Trung Tướng Ngô Quang Trưởng

~  Lê Bá Hùng sưu tầm  ~

(có nhấn mạnh vài chổ bằng dấu gạch ở dưới

hay đổi màu đỏ)

 

 Trung Tướng Ngô Quang Trưởng

(1929-2007)

 

“Đã rõ ràng là Quân Khu I nay không còn có thể chống đở nổi một cuộc tổng tấn công từ phương Bắc xuống, khi so sánh cán cân lực lượng đôi bên vào lúc đó, cũng như là địa hình gập ghềnh mà đã giúp cho địch quá ư là nhiều cực kỳ lợi thế về chiến thuật. Nhưng đúng ra sự kiện tình hình tan vở quá nhanh thì lại là kết quả của tình trạng hỗn loạn cùng mất tinh thần hơn là do áp lực của địch. Quyết định tái phối trí lực lượng, tuy là bất khả tránh, thì lại không được rõ ràng và cứng ngắt trong trường hợp của Quân Khu I. Tổng Thống Thiệu đã không dám có can đảm để đưa ra một lệnh dứt khoát cho vị tư lệnh vùng. Thật rõ ràng là vụ thất bại toàn vẹn tại Quân Khu II đã để lại một dấu ấn sâu đậm trong tâm tư ông ta và cũng đã khiến ông ta không còn muốn lại phải đóng vai trò tổng chỉ huy quân đội nữa rồi. Ngược lại, do vẫn là một chính trị gia khôn lanh, ông ta bèn chơi chữ nhân khi ra lệnh, bằng ngay cả luôn những lần cố ý làm thinh, để khiến cho vị tư lệnh đang quá ư là bối rối phải tự mình phiên diễn ra mà thôi. Lệnh bỏ Huế của Tổng Thống Thiệu đã được ban ra, chỉ một ngày sau khi chính ông ta đã cương quyết công bố và hứa hẹn với nhân dân là sẽ chống giữ “thành phố thủ đô củ”. Và rồi cũng rất đúng với bản tính cố hữu, ông ta cũng không đưa ra chỉ dẫn gì về thời khóa biểu của cuộc rút quân.

theo

Đại Tướng CAO VĂN VIÊN, trong Sụp Đổ Tan Hàng Vào Lúc Cuối (The Final Collapse), https://lehung14.wordpress.com/ts-lewis-sorley-gioi-thieu/dai-tuong-vien-viet-ve-lan-tan-hang-cuoi-cung-2/

*****

1/

Vì Sao Tôi Bỏ Quân Ðoàn I?
Ngô Quang Trưởng

18 May 1972, Hue, South Vietnam — Inspection. Hue, Vietnam: Newly installed Commanding General of the South Vietnamese forces defending Hue, Lt. Gen. Ngo Quang Truong, inspects soldier’s weapons as U.S. advisor Maj. Gen. Frederick Kroesen looks on here May 17th. Some 900 government troops of 2nd Division were airlifted into artillery base Rakkasan, 15 miles West of Hue, to form what commanders called a “circle of steel” to protect the once imperial capital. — Image by © Bettmann/CORBIS

Ngày 13 tháng 3 năm 1975, được lệnh vào Sài Gòn họp, tôi vào tới Sài Gòn nhưng với sự ngạc nhiên là chỉ có mình tôi vào gặp Tổng thống và Thủ tướng (Trần Thiện Khiêm) mà thôi. Ngoài tôi ra không có ai khác. Thường lệ khi được lệnh về Sài Gòn họp thì đều có đầy đủ mặt các vị Tư lệnh Quân đoàn và Tư lệnh các quân binh chủng khác. Lần nầy thì chỉ có một mình tôi. Tôi thắc mắc lo lắng.

Nhưng khi Tổng thống Thiệu cho biết ý định của ông ta là phải rút bỏ Quân đoàn I ngay hôm nay thì tôi mới vỡ lẽ, cay đắng, và uất ức vì lệnh ra quá đột ngột ngoài sức tưởng tượng và ngoài ước muốn của tôi. Thật ra, lúc đó tình hình tại Huế, Quảng Ngãi và Ðà Nẵng tuy có hơi nặng nề vì địch tấn công liên tiếp, tuy nhiên tôi đủ sức chống giữ và sẽ tăng cường Sư đoàn Dù cùng với Thuỷ Quân Lục Chiến ra những vùng đó để lấy lại ưu thế. Tôi trình bày cặn kẽ những ý kiến của tôi lên Tổng thống và Thủ tướng nhưng không được chấp thuận.
Lệnh bất dịch di là: Phải rút khỏi Quân đoàn I càng sớm càng hay. Trở ra Quân đoàn I, tôi cho triệu tập tất cả các Tư Lệnh Sư đoàn để họp. Thái độ khác thường của tôi làm các Sĩ quan trong buổi họp hôm đó có vẻ nghi ngờ, thắc mắc. Nhưng rốt cuộc tôi chỉ hỏi sơ qua tình hình và nói vu vơ quanh quẩn.

Chứ làm sao tôi ra lịnh thẳng khi chỉ với một mình tôi là Tư lệnh Quân đoàn mà thôi. Vì vậy, cuộc họp hôm đó chẳng mang lại một kết quả nào mà tôi mong muốn. Lệnh của Tổng thống Thiệu yêu cầu tôi rút khỏi Quân đoàn I vào ngày 13 tháng 3. Ông Thiệu cho biết là rút hết về Phú Yên. lấy Quốc lộ 22 làm ranh giới Việt Nam thu gọn sẽ chạy dài từ Phú Yên đến Hà Tiên.

Cái lẩm cẩm của trung ương là không cho các thuộc cấp biết ý định của mình. Nghĩa là các Tư lệnh các quân binh chủng, Tổng Bộ trưởng, Tư lệnh Sư đoàn, v.v… đã không biết gì về lệnh rút quân của Quân đoàn I và II cả. Lệnh nầy chỉ có Tổng thống và Thủ tướng, Ðại tướng Cao Văn Viên, tôi (Tư lệnh Quân đoàn I) và Tư lệnh Quân đoàn II (Tướng Phạm Văn Phú) biết mà thôi. Do đó thiếu sự phối họp chặt chẽ giữa tham mưu và các cấp, không có kế hoạch rút quân đàng hoàng, lệnh đột ngột không có đủ thì giờ để xếp đặt kế hoạch, gây hoang mang cho binh sĩ, nhất là khi gia đình họ cũng không được bảo vệ đúng mức thì làm sao tránh khỏi hoang mang? Ai cũng lắng nghe tin tức thân nhân ở bên ngoài doanh trại. Thêm vào đó, tin tức Ban Mê Thuột, Pleiku, Kontum bị chiếm, Huế bỏ ngỏ, dân chúng Huế chạy vào Ðà Nẵng ngày một đông gây cảnh xáo trộn kinh hoàng cho dân Ðà Nẵng. Rồi sau đó là Chu Lai bị áp lực nặng.

Tôi ra lệnh cho Tướng Trần Văn Nhựt rút Sư đoàn 2 từ Chu Lai ra trấn tại Lý Sơn (Cù Lao Ré) để kiểm soát đường bể, sợ địch ra chiếm đóng đường biển thì sẽ khó khăn. Trong khi đó, cảnh hỗn loạn đã xảy ra phần lớn do dân chúng hốt hoảng từ chỗ nầy sang chỗ khác làm cho binh sĩ nao núng và chạy cùng theo thân nhân. Mở miệng ra lệnh cho họ rút quân, trong khi mới hôm qua với lòng sắt đá và giọng nói cứng rắn hằng ngày buộc anh em phải giữ không để mất một cục sỏi ở Vùng I.

Sau đó tôi suy nghĩ kỹ hơn. Tôi quyết định gọi Ðai tướng Cao Văn Viên nhờ xin Tổng thống cho tôi được dùng mọi cách để giữ Huế và Vùng I. Làm sao tôi bỏ Huế và Vùng I được? Làm sao tôi bỏ được vùng đất sỏi đá nầy mà bao nhiêu chiến hữu của tôi đã đổ máu để gìn giữ? Nhất là trong vụ Mậu Thân.

 Tổng thống Thiệu rung động, chấp thuận cho tôi giữ Huế. Sáng 18 tháng 3 năm 1975, tôi ra Huế gặp Tướng Lâm Quang Thi (Tư lệnh phó Quân đoàn) chỉ huy tại Huế. Tôi ra lệnh: Giữ Huế cho thật vững. Chiều hôm đó về đến Ðà Nẵng, tôi nhận được một lệnh do Ðại tướng Cao Văn Viên, thừa lệnh Tổng thống yêu cầu tôi “bỏ Huế”. Thật làm tôi chết lặng người. Vì mới buổi sáng nay ở Huế tôi ra lệnh cho Tướng Thi giữ Huế. Bây giờ đột nhiên được lệnh bỏ thì tôi biết nói làm sao với Tướng Thi và anh em binh sĩ.
Tổng thống Thiệu rung động, chấp thuận cho tôi giữ Huế. Sáng 18 tháng 3 năm 1975, tôi ra Huế gặp Tướng Lâm Quang Thi (Tư lệnh phó Quân đoàn) chỉ huy tại Huế. Tôi ra lệnh: Giữ Huế cho thật vững. Chiều hôm đó về đến Ðà Nẵng, tôi nhận được một lệnh do Ðại tướng Cao Văn Viên, thừa lệnh Tổng thống yêu cầu tôi “bỏ Huế”. Thật làm tôi chết lặng người. Vì mới buổi sáng nay ở Huế tôi ra lệnh cho Tướng Thi giữ Huế. Bây giờ đột nhiên được lệnh bỏ thì tôi biết nói làm sao với Tướng Thi và anh em binh sĩ.

Nhưng vẫn phải đành thi hành theo lệnh trên. Tôi gọi điện thoại thông báo lệnh bỏ Huế cho tướng Thi. Tướng Thi trả lời ngay: “Ở Huế bây giờ xã ấp phường khóm tốt quá, đâu đâu tình hình cũng tốt cả mà tại sao anh bảo tôi bỏ là bỏ làm sao? Tôi buồn bã trả lời: “Tôi biết rồi, nhưng xin anh bỏ Huế giùm tôi. Ðó là lệnh trên, không bỏ là không được”. Kết quả là Tướng Thi thi hành lệnh, bỏ Huế, và dồn quân đến cửa Thuận An để được tàu Hải quân rút về Ðà Nẵng.

Trong khoảng thời gian từ 13 đến 18 tháng 3, hàng đêm tôi gọi điện thoại cho Thủ tướng Khiêm và báo cáo mọi biến chuyển từ công việc hành chánh đến quân sự. Tình hình khó khăn, địch tấn công, mà lại thêm cái lệnh phải rút càng sớm càng tốt, lan truyền rỉ rả cho nên binh sĩ và công chức hết sức xôn xao. Tôi báo cáo mọi việc và xin Thủ tướng ra quan sát tình hình. Sáng 19 tháng 3, 1975, Thủ tướng Khiêm đến, tôi cho họp tất cả vị Tư lệnh Sư đoàn, Tỉnh trưởng, Thị trưởng, Bộ tham mưu, và các Trưởng phòng sở của hành chánh để Thủ tướng nói chuyện.

Trước khi Thủ tướng đến, tôi đã nói chuyện với anh em có mặt tại hôm đó rằng tình hình khẩn trương, anh em phải nói lên sự thật đang xảy ra trong thực tế tại nơi nầy để Thủ tướng biết rõ tình hình và giải quyết cấp thời, chứ đừng có giữ thái độ “trình thưa dạ bẩm” trong lúc nầy nữa. Phải thẳng thắn mà nói lên sự thật. Nhưng sau khi Thủ tướng nói chuyện xong, đến phần thắc mắc thì cũng chẳng có ai nói gì cả. Tôi rất buồn vì anh em không chịu nghe lời tôi để nói cho Thủ tướng biết những sự thật về tình hình hiện nay. Duy chỉ có một mình Ðại tá Kỳ , tỉnh trưởng tỉnh Quảng Trị, có hỏi một câu: “Thưa Thủ tướng, trong mấy ngày vừa qua, có một số công chức đã tự ý rời bỏ nhiệm sở không đến làm việc, thưa Thủ tướng, phải dùng biện pháp gì để trừng phạt những người đó? Câu hỏi thật hay, nhưng Thủ tướng không trả lời và lảng sang chuyện khác. Vì Thủ tướng làm sao nói được khi lệnh trên đã muốn giải tán Quân đoàn I và Quân khu I càng sớm càng tốt.

Ðúng ngày 22 tháng 3 năm 1975, tôi được lệnh rút Sư đoàn Dù và Sư đoàn Thuỷ Quân Lục Chiến về giữ Nha Trang. Ngày 29 tháng 3, cộng quân tràn vào Ðà Nẵng với những trận giao tranh nhỏ. Tôi được chiến hạm HQ404 đưa về Sài Gòn. Trên tàu cũng có một Lữ đoàn Thuỷ Quân Lục Chiến. Khi tàu chạy ngoài khơi, Tổng thống Thiệu liên lạc yêu cầu tôi ra tái chiếm lại Ðà Nẵng. Tôi trả lời ngay là bây giờ tôi lấy ai để theo chân tôi tái chiếm Ðà Nẵng? Lính tráng đã phân tán mỗi người một nơi. Cấp chỉ huy thì mạnh ai nấy thoát. Làm sao tôi có thể làm chuyện đó (tái chiếm Ðà Nẵng) được? Sau đó tôi được lệnh cho Hạm trưởng ghé tàu vào Cam Ranh, bỏ hết Thuỷ Quân Lục Chiến xuống, rồi chỉ chở một mình tôi về Sài Gòn. Tôi không chịu mặc dù lúc đó tàu đã cập bến Cam Ranh rồi.

Tôi nhờ Hạm trưởng gọi về Bộ Tổng tham mưu xin cho anh em Thuỷ Quân Lục Chiến được về Sài Gòn tĩnh dưỡng nghỉ ngơi cùng tôi. Còn nếu không thì tôi sẽ ở lại Cam Ranh và đi theo anh em Thuỷ Quân Lục Chiến và cùng nhau chiến đấu. Sau đó, Sài Gòn bằng lòng cho tàu chở tất cả về Sài Gòn.

Về đến Sài Gòn tôi được bổ nhiệm vào Bộ Tư lệnh Hành quân lưu động ở Bộ Tổng tham mưu. Khi vào đây, tôi gặp Phó Ðề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại (Tư lệnh Hải quân Vùng I Duyên Hải) và Chuẩn tướng Nguyễn Văn Khánh (Tư lệnh Sư đoàn 1 Không quân) đang ngồi viết bản tự khai, và Trung tướng Thi thì bị phạt quản thúc về tội bỏ Huế. Tôi không hiểu vì sao lại có chuyện kỳ lạ như vậy. Họ đâu có tội gì. Họ chỉ thi hành theo đúng lệnh mà lại bị phạt thì quả thật bất công.
Tướng Thi thực sự là người chống lại việc bỏ Huế. Lúc trước, khi nghe tôi cho biết là Tổng thống đã ra lệnh bỏ Huế thì Tướng Thi đã trả lời thẳng với tôi rằng: “Xã ấp tốt quá mà bỏ làm sao?” Vậy mà bây giờ ông lại bị phạt giam quản thúc. Những vị tướng nầy bị phạt quá oan uổng vì họ xứng đáng gấp mấy trăm lần những ông Tướng phè phỡn tại Sài Gòn.

Hôm sau, trong buổi họp tại Bộ Tổng tham mưu, tôi có nói rằng: “Việc phạt Tướng Thi và hai Tướng Thoại và Khánh là không đúng. Họ chỉ là thuộc cấp của tôi. Họ chỉ làm theo chỉ thị của tôi mà thôi. Họ không có tội gì cả. Nếu có phạt thì xin hãy phạt tôi đây này.” Phòng họp lặng ngắt. Ðại tướng Viên nhìn qua Trung tướng Trần Văn Ðôn. Tướng Ðôn mới đi Pháp về, mới đảm nhận chức Tổng trưởng Quốc phòng. Có thể vì vậy mà Tướng Ðôn mới không biết là Tổng thống Thiệu đã trực tiếp ra lệnh cho tôi bỏ Huế, nên Tướng Ðôn làm đề nghị phạt Tướng Thi vì đã bỏ Huế mà rút lui. Mà Tổng thống Thiệu lại không dám nói sự thật với Tướng Ðôn, và chỉ ký lệnh phạt. Sau đó, Tướng Lê Nguyên Khang, với giọng giận giữ đã buột miệng nói: “Anh em chúng tôi không có tội tình mẹ gì cả!”.

Tiện đây, tôi cũng xin nói về trường hợp ra đi của Tướng Thoại và Tướng Khánh. Là vị Tư lệnh trong tay có đến hàng ngàn lính, hàng trăm chiến hạm lớn nhỏ, nhưng tội nghiệp thay, sau khi hỗn loạn, Tướng Thoại đã bị bỏ quên không ai chở đi khỏi Bộ Tư lệnh ở Tiên Sa, và ông đã phải đi bộ qua dãy núi phía sau bờ biển. May nhờ có một chiếc tàu nhỏ của hải quân mà anh em trên tàu lúc đó cũng còn giữ kỹ luật, thấy Ðề đốc Thoại ở đó, họ ghé vào chở Tướng Thoại đi chứ nếu không lại cũng chẳng biết sau này sẽ ra sao. Còn Tướng Khánh, Tư lệnh Sư đoàn 1 Không quân đã không đủ nhiên liệu để bay xa mà phải đáp trực thăng tại một bãi cát ở Sơn Trà rồi lội ra tàu. Cũng may lúc đó gặp tàu HQ404 và đã cùng tôi về Sài Gòn.

NGÔ QUANG TRƯỞNG
2004-04-05 11:39:32

*****

do Lê Bá Chư ghi chép được đăng tại

http://www.generalhieu.com/nqtruong-u.htm

 

*****

2/

Phỏng vấn bà Ngô Quang Trưởng

http://www.banvannghe.com/a4349/phong-van-ba-ngo-quang-truong-nguyen-tuong-tam

Saturday, April 26, 2014, 12:00 AM

Nguyễn Tường Tâm

 

Bà Ngô Quang Trưởng (áo xanh) đến cắt băng khai mạc phòng tranh

 của họa sĩ Hoàng Vinh tại Đà Nẵng năm 1972

Nhân ngày giỗ đầu sắp tới của cố Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, nguyên Tư Lệnh Quân Đoàn IV rồi Quân Đoàn I, ông Nguyễn Tường Tâm đã nói chuyện với bà quả phụ Ngô Quang Trưởng về một vài điều chưa hề được đề cập về vị tướng lãnh nổi tiếng là liêm khiết, kỷ luật và trọng danh dự này.

 Trung tướng Ngô Quang Trưởng

 Bà Ngô Quang Trưởng là chị họ tôi. Một vài bạn bè báo chí ngỏ ý muốn phỏng vấn bà Ngô Quang Trưởng, tôi thấy bà chị họ tôi rất ngại “được báo chí phỏng vấn” cho nên với những câu hỏi của bạn bè báo chí, tôi thực hiện cuộc phỏng vấn giùm bạn bè cho tiện. Ngoài ra, tôi cũng tổng hợp những lần nói chuyện bình thường giữa hai chị em với lần phỏng vấn thu băng mới nhất để câu chuyện đủ chi tiết hơn.

Hỏi:

Chị cho biết anh rời Việt Nam hôm nào?

Trả lời:

Anh rời Việt Nam thì chị không nhớ ngày mấy, nhưng hình như ngày cuối cùng.

Hỏi:

Đến đảo Guam bao nhiêu lâu sau chị gặp lại anh?

Trả lời:

Bây giờ nói về thời gian thì chị không nhớ là bao lâu, thế nhưng không lâu lắm. Hôm đang ở đảo Guam thì thấy một số các vị tướng lên, trong đó có Tướng Lâm Quang Thi, tư lệnh phó của anh và Đại Tá Bầu mà không thấy anh thì chị cũng lo. Một hôm đang ngồi trong phòng ăn của trại tị nạn thấy Tướng Kỳ bước vào. Thấy chị, ông Kỳ vừa cười vừa nói, “Này bà, bà phải trả tôi 300 đô la nhá, tại vì tôi đem ông chồng bà đi.” Ông Kỳ thuật tiếp, “Trong lúc Bộ Tổng Tham Mưu người ta đi hết rồi, khi tôi ghé lại thì thấy ông ấy còn đang ngồi nhìn bản đồ và hút thuốc, tôi rủ ông ấy đi xuống ông Nam (Ghi chú của Nguyễn Tường Tâm – tức là Tướng Nguyễn Khoa Nam, tư lệnh Vùng IV) để hợp tác với ông Nam ở dưới đó, thì ông Trưởng ra máy bay đi với tôi.” Chị rất là vui khi nghe thấy tin đó. Nhưng mà tự nhiên mình lại giật mình hỏi lại, thế sao thiếu tướng ở đây mà nhà tôi đâu? Tướng Kỳ cho biết khi tới hạm đội thì ông ấy đi trước.

Trung tướng Ngô Quang Trưởng và cố vấn Mỹ

Vì vậy chị lúc nào cũng thấy cám ơn Tướng Kỳ, nhờ ông ấy mà gia đình chị không bị phân ly như nhiều gia đình khác. Kể cũng may. Nếu lúc đó ông Kỳ liên lạc được với Tướng Nam và xuống với Tướng Nam thì có lẽ chết chùm hết.” Sau đó thì anh cũng tới. Vài năm sau, có một lần gặp lại Tướng Kỳ, Tướng Kỳ vẫn nói đùa như trước và nhắc lại, đòi chị trả 300 đô la tiền công ông ấy đưa anh ra đi, và chị vẫn thấy cám ơn Tướng Kỳ.

Hỏi:

Đến đảo Guam bao nhiêu lâu thì chị đi ra ngoài?

Trả lời:

Ở trong trại bao lâu, chị không còn nhớ nữa, nhưng không lâu lắm.
Hỏi:

Ai bảo lãnh gia đình chị ra?

Trả lời:

Khi đến trại chị không đi tìm ai bảo lãnh. Một hôm ông Đại Tá Sauvageot đến liên lạc, lúc đó đã có anh ở đó. (Đại Tá Sauvageot là người trước đây làm phụ tá cho Tướng Fulcet sang Việt Nam thảo luận vấn đề phóng thích tù cải tạo cho đi Mỹ – ghi chú của Nguyễn Tường Tâm). Đại Tá Sauvageot cho anh biết là Trung Tướng Cushman  * cho lệnh đại tá tới đón gia đình anh chị về ở với ông bà trung tướng ở trường Chỉ Huy Tham Mưu Leavenworth. Trung Tướng Cushman lúc đó đang làm chỉ huy trưởng trường này. Đại Tá Sauvageot tới đón gia đình anh chị bằng xe hơi. Hồi ở Việt Nam lúc anh làm tư lệnh Vùng IV thì Tướng Cushman là cố vấn. Nhà của Tướng Cushman trong trường Leavenworth thật lớn. Ông bà ấy ở nửa căn còn cho gia đình anh chị ở nửa căn.

Hỏi:

Trong thời gian ở nhà ông bà Cushman, ông bà giúp đỡ anh chị những gì?

Trả lời:

Ngoài việc giúp ăn ở trong nhà, Tướng Cushman không giúp đỡ tiền bạc gì. Tướng Cushman có đề nghị cho anh làm một việc gì đó ở trường Leavenworth chị không rõ nhưng việc không thành. Lúc đó cũng không biết làm gì nên Tướng Cushman bảo anh đi học nghề nông. Một đại úy Mỹ cho mượn chiếc xe Honda. Anh và cháu Diệp (con trai Tướng Trưởng – ghi chú của Nguyễn Tường Tâm) hàng ngày chở nhau đi học nghề ở một cái nông trại. Chị rời nhà ông Cushman, sang tiểu bang Virginia trước. Anh và cháu Diệp còn ở đó. Nhưng thời gian ngắn sau thì anh có việc gì đó ở Washington D.C. mỗi tháng được $1,000.00 (một ngàn) đô. Tới khi có việc viết sách cho Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ thì anh sang ở hẳn tiểu bang Virginia (kế cận thủ đô Washington D.C.).

Hỏi:

Khi tới Mỹ anh chị có bao nhiêu tiền?

Trả lời:

Có hơn $1,300.00 (một ngàn ba trăm đô.). Đúng ra khi tới trại chị có $1,400 đô, nhưng tiêu mất vài chục đô ở trong trại rồi. Lúc ở nhà Trung Tướng Cushman, một hôm Tướng Cushman bảo anh chị có bao nhiêu tiền thì đưa ông ấy mở tài khoản trong ngân hàng cho. Chị đưa hết số tiền đó cho Tướng Cushman. Có điều buồn cười là khi nghe chị cho Tướng Cushman biết như vậy, anh tròn mắt ngạc nhiên nhìn chị.

Sau đó anh hỏi chị là: “Tiền ở đâu mà em có nhiều thế?!” Chị cho biết đó là tiền sau mỗi chuyến công du nhà nước cho một ít để tiêu vặt thì chị không tiêu và không mua sắm gì mà để dành; vì khi đi công du mọi chuyện có người lo hết rồi đâu phải chi tiêu gì. Tới lúc rời nhà Tướng Cushman chuyển tới ở tiểu bang Virginia, Tướng Cushman trao lại cho chị cuốn sổ ngân hàng thì chị thấy trong tài khoản đã có hơn 5,000 đô la (năm ngàn). Số trên 3,500 đô thêm ra là tiền mấy vị tướng Mỹ trong đó có cả Tướng Stiwell góp nhau tặng. Không có tiền của ông Cushman.

Hỏi:

Các tướng lãnh Mỹ đối với anh như thế nào?

Trả lời:

Họ rất là tốt, sốt sắng. Ngoài Tướng Cushman, lúc sang Virgina thì Tướng Coxy cũng thăm hỏi và mang những vật dụng trong nhà tới cho. Lúc đó anh chị thuê một căn apartment hai phòng ngủ giá hơn 180 đô/1 tháng. Cái vui nhất là hai ông tướng 3 sao mỗi ông một đầu khiêng cái thảm trải trong apartment cho mình là Tướng Coxy và 1 tướng nữa chị quên tên rồi. Còn cái bàn thờ hiện đang dùng trong nhà là của Tướng Stiwell tặng. Ông Stiwell cho một người nào đó mang tới. Bây giờ cái bàn đó để thờ Phật. Đại Tướng 4 sao Stiwell trước kia làm tư lệnh lực lượng Hoa Kỳ tại Việt Nam và tư lệnh lực lượng Hoa Ky tại Đại Hàn. Hồi ở Việt Nam đã có lần ông ấy lấy máy bay đưa anh chị đi Thái Lan chơi. Nhưng lần đó mới tới Thái Lan được một ngày thì có một trận đánh nào đó ở miền Trung khiến anh và Tướng Stiwell phải trở về, chỉ có chị ở lại thêm vài ngày nữa rồi trở về sau.

Một hôm không biết hôm đó là Thankgiving hay lễ gì mà thấy ông ấy khệ nệ xách trái cây và một con gà tây tới tặng. Lúc đó mới sang Mỹ nên thấy một ông tướng nhiều quyền uy mà phải tự làm như thế thay vì sai thuộc cấp thì chị lấy làm ngạc nhiên lắm. Nhưng sau này sang lâu rồi mới biết ở xứ này là xứ dân chủ nên chuyện đó rất là thường tình. Sau này cũng có mấy lần Tướng Stiwell mời anh chị tới nhà ăn cơm, chị ngạc nhiên thấy hai ông bà ấy dọn cơm và rồi đích thân ông ấy trộn món cesear salad. Trong đó ông ấy đập trứng lấy lòng đỏ trộn với salad.

Hỏi:

Nghe nói sau khi di tản Vùng I và Vùng II, có vài vị tướng và sĩ quan cao cấp bị giam giữ ở Tổng Tham Mưu, nếu đúng như vậy thì theo chị ai ra lệnh giam giữ và trong số các tướng bị giam giữ có anh không?

Trả lời:

Trong vụ di tản Đà Nẵng, sau khi Sài Gòn biết anh ở trên chiến hạm hải quân, đã ra lệnh cho trực thăng bốc anh về thẳng Sài Gòn nhưng anh từ chối và đòi đi cùng với thủy quân lục chiến cho tới khi tất cả các anh em đều cùng được về miền Nam luôn. Anh sợ rằng nếu anh đi trước thì anh em TQLC không được Bộ Tổng Tham Mưu đưa về thẳng Sài Gòn. Nghe anh kể lại, sau khi chạy ở Đà Nẵng vào thì Trung Tướng Đôn (bộ trưởng quốc phòng) ra lệnh bắt nhốt Tướng Phú tư lệnh Vùng II. 

Trung tướng Ngô Quang Trưởng gắn huy chương

tưởng thưởng quân nhân Hoa Kỳ sau trận chiến

Còn thuộc Vùng I thì bị bắt giữ gồm có Tướng Khánh, tư lệnh sư đoàn I không quân, Tướng Thi, tư lệnh phó quân đoàn và mấy ông nữa trong đó hình như có cả Đại Tá Xuân, tỉnh trưởng Quảng Tín. (Ghi chú của Nguyễn Tường Tâm – Tại San Jose, chính Trung Tướng Lâm Quang Thi cũng có lần kể với tôi và mấy người nữa chuyện ông bị giam giữ này). Các vị đó bị giữ ở Bộ Tổng Tham Mưu, còn anh thì không bị đả động gì, nhưng anh tự nguyện vào ở cùng với mấy ông đó.

Hỏi:

Sau đó anh được giao chức vụ gì?

Trả lời:

Sau đó anh được giao một chức gì đó ở Tổng Tham Mưu mà chị không rõ. Còn Đại Úy Hòa, tùy viên của anh từ hồi ở Vùng I vẫn tiếp tục làm tùy viên cho anh. Đại Úy Hòa cho biết anh vẫn được giao cho một chiếc trực thăng để đi tới các đơn vị. Viên phi công lái trực thăng cho anh vẫn là Đại Úy Kim lái cho anh từ hồi ở Vùng I. Nói tóm lại, anh cũng có chức.

 

Nguyễn Tường Tâm

*

Từ tháng Giêng năm 1968 tới tháng 3 năm 1969, Trung Tướng Robert Everton Cushman Jr. (1914 – 1985) là cố vấn trưởng cho Tướng Trưởng tại Quân đoàn 1. Tháng đó, Nixon gọi ông về và bổ nhiệm làm Phó Giám đốc CIA và phục vụ tới tháng chạp năm 1971.

Sau đó, ông lên chức Đại Tướng, nắm chức Tư Lệnh TQLC và cũng là người góp phần quan trọng trong việc di tản Nam Vang cùng Sài Gòn năm 1975.

 *****

3/

 IT DOESN’T TAKE A HERO

(Nov 1 1992)

by Norman Schwarzkopf

  • Hardcover:432 pages
  • Publisher:Bantam (Nov. 1 1992)

 https://en.wikipedia.org/wiki/Norman_Schwarzkopf_Jr.

Herbert Norman Schwarzkopf Jr. (1934 – 2012) nguyên là vị Tổng Tư Lệnh tại Bộ Chỉ Huy Trung Ương Hoa Kỳ mà đã điều khiển toàn thể các lực lượng liên quân trong Cuộc Chiến Vùng Vịnh.

Khi đang chỉ huy Trung Tâm Hành Quân Trung ương Hoa Kỳ, Tướng Schwarzkopf đã được giao trách nhiệm đối phó với cuộc xâm lược vào Kuwait trong năm 1990 bởi các lực lượng của Iraq dưới quyền của Saddam Hussein.

Nhiệm vụ ban đầu của ông chỉ là bảo vệ Saudi Arabia chống lại sự xâm lược từ phía Iraq, nhưng rồi Schwarzkopf cuối cùng đã được giao trách nhiệm điều khiển một lực lượng quân sự quốc tế với hơn cả 750.000 quân nhân. Sau khi các thương thảo về ngoại giao bị thất bại thì ông đã soạn thảo kế hoạch và điều khiển chiến dịch Operation Desert Storm – Bảo Tố Sa Mạc, một chiến dịch được khởi đầu bằng một trận không kích kéo dài, và theo sau đó đã là một cuộc tấn công trên bộ kéo dài trong 100 giờ đồng hồ rất thành công mà đánh bại quân đội Iraq và giải phóng Kuwait vào đầu năm 1991. Schwarzkopf đã ân thưởng nhiều huy chương và danh dự quân sự.

Tướng Schwarzkopf đã về hưu gần ngay sau cuộc chiến và đã thi hành một số công tác khá phiêu lưu đầy tính cách vị tha, và chỉ thỉnh thoảng mới dính líu tới chính trị, trước khi qua đời do biến chứng của bệnh sưng phổi vào cuối năm 2012. Là một vị chỉ huy quân sự với một tính khí cương quyết, Tướng Schwarzkopf đã vẫn được coi như là một lãnh đạo sưu việt bởi các tác giả chuyên viết về tiểu sử và đã được đề cao về các khả năng trong tư cách ngoại giao về quân sự cũng như trong những lần tiếp xúc với báo chí.

 

 Theo 2 tài liệu tại:

https://nghiathuc.wordpress.com/2011/01/29/t%C6%B0%E1%BB%9Bng-ngo-quang-tr%C6%B0%E1%BB%9Fng-la-m%E1%BB%99t-b%E1%BA%ADc-th%E1%BA%A7y-vi-d%E1%BA%A1i-c%E1%BB%A7a-toi/

Tài liệu số 1

 Tổng Tư Lệnh

Bộ Chỉ Huy Trung Ương

Chiến dịch Bảo Tố Sa Mạc, APO Nữu Ước 09852

 Ngày 26 Tháng 2 Năm 1991

 

Kính thưa Tướng Trưởng,

Trân trọng cảm ơn Trung Tướng về mấy dòng đã gởi cho tôi. Sự kiện ngài mà lại hãnh diện về tôi, thì quả đã khiến tôi cũng phải quá ư là hãnh diện mà thôi, bởi vì ngài vẫn từng là một trong những vị thày vĩ đại tôi từng hân hạnh có được. Nhiều chiến thuật mà tôi thường xuyên áp dụng trên chiến trường tại Trung Đông này,  thì cũng từng là những điều mà ngài đã thành công dạy tôi cách đây đã 25 năm trời, khi mà chúng ta cùng phục vụ chung tại Việt Nam.

Mổi khi nhớ lại được là ngài đã có thể lẩn tránh để tới được Mỹ, là mổi lần tôi đã có lại được cảm giác vui mừng, tuy là mãi cho tới ngày hôm nay, một trong những ngày đen tối u ám nhất trong đời tôi, vẫn là cái ngày mà cái đất nước vĩ đại của ngài bị địch từ phía Bắc xâm chiếm mất đi. Tuy nhiên, vài kỷ niệm để được hãnh diện nhất trong binh nghiệp của tôi đã là, và cũng mãi mãi sẽ là, những năm tháng mà hai chúng ta đã vai kề vai cùng chiến đấu cho lý tưởng Tự Do.

Tôi hy vọng là sau khi chiến dịch này chấm dứt thì chúng mình cũng sẽ có cơ hội nào đó, để ngồi lại cùng nhau hàn huyên chuyện xưa.

Thân kính,

B. NORMAN SCHWARZKOPF

Đại Tướng , Quân Lực Hoa Kỳ

Trung Tướng  Ngô Quang Trưởng

Sư Đoàn Dù

6610 New Home

(địa chỉ thiếu trong hình dẫn chiếu)

*****

Tài liệu số 2

 

400 North Asley Street

Suite 3050

Tampa, Flprida 33602

 Ngày 8 Tháng 11 Năm 1994

Kính thưa Tướng Trưởng,

Tôi vừa được biết là vào ngày 18 tháng 11 năm nay thì ngài dự định sẽ nghỉ làm lại công ty RAILINC Corporation để về hưu. Trong tư cách là một trong những kẻ tứng ái mộ ngài, tôi xin trân trọng và vui mừng được chuyển tới ngài những lời chia vui nồng nhiệt nhất.

Khi còn trẻ, tôi đã từng được ngài chỉ dẫn cho được rất ư là nhiều việc trong suốt thời gian chúng ta đã cùng chiến đấu chống lại một kẻ thù chung tại đất nước Việt Nam thân yêu của ngài. Tôi đã rất hên để có được cơ hội hầu áp dụng được các bài học đó vào những năm sau này, để mang lại được một chiến thắng lớn, trước một chế độ khác mà cũng rất ư là tàn nhẫn. Tôi vẫn sẽ mãi mãi mang ơn ngài về tấm gương sáng lạng mà ngài đã cống hiến cho tôi, hình ảnh tiêu biểu của một quân nhân thực sự đáng kính chỉ lo chu toàn nhiệm vụ với quốc gia, một cách vị tha như cần phải có. Nhân dịp đặc biệt này, xin ngài ghi nhận cho, là tôi vẫn sẽ nhớ ngài, không chỉ hôm nay, nhưng cũng sẽ mãi mãi mà thôi.

Trọng kính,

B. Norman Schwarzkopf

Đại Tướng Quân Đội Hoa Kỳ, Về Hưu.

 Thiếu Tá Cố Vấn Schwarzkopf

Tại Trại Lực Lượng Đặc Biệt Đức Cơ, Tháng 8 Năm 1965.

Hình do một phóng viên trẻ của AP là Peter Arnett chụp,

Nhân khi giúp tải thương một binh sĩ Dù VNCH sau một trận pháo.

 

Sau thời gian phục vụ trong tư cách là Thiếu tá cố vấn bên cạnh Đại Tá Trưởng, lúc đó là chánh văn phòng của Tướng Đống, Tư lệnh Dù, Tướng Trưởng đã để lại một dấu ấn không phai mờ, gần như là một huyền thoại, trong tâm tư của vị Tướng Tư lệnh Chiến dịch Operation Desert Storm.

Điều đáng kính của Tướng Schwarzkopf là ông đã đủ tự tin và nhân cách để công khai đề cao Tướng Trưởng mà không ngượng lời (vỉ ông ta đâu cần gì nơi Tướng Trưởng?).

Trong toàn bộ tiểu sử tự viết của mình, dài tới 626 trang (bìa mềm, do A Bantam Book tái xuất bản tháng 10 năm 1993, sau phiên bản bìa cứng đã xuất bản tháng 10 năm 1992), Tướng Schwarzkopf đã dành tới 16 trang để chỉ kể về Tướng Trưởng và đề cao kính phục ông ta.

Dưới đây là những đoạn đó, đã được chuyển ngữ, như là một sự thành kính tưởng niệm một danh tướng VNCH.

*****

Sau khi tốt nghiệp West Point với cấp bậc “second lieutenant” Bộ Binh, H. Norman Schwarzkopf đã tiếp tục thụ huấn tại “United States Army Infantry School, Fort Benning, Georgia” và lấy bằng Dù. Sau đó, ông nắm một Trung đội thuộc Sư đoàn 101 Không Kỵ đóng tại Fort Campbell, Kentucky. Năm 1958, ông  lên chức “first  lieutenant” và qua 1959 thì được chuyển qua Tây Đức để chỉ huy một trung đội thám sát thuộc Sư đoàn 6 Bộ Binh. Tháng 6 năm 1960, ông được giao trách nhiệm làm tùy viên cho Chuẩn Tướng Charles Johnson, Chỉ huy trưởng của Lữ đoàn Bá Linh đóng tại Tây Bá Linh.

Schwarzkopf lên Đại úy năm 1961 và trở về lại Fort Benning, nơi ông cũng lấy được bằng “Master Parachutist Badge”. Năm 1962, ông được phân bổ đi học tại University of Southern California lấy bằng Cao Học Master of Science in Engineering (chuyên về hỏa tiễn) và đã tốt nghiệp năm 1964. Ông được lệnh trở về giảng dạy tại West Point. Theo cam kết thì ông phải giảng huấn tại đó trong ba năm, nhưng ông đã nạp đơn tình nguyện xin đi phục vụ tại Việt Nam chỉ một năm sau đó. West Point đã chỉ chấp thuận yêu cầu của ông ta, với điều kiện sẽ phải trở về dạy tiếp cho hai năm còn lại.

Tại Nam Việt Nam, ông đã đảm nhiệm vai trò cố vấn cho lực lượng đặc nhiệm là Sư đoàn Dù của QĐVNCH và cũng đã thăng chức lên Thiếu Tá.

Chính tại đây, ông đã có cơ duyên được tiếp xúc với Tướng Trưởng (lúc đó hãy còn là Đại Tá Dù) để đi đến một mối kính nể tràn đầy, gần như là thày trò, đôi lúc còn có vẻ như là một huyền thoại nữa!

1/

(Trang 140 tới trang 152 của nguyên bản)

Tôi thật chưa bao giờ mà lại quá ư là mãn nguyện như hiện nay. Tôi rất vui mừng được đi phục vụ tại Việt Nam và thật vui thích với nhiệm vụ, để giúp những người mà tôi từng yêu thích và kính nể, hầu bảo vệ đất nước cùng nền tự do của họ.

Nhưng chiến cuộc thì cũng đã đổi thay, từ một tranh chấp địa phương, để trở thành một cuộc chiến giữa Bắc Việt và Hoa Kỳ. Chiếu theo đề nghị của Tướng Westmoreland, Tổng Thống Johnson đang tung đầy cả nhiều trăm ngàn binh sĩ Mỹ vô khắp miền Nam Việt Nam – ít ra thì cũng tới cả sáu sư đoàn chỉ trong thời gian phục vụ tại Việt Nam của tôi mà thôi. Các xe ủi, cùng nào là máy trộn xi-măng với các xe cần câu đều đang mở mang xây đường mới với các căn cứ chỉ huy, phi trường, bãi đáp trực thăng và căn cứ tiếp liệu. Nhiều hải cảng mới tinh đã bắt đầu xuất hiện dọc bờ biển. Tuy trong thời gian đó thì tôi cũng chưa liên hệ gì đến – mọi việc đều có vẻ như thuộc về một chiến trận nào đó mà thôi – thì cuộc chiến đó, trong tương lai đã chuyển hướng một cach thật là thật bi tráng.

Hà nội đã đáp ứng lại sự tăng gia về hiện diện của phía Mỹ cũng bằng cách tăng gia đưa bộ đội của chúng xuôi Nam. Trước đó thì Bắc Việt cũng chưa từng gởi xuống đó những đại đơn vị, và các du kích quân trong Nam thì thường cũng tránh tấn công các nơi binh sĩ Mỹ hay Nam Việt đang tập trung đông đảo. Nhưng vào cuối hè và tới Thu năm 1965, thì Hà nội bèn thay đổi chiến thuật một cách triệt để. Ba trung đoàn – độ bảy ngàn bộ đội – đã tụ tập lại ở Cao nguyên Trung phần (chúng tôi cũng từng đã đụng độ với hai đơn vị của chúng tại Đức Cơ, nhân khi chúng vượt biên giới Kampuchia để vào Nam Việt). Mưu đồ của chúng đã là sẽ đánh tràn xuống từ vùng cao nguyen, để rồi chiếm đóng các vùng đông dân cư ven biển gần Qui Nhơn, và nhân đó thì cũng cắt đứt được luôn Nam Việt Nam ra làm hai phần. Cuộc tấn công này thì cũng đã bị đánh tan vào dạo giữa Tháng 11, khi mà U.S. 1st Cavalry Division (Airmobile) ~ Sư Đoàn Không Kỵ Số 1 Hoa Kỳ đã tiêu diệt đa số lực lượng cộng sản địch dọc theo sông Đà Rằng (phát âm là “ee drang”), ở phía Nam của Đức Cơ. Nhân trận mà sau này đã được biết đến như là chiến trận Thung Lũng Ia Drang, thì phi cơ trực thăng lần đầu tiên đã được sử dụng để vận chuyển các đại đơn vị của Mỹ tại chiến trường. Điều đó đã là một biến chuyển đáng kể trong chiến thuật hành quân, mà cũng là một biến cố ngay cho chính cả tôi, bởi vì chiến trận này cũng đã giúp tôi tiếp xúc được với vị chỉ huy quân sự tuyệt vời nhất về chiến thuật mà tôi đã từng được biết đến.

Đại tá Ngô Quang Trưởng lúc đó đang là chánh văn phòng của Tướng Đống. Ông ta thì quả không hề là cái hình ảnh của một thiên tài quân sự như trong tâm tư của tôi: chỉ cao có 5 ‘feet’ 7 , độ bốn mươi mấy tuổi, ốm teo, hai vai thì xệ xuống và cái đầu thì lại có vẻ quá lớn so với toàn thân. Mặt thì đầy nhăn nheo và rất ưu tư, không có chút gì là đẹp trai cả, và luôn luôn lúc nào môi cũng gắn một điếu thuốc. Ấy vậy, ông ta lại rất được tôn kính bởi các sĩ quan và binh lính của mình – và cũng rất ư là kinh sợ bởi ngay các tay sĩ quan chỉ huy Bắc cộng mà đã từng biết tới tài năng của ông ta. Mổi khi mà một chiến dịch đặc biệt khó khăn xẩy ra, thì Tướng Đống cùng bèn giao cho ông ta chỉ huy mà thôi.

Lực lượng Dù được báo động là phải ngăn chận các trung đoàn Bắc cộng từng bị tan hàng tại Thung lũng Ia Drang có thể sẽ trốn chạy về lại đất Kampuchia. Lúc đó thì tôi đang nữa tỉnh nữa mê trong phòng, sau một buổi ăn tối với gà và bia no nê tại Manor BBQ, thì nhận được lệnh phải ra ngay phi trường. Ông Trưởng đã gom góp được một lực lượng đặc biệt cực lớn gần cả hai ngần binh sĩ, để sẽ tới Ia Drang vào ngay sáng hôm sau, và cũng đã chọn tôi trong vai trò cố vấn cho ông ta.

Chúng tôi dùng phi cơ vận tải bay đáp xuống phi trường đất sét đỏ tại Đức Cơ, nơi tôi đã từng lê gót giày dạo củ, rồi dùng phi cơ trực thăng bay dọc thung lũng sông về hướng Nam. Ngay từ phút đầu mà tôi vừa ra khỏi phi cơ thì đã đối mặt ngay liền với đụng độ và giao tranh. Thung lũng rộng độ mười hai dặm Anh, nơi sông Ia Drang chuyển hướng, để chảy về phía Tây vô Kampuchia, và ở đâu đó, trong trùng trùng điệp điệp của rừng sâu, thì lực lượng chính của địch cũng đang di chuyển. Chúng tôi đáp xuống ở phía Bắc, và Tướng Trưởng bèn ra lệnh cho các tiểu đoàn vượt sông Ia Drang rồi bố trí dọc dãy núi Chu Pong gồm toàn những chỏm núi cao sừng sững chạy mãi xuống hướng Nam. Tôi mê say nhìn mổi khi ông ta làm việc. Khi đang di chuyển như vậy thì ông ta chợt dừng lại để nghiên cứu bản đồ, và thỉnh thoảng ông ta sẽ chỉ vào một điểm trên bản đồ và nói, “Tôi muốn ông cho pháo chổ này”. Lúc đầu thì tôi cũng bán tín bán nghi, nhưng vẫn gọi pháo; khi chúng tôi tới các nơi đó thì quả thật, chúng tôi thấy đầy tử thi địch. Chỉ đơn giản hình dung ra địa thế, và rồi rút từ kinh nghiệm chiến đấu đánh địch trên mười lăm năm, Tướng Trưởng đã cho thấy một khả năng huyền bí hầu tiên liệu ra được là chúng sẽ sắp làm gì.

Tối hôm đó, sau khi bố trí xong vị trí chỉ huy, ông ta bèn mở bản đồ ra, đốt lên một điếu thuốc và cho biết đại cương về kế hoặch cho trận chiến. Ông ta giải thích là dãy núi rừng giữa vị trí của chúng tôi trên các chỏm núi và dòng sông, thì cũng tạo thành một hành lang thiên nhiên, cái con đường mà chắc chắn có nhiều hy vọng là địch sẽ sử dụng mà thôi. Ông ta nói, “Vào rạng đông thì chúng ta sẽ đưa một tiểu đoàn bố trí ở đây, ở sườn trái của chúng ta, để làm nút chặn giữa dãy chỏm núi và dòng sông. Độ tám giờ sáng mai thì họ sẽ đụng lớn với địch. Rồi thì tôi sẽ chuyển một tiểu đoàn khác tới đây nè, ở phía phải của chúng ta. Tới mười một giờ trưa, thì họ cũng sẽ đụng địch’, ông tiếp, “và rồi chúng ta sẽ tấn công với hai cái tiểu đoàn thứ ba và thứ tư, để đánh thẳng xuống phía sông. Lúc đó thì địch cũng sẽ bị vô tròng, vì bị sông chận cứng không lối thoát mất rồi”.

Tối hôm đó, sau khi bố trí xong vị trí chỉ huy, ông ta bèn mở bản đồ ra, đốt lên một điếu thuốc và cho biết đại cương về kế hoặch cho trận chiến. Ông ta giải thích là dãy núi rừng giữa vị trí của chúng tôi trên các chỏm núi và dòng sông, thì cũng tạo thành một hành lang thiên nhiên, cái con đường mà chắc chắn có nhiều hy vọng là địch sẽ sử dụng mà thôi. Ông ta nói, “Vào rạng đông thì chúng ta sẽ đưa một tiểu đoàn bố trí ở đây, ở sườn trái của chúng ta, để làm nút chặn giữa dãy chỏm núi và dòng sông. Độ tám giờ sáng mai thì họ sẽ đụng lớn với địch. Rồi thì tôi sẽ chuyển một tiểu đoàn khác tới đây nè, ở phía phải của chúng ta. Tới mười một giờ trưa, thì họ cũng sẽ đụng địch’, ông tiếp, “và rồi chúng ta sẽ tấn công với hai cái tiểu đoàn thứ ba và thứ tư, để đánh thẳng xuống phía sông. Lúc đó thì địch cũng sẽ bị vô tròng, vì bị sông chận cứng không lối thoát mất rồi”.

Tại West Point thì đúng thật là không bao giờ mà tôi lại được nghe những điều như vậy. Lúc đó, tôi đã nghỉ, “Cái gì mà tám giờ sáng, rồi còn lại mười một giờ trưa nữa? Làm sao mà ông ta lại có thể đưa ra thời khóa biểu của trận chiến cái kiểu đó được?”. Nhưng tôi cũng nhận ra được nét đại cương của kế hoặch của ông: ĐT Trưởng vừa tái sáng tạo các chiến thuật mà Hannibal đã từng áp dụng năm 217 Trước Công Nguyên, khi danh tướng này bao vây được và tiêu diệt các quân đoàn cổ La Mã trên bờ Hồ Trasimene. ►1

Nhưng rồi ĐT Trưởng lại cho biết thêm là chúng tôi cũng đang có một vấn đề: Các đơn vị Dù Việt đã được sử dụng trong chiến dịch này, vì cấp trên lo ngại là nếu dùng các đơn vị Mỹ, thì cũng có khả năng là họ rồi cũng sẽ phải tiến quá gần tới biên giới Kampuchia, nhân khi đuổi theo địch. Ông ta đã nói, “Trên bản đồ của Thiếu tá thì biên giới với Kampuchia là chổ này, độ mười cây số ở phía Đông, nếu so với cái bản đồ của tôi. Để thi hành kế hoặch của tôi, chúng ta cần phải dùng bản đồ của tôi, thay vì là cái của Thiếu Tá, bởi vì nếu không, thì chúng ta sẽ không thể đi bọc đủ sâu, hầu bố trí đơn vị chận địch đầu tiên của chúng ta. Bởi vậy, Thiếu Tá Schwarzkopf – Thiếu Tá (phát âm “tia-tah”) là tiếng Việt cho chữ “major” – ông cố vấn cho tôi ra sao đây?”.

Viễn tượng để cho địch thoát về được hậu cứ, để rồi dưởng quân cho đủ mạnh, và rồi lại tái tấn công, thì cũng thật sự rất ư là xúc phạm tới tôi, cũng như mọi quân nhân. Một số trong bọn địch này thì tôi cũng đã từng đụng độ bốn tháng trước tại Đức Cơ rồi. Cho nên làm sao mà tôi lại có thể cho là bản đồ của tôi lại chính xác hơn là cái của ĐT Trưởng?

“Tôi xin cố vấn là chúng ta nên dùng bản đồ của ông”.

Rất lâu sau khi đã ra các lệnh tấn công, ĐT Trưởng bèn ngồi xuống hút thuốc và nghiên cứu tấm bản đồ. Chúng tôi cùng nhau dò đi dò lại mãi đến khuya kế hoặch hành quân, ráng hình dung ra mọi diển biến có thể có được của trận chiến. Tới rạng đông, thì chúng tôi cho Tiểu đoàn 3 bung ra. Họ bèn bố trí xong xuôi và, quả đúng thật, vào lúc tám giờ sang, thì họ gọi về cho biết đang đụng nặng với địch. ĐT Trưởng liền tung Tiểu đoàn 5 về hướng phải. Tới mười một giờ trưa, thì họ cũng báo cáo đang đụng nặng. Đúng y như ĐT Trưởng đã tiên liệu, ở rừng sâu phía dưới, địch quả đã sa vào bẩy của Tiểu đoàn 3 tại biên giới và bèn quyết định, “Mình không thể nào trốn thoát được qua ngõ này rồi. Phải trở lui lại mà thôi”. Cái quyết định này thì cũng đúng là vi phạm nguyên tắc căn bản về rút quân và trốn chạy, là phải sử dụng lộ trình nguy hiểm nhất, hầu giảm thiểu khả năng sa vào ổ phục kích của địch đang chờ chực sẳn. Nếu mà chúng chịu rời thung lũng để vượt lên dãy núi Chu Pong, thì họa may chúng đã có thể trốn thoát được rồi. Ngược lại, đúng như ĐT Trưởng tiên liệu, chúng đã cứ di chuyển dưới vùng thấp, và nay thì chúng tôi đã gom được chúng vô bẫy rồi. Ông bèn nhìn tôi và nói, “Cho pháo đi”. Chúng tôi đã pháo tan vùng phía dưới trong cả nữa tiếng đồng hồ. Rồi ông ta ra lệnh cho hai tiểu đoàn còn lại của mình đánh thẳng xuống đồi; súng đạn bắn rầm trời khi chúng tôi đi theo họ.

Tới độ một giờ trưa, thì ông Trưởng tuyên bố, “O.K. Mình ngừng thôi”. Ông ta bèn lựa một khu quang đãng thật dể thương, và rồi hai tôi với ban tham mưu của ông, cùng nhau ăn trưa! Đang nữa chừng buổi ăn trưa, thì ông ta bèn để chén cơm xuống và dùng máy vô tuyến ra những lệnh gì đó. Tôi hỏi ông ta, “Có gì vậy?”. Chuyện là ông ta vừa ra lệnh cho binh sĩ thu dọn chiến trường để thu hồi vũ khí địch. “Chúng ta đã loại được rất nhiều địch, và số còn lại thì đã cùng vứt bỏ vũ khí hầu trốn chạy”.

Bây giờ, nếu nói ra, thì cũng quả thật là ông ta đã không hề tận mắt chứng kiến điều gì cả! Mọi việc đều chỉ xảy ra tận trong rừng sâu mà không hề ai đã chứng kiến được. Nhưng trong suốt ngày hôm đó, chúng tôi vẫn ở lại khu đất trống đó, và các đơn vị của ông ta đã cứ liên tục thay nhau mang về biết bao nhiêu là vũ khí để mà chất đống ngay trước mặt chúng tôi luôn. Tôi thì quả thật rất phấn khởi – chúng tôi đã đúng là chiến thắng một cách dứt khoát! Nhưng cái ông Trưởng thì lại chỉ vẫn cứ ngồi đó, mà mãi lo hút cái điếu thuốc của mình thôi.

Trong thời gian phục vụ bên cạnh Lực Lượng Dù Nam Việt, tôi cũng đã nhìn việc tăng cường của các đơn vị tác chiến Mỹ theo nhãn quan quan của một quân nhân Mỹ, và tôi cũng đã có những cảm nhận lẫn lộn. Một bên, thì tôi chào mừng sự kiện hỏa pháo đã được tăng cường – chẳng hạn Sư đoàn 1 Không Kỵ thì đã thật là tuyệt vời trong việc mang được pháo vô ngay rừng sâu để rồi tại đó, đã có thể yểm trợ pháo liền ngay tức thời, điều mà đã giúp cho lực lượng dã chiến của chúng tôi đã có thể hành quân được như là tại Ia Drang.

Về phương diện khác, việc Mỹ hóa cuộc chiến cũng đã làm tôi rất ư là bối rối. Đột nhiên, chúng ta đã không còn đồng hành với miền Nam Việt Nam nữa. Đó là đất nước của họ, đó là chiến cuộc của họ: rốt cuộc thì chính họ mới phải chịu đựng tất cả mọi thương đau mà thôi. Tôi nghỉ là chúng ta cần phải cung cấp các khả năng, với lòng tự tin cùng những phương tiện thiết yếu cho họ, và rồi khuyến khích họ chiến đấu. Ấy vậy, tuy lập trường chính thức của chúng ta là chúng ta đang gởi quân đội để giúp Nam Việt chiến đấu, thì sự thật là cứ càng ngày càng có qua nhiều trận chiến chỉ độc quyền do người Mỹ đãm nhiệm mà thôi, thay vì là do các lực lượng của Hiệp-chũng-quốc và Nam Việt cùng nhau chịu trách nhiệm. Các sĩ quan Mỹ thì cũng bắt đầu nói những điều, chẳng hạn như là, “Mấy tên đó thì cũng không biết đánh giặc là gì cả. Không tên nào mà xứng đáng là chiến sĩ. Không thằng nào mà xứng đáng cả”. (Lực Lượng Dù và Thủy Quân Lục Chiến VNCH vẫn tiếp tục hành quân chung với những lực lượng Mỹ trong những cuộc hành quân hỗn họp, nhưng ngay chúng tôi, những cố vấn, cũng thấy được là tiếp liệu và quân nhu cũng khan hiếm hơn, vì ưu tiên thì vẫn được dành cho các đơn vị Hoa Kỳ mà thôi).

Chúng ta cũng có khuynh hướng quên mất sự kiện là chúng ta đang ở đất nước của những người khác. Một thí dụ là khi Sư đoàn 1 Bộ Binh, từng lừng danh với tên gọi “Red Big One ~ Đại Hồng” được bố trí tại phía Bắc của Sài Gòn, thì họ đã bắt đầu bắn để thử pháo và đề lô. Việc đó thì cũng chỉ là một thủ tục thông thường về phòng vệ, nhưng trong lần này, thì cũng có nghĩa là pháo xuống những cánh đồng lúa của nông dân, khiến họ hoảng sợ mà cũng rất căm phẩn luôn.

Khi Hoa-thịnh-đốn từ bỏ các mục tiêu của sứ mệnh cố vấn, thì các binh sĩ Nam Việt – và các cố vấn Mỹ của họ – cũng bèn đã bị đối xử như là một loại công dân thứ hạng mà thôi. Vào một ngày chủ nhật trong tháng Mười Một, tôi đã đưa vị đối tác người Việt vô một căn cứ Mỹ. Ông là một trung tá Thiên chúa giáo ngoạn đạo tên Kha, từng du học ở Mỹ và nhân đó, cũng đã khám phá ra được bắp, loại mà gần như không tìm ra được tại quốc nội. 2  Từ nhiều tháng nay thì tôi cũng đã cứ ăn ké đồ ăn của ông ta, nên khi tôi được tin là câu lạc bộ sĩ quan tại Kontum, gần địa điểm chúng tôi đang hành quân, đang có bắp đóng hộp, tôi liền bèn mời ông Kha đi dùng buổi ăn trưa, chung với vài đồng sự trong ban nhân viên của ông ta, cũng như là một cặp bạn cố vấn trong tiểu đoàn của tôi. Chúng tôi thì cũng chỉ muốn được thay đổi không khí chút ít mà thôi. Nhưng tại cổng vô thì tôi đã phải cải lộn với tay quân cảnh, mà cứ khăng khăng không cho người Việt được vô căn cứ. Tôi đã giải quyết nội vụ đủ nhanh (dùng cái đẳng cấp cao hơn), nhưng Kha, mà cũng nói tiếng Anh tuyệt vời, không sai giọng, đã tự cảm thấy bị sỉ nhục, còn tôi thì cũng tự thấy quá ư là khó chịu mà thôi, cho ngay cả hai chúng tôi. Khi chúng tôi vô tới tại câu lạc bộ, thì lại tới phiên viên quản lý tới và thông báo cho chúng tôi là, “Ở đây, chúng tôi không phục vụ cho người Việt”. Lại một lần nữa, tôi cũng phải giải quyết vấn đề (to xác đủ bự), nhưng thật sự trong thời gian toàn buổi ăn trưa đó, ruột tôi cứ phải quặn lên. Rồi vế sau đó, mổi lần tôi mời Kha đi ăn, thì ông ta cũng chỉ rất lịch sự từ chối mà thôi.

Chắc chắn tôi đã không là người Mỹ duy nhất tại Việt Nam, mà đã được các bạn Việt chinh phục, để rồi cũng đi đến tình trạng cảm mến họ luôn; cũng đã có rất nhiều người khác như tôi, mà đã từng sống cận kề, từng chiến đấu bên cạnh các người bạn Việt đó, mà đã học hỏi được từ từ, để rồi cuối cùng đâm ra kính trọng họ luôn. Nhưng chúng tôi chỉ là một thiểu số mà thôi. Đa số những người Mỹ tại Việt Nam thì cũng có thể được phân chia ra làm hai nhóm: các thành viên thuần túy tại các bộ chỉ huy cùng đơn vị tác chiến Mỹ, mà hoàn toàn không bao giờ có tiếp xúc với quân đội VNCH, và các thành viên của những đoàn cố vấn đặc nhiệm, mà cũng đã hoàn toàn không hề có bao giờ tiếp xúc trực tiếp với các cấp bậc đối tác Nam Việt, mà chỉ mãi làm việc qua tháng ngày, chỉ chung với những người Mỹ đồng hương mà thôi. Rồi bởi vì họ cũng không hề quen biết được người Việt nào cả, họ bèm đâm ra đi tin những chuyện tào lao, như là VNCH không hề biết đánh đấm gì đâu. Đúng ra thì các vị chỉ huy cao cấp của chúng ta đã phải có thể điều chỉnh, để đem được lại sự thật, nhưng ngay cái quan niệm của họ thì cũng thật đã là méo mó mất rồi: sĩ quan cao cấp Việt thì cũng rất nhiều người là tham nhũng và bất tài, và tuy họ không hề là đa số, họ chính lại là những kẻ mà cấp lãnh đạo của chúng ta vẫn cứ phải thường xuyên phải tiếp xúc mà thôi.

Suốt mùa Đông năm 1965, cuộc sống của chúng tôi cũng đã thật là gian nan. Trong tư cách cố vấn của một lực lượng đặc nhiệm, tôi đã đụng trận nhiều gấp đôi, khi so với cố vấn cấp tiểu đoàn khác: các tiểu đoàn thì vẫn thay phiên nhau đi hành quân, còn các vị chỉ huy những lực lượng dã chiến thì luôn luôn gần như chỉ ở tại các mặt trận mà thôi. Bọn cộng sản đã tăng gia tấn công quân đội VNCH và các đơn vị Dù vẫn cứ thường xuyên được bóc thả xuống những vùng đang bị cực kỳ sôi động. Trong một lần đụng độ, chúng tôi đã bị tổn thất tới hơn phân nữa. Suốt trong sáu tháng đó, tôi đã tham dự sáu trận lớn, và cuộc sống liên tục trong rừng già, rốt cuộc cũng đã mang lại hệ quả. Tôi đã phải nhập viện hai lần, một lần tại Nhatrang vì bịnh sốt rét, và lần kia thì tại Qui Nhơn, vì bịnh kiết lỵ ‘amoebic dysentery’. Tôi đã thực sự quá ư kiệt quệ rồi.

Vào cuối tháng Giêng, thì chiến cuộc sôi động lên tại đồng bằng Bồng Sơn, một dãy đất thấp ven biển kéo dài độ bốn mươi dặm Anh ở phía Bắc Qui Nhơn, mà VC vẫn từng khống chế từ bao năm nay. Lực lượng Dù VNCH, Sư đoàn 1 Không Kỵ Hoa Kỳ, cùng TQLC Mỹ với TQLC của VNCH đang phối hợp quét sạch vùng này, để tái lập lại quyền kiểm soát. Dưới quyền chỉ huy của Trung Tá Kha, chúng tôi đã đang tham chiến cả tuần nay – cũng bị khá nhiều tổn thất khi tấn công xuyên qua những cánh đồng lúa vào những ngôi làng đang bị chằn chịt với đường hầm và hầm núp của VC. Mọi người đều rất ư là rộn rịp. Rồi thi Kha nhận tin tang thương từ Sài Gòn, cách 180 dặm Anh ở phía Nam, nơi mà gia đình ông ta đang sinh sống. Một phi cơ trực thăng tấn công thuộc phi trường Tân Sơn Nhất đã lầm lỡ bắn một hỏa tiễn bay xuyên thành phố, để ròi bay vô cữa sổ nhà ông Kha và nổ tung giết chết đứa con gái tám tuổi của ông ta. Ông Kha đã từng bao năm chiến đấu thật là can đãm, nhưng khi nghe tin con gái qua đời, thì ông ta đã đổ gục. Ông ta đã về lại Sài Gòn, và rồi tuy vẫn nằm trong quân đội, nhưng ông ta đã không còn đi tác chiến nữa.

Không còn ông Kha nữa thì tinh thần toán lực lượng đặc nhiệm cũng tan nát luôn theo, và khi ngồi trong một ngôi làng nhỏ tang hoang mà chúng tôi vừa đánh chiếm được, tôi cũng cảm thấy không được thoải mái chút nào cả. Tình hình lại càng trở nên bi đát khi các trợ y Dù bổng nhiên rối động lên, miệng thì la hét và tay thì vung cao lên. Tôi bèn chạy tới để coi cái gì vậy. Họ bèn chỉ cho tôi thấy độ nữa tá xác người tiều tụy xác xơ vừa được kéo lên từ dưới hầm của VC và cho biết là họ đều đã chết vì bịnh kiết lỵ. Tức thì tôi chợt trở thành cái thằng bé năm nào ở Tehran, nơi bịnh dịch hạch từng là hung thần, và tóc sau gáy của tôi đều dựng đứng lên thôi.

Cùng buổi chiều hôm đó, tôi nhận lệnh đi trình diện Đại tá Trưởng tại Bồng Sơn, mà Tướng Đống đã khôn ngoan gởi tới để nắm lực lượng đặc nhiệm. Chúng tôi sẽ có trách nhiệm rượt đuổi bộ đội VC đang ráng rút chạy khỏi vùng bờ biển, theo hướng Tây để về Thung Lũng An Lão, nơi lâu nay từng là một hậu cứ của cộng sản. Tin cho biết là địch đang ở tại một cái ấp nào đó và ông Trưởng cho biết là chúng tôi sẽ tấn công vào đó ngày hôm sau, với lực lượng đặc nhiệm được tăng cường với mười thiết vận xa. Rồi thì ông ta lại như thói củ, ngồi  nghiền ngẫm các tấm bản đồ mãi cho tới khuya. Thỉnh thoảng ông ta quay lại và nói vài điều, chẳng hạn như là, “Coi địa thế nè. Nếu mình đi hướng này, có khả năng là địch sẽ nằm ở đây. Anh nghỉ sao?”.

Khi tôi nằm quay ra trong tấm ‘poncho’ có lót bông trải ngay trên nền đất của lều chỉ huy và ngủ thiếp đi thì ông ta vẫn hãy còn điều nghiên bản đồ như vậy. Tối hôm đó, tôi đã có một giấc mơ. Có ai đó, mà cứ rượt tôi chạy xuyên qua mấy phòng để tủ đựng đồ cá nhân tại West Point. Tôi cứ phải chạy dọc xuyên suốt những hành lang, từ hành lang này qua hành lang khác, mãi cho tới khi tôi bị hết đường chạy nữa thôi. Tôi sợ sệt nép mình trên bức tường lát gạch men, và rồi cái người, mà từ nãy giờ vẫn cứ đang đuổi theo tôi, bèn thỏ thẻ, “Tụi tao sẽ đánh mày cho bị thương phế luôn”. Không, “Tụi tao sẽ giết mày thôi”. Tôi bèn choàng  tỉnh dậy, mồ hôi đầm đìa toàn thân. Và tôi bèn nghỉ, “Mơ gì mà khùng quá đi”, và rồi quay ra ngủ tiếp.

Sáng hôm sau, khi các thiết vận xa đến thì ông Trưởng cười nói, “Hôm nay thì cũng dể thôi cho ông. Mình sẽ đặt bộ chỉ huy trên chiếc thiết vận xa này, và ông sẽ khỏi phải đi bộ mà thôi”.  Các thiết vận xa thì cũng đã được điều nghiên để có thể mở ra ở phía trên và binh sĩ ở phía trong cũng có thể nhìn được ra ngoài, nhưng mấy người Việt thì lại nhỏ con và cũng khó có thể thấy được qua mấy khung cữa bên hông xe. Vì vậy, họ đã phải dùng mấy thùng đạn bằng gổ, để dưới sàn mà ngồi lên, để có thể cao đủ nhìn được qua các lổ bên hông xe. Nay thì cái chiều cao của tôi lại là một yếu điểm: khi đứng trên các thùng đạn đó thì tôi lộ nguyên hình, từ cả ngang bụng trở lên.

Ngôi làng đó thoạt trông như một hòn đảo đầy cây cối và bụi rậm, nằm thênh thang giữa các cánh đồng lúa trống. Tin tình báo của chúng tôi quả đúng: bộ đội VC rất đông và các tiểu đoàn của chúng tôi bị địch bắn trả bằng đủ loại súng. Khi chiếc thiết vận xa của chúng tôi tiến lên, thì tôi để ý thấy có một hàng cây dọc bên trái. Tôi bèn nói với một vị sĩ quan, “Tôi mong là đã có ai đó giải quyết dẹp địch tại hàng cây đó xong rồi”. Ông ta cho biết là đã có rồi để làm yên lòng tôi, nhưng khi chúng tôi đi ngang qua thì địch liền bắt đầu tác xạ. Tức thì không gian chung quanh tôi vang đầy những tiếng ‘cờ-rắc, cờ-rắc, cờ-rắc’, và tôi thấy tay trái tôi giật mạnh lên – tôi đã bị trúng đạn. Tôi bèn ngồi thụp xuống và máu ra đầm đìa. Gò má và lông mày cùng lông mi của tôi thì bị ghim đầy những mảnh từ các viên đạn bị vở vụn khi trúng vào tấm bửng sắt, còn mắt trái của tôi thì xưng húp không mở ra được nữa rồi.

Có ai đó đã vừa thanh toán diệt được ổ đại lien địch. Tôi vẫn còn đôi chút trong trạng thái bị xốc khi người trợ y lo băng lại các vết thương cho tôi. Tôi bèn ráng nhướng mắt lên để coi có còn thấy được hay không. “Ồ, còn tốt”, tôi tự nghỉ vậy, tuy là vết thương vẫn còn gây quá đau đớn. Ông Trưởng ngồi xổm bên tôi và nói, “Ông bạn mà muốn, thì tôi sẽ cho xe quay về để di tản ông. Nhưng tôi thì không muốn vậy. Chúng ta đang tới đúng được vị thế cần thiết, và tôi cần ông phụ giúp”.

Tôi nói với ông ta là tôi sẽ ở lại với ông ta. Bọn VC đã chận cứng được binh sĩ chúng tôi ngay trên các cánh đồng lúa và ông Trưởng cần pháo với không trợ, để giúp chúng tôi có thể tiếp tục tiến lên được nữa. Đây là thủ tục thông thường: trước hết sẽ là không trợ – phi cơ sẽ thả ‘napalm’, rồi là bom, và chấm dứt bằng vài lần bay xà xả đạn 20 ly của loại súng Gatling; sau khi phi cơ rời xong khỏi vùng trời, thì đến phiên pháo binh sẽ bắt đầu; cuối cùng thì bộ binh sẽ tiến công lên. Nhưng bất chấp mọi hỏa lực tuy rất đáng kể, thì chúng tôi vẫn không tiến lên được. Đám VC sẽ đã cứ rút xuống mấy đường hầm khi bị pháo, và nhân thời gian lắng động giữa các đợt pháo, chúng sẽ lại lòi lên mặt đất để nhào vô vị trí củ, hầu tiếp tục bắn chúng tôi nữa mà thôi.

Cách tấn công mà tôi phát họa cho ôngTrưởng là nhằm tạo cơ hội không cho VC có thể bắn trả lại chúng tôi. Cũng sẽ bắt đầu bằng một cuộc không tập, nhưng tôi sẽ dặn các phi công, “Cứ cho tôi ‘napalm’ với bom đi, nhưng xin đừng tiếp tục bay thấp để dùng đại liên. Ngay sau khi chấm dứt bom thì phải cho tôi biết liền”. Rồi tôi cho vị sĩ quan đề lô biết, “Tôi muốn pháo xuồng làng đó suốt trong vòng mười lăm phút. Nhưng sau đó thì chưa phải là xong. Tôi muốn là pháo sẽ chuyển ra khoảng đất trống sau làng, để chận đường rút của địch”. Trong khi đó thì tôi cũng đang có phi cơ trực thăng xung kích sẳng sàng sau lung chúng tôi, và tôi nói với họ, “Sau khi pháo dứt, thì tôi muốn mấy anh xung trận liền, bay thẳng qua trên đầu chúng tôi, và tác xạ trực tiếp vô thẳng làng ngay trước mặt chúng tôi”. Rồi tôi quay qua ông Trưởng, “Và lúc đó thì chúng ta phải ra lệnh cho các thiết vận xa tấn công, và tận dụng các đại liên 12 ly 7. Các thiết vận xa sẽ tiến lên dưới sự bảo vệ của trực thăng và chúng ta sẽ chiếm được làng thôi”. Ông Trưởng tán thành.

Và đó chính là điều chúng tôi đã thực hiện. Chúng tôi đã tiến vào làng mà không ngừng tác xạ. Đúng là địch đã tán loạn. Chúng tôi đã loại khỏi vòng chiến rất nhiều VC, và khi các binh sĩ Dù tìm ra được tử thi của một sĩ quan rất cao cấp của địch, thì họ đã cột xác y vô một khúc cây dài và vinh quang mang trình diễn.

Rồi chúng tôi bèn đặt bộ chỉ huy trong một chòi tranh, mà cũng không hiểu nhờ đâu vẫn còn chưa bị tiêu hũy, rồi uống vài viên chống đau và nằm xuống nghỉ chút. Nhưng liền sau đó, ông Trưởng đi vô, miệng cười tủm tỉm, mà đầu thì cứ lắc lắc qua lại. “Thiếu tá có bùa”, ông ta lặp lại lời của các lính Dù đã nói.

“Ông nói cái gì vậy?”, tôi hỏi.

“Ra coi chiếc thiết vận xa thì biết”.

Tôi bèn ra ngoài và thấy một đám trung sĩ đang cùng nhau chỉ chõ cả một dãy vết đạn nằm chỉ dưới độ ba ‘inch’ 3 cách mép trên của tấm bửng sắt. Mấy trung sĩ đang bàn tán, “Coi kìa, VC nhắm ngay ông ta, vậy mà ổng chỉ bị trúng miểng mà thôi”. Tôi thì quả thật không có chút gì thoải mái lắm về vụ này – nếu tay súng đó mà nhích nòng lên chỉ một ly thôi, thì y đã có thể bắn đứt tôi ra làm hai khúc mất rồi thôi.

Thời tiết cũng bắt đầu quá xấu đi, gây khó khăn cho các trực thăng tải thương, và để chờ tới phiên tôi thì tối cũng đã xuống rồi. Tôi phải đứng chờ dưới cơn mưa tầm tã và nhìn sự tan hoang mà chúng tôi đã mang đến. Cây trái thì trồng tréo nằm chàn chịt theo những hình dạng dị kỳ, lữa thì vẫn còn đang cháy ở cuối xa kia, và mổi khi trực thăng tới thì pha đèn chiếu sáng xuyên màn mưa vẫn cứ rực lên với các chổ lữa vẫn còn chưa tắt được. Cái cảnh tượng không thực đó, chợt khiến tôi nhớ lại cái giấc mơ. Tôi tự hỏi rồi sẽ làm gì đây nếu lại mơ như vậy nữa, đậc biệt là nếu cái tên trong dãy hành lang đó mà lại nói, ““Tụi tao sẽ giết mày thôi”.

Tôi cũng đã có tham chiến một trận lớn khác sau trận Bồng Sơn; lúc đó thì tôi cũng đã được gắn cho hai huy chương Silver Stars ~ Sao Bạc và ba huy chương Bronze Stars ~ Sao Đồng, ►4 tưởng thưởng cho bảy lần tham dự những chiến dịch quy mô, cũng như vẫn còn sống được sau lần bị bắn trúng, và hai lần bị lâm trọng bịnh nhiệt đới. Nhưng tới giữa tháng ba, sau khi đã phục vụ tại Việt Nam đã được chin tháng, vị cố vấn niên trưởng mới của chúng tôi là Đại tá Jim Bartholomees đã quyết định là tôi đã tham chiến quá nhiều rồi. Ông ta gọi cho tôi và cho biết, “Ông thì còn lại ba tháng để hoàn tất nhiệm kỳ, nhưng tôi không muốn ông cứ ở tại chiến trường. Tôi muốn ông phải về Sài Gòn thôi”.

Thật sự thì tôi thi cũng đã kiệt lực và đã không hề lên tiếng phản đối. Nguyên mùa xuân đó, tôi phục vụ tại tổng hành dinh của Sư đoàn Dù Việt Nam ở phi trường Tân Sơn Nhất, trong vị thế một cấp dưới, khá xa nếu so với các vị mà có được thẫm quyền để lấy những quyết định quan trọng nhằm tiến hành chiến trận. Tuy nay không còn ở vị trí cấp thấp “worm’s eye view” để nhìn sự việc, tôi thì cũng chỉ nằm ở vị trí côn trùng “bug’s eye view” mà thôi. Nói ngay, trong suốt thời gian phục vụ, thì tôi cũng không được như chim sẽ, chớ đừng nói chi là con chim đại bàng, để có được một chút quyền hành nào đó. Tôi đã quan sát được khá nhiều nơi ôngTrưởng, và cũng đã có góp phần trong tiến trình khuếch trương lữ đoàn được để trở thành một sư đoàn.

Ngay cả Sài Gòn thì nay cũng đã đổi thay. Mùa hè trước, khi tôi tới, thì thành phố vẫn hãy còn là hòn ngọc của Viễn Đông – một nơi yên bình đầy những hàng cây keo ven đường, với những quán cà phê trên lề đường, trong một nhịp sống thoái mái và thanh tao. Các người Mỹ thì hiện diện khắp nơi và họ cũng hòa nhập được, và nhiều người cũng có khá là bạn thân Việt. Ít khi mà tôi đã thấy ai mang quân phục tác chiến đi ngoài đường. Các quân nhân sẽ luôn luôn trong những đồng phục bằng vải ‘kaki’ với tay áo ngắn, hay nếu họ mang quân phục tác chiến, thì những bộ quân phục tác chiến đó của họ cũng luôn luôn thật là sạch sẽ và đã được ủi hồ trước rồi. Thành phố cũng có khu phố đỏ, đường Tự Do, nhưng ngay tại đó thì sinh hoạt cũng khá kín đáo mà thôi, và cũng có đầy những quán rượu, nơi mà bạn có thể hàn huyên với những nữ tiếp viên mà không hề có vấn đề trao đổi sinh lý. Tôi thì cũng thường lang thang vô những nơi đó với các bạn thân. Trong khi chúng tôi uống bia, thì các nữ tiếp viên uống trà, mà rồi sẽ được tính tiền như là rượu ‘whiskey’, và đó cũng là cách mà chúng tôi trả tiền cho thời gian dành ra để được trò chuyện với họ mà thôi. Chúng tôi thì cũng chỉ đùa giỡn với họ, cùng chơi các trò “gin rummy” và “tic-tac-toe”, để rồi cuối cùng cũng chỉ ra về mà thôi.

Nhưng vào mùa xuân năm 1966, không đầy một năm tính từ ngày tôi tới Việt Nam, đại sứ Henry Cabot Lodge đã than phiền với các vị chỉ huy quân sự Mỹ về cái “không khí Dodge City” mà các quân nhân của họ đã gây ra tại đường Tự Do. Lúc bấy giờ thì tôi bèn rảo bộ về đêm ra đó và có thấy những chiếc xe cam-nhông rầm rộ từ đồng quê chạy vô thành phố để đổ xuống những quân nhân trong những bộ đồ tác chiến hôi hám. Rồi rất mau sau đó, thì chính các quân nhân đó, cũng sẽ đi ngã nghiêng trên đường phố, nốc từng hồi các chai bia 33 và La Rue, các loại bia của địa phương, và la hét ồn ào. ĐườngTự Do nay không còn gì là hấp dẫn nữa. Và cái hòn ngọc Viễn Đông thì cũng đã trở thành một ổ điếm mà thôi.

Tôi thì quả thật không muốn dính líu chút xíu gì tới cái khung cảnh đó. Tôi thì vẫn sống gần chung với các vị cố vấn khác của Dù, nhưng nói chung thì tôi thật sự đã hòa nhập vào đúng cuộc sống của người Việt. Tôi đã có một cô bạn gái tên Loan (phát âm là “lo-ahn”), một phụ nữ tuyệt đẹp, gốc từ một gia đình Thiên chúa giáo ở Huế, mà thân phụ là một giảng sư đại học. Địa điểm ưa thích của tôi về đêm đã là Arc-en-ciel, một nơi nữa là một câu lạc bộ bay bướm về đêm, nữa kia là một nhà hàng ăn Tàu. Nó đã từng rất được ưa thích bởi Lực Lượng Viễn Chinh Lê Dương Pháp; nay thì trong khi bên câu lạc bộ đầy là những nhân viên ngoại giao và phóng viên Mỹ, thì bên khu ăn uống lại đầy người Tàu với Việt. Tôi thì lại thường ở bên ăn uống thôi.

Lúc đó, tại Sài Gòn vẫn còn nguy hiểm, dưới phố thì thỉnh thoảng cũng bị đặt bom nổ và ở vùng ngoại ô thì cũng rất ư là bất ổn. Vào Xuân thì các phật tử đã biểu tình phá rối và chúng tôi được lệnh không được ra phố nữa. Nhưng khổ nổi cái nan đề duy nhất lại là ngôi chùa chính lại nằm ở đầu đường, và các người biểu tình thì cũng lại đụng độ với cảnh sát ngay trước cổng vào của chổ chúng tôi đang trú ngụ. Trong suốt cả một tuần lể, thì chúng tôi đã cứ phải hưởi lựu đạn cay thôi.

Tôi đã tận dụng thời kỳ ở hậu phuong để nhảy dù chung với lính Dù Việt mổi khi có được cơ hội. Tới hè thì tôi đã có được bằng “U.S. Master Parachute Wings”;  tôi cũng đã hoàn tất ba lần nhảy tự do để lấy được bằng “Jumpmaster Wings Nam Việt Nam”, cái huy hiệu ít khi được trao cho bất kỳ người Mỹ nào. (Tôi thì không bao giờ lại đi thích cái màn nhảy ra khỏi phi cơ mà không có sợi dây nối để giúp yên tâm hơn, nhưng cái ông Đại Tá Trưởng, thì cũng lại cảm thấy là rất quan trọng, để tôi phải lấy cho được cái bằng Việt Nam đó).

Chưa bao giờ mà tôi lại sung sướng như vậy, và thật sự cũng không muốn về nước. Nhưng khi tôi viết đơn gởi Bộ Lục Quân xin được gia hạn nhiệm kỳ, thì lại bị từ chối, và tôi cũng đã nhận một văn thư ngắn gọn, khá căng thẳng, từ vị trưởng phòng tại West Point, với nội dung như là, “Ông đã có suy nghỉ kỷ trước chưa? Bộ ông đã quên mình từng hứa sẽ trở về lại sau một năm? West Point đã giúp ông hoàn tất khóa học, để rồi ông sẽ có thể phụ trách vai trò giảng dạy tại đây. Trong hai năm tới thì ông chỉ phải làm việc với chúng tôi mà thôi”. Tôi thì cũng phải công nhận là ông ta quả có lý.

Sáng hôm ra đi, khi tôi chào giả biệt Trung sĩ Hùng thì anh ta đã bật khóc. Còn tôi thì chưa bao giờ mà lại có thấy được một quân nhân Việt đổ lệ cả. Tôi bèn tặng anh khẩu súng lục của tôi, một hành vi xem ra thì cũng đã vi phạm tới cả hang trăm chỉ thị Hoa Kỳ, nhằm ngăn cấm tình trạng cư xử quá thân thiện với người Việt, nhưng tôi thì cũng chả cần để ý đến điều này làm chi cả. Khi tôi tới phi trường, thì một phần của sư đoàn Dù đã được gởi đi chiến đấu ở phía Bắc của Huế. Ông Trưởng thì cũng đã ở đó rồi. Khi phi cơ của tôi chuyển bánh trên phi đạo, thì các người Mỹ ngồi quanh tôi bèn vổ tay hoan hô, nhưng tôi thì lại đâm ra mắc nghẹn nơi cổ. Xuyên qua khung cữa sổ phi cơ, tôi thấy được các bạn Dù của tôi đang lên những chiếc C-130. Quả thật là đau đớn khi phải rời bỏ các người mà mình đã từng cùng nhau chiến đấu chống địch. Tôi có cảm tưởng như là tôi đã bỏ họ để trốn chạy đi mà thôi.

*****

Sau nhiệm kỳ đâu trong 1 năm ở Việt Nam làm cố vấn cho Lực Lượng Dù VNCH, thời kỳ đã giúp ông được tham chiến bên cạnh Tướng Trưởng (để khiến ông nhìn Tướng Trưởng như là một thần tượng có 1 không 2 trong đời mình), vào năm 1967, thì Thiếu Tá H. Norman Schwarzkopf đã bị West Point bắt buộc phải trở về giảng huấn tại phân bộ Cơ Giới Học ở đó. Năm 1968 ông được gởi đi tu nghiệp tại “Army’s Command and General Staff College, Fort Leavenworth, Kansas” (Đại Học Chỉ Huy và Tham Mưu Lục Quân Hoa Kỳ).

Trong giai đoạn này, nhân một lần nghỉ phép thăm nhà, ông đã quen với Brenda Holsinger, một nữ tiếp viên hàng không, và năm sau thì họ đã kết hôn với nhau. Họ có được ba con: Cynthia năm 1070, Jessica năm 1972 và Christian năm 1977.

Tới tháng 6 năm 1969, ông được thăng chức Trung Tá và nhận được lệnh đi phục vụ lần thứ nhì ở Việt Nam.

2/

(Trang 166 tới trang 168 của nguyên bản)

Một trong những quyền lợi phụ mà hệ thống các trường của Quân đội cung cấp cho các sĩ quan đã là các cơ hội để có thể xã xú báp – họ đều không bị bắt buộc phải thức dậy liền mổi rạng đông và rồi phải đi chỉ huy lính suốt cho tới tối khuya luôn đâu. Họ vẫn có thời giờ để gặp lại gia đình và nối lại liên lạc với các bạn củ bằng muôn trùng là buổi tiếp tân, khiêu vũ và họp nhau thưởng thức thịt nướng BBQ. Tôi đã gặp lại được hai bạn đồng môn ở West Point là Pete Lash và Bill Cody mà hai người vợ là Ginger với Nancy thì cũng đã chấp nhận vợ tôi vào nhóm bạn của họ để nâng đở mổi khi cần. Thời kỳ tôi tu nghiệp tại Đại Học Chỉ Huy và Tham Mưu Lục Quân Hoa Kỳ thì cũng đã giúp vợ tôi biết rõ hơn về cuộc đời binh nghiệp.

Tôi thì chỉ ráng lo tập trung làm việc. Theo quan điểm của nhiều quân nhân thì Đại Học Chỉ Huy và Tham Mưu Lục Quân Hoa Kỳ chính là đỉnh cao của nền giáo dục quân sự. Eisenhower và Bradley thì cũng đã gần như ca tụng hệ thống này một cách như điên khùng luôn, là nó đã giúp họ hiểu thêm được biết là bao nhiêu điều nữa; niềm hối tiếc to lớn nhất của Đại Tá Trưởng đã là ông đã không có được cơ hội để đi tu nghiệp tại đó. (Nhưng tôi quả thật chưa hề bao giờ mà lại được gặp một người mà ít cần đi thụ huấn tại Fort Leavenworth hơn là ông Trưởng – đúng ra thì chính ổng mới phải là người đứng ra chịu trách nhiệm soạn thảo các bài giảng dạy tại đó mà thôi). Chương trình giảng dạy thì nhằm trang bị cho một sĩ quan sự hiểu biết và các khả năng mà mình sẽ phải cần đến, khi điều nghiên chiến trận và điều động những đơn vị quân sự lớn (sư đoàn và quân đoàn) vào chiến trường, cũng như là các thủ tục quan liêu mà đương sự sẽ phải lươn lẹo qua lại, khi còn ở văn phòng tại Ngũ Giác Đài. Tôi thì lại mê thích nghiên cứu nghệ thuật điều quân, mà cực ghét tình trạng quan liêu tại Ngũ Giác Đài. Tôi không làm sao mà có thể hình dung được là mình sẽ đi làm việc văn phòng tại Ngũ Giác Đài trong nhiều năm sắp tới. Nhưng tôi vẫn cố gắng chuyên cần để có thể vẫn nằm được trong số mười phần trăm khóa sinh đầu lớp.

Tới gần Mùa Giáng Sinh thì tôi bắt đầu thảo luận với Brenda về việc trở lại Việt Nam lần nữa. Hai tôi cùng rất muốn cùng nhau xây dựng một mái ấm gia đình, nhưng tôi biết là cái cuộc chiến sẽ cứ mãi đè nặng tâm tư tôi, mãi cho tới khi tôi phải đã phục vụ xong cho được một nhiệm kỳ nữa tại Việt Nam. Việc tăng cường tham gia của Hoa Kỳ đã lại lên đến một cao điểm khác – và tình trạng thiếu những sĩ quan đủ khả năng đang rất là cực kỷ khẩn trương. Với kinh nghiệm chiến đấu củ và khả năng hiểu biết để làm sao sống còn được trong rừng sâu, tôi cũng tin là sẽ có thêm được một số quân nhân chịu trở lại chiến đấu dưới quyên chỉ huy của tôi, thay vì là với một sĩ quan mới lạ với Việt Nam. Một sĩ quan về nhân sự của Bộ Binh đã cho tôi biết là nếu tôi muốn đi thì tôi phải làm đơn tình nguyện xin đi. Tôi vừa được gắn lon Trung Tá, và theo quy định thì tôi sẽ phải nằm ba năm tại Office of the Chief of Research and Development (Văn Phòng Trưởng Ban Nghiên Cứu và Phát Triển), nơi mà tôi sẽ có cơ hội để triển khai sự hiểu biết cá nhân về kỷ năng hỏa tiễn. Rồi lại cứ vậy, nhiều người cũng đã cho tôi là quá điên khùng khi đi tình nguyện: “Sao lại phải qua lại đó nếu mà không bị phải đi?”.

Tôi nói với Brenda là tôi nghỉ đó chính là bổn phận của tôi, và rồi tôi ráng biện luận là nên chờ đến khi tôi về thì lúc đó, chúng tôi mới sẽ bắt đầu có con. Như vậy thì vợ tôi vẫn tiếp tục đi bay được và cũng sẽ giúp nàng qua được thì giờ trong thời gian thiếu vắng tôi. Và cũng dĩ nhiên, trong tâm tư thì tôi vẫn nghỉ là nếu lở tôi có qua đời, thì cũng dể cho nàng lại tiếp tục được một cuộc sống mới. Brenda quả có thông cảm được là vì sao tôi tự cảm thấy là mình phải đi Việt Nam lần nữa, dù chúng tôi thì cũng chỉ mới lấy nhau ít hơn là một năm, tuy là nàng thì cũng mong muốn mọi sự cũng có thể xảy ra khác hơn như bây giờ. Cái đêm mà chúng tôi lấy được quyết định, cũng đã có thể có rất nhiều điều mà nàng có thể nêu lên, những điều mà tôi biết là các bà vợ khác đã từng nói với chồng của họ khi những người này tình nguyện ra đi tham chiến: “Sao anh nói yêu em mà lại vẫn ra đi?” hay là “Anh muốn thì cứ đi đi, nhưng xin anh đừng mong đợi là em sẽ chờ anh”. Brenda thì đã không hề nói như vậy cả: nàng biết là tôi quả thật quá ư là yêu nàng; nàng biết là tôi sẽ về lại; và tôi cũng biết là nàng sẽ chờ cho tới khi tôi về.

Bởi vậy tôi bèn tình nguyện và nhận được sự vụ lệnh trong tháng 3: đi nắm một tiểu đoàn thuộc Sư Đoàn 9 Bộ Binh đang đóng tại vùng châu thổ sông Cữu Long ở phía Nam của Sài Gòn kể từ tháng 6. Tôi bèn bỏ ra cả mùa hè để nghiên cứu học hỏi về giao chiến trên sông ngòi tại căn cứ Fort Leavenworth – các đơn vị của Sư Đoàn 9 Bộ Binh hiện đang hành quân tấn công dọc các con sông và kinh rạch Nam Việt bằng cách sử dụng các chiến thuyền tuần tra bọc sắt. Sau khi mãn khóa học chuyên ngành đó, tôi xin một tháng nghỉ để giúp Brenda dọn vô một căn trong chung cư thuê gần Hoa-thịnh-đốn, nơi mà chúng tôi dự liệu sẽ sống qua ngày khi tôi lại trở về Mỹ.

Chúng tôi về thăm Timberville vào cuối tuần trước khi tôi rời Mỹ. Sáng thứ bảy, khi tôi xuống dùng điểm tâm thì Jesse ►5 đã chờ tôi, miệng cười thật tươi. “Ê Norm, biết gì không? Con không còn cần phải đi Việt Nam lần nữa rồi. Coi đây”. Tờ báo chạy tựa lớn như sau: “Sư đoàn Hoa Kỳ Quy Cố Hương”. Theo đúng với chính sách Việt Nam hóa, hay là để cho Nam Việt phụ trách tự lo chiến đấu một mình, chính phủ Nixon đã bắt đầu rút binh lính Mỹ. Sư đoàn đầu tiên trở về đã là Sư Đoàn 9 Bộ Binh, đơn vị của tôi.

Jesse đã ngở ngàng khi thấy tôi choáng váng đến nổi phải ngồi xuống ghế. Ông đã không hiểu cách làm việc trong quân đội. Sự kiện Sư Đoàn 9 Bộ Binh đang rời Việt Nam thì cũng không có nghĩa là tôi sẽ khỏi phải đi Việt Nam nữa; nó chỉ có nghĩa là tôi nay không còn chắc chắn là sẽ chỉ huy một tiểu đoàn nữa rồi. Tôi thấy quá ư là rõ cái viễn tượng chuyện gì đang chờ đợi tôi: một trong mấy việc văn phòng tại Sài Gòn mà thôi.

*****

Chú thích của người chuyển ngữ:

Độ 1 thước 7

1

Hannibal Barca (247 trước Công nguyên – 183 trước Công nguyên), được công nhận là một trong những vị tướng và chiến thuật gia tài ba nhất trong quân sử thế giới.

Trong suốt chiến dịch tấn công Ý, Hannibal đã đánh tan tác quân La Mã qua hàng loạt trận chiến, trong đó đặc biệt là các trận tại Trebia, Trasimene và Cannae.

Nhưng rốt cuộc, cuộc phản công vào Tây Ban Nha và sau đó là Châu Phi của quân La Mã, đã buộc Hannibal phải trở về lại Carthage, nơi mà cuối cùng, ông đã bị đánh bại trong trận chiến Zama.

Sau đó, Hannibal đã thành công đắc cử chức ‘sufet’. Nhưng rốt cuộc, Hannibal vẫn đã bị giới quý tộc Carthage ganh ghét và khi bị phản bội, đã tự tử để khỏi bị rơi vào tay đế quốc La Mã.

2

Đây có vẻ như là một chuyện diễu mà các người Việt hay dùng để đùa cợt (trong thương yêu) các bạn Mỹ quá chất phác và vô tư của mình, nhưng vô hình chung lại để một dấu ấn không phai trong tâm tư của họ mà thôi.

3

7 phân 1/2

►4

Huy chương ‘Silver Star ~ Sao Bạc’ của Quân Đội Hoa Kỳ được trao cho các quân nhân để ghi nhận lòng can đảm tại chiến trường của họ.

Huy chương ‘Bronze Star ~ Sao Đồng’ của Quân Đội Hoa Kỳ được trao cho các quân nhân để ghi nhận một chiến công can cường tại chiến trường của họ.

►5

Jesse là cha vợ của Tướng Schwarzkopf và Timberville là nơi cư ngụ của bên vợ ông ta.

*****

Trên đây chỉ là những đoạn Tướng Schwarzkopf nói RIÊNG về Tướng Trưởng, nhưng cũng có rất nhiều đoạn nhận xét về Cuộc Chiến Quốc Cộng trong tác phẫm tiểu sử này, mà tôi hy vọng sẽ có cơ hội để chuyển ngữ trong một ngày gần đây, cũng tại Trang trên Liên Mạng này.

Sự kính phục và mến mộ của Tướng Schwarzkoff đối với Tướng Trưởng lại càng thể hiện rõ ràng, như mổi khi có cơ hội nào đó, thì ông ta cũng cứ nghỉ tới “người hùng” của mình. Chẳng hạn như ông có kể lại, tại trang 494 của sách, khi tiếp xúc với Thiếu Tướng Abdulaziz al-Shaikh, vị phụ tá của Trung Tướng Hoàng tử Khalid Bin Sultan al-Saud, Tư Lệnh Không quân kiêm đối tác chính thức của Saudi Arabia với Tướng Schwarzkoff trong chiến dịch Desert Storm, thì ông chợt nhớ liền Tướng Trưởng, vì cái ông này có tướng tá rất giống ông Trưởng.

Sau chiến thắng vinh quang của cuộc chiến Gulf War năm 1991, thì ông đã về hưu trong tháng 8 cùng năm và về định cư tại Tampa, Florida.

Ông đã rất nổi tiếng, cũng như được giới truyền tin mến mộ, và vào năm 1992, đã xuất bản quyển tiểu sử bản thân (mà mấy đoạn về Tướng Trưởng đã được dịch ở trên) với tác quyền tới 5 triệu Mỹ kim.

Ngoài ra, ông còn được mời thuyết trình và mổi lần, đã được trả tới 6 chục ngàn Mỹ kim.

Năm 1993, ông bị phát giác bịnh ung thư tiền liệt tuyến nhưng rồi đã được chữa lành.

Schwarzkopf đã ra lúc 78 tuổi, vào ngày 27 tháng chạp năm 2012, sau một cơn sưng phổi, 5 năm sau khi Tướng Trưởng cũng đã qua đời, mà không có cơ hội mong ước như từng tỏ ý, là ngồi xuống hàn huyên chuyện xưa củ cùng ”ông thày”!

Xin mời đọc thêm bài của

LAM HÀ, Sĩ quan Tuỳ viên cho Tướng Trưởng

https://bienxua.wordpress.com/2017/03/03/da-nang-nhung-ngay-cuoi-cung/amp/

với lời kết luận đau đớn sau đây:

“Tiến Sĩ Lê Mạnh Hùng và Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng đã làm buồn lòng những người đã ra đi và những kẻ còn ở lại. Chúng tôi đã từ bỏ tất cả kể cả gia đình thân yêu để làm hết sức mình cho tổ quốc, cho quân đội và cho lý tưởng”.

ĐẠI TỘI của Tổng Thống Thiệu là đã tự một mình chơi phé với cả Định mệnh của cả Dân tộc Việt, thay vì phải khôn ngoan TÁI  thi hành một gương lịch sử củ là Hội Nghị Diên Hồng trong lúc nguy cư quốc biến!

Tự kiêu ngông cuồng, ra lệnh thuộc cấp rồi cũng ký lệnh giam họ chỉ vì họ thi hành lệnh của mình, để rồi chết lạnh trên đất người, chớ đâu về được CHUNG với đồng đội tại đất mẹ Đèo Hải Vân như Tướng Trưởng.

*****

Vài bài về Tướng Trưởng:

1/

‘The Most Brilliant Commander’: Ngo Quang Truong

http://www.historynet.com/the-most-brilliant-commander-ngo-quang-truong.htm

BY JAMES H. WILLBANKS

10/15/2007 • VIETNAM

Bài viết nhân khi Tướng Trưởng qua đời vào ngày 22 tháng Giêng năm 2007 tại Fairfax, Virginia và liền sau đó, Lưỡng Viện Quốc Hội Virginia đã đồng biểu quyết Nghị quyết chung “Tưởng Niệm Cuộc Đời Ngô Quang Trưởng ~ Celebrating the Life of Ngo Quang Truong”.

2/

General Ngo Quang Truong: Republic of Vietnam’s Finest Commander

http://www.historynet.com/general-ngo-quang-truong-republic-vietnams-finest-commander.htm

BY JAMES H. WILLBANKS

2/10/2017 • HISTORYNET

Bài viết mới nhất về Tướng Trưởng, một tiểu sử ngắn gọn về Tướng Trưởng.

 

Chỉ Huy Chiến Trường

TƯỚNG NGÔ QUANG TRƯỞNG

Vị chỉ huy giỏi nhất của Việt Nam Cộng Hòa

Đã luôn luôn là một quân nhân hoàn thành nhiệm vụ được giao phó

Viết bởi JAMES H. WILLBANKS

(James H. Willbanks là vị Tướng Trưởng Trung Tâm Quân Sử Lục Quân George C. Marshall và là giám đốc phòng quân sử tại

 Ðại Học Chỉ Huy và Tham Mưu Lục Quân Hoa Kỳ, ở Fort Leavenworth, Kansas)

 

 

 *****

 

 

 

 

Advertisements
%d bloggers like this: