Roger Canfield’s Americong #142

image002

Comrades in Arms

How the Americong Won the War in Vietnam

Against the Common Enemy— America

Copyright Roger Canfield, Ph.D.

1986-2012

No commercial transaction allowed except that approved by the author, copyright holder.

Obtain a prepublication release of a CD-R in Microsoft Word in ENGLISH at a discounted price of $15 from Roger Canfield Rogercan@pacbell.net at 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 or at http://americong.com.

Completely SEARCHABLE for any name, date, place or event of the War and its protesters.   

Cover: Design Stephen Sherman. Photos: Roger Canfield, March 2008. TOP: War protest Hawaii, February 1966 displayed at War Remnants (Crimes) Museum, Saigon. Bottom: Praetorian Guard

Các đồng chí cùng chiến tuyến

Làm thế nào MỹCộng thắng cuộc chiến Việt Nam

Chống kẻ Thù Chung – Mỹ

Giữ bản quyền Roger Canfield, Tiến Sĩ

1986-2012

Không được sử dụng vào mục đích thương mại nếu không có sự đồng ý của Tác giả, người giữ bản quyền.

Có thể mua một tiền bản dưới dạng CD-R Microsoft Word bằng Anh ngữ với giá đặc biệt US$15 ngay từ tác giả Roger Canfield  Rogercan@pacbell.net tại 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 hay tại  http://americong.com.

Hoàn toàn có thể TRA CỨU hoặc bằng tên, bằng ngày tháng hay biến cố liên quan đến cuộc Chiến cùng cả luôn bọn tham dự biểu tình .

*********

* Tác giả giữ bản quyền © Roger Canfield 1986-2012

  • Lê Bá Hùng chuyển ngữ  (với sự chấp thuận của Tác giả)

 *****

Chương 142

 Đê Điều

 

 12 và 13 Tháng 7

Jane đã đến thăm các làng Nam Hưng và Hồng Phong ở huyện Nam Sách, khoảng 60 dặm về phía đông của Hà Nội mà cộng sản đã cáo buộc là có đê đã bị dội bom vào ngày hôm trước. Theo  tờ Vietnamese Youth (Thanh niên Việt Nam)  sau đó [ số tháng 8 năm 1972]  thì “Jane Fonda đặc biệt lên án [vụ] cố tình không tạc hệ thống đê điều và các công trình thuỷ  lợi”.

[“Hôm qua”] Jane cho thu băng một bài phát biểu tố cáo việc Mỹ đã tấn công ném bom đê điều để phát thanh vào ngày hôm sau 14. Điều này đã đẩy các bài ghi âm trước đó của Jane về các đề tài viện Bảo tàng Chiến tranh và Bạch Mai phải phát trể về sau này. Dĩ nhiên vì ưu tiên thấp hơn mà.

Jane cho biết, “Sáng hôm qua [nghĩa là ngày 12], tôi đã đi đến huyện Nam Sách để xem các thiệt hại … bị gây ra cho đê điều  …”. Hoàn toàn không đi vào các chi tiết cụ thể, Fonda lại chỉ chuyên chú vào tính cách đạo đức của mọi cuộc tấn công nặng nề các khu đê điều:

… Những gì đã xảy ra với những bàn tay của những kẻ… đã kéo cần để thả bom xuống các cánh đồng và trên các những con đê? … Họ chỉ là những nông dân. Họ chỉ đang trồng lúa và đang nuôi heo mà thôi …. Nếu không có những con đê đó thì sinh mạng của 15 triệu con người sẽ bị hiểm nghèo do nước lũ và đói kém. Nhưng ngay ngày hôm nay, … các phản lực cơ Phantom Mỹ đã đang bỏ bom các điểm chiến lược của toàn hệ thống đê điều”.

 Fonda and gun and girl

 Hình: Hanoi Jane tại dàn phòng không VC (Internet) *

Các cáo buộc đều hoàn toàn gian trái.

Trong số 94 điểm chiến lược – đập và cữa xả nước – thì chỉ có hai chổ đã bị thả trúng bom. 4414  Đập và chổ thoát nước tại nhà máy thủy điện Lang Chi đã không hề bị phá bể, nhưng chính bộ phận máy phát điện của nó đã bị dội bom thành công.  4415  Vào tháng 6 năm 1972, vì trên 70 phần trăm công suất điện của Bắc Việt đã bị vô hiệu hóa mất đi, do đó ưu tiên chính của Jane Fonda là kích động nhắm vào vụ đập nước và đê điều.

Hởi tất cả các bạn, những người phi công, các bạn đang phục vụ trên các hàng không mẫu hạm, … từng gắn bom vào oanh tạc cơ … từng sửa chữa phi cơ, … đang làm việc trên Hạm đội Bảy, những người đó đã có phải chăng là kẻ thù của quý bạn? Quý bạn rồi sẽ nói sao với con mình … tại sao quý bạn lại phải tham dự cuộc chiến tranh này? . Tôi cầu xin các bạn hãy suy nghỉ lại đi … Tại nơi tôi đã đến … thì hoàn toàn không hề có mục tiêu quân sự, không có xa lộ quan trọng, không có hệ thống giao thông nào cả”. 4416

Đúng là có nhà máy điện. Và … Tạp chí Life từng đăng hình một con đê bị dội  bom mà trên đỉnh đê đã có rỏ ràng ba dàn súng phòng không đang bắn vào một phi cơ Mỹ. 4417

Trong South Vietnam in Struggle, Fonda tuyên bố, “Nixon đã biết rỏ… các ‘mục tiêu quân sự’  và … y đã muốn đánh ngay vào mạch sống của người Việt Nam”.  4418 Dĩ nhiên, các Tổng thống Nixon, Johnson và Ford đều biết các con đê là “mạch sống chính của cuộc sống”. Theo Frank Snepp thì Henry Kissinger cũng đã được báo trước là không tạc đê điều sẽ có khã năng giết chết tới cả 2 triệu người. Nixon và Kissinger đều đã quyết định không làm việc này. “Chính phủ Mỹ … đã không thể nào tìm ra được lý do biện minh cho hành vi sẽ phải giết chết cả hai triệu người. … Nhưng nếu là Bắc Việt [thì sẽ không bao giờ] có được mức độ đạo đức như vậy”, ngay Snepp cũng đã nhận xét như vậy. 4419

Tất cả mọi thẫm quyền Mỹ thì đều đã bác bỏ việc đánh bom đê điều. Các Tham Mưu Trưởng Liên Quân đều đã quy định “đập nước, đê điều và các cữa xả nước đều là … những mục tiêu bị cấm … nhằm giảm thiểu … thiệt hại cho  thường dân”.  4420

W. Hays Parks có viết về vấn đề dội bom đê điều:

[Bên] Bắc Việt đã bắt đầu một chiến dịch tuyên truyền quan trọng trong tháng 6 năm 1972 nhằm cáo buộc việc cố ý tấn công đê điều … [Họ đã tiến hành] … một nỗ lực lớn về phản tuyên truyền (với) … những vụ gọi là dội bom các con đê đắp bằng đất trong thung lũng sông Hồng … để khích động dư luận quốc tế …4421

Các bản tin quan trọng nhất trong mùa hè đó đã chỉ là về đê điều và Xuân Thủy cũng đã phát động nhiều tuần trước đó rồi phần chính của một chiến dịch tuyên truyền của Việt cộng tại Ba-lê. George H.W. Bush, vị Đại sứ Mỵ tại Liên Hợp Quốc đã cho biết đó là một “kế hoạch được chuẩn bị cẩn thận … để phổ biến khắp toàn cầu sự dối trá này”. Và do đó, vấn đề đê điều bèn trở thành đề tài phát thanh chính của Fonda, đẩy luôn vào hạng thứ các chủ đề về viện Bảo tàng Chiến tranh và Bạch Mai mà sẽ chỉ được phát về sau này thôi.

Sau lần phát thanh đó thì Bộ Trưởng Quốc phòng Melvin Laird cũng đã có bác bỏ là Mỹ từng dội bom các đập nước cùng đê điều, nhưng cũng ghi nhận là có thể đã có những đoạn đê vẫn bị dội bom trúng chỉ vì ở gần kề những dàn phòng không, gần những đường giao thông chính yếu, gần cầu hay gần các địa điểm có trang bị hỏa tiển phòng không. 4422  Sau này thì Guenter Lewy đã có viết,

Các phóng ảnh không sát đã có cho thấy những hố bom trên một số con đê … tất cả đều gần sát với những mục tiêu quân sự có giá trị cao, không hề có con đê chính nào đã bị dội bể hay bị hư hỏng không còn hoạt động được nữa và mùa nước dâng [1972] đã qua mà không hề có trận lũ lụt đáng kể nào cả”.4423

Nhưng chính những hành vi cố tình của Việt cộng mới lại đã gây ra biết bao nhiêu là thương vong cho người dân thường.

Chính Hà Nội đã không bảo trì các con để sau những trận lụt trên sông Hồng vào năm 1971.

Chính vì các Tổng thống Johnson và Nixon đã cấm bỏ bom đê điều nên đã khiến Bắc Việt lợi dụng để biến đê điều thành những tiện nghi quân sự. Hệ thống đê đã được sử dụng như “một phần của mạng lưới đường bộ … để vận chuyển quân nhu quân liệu cùng bộ đội (xuống) … miền Nam”. Năm 2008, chính tác giả đã tận mắt thấy là những con đê vẫn còn được sử dụng làm đường xá và còn nhiều đồng bằng bị ngập lụt vẫn bỏ hoang. W. Hays Parks có viết, Bắc Việt đặt “các vị trí súng AAA phòng không, các dàn ‘radar’ điều khiển từ dưới dất và các hỏa tiển địa chống không SAM ngay trên hay tiếp giáp với đê điều”.

Vào tháng 2 năm 1973, Bill Bell, trước khi đi cùng  tù binh về Mỹ đã có quan sát  được “Những bệ nền để trang bị hỏa tiển dịa chống không được xây ngay trên đỉnh các con đê” và “các ngôi nhà ở tuy được gọi là của người dân địa phương nhưng lại  thiệt sự là những vị trí phòng không”. Theo lời Bell thì những tấm nhựa màu xanh da trời đã được dùng để che ngụy trang các dàn súng cao xạ. 4424 Địch cũng đã tồn kho xăng dầu gần hoặc ngay cả  trên “đỉnh đê như một lá bùa để tránh khỏi bị không kích”. Parks còn cho biết thêm, “Tất cả mọi thứ ở đó đều xứng đáng là những mục tiêu tấn công chính đáng”.  4425

Cuộc Tranh Luận về Đê Điều

Trong khi Jane Seymour Plemiannanikov (Fonda) đang tạm nghỉ xã hơi vào ngày 26 và 27 thì đám chủ trương “Kẻ thù chung chính là Đế quốc Mỹ” lại vẫn hoạt động mạnh mẻ.

Vào ngày 26, Bộ Ngoại giao của “kẻ thù chung” thừa nhận là có thể đã có sự thiệt hại “không tiên liệu trước và vô tình” cho một số đê điều do việc không kích các mục tiêu ở gần kề chúng. Vào ngày 27 thì tên “tội phạm và phản bội” Nixon lại tuyên bố là đã không bao giờ có chủ trương bỏ bom đê điều cả. Dứt khóat đó không hề là những mục tiêu quân sự được chấp nhận. Nixon cũng đoan quyết là ngay cả giới quân nhân cũng không hề đề nghị bỏ bom đê điều. Nếu mà quả thật có chủ trương như vậy thì “chúng ta chỉ cần một tuần thôi  … để hoàn tất việc này”.  Đó cũng chính là một quan điểm từng được “chia sẻ rộng rãi bởi các phi công” của Không đoàn Chiến thuật 366 đóng tại Taklia, Thái Lan. Thiếu tá Stephen Levine có tuyên bố: “Nếu chúng ta cố tình bỏ bom đê điều sẽ không có bất kỳ con đê nào có thể còn tồn tại được nữa”.  4426

Nixon đã tiếp tục là vấn đề về đê điều chỉ  là “một đại chiến dịch về  tuyên truyền … Bắc Việt thường rất khéo trong việc tuyên truyền”. Thật vậy, Xuân Thủy đã lần đầu ám chỉ đến đề tài đê điều trong tháng 6 tại Ba-lê với tên tình nhân mới của Jane là Tom Hayden. Và đó cũng là ngày tháng chính xác khi Bắc Việt bắt đầu công tác tuyên truyền dựng trên những con đê. Trong cuộc họp báo, Nixon đã lưu ý là Bắc Việt từng mời mọi người tới chứng kiến những con để đã bị bỏ bom phá hủy trong khi thật ra chúng đều đã bị cố tình bỏ hoang không được tu sữa mặc dù mưa bảo và lũ lụt vào thu sắp sẽ tới.

Trên Mặt trận thứ nhì, vào ngày 2 tháng 8 thì các nhóm phản chiến gồm có AFSC, VVAW và WSP bèn xuất đầu lộ diện ủng hộ Bắc Việt về đề tài đê điều bằng cách mang theo những tấm bảng với ghi chú “Hãy Chấm Dứt Không Tạc Đê” hay là phân phát những truyền đơn cùng tài liệu in với nội dung “Vì Hành Vi Không Kích Của Nixon Tương Đưong Với 400 Vụ Hiroshima, phải chăng Nixon đã cố tình gây ra lũ lụt tại Việt Nam” và “Hãy bầu McGovern làm Tổng thống” ở ngay  phía trước của trụ sở chỉ huy của Ủy ban vận động cho Nixon ở Philadelphia. Bob Fields của  VVAW đã có tuyên bố là một tướng Đức đã bị kết án vi phạm tội ác chiến tranh vì đã gây ra lũ lụt tại Hòa Lan và cũng vì vậy, Nixon phải nên bị kết án về tội ác chiến tranh. 4427

Bill McCullam, chủ bút tờ San Francisco Chronicle đã sớm viết sau đó, “mọi tên thù ghét Mỹ … dường như đều sẵn sàng làm tay sai cho Cộng sản, đã cùng bắt đầu lặp lại kiểu tuyên bố của địch … Quả thật là đáng ngạc nhiên là làm thế nào một lời tố cáo gian dối như vậy mà lại đã lan tràn nhanh chóng đến như vậy khi bộ máy truyền cộng sản được tăng gia cường độ”. 4428  McCullam đã đưa ra ví dụ về chuyến đi và bộ phim của Jane y như là tiêu biểu cho các loại tay sai hoạt động tuyên truyền phục vụ cho địch. Nixon thì nói với báo chí rằng vấn đề đê điều chỉ là một nỗ lực của Việt cộng nhằm chuyển hướng sự chú ý của công luận khỏi các hành vi tàn bạo của chúng trong các cuộc tấn công đương thời.  4429

Trong số ngày 7 tháng 8 năm 1972 của tờ Time, Joseph Kraft, nhân khi đi thăm Bắc Việt, đã có ghi nhận thiệt hại cho đê điều đều là ngẫu nhiên nhưng lại là rất hữu ích cho việc tuyên truyền của Hà Nội. Kraft cho biết, nếu quả thật mà Không quân Mỹ đã “thực sự muốn tấn công đê điều thì họ đã phải thi hành một cách có phương pháp chớ không phải theo cái kiểu tùm lum lộn xộn như vậy”.  4430

Sau này thì Nixon đã viết rằng chiến tranh có thể đã thắng được chỉ bằng không tạc đê điều thôi nhưng ông đã bác bỏ điều này, dù nó đã từng được thi hành ở Hàn Quốc và trong Thế chiến II. Như Bill McCullum đã cho biết, Bắc Việt đã “bảo vệ được hệ thống đê của chúng … chỉ bằng phuơng tiện tuyên truyền mà thôi”. Đó đã quả là “một cú tuyệt chiêu về chính sách trân tráo nhưng cũng lại r61t là thành công”. Đúng thiệt là nó đã thành công.

Các trích lục được giải mật về sau này đã tiết lộ là Nixon từng đã nghiêm túc xem xét việc bỏ bom đê điều. Ông đã được tường trình là việc này sẽ giết chết hàng trăm ngàn người. Ông bèn ra lệnh gia tăng không kích những mục tiêu quân sự mà trước đó đã từng bị cấm nhung không phải là các đê điều hay vùng Hà Nội và Hải Phòng, mà cuối cùng đã buộc được Việt cộng phải ngồi vào bàn hòa đàm ở Ba-lê. 4431 Không có ai tìm ra được một tài liệu nào nhằm cho thấy là Nixon thực sự có ra lệnh bỏ bom đê điều, mặc dù Tom Hayden đã từng gian trá sử dụng việc Nixon có thảo luận về vấn đề này như là bằng chứng thực tế về  việc ông ta đã có cho lệnh bỏ  bom đê điều.

Jane và Tay Thợ Sữa máy của Hãng Sony —  13 tới 16 Tháng 7.

Sau khi ghi băng lời nhắn gởi của mình vào ngày 13 để sẽ phát thanh vào ngày 14, Jane tuyên bố sau này là đã có “đi hàng trăm dặm thăm qua các khu vực bị dội bom”. Tuy nhiên, trừ một hình chụp tại Hà Nội được công bố vào ngày 16 để chứng minh cho  lần thăm một bệnh viện ngày 14 tháng 7 thì thời khóa biểu thăm viếng của y thị hoàn toàn bỏ qua không nói đã làm những gì từ ngày 13 đến 16 tháng 7. 4432

Rất có nhiều khả năng là Jane Fonda đã không dành phần lớn thời gian trong ba ngày đó, từ 13 đến16 tháng 7, để đi đó đây. Chính là y thị đã ở lại Hà Nội để cho thu băng đa số của mười tám (18) chương trình phát thanh kế tiếp của mình. Đã không thể có một thời gian khá dài nào khác trong lịch trình đặc nghẹt của y thị tại Bắc Việt khã dỉ cho phép y thị thực hiện xong được nhiều bản tin nhắn trên đài như vậy. Cũng có thể Tom Hayden và y thị đã làm việc này ở Ba-lê. Cũng có thể là khi Fonda đã ở suốt ròng rã trong hai tháng tại khách sạn Metropole, như sử gia chính thức của khách sạn là Andreas Augustin ngày nay tuyên bố. 4433

Về sau này thì Fonda sẽ lại tiết lộ, “Mỗi buổi sáng một người đàn ông sẽ đến khách sạn với một máy ghi âm hiệu Sony. Rồi thì tôi sẽ ngồi xuống, chỉ mình riêng tôi với anh ta trong một căn phòng để nhau trao đổi mà “không có soạn sẳn gì trước cả” về những gì y thị đã mục kích ngày hôm trước. 4434 Tuy nhiên, khi đã viện dẫn ra các chi tiết quân sự của Trận Tổng Công Kích Mùa Phục Sinh của Bắc Việt (Nguyễn Huệ) cùng với sự thông suốt của y thị về các chủ đề tuyên truyền phổ biến của Hà Nội, cộng với tầng lớp đặc biệt của số thính giả mà y thị đã nhắm vào, thì ta đã thấy rỏ ràng là Fonda đã không hề chỉ một mình ngồi thổ lộ tâm tình mà không chuẩn bị trước như y thị đã tuyên bố.

Tính cách khôn khéo của các lần thu băng đó đã gợi ý là  ít nhất y thị cũng được sự đóng góp của một chuyên viên viết kịch bản cùũng chung với cái tay chuyên viên thu băng dùng máy Sony. Thật vậy, đã có cho tới ba chuyên gia về tâm lý chiến đã cùng ra làm chứng trước Quốc hội về đề tài các chương trình phát thanh của Fonda.

Edward Hunter, một cựu chuyên gia về tuyên truyền của OSS và CIA mà đã phát minh ra động từ “tẩy não” để mô tả chính sách đối xử của Cộng sản đối với tù binh Mỹ tại Hàn Quốc, thì đã ghi nhận là các chương trình phát thanh của Fonda mang đầy dấu ấn của một công tác tuyên truyền chuyên nghiệp. Cách thức tuyên bố của y thị đã:

phù hợp gọn gàng tuyệt đẹp đúng vào đường lối đương thời của Đảng Cộng sản và đều đã rất là thích nghi về chiến thuật với các biến chuyển gần đây nhất … trận đánh (Quảng Trị, đê điều) và các lãnh vực ‘hòa bình’. … Cách dùng từ của y thị mang đầy tính cách chuyên nghiệp cao, cả về cấu trúc lẫn mục đích …. Lập luận của y thị (đều) được bố trí cho phù hợp với nhiều tầng lớp thính giả khác nhau. Các hoạt động của y thị đã quả đúng là của một thành viên trong ‘tổ chức tâm lý chiến của địch”.

Các chương trình phát thanh của y thị đã được thực hiện nhằm phá nát tinh thần chiên đấu của các quân nhân; đã lợi dụng được tư cách của một phát ngôn viên gọi là đáng tin cậy mà người Mỹ sẽ có thể hiểu được; đã cố tình làm lu mờ sự khác biệt giữa bạn với thù; đã “nguyên văn” và liên tục phát đi các thông điệp của kẻ thù.Theo đúng kiểu tuyên truyền chung chung của Mác mà George Orwell đã từng mô tà trong tác phẫm 1984, y thị đã sử dụng kiểu ‘logic’ đảo ngược để biến “nạn nhân [thành] thủ phạm”. Cuộc xâm lăng của Bắc Việt xuống Nam Việt đã trở thành một cuộc xâm lược của Mỹ quốc; cuộc xâm lược của bọn Cộng Sản thì lại biến thành như là “cuộc Cách mạng Mỹ”; chính Tổng thống Nixon mới là tên  phản quốc chớ hoàn toàn không phải là y thị Fonda; chỉ người Mỹ và người Mỹ thôi mới đã sử dụng các loại vũ khí chiến tranh khủng khiếp và mới đã từng phạm các tội ác chiến tranh chớ không phải là đám Việt Cộng; chỉ có người Mỹ hiện diện tại Nam Việt chớ không phải là đám bộ đội Bắc Việt; những kẻ thù chính chỉ là các sĩ quan và chính phủ Mỹ mà thôi.

Nói vắn tắt thì Jane đã chịu phối hợp các chương trình phát thanh của mình đúng theo với nhu cầu của bọn Cộng sản và chính Hà Nội đã điều khiển thu xếp thời gian cùng nội dung của các thông điệp của y thị. 4435

James Rothrock đã có mô tả một lần phát thanh đó như là “một lời kêu gọi cực kỳ cao siêu nhằm xúi các quân nhân đừng thi hành lệnh trên, v. v . . ., mà đã rất rõ ràng là đã chỉ được soạn thảo bởi những chuyên viên về tuyên truyền thôi”.  4436

*****

*    Hình và phụ đính của người chuyển ngữ.

4414  Lewy, Commentary, trang 44.

4415  Eschmann, trang 55-56.

4416  UPI, Tokyo, “Jane Fonda’s Plea from Hanoi,” San Francisco Chronicle, Số Thứ 7, (5 tháng 7 năm 1972). Bản trích lục là từ một bản tin của Vietnam News Agency được phổ biến trên đài “Voice of Vietnam Radio.”

4417  Life, (4 tháng 8 năm 1972).

4418  South Vietnam in Struggle, (Số Tháng 8 năm 1972).

4419  Mark Moyar, Phoenix and the Birds of Prey; The CIA’s Secret Campaign to Destroy the Viet Cong, Annapolis: Naval Institute Press, 1997, trang 360-61 ghi chú 33 có nêu ra cuộc phỏng vấn với Frank Snepp.

4420  Eschmann, trang 22 ghi chú 38 có viện dẫn: “Corona Haven: USAF Air Operations Against North Vietnam, 1 July 1971- 30 June, 1972, HQ PACAF, 8 June, 1973, Top Secret”, được giải mật ngày 31 t6háng chạp năm 1981, trang 98-100.

4421  W. Hays Parks, “Rolling Thunder and the Law of War”, trang 210-212.

4422  San Francisco Chronicle, 18 tháng 7 năm 1972.

4423  Guenter Lewy, Commentary, (Số Tháng 2 năm 1978), trang 47; Hayden, Nation,  22 tháng 3 năm 2004.

4424  Garnett “Bill” Bell với George J. Veith, Leave No Man Behind: Bill Bell and the Search for American POW/MIAs from the Vietnam War, Madison: Goblin Fern Press, 2004, trang 47.

4425  W. Hays Parks, “Rolling Thunder and the Law of War”.

4426  AP, Taklia, Thailand, “Fonda Dike Story a Lie, Pilots Say,” Stars and Stripes, (31 tháng 8 năm 1972).

4427  Văn phòng Philadelphia gởi cho Giám đốc Đương  nhiệm, 8/2/72 NITEL, hồ sơ số  100-54354, 100-11392, trang 1 và 2 tại FBI, FOIA.

4428  San Francisco Chronicle, 6 tháng 8 năm 1972.

4429  Đọc: “President Nixon’s News Conference of July 27, [1972],” Department of State Bulletin, 21 tháng 8 năm 1972; Bill McCullum, “A Memo on Dikes,” San Francisco Chronicle, 6 tháng 8 năm 1972.

4430  “The Battle of the Dikes,” Time Magazine, 7 tháng 8 năm 1972; Joseph Kraft. “Letter from Hanoi,” The New Yorker, Số Tháng 8 năm 1972.

4431  Trích lục các trao đổi giữa Nixon và Kissinger trong ngày 22 tháng 3 năm 1972 và 22 tháng 6 năm 1972.

4432  Hình của UPI-Bittman, NCP/RTD 17448, 16 tháng 7 năm 1972 được nêu ra trên tờ National Vietnam Veteran’s Review, Bộ  4, Số  8, trang 11.

4433  Andreas Augustin, Metropole Hotel, The Most Famous Hotels in the World, 1986-2008,  www.famoushotels.org/booms/536/making.

4434  Phỏng vấn Fonda, Playboy, Số Tháng 4 năm 1974, trang 78.

4435  Khai trình của Edward Hunter, “Analysis of Jane Fonda Activities in North Vietnam”, Hạ viện, Ủy ban An ninh Đối Nội Committee on Internal Security, Các điều trần liên quan H.R. 16742: Restraints on Travel to Hostile Areas, Nhiệm kỳ 92, Khóa 2,  19 tháng 9 năm 1972, trang 7582-89.

4436  James Rothrock, Divided…, trang 158.

*****

Một phản hồi to “Roger Canfield’s Americong #142”

Trackbacks/Pingbacks

  1. Giới thiệu tác phẩm AMERICONG (MỸ-CỘNG) – Lê Bá Hùng | Ngoclinhvugia's Blog - 05/01/2016

    […] Roger Canfield’s Americong #142 […]

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: