Suy Nghiệm về cuộc Chiến Việt Nam #1

Reflections on the Vietnam War

Đại Tướng Vao văn Viên

&

Trung Tướng Đồng Văn Khuyên

*****

~  Lê Bá Hùng chuyển ngữ  ~

Chương Thứ 17 thuộc

Cuộc Chiến Việt Nam:

theo

Quan Điểm Các Tướng Việt Nam Cộng Hòa

*****

The Vietnam War:

An Assessment by South Vietnam’s Generals

Dec 1, 2010, by Lewis Sorley

(Texas Tech University Press)

LỜI TỰA

Cuộc chiến Việt Nam đã quả thật là một kinh nghiệm bất thường, mà cũng đầy rối răm. Được điều khiển và xúc tiến bởi Cộng sản Bắc Việt, dưới chiêu bài giải phóng quốc gia, nó đã là một kết hợp giữa chiến tranh bạo loạn với chiến tranh quy ước. Nó đã khởi đầu bằng những chiến thuật du kích, nhưng rồi đã biến thành, để rồi kết thúc với một hành vi xâm chiếm công khai. Tuy nhiên, trên căn bản thì nó vẫn là một cuộc tương tranh về ý thức hệ, mà kết quả tối hậu thì cũng sẽ tùy thuộc vào sự tham gia cùng yểm trợ của người dân mà thôi.

Các đòi hỏi hầu có thể xúc tiến được một cuộc chiến như vậy, thì đúng là muôn trùng và đầy thách đố. Chiến thuật chống dấy loạn đã bắt chúng tôi phải trưng dụng các tài nguyên đang có hầu củng cố chế độ, rồi lại phải bảo vệ người dân để được họ chấp thuận phục tùng theo, và cũng phải dẹp bỏ cho được cơ sở hậu cần của địch và bung rộng sự hiện diện của quân đội ra khắp nơi trên toàn lãnh thổ để gìn giữ an ninh. Mọi công tác đó thì cũng đều đã phải được thực hiện trong một môi trường với một chống đối về chính trị và xã hội thì cứ càng ngày càng bị phân tán. Để đáp ứng lại với mối hiểm họa của những trận tấn công cổ điển quy mô, thì chúng tôi cũng đành phải chấp nhận sự hiện diện của các hậu cần địch đặt ngay trong mấy nước láng giềng, rồi nào là địa thế trắc trở của các vùng địa đầu đất nước, cùng với việc địch cứ liên tục xuôi Nam xâm nhập mà thôi. Ấy vậy, các nổ lực của chúng tôi cũng đã bị trở ngại nặng nề vì lực lượng thì không đầy đủ để thích ứng và cũng vì chính ngay các chính sách từng bị mang ra áp dụng.

Để có thể phân tích, hầu bình luận cho được chuổi biến chuyển mà đã đưa đến kết quả cuối cùng của cuộc chiến, để rồi từ đó, rút ra cho được một bài học từ các thất bại lẫn thành đạt của chúng tôi, thì chúng tôi đã dựa phần chính ngay vào sự am tường trực tiếp và tận mắt của chúng tôi về các sự kiện chính yếu, cũng như là sự tham gia cúa chính cá nhân chúng tôi trong các nổ lực chiến tranh đó. Chúng tôi hy vọng là khi thảo luận và bổ túc thêm bằng những hiểu biết mới mẻ về các điểm nổi bật từng được nêu lên trước rồi trong các bài biên khảo của loạt tài liệu này, thì chúng tôi cũng sẽ có thể cung cấp được một quan điểm thiết yếu lẫn toàn diện, về kinh nghiệm chiến trận của bên phía Miền Nam Việt Nam . . . [Cao Văn Viên và Đồng Văn Khuyên, ngày 20 Tháng Chạp Năm 1978].

I/

XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC VÀ BẠO LOẠN: 1954 – 1963

Hiệp định Genève năm 1954 đã chấm dứt cuộc chiến tranh giữa Pháp và Việt Minh tại Đông Dương và đã tạm thời chia nước Việt Nam ra làm hai phần, cách nhau bởi con sông Bến Hải tại vĩ tuyến 17. Gần cả một triệu người dân Bắc Việt đã quyết định di cư xuống Nam, nơi mà họ đã cùng chung với người miền Nam cùng Quân Đội Quốc Gia Việt Nam, mong muốn xây dựng một quốc gia mới. Với sự yểm trợ trực tiếp của Hoa Kỳ, Nam Việt Nam đã trở thành một nền cộng hòa tự do cương quyết chống Cộng.

Liền sau khi rút xong khỏi phần đất trên vĩ tuyến 17 để xuôi Nam, thì Quân Đoàn Viễn Chinh Pháp cũng bắt đầu rút khỏi miền Nam Việt Nam, và nhà cầm quyền Pháp cũng đã chuyển giao toàn quyền lại cho chính phủ quốc gia do ông Ngô Đình Diệm cầm đầu. Phái Bộ Quân Sự Pháp phụ trách cố vấn cho Quân Đội Quốc Gia Việt Nam cũng được thay thế bởi một phái bộ huấn luyện hỗn hợp Mỹ-Pháp (TRIM, Training Relations and Instruction Mision) mãi cho tới ngày 28 tháng 4 năm 1956, rồi thì Bộ Chỉ Huy Tối Cao Pháp tại Đông Dương bị giải tán và sự kiện này cũng đánh dấu việc chấm dứt can dự của Pháp tại Nam Việt Nam. Từ đó trở đi, thì Nhóm Cố vấn và Viện trợ Quân sự Hoa kỳ tại Việt Nam (US Military Asistance Advisory Group, Vietnam MAAG-V) thay thế đãm trách sứ mệnh huấn luyện, tái tổ chức và cố vấn cho các lực lượng quân sự của Nam Việt Nam.

Khái Niệm Phòng Thủ

Chiến lược quân sự của Hoa Kỳ tại vùng Đông Nam Á vào thời điểm đó thì rõ ràng là đã bị ảnh hưởng nặng nề bởi kinh nghiệm chiến trận tại Hàn quốc dạo 1951 đến 1953. Do đó, khi giúp cho Nam Việt Nam tái tổ chức việc phòng thủ quốc gia thì MAAG-V đã đưa ra khái niệm nhằm triển khai thật đầy đủ các lực lượng bộ binh theo quy ước, trở xuống từ Vùng Phi Quân sự, hầu đối phó với một trận tấn công công khai từ miền Bắc xuống. Như MAAG-V đã phát họa, nhiệm vụ chính yếu của Quân Đội Quốc Gia Việt Nam trong tư thế tự vệ này thì cũng chỉ để chiến đấu hầu làm chậm lại cuộc tấn công, trong khi chờ đợi các lực lượng của SAETO sẽ kịp thời trực tiếp tới lâm trận sau đó.

Các giới chức quân sự Nam Việt Nam thì cũng hoàn toàn đồng ý với khái niệm phòng thủ này. Tuy nhiên họ lại không hề coi đó như là chiến lược duy nhất để có thể đáp ứng lại với mối đe dọa của Cộng sản. Từ sự hiểu biết rút ra được trong thời gian đầu của cuộc Kháng Chiến, và sau đó là cuộc chiến chống lại Việt Minh bên cạnh quân đội Pháp, các vị chỉ huy quân sự Nam Việt Nam cũng đã từng đề nghị ra quan niệm phòng thủ địa phương hay khu vực, như là để bổ túc thêm cho việc triển khai các lực lượng quy ước. Khái niệm này chủ trương cần phải phân chia lãnh thổ của Việt Nam Cộng Hòa ra thành nhiều vùng để phòng thủ, và mổi vùng sẽ được đặt dưới quyền của một vị chỉ huy của toàn lãnh thổ đó, mà trách nhiệm sẽ phải là điều hợp mọi hoạt động quân sự để duy trì an ninh trong phạm vi trách nhiệm của mình. Để chu toàn cho được trách nhiệm này, thì vị chỉ huy của vùng đó, phải có được thẫm quyền để chỉ huy toàn thể các lực lượng quân sự, bán quân sự cùng cảnh sát trong vùng đó, kể luôn cả các đơn vị can thiệp lưu động của quân đội chính quy mà đã được gởi tới vùng đó.

Các giới chức thẫm quyền của MAAG-V cũng có đồng ý phần nào về khái niệm phòng thủ địa phương này, khi họ chấp thuận cho Republic of Vietnam Armed Forces RVNAF (Quân Đội của VNCH) 1 ► được tổ chức để gồm hai đơn vị tấn công (sư đoàn dã chiến), cùng những đơn vị phòng thủ địa phương (sư đoàn khinh binh ~ light division, 2 ► và các trung đoàn địa phương quân riêng rẽ). Tuy nhiên, với thời gian thì họ cũng đã bác bỏ hẳn khái niệm này. Và từ đó, MAAG-V bèn dồn toàn lực cố vấn và yểm trợ mọi tài nguyên hầu chỉ để tổ chức, huấn luyện và trang bị cho Quân Đội của VNCH theo kiểu một lực lượng để chỉ dùng để chống lại một cuộc xâm lược theo chiến tranh quy ước mà thôi.

Cái cuộc chiến tranh xâm lấn theo quy ước mà các chiến lược gia MAAG-V đã dự đoán, mà cũng từ đó họ đã từng giúp Nam Việt Nam tổ chức nền phòng thủ, thì lại đã không hề xảy ra đúng với những dấu hiệu tiên khởi, khi Cộng sản khởi đầu xâm lấn. Bắc Việt chắc cũng đã rút được một bài học từ cuộc chiến Hàn quốc. Họ cũng đã chứng kiến được sự thất bại của một hành vi xâm lấn công khai, khi phải đối đầu với một phản ứng cương quyết và được phối hợp của Thế Giới Tự Do dưới sự lãnh đạo của Hoa Kỳ. Để khai thác ưu điểm của họ, mà đã từng thành công đối với Pháp, Bắc Việt đã phát động một cuộc chiến nhân dân hay một cuộc chiến bạo loạn, với ý đồ để kiểm soát cho được miền Nam mà thôi. Hầu đạt cứu cánh đó, Hà-nội đã tái phục hồi hạ tầng cơ sở của Việt Minh tại các địa phuong, cùng các thành phần du kích mà đã từng bám trụ lại sau 1954, và cũng đồng thời cho xâm nhập xuống lại Nam các cán bộ cùng bộ đội gốc Nam từng được lệnh rút về Bắc và cũng đã được huấn luyện trước về bạo loạn.

Trong giai đoạn đầu của tiến trình bạo loạn, thì đám Việt cộng núp bóng đã ráng dùng mọi chiến thuật nổi loạn trong cố gắng kiểm soát các vùng giàu tài nguyên và đông dân cư ở nông thôn. Những nơi đó thì cũng chính là những vùng mà đã không từng nhận được sự lưu tâm thích đáng trong hệ thống phòng thủ của QLVNCH.

Mãi đến năm 1961 thì MAAG-V mới nhận chân ra dược là, ngõ hầu bảo vệ hữu hiệu và cứu được miền Nam Việt Nam khỏi bị Cộng sản xâm chiếm, thì không những họ phải đủ khả năng chống cự lại một cuộc tấn công từ phía ngoài vào, mà cũng còn phải có thể duy trì được an ninh bên trong toàn lãnh thổ của miền Nam Việt Nam. Từ nhận thức này, một quan niệm dung hòa nhằm phối hợp giữa chiến lược tự vệ chống xâm lăng từ phía ngoài, với bảo toàn an ninh nội địa đã được phát triển. Nhưng cũng thật tiếc là cả sáu năm trời đã từng bị hoang phí, để không có thể vớt vát được chút xíu thành quả nào cả. Nếu khái niệm phòng thủ lãnh thổ địa phương mà đã được tổ chức thích đáng từ lúc ban đầu, thì các cố gắng trong việc phòng thủ về phương diện huấn luyện và tổ chức cấu trúc lực lượng đúng ra đã phải được phân bổ một cách đúng đắn hơn cho vừa cùng lúc với mục tiêu chống lại một cuộc xâm lấn từ ngoài lẫn với mục tiêu duy trì an ninh nội địa. Và nếu mà ngay khi Cộng sản khởi đầu bạo loạn mà Nam Việt Nam lại đã có đủ lực lượng địa phương quân hầu giữ gìn được an ninh một cách hữu hiệu, đặc biệt tại những vùng tối yếu, thì có lẽ tình hình tổng quát dạo 1961 đã phải khá hơn nhiều rồi.

Tổ Chức và Huấn Luyện

  • • •

Trước tình trạng an ninh cứ càng ngày càng bị sa sút đi, Chình Phủ Việt Nam Cộng Hòa đã nhận ra được mối hiểm nguy và biết ra được là cần phải làm sao để thành công cải thiện cho hiệu quả trong việc kiểm soát cùng phối hợp hoạt động các lực lượng địa phương quân, đặc biệt là tại Quân Khu 1 (mà lúc đó bao gồm lãnh thổ của Nam Kỳ củ), mà bộ chỉ huy đang bù đầu với nhịp gia tăng của bạo loạn. Do đó, vào năm 1960, Chình Phủ Việt Nam Cộng Hòa quyết định cắt giảm bớt lãnh thổ thuộc Quân Khu 1, bằng việc thành lập thêm Quân Khu 5 với bộ chỉ huy đặt tại Cần Thơ mà sẽ chịu trách nhiệm cho vùng Châu Thổ sông Cữu Long. Và kết quả là nay, Nam Việt Nam có bốn quân khu, với mổi quân khu chịu trách nhiệm trực tiếp từ 5 đến 16 tiểu khu hay tỉnh.

Tuy có khả năng sẽ ảnh hưởng được trong việc chuẩn chi về viện trợ quân sự, cơ quan MAAG-V cũng đã không hề gây áp lực với phía Chính Phủ VNCH hầu hủy bỏ hệ thống kiểm soát địa phương mà họ vẫn không hề tán thành, có vẻ vì lý do tế nhị về chính trị. Để giữ đúng quan niệm nguyên thủy về phòng thủ, thì MAAG-V lại chú tâm vào việc bành trướng Bộ Binh của VNCH, cùng củng cố về hệ thống chỉ huy và kiểm soát. Các cố gắng đó đã thành công liên tiếp qua việc thành lập được bảy sư đoàn bộ binh vào năm 1957, cùng một bộ chỉ huy dã chiến trong năm 1958 và ba bộ tư lệnh quân đoàn vào năm 1959.

Tuy nhiên chiếu theo nhiều giới chức quân sự Nam Việt Nam, thì bộ chỉ huy dã chiến của Bộ Binh VNCH đã không hề là một sản phẫm mà MAAG-V bảo trợ. Họ tin là nó đã chỉ được thành lập những lý do chính trị mà thôi. Dù gì đi nữa, kể từ khi được thành lập cho đến năm 1964 khi bị giải tán, thì bộ chỉ huy dã chiến của Bộ Binh VNCH cũng đã không hề cống hiến được bất cứ thành quả nào về chiến trận cả. Hơn nữa, nó lại còn đã từng bị chỉ trích là nơi dùng để giữ chân lại cho qua ngày tháng, mấy sĩ quan mà chế đô đã không từng tin tưởng được.

Ngược lại, việc thành lập các bộ tư lệnh quân đoàn thì lại đã được chấp nhận rộng rãi trong Quân Đội của VNCH. Mọi thẫm quyền đều cùng xem đó như là đánh dấu cho sự trưởng thành của Nam Việt Nam về phương diện phát triển quân sự. Ngoài lòng tự ái dân tộc, Chính Phủ VNCH cũng tự cảm thấy hài lòng khi có thêm được sự yểm trợ do các quân đoàn mang lại được, dù là có khả năng các việc thành lập đó cũng rồi sẽ có thể làm đảo lộn và gây khó khăn cho hệ thống chỉ huy và kiểm soát lãnh thổ hiện hữu.

Thật vậy, tình trạng này đã sớm trở thành một trở ngại đáng kể để có thể đưa đến được một kết quả hữu hiệu về chỉ huy và kiểm soát. Các khó khăn đã tiềm tàng, từ sự kiện là mổi quân đoàn thì đã được giao trách nhiệm phụ trách một vùng lãnh thổ được gọi là quân khu, nhưng lại thiếu chỉ thị quy định về khác biệt thẫm quyền giữa vị chỉ huy quân đoàn và vị chỉ huy quân khu, cũng như là liên hệ giữa họ trong các vấn đề chung về phòng thủ và an ninh. Từ đó, cả hai đều có vẻ như ngang quyền với nhau, bởi vì họ cũng đều cùng chịu trách nhiệm trước Bộ Tổng Tham Mưu mà thôi. Tình trạng này đã đưa đến hoàn cảnh đã có cho tới hai thẫm quyền song đôi cùng chịu chung trách nhiệm, nên cũng đã dẫm chân lên nhau, giữa quân đoàn với quân khu, mà đương nhiên rồi cũng đã khiến xảy ra vấn đề ganh tỵ và tranh chấp. Cả hai đều tự thấy mình có trách nhiệm trong việc duy trì an ninh và cũng đều cùng có quyền như nhau, để sử dụng các lực lượng quân sự từng được điều động đến cho vùng trách nhiệm của mình. Cả hai thì cũng chỉ báo cáo trực tiếp về với Bộ Tổng Tham Mưu, và thậm chí với cả vị tư lệnh tối cao (tổng thống) về mọi biến chuyển từng xảy ra trong khu vực mình chịu trách nhiệm.

Những nạn nhân của tình trạng rối răm này thì chính lại là các vị tư lệnh sư đoàn, bị kẹt giữa vị chỉ huy trực tiếp là tư lệnh quân đoàn, với vị chỉ huy quân khu; họ đã không thể nào thỏa mãn cho được người này mà không làm người kia nổi khùng lên. Chẳng hạn, nếu không đáp ứng được đòi hỏi bảo vệ an ninh của vị trưởng quân khu, thì việc này rồi sẽ có thể bị báo cáo về cho tổng thống mà thôi. Nhưng mặt khác, nếu đáp ứng theo đòi hỏi của quân khu trưởng thì đương sự lại có thể bị khiển trách về tội bất tuân lệnh bởi vị quân đoàn trưởng mà thôi.

Việc tái điều chỉnh về tổ chức lãnh thổ dạo 1961-1962, mà đã đưa đến việc giải nhiệm các tổng hành dinh quân khu và bổ túc thêm được một quân đoàn nữa, với mổi quân đoàn chịu trách nhiệm một vùng chiến thuật quân đoàn (CTZ ~ Corp Tactical Zone), cuối cùng cũng đã giải quyết xong được các khó khăn về chỉ huy và kiểm tra. Đó đã là tinh túy của việc thỏa hiệp giữa các khái niệm về phòng thủ mà khả dĩ không làm MACC-V hay cả Bộ Tổng Tham Mưu bực bội mà thôi, nhờ đã đưa đến được việc kiểm soát lãnh thổ trong khu và tiểu khu bằng cách thành lập những khu chiến thuật cấp sư đoàn (DTA ~ Division Tactical Area) mà vẫn không gây hệ lụy gì tới vấn đề chỉ huy cả. Tuy nhiên, khi đã là một thỏa hiệp, thì nó cũng không là một giải pháp khả dĩ khiến được mọi bên thỏa mãn được, nhất là về phía Bộ Tổng Tham Mưu.     

Đối với giới chức VNCH, việc giải tán các tổng hành dinh quân khu và chuyển giao trách nhiệm về lại cho các quân đoàn, cùng với việc tái lập gượng gạo các tổ chức thuộc tiểu khu, hầu giao trách nhiệm cho các sư đoàn bộ binh, cũng đã cho thấy một sự miễn cưỡng nào đó, về phía giới chức MACC-V, khi họ xem vấn đề an ninh lãnh thổ như là một nhiệm vụ thật sự [căn bản]. Thật vậy, cũng có vẻ như là cơ quan MACC-V đã bỏ qua không ghi nhận được chi tiết là vấn đề an ninh lãnh thổ lại có tính cách bao quát hơn nhiều, thay vì chỉ là những cuộc hành quân mà thôi. Do đặc tính miên viễn của nó, công tác duy trì an ninh địa phương thì lại liên hệ và đòi hỏi muôn trùng nào là sinh hoạt hành chánh và yểm trợ, cho nên để nhằm duy trì cho được các cuộc hành quân một cách liên tục, chỉ một định chế hiện diện thường trực ngay tại địa phương đó, thì mới có thể cung cấp được mà thôi. Các hành vi có tính cách chiến thuật, thì trong cốt tủy, cũng chỉ là đoản kỳ mà thôi, và chúng chỉ xảy ra để rồi sẽ tan biến như thủy triều thôi, và thậm chí, trong các thời kỳ lắng động, thì chúng cũng biến mất hẳn đi thôi. Trong khi các đơn vị chiến thuật, quân và sư đoàn, thì cũng có thể được tái phối trí dể dàng chiếu theo nhu cầu, ngược lại các lực lượng phụ trách về an ninh địa phương thì lại không thể điều động được theo kiểu đó được. Việc này đã là hậu quả của cả đặc điểm của một cuộc chiến mà theo đó, các trận tấn công của địch thì thường ra cũng không thể nào tiên liệu trước được, lẫn nhu cầu chiến thuật là cần phải duy trì một áp lực quân sự liên tục váo kẻ địch để cân bằng được lại với các chiến thuật về loại chiến tranh kéo dài và chiến tranh du kích.

Do đó, một hệ thống ngõ hầu giúp kiểm soát được địa phương, cần phải được xem như là nồng cốt của bộ máy chiến tranh chống khởi loạn, và cũng là điểm tựa của các lực lượng chiến thuật mà theo đó, khả năng và đặc tính kiến hiệu của họ sẽ lệ thuộc vào theo. Từ đó, chúng tôi cũng hằng tin là, trước hết, tầm quan trọng của nền an ninh địa phuong đã phải được cứu xét một cách đúng đắn và đưa vào ưu tiên thích đáng trong khuôn khổ các nổ lực chống bạo loạn. Khi mà điều kiện [căn bán] này mà đạt xong, thì đương nhiên các thẫm quyền Hoa Kỳ và Nam Việt Nam rồi cũng sẽ đủ khả năng trực diện đối phó với vấn đề phòng thủ và nghiên cứu thăm dò tường tận, hầu lấy cho được những quyết định thích đáng và thực tế. Chúng tôi tin chắc là vào giai đoạn đầu của cuộc chiến, thì việc thành lập các quân đoàn quả đã không là cần thiết, và các cố gắng thì cũng nên dành cho tiến trình củng cố hệ thống phòng thủ địa phương, cũng như là hoàn thiện nó cho thật là kiến hiệu mà thôi.            

  • • •

Việc triển khai các sư đoàn bộ binh để phòng thủ cùng bảo vệ các khu vực đông dân và giàu tài nguyên quả đúng là một quyết định hợp lý. Tuy nhiên, chính sách phân bố trách nhiệm phụ trách thường trực các vùng chiến thuật cho các sư đoàn, để rồi đổ thêm các trách nhiệm nặng nề quản hạt cho các tổng hành dinh các sư đoàn, đã tỏ ra là một giải pháp tuy thích nghi, nhưng cũng quá ư là không thích ứng cho một cuộc trường chiến. Hơn nữa, việc này ảnh hường đến khả năng di động của các sư đoàn bộ binh, mà chính là đã được thành lập để hoạt động như là những lực lượng xung kích, và sư kiện mà các đơn vị gọi là lưu động đó lại phải trụ tại một vùng cố định trong một thời gian dài, đã khiến cho khi rút đi để hành quân nơi khác, thì lại đã gây nhiều khổ tâm cùng thiệt hại do khoảng trống bị để lại, cả về hiện thực lẫn về tâm lý. Rất rõ ràng, hiện tình cứ cho trụ tại chổ toàn bộ cả chín sư đoàn bộ binh một cách vĩnh viễn, để chịu trách nhiệm tại các vùng được chỉ định đó, đã tỏ ra không là một giải pháp thuận lợi cho vấn đề an ninh khu vực.

  • • •

Theo quan điểm của chúng tôi thì giải pháp tuyệt nhất đã là phải nên tái phối trí lại toàn lãnh thổ thành bảy hay chin vùng chiến thuật, mổi vùng chịu trách nhiệm từ năm đến bảy khu. Để tận dụng số chin sư đoàn bộ binh của chúng ta, thì cần phải đặt họ trong tình trạng tổng trừ bị, để rồi sẽ giao trọng trách cho họ, khi nhu cầu xảy ra, để tới các vùng chiến thuật trong những chiến dịch bình định, tại một khu vực đặc biệt và tạm thời, với trách nhiệm chiến thuật cũng tạm thời thôi.

  • • •

Trong suốt thời gian đó, thì tình trạng cùng bị lệ thuộc về các dịch vụ  yểm trợ kỹ thuật với cả hai nơi – về tiêu chuẩn chỉ huy thì là với Bộ Quốc Phòng và về yểm trợ thì là với Bộ Tổng Tham Mưu – cũng đã gây ra biết bao nhiêu là trở ngại trong việc phối hợp và yểm trợ chiến trường, khiến cho cả hai công tác này đâm ra trở thành như rùa bò và lại cũng vô hiệu mà thôi. Tình trạng này cứ đã kéo dài có lẻ vì những động cơ chính trị. Các vị chỉ huy những cơ quan phụ trách cung cấp các dịch vụ đó, nói chung thì cao cấp hơn là các sĩ quan Trưởng phòng tại Bộ Tổng Tham Mưu; đa số thì cũng được chế độ tin tưởng và trọng nể, do nơi các mối liên hệ của họ vói các tổ chức chính trị trung thành với ông Diệm. Và kết quả thì cũng là họ cũng không được xem ra gì về thẫm quyền, cả bởi Bộ Tổng Tham Mưu cùng các giới chức tại đó mà thôi.

Các tổ chức quốc phòng cấp tối cao thì cũng tràn lan mà thôi. Đã từng có nào là nhũng tổ chức soạn thảo chính sách, như là Hội Đồng An Ninh Quốc Gia và Bộ Quốc Phòng, rồi dưới đó, thì là Văn Phòng Quốc Phòng Thường Trực và Bộ Tổng Tham Mưu. Nhưng lại không hề có bất cứ ai mà được có thẫm quyền thật sự, và các dịch vụ của họ thì cũng ít khi mà lại được sử dụng một cách đúng đáng. Nói chung về các chính sách quốc phòng và các vấn đề quân sự, thì xem ra, Tổng Thống Diệm có vẻ chỉ tin nơi chính mình và nơi người em cố vấn mà thôi. Giữa riêng hai người, họ cùng nhau trù tính sắp đặt các chính sách, cùng nhau nghiên cứu các khó khăn, cùng nhau chuẩn bị các kế hoặch, để rồi cùng nhau đưa ra các chỉ thị cho các người thừa hành, thường xưống tận tới cấp thấp và cũng thường là không thông qua các thủ tục chính thức thông thường. Và do đó, việc chỉ huy chiến trận cũng đã bị ảnh hưởng trầm trọng bởi một tình trạng thiếu kế hoặch và phối hợp thống nhất hóa.

  • • •

Ngay từ khi lên cầm quyền, Tổng Thống Diệm cũng đã không bao giờ đặt niềm tin nơi Bộ Tổng Tham Mưu hay sử dụng Bộ cho đúng theo với phần hành của Bộ. Ông ta ngày cũng lại càng xa cách với Bộ Tổng Tham Mưu, nhất là sau vụ đảo chánh hụt của Lực Lượng Dù trong năm 1960, cũng như là vụ bỏ bom dinh thự trú ngụ của ông ta vào năm 1962.

Tổng Thống Ngô Đình Diệm (1901 – 1963)

Cố Vấn Ngô Đình Nhu (1910 – 1963)

 Sự kiện Bộ Tổng Tham Mưu đã luôn luôn đãm nhận vai trò của một bộ chỉ huy quân sự, bên cạnh các trách nhiệm về liên quân, thì cũng rõ ràng đã vi phạm nguyên tắc quan trọng là tham mưu chỉ phải phụ trách về các công tác soạn thảo và thi hành, cho dù có tiết kiệm được phần nào về nhân sự và tiện nghi. Do vậy, Bộ Tổng Tham Mưu đã có khuynh hướng dành mọi nổ lực hàng ngày cho các chiến dịch của Bộ Binh VNCH, mà vô hình chung gây thiệt hại cho cho công tác soạn thảo kế hoặch liên quân trong trường kỳ. Bất chấp các khuyến cáo của MAAG-V (Military Assistance Advisory Group, Vietnam ~ Toán Yểrm Trợ Cố Vấn Quân Sự tại Việt Nam), Tổng Thống Diệm đã không bao giờ hoàn toàn đồng ý về quan điểm cần phải có một bộ phận chỉ huy quân sự riêng rẽ cho Bộ Binh VNCH. Vào năm 1962, khi cuối cùng, ông đã đành miễn cưỡng chấp thuận cho bộ phận này hoạt động, thì ông ta cũng đã không hề đưa ra bất kỳ tham chiếu nào cả về thẫm quyền và trách nhiệm của cơ quan này so với Bộ Tổng Tham Mưu.

Dấu hiệu của MAAG-V

(Military Assistance Advisory Group, Vietnam

~ Toán Yểm Trợ Cố Vấn Quân Sự tại Việt Nam)

Việc bành trướng để tổ chức lực lượng bộ binh của chúng ta thành các sư đoàn đã quả thật là một quyết định khôn ngoan và đã được tiên liệu trước rồi, ngay cả từ thời phong trào phiến loạn vẫn hãy còn phôi thai, chiếu theo các khuynh hướng phát triển của bộ đội Bắc cộng. Nó đã cung cấp gần như là một khung sườn vững chắc, để cho Bộ Binh VNCH dựa theo mà tăng trưởng, giúp họ trở thành một đối thủ đầy hãnh diện và đáng nể của bộ đội Bắc cộng và do đó, cũng đã nhân đó, tăng thêm niềm tự tin của Miền Nam Việt Nam. Cố gắng của MAAG-V nhằm hệ thống hóa cách tổ chức các sư đoàn bộ binh của VNCH cho tới năm 1959 thì cũng đã giúp cho êm xuôi trôi chảy việc quản trị và huấn luyện đồng nhất cho họ. Tuy nhiên, việc phải bố trí tất cả số bảy sư đoàn trong vị thế chỉ để nhằm đánh trả một cuộc xâm tràn gần các khu vực sát biên giới, quả thực, đã để lại một khoảng trống mà không ai bảo vệ tại Châu thổ Sông Mê Kông, cái mục tiêu chính yếu của cuộc nổi loạn của cộng nô đang nhắm vào các nguồn tài nguyên giàu có và dân cư đông đúc. Tình trạng đó đã quả thật là một bố trí lực lượng không khôn ngoan, mà rõ ràng đã không đóng góp được gì trong việc chận lại được các hoạt động phản loạn, bởi vì vào dạo đó, mọi lực lượng bán quân sự – chẳng hạn như là cảnh sát, Tự Vệ Đoàn và Phòng Vệ Dân Sự – thì cũng đều đang trong thời kỳ phôi thai mà thôi.

Quyết định điều chỉnh hầu tái phối trí các sư đoàn đó về lại các vùng đông dân cư vào năm 1961 đã thật là hợp lúc và cũng có hiệu quả để đáp ứng lại được với nhịp độ tăng gia hoạt động của bọn phản loạn. Đó cũng chính là các nổ lực để thành lập thêm hai sư đoàn bộ binh, bốn trung đoàn bộ binh độc lập và 86 trung đội biệt động quân hầu tăng cường việc bảo vệ các vùng nông thôn. Các cố gắng khác để trang bị cho các đơn vị Thiết Giáp của Bộ Binh VNCH với M-114, rồi M-113 APC, cùng sự yểm trợ rất hiệu quả của các đơn vị không quân trực thăng Hoa kỳ thì cũng đã đóng góp cho việc cải thiện đáng kể khả năng ứng chiến của các đơn vị bộ binh trong QLVNCH.

Dưới sự bảo trợ và thúc đẩy của MAAG-V, hình thức huấn luyện về chiến thuật tại các trung tâm và các đơn vị đều đã được tổ chức hoàn hảo và tiếp diễn êm xuôi, từng đợt này kế tiếp đợt khác, đúng theo với lịch trình. Tuy nhiên, đặc tính và mục đích của cố gắng huấn luyện này đã lại chỉ thuần túy theo tập quán mà thôi; nó đã không giúp cho các đơn vị tác chiến đáp ứng được với những đòi hỏi khác lạ trong chiến tranh chống phản loạn, cũng như là để chống trả một cách có hiệu quả. Nhiều đơn vị trưởng quả đã từng than phiền “đi học một đường để rồi lại đi thi hành một cách khác”. Dĩ nhiên, các binh thư về lý thuyết và tác chiến của Hoa Kỳ thì cũng đã được sử dụng để hướng dẫn và là thước đo trong tiến trình phát triển khả năng tác chiến của Bộ Binh QLVNCH.

Năm 1961 đã có lẻ là năm đánh dấu một ngả quặt trong cách thức chúng tôi tổ chức huấn luyện binh sĩ. MAAG-V đã cho in . . . những tài liệu về “Các Chiến Thuật và Kỹ Thuật về Nhũng Chiến Dịch Phản Loạn”, để cho Bộ Binh QLVNCH sử dụng. Được rút ra từ kinh nghiệm do các bài học thời Chiến Tranh Đông Dương lần thứ Nhất, cũng như là các chiến dịch chống phản loạn tại Mã-lai-á và Phi-luật-tân, và được thích hợp hóa theo với môi trường Việt Nam, các chiến thuật và kỹ thuật được trình bày ra đó, thì cũng có khả năng để đáp ứng được với các đòi hỏi uyển chuyển của chiến trường trong thời điểm đó.

  • • •

Các Lực Lượng Địa Phương

Hiệu Kỳ của Địa Phương Quân và Nghĩa Quân

Ngược lại với tiến trình phát triển của Bộ Binh QLVNCH, công tác tổ chức các lực lượng tại những địa phương, mà còn được gọi là các lực lượng địa phương, lại hoàn toàn là một sáng kiến và do chính phủ VNCH khởi xướng. Trong suốt thời gian đó, công tác bảo vệ các xã ấp đều đã được tổ chức và do chính phủ VNCH đãm nhiệm, mà không hề có được sự cố vấn giúp đở nào cả của phía MAAG-V. Trên căn bản, thì trách nhiệm phòng thủ cận kề của các thôn làng thì đều đã được đãm trách bởi những nhóm vũ trang được gọi là Dân Vệ Đoàn (Self-Defense Corps); rồi đi ra xa hơn các vùng sát cận đó, cho tới tận cấp quận, thì Lực Lượng Bảo Chính Đoàn (Civil Guard) sẽ thay thế phụ trách công tác an ninh. Hai lực lượng này được đặt dưới quyền chỉ huy về phương diện hành quân của các trưởng làng và quận trưởng. Các hoạt động của họ đều được phối hợp với các cuộc bố trí của lực lượng cảnh sát trong mục đích bảo vệ an ninh địa phương.

Hiệu Kỳ của Dân Vệ Đoàn (Self-Defense Corps)

Hiệu Kỳ của Thanh Niên Bảo Quốc Đoàn

Cũng là của Đại Việt Quốc Dân Đảng

Tiền thân của Bảo Chính Đoàn (Civil Guard)

  • • •

Tổ chức của Dân Vệ Đoàn đã được biến chế từ quan niệm cần phải có những  lực lượng phụ mà đã rất được phổ biến trong thời gian bán thuộc địa. Trên căn bản, thì họ được tổ chức thành những trung đội riêng rẽ, họ chính là lực lượng nồng cốt được các tiểu khu trưởng sử dụng hầu duy trì an ninh địa phương. Liệu họ có thành công hay không, thì cũng thường tùy thuộc nơi việc các đơn vị chính quy có can thiệp hay yểm trợ họ hay không. Nhiều người vẫn hằng tin là Dân Vệ Đoà,n đúng ra thì cũng đã không có hiện hữu được, nếu mà đã không có sự bất đồng quan điểm giữa chính quyền VNCH và MAAG-V, và đặc biệt là cái mức tối đa 100.000 quân nhân mà MAAG-V đã từng áp đặt đối với Quân Đội Quốc Gia Việt Nam dạo đầu 1955. Trong mọi biến chuyern, sư hiện diện của cái lực lượng quan sự được Chính Phue VNCH yểm trợ này cũng đã tỏ ra rất lợi ích trong các cố gắng chống phản loạn trong những năm sau đó.

 

Hiệu Kỳ của Quân Đội Quốc Gia Việt Nam, được thành lập sau khi Pháp nhìn nhận Quốc Gia Việt Nam vào ngày 8 tháng 3 năm 1949 được độc lập dưới quyền lãnh đạo của Hoàng Đế Bảo Đại, do Tướng Nguyễn Duy Hinh lãnh đạo, và đã từng tham dự chung với Lực Lượng Viễn Chinh Pháp có danh xưng là French Union’s French Far East Expeditionary Corps (CEFEO)  trong những trận đánh với Việt Minh của Hồ Chí Minh, đặc biệt là các trận Na Sản (1952), Operation Hautes Alpes (1953), Operation Atlas (1953) và cuối cùng là Điện Biên Phủ (1954).

 

Do nơi không hề nhận được sự viện trợ giúp đở nào từ phía US Military Assistance Program MAP (Chương Trình Viện Trợ Quân Sự của Hoa Kỳ), Dân Vệ Đoàn và Bảo Chính Đoàn cũng đã từng đã phải trải qua một thời kỳ hình thành cực kỳ đớn đau và khó khăn trong giai đoạn đầu, đăc biệt là về trang bị và tiếp liệu yểm trợ. Dĩ nhiên thì họ cũng chỉ được trang bị toàn bằng những vũ khí từng đã bị phế thải và các lô đạn dược thí cũng đã quá hạn, tất cả đều do quân đội Pháp để lại, khi họ rút về nước. Dân Vệ Đoàn và Bảo Chính Đoàn từng đã phải lâm trận trong lo âu; khi đụng địch, đạn dược của họ thường bị tịt mà lại cũng không hề được tái tiếp tế kịp thời. Không được dành ưu tiên về phương diện quốc gia, mà lại cũng không thuộc lực lượng chính quy, cả hai lực lượng này đều không nhận được đầy đủ nhân sự và cũng không hề nhận được đầy đủ yểm trợ về tiếp liệu lẫn về công tác huấn luyện. Kể từ ngày được thành lập, họ đã không hề bao giờ dược huấn luyện một cách đúng đắn, dù cho từng cá nhân hay cho toàn đơn vị nào cả. Và kết quả thì dỉ nhiên, các hoạt động chống phản loạn của họ đã không có được hiệu quả cũng đã là điều không thể tránh được mà thôi.

Khi chiến tranh càng sôi động thì Dân Vệ Đoàn càng ngày đã càng bị giao phó cho thêm những trách nhiệm tác chiến khác với của lực lượng chính quy. Nhưng tuy vậy, tổ chức, lương phạn cùng các bổng lộc thì lại thấp hơn nhiều, nếu so với của bên chính quy. Do nơi vị thế thấp kém và ít được chăm lo, một hình thức bị mặc cảm tự ti và thèm muốn đã phát sinh trong hàng ngũ, sự kiện mà rồi sau đó cũng đã ảnh hưởng đến thành tích của Dân Vệ Đoàn trên cương vị một đơn vị tác chiến.

Công tác bảo vệ lãnh thổ của Miền Nam Việt Nam đã được [cải tiến] triệt để, bắt đầu từ năm 1961, khi chương trình MAP đã được nới rộng để bao gồm luôn Dân Vệ Đoàn cùng Bảo Chính Đoàn, cũng như là các cố vấn Mỹ cũng đã được bổ nhiệm xuống tới cấp tiểu khu. Cùng nhau cộng tác với Chính Phủ VNCH, MAAG-V đã phát động một chương trình nhằm cải thiện và bành trướng các lực lượng địa phương, đặc biệt chuyên chú vào khía cạnh tổ chức về căn bản, vào trang bị và huấn luyện. Bảo Chính Đoàn đã được đồng nhất tổ chức thành những toán và tiểu đội đúng theo tiêu chuẩn để phân bổ về các ấp và làng đúng theo nhu cầu. Quan điểm tổ chức này này đã rất hữu lý và hoàn toàn thích hợp với cấu tạo địa hình của một ngôi làng Nam Việt Nam, mà các ấp đôi khi lại cách xa nhau cả đến nhiều dặm Anh.

  • • •

Trong hoàn cảnh phải chống phản loạn tại Miền Nam Việt Nam, chúng tôi vẫn nghỉ cấp tiểu đoàn mới chính là đơn vị nhỏ nhất mà cũng thích hợp nhất mà thôi. Chỉ cấp tiểu đoàn thì mới có các khả năng và sự uyển chuyển về tổ chức hầu đối phó được với với các đòi hỏi muôn trùng muôn mặt của loại chiến tranh chống phản loạn. Chẳng hạn, một tiểu đoàn thì có thể tự chia ra thành nhiều đơn vị nhỏ để hành quân thanh lọc hầu liên tục tạo áp lực vào địch. Khi cần, thì họ sẽ có thể gom lại để bao và truy tìm trong một ngôi làng bị mất an ninh hay để tiến hành một cuộc tấn công vào các lực lượng địch tại địa phương trong một chiến dịch phối hợp với các đơn vị bạn khác.

  • • •

Về tiêu chuẩn quân trang quân dụng, việc bây giờ thay thế các vũ khí lổi thời bằng vũ khí theo tiêu chuẩn Hoa Kỳ như từng làm với Quân Lực VNCH cho Bảo Chính Đoàn và Dân Vệ Đoàn đã mang lại cho họ một lợi thế về khả năng chiến đấu. Về mặt tiếp liệu, chính sách này cũng khiến cho công tác huấn luyện, tiếp tế và bảo trì được thống nhất; về tâm lý thì nó cũng nâng cao tinh thần của các binh sĩ của Dân Vệ Đoàn và Bảo Chính Đoàn, mà nay đã bắt đầu chiến đấu được một cách tự tin hơn. Tuy nhiên các hạn chế về ngân sách thuộc Viện Trợ Quân Sự đã không cho phép cải thiện các công tác liên lạc và vận chuyển.

  • • •

Các Chiến Lược và Chiến Thuật Chống Phản Loạn

“Pioneer farms ~ Nông trại Tiên Phong““Agrovilles ~ Nông Thị“ 3 đã biểu lộ . . . một quan niệm chiến lược trường kỳ mà mục đích là không chỉ mở rộng ra thêm an ninh ở nhũng vùng xa xôi, nhưng còn ngăn cấm bọn phản loạn cộng sản có thể lợi dụng các vùng đó nữa. Tổng Thống Diệm quả thật xứng đáng để được ghi công về tầm nhìn xa mà tiên liệu được một cách đúng đắn loại chiến tranh mà bọn Cộng sản rồi sẽ áp dụng tại miền Nam Việt Nam.

  • • •

Là một người cực kỳ ái quốc và cũng là một người quốc gia cương quyết chống chế độ thuộc địa Pháp, Tổng Thống Diệm đã có nghiên cứu kỹ lưỡng phong trào kháng chiến Việt Minh, đặc biệt là các vùng chúng từng dùng để hoạt động và làm hậu cần. Ông ta đã biết chắc là nếu bọn Việt Minh lại mưu toan chinh phục miền Nam Việt Nam thì chúng rồi cũng sẽ sử dụng cùng một chiến lược đó ở những vùng nào đó mà thôi.

Và kết quả là, để ngăn ngừa sự kiện Việt Minh có thể trở về lại các vùng lãnh địa củ của chúng, ông đã có chính sách hệ thống hóa những nơi đó thành nhũng khu Nông trại Tiên Phong và sau đó đã dược gọi là Nông Thị. Đa số các Nông trại Tiên Phong và Nông Thị đó được tổ chức tại những địa điểm chiến lược khắp các vùng cao nguyên và các vùng đồng lầy tại miền Nam Việt Nam, từ vùng phi quân sự cho tới tận mủi Cà Mau. Ông đã đưa các người tỵ nạn thiên chúa giáo di cư về Nam từ miền Bắc, các nông gia thiên chúa giáo miền Trung Việt Nam, cùng các cựu quân nhân và gia đình tới các vùng đó để sinh sống, vì đó là những người mà ông biết rõ là cực kỳ chống Cộng và trung thành. Hành vi của ông ta đã tỏ ra rất ư là đượm tính tiên tri bởi vì, xuyên suốt thời gian cuộc chiến phản loạn mà đã nổ ra sau đó, thì bọn Cộng sản đã sử dụng đúng lại các căn cứ hậu cần mà chúng cũng đã từng sử dụng để chống Pháp trước kia.

  • • •

Quốc Huy Đệ Nhất Cộng Hòa

 (Chúng tôi đã KHÔNG tìm được huy hiệu của Quân ĐỘI Việt Nam Cộng Hòa, danh xưng chính thức của lực lượng quân sự Quốc gia thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm (mà đã được đổi thành Quân LỰC Việt Nam Cộng Hòa thời Đệ Nhị Cộng Hòa).

 

Những kẻ chỉ trích chương trình Ấp Chiến Lược mà đã cáo buộc là chính phủ VNCH và các cố vấn Mỹ của họ đã ăn cắp rặt khuôn cái quan điểm chiến thuật về bình định, rất thành công tại Mã-lai-á một thập niên trước đó, thì đều đã bỏ qua không lưu ý tới một sự kiện quan trọng: các biện pháp tập trung của người Anh chỉ ảnh hưởng tới người Hoa kiều, những kẻ chính mới là thủ phạm của phong trào phản loạn, chớ không hề là những người bản xứ Mã. Mấy bọn chỉ trích cũng đã lưu ý là ở Nam Việt, mọi kẻ từng bị cưởng ép phải cư trú trong các ấp chiến lược thì đều chỉ là những nông dân địa phương mà cuộc sống đã từng bám rể vững bền và chặt chẻ qua bao thế hệ với thôn làng của họ dạo thời gian trước đó rồi.

Lời chỉ trích nặng nề này đã chỉ sẽ đúng, nếu mà đã có tình trạng cưởng bức định cư, mà sẽ gây bất mãn cho số người mà cuộc sống sẽ bị ảnh hưởng tới. Tuy nhiên, ngay chính nó, quan niệm ấp chiến lược đã không hề là một sự bắt chước cái chiến lược của người Anh tại Mã-lai-á, mặc dù đã có những tương đồng rõ ràng. Cái quan niệm này cũng đã từng có rồi trong sử Việt, mà đã từng bắt đầu từ thời bị Tàu còn đô hộ, nhưng tiền lệ mới nhất và đập vào mắt nhất, thì có lẻ là hệ thống phòng thủ “ấp chiến đấu ~ combat village” từng được thành lập nhân chiến tranh kháng chiến chống Pháp từ 1946 tới 1954. Để cản trở và hạn chế sự kiểm soát cùng chỉ huy của Pháp, chính phủ Việt Minh đã thực sự biến mổi ngôi làng Việt trở thành đúng nghĩa của một cái ổ kháng chiến và áp dụng câu châm ngôn dân gian rất phổ biến là “khi cướp vô nhà, ngay cả đàn bà cũng phải đánh trả” như là một câu châm ngôn chiến đấu đầy hiệu quả.

Hình thức cấu trúc làng ấp theo kiểu như là chuồng súc vật nông trại, đặc biệt là tại Bắc và Trung Việt, tự nó đã khiến cho việc đề phòng ngoại nhập rất ư là tuyệt hão, nhờ nơi các lũy tre cao, đầy gai góc và dày đặc bao quanh làng đã biến được những nơi đó thành những thành lũy bất khả xâm chiếm với chỉ có duy nhất một cổng vào để dể kiểm soát.

Chính quan niệm “ấp chiến đấu ~ combat village” đã đưa tới hệ thống phòng thủ bằng ấp chiến lược. Nhưng nếu khái niệm này đã được áp dụng thành công ở Bắc và Trung Việt bởi vì nó không đòi hỏi việc di dân tại nông thôn, thì ngược lại đã là một đại nan đề ở trong Nam, đặc biệt tại Quân Khu 3 và Quân Khu 4. Vấn đề đã là vì trong Nam, các ngôi làng thì lớn hơn và gồm nhiều ấp cách xa nhau về địa hình và thường cũng gồm nhiều gia cư cá nhân rải rác khắp nơi. Do đó, quan niệm của VNCH về phòng vệ các làng đã phải dựa trên đơn vị ấp, và do đó, đã làm nhẹ bớt các khó khăn về công tác xây rào cản, nhưng trong nhiều trường hợp, thì vẫn liên hệ đến công tác gom lại dân số của nhiều ấp nằm rải rác xa nhau.

Công tác gom lại dân số đã cần thiết hầu cải thiện việc bảo vệ họ, cũng như là để phòng vệ hiệu quả hơn, tuy là cũng khá là thương tâm cho những người dân mà đã bị ảnh hưởng trong tiến trình đó. Tuy nhiên, cái khuôn mẫu bị bứng rể và cuộc sống bình thường hàng ngày bị gián đoạn thì cũng quả thật không có gì là mới mẻ với người dân tại nông thôn Nam Việt Nam, nhũng người mà đã từng tình nguyện bỏ nhà bỏ ruộng vườn không ai coi sóc dạo chiến tranh kháng chiến. Sự việc bị bứng rể đã sẽ không quá ư là đau thương, nếu mà người dân đã từng được giải thích cặn kẽ và thấu hiểu rõ ràng là vì ngay chính an toàn của bản thân của họ và cũng là vì lợi lộc quốc gia mà thôi.

  • • •

Bất chấp về những gì từng đã bị gán ghép, chương trình Ấp Chiến Lược đã vẫn tồn tại như là một chính sách quốc gia khôn ngoan, một liều thuốc giải độc cho cuộc chiến tranh phản loạn toàn diện của Cộng sản. Ưu điểm chính yếu của nó đã là được soạn thảo một cách tinh vi, nhằm nâng cao mức sống người dân bằng cách phát triển về xã hội và kinh tế từ mức tận cùng của nấc thang xã hội. Đó quả là một quan niệm chiến lược chính đáng mà mục đích đã là vô hiệu hóa và để bù lại các hệ quả của loại chiến tranh không chiến tuyến, bằng cách biến cải vùng nông thôn thành một hệ thống đồn bót cùng nhau tương trọ bảo vệ lẫn nhau. Nó đã tìm cách xây dựng và un đúc tinh thần tự an, tự tin và tham gia tự nguyện mà sẽ bồi dưỡng cho các cố gắng của quốc gia trong một cuộc chiến tranh trường kỳ hao mòn.

Cuối cùng thì chương trình Ấp Chiến Lược cũng đã chứng tỏ ít tốn kém hơn về lâu dài trong công tác phòng vệ, nhưng sự thành công hay không của nó thì cũng tùy thuộc nơi lòng can trì và sự liên tục ủng hộ của người dân. Thật vậy, chỉ người dân thì mới có thể vô hiệu hóa được các ảnh hưởng chống phá chính quyền của một cuộc chiến phản loạn, và chỉ các người dân trong ấp thì đặc biệt mới nhận dạng được và loại bỏ bọn phản loạn mà thôi. Về những mục tiêu chống phản loạn, không có gì có hiệu quả hơn là nhu cầu bảo vệ ngay chính gia đình và tài sản của mình. Đây chính quả là nguyên tắc tự vệ cực điểm tối yếu mà theo đó, quan niệm ấp chiến lược đã được tổ chức.

Yếu điểm chính của công trình này chính yếu xuất phát từ các phương pháp và tinh thần mà theo đó, các viên chức nhà nước đã thực hiện chương trình. Do vì hăng say quá lố và mong muốn được lòng Tổng Thống Diệm, các viên chức đó đã không chịu soạn thảo trước cho kỷ càng các kế hoặch căn bản, hầu chuẩn bị trước dân chúng địa phương về mặt tâm lý cho công tác này, để có thể thúc đẩy họ tự nguyện tham gia.

  • • •

Kết quả cuối cùng đã là, thay vì tự nguyện tham gia, một điều kiện [cốt yếu] để cho cái chính sách quốc gia này mới thành công được, ngược lại người dân trong các ấp chiến lược đó đã có cảm giác bị áp chế, bị nghi ngờ và rất bất mãn. Trong những tình trạng như vậy, chắc chắn địch đã lợi dụng đẻ tuyên truyền và chỉ trích chính phủ để khiến dân chúng ngày càng thêm bối rối và càng khiến thất nhân tâm.

  • • •

Sự kiện mà bọn Cộng sản đã cứ đặt ưu tiên hàng đầu vào các cố gắng phá hoại nhằm phá bỏ cho được các ấp chiến lược thì cũng chứng minh cho phần nào mức độ thành công của cái chương trình này. Về phương diện kỹ thuật, chương trình đã thật sự thành công kiểm soát được dân số trong các ấp và ngăn cách được họ với đám dân vận phá thối ký sinh trùng cùng du kích VC. Nó cũng đã thành công đem về với phía quốc gia một số lớn người dân vùng nông thôn. Về sau, khi chương trình chiến lược căn bản này vẫn đã được tiếp tục với vài thay đổi nhỏ theo chương trình bình định nông thôn mà nền Đệ Nhị Cộng Hòa đã thi hành và hoàn toàn được phía Hoa Kỳ ủng hộ, thì cũng đã chứng minh thêm cho tính cách khôn ngoan, khả năng thích hợp cùng đáp ứng được với tình trạng chiến tranh ngay từ gốc rể. Đã quả thật là một điều đáng tiếc là trong tư cách một đồng minh, Mỹ đã chờ qua lâu để mới nhận ra được ảnh hưởng toàn diện của cuộc phản loạn của Việt Cộng hầu để quyết định giao chiến một cách đúng đắn cho có hiệu quả. Nếu mà các chương trình “Agrovilles ~ Nông Thị” và Ấp Chiến Lược mà đã từng hưởng được sự giúp đở [như về sau này] đã được cung cấp cho chương trình bình định nông thôn, thì chúng tôi tin chắc là mọi việc đều đã khác hẳn hoàn toàn thôi.

Ngay từ đầu, dạo 1958, chính phủ VNCH cũng đã nhận chân ra được vai trò quan trọng của hạ tầng cơ sở của bọn VC trong một cuộc chiến phản loạn và phá hoại. Quả vậy, bọn thành viên thuộc hạ tầng cơ sở của bọn VC đã xử sự không như một bọn cầm quyền ẩn danh tại những nơi mà ảnh hưởng của chúng đủ mạnh. Chúng đã khích động và điều khiển luôn những hành vi phản động tại các khu vực đang bị tranh dành hay đang dưới quyền kiểm soát của chính phủ VNCH. Những hành vi đó đã tạo ấn tượng là VC hiện diện ở khắp nơi và do đó, đã ảnh hưởng vào lòng tin tưởng của người dân đối với chính phủ VNCH.

Do đó, chúng tôi tin là bất chấp những hậu quả chính trị bất lợi, quyết định tiêu diệt hạ tầng cơ sở của bọn VC của Tổng Thống Diệm, cái guồng máy chiến tranh tích cực của Cộng sản tại miefn Nam Việt Nam, có thể đã là cái nước cờ tấn công sáng suốt nhất trong giai đoạn tiên khởi của hành vi phản loạn. Đánh thẳng vào yếu điểm nhất của địch, thế cờ này đã nhằm để đạt cho được những kết quả tốt nhất mà tiết kiệm được nhân lực, mặc dù có phần ít ồn ào. Tổng Thống Diệm đã ức đoán đúng đắn là, khi mà bộ phận đầu não đó đã bị tiêu diệt hay vô hiệu hóa bởi các công tác của chính phủ VNCH, thì râu ria rể má của nó (các toán khủng bố ám sát, du kích làng, lực lượng địa phương, v. v. . .), cũng sẽ bị tê liệt hay các hoạt động của chúng thì cũng trở thành rời rạc và vô hiệu quả mà thôi.

Tổng Thống Diệm đã bắt đầu tiến công qua việc liên tiếp ban hành các sắc lệnh Số 6 và Số 7 trong năm 1956 và cái nghị định lừng danh 10/59 mà đã tuyệt đối đặt bọn Cộng sản cùng mọi hành vi xem như gây tổn hại cho nền an ninh quốc gia ra ngoài vòng pháp luật. 4 Nghị định 10/59 đã đặc biệt khiến giới chống đối công kích mãnh liệt, vì họ nghỉ là nó đang chuẩn bị cho việc đàn áp đẫm máu những kẻ chống đối, cũng như là cho một nền độc tài toàn trị. Điều khoản bị chống đối nhiều nhất trong nghị định này đã là việc thành lập những tòa ãn quân sự đặc biệt với thẫm quyền tuyên phán những bản án tử hình với những phiên tòa chỉ cần kéo dài ba ngày đối với những bị cáo đã bị tuyên án có những hành vi quả tang hay có dự mưu về phá hoại hay về việc xâm phạm đến nền an ninh quốc gia.

Tuy có phần khắc nghiệt, luật này đã cần thiết vì nó đã đáp ứng lại được một cách mãnh liệt và cấp thời đối với các hành vi phá họai hay phản động và cũng ngăn ngừa được chúng một cách có hiệu quả. Kinh nghiệm thì cũng như đã cho chúng ta biết là cũng không có cách nào khác hơn đối với loại chính sách tàn bạo của bọn Cộng sản.

  • • •

 

Điều quan trọng nhất đã không phải là việc ban hành một đạo luật với mục đích trừng phạt, nhưng là bằng cách nào mà luật này sẽ được áp dụng một cách đúng đáng.

Cũng phải công nhận là dưới chế độ Diệm, các cơ quan an ninh và phụ trách hành xử pháp luật của chính phủ VNCH đã tấn công một cách hiệu quả vào bọn VC, nhưng đồng thời họ cũng đã đụng chạm không đúng đến một số đối tượng. Những lổi lầm của họ đã khiến cho những kẻ từng kháng chiến chống Pháp và giới lãnh đạo đối kháng bất mãn cực kỳ, khiến cho tình trạng bất hòa và bất mãn càng tăng gia. Đặc biệt hơn nữa, các “toán công tác đặc biệt” ở Quân Khu I – một lực lượng an ninh riêng tư gần như hoàn toàn của ông Diệm và bị kiểm soát bởi người em trai út là ông Cẩn, với các mục tiêu đưa ra là tiêu diệt hạ tầng cơ sở bọn VC – đã trở nên một đề tài gây nhiều tranh cãi bởi vì chúng cũng đã bị dùng đối với các thành phần bất đồng chính kiến. Trong một giới hạn nào đó, các hành động đàn áp đó cũng đã làm xấu đi chính nghĩa chống Cộng và cũng khiến dân chúng rời xa chính phủ.

  • • •

VNCH đã từng tặng không cho người Dân máy phát thanh vì muốn họ PHẢI biết được SỰ THẬT.

 

Các Bài Đáng Giá Học Được

  1. Việc bảo vệ miền Nam Việt Nam, ngay từ lúc ban đầu, đã bị tổ chức trên một căn bản không thích hợp, quá chuyên chú vào quan niệm chống-xâm-lăng, mà lại quá ít để ý đến vấn đề an ninh quốc nội. Chiến trận sau đó đã không phải là tình trạng các đại đơn vị bộ đội Bắc cộng vượt vùng phi quân sự tràn xuống theo kiểu chiến tranh quy ước, mà cũng không là những trận theo quy ước như là ở tại Đại Hàn dạo 1951-1953. Kẻ địch chính của chúng ta – Bắc cộng – ngược lại, đã tung ra một loại chiến tranh nhân dân với mục tiêu chiếm quyền kiểm soát Nam Việt . . .

 

  1. Sau khi cuộc phản loạn được phát động thì vùng nông thôn Nam Việt đã nhanh chóng bị địch khống chế. Các viên chức làng ấp, dù đã được chọn lọc và tuyển lựa một cách nghiêm khắc, lại không được huán luyện và bồi dưởng về chính trị cho có được một trình độ ý thức hệ vững chắc, và cũng thiếu một sự hiểu biết thích đáng về các kỹ thuật và chiến thuật để dùng kiểm soát cùng bảo vệ người dân chống lại các hoạt động phản loạn của cộng sản. Các khả năng thu thập tin tình báo thì cũng gần như không hề có được tại cấp làng ấp. Để phòng vệ các nơi đó, các lực lượng Bảo An Đoàn cùng nhiều thành phần dân quân khác đã được thành lập một cách vội vã và được đặt dưới quyền chỉ huy của ngay vị trưởng làng hay ấp đó. Họ đã không hề được huấn luyện hay sữa soạn về ý thức hệ, lại có cấp chỉ huy yếu kém và bất tài. Dân Vệ Đoàn, lực lượng đặc trách bảo vệ an ninh vùng lãnh thổ ở bên ngoài các thôn làng, thì đã lại là một hổn hợp tạp lục gồm nhiều lực lượng phụ thuộc của người Pháp và những binh lính đã giải ngũ vì lý do để giảm bớt quân số của Quân đội Quốc Gia. Các trung đội Dân Vệ Đoàn thì lại thiếu cấp chỉ huy có khả năng, cũng như không hề được huấn luyện hay sữa soạn về ý thức hệ, mà cũng bị trang bị bằng vũ khí lổi thời. Khả năng tác chiến của họ đã rất ư là yếu kém.

 

  1. Các tỉnh trưởng và quận trưởng, những giới chức địa phương chính yếu chịu trách nhiệm về an ninh lãnh thổ, thì cũng không có được đủ nhân lực để bảo vệ các cơ sở cốt yếu sinh tử trong lãnh thổ mà họ đang phụ trách. Đặc biệt, họ cũng không có được đủ lực lượng trừ bị để can thiệp tái lập an ninh trong những trường hợp khẩn cấp và cũng để tăng gia lòng tin tưởng của người dân vào chính phủ.

 

  1. Hệ thống chỉ huy và kiểm soát (tại các quân khu, tiểu khu) mà có trách nhiệm điều hợp mọi nổ lực dân và quân sự nhằm chống phản loạn, thì lại không được chú ý đến một cách đích đáng. Và hậu quả là các khả năng của họ thì cũng phải bị rất ư là hạn chế mà thôi. Ngược lại, toàn hệ thống chiến thuật (quân đoàn, sư đoàn) thì đã lại được bành trướng mau lẹ, nhưng lại đã không có được những cơ hội thuận tiện hầu có thể chứng minh được khả năng của họ.

 

  1. Các cố gắng để điều chỉnh tình trạng này mà đã được khởi xuất từ năm 1961, mà đã đặt trọng tâm vào các đơn vị ấp và làng thì cũng đúng là đi đúng đường hầu cải thiện được an ninh tại các vùng phồn thịnh đông dân cư ở nông thôn. Nhờ nơi các tài liệu tịch thu được từ phía địch, chúng ta đã thấy là chúng nhìn nhận là hai năm 1961 và 1962 đã là thời kỳ các nổ lực phản loạn của chúng đã bị thất bại rất nhiều.

 

  1. Các ấp chiến lược đã cho thấy là rất hiệu quả trong việc bảo vệ người dân chống lại các hoạt động phản loạn của cộng sản. Chúng đã giúp cách xa người dân với hạ tầng cơ sở VC và cũng đã ngăn chận được nguồn thay thế nhân lực cho các lực lượng du kích địch . . . 5

 

 

  1. Chính sách nhằm tăng cường hiệu năng của Dân Vệ Đoàn bằng cách tái tổ chức, huấn luyện và trang bị cho vũ khí tân tiến hơn đã đúng là một bước đầu đúng đắn, nhưng đúng ra kết quả đã phải mỹ mãn hơn nhiều, nếu mà cố gắng đó đã không chỉ bị hạn chế dành cho các thành phần chuyên nghiệp và chỉ về các kỹ thuật và chiến thuật chống phản loạn mà thôi. Đáng lẻ, an ninh các ấp đã phải được cải thiện và việc bảo vệ người dân trong ấp đối với mối họa từ hạ tầng cơ sở VC và việc thành công tiêu diệt chúng, đã phải có hiệu quả hơn, nếu mà chính sách tăng cường hiệu năng cũng đã được nới rộng cho luôn lực lượng bán thời gian Bảo An Đoàn, cùng các viên chức xã ấp, và cũng đặt trọng tâm hơn về giáo dục ý thức hệ và về tình báo.

 

  1. Chú tâm huấn luyện Dân Vệ Đoàn cũng đã đưa đến được phần nào đó cho các lực lượng này thêm thành công. Nhưng các cố gắng đó thì cũng không đủ để mà chế ngự được các khó khăn khác của Dân Vệ Đoàn, như là thiếu cấp chỉ huy, không được cấp trên để ý đến và cái mặc cảm tự ti đối với Bộ Binh VNCH . . .

 

  1. Quyết định tái phối trí các sư đoàn bộ binh của QĐVNCH về các vùng đồng bằng, và rồi phối hợp họ với Dân Vệ Đoàn để duy trì an ninh tại các vùng đó, đã thật sự đem lại niềm tin nơi người dân và nâng cao tinh thần của các viên chức địa phương cũng như là quân nhân địa phương . . .

 

  1. Quyết định hủy bỏ tổng hành dinh Quân khu và đổi các tổng hành dinh Quân đoàn thành những Bộ Chỉ Huy Vùng Chiến Thuật với trách nhiệm bao toàn lãnh thổ cũng đã thật sự tăng cường hiệu quả về chỉ huy và kiểm soaft trong các cố gắng chống phản loạn . . .

 

  1. Cuộc náo động của Phật giáo vào năm 1963 đã phần nào làm bớt ảnh hưởng của các nổ lực chống phản loạn. Sự kiện thay đổi giới lãnh đạo sau đó đã gây ra một hậu quả tiêu cực là đã tiêu hũy luôn đi các công trình nồng cốt mà nền Đệ Nhất Cộng Hòa đã dày công nổ lực xây dựng để thực hiện mục đích đó: bản hiến pháp, Quốc Hội, các ấp chiến lược, các đoàn thể nhân dân cùng bộ máy nhằm chống lại hạ tầng cơ sở VC. Bắc cộng bèn lợi dụng triệt để tình trạng nhiễu nhương về chính trị này, đã kêu gọi trung lập hóa (mà đã cũng lại càng làm phân hóa hàng ngũ của chúng ta) và xâm nhập thêm nhiều người cùng đồ tiếp tế, trong một âm mưu nhằm xâm chiếm miền Nam bằng một trận tổng công kích quân sự, và cũng nhân đó, mà hy vọng rút ngắn được cuộc chiến du kích trường kỳ. Do những biến chuyển đó, Nam Việt Nam đã từ từ thoái hóa tới mức gần như đã phải sắp ngã gục, khiến cho lực lượng binh sĩ chiến đấu Mỹ đã phải nhập cuộc vào dạo 1965 hầu cứu đất nước chúng ta khỏi bị Cộng sản thống trị.

II/

MỸ HÓA CUỘC CHIẾN: 1964 – 1967

Tăng cường và Bành trướng Quân Lực VNCH (Republic of Vietnam Armed Forces RVNAF)

Dưới thời Đệ Nhị Cộng Hòa, tên gọi chính thức của quân đội miền Nam đã được đổi thành Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa

Từ năm 1964 tới năm 1967 thì QLVNCH đã được tăng cường mau lẹ về tổ chức. Ngoài sự kiện Bộ Binh đã trở nên vững mạnh, thì QLVNCH cũng đã sát nhập Dân Vệ Đoàn cùng Bảo An Đoàn luôn vào, mà đã được cải danh thành Địa Phương QuânNghĩa Quân để đáp ứng các mục tiêu về tổ chức. Cả hai lực lượng này đều trở thành những thành phần bộ binh thuộc lãnh thổ liên hệ, trong khi các sư đoàn bộ binh thì vẫn là một lực lượng truy kích lưu dộng chính yếu theo cơ cấu tổ chức mới.

Sự kiện bao gồm ĐPQ cùng NQ vô trong tổ chức của QLVNCH đã giúp cho việc tiến hành cuộc chiến của VNCH càng trở nên thêm có hiệu quả trên nhiều khía cạnh. Nó đã giúp thống nhất hóa việc chỉ huy cùng kiểm soát; các cố gắng chuyên chú nhiều hơn vào mục tiêu quốc phòng; giải quyết được nhiều nan đề mà ĐPQ phải đối phó về phương diện tinh thần và trang bị; rồi tạo ra cho được những điều kiện thuận lợi hầu cải thiện cho được hiệu quả các lực lượng địa phương thiết yếu đó. Nhưng bất chấp các lợi thế đó, sự tái thu xếp về cấu trúc quyền lực mới đó lại cũng đã mang lại những gánh nặng mới cho Bộ Binh VNCH cũng như là vài chỉ trích trong vài giới chức quân sự và chính trị.

  • • •

Nhu cầu phối hợp một cách có hiệu quả về các sinh hoạt quân sự và hành chánh cũng đã là điều bắt buộc cho việc duy trì an ninh và trật tự trong một tỉnh nào đó. Để làm được điều này, VNCH đã có lý khi quyết định thống nhất việc chỉ huy vào dưới toàn quyền của vị tỉnh trưởng mà thôi.

  • • •

Huy hiệu Bộ Tổng tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng hòa

Để giúp cho việc chỉ huy và kiểm soát thêm phần hợp lý, chính phủ VNCH sau đó đã chỉ định các sĩ quan làm tỉnh trưởng với thẫm quyền kiểm soát cả trên nền hành chánh tỉnh lẫn cơ cấu quân sự trong tỉnh. Cùng lúc, văn phòng của Dân Vệ Đoàn đã bị giải tán và các nhân viên đều được sát nhập vô bộ chỉ huy của các tiểu khu.

Giải pháp này đã đưa lại kết quả hữu hiệu hơn và có lẽ đã thích hợp hơn với hiện trạng của miền Nam, nhúng nó cũng khiến cho các trách nhiệm của vị tỉnh trưởng lại càng cực kỳ nặng nề khó khăn. Hậu quả đã là đương sự cuối cùng thường đã không thể chu toàn được vai trò chỉ huy và kiểm soát, yểm trợ, rồi chăm lo cho các trung đội ĐPQ, rất là nhiều nhưng lại bị rải mỏng ra toàn khắp lãnh thổ của tỉnh. Để nhẹ bớt trách nhiệm, vị tỉnh trưởng đã phải ủy quyền lại cho vị tiểu khu phó, vị phó tỉnh cùng vị tham mưu trưởng tiểu khu, nhưng việc này xem ra thì cũng không được hoàn toàn thỏa đáng cho lắm. Do đó, chúng tôi quan niệm là giải pháp tốt nhất đã phải là gom các trung đội ĐPQ lại thành những tiểu đoàn độc lập.

Suốt dạo 1964 đến 1967, cấu trúc quốc phòng tối cao của QLVNCH cũng đã được thay đổi triệt để về phương diện tổ chức. Bộ Quốc Phòng đã thành lập thêm Nha Động Viên và Bộ Tổng Tham Mưu thì thành lập thêm ba phòng với chức năng mới về huấn luyện, tiếp vận và chiến tranh chính trị, ngoài cái quyết định tổ chức Phòng Tổng Quản trị (Adjutant General) thành một phòng riêng. 6 Việc tái tổ chức này đã giúp cho các nổ lực chiến tranh thuận lợi hơn nhờ nơi công tác quản lý, việc điều hành và yểm trợ đã được cải tiến hiệu quả hơn nhiều trong QLVNCH. Quyết định hủy bỏ bộ chỉ huy vùng đã là một quyết định hợp lý, nhưng việc hủy bỏ thành phần chỉ huy của Bộ Binh của QLVNCH thì lại khác hẳn. Khi trở về lại quan niệm củ để cho Bộ Tổng Tham Mưu kiêm luôn vai trò phải chỉ huy quân đội, QLVNCH quả thật đã bớt phải tốn kém về nhân sự và quân nhu quân dụng, do đó cũng đã cắt bớt chi tiêu và giúp cho việc điều hành thêm phần hiệu quả. Tuy nhiên, cũng qua tiến trình đó, công việc của Bộ Tổng Tham Mưu cũng đã bị trì trệ lại qua các sinh hoạt hàng ngày, mà lại không chuyên chú được trong việc soạn thảo và phát triển những kế hoặch trường kỳ có hiệu quả cho cả toàn quốc.

  • • •

Theo kinh nghiệm bản thân, chúng tôi xác tín là một Bộ Chỉ Huy của Bộ Binh trong QLVNCH thì đã sẽ có thể đở bớt các gánh nặng cho Bộ Tổng Tham Mưu về các phương diện tổ chức, huấn luyện và quản trị, bởi vì Bộ Binh QLVNCH đã không chỉ phát triển quá nhanh, mà còn đã là quan trọng nhất trong số ba chủ lực. Việc này thì đã sẽ phải giúp được cho Bộ Tổng Tham Mưu dành toàn cố gắng và khả năng vào công tác kế hoặch hóa trường kỳ cùng điều khiển chiến trận

Nhiều thẫm quyền quân sự VNCH đã nghỉ là tiến trình bành trướng của QLVNCH trong giai doạn 1964-1967 đã không được chuẩn bị đúng đáng và đã không được khôn ngoan cân bằng, giữa các nhu cầu về chiến đấu với các nhu cầu về yểm trợ. Họ cũng cảm thấy là chương trình này cũng đã không hưởng lợi được gì trong chính sách phân phối thích hợp hơn về các các ưu tiên mà Hoa Kỳ dã dành ra cho chúng ta. Các giới chức này đã nêu ra là tình trạng phát triển bất cân bằng đã khiến cho QLVNCH quá lệ thuộc vào các lực lượng Mỹ về hỏa pháo, yểm trợ chiến trường, lưu động chiến thuật và về quân nhu quân liệu. Tuy chúng tôi đồng ý là Hoa Kỳ đã từng cần phải đặt ưu tiên cao trong công tác bành trướng QLVNCH cùng tăng cường các khả năng chiến đấu của họ ngay cả trước khi can thiệp bằng chính binh lính của họ, thì chúng tôi đã không nghỉ là chương trình bành trướng đã được chuẩn bị một cách thích hợp và cũng không hề được khôn ngoan cân bằng.

  • • •

Về đề tài “phát triển bất công bằng”, chúng tôi nghỉ là sự kiện này đã phần nào không thể tránh được khi so sánh về tỷ lệ giữa khả năng tác chiến của bộ binh với việc yểm trợ binh lính, tuy là chúng tôi cũng phải nhìn nhận là tình trạng bất công bằng này cũng khá là quá lố, không chỉ trong dạo 1964 tới 1967, mà luôn cả trước đó. Theo chúng tôi, một tình trạng cân bằng lý tưởng đã không thể nào thể nào thực hiện được đối với một quân đội mà đã phải lệ thuộc vào sự giúp đổ của ngoại quốc để mới có thể tồn tại được. Và rồi ít ra, dù sao, đã phải cần một sự phát triển có tính cách cân bằng về tiềm năng hỏa lực, chính yếu là về pháo và không trợ, mà đã rất ư là thiết yếu để tăng cường kiến hiệu của bộ binh. Chúng tôi đã tin là Binh chủng Pháo binh VNCH, rất ư là đầy kinh nghiệm và đầy khả năng, đúng ra đã không phải bị khó khăn gì trong tiến trình phát triển khả năng trợ pháo trong đoãn kỳ, cũng như trong trường kỳ.        

  • • •

Tham Dự của Hoa Kỳ vào Cuộc Chiến

Sự can thiệp đa dạng của quân đội Mỹ vào Nam Việt Nam từ năm 1965 đã vừa đúng lúc để cứu thoát đất nước chúng tôi ra khỏi cái thảm họa rồi đây sẽ tan tành. Nhờ đó, Nam Việt Nam đã quật ngược lại được, từ tình trạng bị bí thế, để có thể lại tồn tại thêm được mười năm nữa như là một nền cộng hòa tự do. Sự kiện các quân đội của Thế Giới Tự Do cũng cùng tham gia đã gây ảnh hưởng tốt cho mục tiêu tự do nhân loại mà quân đội Hoa Kỳ đã cam kết và cũng đã giải tỏa được các hiểu lầm về ý đồ đế quốc hay mưu tính thuộc địa của Mỹ. Sự thật đã rõ ràng là như vậy, nhưng dù sao thì sự hiện diện đông đảo của binh lính ngoại quốc cũng vẫn đã có một ảnh hưởng sâu đậm trên tâm tư cùng suy nghỉ của người dân và quân đội Nam Việt Nam.

Với đầu óc vẫn còn bị ám ảnh đau thương bởi thời kỳ quá khứ lâu dài từng bị là thuộc địa, người dân Việt – Bắc lẫn Nam – đều đã cực kỳ nhạy cảm về sự hiện diện của những quân nhân ngoại quốc trên đất mẹ. Sự kiện này rồi thì cũng sẽ lưu lại một dấu hằn sâu đậm về chính trị lẫn xã hội trong đầu óc của cả toàn người Việt ở cả hai bên vùng phi quân sự.

  • • •

Phải chờ mãi đến năm 1967, và đặc biệt là năm 1968, thì đa số người dân miền Nam Việt Nam mới nhận chân ra được để triệt để mang ơn sự hiện diện của quân đội Mỹ, cùng với tính cách gian dối ngụy biện của kiểu tuyên truyền VC. Họ đã tận mắt nhìn thấy quân đội Mỹ thành công ngăn chận, để rồi quét sạch các đơn vị chính quy của Cộng sản ra khỏi những khu đông dân cư, và mang lại được an ninh cho đa số các làng ấp. Họ cũng đã chứng kiến được việc tân trang và xây dựng đường xá và cầu cống, giúp cho việc lưu thông liên lạc giữa các thành phố với vùng nông thôn được dể dàng và mau chóng hơn nhiều. Tình trạng này lại càng nổi bật khi đem ra mà so sánh với các loạt hành vi phá họai của VC. Người dân tại nông thôn Nam Việt Nam cũng bắt đầu trực tiếp hưởng dụng được những lợi ích của các chương trình viện trợ của Mỹ nhằm vào công trình tái xây dựng vùng nông thôn đã bị tàn phá và giúp tái phục hồi việc sản xuất gạo bằng khoa học với kỹ thuật để phục vụ cho cuộc sống nông thôn. Thật vậy, cái hình ảnh của anh bạn Mỹ dể thương thân thiện, được thể hiện qua bao toán kỹ sư siêng năng đó, bao nhóm hành động dân sự đầy ân cần đó, cùng bao nhiêu viên cố vấn quận rất hăng say đó, mà đó chỉ mới kể ra một số nhỏ mà thôi, mà vẫn thường xuyên đi khắp các ấp làng tại vùng nông thôn, thì nay xem như đã được gắn hằn không bao giờ bị phai mờ trong con tim của người nông dân chất phác Nam Việt Nam rồi thôi.

  • • •

Trong khi đó, bọn Cộng sản đã triệt để khai thác sự hiện diện của Mỹ về mặt tâm lý và chính trị, qua việc không chỉ nhắm tuyên truyền vào công luận quốc nội mà luôn cả trên dư luận thế giới. Dĩ nhiên, chúng đã đổ lổi mọi tàn phá và tệ hại xã hội lên đầu các quân nhân Mỹ. Để nhằm khích động truyền thống ái quốc của người Việt ở cả hai bên phía, và cũng để nhận được viện trợ của khối Cộng, VC đã lớn tiếng tố cáo quân đội Mỹ là những tên xâm lăng đế quốc. Đặt ngoài cảm nghỉ riêng tư, chúng ta phải công nhận là CS đã thành công trong việc khơi động được nhiệt tình ái quốc của người Việt, đặc biệt trong số nông dân ở miền Nam Nam, rất sớm vào khoảng năm 1962. Thành công này đã là một trong nhiều yếu tố từng giúp cho chúng nhanh chóng khởi loạn ở vùng nông thôn Nam Việt, cũng như là sự tăng trưởng lực lượng của chúng trong giai đoạn đầu cuộc chiến. Tuy nhiên, đến dạo 1967 thì tuyên truyền dối trá nhằm kêu gọi lòng ái quốc của CS đã không còn lừa gạt được đa số người dân miền Nam nữa được.

  • • •

Sự kiện Mỹ đã quyết định tham dự vào cuộc chiến, xem ra thì lại đã ngăn cản thực hiện các ưu tiên về tối tân hóa và phân phối vũ khí tân tiến cho QLVNCH, mà đúng ra họ đã phải được nhận rồi.  Việc dời lại các vụ phân phối quân trang quân dụng mà đã từng được quy định trong kế hoặch tối tân hóa về vũ khí, về phương tiện liên lạc và về vận chuyển, mà theo đó thì cũng đã đặc biệt, có chấp thuận việc thay thế loại súng M-1 bằng súng M-16 hầu có thể đối phó được với loại AK-47 chết người mà bộ đội Cộng sản đã từng sử dụng cả mãi từ năm 1964, thì đúng là rõ ràng cũng đủ để chứng minh cho sự kiện này mà thôi.

  • • •

Chúng tôi không nghỉ là người dân miền Nam sẽ đã sẳn sàng để chấp nhận một ông tướng Mỹ đi chỉ huy QLVNCH, cho dù ông ta có đủ mọi tài năng và ưu điểm mà họ sẽ phải ngưỡng mộ và kính nể. Về mặt khác, chúng tôi cũng nghỉ là công luận Mỹ rồi thì cũng sẽ dội ngược với cái ý kiến là phải đặt các lực lượng quân sự hùng mạnh và vang lừng khắp thế giới của họ dưới quyền lãnh đạo của một vị tướng địa phương của cái xứ mà lại đang đi nhận viện trợ do chính tiền thuế của họ từng đã đóng góp. Thêm nữa, việc thành lập một bộ chỉ huy đồng minh do một vị tướng Mỹ lãnh đạo, rồi thì cũng sẽ ràng buộc họ thêm quá mức vào cái định mệnh của miền Nam Việt Nam, và việc này sẽ cực kỳ gây khó khăn cho Hoa Kỳ khi họ muốn phủi tay rút đi mà không bị hao tổn về danh dự cùng tiếng tăm, trong khi mà một chiến thắng quân sự vẫn hãy còn rất ư là xa vời.

Và kết quả là, chúng tôi thiết nghỉ cái quan niệm cộng tác cùng phối hợp, từng được xác định qua các nguyên tắc hợp tác cân xứng cùng phân chia trách nhiệm chiếu theo khả năng, quả đúng là chủ trương tinh khôn và thích hợp nhất trong bối cảnh của Việt Nam. Với sự yểm trợ của một hệ thống cố vấn sâu rộng mà đang được tiến hành tại mọi lãnh vực và mọi cấp xuống tận tới tiểu đoàn, và tới cấp quận với toàn quyền quản lý viện trợ quân sự, mà đã chính là huyết mạch chết sống của QLVNCH, và chiếu theo lòng tin tưởng cùng ngưỡng mộ đối với họ của gần như là đa số giới quân sự cùng thẫm quyền dân sự của miền Nam do nơi tuổi tác, kinh nghiệm nghề nghiệp và khả năng lãnh đạo, chúng tôi vẫn tin là vị chỉ huy của MACV, cũng như các vị chỉ huy của các lực lượng dã chiến Mỹ, đã vẫn luôn luôn có đầy đủ tin tình báo, thẫm quyền cùng các phương tiện để điều hợp và tiến hành cuộc chiến một cách hiệu quả và cũng để thuyết phục được các đồng sự VNCH để thi hành theo những đề nghị và khuyến cáo của họ, cho dù họ đã vẫn không hề đích thân trực tiếp kiểm soát QĐVNCH.

  • • •

Huy Hiệu Free World Military Assistance Forces FWMAF (Lực Lượng Viện Trợ Quân Sự Đồng Minh) tại Việt Nam

Việc phân chia công tác và trách nhiệm giữa QLVNCH vói phía Hoa Kỳ và Free World Military Assistance Forces FWMAF (Lực Lượng Viện Trợ Quân Sự Đồng Minh), mà đã dược chính htuwsc quy định từ năm 1966 bằng các “Kế Hoặch Hành Quân Hổn Hợp” hang năm, đã tỏ ra vừa hợp lý mà cũng uyển chuyển nhờ nơi đã tận dụng được các sức mạnh lẫn yếu điểm, các khả năng cùng các nguồn năng lực của mổi lực lượng. QLVNCH mà vẫn thường thiếu thốn về yểm trợ tác chiến thf lại từ lâu nay rất quen thuộc với địa hình địa thế, đã chịu trách nhiệm chính yếu trong chương trình bình định của Chính phủ VNCH cùng duy trì an ninh lãnh thổ. Xuyên qua công tác tiến hành các chiến dịch giải tỏa trường kỳ cùng các hoạt động hàng ngày về an ninh, họ cũng nổ lực chính yếu vào công tác bảo vệ và tăng cường an ninh các khu vực cũng như là gìn giữ cho các trục lộ giao thông chính yếu được khai thông không bị lực lượng chính quy địch, hay bộ đội địa phương, đám du kích và mấy tiểu mật khu phá hoại. Nói cách khác thì QLVNCH đã được dùng trong cuộc “tiểu” chiến.

Trong khi đó, quân đội Mỹ, mà vẫn được cực kỳ ưu đãi mạnh mẽ và đầy hiệu quả về hỏa lực lẫn khả năng lưu động nhưng lại rất ư là xa lạ với môi trường mà họ đang phải hành quân, thì lại dồn mọi nổ lực của họ vào mục tiêu đánh phá các hậu cần cùng mật khu chính yếu của địch tại những vùng xa xôi hoang vắng. mà đồng thời cũng nhằm tiêu diệt các đơn vị chính quy lớn của Cộng sản mà vẫn thường trú lánh tại những nơi sát biên giới đó mà cũng rất ít dân cư. Chính họ thì mới đã được giao cho vai trò đãm nhiệm cuộc “đại” chiến.

  • • •

Cho dù rất ư là hợp lý và uyển chuyển, phương thức sử dụng các quân đội theo kiểu này cũng vẫn đã không thoát được việc bị chỉ trích. Vài thẫm quyền tự giác đã ghi nhận là chính cái vai trò bị đặt vào vai trò thứ yếu của QLVNCH cũng đã có hậu quả tiêu cực cho hình ảnh của họ và cũng đi ngược lại với tinh thần và khả năng hăng say chiến đấu của họ mà thôi. Họ cũng đã tranh luận là trong trường kỳ, sự kiện này sẽ ảnh hưởng không tốt vào sự kiến hiệu của QLVNCH, đặc biệt là sẽ rất nguy hiểm cho cái ngày mà chúng ta sẽ đóng một vai trò trong một cuộc đại chiến theo quy ước. Chi tiết càng cực kỳ bén nhạy lại chính là cái hình ảnh bị đem lại là chỉ có quân đội Hoa Kỳ mới đang thực sự chiến đấu trong cuộc chiến này DÙM cho miền Nam Việt Nam này.

Dĩ nhiên, tiêu chuẩn tự ái dân tộc thì cũng rõ ràng đã là nguyên nhân của loại chỉ trích này, tuy dù có đáng khen nhưng lại cũng hoàn toàn bị đưa ra không đúng chổ. Nó biểu lộ một sự thiếu hiểu biết về lưỡng tính của cuộc chiến và các khả năng thực sự của QLVNCH trong bối cảnh đó. Thật vậy, để đáp ứng được với cả hai khía cạnh “đại“ và “tiểu“ của cuộc chiến, hai bộ mặt mà vẫn cứ đan chồng chéo lẫn nhau, mà cũng cùng đều cốt yếu mà đã từng giúp cho địch kiểm soát được nông thôn và bóp nghẹt các thành phố của chúng ta, thì chúng ta cũng không thể nào tự cho phép mình coi nhẹ bất kỳ khía cạnh nào cả. Cố gắng về cả hai thì đều phải tương trợ nhau và được tiến hành song song nhau; do đó, vừa đánh cuộc “tiểu“ chiến mà vẫn tiến hành cuộc “đại“ chiến đã cùng quan trọng như nhau thôi. Do tình hình chính trị quá ư rối răm tại miền Nam dạo đó, dĩ nhiên chúng ta đã không thể giao trách nhiệm bảo vệ an ninh lãnh thổ, cùng việc yểm trợ bình định hẳn cho quân đội Mỹ và Khối Viện Trợ Quân Sự của Khối Tự Do (Free World Military Asistance Forces FWMAF). Và cũng vậy, cũng sẽ là một hành động điên rồ khi đem QLVNCH tấn công các hậu cần và đơn vị chính quy của địch, vì lý do đơn giản chỉ là họ vẫn chưa đủ khả năng để có thể hoàn thành được công tác này mà thôi.

Hơn nữa, việc phân nhiệm chiếu theo các kế hoặch hành quân hổn hợp hàng năm mà đã quy định trách nhiệm cho QLVNCH, đặc biệt là dùng các sư đoàn bộ binh để giữ gìn an ninh lãnh thổ, thì cũng chỉ là việc tiếp tục trách nhiệm mà họ vẫn từng đãm nhiệm kể từ năm 1961, khi mà định chế Vùng Chiến Thuật Sư Đoàn (DTA – Division Tactical Area) được thành lập. Cũng đúng là để hoàn thành nhiệm vụ này, mổi sư đoàn bộ binh cũng đã phải rải rộng các đơn vị của mình ra trong những vị trí phòng vệ cố định và thường thì cũng mất luôn quyền kiểm soát các tiểu đoàn riêng rẻ từng được phân bổ cho đặt dưới quyền chỉ huy của bộ chỉ huy tiểu khu. Với thời gian thì các hoạt động hàng ngày về an ninh trong cùng môi trường đó, mà cứ được kéo dài năm này qua năm khác, rồi thì cũng đã biến các đơn vị trong sư đoàn trở nên lười biếng, lè phè và ngày càng kém hăng say chiến đấu; qua tiến trình này thì khả năng chiến đấu của họ thì cũng bị hao mòn, do nơi cứ mãi quá chuyên lo với chỉ những cuộc hành quân chỉ với các đơn vị nhỏ mà thôi. Tất cả những việc này rồi thì đã khiến cho các sư đoàn của chúng ta không còn sẳn sàng cho những trận chiến quy mô mà rồi sau đó, họ đã bị kêu gọi để tham gia trong cuộc đại chiến sau đó. Tuy nhiên, sự trở ngại này đúng ra đã phải tránh được cả từ năm 1961, hay ít ra thì cũng là từ năm 1964, khi mà đến phiên QLVNCH chính thức được phân nhiệm đãm trách chính những gì mà các sư đoàn của chúng ta vẫn đã thường chịu trách nhiệm từ lâu nay rồi . . .

Cáo buộc là chỉ có binh lính Mỹ thì mới thực sự đấm đá trong cuộc chiến này, mà thường là từ dư luận Mỹ cùng của luôn cả thế giới, không thực sự có nguồn gốc từ sự kiện là chính các đơn vị Mỹ đang chịu trách nhiệm chính trong các trận chiến. Cho dù có đúng hay sai thì nó cũng đã có phản ảnh một phần nào của một sự thật nào đó: con số hạn chế của các đơn vị QLVNCH tham dự trong các trận lớn và tỷ lệ nhỏ nhoi của số đơn vị QLVNCH từng được dùng trong các chiến dịch quy mô lớn. Điều quan trọng hơn, lời cáo buộc này lại cũng bị xuất phát từ một sự kém thông tin hiểu biết và [có phần nào] vì do giới truyền tin, đặc biệt là giới báo chí Mỹ.

Sự thật đã là, suốt thời kỳ Hoa Kỳ đã tham gia, chính ra các đơn vị từng tham dự những chiến dịch lớn của phía QLVNCH thì chỉ là của các đơn vị Dù, mà đã được nâng cấp lên đến quy mô của một sư đoàn vào năm 1966, cũng như là một lữ đoàn Thủy Quân Lục Chiến. Cũng vậy, trong những chiến dịch hành quân hổn hợp, vai trò của các đơn vị Bộ Binh VNCH thì cũng chỉ có tính cách tượng trưng mà thôi, bởi vì họ cũng chỉ được giao phó cho những sứ mệnh ở ngoại vi, như chỉ là để ngăn chận hay để sàng lọc mà thôi, hay giữ gìn các trục lộ giao thông không bị phá hoại cùng di tản dân cư các vùng bị ảnh hưởng. Rất rõ ràng, hoặc là các vị chỉ huy chiến trường Mỹ thì cũng hoàn toàn không tin nơi khả năng của Bộ Binh VNCH, hay nếu có, thì họ cũng không hoàn toàn tin tưởng cho lắm. Về mặt khác, các vị chỉ huy tại chiến trường của mấy sư đoàn Bộ Binh trong QLVNCH thì cũng rất ư là khó xử, khi bị đòi hỏi phải cung cấp nhiều đơn vị hơn cho các chiến dịch đó, mà chính yếu cũng bởi vì gánh nặng phải ráng chu toàn bảo đãm an ninh cho lãnh thổ thuộc trách nhiệm của họ; đúng vậy, nổ lực rãi rộng binh lính để bảo vệ an ninh lãnh thổ của Bộ Binh VNCH thì cũng không bao giờ được xem như là đầy đủ cho được. Cho dù các con số tử vong của QLVNCH chỉ trong các cuộc đụng độ hàng ngày của một cuộc chiến thu nhỏ, thì cũng bằng hay cũng thường cao hơn là các con số của quân đội Mỹ trong các chiến dịch thường xuyên “tìm và diệt”, thì rốt cuộc cũng đã không hề bao giờ được giới truyền tin ngoại quốc nói tới. Do đó, các đầu đề tin tức trên báo chí thì cũng chỉ nói về những chiến dịch đại quy mô của Mỹ với nào là toàn những trận đụng độ khủng khiếp, cùng những con số thương vong nặng nề của cả đôi bên. Cũng vậy, trong khi MACV có vẻ không có gì trở ngại với giới truyền tin, mà cũng đã bị lợi dụng hầu giúp đở cho các hoạt động của Mỹ, thì chính quyền VNCH lại có vẻ muốn tránh xa báo chí địa phương, ngoài việc chỉ cung cấp mấy bản tin về chiến trường mà thôi. Thái độ xa cách lạnh lùng này đã phát xuất không phải từ sự nghi ngờ tính cách vô tư của các phóng viên chiến trường mà đã lại chính là do từ cái khuynh hướng chuộng những mẩu tin nóng bỏng, mà đa số thì cũng đã không hề đóng góp được gì cho nổ lực chiến tranh cả.

Bình Định và Phát Triển Nông Thôn

Chương trình bình định và phát triển nông thôn đã là một sự phối hợp hài hòa các cố gắng dân sự và quân sự nhằm để đối đầu lại với toàn bộ cuộc chiến phản loạn của giặc Cộng. Trong những nét chính, đó đã là một sự tiếp nối và dung hợp nhiều chương trình mà chính phủ Đệ Nhất Cộng Hòa đã phát động để tái lập an ninh tại các vùng nông thôn cùng phát triển hạ tầng tại nông thôn. Tất cả các chương trình đó đã không thành công vì thiếu thống nhất, kế hoặch thì yếu kém, không phối hợp được giữa quân và dân sự, mà cũng không được yểm trợ một cách không đầy đủ. Sau vụ đảo chánh năm 1963, thì chúng đã gần như bị hoàn toàn gián đoạn và bị gạt qua bên suốt trong cả hai năm vì các lý do bất ổn định về chính trị. Phải chờ mãi đến năm 1966 thì các nổ lực đó mới đã dược tái tục và thổi thêm sức sống mới với Chương trình Bình Định và Phát Triển Nông Thôn, mà đã dựa trên các kinh nghiệm từng học được trong thời quá khứ.

  • • •

Thấp hơn cấp trung ương, và cũng luôn cả tại các tổ chức với cơ cấu đồng đẳng, đã có một sự cộng tác giữa hai chính phủ VNCH và Hoa Kỳ ở mọi cấp bực trên toàn lãnh thổ, xuống tận đến cả cấp quận. Cách tổ chức như vậy thì cũng thật là hiệu quả và đã đáp ứng toàn vẹn đúng được với các nhu cầu của Chương Trình. Đa số các thành tựu vào dạo 1966 và 1967 đều chính là nhờ cố gắng phối hợp đầy kiến hiệu cùng sự yểm trợ của Hoa Kỳ. Nói chung thì Chương trình Bình Định và Phát Triển Nông Thôn cùng khuôn cách cộng tác phối hợp đã giúp cho chính phủ VNCH và MACV tận dụng được mọi khả năng cùng phương tiện; phối hợp mọi hoạt động quân và dân sự hầu tiêu diệt được hạ tầng cơ sở VC, đám du kích, các đơn vị địa phương cũng như là chính quy; mở rộng thêm các vùng do chính phủ VNCH kiểm soát; và tạo niềm tin của người dân vào chế đọ tự do và dân chủ Nam Việt Nam, cùng với viễn ảnh của một cuộc sống tốt đẹp hơn.

Và đồng thời với Chương trình Bình Định và Phát Triển Nông Thôn thì cũng có Chương Trình Phượng Hoàng, được phát động từ năm 1967, mà đã biểu lộ một quan niệm chiến lược thiết yếu nhằm bảo vệ người dân miền Nam trước nạn khủng bố của VC. Đối tượng chính của chương trình chính là hạ tầng cơ sở VC, nhược điểm chính của địch, mà từ lâu nay vẫn đã được xem như là nền móng của cuộc phản loạn của Cộng tại miền Nam. Công trạng của chiến dịch Phượng Hoàng là đã xuất phát từ sự tin tưởng là chừng nào mà hạ tầng cơ sở VC còn, thì sẽ vẫn không đạt được chiến thắng vẹn toàn được. Khi tiêu diệt được một đơn vị dịch, dù thuộc lực lượng địa phương hay chính quy, thì cũng chỉ là một chiến thắng quân sự ngắn hạn mà thôi. Chính theo quan niệm này, thì cũng không có gì là quá lố khi tuyên bố là việc loại bỏ được một trung đội hay một tiểu đoàn địch lại không quan trọng bằng việc loại bỏ hay bắt giữ được một tay chính ủy cấp quận hay cấp tỉnh. Thật rõ ràng là khi giết hay bắt được một tên chính ủy tỉnh thì đương nhiên toàn bộ hoạt động quân sự cùng chính trị của địch trong tỉnh thì cũng phải bị gián đoạn trong một thời gian nào đó. Và nếu mà vẫn cứ duy trì cùng bành trướng được chiến dịch dẹp trừ này, không sớm thì chày, cả tỉnh cũng sẽ được “bình định” xong mà thôi.

Ngoài mục tiêu chiến lược này, Chương Trình Phượng Hoàng cũng đã tìm cách để khống chế các trở ngại quan trọng về cộng tác và phối hợp giữa các cơ quan quân sư và tình báo dân sự ở mọi cấp, và cũng luôn giữa các hoạt động tình báo với các cuộc hành quân. Việc thành lập các trung tâm phối hợp về hành quân với tình báo ở cấp quận và tỉnh (Hội Đồng Phối Hợp Tình Báo vói Hành Quân Tỉnh ~ Provincial Intelligence and Operations Coordination Committee DIOCC Hội Đồng Phối Hợp Tình Báo với Hành Quân Quận ~ Dítrict Intelligence and Operations Coordination Committee DIOCC) đã đánh dấu một điểm son đặc biệt trong cách tổ chức của Phượng Hoàng. Cả hai bộ phận này đều đã là những phần hành then chốt có trách nhiệm soạn thảo kế hoặch thu thập các tin tức và hoạt động, cũng như là tiến hành các chiến dịch hầu tiêu diệt sạch sẽ hạ tầng cơ sở VC.

  • • •

Kể từ ngày trở thành một quốc sách và bắt đầu được tài trợ cũng như là được trang bị yểm trợ bởi Military Assistance Command Civil Operations and Revolutionary (or Rural) Development Support MACCORDS (Bộ Chỉ Huy Viện Trợ Quân Sự Hoa Kỳ về các Chiến Dịch Dân Sự và Yểm Trợ Phát Triển Cách Mạng (hay Nông Thôn), 7 Chương Trình Phượng Hoàng đã thành công đáng kể trong mục tiêu số VC thuộc hạ tầng cơ sở ra đầu hàng, bị bắt giữ và bị loại trừ. Đối với số còn tại đào thì chương trình cũng quả là một sự nhắc nhở ngăn cấm chúng về phương diện tâm lý, do nơi áp lực đè nặng trong đầu chúng, thì cũng đã bắt buộc chúng phải thay đổi thường xuyên lý lịch và nơi sinh sống, ngõ hầu trốn tránh cho được các mẻ lưới thanh lọc. Rồi qua thời gian, các nhân sự của hạ tầng cơ sở VC đã trở thành không còn kiên định và các hoạt động của chúng cũng đã giảm thiểu một cách đáng kể. Suốt trong thời gian Trận Tổng Tấn Công Mùa Hè 1972 thì vai trò của chúng cũng đã không có gì là đáng kể, đặc biệt nếu đem ra so sánh với thời nhân Trận Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân.

  • • •

Công luận, đặc biệt là ở ngoại quốc, đã đặc biệt tỏ ra khắc nghiệt chống đối Chương Trình Phượng Hoàng, và tố cáo đó chỉ là những màn thảm sát nghiệt ngã không phân biệt ai cả. Chúng tôi thiết nghỉ quan niệm chống đối này là ngu xuẩn và bị thông tin sai lầm về mục tiêu của chương trình; bản chất, đặc tính và vai trò của hạ tầng cơ sở VC trong cuộc chiến; và sự kiện là Cộng sản đã bị Hiến Pháp VNCH đặt ra ngoài vòng pháp luật rồi. Đa số lời chỉ trích thì cũng đều mang một ảo tưởng sai lầm là Chương Trình Phượng Hoàng cũng chỉ là một chiến dịch khủng bố giả danh và nhân đó, chính phủ VNCH đã lợi dụng để ám sát cùng bắt cóc các nhà đối kháng chính trị luôn. Tuy nhiên, quả đó là tuyệt đối hoàn toàn sai lầm và khác xa với sự thật mà thôi; chương trình đã không hề bao giờ đã bị phát họa với ý đồ như vậy. Có lẻ cũng vì các người chỉ trích đó, thì cũng đều chống đối chế độ Nam Việt nam do nhũng lý do phản chiến hay đơn giản bị [đầu độc] bởi tuyên truyền của Cộng mà thôi.

Chúng tôi cũng không bác bỏ sự kiện là chương trình thì cũng đầy sai lầm quan trọng, như là đã từng sai lầm bắt giữ những đối tượng, đối xử không đứng đắn với người bị bắt giam và vô tình giết chết những kẻ tình nghi trong các lần đụng độ. Nhưng thật sự các sai lầm đó đều đã không phải là những hành động cố tình được cho phép bởi một chính sách độc ác. Những điều đó chỉ phản ảnh sự bất tài và thái độ bất dấn thân chỉ của vài thành phần, điều không thể nào tránh được trong tiến trình thực hiện, cùng thi hành một chương trình quy mô như là Phượng Hoàng được. Các giới chức trong Chính Phủ VNCH, cùng các cố vấn Mỹ thì cũng đã tận cùng cố gắng trong khả năng hầu tránh để xảy ra những vụ đáng tiếc đó mà thôi.

  • • •

Các cuộc bầu cử xã ấp mà đã được tổ chức vào năm 1967 để thay thế cho cái khuôn mẫu phi dân chủ là chỉ định mà thôi, đã là một sáng kiến tuyệt hảo, nhằm củng cố nền tảng nhân dân, hầu bảo vệ cho chính quyền. Được quy định trong Hiến Pháp Nền Đệ Nhị Cộng Hòa và cũng được Hoa Kỳ khuyến khích, các cuộc bầu cử tại các thôn làng đã từng được tổ chức tại những vùng mà an ninh từng được tái lập. Tuy nhiên kết quả đạt được đã không đáp ứng được như từng mong đợi. Về một phương diện nào đó, các vùng nông thôn thì cũng đã bị tàn phá từ lâu nay bởi một cuộc chiến đã kéo dài quá ư là lâu, và các đòi hỏi của cả hai bên thì cũng đã khiến cho thành phần thanh niên ưu tú tại những nơi đó phải ra đi hay không tới định cư, và thì chỉ còn lại phái nữ, người già cùng trẻ em, mà ước mơ chỉ là được để yên, hầu chỉ sinh sống được qua ngày tháng mà thôi. Do đó, các người [tự] ra ứng cử mà từng đã chào đời ngay trong thôn làng thì lại càng hiếm hoi và gần như là không có ai cả. Đa số nhưng ứng cử viên thì không thuộc trong số ưu tú của thôn làng mà khả dĩ có thể khiến cho dân thôn làng kính nể được; thậm chí, một số lại còn bị nghi ngờ là có thiện cảm với phía bên kia nữa. Số hiếm hoi mà ít ra đã được dân thôn làng kính nể, thì đã lại có thái độ phân vân và không chịu tham gia. Và chúng tôi có thể nói kết quả đã là đa số các ứng cử viên thì hoặc là, thuộc cái nhóm do chính quyền cấp tỉnh và cấp quận bảo trợ và đề bạt, còn nếu không, thì cũng là thuộc các nhóm tôn giáo mà thôi. Một số thì đúng là sinh sống trong quận, một số khác thì đã được đề bạt từ những địa phương khác. Sau khi trúng cử, những viên chức này đã không hề xử sự đúng như là vị đại diện cho dân làng của họ; họ đã có hành tung như chỉ là những tên tay sai của quận trưởng hay tỉnh trưởng hay của các nhà lãnh đạo tôn giáo địa phương.

Do đó, trong suốt thời gian của trận chiến nóng bỏng này, các cuộc bầu cử ấp làng chỉ có hiệu quả trong tầm mức là chúng đã chỉ là một lớp son nhằm tô cho hào quang dân chủ mà thôi; và ngoài ra thì chúng cũng đã không ích lợi gì cho người dân cả. Việc các viên chức dân cử làng xã từng bị bắt buộc phải đi học khóa huấn luyện và học tập chính trị tại Vũng Tàu thì thường cũng gây nhiều tranh luận và thậm chí luôn cả nghi ngờ về cơ chế dân chủ. Dù sao, việc huấn luyện và trau dồi chính trị này thì cũng đã tối yếu trong mục đích sẽ thực sự phục vụ cho người dân mà thôi.

Chương Trình Chiêu Hồi “Open Arms”, một cố gắng quan trọng khác về bình định, đã từng biểu lộ toàn vẹn cho tinh thần hòa giải quốc gia qua việc ân xá cho mọi cán binh địch nào mà đã muốn chuộc lổi [của] họ. Chiếu theo các con số thống kê về chiêu hồi, chương trình đã quả thực là một sự thành công rực rở. Tuy nhiên nếu nhìn kỹ, chương trinh này đã không hề có ảnh hưởng vào số cán bộ trung và cao cấp, cả về quân sự lẫn chính ủy. Đa số các hồi chánh viên thì chỉ là những bộ độ đội quèn và cũng có một số nhỏ thuộc cấp chỉ huy thấp mà thôi. Họ đã từng quy chánh không vì ý thức hệ, mà chỉ vì những lý do cá nhân như là sợ gian khổ, mệt mỏi vì chiến tranh và luôn cả những lý do gia đình luôn. Chính phủ VNCH đã từng quá lố chào đón và đối xử với các hồi chánh viên đó một cách đúng đắn tùy theo phương tiện khả dụng. Nhưng khi xử sự như vậy thì họ cũng đã khiến cho các quân nhân từng bị bỏ bê, đâm ra ganh tỵ và thèm muốn, nhất là đối với số lính đào ngũ đang thụ hình trong những nhà tù quân sự khắc khổ. Đó cũng đã từng là một nan đề cho giới lãnh đạo của Chính Phủ VNCH lẫn QLVNCH.

Chương Trình Đồng Bào Thiểu Số Sắc Tộc, đặc biệt nhắm vào các Người Thượng vùng Cao Nguyên Trung Phần, tuy đã thành công, nhưng cũng có phần nào chỉ nhờ nơi đã làm giảm nhẹ được các vấn đề chính trị và sắc tộc mà thôi. Rồi thì đây, chắc cũng sẽ phải cần thêm nhiều thế hệ thì mới có thể giải quyết được một cách thỏa đáng các vấn đề này mà thôi. Chỉ trong trường kỳ, nếu có được một sự hòa nhập giữa Kinh và Thượng, một sự tiếp xúc liên tục vói nền văn minh tiên tiến của người Thượng, cùng với việc áp dụng về khoa học kỹ thuật để phục vụ cho cuộc sống hàng ngày của họ, thì chúng tôi cũng hy vọng là các dị biệt về chủng tộc rồi sẽ mới có thể được xóa bỏ đi mà thôi. Cho dù chúng ta đã có cố gắng cung cấp cho họ một hình thức tự trị nào đó, rồi thì với phương cách mà Bắc Việt đã từng mang ra thí nghiệm ngay với đồng bào sắc tộc của chúng, thì rồi cũng sẽ không hơn gì là một lớp sơn chính trị, mà rồi cũng sẽ tan biến đi vì cũng đã bị đồng hóa mất rồi. Lịch sử trường kỳ của nước Việt đã từng chứng minh là không có một sắc tộc thiểu số nào mà lại có được khả năng chống lại việc bị đồng hóa nếu mà họ đã từng phải sinh sống chung trong cộng đồng Việt qua một thời gian lâu dài rồi. 

  • • •

Chỉ sau khi chính tay mình đã xây dựng lên thì, rồi Người dân Việt mới sẽ nhận chân ra được chân lý để mà cương quyết chết sống bảo vệ nó, không để cho Cộng nô phả hũy đi chính những gì nếu mà chính tay họ đã tạo nên. Đó cũng chính là lý luận đã sản sanh ra toàn bộ quan niệm đó, mà trong nhiều hoàn cảnh, cũng dã chứng tỏ rất ư là đúng. Tuy nhiên, qua kinh nghiệm, thì chúng ta cũng thấy được là sẽ không thể nào phát triển mở mang đất nước được, nếu mà không có được an ninh. Và để duy trì an ninh thì chính quyền và binh lính địa phương cần phải chung sống với người dân để bảo vệ họ. Nhưng liệu rồi chúng ta sẽ có thể cung ứng được một nền an ninh lâu dài hay không, thì cũng tùy thuộc nơi thành quả của chúng ta trong việc quét sạch hạ tầng cơ sở của bọn VC, cùng các biện pháp an ninh thi hành để bảo về người dân. Do đó, tiến trình phát triển và tình trạng an ninh đều không thể bị tách rời ra được.

Chiến lược căn bản về bình định – từng được xây dựng trên quan điểm “vết dầu loang”, mà có nghĩa là bành trướng dần dần việc kiểm soát từ các vùng thị tứ mà cũng có nghĩa là các vùng có an ninh – từng đưa đến chính sách phân chia lãnh thổ ra thành những vùng có an ninh, được củng cố và giải tỏa, để rồi sau đó, thi hành đúng cái chiến thuật quét sạch rồi nắm giữ. Chiến lược này đã tỏ ra rất khôn ngoan và hiệu quả. Chiến thuật đã đặc biệt làm an lòng người dân tại các vùng đã được củng cố đó (mà vẫn từng hằng nghỉ là quân đội của chúng ta rồi thì cũng sẽ chỉ đến, để rồi đi, trong khi bọn Cộng thì tuy có bị đuổi đi, nhưng rồi thì chúng vẫn cứ sẽ trở lại để bám trụ). Sự kiện này quả thật đã là một sự cải tiến, nếu so với cái thời kỳ của những chiến dịch với mục tiêu quét sạch, mà nhân đó, đa số các hành vi cũng đã khiến dân cư các vùng đang bị tranh dành đó đâm ra bất mãn. Khuôn mẫu dẹp sạch rồi bám giữ đã làm thay đổi mọi sự, đặc biệt nhất là sau khi Bộ Binh VNCH đã được huấn luyện kỷ càng về chính trị qua một chương trình dược phát động vào năm 1965. Những năm tháng dài sinh sống thân cận trong xã hội cùng với dân chúng địa phương quả thực đã tạo được những liên hệ tốt đẹp, mà đã khiến cho bên phía người dân bớt phần nào thờ ơ và vô cảm, mà bên phía các binh lính cũng giảm đi những hành vi xấu xa nếu có.

Yếu điểm chính của các chiến dịch dẹp sạch rồi bám giữ đã là rồi sẽ cũng đòi hỏi một thời gian dài, cần nhiều binh lính cùng mọi phương tiện yểm trợ rất dáng kể. Tối thiểu thì bình thường, ít ra cũng cần có là sáu tháng tới một năm để có thể loại bỏ hay đuổi sạch đi được đám du kích và bộ đội địa phương, thanh lọc dân cư, nhổ sạch hạ tầng cơ sở VC, củng cố hệ thống an ninh địa phương, củng cố chính quyền địa phương, cùng tạo được các điều kiện thuận lợi cho chương trình phát triển có thể phát động được. Yếu tố thời gian thì cũng phải cần để phát triển cho được lòng tin cậy lẫn nhau giữa chính quyền cùng người dân địa phương; việc này thì chỉ thực hiện được xuyên qua một tiến trình đầy gian nan theo phương thức là cứ thử, rồi sữa, nếu có sai lầm.

Cũng đã cần phải có đầy đủ binh lính, mà họ thì cũng phải được yểm trợ đầy đủ, mới có thể hoàn thành được một số mục tiêu: một hệ thống với những tiền đồn để ngăn ngừa địch tiếp xúc được với khu vực đang được bình định; vấn đề bảo vệ các công sở, các tài nguyên kinh tế cùng các trục lộ giao thông huyết mạch; một mạng lưới các căn cứ dùng để hành quân cũng như là yểm trợ hỏa pháo, cùng các cơ sở tiếp tế hậu cần; và thành lập các lực lượng xung kích, đặc biệt là ở cấp tỉnh và cấp quận, điều thiết yếu trong việc ngăn cấm các đơn vị nhỏ của địch, yểm trợ các tiền đồn khi bị tấn công và luôn luôn tạo áp lực trên địch trong khu vực đó. Những công tác này không chỉ là cần thiết để dành quyền chủ động về quân sự, nhưng cũng quan trọng hơn nhiều trong việc trấn an người dân địa phương qua sự hiện diện thường trực của chính phủ, cùng quyết tâm của quân đội tại địa phương hầu luôn luôn hiện diện để bảo vệ họ, một yếu tố tâm lý cốt tử để có thể kêu gọi cho được người dân cộng tác. Tất cả các đòi hỏi về quân số và yểm trợ đó đều đã được thỏa đáng giải quyết trong sự kiện là Bộ Binh và Biệt Động Quân VNCH đã nhiệt tình tham gia với chính sách bình định, qua việc phát triển cả về phẫm lẫn lượng của các lực lượng chính quy và địa phương, cũng như là sự yểm trợ hữu hiệu của Mỹ về pháo, quân vận và quân nhu. Kết quả là an ninh tại nông thôn, qua việc này, đã được tăng gia và nới rộng nhanh chóng trong thời kỳ này, mà cũng đã từng là một tia sáng đầy lạc quan trong chính phủ VNCH và các giới chức Hoa Kỳ.  

  • • •

Các Chiến Dịch Chính

Trong suốt toàn cuộc chiến, bộ chỉ huy của các đơn vị bộ đội chính quy và các đơn vị du kích địa phương từng bị xua đuổi đi bởi các lực lượng bình định, thì cũng đều đã rồi sẽ trở về lại tại các khu vực có căn cứ hậu cần chính ở sát vùng biên giới rất ư là tiện lợi tại những vùng khô cằn đó của chúng mà thôi. Do đó, các cố gắng của phía Mỹ nhằm tiêu diệt bộ máy tiến hành chiến tranh này từ năm 1966 tới năm 1967 thì đều cũng đã chính yếu là nhắm vào các hậu cần từng đã được củng cố lâu dài của địch tại miền Nam.

Vùng Tam Giác Sắt

 Chiến dịch Cedar Falls đánh vào hậu cứ Vùng Tam Giác Sắt của VC đã là trận chiến cực lớn sử dụng cho tới 16.000 quân nhân Mỹ với 14.000 quân nhân VNCH, kéo dài trong 19 ngày với con số 72 tử vong Mỹ, so cùng 720 tử vong VC.

Khi chúng tôi tuyên bố là chỉ các đơn vị Mỹ mới đủ khả năng – hỏa lực, di động tính và yểm trợ quân nhu quân liệu đầy đủ – để mới có thể tấn công vào các hậu cứ địch, thì cũng không có gì là nhục nhã cả. Các chiến dịch chính của Mỹ, mà đã từng đi vào lịch sử, như là Cedar Falls, tung ra để tấn công vào vùng Tam Giác Sắt, hay trận Junction City tấn công vào Chiến Khu C và trận Delaware/Lam Sơn tại Thung Lũng A Shau, thì cũng đã đánh tan cái huyền thoại từ lâu nay, là những căn cứ đó là đều bất khả xâm phạm. Tất cả các chiến trận này đều đã có một ảnh hưởng tâm lý cực kỳ sâu đậm, cả vào bộ đội địch, mà cũng luôn cả vào QLVNCH. Thực tế đã là bất chấp các con số giả tạo do cấp chỉ huy Bắc cộng đưa ra về những con số tử vong cùng thiệt hại hoang tưởng của phía Mỹ nhân các trận này, thì địch đã hoàn toàn bất lực không tránh được mối bàng hoàng từng gây rúng động trong hàng ngũ bộ đội của chúng mà thôi. Các tài liệu của địch bị tịch thu sau đó cũng đã xác nhận sự kiện này; địch đã công nhận là các trận này quả đã là một “đại họa” cho chúng. Đối với phía QLVNCH, thì sự kiện làm xáo động được các hậu cứ chính của địch đã đúng là một nguồn gốc cực kỳ khích lệ và đầy thỏa mãn, bởi vì đó cũng chính là cái mục tiêu từng được nuôi dưởng qua bao năm tháng từ lâu nay, nhưng tuyệt khó để thực hiện, của Bộ Tổng Tham Mưu cùng các bộ chỉ huy Quân Khu. Qua thành quả này, QLVNCH nay đã tin vào sức mạnh của quân đội Hoa Kỳ, cũng như là vào chiến thắng tối hậu của phe chúng ta.

 

Chiến dịch Junction City đánh vào Chiến Khu C, kéo dài 82 ngày đêm, là chiến dịch không vận lớn nhất sau thế chiến II với sự tham dự của cả 3 sư đoàn Hoa Kỳ cùng với QLVNCH, nhằm tiêu diệt Cục Trung Ương Miền Nam của VC. Tuy đã sử dụng đến 366.000 đạn pháo với 3.235 tấn bom và tịch thu 810 tấn gạo, 600 tấn vũ khi cá nhân, 500.000 trang tài liệu, với chỉ 300 tử vong và hơn 1.500 bị thương, so với Sư đoàn 9 VC bị thiệt hại nặng gồm 2.728 bỏ mạng, 34 tù binh và 139 chiêu hồi, chiến dịch đã không thành công để bắt giữ hay tiêu diệt được bộ phận chỉ huy, mà đã kịp thời tẩu tán trước rồi để sâu qua đất Miên mà ẩn núp.

 

 

 Chiến dịch Delaware/Lam Sơn đánh vào Thung Lũng A Shaw năm 1968, được phối hợp giữa Quân đội Hoa Kỳ và QLVNCH nhằm ngăn chận VC chuyển tiếp liệu từ đường mòn Hồ Chí Minh để tấn công Quân Khu I. Trận chiến rất ư là khốc liệt và đã có một C-130, một CH-54, hai CH-47 và hai tá trực thăng Hueys bị phòng không Bắc cộng bắn rớt, ngoài một số khác cũng bị bắn rớt bởi bộ đội. Sư đoàn 1 Kỵ Binh Hoa Kỳ bị tới 100 tử vong cùng 530 bị thương trong khi Bắc cộng bị mất tới 800 tên, 1 tăng, 2 xe ủi đất, 30 súng phóng lữa, cùng hàng ngàn súng cá nhân và đại liên với cả tá súng phòng không, cùng đạn dược, chất nổ, tiếp liệu y khoa, thực phẫm cùng tài liệu.

Bên cạnh sự khích lệ đáng kể về tinh thần này, các chiến dịch do Hoa Kỳ điều khiển để tấn công vào các hậu cần địch cũng đã tiêu hũy được một số lượng lớn về tiếp liệu địch, cùng một phần lớn của các công sự, các căn cứ địa đạo, mà rồi địch sẽ phải cần nhiều năm tháng thì mới lại có thể phục hồi lại được. Nhưng về mục tiêu tận diệt các đại đơn vị cùng các bộ chỉ huy địch, thì xem ra các lực lượng Hoa Kỳ cũng đã không được khá hơn bởi vì địch thì lại rất ư là muôn mặt. Chúng thường xuyên dời địa điểm của các bộ phận chỉ huy, nên đã khiến các báo cáo tình báo của chúng ta thì cũng liền bị lổi thời, tuy từng đã là đúng. Quân đội Hoa Kỳ và QLVNCH thường không đủ nhân lực để có thể bao vây cho kín được một hậu cần của địch nào đó, hay cũng để rồi sau đó, trụ lại đó, ngõ hầu quét sạch địch tại đó cho được thật là sạch sẽ như mong muốn mà thôi.

Địch thì cũng đã thường lợi dụng địa thế gập ghềnh, tận rừng sâu, những khu hoang dã  mênh mông mà chúng từng ẩn náu, để rồi sẽ tự phân tán nhỏ ra hầu tránh đụng độ lớn, và cũng rồi sau đó, sẽ lại tụ họp để tha hồ mà tấn công theo cơ hội thuận tiện mà thôi. Về phương diện này, xem ra địch rất lợi thế về yếu tố thời gian, vì thường thì quân đội bạn thường vãn phải di chuyển chậm, và cũng vì yếu tố chúng ta không am tường địa thế như là địch. Mà việc bảo mật một chiến dịch quy mô như vậy thì cũng quá khó khăn, nhất là với việc bố trí các đồ tiếp tế quân sự trước ngày D khởi công, cho dù có cố gắng gây hỏa mù trước. Thời gian quy định cho các trận thì cũng không kéo dài đủ để giúp cho binh lính của chúng ta có thể truy tìm và quét sạch một cách cẩn trọng theo cho đúng nghĩa; cũng để thay đổi suy nghỉ các kẻ đào ngũ, hầu buộc họ phải quy hàng; để xây dựng thêm phi đạo, thêm những nơi rải quân hay những con lộ khai thông nhằm sẽ giúp cho việc tăng viện sau này. Do đó, ngay sau khi mà quân đội bạn rút đi thì địch vẫn đã luôn luôn trở lại, để rồi các hậu cần này lại cứ tiếp tục hoạt động mà thôi. Sự kiện này thì quả thật là đáng tiếc, nhưng rồi chúng ta cũng đã không thể làm gì được gì hơn, khi mà quân số của quân đọi Hoa Kỳ lẫn QLVNCH vẫn còn không đầy đủ hầu phụ trách an ninh tại các vùng đó mà thôi. Rồi cũng do nơi không thể giữ lại đươc một cách thường trực binh lính tại những nơi đó, thì chỉ để kiểm soát ngăn chận địch tái xâm nhập, lại cứ phải cần phải hành quân liên tục, chỉ để lại tấn công vào chính các hậu cần đó nữa mà thôi.  8

Vài người mà từng đã từng lên tiếng chỉ trích cái chiến thuật tìm địch để diệt, thì đã cho là các cuộc hành quân đại quy mô đó thì cũng chỉ “vô hiệu”, “toàn phá hoại”, “vô nhân đạo”; họ đã gợi ý là, đúng ra đã nên có một chiến thuật chỉ dùng những đơn vị nhỏ mà thôi. Chúng tôi thì lại hoàn toàn không đồng ý với quan điểm này. Các kiểu lập luận này đã không hề chú trọng đến yếu tố lưỡng tính của cuộc chiến và vai trò [căn bản] của các đơn vị Bắc cộng, mà chúng cũng biểu lộ một sự hiểu biết sai lầm về cái mục tiêu của các chiến dịch tìm và diệt. Tham dự một cuộc chiến mà không hề có chiến tuyến, để chống lại một kẻ địch luôn luôn trốn lánh, thì liệu có một chiến thuật nào sẽ có hiệu quả hơn là cái chiến thuật tìm địch để diệt để áp dụng tại những vùng mà tình báo của chúng ta đã cho biết là địch đang hoạt động? Được áp dụng qua nhiều hình thức, chiến thuật tìm địch để diệt vẫn đã được áp dụng bởi các đơn vị ở mọi cấp một cách hiệu quả. Và càng quan trọng hơn nữa, nó cũng đã phục vụ cho mục tiêu chiến lược chung của chúng ta.

  • • •

Việc phát động các chiến dịch quy mô thì đương nhiên rồi cũng phải đưa đến những thương vong đáng kể, ít ra thì cũng trong giai đoạn đầu, nhưng rồi thì cũng sẽ cứu được rất nhiều sinh linh trong cuộc trường chiến sau này. Nếu không chịu chấp nhận những mất mát bất khả tránh nhân các chiến dịch này, và không quyết chí truy diệt đám đại đơn vị bộ đội, thì cũng chỉ như đi khuyến khích bọn phản loạn, để chúng thêm mạnh, mà cũng khiến cuộc chiến kéo dài them nữa. Rồi nào là ám sát, bắt cóc, rồi đụng độ lớn nhỏ sẽ cứ tiếp tục như thông lệ, tạo nên một cảm giác sai lầm, giúp thổi phồng lên con số các thiệt hại mà thực sự phía chúng ta đã bị trong các trận lớn này. Chỉ khi chúng ta cương quyết và đủ [bền bỉ] hầu truy tìm và đánh tan các đại đơn vị của đám bộ đội ngay tại các hậu cần của chúng, thì chúng ta không thể nào buộc được chúng nhận chân ra là không có bất kỳ chổ nào mà an toàn được cho chúng cả tại miền Nam này và một chiến thắng quân sự chỉ là một ảo vọng mà thôi. Chúng tôi tin là chỉ khi địch chịu nhìn nhận điều này thì chúng mới có khả năng chịu đàm phán để giải quyết.

Do đó, chúng tôi nghỉ là để tiến hành cuộc chiến Việt Nam, chúng ta không thể nào, hoặc là dồn toàn lực để lo dẹp chỉ các đơn vị phản loạn nhỏ thôi mà lại đi bỏ qua các đại đơn vị của chúng, hay là chỉ chuyên chú với các chiến dịch quy mô thay vì yểm trợ tìm diệt các đơn vị nhỏ của chúng trong chương trình bình định. Vì ý thức được rõ ràng đặc điểm lưỡng tính của cuộc chiến này, cả Bộ Tổng Tham Mưu lẫn MACV cũng đều đồng ý là các cố gắng cần phải được phân phối một cách sáng suốt cho cả hai loại giao tranh đó và phải được tiến hành song song tương trợ nhau. Cơ cấu tổ chức, huán luyện và sử dụng quân đội của chúng ta đã đủ uyển chuyển để có thể chuyển đổi từ hình thức giao chiến này qua hình thức giao chiến kia khi tình hình đòi hỏi và cũng để đáp ứng với các khả năng tăng cường của Bắc cộng.

  • • •

Chống Xâm Nhập Trà Trộn

(Xem tiếpSuy Nghiệm về cuộc Chiến Việt Nam #2)

*****

Đại Tướng Vao văn Viên

(21 Tháng Chạp 1921 – 22 Tháng Giêng 2008)

*****

Trung Tướng Đồng Văn Khuyên

(1927-2015)

 *****

Chú thích của TS Lewis Sorley

 

Các phụ chú của các tác giả thì cũng đã được in theo như thông lệ. Những phụ chú ngắn có tính cách giải thích hay các tu chính do chính người đó đã bổ túc thêm thì đều được đặt trong dấu ngoặc [. . .] ‘brackets’. Các đoạn bị rút bỏ trong nguyên bản thì đều được ghi bằng dấu (. . .) ‘ellipses’, nếu xẩy ra trong một câu hay một phân đoạn nào đó. Khi có một phần khá lớn bị loại bỏ thì sẽ được cho thấy bằng những chấm lớn nằm riêng ’centered, larger ellipsis points’ như là

  • • •

*****

Của người chuyển ngữ phụ đính

Các hình ảnh cùng phụ chú đều do người chuyển ngữ sưu tầm trên Liên Mạng.

Các đoạn nhấn mạnh bằng chữ in ĐẬM (BOLD) là của người chuyển ngữ.

1

Tên bằng Anh ngữ Republic of Vietnam Armed Forces (RVNAF), tùy thời kỳ, có thể được chuyển ngữ như là Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa hay Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đã được chính phủ đồng minh Hoa Kỳ dùng để ám chỉ toàn thể các lực lượng tác chiến của chính phủ VNCH, mà họ xem như chính là gồm có Army of the Republic of Vietnam (ARVN) ~ Bộ Binh VNCH, bên cạnh Republic of Vietnam Navy (RVNN) ~ Hải Quân VNCH và Vietnam Air Force (VNAF) ~ Không Quân VNCH, cùng nhiều lực lượng khác.

http://www.globalsecurity.org/military/world/vietnam/rvn-af.htm

Ngoài ra, về danh xưng của các lực lượng quân sự của Chính Phủ Quốc Gia thì, theo sự tìm tòi của người chuyển ngừ (mà cũng mong quý vị đủ thẫm quyền sẽ góp ý), có sự thay đổi lần lượt như sau:

1948-1955: Quân Đội Quốc Gia thuộc Quốc Gia Việt Nam trong Liên hiệp Pháp

1955-1963: Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa thuộc Đệ Nhất Việt Nam Cộng hòa.

1963-1975: Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa thuộc Đệ Nhị Việt Nam Cộng hòa.

https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%87_th%E1%BB%91ng_T%E1%BB%95_ch%E1%BB%A9c_Qu%C3%A2n_l%E1%BB%B1c_Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a_(1955-975)

Bài biên khảo mà chúng tôi tiếp tục chuyển ngữ sau bài này sẽ là về Chương I “The RVNAF” by Lieutenant General Dong Van Khuyen, của Bộ Tài Liệu Sưu Tập này, hy vọng sẽ mang lại được nhiều chi tiết soi sáng cho lịch sử của Quân Đội VNCH.

2

https://vi.wikipedia.org/wiki/S%C6%B0_%C4%91o%C3%A0n_23_B%E1%BB%99_binh_Qu%C3%A2n_l%E1%BB%B1c_Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a

Sư đoàn Dã chiến có quân số hơn 8.500 người, là những Sư đoàn có biên chế, trang bị mạnh, được huấn luyện tác chiến theo kiểu chiến tranh quy ước, để đảm đương nhiệm vụ chủ yếu là ngăn chặn quân chủ lực của miền Bắc tràn xuống.

Còn khi gọi lá sư đoàn khinh chiến (light division), thì chỉ với quân số hơn 5.000 quân nhân, được trang bị gọn nhẹ hơn, đảm nhận nhiệm vụ chủ yếu là bảo đảm an ninh địa phương và  kết hợp tiếp sức chi viện cho các Sư đoàn dã chiến mổi khi cần.

Sư đoàn Bộ binh bình thường sau này thì có quân số hơn 10.500 người cho mỗi sư đoàn.

3

Việc chuyển ngữ của mấy khảo luận của quý vị Tướng Tá VNCH trong quyển sưu tập The Vietnam War của Lewis Sorley cũng quả đúng là một sự lòng vòng: các nguyên bản đều bằng tiếng Việt, để rồi sau đó, Trung Tá Chu Xuân Viên, Tùy viên quân sự tại Tòa Đại Sứ VNCH ở Hoa Kỳ đã chuyển ngữ và Đại úy Phạm Thị Bông cũng phục vụ tại đó vào lúc tan hàng, đã phụ trách phần đã tự và đúc kết mấy bài đó lại.

Tôi đã có nhờ Lewis Sorley giới thiệu dùm với hai vị này, với ý mong mỏi là nếu được, sẽ khỏi phải chuyển ngữ và chỉ việc lo đăng trên Liên Mạng cho rộng đường dư luận mà thôi, nhưng ông ta đã cũng không liên lạc với họ.

Sau đó, tôi đã tìm được địa chỉ điện thư của ông đại sứ áp cuối của VNCH tại Hoa Kỳ và tôi đã liên lạc xin tin tức của hai vị trên, nhưng đã không được hồi âm. Cũng uổng! Vị đại sứ cuối cùng thì tôi hoàn toàn không tìm ra được tin tức nào cả.

Chuyển ngữ mấy tên này đã khá gượng ép vì không truy ra được rõ ràng xuất xứ của chúng. Chỉ tìm được gốc của “Agrovilles” là từ quan niệm “villages protégés” của François de Linares tại Bắc Kỳ dạo 1952 với chính sách “bình định bằng phồn vinh ~ pacification par prospérité”, nhằm xây dựng những tiện nghi như tại các thành phố ngay tại những ngôi làng được phòng vệ ngay bởi chính dân quân của làng và mang lại được các lợi ích về xã hội cùng kinh tế với hy vọng dân các làng lân cận sẽ cùng kéo nhau về an cư tại đó.

https://en.wikipedia.org/wiki/Strategic_Hamlet_Program

François Jean Antonin Gonzalez de Linarès (1897 – 1955) nguyên là một trung tướng Pháp (général de corps d’armée) từng đãm nhiệm chức Thống sứ Bắc Kỳ từ Tháng 2 Năm 1951 tới Tháng 5 Năm 1853 theo tài liệu tại

https://fr.wikipedia.org/wiki/Fran%C3%A7ois_de_Linares

nhưng lại được gọi là Ủy viên Cộng hòa Pháp tại Trung và Bắc Bộ với cấp bậc thiếu tướng tại tài liệu

https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%91ng_s%E1%BB%A9_B%E1%BA%AFc_K%E1%BB%B3

4

Đây là một đề tài có thể tranh luận: nếu Đệ I Cộng Hòa công nhận (và do đó, kiểm soát được) phong trào Cộng sản tại miền Nam Việt Nam, thì Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam Việt Nam đã không thể ra đời và bị Bắc cộng lợi dụng?

VC cũng đã tiếp tục xuyên tạc và bóp méo về Nghị định 10/59 với luận điệu giang hồ là Chính Phủ VNCH đã từng lê máy chém đi xử tử, trong khi luật rất công minh (tuy cứng rắn), bị cáo được quyền nhờ luật sư biện hộ hay phải có luật sư chỉ định bởi Luật Sư Đoàn, để làm việc này (Điều 16), cũng như là chỉ thi hành bản án tử hình SAU khi đơn xin ân xá bị bác bỏ (Diều 19).

Có thể đọc thêm chi tiết về vụ này tại

https://nhatnguyet2014.wordpress.com/2014/11/21/luat-10-59-su-nham-lan-co-tinh-cua-tuyen-huan/

5

Điều này càng cho thấy ĐẠI TỘI với Đất Nước của tên nội gian Big Minh khi hắn  đã liền tức khắc hủy bỏ Chương Trình Ấp Chiến Lược theo chỉ thị của Bắc cộng ngay sau khi lên cướp được chính quyền miền Nam.

Có thể đọc thêm chi tiết về Ấp Chiến Lược và hậu quả của việc phá bỏ tại

http://www.aihuubienhoa.com/a2899/mo-hinh-ap-chien-luoc-duoi-thoi-tong-thong-ngo-dinh-diem

6

Xem tài liệu “Phòng Tổng Quản Trị Bộ Tổng Tham Mưu” tại

https://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%C3%B2ng_T%E1%BB%95ng_qu%E1%BA%A3n_tr%E1%BB%8B_B%E1%BB%99_T%E1%BB%95ng_tham_m%C6%B0u

Theo trang trên Liên mạng

https://en.wikipedia.org/wiki/Adjutant_general

thì một “adjutant general” là một sĩ quan đặc trách về hành chánh. Sĩ quan Trưởng phòng Hành chánh của Quân đội Hoa Kỳ, trực thuộc vị Tham Mưu Trưởng Liên Quân, và trực tiếp làm việc dưới quyền của vị Tham Mưu Phó, Phòng G-1, hay ACS (trước đây là Phó Phòng Nhân viên, hay DCSPER). Trước đây, đó là một chức vụ dành cho cấp thiếu tướng, hiện nay đó là phần hành của một chuẩn tướng (vào năm 2009). Vị sĩ quan này là Chỉ Huy Trưởng của Adjutant General’s Corps, và chịu trách nhiệm về các thủ tục trao thưởng huy chương cùng bằng khen, cũng như về vấn đề tử vong và cũng quản lý với lưu giữ mọi hồ sơ quân nhân trong quân đội.

Nhưng với tổ chức của QLVNCH thì Trưởng Phòng chỉ là cấp Đại Tá và vị chỉ huy cuối cùng là Đại Tá Trần Văn Thân, gốc Võ khoa Thủ Đức.

7

Phần Phụ đính của nguyên bản đã đưa ra HAI tên cho chữ viết tắt MACCORDS mà khác nhau chỉ là chữ R gần cuối, có thể đọc như là Revolutionary hay Rural cũng được.

8

Nan đề này cũng đã được TS Lewis Sorley phân tích trong bộ tiểu sử Westmoreland: The General Who Lost Vietnam (Houghton Mifflin Harcourt, 2011) ~ Vị Tướng Để Thua Trận Việt Nam, từng sai lầm và cố chấp với cái chiến lược Search and Destroy ~ Tìm rồi Diệt.

 

và cũng đã chứng minh sự khôn ngoan cùng thành công sau đó với chiến lượcClear and Hold ~ Giải tỏa rồi Bám trụcủa người kế nhiệm là Tướng Creighton Williams Abrams, Jr., trong tác phẫm A Better War (Mariner Books, 2007) ~ Một Cuộc Chiến Đúng Ra Đã Phải Khá Hơn, nhưng vì cơ Trời, cũng đã QUÁ TRỂ!!!

 

Có thể đọc thêm nhiều chi tiết hơn trong bài Tái Thẩm Định QĐVNCH tại

https://lehung14.wordpress.com/ts-lewis-sorley-gioi-thieu/tai-tham-dinh-qdvnch/

 

*****

%d bloggers like this: