trách về đàm phán. 3828  Ngược lại cả nhóm đã dành đủ bảy ngày họp với kẻ thù đang muốn “định ngày” cho Mỹ rút quân và hứa sẽ chấp nhận một chính phủ liên minh không có Thiệu hay Kỳ. Tay sinh viên vừa tốt nghiệp môn sử và cũng là mục sư Tin lành tên Arthur “Bud” Ogle lên án nhân dân Mỹ chịu làm “Người Đức Tốt Bụng” trước cảnh tàn phá ở Đông Dương mà có thể so bằng với thời Hitler”. 3829

Đoàn Kết và Hữu Nghị Trong Số Đồng Chí Anh Em

Hội nghị đã kết thúc trong một sự biểu dương khá cảm động của tình đoàn kết và hữu nghị trong số bạn bè đồng chí anh em.

 

Hát Dân Ca

Tại buổi tiếp tân của Bắc Việt, ca sĩ Judy Collins đã hát một ca khúc tiếng Pháp, một Việt nữ thì đã hát một bài hát về tình yêu, llides Christopher hát quốc ca người da đen và tất cả đồng hát bài “We Shall Overcome ~ Chúng ta sẽ chiến thắng”.  Mục sư William T. Gramley bèn nói: “Tôi mong người Mỹ nghe được những bài hát này … Tôi không nghĩ là chúng ta sẽ còn nghiên cứu về chiến tranh nữa nếu điều đó xảy ra”. Nói chung, “đã có tiếng cười vang, có lệ đổ và bạn bè ôm nhau hun hít”. Buổi mừng vui đã kết thúc bằng cùng hát quốc ca Bắc Việt. 3830

Rất tự tin về tình nhân loại của mình, Linh mục Gramley đã tuyên bố: “Một chính phủ liên minh đều được mọi người chấp nhận, ngoại trừ bọn độc tài ở Sài Gòn”.  Sẽ không có đàm phán trước khi ngày rút quân được quy định. Gramley cũng ủng hộ Hiệp ước Hòa bình Nhân dân.

Cho Phép Đi Lại Trong Các Khu Tử  Địa Của Phóng Viên, Lào và Kampuchia

Jacques Decornoy đã liên lạc được với viên tướng chỉ huy QĐND Bắc Việt là Đại tướng Võ Nguyên Giáp 3831 và đi đến được các chiến trường Lào, 3832 nơi các nhà báo phương Tây khác đã từng bị bắt và xử tử. Nói chính xác thì trong những tháng 4 và 5 năm 1971, du kích của Khieu Samphan tại Kampuchia đã sẽ chận bắt rồi dùng rựa chặt chết mười bảy nhà báo, 3833 nhưng không hề đụng tới bọn đã được phê duyệt là “Chuyên gia Đông Dương” như Decornoy, Thion, Riffaud, Lacouture để khỏi bắt chúng chịu chung số phận như vậy trong cùng những khu vực đó.

Khu Tử Địa Của Thường Dân, Kampuchia  

Trong tháng 5, theo hãng Reuters, Việt Cộng đã cắt cổ họng, mổ bụng và chôn sống 200 dân làng trên quốc lộ 3 giữa Nam Vang và hải cảng Kampot vì họ đã từ chối đào hố sâu và rộng để đắp mô phá đường hầu gây trở ngại cho quân đội chính phủ Kampuchia. 3834 Vào tháng 9, phía bắc Nam Vang, Cộng sản đã xử tử 300 dân làng vì họ từng tham gia vào một cuộc biểu tình chống Việt Cộng. 3835

Tại hội nghị, Allan Brick đã gặp gã Đại Đồng, tên tiếng Việt của một tên Cộng sản Pháp từng phụ trách tẩy não các tù binh Pháp; đó là Georges Boudarel mà những tù binh Pháp cũ đã từng cáo buộc về tội chống lại nhân loại. Giáo sư Shawn McHale của Đại học George Washington có nói Boudarel / Đồng là “một phần trong đống” dịch vụ “kinh khủng” gọi là địch vận, áp dụng để tuyên truyền làm thay đổi tư tưởng các tù binh Pháp. Đại Đồng / Georges Boudarel đã không hề bao giờ bị truy tố, 3836 và có lẽ vì y đã hối hận về cách đối xử với tù binh của mình nên đã góp ý cho McHale vào năm 1992 là hãy đọc bộ Gulag Archipelago  của Solzhenitsyn trước khi đến Việt Nam. 3837

Hoàn toàn bất chấp các tội ác của cộng sản, Hội nghị của Công dân về Chấm dứt  Chiến tranh ở Đông Dương vẫn xúc tiến xem như không có gì đã xẩy ra với “Chủ đề của chúng ta (Bắc Việt) là cái gì quả cần thiết cho hòa bình? Và câu trả lời [không có gì phải ngạc nhiên] đã phải là một lệnh ngừng bắn và rút quân của Mỹ …” . 3838  Một số 150 tên trong toàn thể 170 bèn ký một điện tín gởi cho Tổng thống Nixon yêu cầu phải quy định ngày tháng cho việc Mỹ phải rút quân và hoàn toàn chấm dứt hỗ trợ Sài Gòn. 3839 Phải hòa bình. Phải đầu hàng.

Khi trở về Bethlehem,  Mục sư gốc Pennsylvania là William T. Gramley có báo cáo là tuy các tù binh sẽ không được phóng thích khi mà quân đội Mỹ vẫn chưa chịu rút đi thì họ vẫn đã được đối xử nhân đạo. 3840 Gramley quả đã cảm thấy “muốn yêu thương mọi người và được họ cũng yêu lại mình … trên cơ sở tình bạn”.  3841 Mụ Allides Christopher thì lại cho biết, “Chúng tôi được biết là tệ nạn mãi dâm tràn lan đã trở lại kể từ khi chiến tranh xẩy ra”. Y thị nói là cần phải “mang lại việc chấm dứt chiến tranh này để các anh em chúng ta sẽ có thể ở lại đây hầu chiến đấu chống lại (cái) sự áp bức ở Mỹ”. 3842

Abbie Hoffman tại Ba-lê

Abbie Hoffman, một tên tội phạm từng đã bị kết án và vợ y là Anita Susan Kushner đã đón David Dellinger tại cổng số 5, sân bay JFK, có lẽ để được báo cáo hay để đưa tin cho bọn Việt cộng trước khi bay chuyến American Airlines 114 đến Ba-lê vào ngày 18 tháng 3. Cặp Hoffmans đã đến quá trể cho buổi họp  chính thức với Việt cộng. Một Tòa Kháng cáo có ra án lệnh cho phép y đi xuất ngoại với lý do y đã đệ trình là xin được đi gặp các nhà xuất bản Pháp của mình là M. Mario Machueck và Robert Laffont. 3843

Cặp Hoffmans đã gặp riêng bọn Việt cộng, với Anita thì là lần thứ ba kể từ các cuộc họp ở Stockholm và Hà Nội. Mụ Bình đã có dùng trà với cặp Hoffmans, đã từ chối không cho thu băng, nhưng đã tặng Abbie Hoffman một chiếc nhẫn được làm từ kim loại của một máy bay Mỹ từng bị bắn hạ trên bầu trời Bắc Việt. Nhân khi phát biểu về các cuộc họp của y tại Ba-lê ở tại Đại học Oklahoma ngày 28 tháng 4 năm 1971, Hoffman đaq4 thúc giục mọi người hãy hỗ trợ cho Hiệp ước Hòa bình Nhân dân, cho các cuộc biểu tình trong tháng 5 tại Washington, cho các cuộc nổi loạn trong quân đội Hoa Kỳ và đã gửi các băng đã được thu trước  để được phát thanh trên Đài Hà Nội, giống như của John Lennon và Yoko Ono. Hoffman đã nói, “The only dope worth shooting was Richard Nixon ~ Richard Nixon là món xì ke tốt duy nhất để tiêm”. 3844

WPAX

Vào ngày 1 tháng 3 năm 1971, Hoffman đã viết cho Mathew Rinaldi của U.S,. Servicemen Fund thông báo về kế hoạch của y để đài WPAX phát thanh về cho quân đội Hoa Kỳ ở Đông Nam Á. “Jane Fonda sẽ đích thân phụ trách chương trình trong tuần đầu tiên ở Bắc Việt vào ngày 15”. 3845

Jane Fonda, Mark Lane và thành viên VVAW là Michael Hunter đã gặp mụ Bình trong chốn riêng tư ở Ba-lê. Đám VVAW sau đó đã bán được tám băng ‘cassette’ và trụm chung toàn bộ ghi chú của các lần trò chuyện với Việt cộng với giá $45 đô Mỹ. 3846

Fonda: Luân Đôn, Trại Fort Bragg

Sau đó, tại Luân đôn, Jane Fonda đã mô tả các tội ác Mỹ như là “kê điện cực vô bộ phận sinh dục, hiếp dâm tập thể, cắt đứt các bộ phận cơ thể, lột da, lột da sống …”  3847 Y thị quả đã tin tất cả các hình thức tuyên truyền kinh khủng của Việt cộng. Tại công trường Haymarket Squar ở Fayetteville gần trại Fort Bragg, Bắc Carolina vào ngày 13 và 14 tháng 3, Fonda đã chủ tọa một chương trình để tài trợ USSF mà nhóm này thì lại tài trợ cho Winter Soldier. Tờ quảng cáo  của chương trình quảng cáo sự hiện diện của Dick Gregory, Peter Boyle, Elliot Gould, Barbara Dane, Don Sutherland và Swamp Dogg. 3848

Ngày 17 tháng 3 năm 1971, theo một nguồn FBI, “Bọn Bắc Việt tại Moscow đã mua một vé máy bay cho Fonda để đi lại giữa Mỹ, Moscow và Hà Nội … tuy nhiên chuyến đi đã không thực hiện được vì sau đó tất cả các thị thực chiếu khán đi Bắc Việt đều đã bị hủy bỏ”. 3849

Vào ngày 31 tháng 3 năm 1971, Fonda đã có nói chuyện với sinh viên tại đại học Pierce ở Woodland Hills, California. Fonda quả quyết là mọi việc đều rất tồi tệ với cái đất nước của y thị, “tiêu diệt cả một dân tộc” tại Việt Nam và “vi phạm mọi … tội ác về chiến tranh có thể có được”. Tù binh Mỹ thì đều lại đã được “đối xử nhân đạo hơn” so với tù binh Hàn Quốc và Nhật Bản trước kia. Y thị đã so sánh Trại Pendleton với các “chuồng cọp” tại Việt Nam.

Y thị đã tuyên bố là chủ nghĩa đế quốc Mỹ ở Việt Nam cũng tương tự như sự chiếm đóng California và Texas, “một lịch sử về phân biệt chủng tộc và diệt chủng”. Xã hội Mỹ cần phải được sữa lại để loại bỏ “nạn phân biệt chủng tộc và phân biệt giới tính cùng nghèo đói”. Y thị còn nói “mọi người trong tù đều là một tù nhân chính trị”. Y thị tuyên bố là binh lính đang nổi loạn tại Việt Nam, đang đào ngũ và đang giết sĩ quan của họ. “Tôi … đã gặp … những người lính mà đã cho biết họ từng đã giết chết nhiều sĩ quan của họ hơn là người Việt Nam”. Y thị thúc đẩy khán thính giả sinh viên của mình hãy đọc cuốn sách của tên điệp viên KGB Wilfred Burchette tựa là Vietnam Will  Win. 3850

*****

 

3816  Phúc trình FBI, “Travel of U.S. Citizens to Paris, France, sponsored by Clergy and Laymen Concerned About Vietnam, American Friends Service Committee, and Fellowship of Reconciliation, 3-10 tháng 3 năm 1971, 23 tháng 3 năm 1971, hồ sơ số  100-11392 tại FBI, FOIA, A, AFSC.

3817  “Paris for Peace”, Peace Newsletter, Syracuse Peace Council, Tháng 2 năm 1971 SPC 657, trang 1.

3818  “The Rupert Schmitt Family,” tại http://www.bmcproject.org/Biographies/aaTDownload/SCVHMITTurbainElaineBIO/Schmit

3819  The Cavalier Daily, 25 tháng 2 và 19 tháng 3 năm 1971.

3820  Hướng dẫn về Harriet Price Papers,” Fogler Library, Bộ Sưu tập Đặc biệt Special Collection, Đại học University of Maine. 

3821  “Bring the GIs Home Message From Paris,” Courier-Post (Camden), không ghi ngày (giữa tháng 3 năm 1971) trong FBI, FOIA, “A”, AFSC.

3822  Madeleine Riffaud, Dans les maquis, ‘Viet Cong,” Paris: Julliard, 1965.

3823  “Veteran French journalist presented with Viet Nam’s Friendship Order “, Bộ Ngoại giao, Chính phủ Bắc Việt,  24 tháng 8. 

3824  Serge Thion, “Letter to the Signatories,’ Phnom Penh Post,  2 tháng 10 đến  2 tháng 11 năm 1995, trang 89, tại  abbc.net/totus/CGCF/file23thion.html.

3825  Gabriel Kolko, Vietnam; Anatomy of a Peace, London: Routledge, 1997, trang 15.

3826  Jay Veith nói với tác giả, 12 tháng 7 năm  2011; điện tín của Võ Văn Sung (Ba-lê) gời cho Nguyễn Cơ Thạch (Hà-nội) 25 tháng chạp năm 1974,  Bộ 187, Văn phòng Lưu Trữ Archives Office, Bộ Ngoại giao, trong Major Events: The Diplolomatic Struggle and International Activities During the Resistance War Against the Americans to Save the Nation, 1954-1975,  Chỉ phổ biến nội bộ, Bộ Ngoại giao, Hà-nội, 1987, trang 436.

3827  Citizens Conference on Ending the War in Indochina, bản tin, Seattle, Washington, 25 tháng 2 năm 1971 trong hồ sơ FBI, FOIA, “A”, AFSC.

3828  “Bring the GIs Home Message From Paris,” Courier-Post (Camden), không ngày (giữa tháng 3 năm 1971) trong hồ sơ FBI, FOIA, “A”, AFSC.

3829  The Cavalier Daily,  25 tháng 2 và 19 tháng 3 năm 1971 theo  Ellen Cousins.

3830  William Gramley, “North Vietnamese Reception High Point of Paris Trip,” Globe-Times, N.D. (giữa tháng 3 năm 1971) trong hồ sơ FBI, FOIA, A, AFSC.

3831  Jacques Decornoy, Le Monde, 8 tháng chạp năm 1966,  “Jacques Decornoy interviews General Vo Nguyen Giap”, giải mật hồ sơ CIA về chiến tranh Việt-nam, đại học  University of Saskatchewan, library2.usask.ca/Vietnam/index.php?state=view&id=742.

3832  Jacques Decornoy, “Life in the Pathet Lao Liberated Zone,” trong sách của Nina Adams và Alfred McCoy (x.b.), Laos: War and Revolution, New York: Evaston and London: Harper Colophon books, 1970, trang 411-423; Noam Chomsky viện dẫn Decornoy trong số tháng 7 [trang 3, 7-8], năm 1968 của báo  Le Monde trong thơ của Chomsky, “Cambodia”, số 4 tháng 6 năm 1970 của New York Review of Books, tại  nybooks.com/articles/10923.

3833  Jean Lacouture, “The Revolution that Destroyed Itself,” Encounter, Tháng 5 năm  1979 viện dẫn trong sách của Robert Elegant, “How to Lose a War: The Press and Vietnam,” Encounter, (London), bộ LVII, Tháng 8 năm 1981, trang 73-9 tại  Wellesley.edu/Polisci/wj/Vietnam/readings/elegant.htm

3834  “Murder of 200 by Reds Reported in Cambodia,” Washington Star, 30 tháng 5 năm 1971

3835  “Cambodia Says Reds Executed 300 Villagers,” Washington Star, 15 tháng 10 năm 1971.

3836  “Dai Dong meeting in Paris”,  Fellowship of Reconciliation-USA, DG 013, Section II, Series C, Executive Secretaries/Directors, Swarthmore Peace Collection. Vào thời gian đó, có một tên Georges Boudarel đã dạy môn Sử Việt tại Ba-lê. Các cựu tù binh Pháp có nhớ y là Đại Đồng, một tên chuyên viên về nhồi sọ mà đã từng phạt tù binh phải chết vì đói. Vào năm 1991 đã có vài người tìm cách truy tố y về tội chống lại Nhân loại. Đọc: Alan Riding, Paris Journal; Vietnam Echo Stuns France: Case of Treachery?” THE NEW YORK TIMES, 20 tháng 3 năm 1991.

3837  McHale  tuyên bố với nhóm Vietnam Studies group, 6 tháng giêng  năm  2004 tại www.lib.washington.edu/SouthEastAsia/vsg/elist_2004/georges%20boudarel.html

3838  “Bring the GIs Home Message From Paris,” Courier-Post (Camden), không ngày tháng (khoảng giữa tháng 3 năm 1971) trong hồ sơ FBI, FOIA, “A”, AFSC.

3839  “Returning Pair See No Progress in Visit to Paris Peace Talks”, tin trên báo tại Bethlehem, Pennsylvania, không ngày tháng (khoảng giữa tháng 3 năm 1971) trong hồ sơ  FBI, FOIA, “A”, AFSC.

3840  “Returning Pair See No Progress in Visit to Paris Peace Talks, tin trên báo tại  Bethlehem, Pennsylvania, không ngày tháng (khoảng giữa tháng 3 năm 1971) trong hồ sơ  FBI, FOIA, “A”, AFSC.

3841  William Gramley, “North Vietnamese Reception High Point of Paris Trip,” Globe-Times, không ngày tháng  (khoảng giữa tháng 3 năm 1971).

3842  “Bring the GIs Home Message From Paris,” Courier-Post (Camden), không có ngày tháng (khoảng giữa tháng 3 năm 1971) trong hồ sơ FBI, FOIA, “A”, AFSC.

3843  FBI, FOIA, Abbot Howard Hoffman, Giám đốc FBI gởi cho Legat Paris, 3/19/71.

3844  FBI, FOIA, Abbot Howard Hoffman, [sữa lại],  Washington phúc trình và trích lục diển văn của Hoffman tại đại học University of Oklahoma, 9 tháng 4 nămn 1971, trang 10; FBI, FOIA, Abbot Howard Hoffman, Viễn tín, Oklahoma City gởi Giám đốc FBI, David Tyre Dellinger, AKA, ET Al (Travel of defendants), 4-29-71, trang 2; AP, STILLWATER, “Hoffman Says Antiwar Drive at Critical Point”, tháng 4 [ngày 29 hay 30], 1971; FBI, FOIA, Abbot Howard Hoffman, Chicago, LHM, Trích lục về Abbie and Anita thuộc “Howard Miller’s Chicago” TV show, 19 tháng 5 năm 1971; FBI, FOIA, Abbot Howard Hoffman, Các báo cáo [sữa lại] New York, 6/22/71. 

3845  Tang vật 2, Hạ viện Mỹ, ủy ban Internal Security Committee, Điều tra Investigation of Attempts to Subvert the United Sates Armed Servives, đưọc nêu ra trên The Pink Sheet,  29 tháng 10 năm 1973, trang 3.

3846 National VVAW News, không ngày tháng, 1971.

3847  Christopher Andersen, Citizen Jane, London: Virgin Books, 1990, trang 241. Cũng trong sách của Scott Swett và Tim Ziegler, To Set the Record Straight: How Swift Boat Veterans, POWs and the New Media Defeated John Kerry, New American Media 2008, trang 8.; “Timeline,” Wintersoldier.com , 21 tháng 5 năm 2005, trang 10 tại www.wintersoldier.com  được viện dẫn trong sách của Rothrock, trang 126 ghi chú 83.

3848  Truyền đơn có lưu tại http://www.quakerhouse.og/QH%20Exhibit/panel5.htm.

3849  Jack Anderson, cột báo ngày 11 tháng 5 năm 1972 được viện dẫn trên The Pink Sheet, 29 tháng 10 năm  1973, trang 3.

3850  Jane Fonda, diển văn tại  Pierce College, March 31 tháng 3 năm 1971 được thu băng để phát lại trên đài KPFK.

 *****

Một phản hồi to “Roger Canfield’s Americong #101”

Trackbacks/Pingbacks

  1. Giới thiệu tác phẩm AMERICONG (MỸ-CỘNG) – Lê Bá Hùng | Ngoclinhvugia's Blog - 05/01/2016

    […] Roger Canfield’s Americong #101 […]

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: