Roger Canfield’s Americong #24

Comrades in Arms

How the Americong Won the War in Vietnam

Against the Common Enemy— America

Copyright Roger Canfield, Ph.D.

1986-2012

No commercial transaction allowed except that approved by the author, copyright holder.

Obtain a prepublication release of a CD-R in Microsoft Word in ENGLISH at a discounted price of $15 from Roger Canfield Rogercan@pacbell.net at 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 or at http://americong.com.

Completely SEARCHABLE for any name, date, place or event of the War and its protesters.   

Cover: Design Stephen Sherman. Photos: Roger Canfield, March 2008. TOP: War protest Hawaii, February 1966 displayed at War Remnants (Crimes) Museum, Saigon. Bottom: Praetorian Guard

Các đồng chí cùng chiến tuyến

Làm thế nào MỹCộng thắng cuộc chiến Việt Nam

Chống kẻ Thù Chung – Mỹ

Giữ bản quyền Roger Canfield, Tiến Sĩ

1986-2012

Không được sử dụng vào mục đích thương mại nếu không có sự đồng ý của Tác giả, người giữ bản quyền.

Có thể mua một tiền bản dưới dạng CD-R Microsoft Word bằng Anh ngữ với giá đặc biệt US$15 ngay từ tác giả Roger Canfield  Rogercan@pacbell.net tại 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 hay tại  http://americong.com.

 Hoàn toàn có thể TRA CỨU hoặc bằng tên, bằng ngày tháng hay biến cố liên quan đến cuộc Chiến cùng cả luôn bọn tham dự biểu tình .

******************************************************

* Tác giả giữ bản quyền © Roger Canfield 1986-2012

  • Lê Bá Hùng chuyển ngữ  (với sự chấp thuận của Tác giả)

 ***************

Chương 24

 “Đồng Chí Cùng Chiến Tuyến” Stokely Carmichael thuộc WSP của Hà-nội 

 Vào ngày 31 tháng 8 năm 1967, VNA International News Service báo cáo là Stokely Carmichael , người Mỹ chủ trương quyền lực đen đã “… đi Cuba và Việt Nam để lên án Mỹ xâm lược … và kêu gọi một cuộc cách mạng toàn vẹn nhằm chống lại chủ nghĩa đế quốc, tư bản và kỳ thị chủng tộc … Hoa Kỳ.”

Trong chuyến viếng thăm, Carmichael đã gặp Thủ tướng Phạm Văn Đồng, ủy viên trung ương Đảng Xuân Thủy và chủ tịch của Ủy ban Á Phi Đoàn kết Việt Nam là Tôn Quang Phiệt. Ngoài ra cũng có gặp Ngang Bag (?) trong Ủy ban, Trường Chinh,  lý thuyết gia của Đảng và Hoàng Bắc của Liên minh Sinh Viên  Bắc Việt.

Đồng Chí Cùng Chiến Tuyến Cùng Chống Kẻ Thù Chung

Vào ngày 29, Carmichael đã tuyên bố đoàn kết với những người Cộng sản Việt Nam, “Cuộc đấu tranh của chúng ta là một cuộc đấu tranh chung …. [Chúng ta]  là đồng chí … chúng ta muốn ngăn chặn giới lãnh đạo Mỹ lại, những tên phá hoại kinh khũng nhất của nhân loại. ”  1808   Một tờ truyền đơn của Hà Nội cũng đã sử dụng cùng một ngôn ngữ, “Hãy đoàn kết với các người anh em Việt Nam của bạn để cùng chống lại kẻ thù chung của chúng ta: bè lũ cầm quyền tại Hoa Kỳ …. ”  1809

Ngày 31 tháng 8, Phạm Văn Đồng đã đồng ý là , “Nhân dân Việt Nam … coi người da đen ở Hoa Kỳ như … là những đồng chí sát cánh trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung là chủ nghĩa đế quốc Mỹ … và hân hoan khi thấy được là những yểm trợ quý giá này vẫn cứ phát triển  … trong số binh sĩ da den …” 1810 Bernard-Joseph Cabanes đã nhận xét  là ,” Bắc Việt đã xem cuộc đấu tranh của người da đen … như một yếu tố quan trọng của ngay cuộc chiến của chúng . . .  Việc người da đen phản đối cuộc chiến tranh … và việc người da đen nổi loạn làm tăng thêm căng thẳng trong quốc nội Hoa Kỳ.”  1811 Sau đó thì Carmichael sẽ đã nói với một ủy ban Thượng viện Hoa Kỳ,” Chúng tôi đang chiến đấu chống lại chủ nghĩa tư bản quốc tế. ”  1812

Suốt trong năm 1967, những thông điệp ủa Carmichael  – rất phù hợp và có khả năng là đã được thu xếp cho phù  hợp với Hà Nội – đã được phát thanh năm lần trên Đài Hà Nội (ngày 15, 18, ​​20  tháng 9  và ngày 29 tháng 10 rồi 5 tháng 11 năm 1967) . 1813

Vấn đề Chủng tộc với Chiến tranh đã được kết nối lại với nhau

Trong một thông điệp, Carmichael đã tuyên bố:

Liệu người quân nhân da đen đã có cái quyền để bác bỏ cuộc chiến tranh này hay không? …

Chúng ta đang sống trong một đất nước gì đây? Bạn không có quyền bỏ phiếu. Mà khi bạn không có thể bỏ phiếu thì rốt cuộc bạn đang chiến đấu cho cái gì? …

Bây giờ, nếu đang có (một người da đen) cùng chiến đấu bên cạnh một người da trắng? … Khi về nhà thì họ sẽ làm gì?

Một người da đen có thể [sống]  xóm láng giềng với một người da trắng hay không? Trời đất, dĩ nhiên là không  ….

Kẻ thù của chúng ta không phải là người Việt Nam. Họ đã không hề làm gì đối với  chúng ta. …

Đã không hề có một người Việt nào mà đã từng treo cổ xử tử người dân giống nòi của tôi. … Một người da đen thì đến làm cái quái gi ở Việt Nam?  1814

Carmichael đã có một thông điệp mạnh mẽ cho những người lính Mỹ da đen mà đã chưa hưởng được lợi lộc gì trong việc ban hành gần đây của Đạo luật Quyền Dân sự năm 1964 (Civil Right Act of 1964) và Quyền Cử Tri năm 1965 (Voting Rights Act of 1965). Trong khi Carmichael phỉ báng LBJ và đảng Cộng hòa mà đã từng  bỏ phiếu cho công bằng xã hội chống lại bọn phân biệt chủng tộc da trắng thuộc đảng Dân chủ ở miền Nam thì quả thật, y đã diễn tả được một cách chính xác nỗi thống khổ của người Mỹ da đen mà đã không có được công lý kể từ thời nội chiến.

Tòa Bạch Ốc bị tràn ngập thơ từ lên án Carmichael tội phản quốc và vài thơ thì về nguồn gốc chủng tộc của y. 1815

Trong khi đó thì tù binh Fred V. Cherry đã buộc phải lắng nghe một băng thu lời của Stokely Carmichael. Bọn Việt cộng đã muốn Cherry, tù binh đen với  cấp bực cao nhất,  lên án chiến tranh.  Chúng muốn “phát thanh băng này cho những người lính da đen trẻ tuổi trên chiến trường để khiến họ giã từ vũ khí.” Cherry đã bị tra tấn trong 93 ngày nhưng đã không bao giờ bị khuất phục. 1816

Trong khi đó thì sự kiện rất là mỉa mai mà cả Carmichael và các tên phản chiến khác đã không thấy chính là việc Cherry và nhiều tù binh da đen khác đã khám phá ra được là tính cách phân biệt chủng tộc của Việt cộng cùng nạn thiếu thốn trong những trại tù còn tồi tệ hơn là khi so với cuộc sống hàng ngày của người da đen ở Mỹ, 1817 ngay cả trong một thời kỳ hỗn loạn chủng tộc cực kỳ tại Mỹ.

CIA, luôn luôn bị đui mù không thấy được ảnh hưởng ngoại quốc vào các chính sách của Mỹ do vì luôn luôn tự ngăn cấm không dính líu tới mọi biến chuyển quốc nội, sau này sẽ có những bài nghiên cứu thuộc loại của các đại học nổi tiếng Ivy League về vấn đề “Phong trào cấp tiến người da đen tại vùng biển Caribbean” mà đã thấy “không có bằng chứng về sự liên kết đáng kể giữa bọn  da đen hoạt động tích cực ở Mỹ và ở vùng biển Caribbean.” 1818  Carmichael, gốc từ vùng biển Caribbean, đã dành hầu hết thời giờ đi lang thang khắp châu Á và châu Phi – ” những mối liên lạc quan trọng ” mà các báo cáo của CIA rõ ràng đã không hề nói tới.

Trong khi đó thì dù không có trách nhiệm trực tiếp phải thu thập thông tin tình báo quốc tế thì FBI lại đã rất quan tâm. Ngày 16 và 28 tháng 5 năm 1968, FBI đã đột nhập vào 100 Fifth Avenue, tổng hành dinh của Student Nonviolent Coordinating Committee ~ SNCC (Ủy ban Phối hợp Sinh viện Bất bạo động) do Carmichael lãnh đạo và chụp ảnh các tài liệu có phần liên quan đến  “các  đại diện SNCC đang hoạt động ở ngoại quốc”  và  “các sinh hoạt của các đơn vị quốc tế của SNCC “.  1819

Hà Nội thì đã rất tự tin về các hoạt động đối ngoại của chúng mà có liên quan đến Stokely Carmichael, Women Strike for Peace và những bọn khác.

Schoenbrun của CBS tại Hà-nội

Trong tháng 8, David Schoenbrun, trưởng phòng của CBS ở Paris cùng vợ đã  đến Hà Nội tham dự màn trình diễn các tù binh tại trại Plantation để phỏng vấn tù binh David Hughes. Schoenbrun từng mời Hồ Chí Minh ăn tối vào năm 1946 tại Paris. Y đã viết một bức thư cho Hồ Chí Minh yêu cầu được gặp Hughes, người mà vào ngày 6 tháng 5 đã bị đem ra diễn hành cùng với tù binh Gordon Larson và James Shively trong các đường phố của Hà Nội và trước báo chí. Việc đem các các phi công gần đây bị bắt và bị thương ra diễn hành đã không xẩy ra như đúng như ý  muốn của Bắc Việt.

Tình bạn cũ với Hồ và các quan hệ công khai đã âm mưu giúp cho Schoenbrun, trưởng phòng của CBS ở Paris, để thay mặt cho vợ của Hughes đi Hà Nội . Hughes đã viết một lá thư và soạn một cuốn băng cho vợ mình mà trong đó Hughes “lắp bắp” xin lỗi đã gây thiệt hại cho nhân dân Việt Nam và yêu cầu vợ của mình giúp kết thúc cuộc chiến tranh. Cặp Schoenbruns đã gặp gở tù binh Shively, Torkelson, Abbot và rồi Hegdahl – tất cả đều được lựa để sẽ được phóng  thích. 1820

Vào đầu tháng 9, nhân viên ngoại giao Bắc Việt ở Paris là Lê Đình Nhân đã nói với bọn Cộng sản Pháp là dư luận ở cả Pháp và Mỹ  “ngày càng thuận lợi” cho lập trường của Bắc Việt. Y dự kiến là công luận sẽ khiến Mỹ “ngừng ném bom miền Bắc Việt Nam.”  1821

Trong tháng Giêng, tay tình nguyện viên của WSP là Duckles Madeline mà “vừa trở về từ châu Âu”  sẽ báo cáo về  “việc các nhóm hòa bình ở châu Âu đang làm gì,” cho ủy ban hòa bình của y thị là First Unitarian Church, Berkeley. 1822  WSP thì luôn luôn họp hành với Việt cộng.

WSP tại Bắc Việt từ 2 đến 18 tháng 9 năm 1967

Sau các chặng dừng chân tại Paris với Pnom Penh và cuộc họp với Wilfred Burchett  thì Dagmar Wilson, Ruth Krause cùng Mary Clarke đã đi vòng trong  hai tuần (ngày 2 đến 18 tháng 9) để thăm Bắc Việt dưới danh nghĩa của Women  Strike for Peace.

WSP đã cung cấp cho cho Việt cộng những cán bộ đầy tin cậy, ít ra là cũng từ cuộc họp vào tháng 6 năm 1962 của chúng và kể từ khi đã cùng ở chung trong một căn hầm núp bom với Harrison Salisbury tại Metropole.

Khi đi vòng vòng để thăm các tỉnh trong tháng 9 năm đó, các vị nữ lưu WSP đã chứng kiến “cảnh tan hoang ở khắp mọi nơi”, mà họ nói là đều gồm đê điều và giáo đường từng bị cố tình dội bom. 1823 Ấy vậy, tinh thần Việt cộng vẫn rất cao. Trong khi quan sát các đổ nát vì bom của Nhà Thờ Thiên chúa giáo  Sacre Coeur ở Nam Định , Mary Clarke đã có nhìn thấy các bản sao thư đề ngày 17 tháng 5 trong tờ New York Times của đám bồ câu chủ hòa Thượng viện mà rất là kỳ lạ, chính quyền Johnson đã thả xuống!

Lúc gặp bộ trưởng ngoại giao Việt cộng là Nguyễn Duy Trinh, Mary Clarke đã nói với y là không nên tin vào phong trào hòa bình Mỹ để có thể chấm dứt chiến tranh. Trinh cho biết y đã rất “hồ hởi” về sự giúp đở nhưng y vẫn biết là Việt Nam phải tự lực cánh sinh.

Chúng cũng đã gặp Phạm Văn Đồng trong vài giờ và y đã cho chúng biết những điều kiện để có hòa bình – ngưng ném bom vô điều kiện rồi rút quân và công nhận Mặt Trận Giải Phóng Quốc Gia . 1824 ViệcMỹ đầu hàng một cách nhục nhã thì cũng tốt thôi.  Sáng lập viên Donna Allen của WSP sau này sẽ nói về chuyến đi như vầy, “Khi bạn về lại thì bạn đã quyết chí.”  1825  Một sáng lập viên khác của WSP là Dagmar Wilson thì đã nói, “Chúng tôi biết Việt Nam sẽ chiến thắng.” 1826  Vì biết là cộng sản sẽ chiến thắng, y thị và WSP đã giúp chúng với tất cả nhiệt tình.

Cuộc Tuyệt Thực của Tù Binh Hegdahl làm WSP Ngở Ngàng

Có điều là không còn gì mà có thể sẽ làm thay đổi đầu óc của đám phụ nữ WSP, càng chắc chắn không phải là một cuộc gặp gở tại Phòng Trình diển của Đồn Điền (Show Room of the Plantation)  với một thiên tài và cũng là thủy thủ Mỹ mà đã thuyết phục được Việt cộng mình là “Seaman Apprentice Douglas Brent Hegdahl III … Commanding Officer, USS Canberra (Thủy thủ thực tập Apprentice Douglas Brent Hegdahl III . . . Chiến Hạm Trưởng tàu USS Canberra) .” Một Thủy thủ thực tập thì không chỉ huy được ai cả, chắc chắn là nhiều lắm thì cũng chỉ huy một chiếc chuyền chèo là cùng mà thôi.

Ngày 11 tháng 9, tù binh Doug Hegdahl bị đưa ra để gặp Dagmar Wilson, Ruth Krause và Mary Clarke.

Trong cố gắng diển tả một cách hiện thực tình trạng đói khát của tù binh, thủy thủ Doug Hegdahl, kẻ từng bị mất 75 cân Anh trong khi bị giam cầm, đã lợi dụng cơ hội này để biểu diễn cảnh tượng anh ta rút ra, rồi đút vô cả các ngón tay đang cầm đồ ăn, vào cái miệng cũng đang cười tươi rói của mình. Không thể nào mà cái đám thành viên WSP lúc đó đang trố mắt nhìn đã không hiểu được cách nhắn tin về  thực tế đang xẩy ra của Hegdahl.

Bọn Zombies WSP hay bọn án bộ Đảng WSP?

Hegdahl đã không thể chinh phục được cái đám mệnh phụ WSP khi anh ta đột ngột hỏi, “Quý vị có là bọn Cộng sản không?”  Một mụ WSP đã giật bắn người và hỏi lại, “Cộng Sản thì có gì sai?” 1827  Sau đó khi bị phỏng vấn thì  Mary Clarke đã cho Hegdahl  chỉ  là một kịch sĩ và nghĩ rằng các tù binh “đã nghĩ là chúng tôi chống lại họ.” … Nhưng mà  “Chúng tôi đâu có muốn làm họ phải xấu hổ …”

Clarke nhớ có gặp tù binh Everett Alvarez  và sau đó đã liên hệ với Delia, người  em gái 1828  mà cũng sẽ tham gia phong trào phản chiến. Sybil Stockdale, vợ của tù binh Jim Stockdale, sau này nói rằng bọn phụ nữ Women Strike for Peace  đã cố tạo ra các ‘zombies’ thực sự của chiến tranh Việt Nam.  “… WSP đã trở về nhà và bi bô tuyên truyền đúng y đường lối của Bắc Việt về tình trạng các tù binh đã được đối xử ra sao y như những người máy đã được lên dây thiều”. 1829

Hình được đạo diển của bọn WSP

Trong thực tế, bọn cán bộ từng được đào tạo kỷ càng của WSP đã biết chính xác những gì chúng đang làm. Chúng đã tưởng niệm cuộc họp của chúng với Hegdahl bằng một bức hình được đạo diển để công bố trong bản tin của WSP, tờ Memo, nhằm cho thấy người tù binh thủy thủ ngồi thân mật đối diện bên kia bàn với các mụ đàn bà dể thương của WSP. Thật vậy, tại Phòng Show Room of the Plantation thì Hegdahl đã phải đối mặt với đám thẩm vấn viên Việt Nam bên kia bàn hơn là với bọn đàn bà của WSP. 1830  Sau khi chứng kiến màn biểu diển đói khát của tù binh Doug Hegdahl, đám WSP Stalin đã vẫn báo cáo là các tù binh đã được ăn uống đầy đủ. 1831

Cho đến ngày nay, đội ngũ Ghét Mỹ của phong trào hòa bình tin là, y như WSP trước đó, chính chủ trương của Mỹ đã đẩy bọn cuồng tín Hồi giáo đến việc chặt đầu và đánh bom, và Hoa Kỳ là nhà nước với chính sách khủng bố lớn nhất trên thế giới và rằng Hồi giáo chỉ là hoàn toàn một tôn giáo vì hòa bình.

Tù binh Carrigan phủ nhận thường dân đã là mục tiêu

Tại Phòng Show Room of the Plantation, chúng cũng đã gặp tù binh vừa mới bị bắt và vẫn còn khỏe mạnh là Larry Carrigan, kẻ rất là cứng đầu tuyệt đối không hợp tác. “Bọn Việt cộng đã muốn tôi … nói … có những mục tiêu dân sự bị đánh bom … trong khi … không hề có mục tiêu dân sự nào cả …”  Carrigan khẳng định là tất cả các mục tiêu “đều đã là những tiêu quân sự thiết yếu, tất cả mỗi một cái.”  Vị Chỉ huy Không quân của anh ta đã dặn là bệnh viện, chẳng hạn như Bạch Mai nằm ở phía Nam của một mục tiêu quân sự [dàn phòng không] thì phải tránh đi. Các bộ phim trực tiếp thu trong khi không tạc đã cho thấy không có thiệt hại gì đối với bệnh viện. (Sau đó thì nó có bị vô tình trúng bom.) Đại úy Carrigan đã nhấn mạnh rằng Mỹ không hề thả bom xuống các bệnh viện và ông đã từ chối thú nhận mình từng vi phạm tội ác chiến tranh.

Hình: Phân tích thiệt hại tại phi trường Bạch Mai, Không lực Mỹ,  17 tháng 11 năm 1967

Biện luận của Carrigan đã dường như thực sự gây ngạc nhiên cho đám phụ nữ WSP. Việt cộng bèn hủy cuộc phỏng vấn.

Vài ngày sau đó, một thẩm vấn viên đã hỏi  Carrigan việc nói  “một cá nhân ương ngạnh ” có nghĩa là gì và  “trong nhiều lần y đã nói với tôi là một trong những phụ nữ … đã nói với người Việt Nam … rằng tôi là một cá nhân bướng bỉnh.”  Đoàn đại biểu WSP đã nói với Bắc Việt là “người thanh niên này cần phải được khai thông tư tưởng. ”  1832

Carrigan đã bị chuyển đến một trại khác, nơi anh ta đã bị đấm thoi và đánh bằng gậy và đã bị trật khớp xương vai khi bị treo lên trần nhà bằng dây thừng. 1833  Sau đó thì Dagmar Wilson đã sẽ báo cáo là có thực sự gặp một phi công “ăn năn” và “tiếc là đã không hề biết nội vụ.”

Thật sự thì Dagmar Wilson cũng đã chả có tôn trọng họ chút nào: y thị tuyên bố đã được chào đón và được tặng hoa và một chiếc mũ sắt để rồi đã phải “núp tránh trong 20 phút  một  trái bom” mà đã phá hủy một ngôi nhà thờ. Điều này chắc chắn là không thể có được vì lúc đó, Hà Nội đang ở trong một giai đoạn không bị không tạc trong vòng 60 ngày (24 tháng 8 đến 23 tháng 10 năm 1967). 1834  Khi một phóng viên hỏi liệu có chăng bất cứ lý do khả chấp cho Hoa Kỳ hiện diện tại Việt Nam thì Dagmar đã tức thời lặp lại đường lối đảng chống chiến tranh Việt Nam của phong trào. Chiến tranh thì đã “được thúc đẩy bởi chủ nghĩa tư bản tham lam mà đang hủy diệt các lý tưởng của chúng tôi. ” 1835

Trong khi đó thì Dagmar và đồng bọn đã trở về để phản đối chính sách nhập ngũ tại Washington. ” 1836 Cái tênbướng bỉnh” Larry Carrigan, đã thấy được  trước cả CIA và đã phê bình, “Bọn này … đã viện trợ và nâng đở Việt cộng … chỉ để kéo dài cuộc chiến mà thôi . . .  Chúng biết chúng không thể đánh bại chúng ta trên chiến trường. Nhưng chúng hy vọng sẽ đánh bại chúng ta tại Washington.” 1837

Khác với cái tên “bướng bỉnh” Carrigan, tên chụp giựt đồ ăn đồ uống Hegdahl sẽ có thêm một màn biểu diển khác. Khi trở lại “Hanoi Hilton”, sau cuộc họp làm hề với đoàn WSP, Doug Hegdahl đã gặp David Dellinger của National Mobe và Ned Egleson của SDS vào ngày 3 tháng 10, ngay trước khi đám tùy tùng do đích thân Hayden lựa chọn sẽ đến từ Bratislava. 1838

Bọn Việt cộng đã nghỉ là Hegdahl khùng

Bọn Việt cộng đã nghỉ là Hegdahl khùng.

Hegdahl đã khổ công tự tạo hình ảnh này bằng cách nói mình chỉ là một nông dân thất học từ một gia đình làm ruộng nghèo nàn mà tới một con trâu cũng  không có được. Đưọc coi như là thằng ngốc trong làng, Hegdahl được cho phép  tự do ở ngoài sân tù thay vì bị giam trong phòng nên đã có thể chuyển tin cho bạn tù với nhau, cũng như ghi nhớ được tên của tới  256 tù binh và thành công trong việc đọc ngược lại toàn bộ bài diển văn tại Gettysburg của Lincoln, rồi phá hoại được năm chiếc xe chữa lữa bằng cách bỏ cát vô thùng xăng.

Khi bị ép phải thú nhận tội ác chiến tranh của mình, Hegdahl đã thú nhận là đã từng hải pháo sinh quán của Hồ Chí Minh, chổ mà trước đó Hồ đã từng tàn sát  dân chúng nào dám đứng lên khiếu nại về thuế. Hegdahl đã ký bản xưng tội của mình là “Seaman Apprentice Douglas Brent Hegdahl III, United States Navy Reserve, Commanding Officer, USS Canberra (Thủy thủ Thực Tập Douglas Brent Hegdahl III, Hải quân Trừ Bị Hoa Kỳ, Hạm Trưởng, USS Canberra).” Đó chỉ hoàn toàn là  một lời nói láo, chỉ trừ tên của anh ta có thể là đúng. Hegdahl đã là tù binh được chọn lựa để sẽ cho về nhà sớm theo quyết định của tay lừng danh mà đã từng biểu diển trò quỳ lạy là Dick Stratton, ngỏ hầu để cung cấp tên 256  tù binh Hoa Kỳ mà anh đã thuộc nằm lòng.

Hà Nội đã phát triển một kiểu đánh giá số tù binh Mỹ từng chịu cộng tác với chúng  theo tiêu chuẩn tinh thần đoàn kết và quyết chí cho chiến thắng cộng sản ở Việt Nam.

*****

1808  Bernard-Joseph Cabanes, “Paris AFP in English.” 31 tháng 8 năm 1967.

1809   SGM Herbert A. Friedman, “Race as a Military Propaganda Theme,”  trang 2 tại psywar.org/race.php.

1810   VN Thông Tấn Xã Hà-nội, Dịch vụ Quốc tế bằng Anh ngữ (Vietnam News AgencyVNA International Service in English) 1633 GMT, 31 tháng 8 năm 1967 B; Thượng viện, A Staff Study for Subcommittee on the Judiciary. The Anti-Vietnam Agitation and the Tech-in Movement: the Problem of Communist Infiltration and Exploitation, Nhiệm kỳ 91, khóa 1, 1971, trang 7618 và Hanoi, VNA International News Service, 1633 GMT, 31 tháng 8 năm 1971, văn khố TTU nêu trong sách của Rothrock, trang 167 ghi chú 23, trang 168 ghi chú 24.

1811   Bernard-Joseph Cabanes, “Paris AFP in English.” 31 tháng 8 năm 1967.

1812   Khai trình của Stokley Carmichael, Quốc hội, Ủy ban Thượng viện Senate Committee on the Judiciary, Tiểu ban Subcommittee to Investigate the Administration of the Internal Security Act and other internal Security Laws, D.C.: GPO, 1970 tại www.aavw.org/protest/carmichael_carmichael_abstract03_excerpts.html

1813  Hạ viện, Điều trần…Đi Ngoại Quốc, “Log of Statements Attributed to U.S. Citizens which were Broadcast by Hanoi Radio, 1965-1971.” Trang 7684-5.

1814   Hanoi VNA International Service in English 1305 GMT, 29 tháng 10 năm 1967.

1815   WHCF, không ghi ngày tháng hay tựa đề hồ sơ, SC (Stokely Carmichael) nêu ra trong sách của Hershberger, trang 147.

1816   Navy Times, tại  http://www.navytimes.com/story.php?f=1-292308-1563108.php

1817   Sách của Howes, Voices of the Vietnam POWS, trang 131-132.

1818   CIA, FOIA, Family Jewels trang 330 kể ra các phúc trình về những chuyến đi của Carmichael trong năm 1968 khi y biến dạng khỏi các nơi công cộng; CIA, FOIA, “Black Radicalism in the Caribbean” (6 tháng 8 năm 1969). Số 1839/69, Mật/Không Phổ Biến cho Ngoại quốc (bản sao 142) và “Black Radicalism in the Caribbean-Another Look” (12 tháng 6 năm 1970), số 0517/70, Mật/Không Phổ Biến cho Ngoại quốc (bản sao 98) [liên hệ giữa giới cấp tiến da đen tại Caribbean với phong trào quyền lực da đen tại Mỹ] , cà hai đều được nêu ra trong phúc trình gởi Tổng Thanh Tra Inspector General, 22 tháng 5 năm 1973, trong Family Jewels trang 171, 330, 335, 446.

1819   FBI, FOIA, ADIC, New York gởi Giám đốc NITEL, Những Đề mục Giấu Giếm (Surreptitious Entries), 5 tháng 4 năm 1976.

1820   Stuart I. Rochester và Frederick Kiley, Honor Bound, American Prisoners of War in Southeast Asia 1961-1973, Annapolis: Naval Institute Press, 1999, trang 345, 351, 353-4.

1821   CIA, FOIA, Hồ sơ số EO-2000-00365. “North Vietnamese Official’s Comments on Peace Negotiations” 15 tháng 9 năm 1967, trang 4. 

1822   “M. Savio To Address Sunday Meet,” Berkeley Gazette, 14 tháng giêng năm 1967.

1823   James W. Clinton phỏng vấn Mary Clarke, 16 tháng 11 năm 1990  trong sách của  James W. Clinton, The Loyal Opposition: Americans in North Vietnam, 1965-1972, Niwot: University Press of Colorado, 1995, trang 2-4.

1824   Hershberger  phỏng vấn Clark, 3 tháng 3 năm 1995 nêu trong sách của Hershberger, trang 95-97.

1825   Wells phỏng vấn Allen, Wells, The War Within, trang 162

1826   Wells phỏng vấn Wilson, Wells, The War Within, trang 163.

 1827  Hubbell, trang  335.

1828   James W. Clinton  phỏng vấn Mary Clarke,  16 tháng 11 năm 1990  trong sách của James W. Clinton, The Loyal Opposition: Americans in North Vietnam, 1965-1972, Niwot: University Press of Colorado, 1995, trang  4.

 1829   James và Sybil Stockdale, In Love and War: The Story of a Family’s Ordeal and Sacrifice during the Vietnam Years,” Maryland: Naval Institute Press, 1990, trang 204.

1830   Lời chứng của Louis Stockstill  trong Readers Digest, American Prisoners of War in Southeast Asia, 1971, HEARINGS BEFORE THE SUBCOMMITTEE ON NATIONAL SECURITY POLICY AND SCIENTIFIC DEVELOPMENTS OF THE COMMITTEE ON FOREIGN AFFAIRS, Hạ viện, Nhiệm kỳ 92, Khóa 1, 23, 24, 25, 30, 31 tháng 3 và 1, 6, 20 {vvaw} tháng 4 năm1971, trang 395.   http://homepage.ntlworld.com/jksonc/docs/vietnam-hcfrpows-19710420.html

1831  Xem:  Blakeley, trang 196; Hubbell, trang 335; Phúc trình W.S.P. (Tháng 10 năm 1967).

1832   Hubbell, POW, trang  338-339; George Wills, L.A. Times (20 tháng 4 năm  1979).

1833  Stuart I. Rochester và Frederick Kiley, Honor Bound, American Prisoners of War in Southeast Asia 1961-1973, Annapolis: Naval Institute Press, 1999,trang354;Hạ viện, Phúc trình về Hearings on Restraints on Travel to Hostile Areas… committee on internal Security, Nhiệm kỳ 93, Khóa 1, 1973, trang 8-10 nêu trong sách của Rothrock, trang 192-194, ghi chú 13.

 

1834  LBJ, Vantage Point, trang 578.

1835  Seattle Times, 21 tháng 11 năm 1967, trong trang mạng FBI, FOIA, SE 100-29048.

1836   CIA, hồ sơ số EO-2000-00054, “International Connections of Peace Groups,” 15 tháng 11 năm 1967, trang 28.

1837   Hạ viện, các phiên điều tra về Restraints on Travel to Hostile Areas: Hearings before the Committee on Internal Security, Nhiệm kỳ 93, Khóa 1, 1973, trang 8-10 nêu trong sách của Rothrock Divided… trang 195, ghi chú 13.

1838  Hanoi in English to American Servicemen in South Vietnam, 1300 GMT, 3 tháng 10, 1967, B.

*****

 

Một phản hồi to “Roger Canfield’s Americong #24”

Trackbacks/Pingbacks

  1. Giới thiệu tác phẩm AMERICONG (MỸ-CỘNG) – Lê Bá Hùng | Ngoclinhvugia's Blog - 05/01/2016

    […] Roger Canfield’s Americong #24 […]

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: