Roger Canfield’s Americong #58

image002

 

Comrades in Arms

How the Americong Won the War in Vietnam

Against the Common Enemy— America

Copyright Roger Canfield, Ph.D.

1986-2012

No commercial transaction allowed except that approved by the author, copyright holder.

Obtain a prepublication release of a CD-R in Microsoft Word in ENGLISH at a discounted price of $15 from Roger Canfield Rogercan@pacbell.net at 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 or at http://americong.com.

Completely SEARCHABLE for any name, date, place or event of the War and its protesters.   

Cover: Design Stephen Sherman. Photos: Roger Canfield, March 2008. TOP: War protest Hawaii, February 1966 displayed at War Remnants (Crimes) Museum, Saigon. Bottom: Praetorian Guard

Các đồng chí cùng chiến tuyến

Làm thế nào MỹCộng thắng cuộc chiến Việt Nam

Chống kẻ Thù Chung – Mỹ

Giữ bản quyền Roger Canfield, Tiến Sĩ

1986-2012

Không được sử dụng vào mục đích thương mại nếu không có sự đồng ý của Tác giả, người giữ bản quyền.

Có thể mua một tiền bản dưới dạng CD-R Microsoft Word bằng Anh ngữ với giá đặc biệt US$15 ngay từ tác giả Roger Canfield  Rogercan@pacbell.net tại 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 hay tại  http://americong.com.

Hoàn toàn có thể TRA CỨU hoặc bằng tên, bằng ngày tháng hay biến cố liên quan đến cuộc Chiến cùng cả luôn bọn tham dự biểu tình .

******************************************************

* Tác giả giữ bản quyền © Roger Canfield 1986-2012

  • Lê Bá Hùng chuyển ngữ  (với sự chấp thuận của Tác giả)

 

******

Chương 58

Giúp và Khuyến Khích Kẻ Thù:

Kissinger, Trung ương Cục miền Nam, Nixon,

Nhóm Quakers, Các Mục Sư

 

 

Một Kissinger Rất là “Metternick” Tuyển Lựa Toán Phụ Trách Đối Ngoại

Nixon đã chọn Henry Kissinger, một giáo sư khoa  chính trị học đầy tham vọng tại Harvard để đứng đầu nhóm nghiên cứu chính sách đối ngoại của mình. Công trình uyên bác đáng chú ý nhất của Kissinger đã cho thấy những gì sắp xẩy ra. Kissinger từng là chuyên gia hàng đầu của thế giới về nhà ngoại giao Áo tên Klemens Wenzel von Metternick của thế kỷ 19, người thuộc một đệ tam quốc gia ở châu Âu  2754  mà thành tích đã chỉ là đàm phán để giải quyết một chế đế Áo-Hung đang suy tàn – trong một vị thế rất là yếu đuối.

Tham Mưu Trưởng Liên Quân Đều Không Biết Gì Cả

Và Kissinger, cũng như McNarama, đều cùng rất khinh miệt các quân nhân chuyên nghiệp cũng như các công chức tại Bộ Ngoại giao và Quốc phòng. Ông ta cũng đã lại có những cậu bé tuyệt chiêu làm cố vấn cho mình. Tổng thống Nixon, một cựu chiến binh Hải quân, đã sẽ có cuộc họp đầu tiên với các Tham Mưu Trưởng Liên Quân vào thu năm 1969.

Ellsberg/Haperin: Không Thể Thắng Được 

Thay vì tham vấn các Tham Mưu Trưởng Liên Quân, Nixon lại đi đòi Kissinger phải nghiên cứu các giải pháp thực tế khã chọn ngõ hầu về vấn đề Việt Nam. Daniel Ellsberg và Morton Halperin cùng cộng tác làm văn kiện này. Chuyện chiến thắng đã không được coi như là một giải pháp bởi vì Halperin đã chủ trương chiến thắng chỉ là ảo tưởng mà thôi. 2755 Halperin đã dành sẳn một chỗ yếu trong trái tim của mình cho chủ nghĩa xã hội, cho công bằng xã hội và cho bọn phản bội từ cơ quan CIA.

Tái Bản Trò Diểu Dở của McNamara: Chỉ Toàn là Tỏ Ý và Nhắn Tin Thay vì Là Các Hành Động Quân Sự

Tại Tòa Bạch Ốc vào ngày 27 tháng giêng, đã lại có một cuộc thảo luận, mà thay vì bàn về các chiến dịch thực sự mà khã dỉ mang lại được kết quả cụ thể trên chiến trường, thì lại quay qua bàn về “tiềm năng của những hành động quân sự mà có thể làm Bắc Việt bối rối mà sẳn sàng hơn để chịu thảo luận tại hội đàm Ba-lê.” Mục tiêu chỉ là làm bộ sẽ có những chiến dịch “để khiến … lãnh đạo Hà Nội sợ hãi mà nghỉ rằng Hoa Kỳ đang thực sự chuẩn bị thực hiện những trận đánh mới rất tổn hại cho Bắc Việt …”

Chỉ toàn là làm bộ, giả vờ đang chuẩn bị để xâm lấn, để phong tỏa hay thả bom Hà Nội, Hải Phòng, Lào và Cam-pu-chia cùng giả vờ gia tăng hăm dọa sẳn sàng xử dụng vũ khí hạt nhân. 2756 Đều chỉ là “những tín hiệu khã chấp về ý định leo thang hoạt động quân sự của Mỹ …” 2757 Đó là cái chiến thuật cũ kỷ của McNamara mà chỉ nhằm thay thế các hành động quân sự cụ thể bằng toàn nào là tỏ ý và nào là nhắn tin mà thôi.

Ráng gạt để Hà Nội tin là Mỹ rất nghiêm túc về việc thực sự muốn chiến thắng. Ấy vậy, Kissinger lại còn muốn lừa dối một cách có quy củ hơn nữa bằng những  hành động “không lộ liểu quá” và ít rủi ro hơn để gây ra “một sự hỗn loạn quốc nội và quốc tế.” 2758  Mọi giả vờ là sẽ có những hành động quân sự mạnh mẽ, trên phương diện chính trị, đều không thể nào chấp nhận được.

Cộng sản thì lại công bố rất rõ ràng

Ngược lại, Việt Cộng rất khôn ngoan và đã bắt các lãnh đạo quân sự và chính trị của chúng đều cùng phải xử sự đồng điệu với nhau.

Chúng cũng ráng giữ liên lạc với số bạn bè  – vào ngày 30 tháng giêng năm 1969, David Dellinger, Cora Weiss, Rennie Davis và Richard Barnet cùng bay qua Ba-lê để tham khảo ý kiến ​​với phái đoàn hòa đàm của Hà Nội. 2759 Giám đốc FBI Hoover đã phải phê bình nặng nề văn phòng New York của FBI vì đã không theo dõi được việc đi lại của đám mưu đồ Chicago là Dellinger, Rubin và Hoffman mà đều thuộc thẩm quyền quản hạt của họ. 2760

Oriana Fallaci Phỏng Vấn Tướng Giáp

Tháng 2 năm 1969, nhà báo Ý Oriana Fallaci, người từng đã viết phê bình chỉ trích nặng nề chế độ miền Nam Việt Nam cũng như là chiến tranh Việt Nam, đã được cho phép phỏng vấn tướng Võ Nguyên Giáp tại ngôi biệt thự rộng lớn với vườn đày cây cổ thụ ở Hà Nội  2761 cùng ngồi “chung quanh một chiếc bàn tràn đầy món ngon vật lạ: những viên ‘phó-mát’ chiên dòn, … những món thịt thái nhỏ tuyệt diệu, kẹo mứt và những ly rượu chát đỏ.” 2762

Tay Giáp đã cứ theo thói quen, ráng quyến rũ và duyên dáng chinh phục các người đến phỏng vấn mình bằng những câu chuyện đầy vinh quang của Cách mạng. Fallaci thì không hề quan tâm đến 45 phút câu giờ của y. Bà đã cùng 3 người đồng hành sẳn sàng giấy viết để ghi xuống mọi điều cứ tiếp tục cắt ngang lời huyên thuyên của Giáp để chọt vô các câu hỏi về bản tính nóng xấu của y, về các thất bại về chiến thuật quân sự và về sự thờ ơ lạnh lùng của y đối với niềm khổ đau của toàn dân Việt Nam.

Fallaci Đào Sâu Vào Những Dối Trá Của Giáp

Khe Sanh: Một Điện-biên-phủ Nhưng Bị Thất Bại?

Nhà nữ phóng viên đã hỏi: Liệu trận Khe Sanh có phải là một nỗ lực để tạo ra một  thứ Điện Biên Phủ khác, cái trận quyết định mà đã đẩy được người Pháp ra khỏi Đông Dương? Không, hai vấn đề khác nhau. 2763 Fallaci thì lại khẳng định là các chiến thuật đã cùng như nhau mà.

Vai trò của bộ đội Bắc Việt trong dịp Tết Mậu Thân?

Fallaci  đã muốn biết vai trò của bộ đội Bắc Việt Nam trong vụ thất bại về quân sự của cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân? Hãy hỏi Mặt trận Giải phóng.” Vụ (Tết tấn công) không phụ thuộc vào tôi, không phụ thuộc vào chúng tôi: nó đã được thực hiện bởi Mặt trận”. Giáp, người phụ trách toàn diện vụ này, đã tuyên bố như vậy. Giáp đã bị mắc kẹt vào lời nói dối mà đã kéo dài mãi mười năm rồi; đã không hề có bộ đội phía Bắc ở miền Nam Việt Nam. Cuộc tấn công Tết Mậu Thân hoàn toàn đã do Việt cộng thực hiện, tay Tướng này đã tuyên bố như vậy và “Tôi không biết được liệu là Mặt Trận đã có tiên liệu hay mong muốn nhân dân sẽ nổi dậy hay không?” 2764

Với Nữa Triệu Người Đã Chết Thì Sẽ Còn Kéo Dài Trong Bao Lâu Nữa?

Còn Lâu cho Tới Khi Nào Còn Cần Thiết”

“Vậy thì, thưa Đại Tướng, cuộc chiến tranh này sẽ còn kéo dài trong bao lâu nữa? Trong bao lâu nữa những người dân đáng thương này sẽ còn bị yêu cầu phải tự hy sinh, phải  khổ đau và phải chết? Tên Tướng bèn trả lời: “Cho tới khi nào còn cần thiết.” Sau khi bị hỏi vào tháng 2 năm 1969 là đã có bao nhiêu người Việt bị thiệt mạng thì Giáp thừa nhận con số 500.000 là khá chính xác. Chính xác? Chính xác.” Một nửa triệu người chết quả là một con số đáng kinh ngạc nếu ta nghỉ là Hà Nội đang có kế hoạch để tiếp tục cuộc chiến tranh trong “Mười, mười lăm, năm mươi năm. … Chúng tôi không gấp gì, chúng tôi không sợ đâu. 2765

Thật rõ ràng, Giáp đã rất là dửng dưng về những tổn thất nhân mạng, nhân mạng của ngay những người cùng máu mủ Việt Nam của y. Tay Tướng này đã  cười khinh cái kiểu chiến tranh Mỹ gì cứ dựa vào các con số để tuyên bố là Bắc Việt cần hy sinh 25 mạng người đổi 1 để có thể chiến thắng và cuối cùng là cần 3 đổi 1. Điều này không hề quan trọng trong một cuộc chiến tranh nhân dân khi mà “tất cả mọi người đều cùng chiến đấu” để rối cuối cùng khoảng 24 bộ đội Việt cộng sẽ phải bỏ mạng để đánh đổi cho mổi một quân nhân Mỹ mà thôi.

Chế độ cực Sì-ta-lin, cực độc tài, cực phát xít nhất mà tôi từng biết được

Trước khi rời Hà Nội thì Fallaci đã được cung cấp một bản tường thuật của chính phủ về lần phỏng vấn. Fallaci đã bác bỏ “văn kiện của chính quyền nhằm  cắt xén sự thật” và cương  quyết vẫn giữ những câu trả lời ban đầu của tướng Giáp. Sau đó, Fallaci có nói, “đó là chế độ cực Sì-ta-lin, cực độc tài, cực phát xít nhất mà tôi từng biết được.” Sau này thì Cộng sản đã tấn công các cáo buộc của Fallaci nhưng đã không hề có ai ra mặt bênh vực bà ta.

Một lần nữa, sau này Fallaci lại phải chỉ một mình chịu đựng sau khi đã dám tấn công chủ nghĩa cực đoan Hồi giáo ở châu Âu.

Trung Ương Cục Miền Nam Ra Chỉ Thị Cho Bọn Cán Bộ Mỹ: Đám Ủng Hộ Hòa Bình Phải  Mạnh Mẻ Hành Động Tập Thể Cùng Nhau

Ngày 27 tháng 2 năm 1969, trong Thông tư số 75, Văn phòng Cộng sản Trung ương Cục Miền Nam đã nhắc nhở cán bộ,

“Chúng ta đã đạt được những chiến thắng liên tục trong các lĩnh vực ngoại giao.”

Và “cuộc đấu tranh của chúng ta tại các cuộc hòa đàm Ba-lê … đã thành công. …. Chúng ta cần phải khai thác các chiến thắng ngoại giao của chúng ta để thúc đẩy các cuộc đấu tranh chính trị và quân sự ở quốc nội và điều hợp các cuộc đấu tranh này chặt chẽ hơn lên.

 … [Các] chiến thắng sẽ là nhờ … những khả năng đấu tranh của nhân dân ta và của mọi nhân dân yêu chuộng hòa bình … kể cả người Mỹ.” 2766

Các  Báo cáo của FBI về những mối liên hệ của cộng sản và ngoại quốc với tổ chức Weather Underground

Vào tháng 4 năm 1969, FBI đã liệt kê ra các mối quan hệ sâu đậm của phe tả với những kẻ thù của Hoa Kỳ: tham gia vào các chương trình đào tạo du kích ở Cuba; liên tục tiếp xúc với KGB ở Đông Bá-linh; và “hợp tác liên tục” với Việt Cộng và Hà Nội. Trong tháng 4 của năm 1969 này, phái đoàn MTGPQG ở  Prague đã đánh điện cho văn phòng Chicago của SDS để yêu cầu sự hiện diện của Bernardine Dohrn và Steve Halliwell tại Prague hầu cùng nhau thảo luận. 2767

Bọn chủ hòa đã phải phấn đấu tại mặt trận Mỹ.

Buổi Triệu tập Toàn Quốc Đầu Tiên về Chủ đề Thách đố trong Tiến trình Kiến Tạo Hòa Bình

Ngày 5 tháng 3 năm 1969, buổi Triệu tập Toàn Quốc Đầu Tiên về Chủ đề Thách đố trong Tiến trình Kiến Tạo Hòa Bình (First National Convocation on the Challenge of Building Peace) đã được tổ chức tại khách sạn Hilton ở New York.

Bọn tham dự thì gồm có Corliss Lamont, Stewart Rawlings Mott, Jerome B. Wisner, cựu Thượng nghị sĩ Joseph Clark, Đại tá Donald H. Humphries, Linh mục William Sloan Coffin, Howard Zinn và New York Timesman Neil Sheehan.

Cờ Việt Công đã được giương ra, rỏ ràng là không hề có lá cờ nào của Mỹ và không có lời cầu nguyện nào cho hòa bình, cho sự cẩn trọng hay bất cứ điều nào khác.

Sheehan: “chống Cộng cũng có tính cách phá hoại như chủ nghĩa Sì-ta-lin”

Trong số diễn giả đã có thượng nghị sĩ Fulbright, Javits và McGovern. Một số đã hét lên, “Hồ, Hồ, Hồ Chí Minh, MTGPQG sẽ chiến thắng.” Tay phóng viên từ Sài Gòn từng chuyên môn loan báo tin ngày tận thế của Mỹ là Neil Sheehan thì đã nói với đám chủ hòa hung dữ là “Đối với vài quốc gia, một chính phủ Cộng sản có thể là loại chính phủ tốt nhất.” Và y đã mô tả “việc chống Cộng cũng có tính cách phá hoại như chủ nghĩa Sì-ta-lin.” 2768 Là một kẻ lâu nay từng chỉ trích chiến tranh, nay thì Sheehan cuối cùng đã tuyên bố là mình cổ võ cho Việt Cộng.

Ngày 25 tháng 3, Tổng thống Nixon đã đề nghị có hòa đàm riêng tư song song với các cuộc hòa đàm công khai tại Ba-lê.

Thông tư số 79 Ra Chỉ Thị Về Các Chủ Đề Tuyên Truyền

Bọn Việt cộng đã bắn tiếng nhắc nhở trong Thông tư bí mật  số 79 ngày 29 tháng 3 với các chỉ thị cho cán bộ: “Bọn đế quốc Mỹ và bọn tay sai của chúng … đã phải đối mặt với áp lực mạnh mẽ hơn bao giờ hết bởi những người Mỹ mà đã đòi hỏi phải rút nhanh quân đội Mỹ về và phải kết thúc của chiến tranh.”

Để đối phó với … các mưu đồ xảo quyệt … chúng ta phải làm cho mọi người hiểu được … là Mỹ và chính phủ tay sai đã bị nhiều thất bại … bọn Mỹ chính là bọn xâm lược … chỉ khi nào chúng ta lật đổ (bè lũ Thiệu-Kỳ-Hương) thì việc đàm phán mới có thể trở thành nghiêm túc và hòa bình mới có thể được phục hồi.” 2769

 

Bộ Trưởng Quốc phòng Laird cáo buộc Hà Nội đã tra tấn tù binh

Ngày 19 tháng 5 năm 1969, Bộ Trưởng Quốc phòng Melvin Laird đã công khai cáo buộc Hà Nội đã tra tấn tù binh. Laird đã đi Ba-lê để trưng ra cho Việt cộng thấy những hình ảnh gom góp được từ các hãng thông tấn ngoại quốc của ba tù binh từng bị đánh đập với hình hài gầy đét là Trung úy Robert Frishman, Trung tá hải quân Dick Stratton và thủy thủ Doug Hegdahl. “Hiệp ước Geneva quy định là quý vị đã  phải phóng thích tất cả tù binh bị bệnh và bị thương. Những người này đều bị bệnh … bị thương. Tại sao họ vẫn chưa được phóng thích? ” 2770

McCain thú nhận đã phạm tội ác chiến tranh

Đẻ đáp lại cáo buộc của Laird, vào ngày 2 tháng 6 năm 1969, Hà Nội bèn trưng ra con xì ách của chúng dưới hình thức một băng ghi âm lời con trai của đô đốc John McCain. Trong bang, có tiếng một người Việt giới thiệu McCain, “Những phi công từng tham dự tích cực cuộc chiến đã từ lâu cho thấy là cáo buộc của Laird hoàn toàn dối trá .” Giọng nói của  McCain, “Tôi là một phi công Mỹ từng tham gia vào các tội ác chống lại đất nước và nhân dân Việt Nam. Tôi đã ném bom các thành phố của họ . . . từng gây ra nhiều thiệt hại, thậm chí cả tử vong cho người dân Việt Nam.”

Sau khi bị bắt, “Tôi đã được điều trị rất tốt về y tế … Tôi đã được cho một cuộc giải phẩu trên cái chân tôi … và được bó bột trên cánh tay phải … Các bác sĩ … đều rất rành nghề làm y khoa. … ” 2771

Cách thức McCain chọn chữ để phát ngôn rất khác lạ, cả về phương diện thành ngữ lẫn nội dung, đã cho thấy là không phải chính mình nói mà rõ ràng tất cả đều là thể  điệu và các chủ đề của Hà Nội mà thôi.

SDS Trả Lời Laird: Các Chuồng Cọp Dùng Để Tra tấn

Bọn Weathermen rồi sau đó sẽ đưa ra một câu trả lời khác dùm cho Bắc Việt: “Laird thì khóc thương cho các tù binh trong khi người dân [Nam] Việt vẫn đang bị tra tấn trong các chuồng cọp của Sài Gòn.” 2772

Từ năm 1965 đến năm 1972, Hà Nội sẽ phóng thích 9 tù binh còn Việt Cộng thì 24 tù binh. Trong khi đó, Nam Việt đã sẽ thả 237 bộ đội Bắc Việt và 4300 Việt Cộng. 2773 Nhiều người trong số đó đã từ chối trở về lại với Cộng sản giống như các tù binh Liên Xô và Bắc Hàn trong Thế chiến II và cuộc chiến Hàn Quốc.

Nixon ra lệnh bí mật không tạc các vùng an toàn tại Kam-pu-chia

Ngày 18 tháng 3 năm 1969, Nixon đã ra lệnh tiến hành chiến dịch MENU nhằm  bí mật không tạc lần đầu tiên bằng B-52 các mật khu an toàn của Bắc Việt trên lãnh thổ Kam-pu-chia, kéo dài đến ngày 26 tháng 5 năm 1970. Yếu tố “bí mật” của các vụ không kích này chỉ kéo dài không hơn được hai tháng. Trong tháng 5 năm 1969, các vụ không kích này đều đã được phổ biến rất rộng rãi, 2774 nhưng sau đó vẫn cứ được mô tả là “không tạc bí mật” và bị cho là có tính cách rất thâm hiểm. Trong thời chiến, mọi cuộc hành quân đều đã khởi đầu trong vòng bí mật.

Trong tháng 4 tại Đại học Cornell, các sinh viên da trắng là Chip Marshall, Jeff Alan Dowd và Joseph H. Kelly đã cùng tham gia với Black Liberation Front ~ Mặt trận Giải phóng Da Đen có vũ trang để đến chiếm tòa nhà hành chính của trường đại học. 2775 Với cả toàn quốc theo dõi coi diển tiến nội vụ, các viên chức trường đại học đã không làm gì cả để chống lại bọn biểu tình với sung đang giơ cao lên. Và bọn thủ phạm da trắng rồi sẽ chạy lên Seattle để thành lập Mặt trận Giải phóng Seattle và tên Dowd thì lại sẽ có được một sự nghiệp lâu dài ở Hollywood.

Bọn Chủ Hòa Huy Động, Nữu Ước từ 4 đến 6 tháng 4 năm 1969

Tại Nữu Ước, National Mobe và Ủy ban Fifth Avenue Peace Parade FAVPPC đồng tài trợ một cuộc xuống đường từ 30.000 đến 100.000 người tham dự, đi từ Bryant Park tới Central Park để phản đối chiến tranh, lên án chủ nghĩa tư bản Mỹ, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc và chủ nghĩa đế quốc, thể hiện tình đoàn kết với bọn Puerto Rican ly khai và đám Black Panthers cùng kêu gọi một cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Bọn tham gia quan trọng nhất đã chính là Richard Cartwright, Ossie Davis, David Dellinger, Al Evanoff, Fred Halstead, Abbie Hoffman, Frederick Douglass Kirkpatrick, Paul O’Dwyer, Jerry Rubin, Buelah Sanders, Ron Wolin, Howard Zinn, đại diện cho các nhóm chẳng hạn như Catholic Peace Fellowship, Mobilization for Peace Action, Veterans for Peace in  Vietnam, Workers World Party, Student Mobilization, SDS, Veterans of the Abraham Lincoln Brigade, Women Strike for Peace. Chủ đề phổ biến nhất thì là “Rút quân đội về nhà”.

Theo một báo cáo của FBI thì David Dellinger đã cho biết, “Trong thời gian thời  McCarthy, phong trào hòa bình đã rất bối rối và mất tinh thần … nhưng nay thì không còn như vậy nữa.” Ta đã thua trận, chính phủ Mỹ đã bị kẹt cứng và chỉ còn có hai điều phải được thực hiện, đó là rút quân về và bồi thường thiệt hại cho Việt Nam.

Mụ Bình Ngõ lời với bọn cán bộ Mỹ của y thị.

Dellinger bèn giới thiệu một băng thu âm dài tám phút của Nguyễn Thị Bình nói tiếng Anh với một giọng Việt Nam rất nặng.

Trong một bản trích lục nguyên văn của FBI, Nguyễn Thị Bình đã nêu tên các tay tài trợ, đã ghi nhận sự hiện diện của các người da đen, các người Puerto Rico và các cựu chiến binh. Y thị đã lên án Nixon vì từng “truy tố Dave Dellinger, Tom Hayden, Rennie Davis và năm đồng bạn khác trong một nỗ lực để dập tắt phong trào phản chiến”. Y thị nói: “Những người nào … mà đã yêu cầu chấm dứt chiến tranh, chấm dứt việc giết hại trẻ em Việt Nam thì không thể nào là có tội được.”

Vì đã làm việc thường xuyên với Dellinger, Hayden và Davis, đó là chưa kể đến Bernardine Dohrn, Steve Halliwell và những tên khác, tuyên bố của Nguyễn Thị Bình đã tiết lộ những chi tiết về các bọn đã từng tham gia và luôn cả cái chương trình huy động hòa bình này ở Nữu Ước.

Trước đó, y thị cũng đã được chuẩn bị kỷ càng hay là đã có được một tên viết diển văn mướn người Mỹ. “Phải rút  quân về nhà và thực sự cho những người da đen và những người nói tiếng Tây Ban Nha được tự do hoàn toàn”. Có lẽ phong trào hòa bình đã nhận được các tin nhắn từ Hà Nội nhân những lần được thuyết trình chớ không như bọn cán bộ Việt Cộng đã từng nhận chỉ thị trong Thông tư số 75 vào  tháng trước.

Nguyễn Thị Bình tuyên bố là phong trào hòa bình đã buộc Johnson phải ngừng không tạc Hà Nội và bắt đầu các cuộc hòa đàm. Tuy nhiên, các vụ không kích bằng B-52 đã “có kết quả là thảm sát tập thể người dân thường”  và “bom lữa ‘napalm’ cứ hàng ngày được thả xuống để thiêu đốt trẻ em Việt Nam.” Thực sự đã không hề có thảm sát tập thể và B-52 thì đã không giờ lại đi thả bom ‘napalm’. Mỹ đã “không muốn từ bỏ các kế hoặch độc ác của chúng” và không muốn loại bỏ  “bọn hiếu chiến và tham nhũng thuộc chính quyền Thiệu-Kỳ-Hương”. Việc cần phải làm chỉ là rút quân vô điều kiện. Báo New York Times tuyên bố ngay trên trang bìa “Cả hàng ngàn người đã xuống đường để đòi hỏi rút quân ra khỏi Việt Nam”. 2776

Quân đội Mỹ bắt đầu giảm quân

Ngày 30 tháng 4 năm 1969 toàn bộ lực lượng quân nhân Hoa Kỳ tại Việt Nam đã đạt mức cao nhất là 543.482 người và sau đó đã bắt đầu giảm bớt song song tương đương với sự suy giảm ý chí về chính trị. Việc giảm ý chí về chính trị đã được thể hiện rõ trong mục tiêu của Nixon đưa ra là “hòa bình trong danh dự” chứ không phải là chiến thắng. Dù đều bị đánh bại trên tất cả các chiến trường nhưng chỉ trừ có một chiến trường mà thôi – trên các đường phố của Mỹ – kẻ địch Bắc Việt đã không hề tìm kiếm hòa bình nhưng chỉ muốn Mỹ phải đầu hàng, phải phản bội Nam Việt và chỉ muốn một chiến thắng quân sự mà thôi.

Kế Hoặch Mới 10 Điểm Của VC

Ngày 4 tháng 5 năm 1969, Thông tư số 89 ra chỉ thị cho cán bộ phải vận động cho kế hoạch hòa bình 10 điểm  bên trong Hoa Kỳ của VC mà chưa được công bố:

phối hợp với mặt trận quân sự … ở các nước trên toàn thế giới và ở Mỹ ….

[Lời] tuyên bố (về Kế hoặch Hòa bình) … là một bước tiến mới trong cuộc tấn công ngoại giao của chúng ta. Nó bao gồm các chiến thuật được thiết kế để giành sự hỗ trợ của … tất cả các lực lượng chính trị. … Đây là thời gian thuận lợi. …

[Nhân] dân Mỹ đang khởi xướng một phong trào mạnh mẽ để chấm dứt sự xâm lược của Mỹ tại Việt Nam. Giải pháp (10-điểm] này… sẽ thúc đẩy nhân dân Mỹ chống đối chính quyền cố chấp Mỹ … Đây là thời điểm thuận lợi nhất để chiến thắng đối phương … ” 2777

 

American Friends Service Committee AFSC: Nạn Diệt Chủng tại Nam Việt do Mỹ Chủ Trương

Vào ngày 5 tháng 5, bọn lãnh tụ của AFCS là Gilbert White và Bronson Clark, bọn chủ hòa Quakers đã công bố một lá thư nẩy lữa nhằm huy động các thành viên. Bức thư cho biét là nước Mỹ đang “tàn sát người dân”. Thật vậy, “tác động ​​tích lũy … bây giờ gần như có tính cách … một nạn diệt chủng người Việt Nam. … Việc tàn sát do Mỹ chủ trương cần phải chấm dứt”. 2778

 

Dân số thì lại tăng gia dù bị đang bị diệt chủng

Không giống như Cam-pu-chia, nơi một cuộc diệt chủng thực sự đã xảy ra, dân miền Bắc và miền Nam Việt Nam vẫn tăng lên trong suốt cuộc chiến mặc dù đã có các thương vong quân sự nặng nề. Hoàng Tùng, phát ngôn viên của quân Bắc Việt, đã tuyên bố với các bọn hoạt động phản chiến trong tháng 9 năm 1972: “Chúng tôi có dư thừa nhân lực. … Sau 30 năm chiến tranh, quý vị vẫn nhìn thấy được nhiều trẻ em chạy rong chơi trên đường phố”. 2779 Một kiểm tra dân số năm 1976 của miền Nam Việt Nam đã cho thấy có tới 24 triệu người chứ không phải là 19 triệu như đã được dự tính trước đó​​. 2780

Hoàn toàn không hề một chiến dịch diệt chủng của Mỹ.. Sau chiến tranh, chính bọn Cộng sản mới lại tiến hành việc diệt chủng đối với người Khờ-mer, người Thượng và Hmong.

Hội nghị Stockholm vế Việt-nam – 6 tới 18 tháng 5 năm 1969

Từ ngày 16 đến ngày 18 tháng 5 năm 1969, phái đoàn đại biểu tại Ba-lê của Hà Nội và MTGPMN đã xúc tiến một Emergency Action Conference ~ Hội nghị Hành động Khẩn cấp ở Stockholm, được bảo trợ bởi hai đảng viên Cộng sản của Hội Đồng Hòa bình Thế giới do Ủy ban Quốc tế Thụy Điển tài trợ là Carl H. Hermansson và Tiến sĩ John Takman.

Trong số 350 đến 400 tham dự viên thì bọn Cộng sản đã chiếm đa số với 33 tên  Mỹ đại diện cho 11 tổ chức bao gồm American Friends Service Committee, Clergy and Laity Concerned About Vietnam, Lawyers Committee on American Policy Toward Vietnam, National Lawyers Guild, Women Strike for Peace, Resist, SNCC, SANE, War Resistor’s League and American Deserter’s Committee. Bọn chóp bu của National Mobe mà sau đó sẽ đổi tên là New Mobe  có tới tham dự đã là William Davidon, Carlton Goodlettt, Linh mục Thomas Lee Hayes và John Wilson. 2781

Đại diện của bọn Mỹ đào ngũ thì đã là George Carrano và Donald McDonough. 2782 Bọn đáng chú ý khác đã là Anatol Rapaport, Noam Chomsky và Gabriel Kolko.

Chỉ thị cho bọn Mỹ về Kế Hoặch 10 Điểm

Mục tiêu là phải thống nhất và phối hợp các cuộc biểu tình quần chúng về Việt Nam trên toàn thế giới 2783 và trình bày Kế hoạch 10 Điểm Hòa bình làm sao cho các nhà trí thức trên toàn thế giới chấp nhận được. John Neilands, tay giáo sư Berkeley chuyên chỉ trích chiến tranh hoá học của Mỹ và Giáo sư Franz Schurman đã đều cùng lên án Nixon.

Hội nghị đã tìm cách “để lắng nghe những gì mà các người bạn Việt Nam của chúng ta sẽ muốn nói với chúng ta” và “thảo luận cùng nhất trí sẽ phải làm gì . . .   Các bạn Việt Nam của chúng ta mong muốn rằng những liên hệ này sẽ phát triển để trở thành vĩnh viển.” 2784

Bọn Việt cộng Nguyễn Minh Vỹ và Nguyễn Thị Bình đã bày tỏ lo ngại về một “phong trào phản chiến đang suy yếu dần” ở Mỹ. “Nếu không có ​​công luận kêu gọi rút quân đội Mỹ, những nỗ lực của họ để đạt được chiến thắng sẽ bị cản trở.”  Để “thêm sức sống mới … cho phong trào phản chiến”, hội nghị đã chuẩn bị một danh sách từ A đến F về những điều phong trào phản chiến phải thi hành, kể cả các quảng cáo cần phải đăng báo, các cuộc biểu tình vào ngày 4 tháng 7, các hành vi tẩy chay, việc chống đối lệnh quân dịch cùng phản kháng của các quân nhân GI và Kế hoạch hòa bình 10 điểm. 2785 Hội nghị đã kêu gọi “rút lui toàn bộ quân lực  Mỹ …  vô điều kiện …,” 2786 New Mobe sau đó đã đở đầu cho việc này như là dưới tiêu đề “rút quân tức khắc và toàn diện.” 2787

Phản Tuyên Truyền, Đàn Áp về Chình Trị: Tóan Nghiên Cứu về Nền Tự Do tại Nam Việt – 25 Tháng 5 đến 10 Tháng 6 năm 1969

Từ 25 tháng 5 đến 10 tháng 6 năm 1969, Allan R. Brick, Gene Stolzfus và Tom Fox của Fellowship of Reconciliation FOR đã dẫn đầu một nhóm chín người đi khắp Nam Việt trong vòng 11 ngày mà đã được gọi là Nhóm Nghiên cứu Hoa Kỳ về Tự do Tôn giáo và Chính trị tại Việt Nam. 2788

Phần còn lại của nhóm gồm có Giám mục James Armstrong, Chủ tịch của United Methodists, thành viên của World Council of Churches – Hội đồng các Giáo hội Thế giới, tổ chức mà đã đóng góp tiền bạc nhiều nhất cho cái National Council of Churches – Hội đồng các Giáo hội Quốc gia từng được cho phép miễn thuế; 2789 Bà John C. Bennett, “nữ tín hữu Tin Lành” và vợ của Chủ tịch Hội đồng Quốc gia của các Giáo Hội; Dân Biểu John Conyers, đảng Dân chủ Michigan; Robert F. Drinan, S.J. của Đại học Boston; John J. Pemberton của ACLU; Rabbi Simore Siegel thuộc chủng viện Theological Seminary Do Thái; Đô đốc Arnold E. True, Hải Quân Mỹ, đã về hưu.

Từ Nam Vang, Don Luce, tên từng viết về các  tù nhân chính trị Nam Việt trên tờ National Catholic Reporter, 2790 đã phụ trách cung cấp các địa chỉ liên lạc và các tài liệu cho cả nhóm.

Cái nhóm “nghiên cứu” này đã gặp William Colby, giám đốc Chương trình bình định Phượng Hoàng với Don Bordenkircher, chuyên viên cố vấn về quy chế trại giam cho chính phủ Nam Việt Nam và cho những người khác tại toà Đại sứ Hoa Kỳ. Dân biểu John Conyers đã hỏi về những chuyện được báo cáo là từng có đối xử tàn bạo trong các nhà tù. Bordenkircher đã cho biết mình đã điều tra tất cả các cáo buộc như vậy nhân khi thẩm vấn các bị can trước khi phải thụ hình. Cả Colby lẫn Bordenkircher đã không cho Conyers biết là vấn đề thẩm vấn thuộc thẩm quyền của CIA. 2791

Sau đó, nhóm nghiên cứu đã chia ra làm nhiều nhóm nhỏ và đã tự do đi du lịch khắp  Nam Việt mà không có bất kỳ ai di kèm để kiểm soát. Hà Nội thì đã không bao giờ cho tự do như vậy trong các chuyến đi lại như vậy ở Bắc Việt.

Cha Dòng Tên và tay dân biểu tương lai là Robert F. Drinan đã nhớ lại mình từng “nhìn thấy những việc kinh khủng mà Hoa Kỳ đã làm …. thả bom, sử dụng các hóa chất độc hại giết cây cỏ và hàng ngàn tù nhân chính trị.” Đối với những hành vi này, Drinan đã muốn đưa các nhà lãnh đạo Mỹ ra trước tòa án tội phạm chiến tranh giống như những tên tại Nuremberg và Tokyo sau khi Thế chiến II. 2792

Tường Trình Giả Mạo của Fox

Ngày 11 tháng 7 năm 1969, Thomas Fox đã đăng một bài viết trên tờ  Commonweal với tựa là “Devil’s Island of Vietnam; The Price of Political Dissent (Hòn đảo Việt Nam của Quỷ; Giá của việc bất đồng quan điểm chính trị”.

Fox, tay đã tuyên bố mình là một nhân chứng tại Côn Sơn thì lại không hề có tên trong danh sách hành khách bay đi Côn Sơn hoặc ngay cả trong các tài liệu của Hồ sơ Lưu trử thuộc Quốc hội về nhóm nghiên cứu (Giám mục James Armstrong, bà John C. Bennett, Allan Brich thuộc FOR, Dân biểu John Conyers, Fra. Robert F. Drinan, ohn De F. Pemberton của ACLU, Rabbi Seymour Siegel, Đô đốc Arnold E. Đúng, Linh mục Peter Jenkins). 2793

Tuy nhiên, Richard Dudman của tờ St Louis Post Dispatch, 2794 thì có đi cùng với Allen Brick và Dân Biểu John Conyers. Dudman có thể đã là người ẩn danh viết dùm cho Fox. Tên phóng viên của Commonweal đã nói là có phỏng vấn, nhưng không hề có ai trong số các tù nhân đó đã có tên tại Côn Sơn vào thời điểm đó.

Một tù nhân ở Côn Sơn, Hồ Đức Thành, đã tuyên bố là mình đã bị kết án sai lầm về tội ám sát dân biểu Trần Văn Văn, nhưng thực sự kẻ giết người bị kết án đã là Nguyễn Xuân An chứ không phải Thành.

Fox / Dudman đã được hướng dẫn đi coi những phòng giam riêng biệt – 14 `feet` cao, 24 `feet `rộng và 30 `feet` dài  – mà đã bị báo cáo sai lầm là chỉ “4 ‘feet’ nhân cho 5 `feet`”. 2795

Bản tường trình của Tom Fox đã hoàn toàn là giả mạo, từ đầu cho đến cuối.

Ngày 17 tháng 6 năm 1969, Thượng nghị sĩ Abraham Ribicoff bèn thông báo nhóm nghiên cứu đã tìm thấy được các người bất đồng chính kiến tại Nam Việt mà từng bị bỏ tù. Dân biểu Ogden Reid, đảng Dân chủ New York, đã lặp lại những tuyên bố này và rồi phân phối một bản báo cáo sau đó. 2796 Bạch thư của FOR, “Tù nhân chính trị của Mỹ ở Nam Việt” đã cáo buộc tình trạng lan tràn về cách đối xử tàn bạo vàvi5êc  tra tấn, bỏ tù mà không cần xét xử và “những xà-lim trống rổng nổi tiếng mà trong đó tù nhân … đã bị xích vào sàn trong một tư thế không thể nào diển tả được.”

Ngày 27 tháng 8 năm 1970, mụ Ngô Bá Thành đã hướng dẫn 80 đàn bà đến tòa Đại sứ  Mỹ tại Sài Gòn để phản đối việc bỏ tù về chính trị con cái của họ vì đã “dám lên tiếng bênh vực cho hòa bình và độc lập”. Nhờ ơn Anderson và Hawkins thì nay thế giới đã biết được về “các điều kiện để tra tấn bằng các ‘chuồng cọp’ ở Côn Sơn”. Tờ báo chính thức của Việt Cộng South Vietnam in Struggle đã có đăng các bức thơ của Don Luce và đám phụ nữ này. 2797

Robert Drinan đã ứng cử vào Quốc hội vào năm 1970 nhờ CNN từng có tường trình vào năm 2007 là Drinan “đã phát hiện số lượng tù nhân chính trị bị giam cầm ở Nam Việt đã tăng lên nhanh chóng, trái với các báo cáo của Bộ Ngoại giao.”

Sau đó, Fellowship of Reconciliation FOR đã xuất bản sách của Phạm Tâm “Imprisonment and Torture in South Vietnam ~ Tù tội và tra tấn tại Nam Việt”, rồi còn tiến hành hai cuộc đi tìm kiếm sự thật và phát động một chương trình năm năm nhằm giải thoát các tù nhân chính trị tại Nam Việt mà đã lên đến cực điểm bằng một màn không ngủ thức canh “Tiger Cage ~ Chuồng Cọp” tại Washington vào ngày 14 tới ngày 20 tháng 7 năm 1974. 2798

“Không Khí Đàn Áp Chính Trị và Tôn Giáo”

Trong một bức thư gởi Tổng thống Nixon, nhóm nghiên cứu này đã viết, phần nào, “tình trạng đàn áp tôn giáo và chính trị đã rất phổ biến rộng rãi. Chỉ cổ động cho hòa bình hay bất kỳ bằng cách nào khác chống lại chính phủ thì dễ dàng bị truy tố là Cộng sản và bị bắt giữ sau đó.” Và “không thể nào có ảo tưởng rằng bầu không khí đàn áp chính trị và tôn giáo này lại có thể thích hợp cho một chính phủ có tính cách đại diện thực sự cho dân hay thực sự ổn định được.” 2799

Sự Thật: Không Khí Cởi Mở về Chính Trị tại Sài-gòn

Các sự kiện trên thực tế đã không hề phù hợp với các cảm tưởng của nhóm nghiên cứu về “không khí” của Nam Việt. Sài Gòn được nổi tiếng với hàng trăm sạp sách báo bày bán bất cứ gì và tất cả mọi thứ bằng tiếng Anh, Pháp và Việt Nam, kể  cả hai quyển Peoples War ~ Chiến Tranh Nhân Dân Peoples Army ~ Quân Độ Nhân Dân của tướng Giáp, quyển On Revolution ~ Cách Mạng của Hồ Chí Minh cùng các tác phẫm của Che Guevara luôn. 2800

Trong khi mọi loại âm nhạc đều đã bị cấm ở Bắc Việt, ở miền Nam Việt Nam, các bài hát của các nghệ sĩ chống chính phủ đều được phổ biến khắp nơi, như là của Khánh Ly. Các tay hoạt động chống chiến tranh như Nguyễn Công Hoan, Ngô Bá Thành và các phê bình gia khác đều được tự do đi khắp nơi gặp bọn  Mỹ phản chiến mà phần lớn đều đã không hề bị chính phủ quấy rầy. 2801

Năm 1970-71, đã có 24 tờ báo hàng ngày. Tờ lớn nhất, Tin Sáng, lại “vô cùng kỳ lạ rất chống chính phủ”, theo lời của Robert Turner. 2802 Vào tháng  9 năm 1970, Daniel Sutherland đã viết trong tờ Christian Science Monitor, “theo quy định của luật báo chí mới, Miền Nam Việt Nam có một trong những nền báo chí tự do nhất trong khu vực Đông Nam Á, và tờ nhật báo với số ấn bản cao nhất ở đây lại đã luôn luôn chỉ trích gay gắt Tổng thống Thiệu … Chính phủ đã không thể đóng cửa tờ Tin Sáng hoặc bất cứ báo nào khác trong số 30 tờ hiện đang được xuất bản ở Sài Gòn. ” 2803

Bill Laurie có nhớ về báo chí Sài Gòn, “Họ chửi tình trạng tham nhũng, chỉ trích Thiệu, và biểu lộ mọi tính cách hiếu chiến dể làm tổn thương nguyên là đặc điểm của một nền báo chí tự do.” Mặc dù “đôi khi … cũng bị kiểm duyệt … như là bị mất điện, để đọc giả biết được là đã có kiểm duyệt.” Một tờ báo vẫn có thể bị đóng cữa nhưng rồi lại sẽ ra mắt lại chỉ một tuần sau đó.

Thật vậy, chiếu theo ý kiến của chuyên viên chống nổi dậy ở Mã-lai-á là Sir Robert Thompson, giấy in báo đã được chính phủ phụ tài trợ. Hà Nội thì lại không hề có tự do báo chí trong thời chiến tranh, mà sau đó còn đã đóng cửa mọi báo chí và đã đốt các sách ở miền Nam Việt Nam và trong năm 2008 vẫn còn bị xếp hạng thứ 168 trong tổng số 173 quốc gia được khảo sát về tự do báo chí . 2804

Thật khó có thể kết luận rằng đoàn lưu diễn của FOR ở Côn Sơn mà đã từng chứng kiến các “chuồng cọp” và cũng từng thấy có áp bức về tự do chính trị ở khắp Nam Việt lại đã hoàn toàn chỉ gồm có tụi khùng và tụi ngu.

Thật vậy, chúng đúng đã là những du kích quân hoạt động cho kẻ thù của nước Mỹ trong cuộc chiến tranh ở miền Nam Việt Nam.

Đã có một khía cạnh khác cần phải nói đến, đó là chính sách khủng bố của Cộng sản chủ nghĩa, đó là việc khủng bố thực sự về chính trị .

Khủng Bố về Chính Trị: Các Vụ Thảm Sát của Việt-cộng

Trong khi đó, John Peterkin, một cựu chiến binh da đen của thời chiến tranh Triều Tiên và là Cố vấn Trưởng cấp Huyện tại tỉnh Phong Dinh đã chứng kiến chiến dịch Việt Cộng tàn sát người dân – hành vi khủng bố chính trị nghiêm trọng nhất có thể có được. Ấy vậy, tổ chức American Friends Services Committee, giống như những nhóm khác, đều đã không bao giờ đề cập đến những hành động tàn bạo này.

Bọn cộng sản “đã sẽ tấn công các ấp nhỏ vào ban đêm. Chúng chỉ việc giết, bừa bãi giết bất cứ ai.” Tại một làng vào buổi sáng sau khi bộ đội Bắc Việt rút đi thì  Peterkin đã thấy, “Một bàn tay ở đây, một bàn chân ở nơi kia. Có những bà mẹ vẫn bị bắn chết. Quả đúng là một vụ thảm sát. Chúng đã giết tất cả mọi người trong làng, chỉ một vài người là đã chạy thoát dược. Chúng đã làm vậy chỉ vì đã  có mổi một tiền đồn ở đó mà thôi.” 2805

Một chỉ thị bí mật của Đơn vị huyện Cần Đước, phân vùng 3, vào ngày 18 tháng 5 năm 1969 đã ra chỉ thị: “Chúng ta phải thúc đẩy … nhân dân tham gia vào chiến dịch ‘căm thù sâu xa kẻ thù’ … Chúng ta phải tìm mọi cách để tiêu diệt những ai đầu hàng, những kẻ phản bội và các nhân viên bình định nông thôn.” 2806

Trong khi vẫn gọi Mỹ là những tên xâm lược, Việt Cộng đã hệ thống hoá công tác xác định để tiêu diệt không thương tiếc các kẻ thù chính trị Việt Nam của chúng. Đó quả thật thực sự là khủng bố chính trị mà nếu so sánh, đã vượt xa các vi phạm của  Nam Việt đối với các chỉ tiêu của nền dân chủ tự do phương Tây.

Giai Thoại Đồi Hamburger Hill

Ngày 27 tháng 6 năm 1969, Tạp chí Life đã đăng chân dung đang tươi cười của tất cả 242 người Mỹ bị thiệt mạng tại Việt Nam trong tuần vừa qua.

Các bức chân dung là của 46 quân nhân bị giết tại Động Ấp Bia, nơi mà quân đội Hoa Kỳ và quân đội Nam Việt đã chiến đấu quyết liệt trong mười ngày và đã giết chết 597 Việt cộng. Số 56 lính Mỹ thiệt mạng và 420 bị thương sau đó đã mãi mãi bị xem như là tiêu biểu cho nạn nhân của “Hamburger Hill”.

Thành tích của các chiến binh Quân Lực VNCH đã bị coi thường dù chính Tiểu Đoàn 2 Lữ Đoàn 3 Sư Đoàn 1 QLVNCH dưới quyền chỉ huy của Trung tá Phạm Văn Đính đã chiếm được đỉnh đồi trước nhất. 2807 Thượng nghị sĩ Ted Kennedy đã cho trận đánh là “điên rồ … vô nghĩa và vô trách nhiệm”, mặc dù Đại tá Joseph B. Conmy, chỉ huy trưởng của Sư đoàn Không vận Airborne 101 đã tranh cải là khu vực A Shau vẫn nằm dưới quyền kiểm soát của đồng minh trong vòng ba năm. 2808

Mỹ ngày càng đã cho thấy không đủ gan trì đề chịu đựng các thiệt hại về chiến tranh tại Việt Nam. Thiệt hại chiến tranh của Bắc Việt sẽ tổng kết là 1.1 triệu đến 1.4 triệu – tỷ lệ tương đương với không ít hơn là 28 triệu người Mỹ – nhưng bọn Việt cộng đã hoàn toàn không quan tâm đến việc phí phạm máu thịt và sinh mạng của người dân Việt Nam.

Cuộc sống của bộ đội Bắc Việt “sinh Bắc tử Nam” đã thật sự khốn khổ hơn nhiều là những gương anh hùng nhất được chúng đề cao, về sốt rét, về đói ăn, về thiếu ăn và về những vết lở loét. 2809 Điều này chỉ có nghĩa là những khổ đau như vậy phải có lợi cho tuyên truyền chống bọn Mỹ vô nhân đạo mà thôi.

Có nhiều cách để làm giảm hiệu quả của cách thức một quốc gia tiến hành chiến tranh và ngoại giao. Các tiết lộ về bí mật quân sự và chính trị đã là một trong những vấn đề phổ biến của chính quyền Kennedy, Johnson và Nixon.

 *****

2754  Một linh cảm rất có ý nghĩa của Harold W. Rood.

2755  Larry Berman phỏng vấn Ellsberg và Halperin; Karnow phỏng vấn Halperin; 27 tháng chạp năm 1968, Tài liệu về các Giải pháp thuộc hồ sơ NSC Vietnam-Rand, hộp 3, NSC: các hồ sơ văn phòng Kissinger; tất cả đều được nêu ra bởi Larry Berman, No Peace, No Honor, trang 47 và các ghi chú tại trang 299.

2756  Phúc trình của Bộ Trưởng Quốc Phòng Melvin R. Laird gởi cho Kissinger, 21 tháng 2 năm 1969, NSCF, hộp 1007, Hồ sơ Việt-nam của Haig, Bộ  1 (Tháng giêng tới tháng 3 năm 1969).

2757  Phúc trình của Haig gởi Kissinger, 2 tháng 3 năm 1969, NSCF, hộp 1007, Hồ sơ Việt-nam của Haig, Bộ 1 (Tháng giêng tới tháng 3 năm 1969).

2758  Văn thư của Kissinger gởi cho Laird, 3 tháng 3 năm 1969, NSCF, hộp 1007, Hồ sơ Việt-nam của Haig, Bộ 1 (Tháng giêng tới tháng 3 năm 1969).

2759   Phúc trình của FBI, SAC WFO gởi Giám đốc 105-185148,  4 tháng 5 năm 1970,  trang 2 và 3.

2760   Giám đốc gởi SAC, New York,  Airtel David Tyre Dellinger SM-C  (Tay Hoạt động Nồng cốt) (Hồ sơ New York số 100157178), (Hồ sơ Buffalo  100-3844110), tháng 4 năm  1969 @ FBI, FOIA, Abbie Hoffman.  

2761   Robert Templer, “Imagining Vietnam,” Richmond Review, United Kingdom, tại richmondreview.co.uk/features/temple01  nêu ra trong cuộc phỏng vấn của bà ta đăng trong  L’Europeo, Tháng 2 năm 1969 và tờ Washington Post, 6 tháng 4 năm 1969, trang B1, B4; Oriana Fallaci, (chuyển ngữ bởi John Shepley), Interview With History, New York: Liveright 1976,  trang 74-87; Oriana Fallaci, Nothing, And So Be It, New York: Doubleday, 1969.

2762  Oriana Fallaci, “General Giap,” Interview with History, (chuyển ngữ bởi  John Shepley), Boston: Houghton Mifflin, 1977, trang 78.

2763  Oriana Fallaci, “General Giap,” Interview with History, (chuyển ngữ bởi John Shepley), Boston: Houghton Mifflin, 1977, trang  85-6.

2764   Oriana Fallaci, “General Giap,” Interview with History, (chuyển ngữ bởi John Shepley), Boston: Houghton Mifflin, 1977, trang 82-83.

2765   Oriana Fallaci, “General Giap,” Interview with History, (chuyển ngữ bởi John Shepley), Boston: Houghton Mifflin, 1977, trang 82 và 87.

2766  Thông tư số 75/CTNT, “Intensification of…Diplomatic Struggles…to Gain Greater Victories,” 27 tháng 2 năm 1969 trong hồ sơ của Phái đoàn Mỹ tại Nam Việt, Viet-Nam Documents and Research Notes, Hồ sơ số 101, Phần IV, Sài-gòn, Tháng giêng năm 1972, trang 2 và 10-11. 

2767  “Tài liệu tình báo của Chính phủ Hoa kỳ được giải mật liên hệ đến những móc nối giữa bọn cộng sản và ngoại quốc với Weather Underground. Được đệ trình như là bằng chứng theo thỏa thuận giữa công tố viện và luật sư biện hộ tại phiên xử W. Mark Felt và Edward S, Miller, trang 28  tại www.usasurvival.org.

2768   Alice Widener, “The Coo of the Doves: From Waldorf to Hilton, 1949-1969,” U.S.A. Bộ XV, Số  26, 14 tháng  3 năm  1969. 

2769  Thông tư số 79/CTNT, 29 tháng 3 năm 1969, “U.S. and Puppet schemes used in making a public proposal for private talks,” trong hồ sơ của Phái đoàn Mỹ tại Nam Việt, Viet-Nam Documents and Research Notes, Hồ sơ số 101, Phần IV, Sài-gòn, Tháng giêng năm 1972, trang 3 và 15-18 

2770  Trung tá Hải quân John S. McCain III, U.S. Navy, “How the POW’s Fought Back,” US News & World Report, 14 tháng 5 năm 1973.

2771 Bởi [được viết lại] Hanoi bằng Anh ngữ cho các quân nhân Mỹ tại Nam Việt  13:00 GMT ngày 2 tháng 6 năm 1969 b, B000S BVA 0002, (Eugene C.) Cannon, tháng 6 năm 1969; (Tin viễn thông Mỹ, AP hay là UPI?) “PW Songbird Is Pilot Son of Admiral, 4 tháng 6 năm 1969.

2772  Bản liên lạc số 8 của Weather Underground, bản sao thuộc hồ sơ Weather Underground của FBI, FOIA. Nguồn tin chính là bản phúc trình của Đương nhiệm SAC Chicago gởi cho Giám đốc, “Foreign Influence-Weather Underground Organization,”  20 tháng 8 năm 1976, trang 168.

2773   Thượng viện Mỹ, Communist Treatment of Prisoners of War,  tiểu ban Subcommittee  to Investigate the Administration of the Internal Security Act and other Internal Security Laws of Committee on the Judiciary, Washington,  8 tháng 8 năm 1972, trang 23.

2774   Lịch sử Các Tham Mưu Trưởng Liên Quân.

2775   “The Seattle Liberation Front,”  Information Digest,  tháng 5 năm 1970,  trang 2 speccoll.library.kent.edu/4may70/box107/107f9p8.html. 

2776  FBI, FOIA, Abbie Hoffman, Hoffsum3, trích lục của mụ Bình tại trang 123 tới 126. Nguyên bản phúc trình của FBI, “Peace Mobilization April 4-6, 1969,”  22 tháng 4 năm  1969; “Thousands March Here to Demand Vietnam Pullout,” New York Times, 6 tháng 4 năm 1969,  trang A-1.

2777  Thông tư số 89/CTNT, 4 tháng 5 năm 1969, “Concerning… Significance of the solution presented…at the Paris Conference,” trong Phái đoàn Đặc Trách Nam Việt, Viet-Nam Documents and Research Notes, Tài liệu số 101, Phần  IV, Sài-gòn, Tháng giêng năm 1972, trang 4, trang 19-21;  Xem thêm Đoàn Văn Tiên, trang 20, Ủy Ban Đương nhiệm, trang 5 Chỉ thị, [có thể của Trung ương Cục miền Nam] PRP C.C. Chỉ thị cho MTGPMN ngày 8 tháng 5 năm 1969 thuộc các công bố Hòa đàm Ba-lê, 19 tháng 5 năm 1969, bộ sưu tầm của Pike, Lưu trữ TTU, Tiết mục số 2121313022.

2778  Gilbert White và Bronson Clark, “A Call from the Board of Directors…” 5 tháng 5 năm 1969 trong FBI, FOIA, AFSC.

2779  Peter Arnett, “Hanoi Sees Nixon Victory, 4 Years of War,” Washington Star-News, 23 tháng 9 năm 1972.

2780  Phạm Thị Thiếu Tử, “Impressions,” SOS Vietnam, Tháng chạp năm 1976.

2781  HISC, Nghiên cứu Tham mưu, Subversive Involvement in the Origin, Leadership and Activities of the New Mobilization Committee to End the War in Vietnam And Its Predecessor Organizations, 1970, XII-XIII, trang 28.

2782  HISC, Staff  Study, 1970,  trang 28.

2783  International Liaison Committee, Stockholm Conference on Vietnam, Information Letter No. 2,  26 tháng 4 năm 1969; 18 tháng 7 năm 1969. Đều được nêu ra trong HISC, Staff Study, 1970,  trang  26-27.

2784  International Liaison Committee, Stockholm Conference on Vietnam, Information Letter No. 2, 26 tháng 4 năm 1969, trang 2.

2785  Tom Charles Huston, Phúc trình Đặc biệt dành cho Tổng Thống, TỐI MẬT, CHỈ TỔNG THỐNG ĐỌC – Rất nhạy cảm, Hành vi «yểm trợ của Cộng sản ngoại quốc cho Phong trào Phản kháng Cách mạng – Foreign Communist Support of the Revolutionary Protest Movement” tại Mỹ, tháng 7 năm 1969, trang 46-7, Giải mật ngày 11/10/2008 theo yêu cầu của Max Friedman.

2786  Thơ gởi ngày 23 tháng 5 năm 1969; Cả hai được nêu ra trong I HISC, Staff Study, 1970, 

2787  New Mobe, Phiếu dữ kiện phân phối cho báo chí trước các cuộc biểu tình trong tháng 11 năm 1969.

2788 Thám tử Quang nói với DOC, Nguyễn Phú Sanh, “Congressional /Religious Delegation Visit Con Son”,  3 tháng 6 năm 1969; U.S. Study Team on Religious and Political Freedom in Vietnam, “Findings on Trip to Vietnam, 5 tháng 5 năm 1969 – 10 tháng 6 năm 1969, dành cho tài liệu lưu trử của Quốc Hội; “Transcription of taped Interview of Don Luce,” Shirley Bordenkircher, 11 tháng chạp năm 1992 (có Jerry Snider đi theo); nêu ra trong tài liệu của D.E, Bordenkircher, S.A. Bordenkircher, Tiger Cage: Untold Story, Abby Publishing, 1998,  trang 103.

2789  David Jessup, “Preliminary Inquiry Regarding Financial Contributions to Outside Political Groups, by Boards and Agencies of the United Methodist Church 1977-79,” (báo) 7 tháng 4 năm 1980

2790  Don Luce, ”Vietnam’s overflowing Prisons: Where ‘one day is 1,000 years,” National Catholic Reporter, 16 tháng giêng năm 1969.

2791  D.E, Bordenkircher, S.A. Bordenkircher, Tiger Cage: Untold Story, Abby Publishing, 1998, trang 104

2792  Robert F. Drinan, “When will the American conscience demand justice for Vietnam?” National Catholic Reporter, 17 tháng 3 năm  2000.

2793  U. S. Study Team on Religious and Political freedom in Vietnam,”  Tháng 6 năm  1969,  trang 108-9.

2794  Bordenkircher đã không nhận dạng  được Dudman, nhưng Max Friedman đã xác nhận với Canfield,  26 tháng 6 năm  2008.

2795  Bordenkircher nói với Colby, “Study Team on Religious and Political Freedom, 17 tháng giêng năm 1970; nêu ra trong tài liệu của  D.E, Bordenkircher, S.A. Bordenkircher, Tiger Cage: Untold Story, Abby Publishing, 1998

2796 Bordenkircher  nói với  Colby, “Study Team on Religious and Political Freedom,  17 tháng giêng năm 1970; U.S. Study Team on Religious and Political Freedom in Vietnam, “Findings on Trip to Vietnam, 5 tháng 5 năm 1969 – 10 tháng 6 năm 1969, dành cho tài liệu lưu trử của Quốc hội; nêu ra trong tài liệu của D.E, Bordenkircher, S.A. Bordenkircher, Tiger Cage: Untold Story, Abby Publishing, 1998

2797   “A letter from Don Luce,” South Vietnam in Struggle, Số 77,  20 tháng 10 năm 1970.

2798 Tài liệu lưu trử  Fellowship of  Reconciliation, USA,(FOR-USA), DG 013,  Đoạn  2, Loạt  G, G-3, hộp 8, G-4, hộp 10-11,  Thư viện Swarthmore College Library tại Swarthmore.edu/library/peace;  Tiger Cage Vigil and Fast, Catholic Peace Fellowship Records, Tài liệu lưu trử  của Đại học University  of  Notre  Dame Archives,  Ngăn hồ sơ  CCPF 7/12.

2799  U. S. Study Team on Religious and Political freedom in Vietnam,” Tháng 6 năm 1969, trang 10-9.

2800  Robert Turner  nói với  Max Friedman và mấy người khác,  25 tháng 5 năm 2009. Turner và  Friedman đã cùng có chụp hình các sách và báo.

2801  Bill Laurie nói với  Roger Canfield,  25 tháng 5 năm  2009.

2802  Robert Turner  nói với  Max Friedman và mấy người khác,  25 tháng 5 năm  2009; Max Friedman nói với Robert Turner,  25 tháng 5 năm  2009.

2803 Daniel Sutherland,  “Free-swinging press keeps Saigon ducking,” Christian Science Monitor, 18 tháng 9 năm 1970;  Robert Turner nói với  Bill Laurie và mấy người khác , 31 tháng 5 năm 2009. 

2804   Bill Laurie nói với  Roger Canfield và mấy người khác,  25tháng 5 năm  2009; Reporters Without Borders (Phóng viên Không biên giới) tại  http://www.rsf.org/article.php3?id_article=24025. 

2805  Harry Maurer, Strange Ground: An Oral History of Americans in Vietnam, 1945-1975 (New York: Henry Holt, 1989), trang 311, viện dẫn bởi Mark Moyar, “VILLAGER ATTITUDES DURING THE FINAL DECADE OF THE VIETNAM WAR, 1996 Vietnam Symposium, “After the Cold War: Reassessing Vietnam,” 18-20 tháng 4 năm  1996,

http://www.vietnam.ttu.edu/vietnamcenter/events/1996_Symposium/96papers/moyar.htm

2806 Tài liệu số 06-1939-69 được nêu ra bởi Lê Thành Nam, “Viet-Cong Repression: Control and Polarization of the Populace” tại  http://25thaviation.org/history/id926.htm

2807   Andrew Weist, “Vietnam’s Forgotton Army,” trong tài liệu của Joachim Lê Tinh Thông, (xuất bản), The Missing Pieces in the Vietnam War Puzzle, the Vietnamese-American Nationalist in Diaspora, Wesminster,  28 tháng 4 năm  2010, trang 152.

2808  Đại tá Joseph B. Conmy, “I Led a Brigade at Hamburger Hill,” Washington Post,  27 tháng 5 năm 1989 viện dẫn bởi  Lewis Sorley trong  A Better War: The Unexamined Victories and Final Tragedy of America’s Last Years in Vietnam, New York: Harcourt, trang 199.

2809  Bảo Ninh,  The Sorrow  of  War,  trang 58-59  nêu ra bởi Võ M. Nghĩa , “The War Viewed From All Sides” trong tài liệu  của Võ M. Nghĩa, Đặng Văn Chát, Hồ Văn Hiền (xuất bản), War and Remembrance, SACEI Forum #6,  Denver: Outskirts Press, Inc, 2009,  trang 14.

*****

Advertisements

Một phản hồi to “Roger Canfield’s Americong #58”

Trackbacks/Pingbacks

  1. Giới thiệu tác phẩm AMERICONG (MỸ-CỘNG) – Lê Bá Hùng | Ngoclinhvugia's Blog - 05/01/2016

    […] Roger Canfield’s Americong #58 […]

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: