Roger Canfield’s Americong #29

Comrades in Arms

How the Americong Won the War in Vietnam

Against the Common Enemy— America

Copyright Roger Canfield, Ph.D.

1986-2012

No commercial transaction allowed except that approved by the author, copyright holder.

Obtain a prepublication release of a CD-R in Microsoft Word in ENGLISH at a discounted price of $15 from Roger Canfield Rogercan@pacbell.net at 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 or at http://americong.com.

Completely SEARCHABLE for any name, date, place or event of the War and its protesters.   

Cover: Design Stephen Sherman. Photos: Roger Canfield, March 2008. TOP: War protest Hawaii, February 1966 displayed at War Remnants (Crimes) Museum, Saigon. Bottom: Praetorian Guard

Các đồng chí cùng chiến tuyến

Làm thế nào MỹCộng thắng cuộc chiến Việt Nam

Chống kẻ Thù Chung – Mỹ

Giữ bản quyền Roger Canfield, Tiến Sĩ

1986-2012

Không được sử dụng vào mục đích thương mại nếu không có sự đồng ý của Tác giả, người giữ bản quyền.

Có thể mua một tiền bản dưới dạng CD-R Microsoft Word bằng Anh ngữ với giá đặc biệt US$15 ngay từ tác giả Roger Canfield  Rogercan@pacbell.net tại 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 hay tại  http://americong.com.

Hoàn toàn có thể TRA CỨU hoặc bằng tên, bằng ngày tháng hay biến cố liên quan đến cuộc Chiến cùng cả luôn bọn tham dự biểu tình .

******************************************************

* Tác giả giữ bản quyền © Roger Canfield 1986-2012

  • Lê Bá Hùng chuyển ngữ  (với sự chấp thuận của Tác giả)

 ***************

Chương 29

Bọn Dân Biểu Đi Hà-nội

29 Tháng 9 tới 17 Tháng 10 năm

Còn nằm lại ở Prague vào ngày 16 tháng 9 năm 1967 đã có Hayden, Carol McEldowney,  Vivian Rothstein, 1950 Fruchter Norman, Rennie Davis, 1951  Robert Allen của National Guardian và John Pairman “Jock”  Brown, John Wilson, Ron Young với Stoney Cooks vì chúng đã được thông báo vào ngày 11 là đã được chọn để cho đi Hà Nội. 1952

Đám Không Được Chọn: Sol Stern, Christopher Jencks, Nhóm Quakers

Sol Stern thì muốn đi Hà Nội nhưng Hayden loại anh ta ra. Sol Stern, Christopher Jencks và nhóm Quakers cùng những tên khác thì đã từ chối ký vào một bản tuyên bố cam kết đoàn kết với Việt Cộng.  1953

Bọn Quakers Bronson Clark, Russell Johnson và Ross Flanagan đã muốn cung cấp  viện trợ y tế AFSC cho Bắc Việt như đã hứa với viên chỉ huy Việt cộng Nguyễn Thị Định, tay đứng đầu phái đoàn MTGPQG và với Phật tử Lâm Thanh Hà mà đã “nồng nhiệt ca tụng các Quakers … cái chết của Norman Morrison [bằng cách tự thiêu] (và) … các mảng bằng thạch cao … có hình của  … Nguyễn Văn Trỗi, kẻ đã cố gắng ám sát … Robert McNamara …. ” 1954

Khi tự tử bằng quẹt diêm vào xăng, tay Quaker Norman Morrison đã được nhiều người ngưởng mộ  nhưng lại là món khai vị chưa đủ cho bọn Bạn. Hà Nội bác bỏ bọn Quakers chủ hòa bởi vì họ vẫn chưa chứng minh được là biết nghe lời. Khi được đề nghị giúp đở về vật dụng chân tay giả, bọn Việt cộng đã nói là chính Mỹ mới cần học hỏi từ Bắc Việt. AFSC đã không hề cho bọn Bắc Việt biết là AFSC đã cung cấp cho Toà Bạch Ốc danh sách của tất cả các địa chỉ liên lạc của mình với MTGPQG. 1955

Tại Hà Nội thì Lâm Thanh Hà lại tố cáo là những người Quakers đã đang giúp đỡ chương trình bình định ở miền Nam. “Trường mẫu giáo ở tỉnh Quảng Ngãi cho trẻ em tị nạn của quý vị đang giúp chính quyền Sài Gòn kêu gọi người tị nạn ‘chạy trốn khỏi cộng sản’. ”  1956

Vuốt  Đuôi  Bọn Quakers Sẽ Được Đền Bù Về Sau Này

Đến năm 1970 thì AFSC sẽ phổ biến một bạch thư gần như không khác gì loại tuyên truyền của Bắc Việt 1957 về những hành vi tàn bạo của Mỹ. Sau khi được  khẩn cầu thêm, chỉ trong vòng vài tháng thì AFSC đã sẽ cung cấp $ 25.000 về penicillin và ống tiêm cho các đại diện của MTGPQG tại Phnom Penh.  1958 Đến năm 1970 thì 33 nhóm nhân đạo Hoa Kỳ đã viện trợ cho mọi bên của cuộc chiến. 1959  Trong số đó thì đã có American Friends Service Committee (Ủy ban Dịch vụ của những người bạn Mỹ)  tại Quảng Ngãi, luôn luôn tiếp tục cáo buộc chính sách man rợ của Mỹ trong khi tiếp tục chăm sóc chữa trị các bệnh truyền nhiễm, những người tàn tật do mìn, mảnh bom, lựu đạn hay mìn bẫy và phỏng cháy do nấu nướng, bom napalm hay phốt pho. 1960

 Thuyết Trình Trước Cho Đám Hayden tại Prague: Vasiljev, Chương

Để chuẩn bị cho chuyến đi Hà Nội sau Hội nghị Bratislava, Carol McEldowney đã bay tới Vienna để thu xếp vé máy bay cho Carol Brightman, kẻ từng đã có mặt tại Hà Nội vào đầu năm 1967 để điều tra về tội ác chiến tranh cho Bertram Russell, kẻ từng đề nghị phải gặp ai và phải đi những nơi nào đề xem cũng như là những gì cần phải thu thập, đặc biệt là các miểng bom và các tài liệu tuyên truyền chiến tranh tâm lý chống Mỹ.

Sau khi trở về từ Prague vào ngày 17, Ivo Vasiljev, một tay thông dịch Tiệp về  ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam, một tên mà tọn thờ Hồ Chí Minh là thần tượng và sau này đã từng biện hộ cho việc Cộng sản xuất khẩu và trục lợi người lao động Việt Nam, đã đề nghị là cả nhóm cần phải chứng kiến cho được những thị trấn chỉ còn phụ nữ  với trẻ em cùng các lữ đoàn đang xây dựng đường xá.

Tên Phạm Văn Chương, kẻ khá thông thạo Anh ngữ thuộc UCP (Ban Đối  Ngoại), Phó Chủ tịch Ủy ban Quan hệ Đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam, đã đưa ra những khuyên bảo hầu tôn trọng các thủ tục về văn hóa Việt Nam 1961  và những người khác thì lại nói rằng y đã hướng dẫn về cách tuyên truyền. Phạm Văn Chương sau đó có nói với một phái đoàn Princeton rằng phong trào phản chiến là một phần không thể tách rời trong chiến lược của Hà Nội. Chương cho biết y đã cung cấp cho các tay hoạt động tuyên truyền “thông tin mà không thể nào có được từ chính phủ Mỹ hay bất kỳ nguồn tin báo chí nào về ‘sự thật’ đối với những gì đã đang xảy ra trên đất nước Việt Nam”. Để đáp lại thì Chương  “đã nhận được thông tin cập nhật hóa về các hoạt động chống chiến tranh tại Mỹ “.  1962

Bọn Mỹ đã thảo luận về nhiều vấn đề khác có phần nào liên quan đến mối quan hệ của Hà Nội với MTGPQG, đến vụ “thảm sát bọn Trotskyites,” cũng như đến “việc Trung cộng và Liên Xô yểm trợ nhân sự và tiếp liệu cho Bắc Việt … [và] tầm quan trọng của quân đội Bắc Việt (không tập kết) ở miền Nam.”

Ivo Vasiljev đã  bảo đảm với chúng là Việt Nam từng đã được thống nhất trước khi nước ngoài can thiệp và MTGPQG và chi nhánh đảng phía Nam là hai thực thể độc lập với nhau. Bọn chóp bu phản chiến đã từng không hề chịu thảo luận về những tuyên bố gian dối thật đáng xấu hổ này ở Mỹ.

Một phái đoàn chết sống cho Hà Nội; McEldowney đã không hề có bất kỳ nghi vấn nào trên phương diện đạo đức về chế độ độc tài Hà Nội, về Cộng sản và các cuộc xâm lấn của chúng.

Carol McEldowney: Tay Tổ Chức về Cộng Đồng

Tay chuyên tổ chức về cộng đồng cho người nghèo tại Glenville ở Cleveland đã luôn luôn suy tư về chiến lược  và các chiến thuật chính trị: McEldowney đã nghi ngờ về sự hữu ích trên phương diện chính trị khi đi gặp các tù binh; đã chủ trương là bộ đội Hà Nội  ở miền Nam là không quan trọng; y thị cũng tự hỏi sẽ phải làm gì khi về nước lại; làm sao mà giao phó các trách nhiệm vụ, làm sao thiết lập các mối liên lạc; vai trò của Mỹ trong việc điều tra về tội phạm chiến tranh; làm thế nào để gom chung lại các tay chóp bu về sinh hoạt  cộng đồng với các nhóm phản chiến và làm cách nào để xây dựng các cơ sở tổ chức thường trực, làm sao duy trì liên hệ với các cán bộ, làm sao phân tích chiến lược cùng các kế hoạch đã được soạn thảo.

McEldowney đã rời Bratislava và quyết chí “làm một số công việc tuyên truyền”, có lẻ với số quân nhân Mỹ và thu những băng cho MTGPQG. Và theo Vivian Rothstein thì cũng để báo cáo cho Phạm Văn Chương với đồng bọn, rồi thi hành một số công tác nhằm “thu thập tin tức” cho chúng .  1963

Đám bộ sậu do Hayden lựa chọn tại Bratislava đã đi Bắc Việt (thông qua Prague, Beirut, Dubai, Bombay, Rangoon, Phnom Penh và Viêng Chăn) trong tinh thần “đoàn kết quốc tế giữa … các nước xã hội chủ nghĩa do Liên Xô đứng đầu.” 1964  Tom Hayden đã không những huớng dẫn  chuyến đi vòng kéo dài tới 18 ngày ở Hà Nội cùng các cuộc phỏng vấn tù binh mà lại còn thực hiện hai chương trình phát thanh trên Đài phát thanh Hà Nội và đã là nhân vật chủ chốt trong việc ba tù binh Mỹ được phóng thích.

Tại Hà Nội, Bắc Việt đã chuẩn bị kỹ lưỡng để đón tiếp đám Mỹ mà trước đó đã được Tom Hayden và tay chỉ huy quân giải phóng là mụ Định chọn lựa . Nhiều tên Việt cộng khác, chẳng hạn như Xuân Oánh, Phạm Hồng, Nguyễn Minh Vỹ, Nguyễn Trung Hiếu, Hà Thanh Lâm, Trần Văn An đã về sớm Hà Nội trước một tuần để cố gắng tiếp tục xây dựng mối quan hệ với bọn cán bộ Mỹ. Sau một chuyền đi gian nan mệt nhọc xuyên qua nhiều vùng với múi giờ cùng văn hóa khác nhau, đám Mỹ đã được chào đón nồng nhiệt bằng bông hoa tại phi trường để rồi đi theo một con đường tới một chiếc phà hầu vượt qua sông Hồng vì cầu Long Biên đang được sửa chữa sau khi bị Mỹ dội bom. “Quả thật là tuyệt diệu khi được bạn bè tiếp đón,” McEldowney đã viết như vậy.

Các ký ức sau này của Vivian Rothstein đã tả nổi sợ hãi của một thanh niên 21 tuổi phải đi phi cơ bay vào Hà Nội “xuyên qua một không hành dài 30 “foot”” mà đã được đánh dấu bằng bong bóng …

Khi tôi đi qua các hành lang vào ban đêm … Tôi nghe tiếng người nôn mữa … Không tập xẩy ra hàng ngày … Chúng tôi đã phải đội mũ an toàn… đi vào núp trong các hầm tránh bom … thực sự đáng kinh. ”  1965

Trong thực tế, trong 60 ngày từ 24 tháng 8 đến 23 tháng 10 năm 1967 đã không hề có ném bom của Mỹ trong chu vi 10 hải lý bao quanh trung tâm Hà Nội. 1966 Hồi ký chưa được chỉnh sửa thuộc thời kỳ này của McEldowney đã có nhận xét là y thị đã nhìn thấy “vài thiệt hại” và không hề nghe được tiếng máy bay Mỹ trong tất cả những lần báo động thường xuyên về không tập . 1967

Các ký ức của Rothstein  có thể đã bị bóp méo qua thời gian hay cũng có thể do các tuyên truyền của Việt cộng nào là  – bong bóng, bông hoa, dây chuyền ngà voi, rượu miễn phí, món ăn Pháp linh đình, mũ an toàn rồi thì là các hầm tránh bom. McEldowney có mô tả,

Ăn tối … đúng là một việc thật quá vui vẻ và say sưa. Đầy thực phẩm Việt Nam … với Ủy ban Hòa bình. Tôi không còn ngạc nhiên khi gặp được một người mà đã biết trước tên tôi và những gì tôi đã làm … Ăn tối thì thật là tuyệt … nâng ly uống mừng nhau và rượu thì quá là nhiều . ” 1968

Bọn Mỹ Đã Từng Là Quân Nhân . . . Mà Lại Quá Non Dại

Trong suốt 18 ngày (30 tháng 9 đến 18 tháng 10), muôn trùng tay Việt cộng phụ trách đón khách1969  đã cho bọn hoạt động chủ hòa mà đã sẳn có thiện cảm với chúng, thấy những bằng chứng được chọn lọc trước về việc không tạc của Mỹ  – bệnh viện, trường học và các nạn nhân dân sự. 1970

Khi đi thăm một trường học từng bị dội bom ở tỉnh Hà Đông, Carol McEldowney nghĩ rằng y thị biết được lý do vì sao Mỹ thả bom các trường học  – đó là những “mục tiêu ném bom tốt nhất – để phá hủy các hình ảnh tiến bộ của xã hội chủ nghĩa.”  1971 Đám tùy tùng Hayden chịu tin tất cả mọi thứ và những gì chúng  không tin thì khi trở về chúng cũng không bao giờ tiết lộ ra. Chỉ trong nhật ký riêng tư của mình mà  McEldowney mới đã bày tỏ nghi ngờ về sự thiếu “bằng chứng cụ thể về vụ dội bom x tại địa điểm y vào ngày z nào đó” và về cách làm thế nào để tìm “những phương cách độc lập hầu xác minh một số trong đám dữ liệu vĩ đại đó …”  1972

Tuyên Truyền của Hà-nội có được cải thiện khi được bọn Mỹ cộng hướng dẫn?

May mắn thay, bọn Bắc Việt đã không lặp lại cái loại tuyên truyền thô thiển mà chúng từng sử dụng ở Nam Việt  – rằng lính Mỹ giết người rối mổ gan ăn. MTGPQG ở miền Nam Việt Nam đã từng có bài viết như sau: “Bạn chắc đã có nghe về việc quân đội Mỹ-Diệm từng ăn thịt người, từng mổ bụng và cắt gan ra ăn … Các thanh niên thì thường ăn gan người … trong những bữa tiệc có khiêu vũ hay những khi đi câu cá.” 1973

Ngày 22 tháng 12 năm 1966, Ủy ban Mặt trận Giải phóng miền Nam Việt Nam phụ trách về Trung phần đã ban hành một  “tuyên bố khẩn cấp” tố cáo là Sư đoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến đã tàn sát hàng trăm phụ nữ, đã lột quần áo và cưỡng hiếp họ cho đến chết, đã cắt đầu của trẻ em mà bỏ hộp trước mặt của các bà mẹ của chúng  và mổ bụng lấy gan để ăn. John Gerassi đã cho in lại các cáo buộc này trong sách của y mà không bình luận gì.  1974  Năm 1966, Harrison Salisbury đã mô tả:

Việc tuyên truyền về các hành vi bạo tàn … vụng về và tràn đầy máu me đến mức mà tôi  không thể nào tin được các câu chuyện độc ác này … nào là mổ bụng, hiếp dâm tập thể, cố tình giết hại  các thai nhi và trẻ em mới sinh ra, ăn thịt người, thờ bái  thần linh… chặt đầu, tra tấn, đốt cháy tàn phá mặt mày … 1975

Giống đám của Hayden, một tên Salisbury có thiện cảm với VC đã không hề lặp lại tuyên truyền thô tục của  Việt cộng. Y và bọn chúng đã lọc sạch kiểm duyệt lại các tuyên truyền để tránh lộ ra các lời dối trá của Hà Nội.

Theo một câu chuyện mà Bernardo-Joseph Carbanes đã viết cho Agence France Presse vào ngày 6 tháng 10 từ Hà Nội, McEldowney và Rothstein đã nói là chúng “đến miền Bắc Việt Nam để … làm chứng cho việc Mỹ dội bom đang gây thiệt hại cho thường dân”. 1976  Bom quả đã có trúng dân thường.

Sự kiện phụ nữ và trẻ em chết trong chiến tranh thì chắc chắn là đáng tin hơn đối với khán thính giả Mỹ nếu so với các tuyên bố có tính cách mọi rợ về nạn ăn thịt đồng loại.

Hướng dẫn viên KGB: Wilfred Burchett

Ngoài các bản tin đánh đi từ Hà Nội của Agence France Presse thì có một  tin ngắn của Associated Press mô tả việc nhóm Hayden đã đến thăm và có hướng dẫn viên mà hãng ghi tên người viết đã là “AP – Hà Nội, Wilfred Burchett”.  Phần AP đã mô tả phóng viên của mình dài bằng ngay với tin tường thuật: Burchett “là một nhà báo Úc … [có] nhiều liên hệ mật thiết với Bắc Việt và Việt Cộng. Burchett gởi tin đi từ các quốc gia mà những phóng viên không cộng sản đã bị cấm hành nghề. ” 1977 AP đã biết, mặc dù Hayden cứ làm bộ  không hề biết, là Cộng sản tin cậy Burchett, cũng như là không có người Tây phương “không cộng sản” mà đã được tin cậy.

Hà Văn Lâu: Thường Dân Bị Thiệt  Mạng Vì  Những Vũ Khí  Rất  Kinh Khủng

Ngày 4 tháng 10 năm 1967, toán đã gặp Đại tá Hà Văn Lâu, tay ngoại giao của Hà Nội và theo nhật ký của McEldowney, là một thành viên của Ủy ban Trung ương Điều tra về các Tội ác Chiến tranh mà cũng là một “đảng viên quan trọng”. Chúng đã hỏi Lâu nghĩ là Mỹ sẽ dự tính và làm gì vì không tạc đã thất bại. Lâu đã trả lời  Mỹ là một đế quốc với ý định thống trị toàn cầu, bắt đầu với việc xâm chiếm miền Nam Việt Nam và xâm lược của miền Bắc Việt Nam, Lào, Campuchia và sau đó là “toàn thế giới.”. Hoa kỳ đã thất bại, đã leo thang chiến tranh cho đến tháng 8 năm 1967 khi họ đã dội bom các đường phố đông đúc dân nhất của Hà Nội.

Họ đã sử dụng các loại vũ khí khủng khiếp từng bị cấm, bom lữa napalm, magnesium, phốt pho và các hóa chất độc hại. Họ đã dội bom đi, dội bom lại  trường học, bệnh viện, nhà thờ, đê điều. “Rõ ràng thường dân đã là mục tiêu chính”  và  “Hoa Kỳ đã đang thi hành một cuộc chiến tranh diệt chủng.”  Mặc dù vậy, Hà Nội “vẫn đẩy mạnh … việc xây dựng một quốc gia theo xã hội chủ nghĩa”.

Đại tá Hà Văn Lâu nói với toán Hayden là họ phải trở về Mỹ  và “giải thích cho người dân Mỹ biết là hòa bình (ở Việt Nam) phải đi kèm với độc lập và tự do.”  1978

 Việt Nam, một Thiên Đường Xã Hội Chủ Nghĩa Lành Mạnh

Vào buổi chiều thì Phạm Văn Thu đã mô tả bằng cách nào Bắc Việt xóa bỏ được nạn dịch tả và thương hàn, đã loại bỏ các bệnh như lao, sốt rét, đau mắt hột, cùi và phát minh ra cách để tái tạo xương hai lần nhanh hơn là các phương pháp của Tây phương. Trong khi đó thì Mỹ lại đã cố tình phá hủy 127 bệnh viện. Nguyễn Văn Huyền, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Hàn Xuân Huy, hiệu trưởng của  trường Hà Phú vừa bị dội bom, đã tổ chức một cuộc họp báo với bọn Mỹ để cho chúng chứng kiến thương tật của một số trẻ em.

McEldowney đã viết trong nhật ký của y thị là, “cuộc tranh luận rất lâu sau đó liên quan đến sự kiện đứa bé (mà đã được đưa ra trình diện để nói chuyện) có đã bị tập tành và huấn luyện để trình diển đến một mức độ nào đó hay không. Cảm tưởng riêng của tôi là có thể nó không bị tập luyện trước nhưng dù sao thì cũng đã bị lợi dụng và tôi đã cũng không hề xúc động bởi việc này.” Đã không hề có bằng chứng nào là McEldowney đã từng bày tỏ những nghi ngờ như vậy về kiểu tuyên truyền của Hà Nội khi trở về lại Mỹ. 1979

Ngày 5 tháng 10 năm 1967, đoàn tùy tùng Hayden đã quan sát các thiệt hại nghiêm trọng  do không tạc khi chúng đi thăm tỉnh Nam Hà dọc theo Quốc Lộ 1, nơi mà nhật ký của McEldowney đã ghi nhận “nhiều xe vận tải Nga” và “những túp lều tranh chứa giấu thiết bị.” Tại Nam Định thì đã có được rất nhiều bằng chứng về không tạc và đã có một nhà máy chôn dưới đất với các phụ nữ trang bị với súng nhẹ, “tất cả hoàn toàn sẵn sàng để trình diển cho chúng tôi … một trong nhiều màn trình diển chuẩn bị sẳn mà chúng tôi sẽ đã gặp phải.” 1980

Các Tù Binh Được Phỏng Vấn: Baker, Carrigan, Hegdahl  

Lúc đầu, Hà Nội đã tin là các tù binh Mỹ sẽ là những con tốt dùng để tuyên truyền cũng như sẽ khã dụng cho các câu chuyện hoang tưởng của chúng về những tàn ác đã xẩy ra. Tuy nhiên, trong khi bị giam cầm và bị đối xử rất là tàn bạo và bị bỏ đói, các tù binh đã cho thấy là họ ít sẵn sàng hơn so với các tay phản  chiến, trong mục đích cung cấp những thông điệp tuyên truyền hoàn hảo như chúng muốn.

Với một bộ phim đã được thu hình trước về Giáng sinh của một tù binh, với Đại úy Glendon Perkins bị tra tấn để bắt phải chơi đại-phong-cầm, cùng với hình ảnh bị đạo diển trước về một buổi rước lể  1981  và rồi được chào đón với nào là bông hoa cùng âm nhạc, đoàn tùy tùng của Hayden đã được phép “phỏng vấn” tù nhân Mỹ gồm có Thiếu tá Elmo Clinnard Baker, Đại úy Larry E. Carrigan và Doug Hegdahl tại Phòng Biểu Diển của Đồn điền (Show Room of the Plantation).

Một trong những thông dịch viên đã là Nguyễn Văn Vỹ, một người bạn của Carol Brightman và cũng là một thành viên của đoàn tùy tùng Russell về tội ác chiến tranh.

Đã có Thiếu tá Baker, vừa mới bị bắt và hãy còn bị băng bột phân nữa cơ thể. “Chúng tôi đã được cảnh cáo … ông ta vẫn còn rất sợ hãi … Hãy đừng làm xao động tinh thần ông ta”. Tù binh Baker đã hỏi về các cuộc đàm phán hòa bình và về đợt tranh tài World Series. 1982

Tù Binh Hegdahl Lại Biểu Diễn Tuyệt Chiêu Lần Nữa

Một lần nữa Bắc Việt lại đã lựa chọn Doug Hegdahl để cho gặp nhóm của Hayden. Hegdahl chính là tay thủy thủ vui vẻ và may mắn từng rớt khỏi tàu của mình để cho VC bắt. Do tài đóng kịch tuyệt diệu của mình, anh ta đã thuyết phục được Việt cộng tin anh chỉ tiêu biểu là hình ảnh một tên Mỹ luôn vui vẻ cười nói và non dại. Chắc chắn tù binh Doug Hegdahl là một chú hề, nhưng lại không phải là loại hề mà Việt cộng nghĩ. Chúng đã thu xếp cho Hegdahl gặp ba nhóm Mỹ riêng biệt vào đầu tháng 9 và đầu tháng 10.

Sau khi bị tập dợt kỹ càng, Hegdahl cuối cùng đã được cho gặp nhóm Hayden vào 11 tháng 10. Xuất hiện trong trang phục giống như một linh mục (tựa như John “Jock” Brown hay Robert Allen), miệng thì luôn luôn lầm bầm như đang nói bá-xàm bá-láp cho riêng mình,  Hegdahl bèn nhìn phớt qua cả đám. Nhận ngay ra lập tức tên Tom Hayden là tay lãnh đạo, cũng như Phạm Văn Đồng, 1983  Hegdahl đã không thân thiện mà chào Tom Hayden bằng bàn tay phải với ngón tay giữa chìa ra. Hayden ngạc nhiên nhìn chằm chặp, lưỡng lự, mỉm cười và rồi đáp lể lại cử chỉ tục tĩu này.  1984  Một vài tháng sau đó thì chính phi hành đoàn của tàu USS Pueblo cũng sẽ nói với bọn bắt cóc Bắc hàn cử chỉ phổ biến của người Ý này là một biểu tượng đem lại may mắn theo tục lệ Hạ-uy-di!

Hegdahl đã có cảm giác là bọn phụ nữ, Carol McEldowney và Vivian Rothstein 1985 rất là đáng tởm, “Có bốn con gái mặc quần cao bồi màu xanh rách nát. Mùi cơ thể không tắm rất khó chịu tỏa đầy … Đám phụ nữ Việt phải  phục vụ chúng đều nhận ra là chúng rất đáng để phải tránh xa – ánh mắt họ lộ vẻ đầy khinh miệt ” 1986  Hegdahl có thể đã nhầm lẫn nhóm Hayden với đám  phụ nữ WSP – chỉ có hai phụ nữ trong đám đầu và họ có vẻ ăn mặc chu đáo trong các hình ảnh đương thời của nhật ký McEldowney.

Carol McEldowney đã viết trong Hanoi Journal ~Tạp chí Hà Nội  về Hegdahl là “một đứa trẻ kỳ lạ … gan lỳ nhất  … Nhiều lần anh ta đã hỏi ai đã gửi chúng tôi qua đây, ai đã tài trợ cho chúng tôi và liệu chúng tôi có phải là Cộng sản hay không … Tôi cũng chả màng tới anh ta … tới thái độ có vẻ lơ đãng của anh ta.” 1987 Sau những  lời chào và nhận xét nhau như vậy thì tù binh Hegdahl bèn lái cuộc thảo luận của nhóm vô đề tài âm nhạc của Beatles.

Sau khi khéo léo làm hết thời gian quy định trước cho cuộc gặp mặt nực cười này với những người đồng chũng Mỹ mà vốn đã được áp đặt lên đầu Hegdahl bởi bọn Cộng sản đang giam cầm anh ta cũng như là bọn Mỹ ủng hộ chúng , tù binh Hegdahl đưa cho Hayden một băng ghi âm gởi về cha mẹ mình. 1988  Băng thu của Hegdahl đã có một lời nhắn kín. Trong băng, Hegdahl đã gợi ý  cha mẹ nên đọc cuốn sách của J. Edgar Hoover về Chủ thuyết Cộng sản, Masters of Deceit.

Hayden đã phản bội niềm tin của tù binh Hegdahl, nhưng đáng kể hơn nhiều, lại không hề phản lòng tin Bắc Việt đặt nơi y và đã không bao giờ đưa băng lại cho  cha mẹ Hegdahl. 1989 Hayden chắc đã không đánh giá cao mật mã của Hegdahl cáo buộc là các kẻ Cộng sản tốt bụng bắt giữ mình đang là những tay thợ đang thực tập nghề nói láo.

Carrigan

Sau đó là Tù binh Larry Carrigan. Carol McEldowney đã viết trong nhật ký, “y đã gài chúng tôi vào thế phòng thủ, đặc biệt là Rennie (Davis), khi yêu cầu chúng tôi phải giải thích thái độ phản chiến của chúng tôi …”  Y biết chúng tôi là Cộng sản: và tôi biết nếu ở Mỹ, y sẽ là kẻ thù, một tên không quân khôn lanh từng được huấn luyện để chống cộng. Tôi thực sự thù ghét y – tôi đã thấy y chỉ là một gã trai da trắng … mà sẽ sẳn sàng để thả bom đánh xuống những người da đen nào mà tham gia bạo loạn về chủng tộc. ”

Hayden, McEldowney Làm Cố Vấn Về Kỹ Thuật Tuyên Truyền

Carol McEldowney có viết xuống nhật ký mình, “Lần đầu tiên tôi đã cảm thấy là chúng tôi đã đang bị chúng [Bắc Việt] sử dụng cho công tác tuyên truyền của chúng”, và y thị cảm thấy là quả thật Việt cộng “quá cả gan” để khai thác tù binh theo cách đó. Sau đó thì McEldowney lại không bao giờ công khai phản đối sự kiện khai thác này.

Y thị đã không hề kết luận tuyên truyền như vậy là sai, nhưng “vấn đề tù nhân không phải là một vấn đề tốt cho công tác tổ chức” của phong trào phản chiến. Nhóm Mỹ đã đồng ý “không đáng nói tới nếu nó thực sự tạo ra nhiều vấn đề quan trọng cho Ủy ban Hòa bình [Cộng sản].”

Tom Hayden cũng khuyên như vậy với Thiếu tá Bái, tay Bắc Việt được chỉ định theo hộ tống các tù binh. Hayden nói với Bái là hình ảnh của tù binh Richard Stratton cúi gục chào quá lố đã là loại tuyên truyền xấu. Ngoài ra thì các lời tuyên bố công khai của các tù binh thì lại không phải là cách người dân Mỹ bình thường hay nói. Tom Hayden đã nói với Bái là y rất nghi ngờ về các lời báo cáo của tù binh là họ được chăm sóc tốt, 1990  nhưng khi trở về, y lại đã mạnh mẽ tuyên bố là họ đã không hề bị tra tấn.

Bái đã hiểu lầm nỗ lực giúp đỡ của Hayden và trả lời rằng đám phụ nữ WSP đã có “những ý kiến ​​đúng đắn hơn”, không giống như đoàn tùy tùng Hayden. 1991 Xuân Oánh (thông thạo tiếng Anh) hiểu được ý của của Tom Hayden là chỉ nhằm nâng cao hiệu quả tuyên truyền của Bắc Việt. Khi bình luận về “tính cách không thực tế” của ngôn ngữ mà Việt cộng đã sử dụng, McEldowney viết là bằng cách tránh không dùng “loại nhận xét vô vị lỗi thời mang đầy âm hưởng tuyên truyền … tôi sẽ tạo đủ điều kiện để nói chuyện một cách thực tế hơn cho những người ở quê nhà …”  1992

Hồi Tưởng Về Hoàn Cảnh Các Tù Binh

Chỉ sau này thì John Pairman Brown mới tuyên bố mình từng bị bối rối khi ở trong các hoàn cảnh giả tạo của các lần bị thu xếp để gặp các tù binh. 1993  Vào năm 1998 thì Vivian Rothstein nhớ có gặp một số phi công, mà nhiều người thì bị thương, “Họ có trà và bánh kẹo … Chúng tôi chắc chắn rằng các phi công bình thường không bao giờ có mấy món này.” Y thị nói: “Chúng tôi đã có thảo luận rất nhiều liệu các phi công đều có nói thật không hay là họ đã bị bắt buộc làm bộ nói mà thôi (họ phản đối cuộc chiến)? ” Và ” Tôi chắc chắn họ đã nghĩ chúng tôi là những kẻ phản quốc … Chúng tôi thì không bị giam mà chính là họ. ”  1994 Đã không có bằng cớ nào cho thấy là Vivian Rothstein đã từng bày tỏ các nghi ngờ như vậy khi y thị về nước vào mùa thu năm 1967.

Rõ ràng, Việt cộng đã có được một số gián điệp tuyên truyền đáng tin cậy hơn là  các tù binh Mỹ  Hegdahl, Carrigan và Baker.

Tranh Luận Nhiều Hơn Về Vấn Đề Tuyên Truyền

Ngày 11 tháng 10, vào buổi chiều, đám Hayden đã gặp Kỳ của Hiệp hội Nhà báo để thảo luận về các ấn phẩm Cộng sản nào khả dĩ huy động được nhân dân hầu xây dựng chủ nghĩa xã hội và đánh bại kẻ thù. McEldowney đã viết rằng đó là loại tuyên truyền trong ý nghĩa giáo dục chính trị của Lê-nin; “mang lại sự thật cho quần chúng” đúng theo đường lối của đảng. Kỳ đã mô tả về các đơn vị “vũ trang tuyên truyền” nằm kề các chiến trường để “triệt tiêu tuyên truyền láo khoét của địch”.  Ngày hôm sau chúng lại gặp Hà Nội Hannah (Trinh Thị Ngô, Thu Hương, Hương Mùa Thu) tại địa điểm mà đài Tiếng nói Việt Nam tự mô tả như là “nói chuyện sự thật. ”

Nhật ký của Carol McEldowney có ghi, “Chúng tôi đã nói chuyện một lúc lâu về cách giải quyết các vấn đề khó khăn ngõ hầu thực hiện được một cách có hiệu quả việc tuyên truyền. … Chúng tôi đã cố gắng để nghĩ về một cuốn băng thu … [bọn] lính Mỹ GI có thể sẽ lắng nghe. (Chúng tôi có nghe thấy một vài băng của chúng).  Rennie (Davis) và Norm (Fruchter) thảo luận với họ về một số nội dung và vấn đề cụ thể liên quan công tác tuyên truyền của họ “. McEldowney đã viết một bài báo cho tờ Thống Nhất để rồi tự khám phá ra được “khó đến chừng nào mà viết được ‘tuyên truyền đáng tin cậy’ bằng loại Anh ngữ khả dụng.” 1995

Tối ngày 13, chúng đã gặp tụi  “Trí thức chống tội ác chiến tranh và chính sách  khủng khiếp của giặc Mỹ xâm lược (hay một tên nào khác theo kiểu đó)”  mà đã hỏi chúng về phong trào phản chiến và luôn cả cách “phối hợp giữa các phong trào da đen với phản chiến.” 1996

Phạm Văn Đồng Vinh Danh Đám Hayden là “Các Đồng Chí Cùng Chiến Tuyến”

Cao điểm của chuyến đi xẩy ra vào ngày 12 tháng 10 1997 khi chúng gặp Thủ tướng Phạm Văn Đồng.

Báo cáo Về Hiện Tình Trong Phong Trào Phản Chiến Tại  Hoa Kỳ

Theo tờ báo Cộng sản Bắc Việt Thới Mới  ngày 20 Tháng 10 thì “Bộ bảy, do Thomas Hayden dẫn đầu, đã trình cho Phạm Văn Đồng một báo cáo về hiện tình  trong phong trào phản chiến tại Hoa Kỳ.”   Chỉ ba ngày sau cuộc họp này với Phạm Văn Đồng, tờ Vietnam Courier  số 23 tháng 10 năm 1967 đã tường thuật  được với những tin tức cụ thể về tên, ngày tháng, địa điểm, các sinh hoạt và tổ chức trong phong trào phản chiến. 1998

Theo Bell và VEITH, một báo cáo điều tra về Địch Đang Đầu Độc Cán Bộ đã xác nhận, “Hình ảnh của các phong trào hòa bình đã được gửi đến Trung Ương Cục Miền Nam bởi các tổ chức chủ hòa ở Mỹ và đã được sử dụng trong các tờ truyền đơn (Thông Tin của Mặt Trận ~ NFI) và đôi khi được ngay chính người đưa tin cung cấp”. 1999

McEldowney đã viết trong nhật ký rằng y thị mong đợi để có được một thông điệp  ghi âm của lãnh đạo Hà Nội về các cuộc biểu tình dự tính vào ngày 21 tháng 10, để làm băng thu cho lính Mỹ GI và để được nói chuyện với Bộ trưởng Thông tin Hà Nội Nguyễn Minh Vỹ. 2000 Kiểu chia xẻ tin tức, chiến thuật và chiến lược này sẽ được lặp đi lặp lại trong suốt cuộc chiến tranh Việt Nam.

Rõ ràng, phong trào phản chiến đã đi nhịp nhàng ăn khớp với Hà Nội. Việc cả Bộ Ngoại giao và CIA đều cùng không phát giác được đúng là một ẩn số, nhưng có thể là do tập quán bác bỏ chủ nghĩa cộng sản như là một mối đe dọa đối với Mỹ ngay trong quốc nội lẫn quốc ngoại. Kể từ vụ Mười Tên tại Hollywood, rồi  Alger Hiss và cặp Rosenbergs, bọn theo khuynh hướng tự do đã có một truyền thống  chuyên chỉ bảo vệ cộng sản chống lại nhân viên công lực.

Bọn Mỹ từng đi Hà Nội xem ra lại đang ẩn trốn trong chốn thanh thiện bạch nhật mà mọi người đều thấy và biết chúng. 2001

Phạm Văn Đồng: “Tình Đoàn Kết Gắn Bó Các Đồng Chí Cùng Chiến Tuyến”

Thủ tướng Bắc Việt Phạm Văn Đồng đã rất hài lòng là toán Mỹ trẻ do Tom Hayden lãnh đạo đã thi hành quá tốt nhiệm vụ được giao phó.

Lòng biết ơn của Đồng đã được thể hiện rất nhiệt tình và công khai trên tờ Thới Mới và trong một “bài rất văn chương” của Carol McEldowney trên tờ Hà Nội Tạp chí ~Hanoi Journal . Đồng đã ca ngợi các “bạn bè Mỹ” của y về “Tình Đoàn Kết Gắn Bó Các Đồng Chí Cùng Chiến Tuyến” của họ bởi vì “cả người Mỹ lẫn nhân dân Việt Nam dều cùng đấu tranh cho một mục tiêu chung: chống lại cuộc chiến tranh xâm lược của chính quyền Mỹ …”  Y nói là các thành viên đi theo Hayden đã là những “chiến binh” trong cuộc đấu tranh của Bắc Việt chống lại Hoa Kỳ. Đồng đã nói,

Nhân dân Việt Nam xin gửi đến nhân dân Mỹ những tình cảm chân thật và thân thiện … về tình đoàn kết ràng buộc các đồng chí cùng chiến tuyến

Nhân dân Việt Nam rất biết ơn bạn bè của họ ở Hoa Kỳ, những người đang ủng hộ cuộc đấu tranh của họ … Chúng tôi vững tin nơi các bạn.

Các bạn là chiến sĩ của một quốc gia vĩ đại.  2002

Những lời của Đồng không chỉ là lời hùng biện chính trị  vô nghĩa.

Tên gọi “đồng chí cùng chiến tuyến ~ comrade-in-arms”  thường được dành riêng cho những kẻ mà Việt cộng đã có các quan hệ huynh đệ và bạn bè, như những đảng Cộng sản ngoại quốc  2003  và những tay đã tham gia trong các cuộc đấu tranh chính trị  ngay phía sau phòng tuyến địch và nhân đó đã có những gía  trị chiến lược trong cuộc chiến đó. Tương tự như vậy, danh từ “đấu tranh” cũng có một ý nghĩa chính xác. Hayden đã đóng một vai trò cốt yếu trong cái mà bọn chiến lược gia Bắc Việt gọi là cuộc đấu tranh chính trị , hoạt động trong lòng địch (địch vận), và xâm nhập rồi hoạt động ngay trong quân đội của đối phương (binh vận). Hoàn toàn không còn gì đề phải nghi ngờ quả Tom Hayden có thực sự là một đồng chí cùng chiến tuyến của Bắc Việt hay không và có là một điệp viên mấu chốt  trong chiến lược chính trị quân sự của chúng để áp đặt chủ nghĩa cộng sản trên toàn Việt Nam cùng toàn Đông Dương cũng như để đánh bại Hoa Kỳ.

Ngoài thông cáo báo chí chính thức đã được phê duyệt trên tờ Thới mới, nhật ký riêng của McEldowney có ghi chú là Phạm Văn Đồng đã tuyên bố với y thị và cả nhóm phản chiến,

Chúng ta phải duy trì tình đoàn kết của chúng ta. Chúng ta cần phải phối hợp cuộc đấu tranh chung ….

Quý bạn có việc làm và nhiệm vụ của quý bạn. Nếu chúng ta đều cùng làm công tác của chính mình thì chúng ta sẽ đoàn kết và nhịp nhàng  …

Chúng tôi đang tin tưởng vào sức mạnh của chúng tôi, nhưng chúng tôi cũng đặt nặng sự hỗ trợ của nhân dân toàn cầu, đặc biệt là nhân dân Mỹ. ”  2004

Bộ trưởng Thông tin Nguyễn Minh Vỹ có nói với McEldowney là tờ Thống Nhất  thường xuyên tường thuật về “sự yểm hỗ trợ quốc tế dành cho cuộc đấu tranh (vô số nguồn về bình luận, kể cả phong trào hòa bình Mỹ, các bài diển văn ở Thượng viện Hoa Kỳ cùng các bài ​​viết trên tờ National Guardian). 2005

 Đặc tính đoàn kết trong một cuộc đấu tranh chung gợi ý cho việc phối hợp về chiến lược, chiến thuật và các chủ đề tuyên truyền.

Phạm Văn Đồng đã ban cho mỗi tên một cái bông hồng và đặc biệt đã chinh phục được John Pairman Brown bằng việc gởi một bông hồng cho vợ y. Nhật ký của McEldowney có lưu ý, “Họ phủ đầu chúng tôi với đầy quà tặng tuyệt vời [Y thị có  nhận được một vòng cổ bằng ngà voi được chạm trổ, những quần lãnh đen Việt, một chiếc lược Máy Bay Mỹ làm từ kim loại của một phi cơ Mỹ bị bắn rơi cũng như là các đôi dép Hồ Chí Minh  làm từ vỏ bánh xe phi cơ và đủ loại thực phẩm thật là cầu kỳ “. 2006

Sau 18 ngày, đám Mỹ đã bị nhồi sọ kỹ lưỡng và được tay Thủ tướng Phạm Văn Đồng rất biết ơn và thân thiện của chúng tiển lên đường rời Hà Nội bằng cách  tặng mổi tên một hoa hồng .

Rennie Davis đã đau buồn khi thấy “mực độ nghiêm trọng của chiến tranh và cuộc đấu tranh đáng kinh ngạc của con người … Davis đã trở về Hoa kỳ hoàn toàn biến đổi …. Y quyết định giống như Hayden trước y, để sống toàn vẹn cho công việc phản chiến”.  2007

Tuy McEldowney đã có viết một vài chê trách trong nhật ký nhưng y thị quả đã bị chinh phục. Nguyễn Trung Hiếu là tay phụ trách đưa khách Mỹ đến Hà Nội đi vòng thăm thành phố và rồi uống rượu khuya với chúng tại Khách san Metropole. “Anh ấy là một chàng trai cực kỳ tình cảm (và hoàn toàn đáng yêu). Anh ta đã kể, có lẽ với một chút tiếc nuối … về nhu cầu tình yêu và tình bạn, đặc biệt là trong thời kỳ  chiến tranh. ” 2008

Việc tiếp xúc với kẻ thù trong thời chiến đã khuyến khích phong trào phản chiến  quyết định hành động chống lại trung tâm quyền lực quân đội ở Oakland và Washington.

Trở Về Nước: Oakland Chận Đứng Tuần Lể Quân Dịch

Ủy Ban Ngày Việt Nam (Vietnam Day Committee VDC) đã lãnh đạo Tuần Lể  Oakland Chận Đứng Quân Dịch (Oakland Stop the Draft Week) từ ngày 16 đến ngày 29 tháng 10 năm 1967. Ngày 15 tháng 10, Ủy ban Ngày Việt Nam đã tổ chức một cuộc tuần hành đông từ 7.000 đến 14.000 người biểu tình đến Căn cứ  quân đội Oakland, nhưng rồi lại quay qua biểu tình tại Provo Park ở Berkeley. Ngày hôm sau, băng xe gắn máy Angels đã tấn công người biểu tình và cảnh sát Oakland đã chận đoàn 3.000 người đang diển hành. Ngày 20 tháng 10 năm 1967, đài BBC đã tường thuật là các người biểu tình VDC đã chặn đường và ngăn chặn các xe buýt chở tân binh tới Trung tâm Induction Center của quân đội ở Oakland. Một số người biểu tình có đội mủ an toàn và trang bị khiên gỗ đã lật xe cộ và ném đá vào cảnh sát khiến 4 người bị thương. 2009

Biện lý cuộc quận Alameda dã truy tố bảy người về tội âm mưu xâm nhập bất hợp pháp và cản trở nhân viên công lực khi hành sự. Bọn 7 Tên Oakland đã là tên Mao-ít Steve Hamilton, Chủ bút của SNCC Terry Cannon, tên từng mang tã đỏ con cái của cộng sản là Bob Mandel, tay Barracker Frank chuyên cổ vũ cho MTGPQG và bình luận gia về “lãnh vực tả phái”, Jeff Segal của SDS, Mike Smith và Reese Erlich. 2010  Chúng đã bị xét xử và tuyên bố trắng án trong một phiên tòa trình diễn kéo dài tới 3 tháng.

Luật sư Charles Garry đã bào chữa với bồi thẩm đoàn: “Những thanh niên này  không có tội gì hơn cặp Rosenberg hay Morton Sobel. Chính phủ đúng ra nên gắn một huy chương cho họ vì họ đã giúp chấm dứt cuộc chiến tại Việt Nam: thay vào đó, họ đã bị truy tố về tội âm mưu. ” 2011 Garry đã sai về Sobel và cặp Rosenbergs, nhưng có lẽ bồi thẫm đoàn San Francisco của ông ta đã nhận thấy cách biện hộ vô tội bằng yếu tố liên hệ rất là thuyết phục.

 Boston Commons

Là một phần của phong trào “kháng chiến” toàn quốc chống quân dịch, ngày 16 tháng 10 năm 1967, Howard Zinn, Noam Chomsky và Nick Egleson với SDS  cũng dẫn đầu một cuộc biểu tình độ 4.000 đến 5.000 người tại Boston Commons, nơi mà 67 người đã đốt thẻ quân dịch và 214 người đã giao lại thẻ cho giáo hội để đưa cho Chưởng lý Ramsey Clark. 2012 Tại New York, 60 trong số 300 cảnh sát (marshall) tại một cuộc biểu tình Tuần Lể  Chận Đứng Quân Dịch trong tháng chạp đã là Cộng sản, theo lời Michael Zagarell, tay lãnh đạo phong trào thanh niên. 2013

*****

1950 The Worker, 27 tháng 11 năm 1967; Chicago Near North News, 9 tháng chạp năm  1967.

1951   The Worker, 27 tháng 11; Chicago Near North News, 9 tháng chạp năm 1967.

  1952  FBI, FOIA, Weather Underground. Nguồn tin chính là bản báo cáo của Đương nhiệm SAC Chicago gởi cho Giám đốc, “Foreign Influence-Weather Underground Organization,” 20 tháng 8 năm 1976, trang 68; Carol Cohen McEldowney, (Eds. Suzanne Kelley McCormack, Elizabeth R. Mock), Hanoi Journal, 1967, Amherst: University of Massachusetts Press, 2007, trang 3.

1953   Canfield phỏng vấn Sol Stern.

1954   Bronson Clark, “Quaker exchanges in Bratislava,” DG-74, Hộp 2, Bratislava, 5 tới 13 tháng 9 năm 1967, Swarthmore College Peace Collection, nêu trong sách của Hershberger, trang 131.

1955   Hershberger, trang 130.

1956   “Quaker exchanges in Bratislava,” DG-74, Hộp 2, Bratislava, 5 tới 13 tháng 9 năm 1967, Swarthmore College Peace Collection, nêu trong sách của Hershberger, trang 132.

 1957   American Friends Service Committee Indochina 1971; một bạch thư của American Friends Service Committee về những điều kiện cho hòa bình tại Đông Nam Á  [trang bìa]. American Friends Service Committee, Philadelphia. 1970, trang 30.

1958   Indochina Humanitarian Program, AFSC, Philadelphia nêu trong sách của Hershberger, trang 133.

1959  CARE, Catholic Relief Services, International Voluntary Services, the Mennonite Central Committee.

1960   http://www.pbs.org/wgbh/amex/daughter/peopleevents/e_ngos.html

1961   Carol Cohen McEldowney, (Eds. Suzanne Kelley McCormack, Elizabeth R. Mock), Hanoi Journal, 1967, Amherst: University of Massachusetts Press, 2007, trang 4-5; cũng như là Kyle Horst tại Hội nghị về Việt-nam, Texas Tech nói cho tác giả ngày 12 tháng 3 năm 2011.

1962   Zachary Ruchman, “Red Carpet,” Princeton Globe Seminar, 27 tháng 6 năm 2007.

1963   Carol Cohen McEldowney, (Eds. Suzanne Kelley McCormack, Elizabeth R. Mock), Hanoi Journal, 1967, Amherst: University of Massachusetts Press, 2007, trang 6-9, 11.

1964  Xem:  Radio Hanoi (21 tháng 8 năm 1968), và Tuyển Tập Hồ Chí Minh, Selected Works, Bộ 4, trang 220, 223.

1965   Cuộc phỏng vấn “Interview with Vivian Rothstein Student Activist, United States,” PBS/WGBH (Boston) 1998, pbs.org/wgbh/peoplescentury/episodes/youngblood/rothsteintranscriptr.html

1966   LBJ, Vantage Point, New York: Holt, Rinehart, Winston, 1971, trang 578.

1967   McEldowney, Hanoi Journal 1967, trang 27-29.      

1968   McEldowney, Hanoi Journal 1967, trang 30.

1969   Nhật ký của McEldowney ghi về bạn bè khi lưu tại Hà-nội từ 29 tháng 9 tới 17 tháng 10 năm 1967 đã liệt kê: Đông Ái, mụ Phan Thi An (Liên Hiệp Phụ Nữ), Phạm Văn Bách (Tòa Tối cao), Thiếu tá Bái (Quân đội Bắc Việt, cai quản các tù binh), Vương Nho Chiêm, BS Lê Thị Chung, Phạm Văn Đồng (Thủ tướng), Nguyễn Trung Hiếu (Ủy ban VN để bảo vệ Hòa bình Thế giới), BS Ánh Hoa, Nguyễn Đức Hạnh, Phạm Hồng (Ủy ban Hòa bình), mụ Thị Hương, mụ Thu Hương (Trịnh Thị Ngô “Hanoi Hannah”), Trần Duy Hùng, Hàn Xuân Huy, Nguyễn Văn Huyền (Bộ trưởng Giáo dục), Mụ Phạm Kim Hy, tay Kỳ (Hiệp hội Phóng viên), Trần Lâm (Voice of Vietnam), Nguyễn Đại Lôc, Đại tá Hà Văn Lâu (Ủy ban Tội Ác Chiến Tranh), tay Lý, Ngô Đức Mậu, Nguyễn Minh (Liên Hội Nghành Nghề Việt nam), Xuân Oánh, Tiên Phong, BS Quỳ, Hà Huy Tâm (thông dịch viên), Phạm Ngọc Thạch (Bộ trưởng Y Tế), Lê Trung Thành, Phạm Văn Thu, Nguyễn Thu, Vũ Ngọc Thư, Bác Tiết, Lê Đúc Tiết, Nguyễn Khoa Toàn, Đặng Thái Toàn (Ủy ban Hòa bình), Olivier Todd, Nguyễn Sĩ Trúc, John Pierre Vigier, Nguyễn Minh Vỹ (Trưởng đoàn Bắc Việt tại  Bratislava), Nguyễn Văn Vỹ và Lê Vy.

1970  Hayden, Reunion,

1971   McEldowney, Hanoi Journal 1967, trang 36-7.

1972   Carol Cohen McEldowney, (Eds. Suzanne Kelley McCormack, Elizabeth R. Mock), Hanoi Journal, 1967, Amherst: University of Massachusetts Press, 2007, trang 59.

1973  Chế Văn Viên, “Sparkling Fires in the South,” trong sách của Douglas Pike, Viet Cong…, trang 438.

1974   John Gerassi, North Vietnam: a Documentary, Indianapolis: Bobbs, 1968, trang 148-9.

1975  Salisbury, Behind the Lines, trang 146.

1976  Bernardo-Joseph Carbanes, Agence France Presse, Paris AFP bằng Anh ngữ, 12:16 GMT, 5 tháng 10 năm 1967.

1977  A.P., “U.S. Antiwar Group Cites Hanoi Resolve,” bản tin A.P. gởi đi bởi Wilfred Burchett, không đề ngày tháng nhưng được cắt giữ trong thời kỳ đó.

1978   McEldowney, Hanoi Journal 1967, trang 49-52.

1979   Carol Cohen McEldowney, (Eds. Suzanne Kelley McCormack, Elizabeth R. Mock), Hanoi Journal, 1967, Amherst: University of Massachusetts Press, 2007, trang 52-4.

1980   McEldowney, Hanoi Journal 1967, trang 62-3.

1981   Rochester  và  Frederick Kiley, Honor Bound, American Prisoners of War in Southeast Asia 1961-1973, Annapolis: Naval Institute Press,  1999, trang  396.

1982   Carol Cohen McEldowney, (Eds. Suzanne Kelley McCormack, Elizabeth R. Mock), Hanoi Journal, 1967, Amherst: University of Massachusetts Press,  2007,  xxxii,  trang 73, 92.

1983  Thời Mới, 20 tháng 10 năm 1967.

1984  Scott Blakey, Prisoner of War:  The Survival of Commander Richard A. Stratton (N.Y.:  Doubleday, 1978), trang 196-197; Hubbell, POW, trang 354-355.

1985   Hạ viện, Ủy ban Committee on Internal Security, Investigation of Students for a Democratic Society, Phần  7-A, trang 9-11, 16 tháng chạp năm 1969, Phụ đính A, Tang chứng số 3 của Ủy ban , trang 2321.

1986   Steven V. Roberts, “Two ex-POWs: Their Clashing Views Reflect Generation Gap,” New York Times 23:11:50, 1973; Eugene McDaniel và  James L. Johnson. Before Honor, Philadelphia: A.J. Holman, 1975, trang 87-88; John G. Hubbell, P.O.W.: A Definitive History of the American Prisoner-of War Experience in Vietnam, 1964-1973, New York: Readers Digest Press, 1976, trang 354-5 nêu trong sách của Craig Howes, Voices of the Vietnam POWs, New York: Oxford University Press, 1993, trang 155 ghi chú 162.

1987   Carol Cohen McEldowney, (Eds. Suzanne Kelley McCormack, Elizabeth R. Mock), Hanoi Journal, 1967, Amherst: University of Massachusetts Press,  2007, xxxii,  trang  93.

1988   Carol Cohen McEldowney, (Eds. Suzanne Kelley McCormack, Elizabeth R. Mock), Hanoi Journal, 1967, Amherst: University of Massachusetts Press,  2007,

1989  Carol Cohen McEldowney, (Eds. Suzanne Kelley McCormack, Elizabeth R. Mock), Hanoi Journal, 1967, Amherst: University of Massachusetts Press, 2007, trang  93; Hegdahl in Santoli, Bear Any Burden pp. ; Hubbell, POW,  trang  354-355.

1990  Carol Cohen McEldowney, (Eds. Suzanne Kelley McCormack, Elizabeth R. Mock), Hanoi Journal, 1967,  Amherst: University of Massachusetts Press,  2007, trang  99.

1991   Carol Cohen McEldowney, (Eds. Suzanne Kelley McCormack, Elizabeth R. Mock), Hanoi Journal, 1967, Amherst: University of Massachusetts Press, 2007,  xxxii,  trang  94-5.

1992   McEldowney, Hanoi Journal 1967, trang  32.

1993   James W. Clinton phỏng vấn John Pairman Brown, 13 tháng 11 năm 1990 trong sách của James W. Clinton, The Loyal Opposition: Americans in North Vietnam, 1965-1972,  Niwot: University Press of Colorado,  1995, trang  114-5.

1994   “Interview with Vivian Rothstein Student Activist, United States,” PBS/WGBH (Boston) 1998, pbs.org/wgbh/peoplescentury/episodes/youngblood/rothsteintranscript.html

1995   Carol Cohen McEldowney, (Eds. Suzanne Kelley McCormack, Elizabeth R. Mock), Hanoi Journal, 1967, Amherst: University of Massachusetts Press,  2007, trang 101.

1996   Carol Cohen McEldowney, (Eds. Suzanne Kelley McCormack, Elizabeth R. Mock), Hanoi Journal, 1967, Amherst: University of Massachusetts Press,  2007,  trang 83-89.

1997  CIA, hồ sơ EO-2000-00054, “International Connections of Peace Groups,” 15 tháng 11 năm 1967, trang 28.

1998  “By Protesting Against the U.S. War in Viet Nam, the American People Struggle for Justice,” Vietnam Courier (Hà-nội, 23 tháng 10 năm 1967).

1999   Bell và Veith

2000   McEldowney, Hanoi Journal,  trang 25.

2001   Ann Coulter, Treason,  rải rác trong toàn tác phẫm

2002  Thời Mới nêu ra bởi Bernard-Joseph Carbanes trong một bản tin của Agence France Presse ngày 20 tháng 10 năm 1967 gởi đi từ Hà-nội, phần nhấn mạnh được  phụ thêm; Paris AFP bằng Anh ngữ, 1400 GMT, 30 tháng 10 năm 1967; McEldowney, Hanoi Journal, trang 89-91.

2003  Ví dụ, Hồ Chí Minh đã nhắc đến bọn Cuba như là những “đồng chí cùng chiến tuyến ~ comrades in arms” trong một bài nói ca ngơi chúng vào ngày 2 tháng 11 năm 1966. Đọc:  “Speech in Honor of Cuban President Osvaldo Dorticos,” trong sách của  Bernard Fall (ed.), trang 347.

2004   Carol Cohen McEldowney, (Eds. Suzanne Kelley McCormack, Elizabeth R. Mock), Hanoi Journal, 1967, Amherst: University of Massachusetts Press,  2007, trang  90-1.

2005   Carol Cohen McEldowney, (Eds. Suzanne Kelley McCormack, Elizabeth R. Mock), Hanoi Journal, 1967, Amherst: University of Massachusetts Press,  2007,  trang 72.

2006   Carol Cohen McEldowney, (Eds. Suzanne Kelley McCormack, Elizabeth R. Mock), Hanoi Journal, 1967, Amherst: University of Massachusetts Press,  2007, trang 26, 101,  110.

2007  Gitlen, trang 264.

2008   Carol Cohen McEldowney, (Eds. Suzanne Kelley McCormack, Elizabeth R. Mock), Hanoi Journal, 1967,  Amherst: University of Massachusetts Press,  2007, trang 42.

2009   BBC, 20 tháng 10 năm 1967.

2010   W.J. Rorabaugh, Berkeley At War-The 1960s, Oxford, 1989, trang 119;  Seth Rosenfeld,  “Anti-War activist Steve Hamilton dies,”  SF chronicle,  30 tháng 3 năm  2009.

2011   Realist,  số  85,  tháng  chạp  năm 1968  tại  http://www.ep.tc/realistmonthissues/02.html.

2012   FBI, FOIA, Howard Zinn nêu ra truyền đơn  “Resist October 16”; truyền đơn   “Faculty for the Resistance,” Boston Globe,  15 tháng 10 năm 1967; “67 Burn Draft Cards in Boston…” Boston Globe, 17 tháng 10 năm 1967.

2013  “U.S. Reds Claim Role in Campus Uprisings,” Los Angeles Times, 5 tháng 7 năm  1968.   

*****

Một phản hồi to “Roger Canfield’s Americong #29”

Trackbacks/Pingbacks

  1. Giới thiệu tác phẩm AMERICONG (MỸ-CỘNG) – Lê Bá Hùng | Ngoclinhvugia's Blog - 05/01/2016

    […] Roger Canfield’s Americong #29 […]

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: