Rushford #2: Ưu Tiên Đế Quốc #1

Ưu Tiên Đế Quốc (11 Tháng 9 Năm 2012)

(Bài 1)

~ Lê Bá Hùng chuyển ngữ ~

*****

Rushford Report 2012 Sep 11

Imperial Preferences

http://rushfordreport.com/?p=214#more-214

image003

[Part One of a Two-Part Series]

Phần 1 của Loạt 2 bài ►1

Tháng trước tôi đã có bay đến Bangkok, Sài Gòn và Hồng Kông để cố gắng hiểu biết tốt hơn về lý do tại sao một cái gì đó, mà cứ được gọi là “yarn forward” đã mãi đang cản trở tiến bộ đàm phán về Trans-Pacific Partnership trade (Giao thương  đối tác xuyên Thái Bình Dương). Các cuộc thảo luận về TPP này hiện đang lien hệ tới Mỹ cùng tám nước khác, như là Singapore, Tân-tây-lan và Úc – mà rồi đây, cũng sẽ trở thành một nhóm gồm cho tới cả mười một quốc gia, với sự bổ sung của Gia-nã-đại và Mể-tây-cơ – trong cái khu vực đang phát triển nhanh nhất trên thế giới này.

Đối với người thường dân, thì chắc chắn là các danh từ “yarn forward” cũng sẽ không có nhiều ý nghĩa gì lắm đâu cho họ. Nhưng đối với một số ít nhà ngoại giao chuyên môn và số tay đam mê nghiên cứu về những thuật ngữ phức tạp của các chính sách giao thương quốc tế, thì ‘yarn forward’ lại không hề là tối nghĩa đâu. Nó có tính cách quyết định về việc vì sao mà Mỹ đang ngần ngại, khi phải quyết định liệu sẽ có cho phép Việt Nam, và với một mức độ thấp hơn, Mã-lai-á, có sẽ được quyền tăng số bán của họ trên các thị trường quần áo của Hoa Kỳ hay không – trừ phi các quốc gia châu Á đó đồng ý chịu chấm dứt hệ thống dây chuyền nhằm cung cấp nguyên liệu trên toàn cầu hiện nay của họ, hầu chỉ rồi sẽ sản xuất quần áo của họ, bằng ngay chính các nguyên liệu của Hoa Kỳ mà thôi.

Cuộc tranh luận về các quy định thuộc ‘yarn forward’ về xuất xứ của hàng dệt may mặc và áo quần, vẫn được mọi người coi như là một trong những lý do thiết yếu, mà đã khiến cho cuộc đàm phán về TPP, mặc dù từng đã rất ư là rùng beng, thì thật sự trên căn bản, đã tiến bộ không là bao nhiêu kể từ tháng 3 năm 2010. Đó là đánh dấu cái ngày mà các thương thuyết gia Mỹ đưa cái khái niệm chính và trọng tâm của chương trình nghị sự về TPP của Hoa-thịnh-đốn nhân vòng đầu tiên đàm phán về TPP, mà đã được tổ chức tại Melbourne. Thứ Sáu tuần này, thì vòng thứ 14 của đàm phán TPP sẽ kết thúc tại Leesburg, Virginia. Cũng như những lần trước, các buổi họp trong ngày 6 đến 15 Tháng 9 năm 2012 tại Leesburg thì cũng hoàn toàn bị giữ bí mật tuyệt đối. Một lần nữa, tất cả những gì mà các kẻ ngoại cuộc được thấy, thì cũng chỉ là cái kiểu trao đổi vui vẻ thông thường về ngoại giao, với nào là các cuộc họp “quan trọng” đã được tham dự bởi rất là nhiều quan chức quan trọng đang rất ư là bận rộn, cũng như về tất cả những “tiến bộ” đáng khích lệ đang được thực hiện.

Chúng ta thì cũng không thê nào mà lại đi tin được đâu. TPP vẫn còn đang bị kẹt do quyết định khăng khăng cứng đầu của Tổng thống Barack Obama, là mọi thỏa thuận đều phải bao gồm các quy định ‘yarn forward’ về xuất xứ của nguyên liệu dùng cho hàng dệt và may mặc. Tòa Bạch Ốc cũng đã cương quyết chống lại các yêu cầu, mà chính là từ phía Việt Nam, để giảm các loại thuế nhập cảng cao trên giày dép của Hoa Kỳ. Tổng thống đã, trên căn bản, bỏ qua các phản đối của hai công ty thành công nhất trong  kỹ nghệ giầy thể thao Mỹ, là Nike và Adidas. Hai công ty hàng đầu này, thì lại đang sử dụng cho tới cả 27.000 nhân viên Mỹ. Họ đã có giải thích cho các nhà đàm phán của Hoa Kỳ là hầu như toàn giá trị trong đôi giày của họ thì cũng đã được sáng tạo ra ngay tại Mỹ – thiết họa, đưa ra thị trường, bán lẻ, cập kho, và mọi thứ sau đó – việc đánh thuế bảo vệ quả sẽ vô nghĩa trên một thế giới mà những đôi giày thì chỉ được dán thành phẩm lại thôi ở ngoại quốc. Nhưng New Balance, một công ty có trụ sở ở Massachusetts, một công ty chính yếu trên thị trường giày thể thao Hoa Kỳ, đã chống lại việc giảm thuế. Trong khi New Balance cũng có hưởng lợi từ các dây chuyền cung cấp Á châu của họ cho khoảng 75 phần trăm số giày mà họ đang sản xuất, công ty này lại khẳng định rằng thuế cao tuy nhiên vẫn rất hữu ích cho việc duy trì cho được một số nhỏ các nhà máy của họ ở New England. New Balance thì chỉ đang trả ít hay gần như là không trả thuế gì cả cho các thành phần được nhập cảng từ châu Á, để giúp cho các nhà máy ở Hoa Kỳ của họ được hoạt động. Mặc dù New Balance sử dụng chỉ có khoảng 2.600 công nhân Mỹ – mà phân nửa là về sản xuất – cái công ty nhỏ mà đang tự mang vào mình lá cờ cổ võ cho Buy American ~ Hãy Mua Hàng Mỹ thôi, thì chính đang lại là kiểu mẫu làm ăn mà Tổng thống Obama đang ưa chuộng hiện nay.

Tôi sẽ giải thích lý lẽ về việc nên đánh thuế giày cao tới mức nào trong phần thứ hai của loạt bài này. Phần II cũng sẽ cho biết những chi tiết khả dĩ giải thích được nội vụ, sau khi tôi đã biết thêm được những điều gì, nhân khi đến thăm các nhà máy vải dệt và áo quần, cũng như là các nhà máy sản xuất giày tại Việt Nam, cộng thêm với những gì tôi đã khám phá ra được trong chuỗi dây chuyền toàn cầu nhằm cung cấp công ăn việc làm tại Bangkok và Hồng Kông. Nhưng bây giờ, chúng hãy cùng nhau xem xét cuộc chiến chính trị bao quát hơn về tiêu chuẩn ‘yarn-forward rules for garments’ nhằm quy định cho mặt hàng may mặc tại Mỹ.

Nói một cách đơn giản, thì các quy định đó bắt buộc các nước thành viên của TPP nào mà muốn xuất khẩu mặt hàng quần áo của họ cho được miễn phí đến các nước thành viên TPP khác, thì cũng phải mua sợi và vải của họ chỉ từ các thành viên TPP khác mà thôi. Trong thực tế, Việt Nam, quốc gia cung cấp lớn vào hàng thứ hai cho Mỹ về mặt quần áo, chỉ sau Trung Quốc, rồi đây sẽ phải chỉ được mua sợi và vải sản xuất ngay tại nội địa Mỹ, để tránh khỏi phải trả cái thuế  Hoa Kỳ ở mức cao trên hàng may mặc nhập khẩu, mà thường là vào khoảng 18% tới 36 %. Vấn đề không phải là tại sao các công ty dệt may của Mỹ đã không thu xếp để sản xuất ngay tại Việt Nam, ngay tại chổ cho chính khách hàng của họ – một số ít thì cũng đã làm như vậy, và cũng đã thành công. Nhưng vì chủ yếu, các nhà máy dệt may của Hoa Kỳ đều do các Good Ole của vùng Nam Mỹ rất ư là xa cách với lý tưởng về cạnh tranh trên thị trường thế giới, mà chỉ cứ cố bám trụ tại nhà, ít ra thì cũng mãi cho tới khi mà là họ vẫn còn có thể vận động hành lang được với chú Sam, hầu ra luật làm sao có lợi cho họ mà thôi. Và trong một thế giới nghiên về ‘yarn-forward’ thì các viên chức Mỹ trong chính phủ ở Hoa-thịnh-đốn, D.C.,  sẽ cho Việt Nam và phe nhóm, biết khi nào thì họ mới có thể đặt hàng mua các ‘phẹc-mơ-tua’, các vải sợi, các vải lót, các vải làm túi, ‘denim’, bông gòn, ny-lông, và cứ thế mà thôi. Danh sách đó quả rất ư là dài.

Các quy định về ‘Yarn-forward’ về xuất xứ đối với hàng dệt may, đương nhiên sẽ đặt các nước không là thành viên của TPP mà đang sản xuất sợi và vải – như Thái Lan, Đài Loan, Nhật Bản, và đặc biệt là Trung Quốc – vào một vị thế bất lợi về kinh tế. Liệu sự kiện này có mâu thuẩn chăng với cái chính sách “nghiêng về” của chính quyền Obama, để nhằm xây dựng những liên hệ an ninh và kinh tế chặt chẽ với châu Á? Dỉ nhiên là sẽ vậy mà thôi. Nhưng trong cái năm bầu cử tổng thống này, các nhà đàm phán Mỹ về TPP thì cũng khó mà lo tập trung chỉ vào mục tiêu chính sách đối ngoại chung. Thay vào đó, thì họ phải chú tâm vào việc làm sao đẩy mạnh để tăng gia sự ủng hộ về chính trị cho Tổng thống Obama tại các thị trấn nhỏ, mà hiện đang phải chỉ sống cầm cự được với ngành dệt mà thôi ở miền Nam Mỹ, một kỷ nghệ mà đang cứ tàn lụi dần dần. Liệu có hợp lý không về mặt kinh tế, khi mà chúng ta đi buộc Việt Nam phải mua sợi bông và vải ‘denim’ Mỹ, để rồi, sau đó, chở bằng tàu xuyên qua Thái Bình Dương, hầu làm các quần thường và quần ‘jean’ cao bồi màu xanh? Lại một lần nữa, dĩ nhiên là không. Ấy vậy, cái Tòa Bạch Ốc của Obama và tay thương thuyết hàng đầu về giao thương của tổng thống là Ron Kirk, thì lại nhấn mạnh (rất ư là nghiêm trang), là các quy định về yarn-forward sẽ mang lại những lợi ích kinh tế tốt nhất cho Việt Nam. Thương ước TPP, tổng thống chúng ta đã nhiều lần tuyên bố như vậy, sẽ thiết lập mô hình cho cách thức mà nền giao thương quốc tế sẽ phải tiến hành trong thế kỷ 21 mà thôi.

17849 - Kirk, Ronald ( Dallas )

Ronald Kirk, luật sư thâm niên trong tổ hợp Gibson, Dunn & Crutcher tại Dallas và Hoa-thịnh-đốn, D.C., thuộc đảng Dân chủ, 

được bổ nhiệm là United States Trade Representative của Mỹ từ 2009 bởi Obama

Đó chắc chắn không phải là cách mà bên phía Việt đã nghỉ vậy đâu. Theo Hà Nội, ‘yarn forward’ rõ ràng là đầy vẻ lổi thời mà thôi. Đó chỉ đã là một bài học nhỏ về lịch sử, mà cái Tòa Bạch Ốc của Obama đã không học thuộc được, hầu giải thích được là tại sao. Cái khái niệm ‘yarn forward’ đã nguyên từng xuất phát từ thời đế quốc vào thế kỷ thứ 19. Anh quốc thì đã thường gọi các thỏa thuận đặc biệt họ từng ký kết với những cựu thuộc địa là ‘Imperial Preference ~ Ưu Tiên Đế Quốc’. Cáí chủ trương chính, cho dù về đường ngọt, hay loại á phiện, hay bông vải, thì cũng chỉ đã luôn luôn tập trung vào một điều duy nhất: làm thế nào để các tài sản thuộc địa có thể đóng góp được cho phúc lợi của mẫu quốc của họ mà thôi. Một trong những lý do chính mà Nã-phá-luân III bèn gởi hải quân Pháp đánh chiếm hải cảng Sài Gòn vào năm 1859, cũng chỉ là để buộc người Việt Nam phải chấp nhận mở cửa thị trường, để đón nhận mặt hàng dệt may xuất khẩu của Pháp mà thôi.

Với một tiến trình về lịch sử như vậy, thì cũng quả không có gì đáng phải ngạc nhiên, khi tay Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và các đàm phán viên về giao thương từ Hà Nội của y đã tỏ ra không có gì là ‘hồ hởi’ với chủ trương đó, khi muốn gia nhập vào TPP, vì rồi họ sẽ phải chấp nhận những đòi hỏi của Hoa Kỳ chiếu theo nguyên tắc ‘yarn forward’. Việt cộng đã từng nổi tiếng, trước hết là chiến đấu với thực dân Pháp, và rồi sau đó là người Mỹ, để đạt được sự độc lập về kinh tế cho đất nước họ. Không ai bây giờ ở Hà Nội hay thành phố Hồ Chí Minh (Sài Gòn cũ) mà lại có thể vui sướng mà đi chối bỏ mọi việc đó, bằng cách cúi đầu trước nước Mỹ, cái quốc gia đã đứng ra tổ chức loại giao thương giẻ rách này. Ngay tại Sài Gòn vào tháng trước, tôi đã bị hỏi nhiều lần: Chúng tôi đã chiến đấu chỉ để được vậy thôi sao?

Tay Dũng thì hiện nay cũng đã đang có đủ vấn đề chính trị nội bộ của riêng y để mà phải lo đối phó. Bộ Chính trị ở Hà Nội thì lại được cho là đang trải qua một cuộc tranh dành rất cực kỳ ở phía sau hậu trường, mà có dính líu tới việc chính phủ đã thất bại trong việc bài trừ nạn tham nhũng về kinh tế. Trong khi người ngoại cuộc thì cũng không thể biết được những gì đang thực sự xảy ra, các nhà quan sát ở Sài Gòn cũng đã ghi nhận được là tương lai chính trị của Dũng cũng không có gì là bảo đãm được. Do dó, chúng ta cũng thấy được là các thương thuyết gia thương mại của Hoa Kỳ hiện nay rồi thì phải đụng với loại phản ứng gì – nếu cứ mạnh tiến theo cái kiểu John Wayne bình thường mà thôi – nhằm buộc tay Dũng phải ký kềt một thỏa thuận TPP về kinh tế đầy hiểm nguy không tiên liệu trước được, mà sẽ hạn chế các cơ hội giao thương của Việt Nam, thay vì đi khuếch trương chúng. Trong khi Việt Nam vẫn không (chưa) là một mô hình sáng giá về dân chủ, liệu sẽ có tay lãnh tụ nào tại Hà Nội mà dám đi chấp nhận một đề nghị có khả năng sẽ rồi đưa cả một số 2 triệu ½ người lao động, mà rất nhiều trong số đó là những thiếu nữ trẻ từ những vùng nghèo khổ hơn của Việt Nam, những người mà đang cằn cỗi khao khát để rồi sẽ không không còn đói kém nữa đâu – bây giờ phải về lại với ruộng đồng à? Quả là Obama đã đang đòi hỏi quá ư là lắm điều mà thôi.

Điều này giải thích tại sao các nhà đàm phán từ Hà Nội – trong khi vẫn kiên nhẫn ráng giữ mục tiêu chính là làm sao tăng gia xâm nhập cho được thị trường quần áo và giày dép của Hoa Kỳ qua thành đạt cắt giảm quan thuế, – thì cũng đã nhiều lần nhắc nhở đối tác Mỹ của họ, là trong mọi cuộc thương phán, thì cả hai bên đều phải cùng cộng tác với nhau. Quý vị từng yêu cầu chúng tôi mở rộng cữa thêm thị trường tài chính của chúng tôi cho các công ty của Hoa Kỳ, đặc biệt là các ngân hàng, họ vẫn đã từng nhắc nhở như vậy với các viên chức thương mại của Hoa Kỳ. Quý vị muốn chúng tôi mua thêm thịt bò và thịt heo Mỹ, bên Việt cũng có nói thêm vậy. Như vậy thì cũng tốt thôi, nhưng tại sao quý bạn Mỹ lại từ chối không chấp thuận cho chúng tôi một số giải tỏa quan trọng chỉ để nhằm mở cửa thị trường quần áo và giày dép của quý vị, điều rất ư là tối yếu cho nền kinh tế của chúng tôi? Bên phía Việt đã (một cách đúng đáng) khẳng định là tiêu chuẩn ‘yarn forward’ thì quả không thể được hành xử trong một thế giới mà các dây chuyền cung cấp lại mang tầm quan trọng chết sống đối với công việc sản xuất. Chiếu theo các thực tế của những dây chuyền cung cấp tân kỳ toàn thế giới hiện nay, thì đòi hỏi ‘yarn forward’ của Hoa Kỳ rồi sẽ chỉ hạn chế mọi cơ hội để mở rộng giao thương, thay vì khuếch trương được chúng.

Người đọc vẫn chưa được thuyết phục bởi tính cách hợp lý về kinh tế và chính trị chăng? Bằng chứng cho thấy các đòi hỏi ‘yarn forward’ đã từng có khuynh  hướng hạn chế sự trao đổi giao thương mại, thì cũng đã được báo cáo bởi cơ quan Quan Thuế và Bảo vệ Biên giới Hoa Kỳ. Chiếu theo các thương hiệp có tính cách ưu đãi của Hoa Kỳ hiện nay – như Nafta, Hiệp ước Thương mại Tự do Bắc Mỹ, và CAFTA, Trung Mỹ FTA – thì chỉ có 17 phần trăm mặt hàng nhập cảng về may dệt và áo quần thì mới phải chịu chi phối bởi ‘yarn forward’ mà thôi. Điều đó có nghĩa là, cho tới cả 83 phần trăm các giao dịch, thì cũng đều đã được tiến hành bởi các nhà sản xuất và nhập cảng khi chỉ đơn giản chấp nhận trả mức thuế cao hiện tại của Hoa Kỳ, đơn giản chỉ để tránh gánh nặng của cơn ác mộng về thủ tục giấy tờ sẽ cần phải làm liên quan đến với ôi-quá-ư-là-rắc-rối điều lệ về ‘yarn forward’.

Thái độ cương quyết ồn ào hiện nay của chính quyền Obama là phải đưa cho được các quy tắc ‘yard forward’ vô cho được TPP đã sớm bị lưu ý bởi Thượng nghị sĩ Ron Wyden, thuộc đảng Dân chủ từ bang Oregon, chủ tịch Tiểu ban Thượng viện Tài chính về Giao thương Quốc tế. Trong văn thơ ngày 9 tháng 9 năm 2011 gởi cho vị Đại diện Thương mại Hoa Kỳ là Ron Kirk, Thượng nghị sĩ có cảnh cáo là thái độ “tuân thủ cứng ngắc” của chính quyền đối với ‘yarn forward’ sẽ “làm suy yếu mục tiêu chiến lược lớn hơn của chúng ta trong các cuộc thảo luận TPP”. Một năm sau đó, thì bức thơ của Wyden quả cho thấy đã mang đầy tính tiên tri báo trước mà thôi.

image005

Ron Wyden

Ấy vậy, các nhà đàm phán Mỹ vẫn không nản lòng và đã cứ tiếp tực tháu cấy. Các giới chức Hoa Kỳ vẫn đã than phiền trong chốn riêng tư, với các nhà ngoại giao từ các nước TPP khác, là phía Việt Nam đã không đàm phán trong tinh thần thành thực. Một trong những viên chức từng nói xấu người Việt Nam với các thành viên đàm phán TPP khác đã là Gail Strickler, trưởng đoàn đàm phán về mặt hàng dệt may của chính quyền Obama. Nhưng chúng ta thì cũng không nên đi đổ lỗi chỉ cho một nhân viên cấp thấp, khi nói là Strickler đã phát ngôn thay cho chính quyền mà thôi. Chính Đại diện Thương mại Hoa Kỳ là Ron Kirk, cũng đã từng khẳng định là Việt Nam chỉ là một “tiểu quốc”, mà có lẽ đã không được quen biết  với cách thức hiện đại với “tiêu chuẩn cao” nhằm áp dụng cho các cuộc đàm phán về giao thương quốc tế cho được hiệu quả. Và chính nhân vật mà hiện đang làm việc tại Phòng Bầu dục trong Tòa Bạch Ốc, nhân lần vận động bầu cử đầu tiên cho chức vụ vào năm 2008, thì cũng đã từng hứa với giới vận động hành lang quốc hội cho kỹ nghệ dệt may của Hoa Kỳ là, nếu đắc cử tổng thống thì mình sẽ ủng hộ ‘yarn forward’ trong mọi thỏa ước giao thương của Hoa Kỳ mà chính quyền của mình sẽ ký kết. Ít ra thì Tổng thống Obama cũng đã có giữ được cái lời hứa đưa ra trong khi vận động bầu cử của mình này.

Trên căn bản thì cái Tòa Bạch Ốc Obama hiện đang sử dụng phương cách mà những quan sát viên am tường vẫn gọi là cái kiểu ‘silo’ riêng rẽ, hầu đưa đẩy tiến trình đàm phán TPP. Mưu đồ là để thương lượng các vấn đề như ‘yarn forwatd’ riêng rẽ với từng quốc gia cá nhân (luôn luôn càng nhỏ hơn thôi, tất nhiên) như Việt Nam, theo tiêu chuẩn mặt đối mặt, tốt nhất là phải cô lập họ. Cáí chiến lược đàm phán này của Hoa Kỳ thì đúng y như cái phương pháp chia-và-chiếm mà Trung Quốc đã đưa ra dùng trong các cuộc tranh chấp hàng hải ở Biển Đông, nơi mà Bắc Kinh đã cố gắng ngăn ngừa Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á cùng chung nhau lên tiếng trong một lập trường thống nhất.

Nhà đàm phán Hoa Kỳ Strickler, nguyên từng là một cựu giám đốc của một công ty dệt may Massachusetts mà nay là một thành phần của một nhóm công ty đã được mua lại bởi Patriarch Partners, một công ty tư nhân chuyên về quản lý các tài sản đang bị thua lỗ. Và khi mà nhà đàm phán Strickler cố gắng để bảo vệ lập trường của National Council of Textile Organizations (Hiệp Hội Toàn quốc của Các Tổ chức Dệt may), điều có nghĩa là đòi hỏi cho được các quy tắc ‘yarn forward’ nhằm giúp phát triển các nhà máy ở Hoa Kỳ, thì đó đúng là sở trường của y mà thôi. Strickler vốn là một cựu thành viên trong hội đồng quản trị của NCTO. Nhân các cuộc đàm phán TPP, Strickler đã hầu như không thèm che dấu chút gì về việc y quả thực coi thường các kế hoạch kinh doanh của những ngôi sao sáng từng thành công của nền kinh tế Mỹ như Macy, Nordstrom, Levis, Gap, JC Penney, Nike, Adidas, Walmart, Target – đúng là một danh sách “thù địch” rất ư là dài mà thôi. Strickler đã từ chối bình luận về vụ này.

image007

Gail Strickler, phụ tá về May Mặc Assistant USTR for Textiles

của Ronald Kirk

Và cũng chắc chắn là phải vậy thôi, các công ty bị nhắm tới đã chống trả lại, để tự bảo vệ trước việc chính phủ tấn công họ. Nhiều thương nghiệp trong số đó đã rất tích cực phản đối các tiêu chuẩn ‘yarn forward’ xuyên qua TPP Apparel Coalition (Liên minh May Mặc TPP). Liên minh này gồm năm hiệp hội thương mại, kể luôn cả National Retail Federation (Liên đoàn Quốc gia Ngành Bán lẻ), United States Association of Importers of Textiles and Apparel (Hiệp hội các nhà Nhập cảng Hàng dệt may Hoa Kỳ), và American Apparel & Footwear Association (Hiệp hội May mặc và Giày dép Mỹ). Liên minh này đã cố gắng để cho chính quyền Obama phải hiểu là không có lý do kinh tế khả biện nào cả cho các quy tắc riêng rẽ sẽ được áp dụng qua một thương ước rách nát như là TPP.

Cố vấn viên của liên minh TPP là Virginia Foote có tuyên bố: “Chúng tôi không nghĩ là quy tắc ‘yarn forward’ sẽ có thể tạo thuận lợi cho các hệ thống cung cấp dây chuyền trên toàn thế giới ngày nay”. Quan điểm của Foote rất có ảnh hưởng ở Hà Nội, nơi bà đang cư ngụ, sau khi đã đóng một vai trò chính yếu trong việc nuôi dưỡng những cải cách kinh tế của Việt Nam, mà đã giúp đưa tới việc tăng gia giao thương hiện nay của họ với Hoa Kỳ, và cũng đã giúp cho nước này tiến lần lên vào Tổ chức Thương mại Thế giới.  ►2

image009

Virginia Foote, được Pham Quang Vinh trao thưởng Huy Chương Hữu Nghị

trong tư cách là Governor of the American Chamber of Commerce in Vietnam (Source:VNA)

Nhưng nhà đàm phán Hoa Kỳ Strickler đã vẫn không xao xuyến và vẫn đang cố gắng tách ra riêng cho được một số thành viên yếu thế hơn của Liên minh May Mặc TPP, bằng cách hứa hẹn là sẽ chấp thuận cho họ những đặc khoản riêng biệt, nếu họ đồng ý theo quan điểm của Mỹ. Tôi đã biết được là trong tháng trước, ở Đông Nam Á, Strickler đã thành công ký kết xong với một nhà sản xuất quần áo quan trọng Mỹ là Victoria ‘s Secret. Nhà đàm phán Hoa Kỳ đã đồng ý một thỏa thuận đặc biệt nhằm bảo vệ cho Victoria ‘s Secret các nguồn cung ứng vật liệu khắp toàn cầu của công ty này, đối với mặt hàng đồ lót đang được sản xuất tại Việt Nam. (Người phụ nữ hàng đầu của Victoria’s Secret ở Sài Gòn, Jocelyn Trần, đã từ chối gặp tôi tại Việt Nam, cũng như là cũng không chịu trả lời các câu hỏi viết mà tôi đã gởi đến cho bà ta). Nhưng thỏa thuận với chính phủ Mỹ của bà ta thì thật là rõ ràng: trong khi Victoria ‘s Secret sẽ được ưu tiên về mặt hàng đồ lót của mình, thì ngược lại, cùng mặt hàng đó, mà được sản xuất bởi công ty khổng lồ Hanes Brands Inc tại Việt Nam, thì lại sẽ không được như vậy. Hanes sẽ hoàn toàn bị cạnh tranh trong tư thế bất lợi.

Hanes Brands thì hiện nay y như hình ảnh một con chim trong chuyện ngụ ngôn, đang đong đưa trên một đường dây điện thoại, đôi cánh thì run rảy và âu lo, nữa không muốn bay xà vào lòng Tòa Bạch Ốc, mà nữa thì cũng ngại liệu quyết định chịu cam kết riêng rẽ vì lý do chính trị thì có đáng hơn hay không. (Phát ngôn viên của Hanes Brands đã không trả lời hai điện thơ tôi gởi nhằm hỏi liệu công ty của ông ta sẽ có thể phải nhượng bộ trước áp lực chính trị hay không).

Ấy vậy, các công ty thành viên khác trong liên minh TPP, thì cũng vẫn đang tiếp tục cung cấp những thông tin chi tiết cho các nhà đàm phán thương mại của Obama, về nguồn gốc cung ứng vật liệu trên toàn cầu của họ, cho cả từng sản phẩm cũng của họ luôn.

Hiện thì đang có hai cách giải thích ngược nhau về mục tiêu của việc các công ty vẫn đang sẵn sàng cung cấp tài liệu riêng tư về sản xuất của họ cho chính phủ liên bang. Liệu chăng là các thành viên trong liên minh TPP đã đang cung cấp cho các viên chức Hoa Kỳ những bằng chứng về lý do tại sao quy tắc ‘yarn forward’ rồi đây sẽ gây tổn hại biết là bao nhiêu cho toàn hệ thống dây chuyền cung ứng vật liệu của họ? Nếu đúng vậy, thì quả là cái kiểu thông điệp đó vẫn đã chưa được chấp nhận đâu. Hay có thể là cũng có vài nhà sản xuất quần áo và nhà nhập khẩu Mỹ đã đưa ra những danh sách cho Strickler, theo đó, đã liệt kê ra những gì họ sẽ khả dĩ đành lòng chấp nhận được, và cũng liệt kê ra luôn các loại đặc ân kiểu từng dành cho Victoria’s, mà họ cũng cần phải có cho chính họ mà thôi? Người ngoại cuộc thì cũng không thể làm sao biết được chắc chắn cả – nhưng Strickler đã từng tuyên bố với các nhà đàm phán TPP khác, là mình có đủ  lý do để tin được, là rốt cuộc thì kỹ nghệ Hoa Kỳ cũng sẽ phải chịu khuất phục mà thôi. Dù sao thì đó cũng chính là điều từng xẩy ra với các thương ước có tính cách biệt đãi như là Nafta và Cafta – cho dù nay thì các nhà bán lẻ và các nhà nhập khẩu Mỹ cũng đều cùng hối tiếc.

Trong khi đó thì ít ra, các nhà đàm phán về TPP của Việt nam vẫn đang gởi đi những tín hiệu rõ ràng. Các viên chức tại Hà Nội đã luôn luôn chú tâm vào mục tiêu tối hậu của họ, là nhằm loại bỏ các hàng rào quan thuế của Hoa Kỳ trong mong ước bành trướng cho được thương trường. Các nhà đàm phán từ Hà Nội đã nhấn mạnh là, chỉ khi quý vị thật sự cho phép chúng tôi tăng gia buôn bán trên thị trường giày dép và hàng may mặc của Hoa Kỳ, thì chúng tôi mới cũng sẽ sẵn sàng thảo luận để cho người Mỹ tham dự nhiều hơn vô các thị trường tài chính và nông nghiệp của chúng tôi. Độc giả vào một lứa tuổi nào đó thì chắc cũng có thể nhớ lại được là, trong thời chiến tranh Việt Nam, người Việt Nam – khác hẳn với người Mỹ – đã không hề bao giờ mà lại đi đàm phán để chống lại chính mình. Và dĩ nhiên, sự kém hiểu biết về những điều đơn giản nhất trong lịch sử Việt của Tổng thống Obama, mà từng bị thể hiện qua các đòi hỏi là Hà Nội phải khuất phục trước cái phiên bản Ưu tiên Đế quốc của cái thế kỷ 21 này, thì cũng đã gợi ý cho bên Việt Nam nhận chân ra là có một loại người không bao giờ biết rút được kinh nghiệm cả. ►3

Trong tháng trước, khi tôi còn ở Đông Nam Á, tôi có đến thăm các xưởng ở Việt Nam để suy nghiệm cho được một cách chính xác, là các hoạt động của họ sẽ bị ảnh hưởng ra sao trong một thế giới chuyên áp dụng quy tắc ‘yarn forward’. Tôi cũng đã nói chuyện với những người trong ngành kỹ nghệ ở Thái Lan, là liệu tiêu chuẩn ‘yarn forward’ sẽ có thể gây tổn hại cho những nhà sản xuất Mỹ, như là Hanes Brands chẳng hạn, đến một mức nào đó chăng. Và ở Hồng Kông, thì tôi cũng đã học thêm được nhiều về cách thức hoạt động của các hệ thống dây chuyền cung cấp vật liệu trên toàn cầu, nhờ một số các chuyên gia am tường nhất trên thế giới về vấn đề này – và về lý do vì sao mà các chính phủ cần phải được khuyến cáo một cách khôn ngoan là không nên can thiệp vào nội vụ. Chúng hãy ráng tiếp tục theo dõi các chi tiết liên hệ nội vụ.

(To be continued in Part II ~ Xin xem tiếp Phần II)

*****

Chú thích của người chuyển ngữ

►1

Phần 2 của Loạt 2 bài vẫn chưa được đăng trên trang Liên Mạng của Rushford http://rushfordreport.com/   (ghi nhận vào ngày 29 tháng 10 năm 2016).

►2

VC đã học được rất nhanh nghệ thuật cướp tiền xương máu nhân dân, để đem đi chi cho các nhóm người Mỹ vận động hành lang tại Quốc hội Hoa kỳ (lobbies), hay ‘mua’ cả luôn chúng để qua nằm luôn tại Việt Nam, hầu luôn luôn sẳn một bên để cố vấn cho chúng tha hồ tham nhũng.

►3

Ấy vậy, mà vẫn có người (?) khen là cái người nữ cố vấn gốc Việt về Việt Nam của Obama quá ư là tuyệt vời! Đoạn nhấn mạnh bằng màu XANH là của người chuyển ngữ.

►4

Các hình đều do người chuyển ngữ sưu tìm trên Liên Mạng để đính kèm.

 *****

 

%d bloggers like this: