Roger Canfield’s Americong #9

Comrades in Arms

How the Americong Won the War in Vietnam

Against the Common Enemy— America

Copyright Roger Canfield, Ph.D.

1986-2012

No commercial transaction allowed except that approved by the author, copy right holder.

Obtain a prepublication release of a CD-R in Microsoft Word in ENGLISH at a discounted price of $15 from Roger Canfield Rogercan@pacbell.net at 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 or at http://americong.com.

Completely SEARCHABLE for any name, date, place or event of the War and its protesters.   

Cover: Design Stephen Sherman. Photos: Roger Canfield, March 2008. TOP: War protestHawaii, February 1966 displayed at War Remnants (Crimes) Museum,Saigon. Bottom: Praetorian Guard

Các đồng chí cùng chiến tuyến

Làm thế nào MỹCộng thắng cuộc chiến Việt Nam

Chống kẻ Thù Chung – Mỹ

Giữ bản quyền Roger Canfield, Tiến Sĩ

1986-2012

Không được sử dụng vào mục đích thương mại nếu không có sự đồng ý của Tác giả, người giữ bản quyền.

 

Có thể mua một tiền bản dưới dạng CD-R Microsoft Word bằng Anh ngữ với giá đặc biệt US$15 ngay từ tác giả Roger Canfield  Rogercan@pacbell.net tại 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 hay tại  http://americong.com.

 

Hoàn toàn có thể TRA CỨU hoặc bằng tên, bằng ngày tháng hay biến cố liên quan đến cuộc Chiến cùng cả luôn bọn tham dự biểu tình .

 

******************************************************

* Tác giả giữ bản quyền © Roger Canfield 1986-2012

  • Lê Bá Hùng chuyển ngữ  (với sự chấp thuận của Tác giả)

Chương 9

 Cánh Tả Đoàn Kết Lại  ~  Bọn Chính Trị Gia Bất Mãn

 CIA Hoàn Toàn Không Biết Gì – Tháng 11 Năm 1965

*****

Thống Nhất Lại các Cố Gắng Phản Chiến – Khắp Thế Giới

Tiếp tục mãi cho tới cuối năm 1965, phong trào phản chiến đã bắt đầu thống nhất hóa nỗ lực ở Mỹ và khắp thế giới bằng cách sử dụng chung những ngày tháng và chủ đề để tăng cường ảnh hưởng cùng hiệu quả . Tháng 9 năm 1965, ở Bloomington và Indiana,  Hội đồng Quốc gia của SDS đã bảo trợ cho “Ngày Phản đối Quốc tế ” tổ chức vào ngày 15 tháng 10 và đã đề nghị nên tổ chức những cuộc phản đối chiến tranh tại các địa phương .  1207 Các nhóm phản chiến vẫn còn tạo ra được những thành công mới.

Tới tháng 10 năm 1965 thì đã có các cuộc biểu tình phản chiến trên toàn quốc khắp 1,000 thành phố. Như chúng ta đã thấy, Ủy ban Ngày Việt Nam (Vietnam Day Committee VDC), đã là lực lượng tổ chức chính trên toàn quốc cho Những Ngày Quốc tế để Phản đối ( International Days of Protest ) trong tháng 10 năm 1965.

Hình: International Days of Protest, tháng 10 năm 1967, Viện Bảo Tàng Hilton, Roger Canfield, tháng 3 năm 2008

Tại New York vào ngày 16 tháng 10 năm 1965, khoảng 20.000 người đã đi dọc Fifth Avenue và đã bị “ném trứng, đấm đá bởi những người phản biểu tình hay còn bị xịt đầy sơn đỏ.”  1208

Ngày 21 tháng 11 năm 1965 tại Oakland, một số người yêu nước đã chen vô được đoàn diển hành của VDC, mang theo biểu ngữ viết tay “Chiến thắng tại Việt Nam” và “Dẹp Bỏ VDC” .  1209

Cùng Những Bảng Hiệu, Những Ký Hiệu và Cách Tường Thuật Báo Chí

Một bức ảnh đương thời cho thấy đám đông VDC cùng mang những bảng hiệu nghiệp đoàn in sẳn với cùng nội dung , “Vũ khí không có thể thắng Nhân dân,” và “Hãy Đàm phán với Mặt Trận Giải Phóng Quốc Gia”  1210 Các biểu ngữ , các cờ xí, các khẩu hiệu y hệt nhau quả đúng là kiểu biểu tình của cộng sản. Cuộc diễn hành trên Fifth Avenue vào mùa xuân năm 1966 cũng đã là những chứng tích giống hệt với một cuộc diễn hành Mayday Cộng sản vào năm 1965 tại Brussels. 1211

Vào mùa xuân năm 1967,  các tù binh chiến tranh Dick Brunhaver, Phil Butler và những người khác tại Sở Thú  1212  đã bị bắt xem bộ phim tuyên truyền của Jerry Stoll là “Các con trai và con gái (Sons and Daughters) “, về các cuộc biểu tình phản kháng năm 1965 tại căn cứ quân đội Oakland. Jerry Rubin và Dave Dellinger thì lên tiếng , bọn biểu tình thì bị nguyền rủa, người Việt  thì tiếp tục chết và Grateful Dead cùng Jimmy Hendricks thì vẫn hát ca.  1213

Cho tới tháng 11 năm 1965, cảnh sát tại các địa phương đã sẽ phải bảo vệ các cuộc tuần hành của VDC để họ khỏi bị tấn công, 1214  một kiểu mô hình bảo vệ mà bọn cảnh sát “áp chế” trong nước đã thi hành suốt  thời chiến tranh Việt Nam. Trong toán thời chiến, chính quyền “không phản ứng để ngăn chặn, để đè bẹp các quyền tự do quy định trong hiến pháp nhưng lại bảo đảm và tạo điều kiện cho những quyền này được bày tỏ.”  1215

Bên cạnh sự kiện các dấu hiệu và khẩu hiệu đều giống hệt nhau, đã có những bằng chứng khác cho thấy tính cách đồng nhất toàn cầu của chương trình tổ chức. CIA khám phá ra là báo chí Cộng sản Châu Âu đã tường thuật rât nhiều về các cuộc biểu tình của các Ủy ban Ngày Việt Nam (Vietnam Day Committees)  ở các địa phương khác nhau, chẳng hạn như Swedish Vietnam Committee đã bị “Cộng sản thâm nhập vào” ,  Norwegian Women’s Federation  đã là một “mặt trận Cộng sản”, “bốn nhóm tả phái và cộng sản”  ở Đan-mạch, Đảng Cộng sản Thụy Sĩ, Đảng Cộng sản Áo, “Tổ chức Thanh niên Cộng sản cho Giới Trẻ Dân Chủ”  (Communist youth organization of Free Democratic Youth)  ở Tây Bá Linh, và một “mặt trận Cộng sản” tên là Rome University Committee for International Vietnam Day.  Gần như hoàn toàn không có biểu tình phản đối ở Á châu, Phi châu và Châu Mỹ La-tinh. 1216

Vào ngày 15 tháng 10 năm 1965, tờ Daily Californian  của sinh viên  tại đại học UC, Berkeley tường thuật một tin nhắn từ Việt Nam nói rằng, “những nỗ lực chung của chúng tôi  – National Student Union và Vietnam Youth Federation sẽ buộc Chính phủ Hoa Kỳ phải chấm dứt  … (các hành vi tội phạm chiến tranh).”  1217  Tờ Nhân dân ngày 16 tháng 10 năm 1965 nói rằng việc đấu tranh tại Việt Nam nhằm chống xâm lược  Mỹ và các cuộc biểu tình phản chiến đều cùng mục đích. 1218 Tờ Daily Californian của UC Berkeley và tờ Nhân Dân của Hà Nội cùng đồng ý về một cuộc đấu tranh chung chống lại kẻ thù chung.

Ấn bản ngày 18 tháng 10 năm 1965 của Izvestia tại Moscow cáo buộc đang có một chiến dịch “truy tìm phù thủy mới” để uy hiếp những người phản chiến. Bọn  cộng sản Tiệp lặp y chang lại lời quan thày của chúng và công bố đang có một “sự gia tăng khủng bố ” ở Mỹ. Tờ báo giới trẻ Ba Lan, Sztandar Mlodych đã viết rằng các cuộc biểu tình có thể sẽ buộc Mỹ phải chấm dứt hành vi xâm lược và bắt đầu đàm phán. Tờ People’s Daily  của Bắc Kinh tuyên bố là đang có một làn sóng biểu tình ngày càng gia tăng .

Seymour Topping, một phóng viên về châu Á đã viết từ Hong Kong là Cộng sản châu Á nói rằng họ đang

biết ơn sâu sắc’ về những cuộc biểu tình tại Hoa Kỳ … Cộng sản hy vọng chiến thắng … chuyên chú hơn về việc rút quân Mỹ kiệt sức hay áp lực của công luận chứ không phải là … chiến thắng quân sự . “   1219

Hình: Cuộc Biểu Tình tại Hoa-Thịnh-Đốn, tháng 11 năm 1965, Viện Bảo Tàng Hilton Hà Nội, Roger Canfield, tháng 3 năm 2008

Các Chính Trị Gia Mỹ Phản Ứng

Việc phối hợp nhịp nhàng những nỗ lực chung toàn cầu này là một bước nhảy vọt từ các hoạt động chống chiến tranh lẻ tẻ của trước năm 1964.

• Các dân cử và các viên chức chính quyền do họ bổ nhiệm đều rất bất mãn. Kể từ tháng 4 năm 1965, tình hình đã rõ ràng để các chính trị gia giàu kinh nghiệm, khác với các tay thư lại CIA, nhận được rằng đang có những tổ chức chính trị không bình thường đang hoạt động. Không phải tất cả mọi việc đều có thể gây ra chỉ do các nỗ lực tài tử của đám đứa trẻ ở VDC và SDS.

• Ngày 13 tháng 10 năm 1965 Thượng nghị sĩ Thomas Dodd, Dân chủ – bang Connecticut, công bố một phúc trình của Tiểu ban An ninh Nội bộ Thượng viện (Senate Internal Security Sub-committee) cho thấy là thành phần ôn hòa trong phong trào phản chiến đã thua “bọn Cộng sản và các phần tử cực đoan mà rất công khai binh vực Việt Cộng “.  1220

• Ngày 16 tháng 10 năm 1965, Chưởng lý Hoa Kỳ Nicolas B. Katzenbach đã công bố cuộc điều tra về ảnh hưởng  của “một số Cộng Sản” trong phong trào phản chiến và trong SDS, tập trung vào phong trào chống quân dịch.  1221
• Công Tố Viện quận Chicago đã cảm thấy là SDS có thể đang phản quốc và Thượng nghị sĩ Everett Dirksen yêu cầu một cuộc điều tra về SDS.  1222
• Bộ trưởng Ngoại giao Dean Rusk đã tin là cánh tả khuyến khích Hà Nội, Bắc Kinh và Moscow để tin rằng người dân Mỹ không hỗ trợ quân đội Mỹ.

Những Người Khuynh Hướng Xã Hội Dân Chủ Chối Bỏ SDS

Những người thuộc khuynh Hướng Xã Hội Dân Chủ đã bừng tỉnh và tấn công lại sớm hơn là ngay cả chính phủ Mỹ.

Trong tháng 10 năm 1965, Liên đoàn Dân chủ Kỹ Nghệ (League for Industrial Democracy LID) mà đã từng đẻ ra và nuôi dưỡng SDS về phương diện tài chính trong  5 năm đầy phiền nhiễu, đã đuổi SDS ra khỏi văn phòng của mình. Đối với tổ chức LID theo khuynh hướng xã hội chủ nghĩa, thì rõ ràng là những gì họ từng lo sợ tại hội nghị ra mắt vào năm 1962 tại Port Huron đã trở thành hiện thực. SDS nay đã là một tổ chức xã hội cộng sản độc tài toàn trị. Khi chấp nhận Cộng sản thì tức thời mọi tổ chức sẽ đi vào con đường tự diệt.

Ngay cả tờ báo tự do New Republic cũng đã có bài bình luận về  “sự thờ ơ với mối hiểm họa cộng sản” của SDS.   1223

Các Hoạt Động Về Vấn Đề Quân Dịch của SDS

Trong tháng 6 năm 1965, Đại hội SDS đã đề nghị phải có một quyết định về vấn đề chống quân dịch. Tới mùa thu năm 1965, Paul Booth ở Oakland đã đề xuất việc làm tắc nghẽn hệ thống quân dịch bằng cách ghi danh theo tiêu chuẩn Kẻ  phản đối vì lý do lương tâm. Một tên khác của SDS Oakland, Bill Vandercock đề xuất các nhóm “Cảm Tử vì Hoà Bình – Peace Commando Squads” để ngăn chặn các đoàn tàu chuyển quân và tiếp liệu , như một số SDS đã thực hiện một năm trước đó. Những hành vi chống quân dịch và chống tiếp trợ quân sự và quân nhân  đã thu hút sự chú ý đặc biệt đến SDS cũng như phong trào chống chiến tranh nói chung.

Vào tháng 10 năm 1965, SDS gửi phiếu trưng cầu về vấn đề chống quân dịch đến 10.000 “thành viên” . Khi bị báo chí cật vấn, Paul Booth đã thú nhận ngôn từ trong cuộc trưng cầu của SDS đã gồm luôn cả đề nghị của y là để “làm tắc nghẽn hệ thống [quân dịch] ” với cách ghi danh theo tiêu chuẩn Người Phản Đối vì Lương Tâm. Tới 16 tháng 11, Paul Booth tiết lộ rằng cuộc bỏ phiếu giữa các thành viên SDS đã là 266-230 chống lại quân dịch mà khã dỉ có thể khiến các người vi phạm bị tới 5 năm tù giam và phạt tiền 10.000 $. Chủ nghĩa cấp tiến thì cũng chỉ là cho vui thôi nếu không có gì là rủi ro.

Trong thực tế, 75% số người dưới 30 tuổi đã ủng hộ chiến tranh ở Việt Nam vào  tháng 11 năm 1965.  1224

Không những cuộc bỏ phiếu đã đi ngược lại quan điểm của giới lãnh đạo SDS mà ngay việc đáp ứng rất ít của các thành viên khi trả lời về cuộc khảo sát đã gây lúng túng cho một tổ chức mà đã từng tuyên bố phát minh ra được nền “dân chủ có tham dự” .

Bất kể sự phản đối lúc đó, cũng phải chờ đến mãi  hai năm nữa (tháng 2 năm 1968) trước khi Giám đốc FBI J. Edgar Hoover với chương trình “dụ bọn đỏ”, đã công khai báo cáo sự hợp tác chặt chẽ giữa SDS và các Câu lạc bộ DuBois về việc chống quân dịch.

CIA Báo Cáo là Không Có Gì Đáng Lo

Đối với CIA thì luôn luôn họ hoàn toàn không có được một manh mối nào và vẫn luôn luôn như sống trên mây.

Một báo cáo của CIA đưa ý kiến là bọn Việt thiếu “tinh tế” về công luận Mỹ và đã tỏ ra tự mãn. 1225  Không hề lưu tâm đến công luận Mỹ và về sự kiện dân đang bị lũng đoạn ngay trong nước, CIA đã dành hẳn một báo cáo thứ hai về việc phản chiến ở những nơi khác trên thế giới:

Nói chung, các cuộc biểu tình chống lại chính sách của Hoa Kỳ  tại Việt Nam ở nước ngoài trong ngày 15 16 tháng 10 năm 1965 đã không rộng lớn như được dự đoán. Ở Tây Âu … số người tham dự rất là ít. Ở châu Mỹ La tinh, đáp ứng rất là  tối thiểu, và  hầu như không có gì ở châu Á và châu Phi. Không có biểu tình nào đã được báo cáo từ các nước Cộng sản. “ 1226

Báo cáo của CIA đã ghi nhận sự hiện diện đông đảo của “cánh tả” và việc Cộng sản tài trợ và hỗ trợ các cuộc biểu tình chống chiến tranh, cũng như yểm trợ bọn chủ trương hòa bình, đặc biệt ở những nơi như London, Toronto, Stockholm, Copenhagen, Oslo, Brussels, Zurich, Rome, Paris, Santiago, và Georgetown (BG). Tuy nhiên, không hiểu sao báo cáo tháng chạp năm 1966 của CIA lại lặp đi lặp lại nhiều lần rằng sự kiện con số thấp cử tri đi bầu  ở khắp mọi nơi trên toàn cầu đã chứng minh rằng sức thu hút của Ủy ban Ngày Việt Nam trên toàn thế giới đã thất bại.  1227

Bất kể sự kiện cử tri đi bầu thấp, ” Báo chí Cộng sản lại đã tường trình rất  ồn ào như được dự đoán về các cuộc biểu tình ở Mỹ”.  1228  Thật vậy, Trung Cộng , Bắc Việt và Bắc Hàn  “đã chơi trò tuyên truyền ầm ỹ về các cuộc biểu tình … để phổ biến … ý niệm là phong trào đối kháng ngày càng gia tăng trong công chúng Mỹ và chính quyền Washington.”  Không màng đến việc tường thuật của báo chí cộng sản, báo cáo của CIA kết luận là đã “không có một chủ đề được phối hợp “. Trong thực tế, các cuộc biểu tình đều đã được phối hợp thông qua Uỷ ban Ngày Việt Nam và mạng lưới cộng sản quốc tế và đã có một số chủ đề chung  – tội phạm chiến tranh, áp bức. Thật vậy, sự phối hợp có thể được mô tả như là “gọn gàng” y như Bill Rood đã từng mô tả.

Báo cáo của CIA đã trích dẫn Moscow gọi các cuộc biểu tình là  “một sự kiện quan trọng” và chỉ trích Hoa-thịnh-đốn đã thi hành “chiến thuật hăm dọa” cùng “săn tìm phù thủy” chống lại người biểu tình.  1229  Ngoài ra thì báo cáo của CIA không ghi nhận việc gì bất thường trong nhận xét từ Moscow. Bản báo cáo cộng sản thì ,

Tầm mức mạnh mẽ và rộng lớn của các cuộc biểu tình  hàng triệu người … đã làm dấy lên mối quan ngại nghiêm trọng trong các giới cầm quyềnNhà cầm quyền đã bắt đầu một chiến dịch đàn áp rộng lớn chống lại … các cuộc biểu tình phản chiến  … Tổng thống hoàn toàn chấp thuận các biện pháp do Bộ pháp soạn thảo

Và CIA bằng cách nào đó đã kết luận, “rất khó để … tin là … các cuộc biểu tình phản chiến mới nhất đã bị kích động bởi Cộng sản.” Tuy vậy, sự quan tâm sâu đậm của cộng sản về các cuộc biểu tình đã cho thấy họ đang tích cực khuyến khích sự vi6ẹc này. Số Izvestia ngày 18 tháng 10 cho biết, “Washington lo sợ phong trào phản chiến sẽ bành trướng hơn nữa.” Tiệp Khắc thì lưu ý việc “gia tăng về khủng bố ” và “Johnson đang nghiêng về phe hữu.”  Nhân dân Nhật báo loan tin người dân Mỹ đã đang “bất chấp lựu đạn cay” để kết thúc “cuộc chiến tranh xâm lược ở Việt Nam.”  1230

Hà Nội Hài Lòng về Các Cuộc Phản Đối

Trái ngược với quan điểm lạc quan của CIA là đã không có ảnh hưởng của cộng sản, Hà Nội lại đề cao “các cuộc tụ họp để hành động với quy mô lớn được tổ chức xuyên bờ biển này đến bên kia bờ biển”. Hồ Chí Minh đã viết cho Tiến sĩ Benjamin Spock,  1231 một tên chuyên viên tham gia các mặt trận Cộng sản và tay Giáo sư Stuart Hughes, để “nồng nhiệt hoan nghênh cuộc đấu tranh của nhân dân Mỹ hầu kết thúc ngay lập tức của chiến tranh lầm lỗi của Chính phủ Hoa Kỳ khi xâm lược Việt Nam …” 1232   Moscow đã tán dương sự phản đối của Thượng nghị sĩ Jacob Javit về cuộc chiến tranh cùng những lời chỉ trích đối với Tổng thống Johnson.  1233

Và từ Hà Nội, ngược lại với thái độ cận thị và mù lòa của CIA, vào ngày 24 Tháng Mười năm 1965 đã có một tuyên bố là một “mặt trận thống nhất đã thực sự được hình thành giữa người Việt và người Mỹ.”  1234  Thật vậy, một mặt trận thống nhất toàn cầu đã được tổ chức mà không dính líu gì tới số “thanh niên hăng say”, cái định nghĩa theo lối suy diển với trình độ chỉ cở sinh viên năm thứ hai đại học mà các tay viết phúc trình làm việc cho CIA đã có.

CIA đã không thấy trước được đoàn tàu mặt trận thống nhất sẽ rời nhà ga và một số tên hoạt động cho hòa bình cũng chưa vội nhảy lên tàu.

Không Có “Kooks, Cộng sản hay Trốn Lính”

Buổi Diễn Hành của SANE tại Hoa Thịnh Đốn – Tháng 11 năm 1965

SANE đã trở thành những vấn đề thực sự cho SDS và phe cực tả.

Sanford Gottlieb, người tổ chức của SANE, cho biết ông đã không muốn có “Kooks, Cộng sản, hay Bọn trốn quân dịch”  trong đoàn diển hành của ông. SANE của Gottlieb đã từ chối sự bảo trợ của Robert Moses, Staughton Lynd và tay từng nhận giải thưởng Hòa bình Lê-nin là Linus Pauling. 1235   Gottlieb chủ trương  nhân dân Việt Nam đã là nạn nhân của cả hai bên và kêu gọi cả hai bên cùng chấp nhận một lệnh ngừng bắn và một giải pháp quốc tế. Gottlieb yêu cầu Hồ Chí Minh “đáp ứng thuận lợi để mở các cuộc đàm phán hòa bình ngay lập tức” mà không đòi hỏi Hoa Kỳ phải rút quân trước . 1236 Trong các vòng đàm phán bí mật, Hà Nội đã bác bỏ một lệnh ngừng bắn và đòi hỏi việc thống nhất hoàn toàn đất nước Việt Nam.

Cuộc diễn hành vào tháng 11 của SANE cuối cùng đã đạt được sự hỗ trợ của CORE, SNCC, WILPF, WSP, DuBois, Phong trào thứ 2 của tháng 5 (May 2nd Movement)  và Ủy ban viện trợ cho Mặt Trận Giải Phóng Quốc Gia, Việt Cộng (Committee to Aid the NFL, Viet Cong) của Walter Teague . Các người Mỹ nôi tiếng mà đã hỗ trợ cho tổ chức không Cộng sản SANE đã gồm có Jules Feiffer, Nathan Glazer, Harold Taylor, Lorreta King, Norman Thomas, James Farmer, Carl Oglesby, Nat Hentoff, W.H. Ferry, Tony Randall và Dagmar Wilson.  1237

Ủy Ban Điều Hợp Quốc Gia ( National Coordinating Committee NCC)

Bắt đầu lộ diện ra là Ủy Ban Điều Hợp Quốc Gia (National Coordinating Committee, NCC), sản phẫm của chiến lược về một mặt trận thống nhất từ các nỗ lực kết hợp của Uỷ ban Ngày Việt Nam (Vietnam Day Committee) và SDS và Ủy ban đã họp trước khi có cuộc biểu tình của SANE. Theo sử học gia và cũng là  thành viên SDS James Miller, “Bọn giáo điều Mác-Leninists  tái sinh đã bung ra với tòan thực lực   – có đủ Trotskyites, Maoists, Castroites, thậm chí ngay cả một số người cộng sản lỗi thời.”  1238

Thêm Nhiều Tín Hiệu Tương Tự

Tại một địa bàn vững chắc là Brooklyn, vào ngày 20 năm 1965 Hà Nội đã có được 10.000 người Mỹ đi biểu tình. Trong số những người biểu tình đã có một người đàn ông 84 tuổi cầm một bảng hiệu “Con tôi đã chết vô ích. Đừng chiến đấu. Hãy chịu đi tù.”  1239 kỳ diệu thay cũng cùng trong ngày ở Berkeley:      ” Ngày 20 tháng 11 năm 1965, hơn 10.000 người đã biểu tình đi từ Berkeley đến Oakland. Dẫn đầu nhóm là người phụ nữ 84 tuổi ngồi trên một chiếc xe lăn cầm một bảng hiệu “Con trai tôi chết vô ích. Đừng chiến đấu. Hãy chịu đi tù”. Cùng một tấm ảnh này với cùng một bảng hiệu đã được chưng bày trong cùng các bảo tàng ở Hà Nội và Sài Gòn. Đó là một người đàn ông hay một người đàn bà? Xẩy ra tại Berkeley hay Brooklyn? Không cần. Bức hình đã đủ kể nguyên một câu chuyện mà khỏi cần lặp lại lần thứ hai.  1240

Hình: Brooklyn, Chết Vô Ích,

tại Bảo Tàng viện Hỏa Lò “Hanoi Hilton”, Roger Canfield

Hình: Berkeley, Chết Vô Ích, 20 tháng 11 năm 1965,

tại Bảo Tàng Viện Di Tích Chiến Tranh, Sài Gòn,  Roger Canfield

Tháng 3 năm  2008

Đài Hà Nội sau đó phát thanh đoạn thu băng Donald Duncan lúc tham gia trong cuộc biểu tình Berkeley đã chỉ trích Hoa Kỳ vì đã “kế tiếp ủng hộ tên độc tài này đến tên độc tài khác.“ Robert Scheer thì tuyên bố là cuộc chiến tranh này không thể kéo dài và đã vi phạm “mọi tiêu chuẩn và giá trị xứng đáng trong xã hội hiện nay.”  1241

Rõ ràng là cánh Tân Tả đã thay thế bọn già “Cựu Tả,” để giám sát và giúp đở  bọn chuyên viên tổ chức chính trị kỳ cựu có tay nghề cao trong Ủy ban Điều hợp  Quốc gia (National Coordinating Committee NCC)  trong khi tổ chức ôn hòa SANE thì lại lu mờ dần đi.

Trong cuộc biểu tình được đở đầu bởi SANE tại Washington vào ngày 27 tháng 11, 30.000 người đã tham dự. Hà Nội thì khẳng định là có tới 40.000-50.000. 1242  Đó là lần “Tung hô” cuối cùng mà SANE còn được công nhận là lãnh đạo phong trào hòa bình Mỹ. Sau một loạt bài phát biểu ôn hòa thì đã xẩy ra cao điểm của cuộc biểu tình thành công của SANE –  bài phát biểu kết thúc cuộc biểu tình của Chủ tịch SDS. Trong khi vẫn tấn công các chính sách về Việt Nam, Carl Oglesby đã không muốn tỏ ra quá chống Mỹ với đám đông SANE của mình. Y  nói, “Đừng đổ lỗi cho tôi việc này. Hãy nên đổ lỗi cho những kẻ đã dùng lại những quan niệm về giá trị của tự do mà đã phá nát quả tim Mỹ của tôi.” Sau đó, Oglesby đã mô tả bài phát biểu của y như là một:

cố gắng để mô tả Chủ nghĩa đế quốc mà không cho nó tên đó, và để gán Chính sách Đế quốc vào cấu trúc của Chủ nghĩa Tư bản Độc quyền mà lại tránh nói như vậy  … Chủ nghĩa Đế quốc và Chủ nghĩa Tư bản Độc quyền quả đúng những khái niệm thích hợp và cần thiết … nhưng … hoàn toàn không còn ý nghĩa gì nữa do kiểu tuyên truyền trong thời chiến tranh lạnh.   1243

Cũng thật là kỳ quái đối với Oglesby, kẻ mà chỉ mới cách đây ba tháng đã tường thuật từ cuộc chiến nóng bỏng cùng với cộng sản ở miền Nam Việt Nam (tháng 8 năm 1965) là  

Tất cả mọi người ở Sài Gòn đều coi mặt trận [MTQGGP] là Cộng sản chống lại … [Bạn] không thể chịu đựng được người Mỹ bởi vì họ đang giết bạn và bạn không thể chịu đựng được bọn Cộng sản bởi vì chúng đàn áp (hay giết hoặc đày đi khổ sai) bạn. Bạn sẽ làm gì … Tại Sài Gòn … quả thật là một tình huống rất khó khăn. Ở Huế bạn phải quyết định. Giải pháp Việt Nam nào thì cũng  tôt hơn là bất kỳ giải pháp phi Việt Nam nào đó.  1244

Một số trong đám đông SANE đã yêu thích Oglesby và mang những bản hiệu tuyên bố rằng, “Hãy chấm dứt Chủ nghĩa Đế quốc ở châu Á”, và “Chúng ta đang duy trì một bè lũ phát xít ở Sài Gòn.”  1245 Đại sứ Bungari, Luben Guerassimov đã ca ngợi sự thành công rực rỡ “của cuộc diễn hành cho Hòa bình tại Washington và nói rằng các kẻ cấp tiến rồi sẽ buộc Johnson phải thua cuộc tại Việt Nam.  1246

Dân Làng Cáo Buộc VC

Trong khi đó, tin tức từ các chiến trường tại Việt Nam thì lại rất không thuận lợi cho bọn cộng sản.

Dân làng có vẻ đã bắt đầu lánh xa Việt Cộng. Mark Moyar nói, “… dân làng đã cáo buộc VC phải chịu phần lớn trách nhiệm.” Công trình RAND Corporation nhằm phỏng vấn vào mùa hè năm 1965 độ 200 người dân mà đã từng phải chạy trốn xa khỏi vùng bị Việt Cộng kiểm soát  đổ lỗi cho Việt Cộng đã gây ra việc pháo binh Mỹ khai hỏa trên thôn làng của họ.

“Bất kể tuyên truyền của Việt Cộng, đã không có ai tin là chính phủ Nam Việt hay người Mỹ đang cố tình ném bom các ngôi làng vô tội.” 1247 Trong khi các đồng minh cứ tiếp tục đánh bại Cộng sản trong các thôn ấp thì VC chỉ đơn thuần gây  “thêm tai họa cho nhân dân” trong các trận chiến xẩy ra ngay bên trong bản ấp. Một cựu trung đội trưởng du kích VC tỉnh Quảng Tín đã nói vậy.

Năm 1963 và 1964, VC đã có thế thượng phong trong làng tôi, nhưng kể từ tháng 10 năm 1965, quân đội VNCH đã bắt đầu chiến thắng  … Nếu VC đã có thể giành chiến thắng trong một số trận đánh thì người dân hẳn đã hỗ trợ , nhưng không những chúng đã thất bại trong cuộc chiến chống lại quân đội miền Nam mà chúng cũng còn muốn kéo người dân cùng khổ chung. Vì vậy, người dân đã trở nên quá chán ngấy. ”  1248

VC Chuyển Hướng

 Việt Cộng đã bị nhiều vấn đề nghiêm trọng về chính trị và tâm lý trong bộ đội của chúng cũng như ngay trong nhân dân miền Nam Việt Nam. Từ Hà Nội Ủy ban Trung ương Đảng và Văn phòng Trung ương miền Nam Việt Nam, COSVN, đã ra một lệnh khẩn cấp buộc tất cả các cán bộ và bộ đội từ trên xuống dưới phải tham dự một khóa từ 7 tới 8 ngày về chủ đề quan trọng là nhận định chính trị mới:

• Cổ võ lòng tin của bộ đội trong việc đánh giá cao các chiến thắng củ;
• Làm sống lại “các gương anh dũng của Nguyễn Văn Trỗi, Bi Nẵng Tác và Nguyễn Văn Bé”;
• Làm giảm bớt hoài vọng  “những giấc mơ về một nền hòa bình ảo tưởng “;
• Tổ chức tự kiểm điểm cho mọi cá nhân về ý thức hệ của họ;
• Gieo hạt giống yêu thương với Đảng và Nhân dân;
• “Thúc đẩy sự căm thù sâu xa … về bọn Mỹ xâm lược, bọn chư hầu và bè lũ tay sai”;
• Thúc đẩy lòng “hận thù địch,  cho quen với những tư tưởng tiến bộ”;  và
• “Phối hợp các lĩnh vực quân sự, chính trị cùng ngoại giao.”  1249

Việc Phát Triển của VC tại Mỹ  

Tuy nhiên, trong khi cuộc chiến đang tiếp diễn công khai hay trong bóng tối tại Nam Việt thì lại có một cuộc chiến trọng-yếu khác đang diển ra trên các đường phố, khuôn viên đại-học và các phòng tin tức của Mỹ.

Khi thấy được các sai lầm chiến lược đáng chê bai của Mỹ kể từ Thế chiến thứ II  [và mình thì không như vậy] , Hà Nội nhìn thấy được tia hy vọng là dân Mỹ sẽ bị tung “vào một tình trạng nổi loạn”.  Làn sóng đấu tranh của nhân dân Hoa Kỳ chống lại cái băng đảng đang cầm quyền đã dâng cao … Quyết chí đâu tranh của các dân tộc nổi lên làm cách mạng và sự chống đối của các dân tộc yêu chuộng hòa bình, cả luôn của người dân Mỹ ” đã đặt Hoa Kỳ “vào một vị trí thụ động. ”  1250

Trong số các công cụ chiến thuật của chiến lược của Hà Nội áp dụng với người Mỹ, chủ đề chăm lo và tình trạng của tù binh chiến tranh sẽ đã trở nên hữu ích trong việc lũng đoạn các viên chức Mỹ, các gia đình quân nhân và công luận.

*********

1207 Miller, trang 245 ghi chú 66.

1208   Andrew E. Hunt, David Dellinger: The Life and Times of a Nonviolent Revolutionary, New York: New York University Press, 2006, trang 146.

1209  Hình của Lonnie Wilson Photo tại Oakland Museum of California, Oakland Tribune Collection, “Vietnam: Protest,” museumca.org/picturethis5_4html.

1210   Ghi chú và hình chụp tại Bảo Tàng Viện “Hanoi Hilton”  ở Hà Nội của tác giả trong bộ Viet I DSC_191-192.

1211  Alice Widener, “The Second Annual Conference of socialist Scholars,” USA, 16 tháng 9 năm 1968.

1212   Vấn đề các sai lầm về địa điểm và ngày tháng thì hãy đọc : Stuart I. Rochester and Frederick Kiley, Honor Bound, American Prisoners of War in Southeast Asia 1961-1973, Annapolis: Naval Institute Press, 1999,  trang 177.

1213   Jerry Stoll, “Sons and Daughter’s,” 1967, BFI, Film & TV Database  tại ftvdb.bfi.org.uk;

 Điểm sách của Dan Pavlides, All Movie Guide  tại

 answers.com/topic/sons-and-daughters-film.

1214   Ray Colvig, “From Free Speech to Steady State, 1964-1974,” Office of Public Information, University of California, Berkeley, tháng 6 năm 1974.

1215   The Fifth Avenue Parade Committee, Unincorporated association, et al., Nguyên Đơn/Bị Kháng , chống L. Patrick Gray 3rd, Acting Director of the Federal Bureau of Investigation, et al., Bị Đơn/Nguyên Kháng , United States Court of Appeals, Second Circuit,480 F.2d 326, ngày 14 tháng 3, 1973. Tuyên xử ngày 12 tháng 6 năm 1973.

 1216   CIA, “Reactions to Vietnam Protest Demonstrations in the US,” Intelligence Memorandum, Directorate of Intelligence, Office of Current Intelligence, 26 tháng 10 năm 1965, Phụ đính A, A-1-A-6, bản sao số 096 gởi McGeorge Bundy, Thư viện LBJ, Hồ sơ số # NLJ 92-269, Tài liệu số # 134.

 1217   Daily Californian, 15 tháng 10 năm 1965.

1218   CIA, “Reactions to Vietnam Protest Demonstrations in the US,”  Phiếu trình tình báo, Directorate of Intelligence, Office of Current Intelligence, 26 tháng 10 năm 1965, Phụ đính B, B-1-B-3, bản sao số 096 gởi McGeorge Bundy, Thư viện LBJ, Hồ sơ # NLJ 92-269, Tài liệu số  # 134.

 1219   Seymour Topping, “Asian Reds Say Protests Prove U.S. Will Withdraw,” New York Times, Hong Kong, 19 tháng 10 năm 1965, trang 1, TTU Archives viện dẫn trong  Rothrock, trang 131 ghi chú 4.

 1220  The New York Daily News, 24 tháng 10 năm 1965; Miller, trang 249 ghi chú 76.

 1221  Miller, trang 250 ghi chú 78 đã viện dẫn “U.S. Investigates Anti-Draft Groups:  Katzenbach Says Reds Are Involved in Youth Drive”.

1222  Miller, trang 250 ghi chú 79.

1223   Miller, trang 251 ghi chú 81,83; Michael Straight, một chủ bút của tờ New Republic được thành lập bởi gia đình bên mẹ (Whitney), mà sau này Venona đã khám phá ra là một điệp viên Sô viết từng điều khiển tờ báo vào năm 1956.

1224   “Support for Vietnam War,” http://www.com~jimxc/Politics/Mistakes/Vietnam_support.html

1225   CIA, FOIA, Hồ sơ số : F-1997-00395, “The Effect of the International Political Climate on Vietnamese Communist Plans and Capabilities,” (est.) 31 tháng chạp năm 1966, trang 10;  Phiếu trình CIA , “The Vietnamese Will to Persist.”  Phụ đính X, The Effect of the International Political Climate on the Vietnamese Communist Plans and Capabilities,” 26 tháng 8 năm 1966, X-3.

 1226   CIA, FOIA, “Reactions abroad to Vietnam protest demonstrations in the US,” 26 tháng 10 năm 1965, Phúc trình tình báo,  trang 11, viện dẫn : 1994-001243. Thư viện LBJ  hồ sơ số # 92-269, tài liệu số  # 134. Cũng có thể tìm thấy tại : http://archive.vietnam.ttu.edu/star/images/041/04108114004.pdf

 1227   CIA, FOIA, “Reactions abroad to Vietnam protest demonstrations in the US,” 26 tháng 10 năm 1965, Phúc trình tình báo,  trang 11, viện dẫn : 1994-001243. Thư viện LBJ  hồ sơ số # 92-269, tài liệu số  # 134. Cũng có thể tìm thấy tại : http://archive.vietnam.ttu.edu/star/images/041/04108114004.pdf

1228   CIA, FOIA, “Reactions abroad to Vietnam protest demonstrations in the US,” 26 tháng 10 năm 1965, Phúc trình tình báo,  trang 11, viện dẫn : 1994-001243. Thư viện LBJ  hồ sơ số # 92-269, tài liệu số  # 134. Cũng có thể tìm thấy tại : http://archive.vietnam.ttu.edu/star/images/041/04108114004.pdf

1229  CIA, FOIA, “Reactions abroad to Vietnam protest demonstrations in the US,” 26 tháng 10 năm 1965, Phúc trình tình báo,  trang 11, viện dẫn : 1994-001243. Thư viện LBJ  hồ sơ số # 92-269, tài liệu số  # 134. Cũng có thể tìm thấy tại : http://archive.vietnam.ttu.edu/star/images/041/04108114004.pdf

1230   CIA, FOIA, “Reactions abroad to Vietnam protest demonstrations in the US,” 26 tháng 10 năm 1965, Phúc trình tình báo,  trang 11, viện dẫn : 1994-001243. Thư viện LBJ  hồ sơ số # 92-269, tài liệu số  # 134. Cũng có thể tìm thấy tại : http://archive.vietnam.ttu.edu/star/images/041/04108114004.pdf

 1231   Spring Mobe, NECLC, Ft. Hood Three Defense Committee, Abraham Lincoln Brigade, Freedom and Peace Committee.

1232   “President Ho Chi Minh Replies to American Peace Fighters, Hanoi, 14 tháng 11 năm 1965,” Vietnam Courier, 2 tháng chạp năm 1965, trang 1, văn khố Texas Tech viện dẫn bởi  Rothrock Divided…, trang 83 ghi chú 5.

1233  “Javits Statement,” Moscow Domestic Service in Russian FBIS, 1400 GMT, 22 tháng 11 năm 1965 văn khố  TTU viện dẫn bởi Rothrock, Divided  trang 293 ghi chú 76

1234   Phúc trình CIA, “The Vietnamese Will to Persist.” Phụ đính X, The Effect of the International Political Climate on the Vietnamese Communist Plans and Capabilities,” 26 tháng 8 năm 1966, X-4.

1235  Zaroulis, trang 63-64.

1236  Zaroulis, trang 64.

1237  Truyền đơn S.A.N.E. mà tác giả hiện đang có. Xem thêm  Gannon, Bộ  III, trang  419-420.

 1238  Miller, trang 254.

1239   Ghi chú và hình chụp tại Hanoi Hilton Museum, thuộc bộ tài liệu của tác giả Viet I DSC_198,199.

1240   Ghi chú và hình chụp về  “Berkeley” có tại Saigon trong  War Remnants Museum chiếu theo tài liệu của tác giả Viet II DSC_339-340.

1241   “Antiwar Rally Speeches by Duncan, Scheer,”  Hà Nội bằng tiếng Anh cho quân nhân Mỹ tại Nam Việt 1300 GMT 26 tháng 2 năm 1966 .

1242   Ghi chú và hình chụp tại “Hanoi Hilton” Bảo Tàng Viện ở Hà nội. Tài liệu của tác giả  Viet I DCS_200,201. Cũng là ghi chú và hình chụp tại War Remnants Museum (Viện Bảo Tàng Di Tích Chiến Tranh) ở Saigon theo tài liệu của tác giả Viet II DSC_319, trang 320.

1243  Sale, trang 245, viện dẫn Carl Oglesby’s Introduction to “Trapped in a System,” R.E.P. Pamphlet (Tháng Giêng năm 1969).

 1244  “Carl Oglesby on Vietnam,” Bản Tin SDS , Bộ 4, Số 1 (tháng 8 năm 1965), trang 8-9.

1245   Các hình của tác giả trong bộ Viet II DSC_321,322  chụp tại Viện Bảo Tàng Di Tích Chiến Tranh ở Sài gòn.

1246   Janos Radvanyi, Delusion and Reality, South Bend: Gateway Editions, limited, 1978, trang 98.

1247   Marguerite Higgins, Our Vietnam Nightmare, New York: Harper & Row, 1965, trang 251-2.

1248    Loạt phỏng vấn Rand Vietnam, Loạt AG, Số  372, trang 28, viện dẫn trong Mark Moyar, “VILLAGER ATTITUDES DURING THE FINAL DECADE OF THE VIETNAM WAR, 1996 Vietnam Symposium, “After the Cold War: Reassessing Vietnam,” trang 18-20 tháng 4 năm 1996,

http://www.vietnam.ttu.edu/vietnamcenter/events/1996_Symposium/96papers/moyar.htm

 1249  Cục Chính Huấn, Quân Đội Giải Phóng Miền Nam, “Chỉ Thị Chỉnh Huấn về Chính Trị cho năm 1967”  gởi đơn vị số 3, Đoàn 129, ngày 20 tháng giêng năm 1967 tại văn khố  TTU, Pike Collection, Virtual Archive, tài liệu số 2120704010, trang 1-8.

1250   CDEC, nhật ký số  02-1856-67, KÍN (mật),“Định giá Chiến Lược của Mỹ bởi VC,” 6,8, 28 tháng giêng năm 1967, tịch thu vào ngày 7 tháng 2, phổ biến ngày 3 tháng 5 năm 1967.

 ***** 

Một phản hồi to “Roger Canfield’s Americong #9”

Trackbacks/Pingbacks

  1. Giới thiệu tác phẩm AMERICONG (MỸ-CỘNG) – Lê Bá Hùng | Ngoclinhvugia's Blog - 05/01/2016

    […] Roger Canfield’s Americong #9 […]

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: