Roger Canfield’s Americong #183

image002

Comrades in Arms

How the Americong Won the War in Vietnam

Against the Common Enemy— America

Copyright Roger Canfield, Ph.D.

1986-2012

No commercial transaction allowed except that approved by the author, copyright holder.

Obtain a prepublication release of a CD-R in Microsoft Word in ENGLISH at a discounted price of $15 from Roger Canfield Rogercan@pacbell.net at 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 or at http://americong.com.

Completely SEARCHABLE for any name, date, place or event of the War and its protesters.   

Cover: Design Stephen Sherman. Photos: Roger Canfield, March 2008. TOP: War protest Hawaii, February 1966 displayed at War Remnants (Crimes) Museum, Saigon. Bottom: Praetorian Guard

Các đồng chí cùng chiến tuyến

Làm thế nào MỹCộng thắng cuộcchiến Việt Nam

Chống kẻ Thù Chung – Mỹ

Giữ bản quyền Roger Canfield, Tiến Sĩ

1986-2012

Không được sử dụng vào mục đích thương mại nếu không có sự đồng ý của Tác giả, người giữ bản quyền.

Có thể mua một tiền bản dưới dạng CD-R Microsoft Word bằng Anh ngữ với giá đặc biệt US$15 ngay từ tác giả Roger Canfield  Rogercan@pacbell.net tại 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 hay tại  http://americong.com.

Hoàn toàn có thể TRA CỨU hoặc bằng tên, bằng ngày tháng hay biến cố liên quan đến cuộc Chiến cùng cả luôn bọn tham dự biểu tình .

*******

* Tác giả giữ bản quyền © Roger Canfield 1986-2012

  • Lê Bá Hùng chuyển ngữ  (với sự chấp thuận của Tác giả)

*****

Chương 183

Cho Dù Bất Kỳ Điều Gì Đã Xẩy Ra Cho Tom và Jane

Tom Hayden

Sau chuyến đầu tiên Tom Hayden đi Hà Nội trong năm 1965 và tiếp nối là các mối liên hệ mật thiết của y với cộng sản trong vòng cả mười năm sau đó, đám bè bạn của Hayden đã sẽ cố giải thích mọi việc là đều do bản tính lãng mạn của đương sự. Chẳng hạn trong sách The New Left: A Prophetic Minority (Tân Tả: Một Thiểu Số Tương Tri) thì Jack Newfield có viết là Hayden đã “ngày càng trở thành” cấp tiến, đầy cách mạng, đầy cay đắng và cách xa với cánh tả chống Cộng. Vào năm 1987, trên tờ Los Angeles Times, Hayden cũng có mô tả thời gian này mà đã gọi đó đã là “kinh nghiệm  đắng cay” và nói là mình hối hận về  những gì từng xẩy ra với tổ chức SDS, nhưng dường như y không hề hối tiếc sự biến đổi để quay qua chạy theo chủ nghĩa hư vô và tuyệt vọng ngay của chính mình.

Để trả lời các cáo buộc về những hành vi của y ở Bratislava và Hà Nội vào năm 1967 là phản quốc thì sau này Hayden có tuyên bố là mình chỉ từng là một nhà ngoại giao tài tử ráng mưu tìm hòa bình, chỉ đã hoạt động với mục đích nhân đạo và đã ráng hợp tác với chính phủ Hoa Kỳ, và vì vậy thì cũng tựu chung như là chỉ đi giúp cho CIA mà thôi.

Trên tờ Reunion, mãi hai năm sau các lũng cũng với Quốc Hội California thì Hayden mới đã thừa nhận với độc giả chính y đã là “một trong những kẻ đầu tiên” đi Hà Nội và một trong những “người Mỹ đầu tiên trong nhiều năm” đã đến Bắc Kinh. 5241

Trong bài viết trên tờ Los Angeles Times, John Balzar, một tên bạn của Hayden 5242  đã không hềnhắc lạicho độc giả về các hoạt động đáng xấu hổ nhất của Hayden. Hayden / Balzar đã không hề ghi nhận thái độ trường kỳ của Hayden, chớ không hề là chỉ trong đoản kỳ, cứ mãi mãi ngưỡng mộ Việt Cộng ở Bắc Việt. Ba năm sau chuyến đi đầu tiên tới Hà Nội, Hayden đã tuyên bố: “Việc đi Việt Nam đã phá nát và dẹp bỏ các huyền thoại chống Cộng sản dùm tôi”. Như chúng ta đã thấy, các “huyền thoại” chống Cộng của Hayden thì ngay từ lâu cũng đã từng bị vỡ nát trong cuộc tranh luận quan trọng vào năm 1962 tại Port Huron, trong cuộc khủng hoảng hỏa tiển Cu-ba, trong 17 tháng 4 năm 1965, trong cuộc biểu tình năm 1965, v. v. . . , v. v. . . .

Tới năm 1968 thì Hayden cũng đã nói rằng chuyến đi Việt Nam năm 1965 của y  đã “giúp biến đổi tôi nhiều hơn để trở thành một người đi theo chủ nghĩa quốc tế. [Chúng tôi] là một thành phần của cả một phong trào rộng khắp năm châu nhằm hạn chế quyền lực của Mỹ quốc  … để chiến đấu chống lại chủ nghĩa tư bản và quan liêu”.  5243 Từ ngữ”thành viên chủ nghĩa quốc tế” của Hayden đã bật mí ra mọi việc thật là rỏ ràng. V.I. Lê-nin cũng từng nói, “Một thành viên đúng nghĩa của quốc tế chủ nghĩa thì không được nghĩ gì về đất nước của chính mình … Họ phải … đặt việc riêng rẻ sau lợi ích tập thể”.  5244  Cái “lợi ích tập thể” đối với Lê-nin đã chính là việc phải chiến thắng các thế lực  tư bản phản động mà thôi. Các khác biệt đáng kể, nếu có, giữa tay Lê-nin Nga và tên Richard Flack Lê-nin Mỹ tức là Tom Hayden quả là không có gì là đáng kể cả.

Thậm chí, mãi cả bảy năm sau đó, mà Hayden vẫn còn tuyên bố là Mỹ đã bị thất trận,

Nhân dân Việt Nam đã có thể gìn giữ được nền tự do và độc lập của họ và nhân dân Việt Nam quả đã có những cá tính đặc biệt, mà tôi vẫn đang cố gắng để hiểu, điều khiến họ thành dân tộc phi thường nhất hiện đang sống trên thế giới, và như vậy họ cũng đã thiết lập một tiêu chuẩn về đạo đức và hy sinh cho toàn cầu.5245

Tiêu chuẩn của Hayden  về sự hoàn hảo đã chính là việc thực thi chủ nghĩa xã hội của Việt cộng: “Tôi đã chưa hề … [trước đây] … tới được một quốc gia theo xã hội chủ nghĩa, nơi mà mọi người đều thực sự sản xuất cho chính bản thân, đều xây dựng cho chính bản thân, đều giáo dục cho chính bản thân. 5246

Trong một cuộc phỏng vấn vào năm 1986 thì đặc biệt là Hayden cũng đã không hề chỉ trích Bắc Việt mà lúc đó vẫn còn lệ thuộc nặng nề vào Liên Xô. Đã vẫn còn quá ư là bao điều để mà tỏ lòng ngưỡng mộ mà. Vì vậy, tuy là vẫn “có một yếu tố Sì-ta-li-nít quan trọng trong Đảng Cộng sản Việt Nam”, Hayden vẫn khẳng định “những gì tôi thấy đã quá ư là thật, đúng y nguyên vẹn với một cái cảm giác chân thật. Tôi đã không hề bị gạt lừa. Tôi đã thấy được mọi người ở trong trạng thái chuyển thay thật là oai hùng”. Y đã cảm thấy “Cuộc chiến đó đúng thật là oai hùng, nó là một trong những cuộc chiến đấu phi thường nhất trong lịch sử thế giới”. 5247

Khi vào năm 1986 dân biểu California Gil Ferguson và những người khác lên tiếng phản đối các huyến đi Hà Nội của Hayden thì Hayden đã giận dữ trả lời: “Tôi là một người Mỹ yêu nước và không một tên cực đoan đầu óc hẹp hòi nào mà lại có thể vu cáo khác hơn nữa cho tôi được”. 5248 Cho dù là một kẻ ái quốc bị vỡ mộng và / hay là một tên dấn thân theo chủ nghĩa quốc tế thì đó cũng là bằng chứng mà đã khiến những “kẻ cực đoan mù quáng” như Gil Ferguson đâm ra nghi ngờ cho cái gọi là lòng ái quốc của Hayden. 5249

Mãi đến năm 1979 thì Hayden vẫn cũng sẽ không tuyên bố gì hơn là có một số hành vi của Việt cộng đã khiến y “thất vọng”. Đến năm 1988 thì trên tờ Reunion, Hayden chỉ thừa nhận là nay quan điểm của mình về Việt cộng đã ít “lãng mạn” hơn trước đây. Năm 1979, James Mills (vị lãnh đạo trầm lặng, rất thông thái, phóng khoáng và có khuynh hướng tự do tại Thượng viện Tiểu bang California) đã phải gọi Hayden là một tên Sì-ta-li-nít. Rỏ ràng là quan điểm của ​​Mills cũng đã rất là khắc nghiệt, y hệt như bao nhận xét của cái đám “cực đoan mù quáng hữu phái” mà thôi.

Quan điểm của Hayden trong năm 1986 về vụ phóng thích tù binh của năm 1967 đã rất ư là đồng điệu với cái thói hay viết lại lịch sử của y mà chỉ nhằm nhấn mạnh là y chỉ đã hành động như một trung gian hòa giải ngay tình giữa các “đối thủ đang giao chiến”. Tới năm 1986 thì y lại cho biết là mình đã chỉ hành động như “một nhà ngoại giao tài tử” mà thôi.

Vào tháng 6 năm 1986, Dân Biểu California Gil Ferguson đã kêu gọi mở một cuộc thảo luận cặn kẻ để xem tư cách của Hayden có cho phép y vẫn ngồi được trong Quốc hội California hay không. Ferguson tuyên bố là Hayden đã từng cung cấp viện trợ và ủng hộ địch trong thời chiến, nên do đó, đã vi phạm Hiến pháp California và việc này đã cho phép loại Hayden ra khỏi mọi chức vụ văn phòng trong cơ quan lập pháp California. Như là một phần trong việc biện hộ cho Hayden đối với các cáo buộc của Ferguson, một bản tường trình từ văn phòng Hayden đã đề cao là Hayden đã từng “tổ chức đường dây liên lạc duy nhất cho phép tù binh viết thơ gởi gia đình của họ từ năm 1967 đến năm 1973”. 5250 Đây đúng là một cách nói quá ư là đơn giản về vai trò của bọn COLIFAM mà đã từng là một công cụ về chiến lược chiến tranh của VNDCCH.

Dân Biểu California Gil Ferguson đã tuyên bố là Hayden đã chắc chắn từng đóng vai trò một tên gián điệp: cho ai? Cho phía bên kia thôi. Và quả vậy, làm sao mà ta có thể rút ra được bất kỳ một kết luận nào khác hơn đâu.

Các Móc Nối Với Cu-ba Của Hayden: NACLA, Venceremos, Weathermen

Trong các hồi ký của y, Hayden đã không hề đề cập đến các tổ chức Tri-Continental (Tam Châu) của Castro, hay là chuyến đi của y đến Puerto Rico, đến NACLA, đến Cultural Congress (Đại hội Văn nghệ) của Castro, hay đến Lữ đoàn Venceremos. Y có thừa nhận, “Hầu hết các thành viên Weathermen đều là bạn của tôi”. 5251 Y có nêu tên sáu tay Weathermen trong hồi ký của mình mà ba tên trong số đó đã là bọn thành viên lâu nay đã bị nhận dạng thuộc Lữ đoàn Venceremos (Bernardine Dohrn, Diane Oughton, Kathy Boudin). Nhiều cá nhân đã tham dự trong các nỗ lực Tricontinental, NACLA và Lữ Đoàn Venceremos, mà lại không hề bị nhắc tới trong hồi ký của Hayden thì đều chắc chắn là Hayden đã từng biết đến. Chắc chắn nhất là từng thuộc Tricontinental mà lại đã được Hayden biết đến thì phải là: John Gerassi, Stokely Carmichael và Donna Allen.

Ngoài tụi Venceremos thì Hayden cũng đã quen biết cả hàng trăm tên khác, nhưng hợp lý nhất và đáng lưu ý nhất thì là bọn sau đây: Julie Nichamin, Saul Landau, Kathy Boudin, Marianne Camp, Bill Ayers, Bernardine Dohrn, Diane Oughton, Terry Gold, Michael Klare, Mike Klonsky , Michael Locker, Nancy Stein. Trong số bọn NACLA, mà ngay cả mấy tên cánh tả là Collier và Horowitz cũng từng “coi như là … gián điệp Cuba” thì Hayden chắc chắn đã quen, và trong một số trường hợp, phải nói là quen mật thiết: John Gerassi, Paul Jacobs, Jon Frappier, Mike Klare, Lee Webb, Carl Oglesby, Nancy Stein và Steve Weissman.

Liên hệ mật thiết nhất của Hayden với bọn NACLA đã là ở Chicago, nơi y và Rennie Davis từng chọn lọc ra một số ít tên để giúp chúng tổ chức các cuộc biểu tình nhân Đại hội năm 1968. Tại Berkeley, công trình mà Hayden đã gọi lộn tên là “Community control of the police ~ Kiểm soát của cộng đồng đối với cảnh sát” của năm 1970-1971 thì đã công khai trở thành một chương trình của NACLA vào năm 1974, nếu không nói là ngay cả trước đó. Tài liệu Iron Fist của NACLA  … có trích dẫn muôn trùng là các bài viết và các công tác của Hayden. Và Viện Laurel Springs Institute của y với Fonda cũng đã giúp đở bọn NACLA vào những năm 80.

Lại một lần nữa, Hayden cũng đã hoàn toàn lặng câm không nói gì tới về tụi NACLA trong bộ hồi ký của y. Khi hoạt động núp lén bất hợp pháp phục vụ chỉ quyền lợi của ngoại quốc, mà nói đúng thật ra chỉ là thu thập tin tức tình báo cho Cu-ba và Liên Xô, thì không có gì đáng ngạc nhiên là các dự án  “nghiên cứu” của NACLA đều chỉ tập trung chủ yếu vào việc tấn công (và làm suy yếu) cả quân đội lẫn cảnh sát và tình báo của Hoa Kỳ.

Theo Dõi Hành Tung Tom và Jane

Về mặt công khai, Jane Fonda đã thắng kiện tại tòa để được quyền được thông tri tài liệu chi tiết về Đề nghị Huston liên quan đến thông tin tình báo quốc nội  và sau đó thì đến phiên Tom Hayden cũng thành công được tòa ra lệnh niêm phong hồ sơ FBI của y chiếu theo Đạo Luật Privacy Act (Quyền Tư Nhân).

Nhưng nói chung về toàn bộ nội vụ thì là trong một chuổi dài kiện tụng, một số lớn thẫm phán đã từ chối yêu cầu của Tom Hayden để xin tham khảo các hồ sơ của y mà đã được bảo vệ bởi Foreign Intelligence Surveillance Act  ~ FISA (Đạo luật Giám sát Tình báo Ngoại Quốc). Chiếu theo luật này thì các hồ sơ duy nhất mà có thể hợp pháp bị từ chối không cho Hayden được biết thì đều phải là loại hồ sơ đã có được từ việc giám sát từng được quy định bởi luật pháp Hoa Kỳ đối với gián điệp nước ngoài. Các lý do nêu ra đều là an ninh quốc gia để bác bỏ các thỉnh cầu đệ trình tòa của y, cũng như là phải bảo vệ các nguồn tin, các phương pháp và cách thức sử dụng tin tình báo của những kẻ thù của quốc gia như là Tom Hayden và đồng bọn. John Kerry sau này đã tuyên bố y không bao giờ nhận được các bằng chứng nghe lén về y trong khoảng thời gian này, 5252 điều này cho thấy cũng đã có việc bác bỏ hợp pháp vì lý do an ninh quốc gia thuộc ngay một số hồ sơ của chính y.

Tom Hayden, một Sự Nghiệp Chính Trị Lâu Dài

Sau khi thất bại tranh cử vào Thượng viện Hoa Kỳ từ California với Thượng nghị sĩ Tunney vào năm 1976 thì ngày 17 tháng 11 năm 1977, Tom và Jane đã được mời tham dự một buổi Tiếp Tân tại Tòa Bạch Ốc bởi Tổng thống Jimmy Carter. Vì ngay chính Carter cũng đã từng không hề chịu dành chút ít thì giờ để tiếp xúc với các người vợ của những quân nhân bị mất tích trong thời chiến tại Việt Nam, 5253 nênlờimời bộ Hayden-Fonda này đã khiến một số người nghĩ là nay Carter đạo diển để cho hành vi phản quốc của chúng nay như là đúng thật đáng kính. Tom và Jane từng thành lập Campaign for Economic Democracy (Chiến dịch Dân chủ Kinh tế) ở California hầu đoàn thể hóa phe tả trên toàn tiểu bang và đã dành được nhiều ghế bầu ở Chico, Santa Cruz, Santa Monica, Los Angeles và các nơi khác.

Bắt đầu từ năm 1982, nhờ một cử tri đoàn phe tả ở Santa Monica thì Tom Hayden đã được bầu vào Hạ viện, rồi vào Thượng viện của Quốc hội California mãi cho đến khi chiếu theo luật , điều lệ về giới hạn nhiệm kỳ đã không còn cho phép y ứng cử nữa vào cuối những năm chín mươi. Y bèn ráng nhiều lần tranh cử chức Thị trưởng thành phố Los Angeles và Thống đốc California nhưng đều thất bại.

Iraq: Khuôn Mẫu Việt Nam

Vẫn Cùng Một Bọn Bọn Quỷ Quái, Vẫn Cùng Một Giải Pháp Mà Thôi

Tom Hayden đã phản đối sự chiếm đóng của Hoa Kỳ ở Iraq. Y cùng một nhóm nhân sĩ Mỹ đã kêu gọi người dân Canada hãy gởi thơ trực tiếp cho Thủ tướng Canada Paul Martin để thúc giục ông ta không nên cho phép binh lính Mỹ vào Canada nếu họ xin phép như vậy suốt trong cuộc chiến tranh của Mỹ tại Iraq.

Trong một bài viết vào năm 2004 dưới tựa đề “Làm thế nào để kết thúc cuộc chiến tranh ở Iraq” thì Tom Hayden đã lộ ra ý đồ như kỳ đã từng thành công trong kế hoạch IPC để đem lại cuộc thất bại tại Việt Nam. “Phong trào phản chiến có thể buộc chính quyền Bush phải rời khỏi Iraq bằng cách không tài trợ, không cung ứng quân đội và tham gia vào các liên minh cần thiết trong chiến lược thống trị của mình”.

Và, dĩ nhiên, Hayden cũng lại tái nhắc nhở nào là những hành vi tàn ác thông thường của Mỹ. “Khi cuộc bầu cử kết thúc thì chắc chắn là chính quyền Bush sẽ biến Fallujah thành một lò sát sinh trâu bò”. Tuyệt nhiên y đã không hề đụng gì tới mấy đoạn ‘video’ quay cảnh chặt đầu người tại Fallujah.

“Bước đầu là phải gây áp lực ở cấp quận vào Quốc hội nhằm chống đối mọi tài trợ thêm hay bổ sung quân thêm cho chiến tranh. Ngay như nếu các dân biểu Quốc hội … mà đề xuất được những ‘điều kiện’ cho việc tiếp tục viện trợ thì cũng đã là một bước tiến nhỏ nhắm tới việc ngưng tài trợ. Nếu chỉ có 75 dân biểu Quốc hội chính thức ghi danh phản đối tài trợ thêm nữa thì đó cũng đã là một bước đi đúng hướng để giải quyết vấn đề”.

Đảng Dân chủ thì cũng có thể biến thành cái đảng phản chiến. “Các đảng viên cấp tiến cần phải từ chối đóng góp bất kỳ gì cả, không làm tình nguyện viên, không góp tiền bạc, v. v. . .  cho mọi tân ứng cử viên hay ứng cử viên đương nhiệm sẻ tái cử mà từng chứng tỏ là bọn phản động cộng tác viên” ví dụ như với bọn MOVEON.org. Thật là trớ trêu vì Hayden đã chỉ mặt bất kỳ ai mà ủng hộ chính phủ Hoa Kỳ thì đều là hạng cộng tác viên điềm chỉ viên mà thôi!

“Thay vì đứng đó mà giả định là chính quyền Bush đang có một ‘chiến lược rút lui’ thì phong trào cần phải hành động buộc chính phủ phải rút thật thôi”.  Kết thúc có nghĩa là “Kết thúc cuộc tắm máu này là nhiệm vụ vinh dự nhất mà mọi người Mỹ có thể làm để khôi phục lại các ưu tiên cấp tiến … Chúng ta đã vượt qua thời điểm khã dỉ có thể rút lui một cách êm đẹp”. Đúng là Hayden đã nhớ lại phong trào phản chiến Việt Nam. “Mặc dù hầu hết các cuộc thảo luận về Việt Nam đều bỏ qua hay xem nhẹ yếu tố bất đồng chính kiến ​​trong quân đội Mỹ thì việc đó lại là cực kỳ hệ trọng trong việc chấm dứt cuộc chiến trên bộ”.

Lời kêu gọi của Hayden lần nữa lại không phải là lên đường bảo vệ tổ quốc mà là phải đào ngũ thôi. “Phong trào  sẽ cần phải bắt đầu mở một lộ trình bằng hỏa xa chìm bí mật để giúp đưa qua thiên đường  hầu trú ẩn ở Canada cho những người nào từ chối phục vụ”.

Hayden bèn kết luận: “Trong đoản kỳ: hãy bóp nghẹt các nguồn tài trợ, thúc đẩy đảng Dân chủ thành một đảng đối lập,  … hỗ trợ các binh sĩ bất đồng chính kiến, làm cho chính sách ‘Iraq hóa’ khó khăn hơn và xây dựng một liên minh hòa bình chống lại liên minh chủ chiến”.

Jane Fonda, Kẻ Không Bao Giờ Chịu Ăn Năn

Dù đã từng ồn áo biết là bao nhiêu về việc Mỹ sử dụng hóa chất tại Việt Nam, sau này Jane Fonda lại đã không hề phản đối hoặc là vụ Việt cộng sử dụng vũ khí hóa học tại Lào gọi là vụ “mưa vàng”, hoặc vụ sử dụng vũ khí hóa học của Liên Xô ở Nam Yemen, Afghanistan và Angola. Y thị vẫn mãi mãi tự hào về các chương trình phát thanh tại Hà Nội của mình.

Năm năm sau thì y thị vẫn sẳn sàng để tuyên bố, “Tôi ghét đắng cay cái câu ai đó sẽ nói là ‘Tuyệt vời không, bà ta nay đã hết điên khùng và nay đang sống bìng thường như mọi người khác’.  Tôi nay lại càng quyết chí với những gì tôi đang tin tưởng hơn là … ngay những gì tôi đã từng tin tưởng dạo bị coi là một kẻ phản quốc”.  5254

Mười năm sau thì , “Tôi tuyệt đối không hề hối tiếc về mọi việc, tôi lại còn hãnh diện là khác về những gì mình đã làm”.  5255  Mười ba năm sau thì đúng là Fonda có lý, y thị đã chỉ là một “vật bị đem tế thần” trong khi “các nhà lãnh đạo cứng rắn” của Mỹ vẫn là “trên căn bản, các kẻ thù của tất cả mọi giá trị mà đất nước hằng hãnh diện có được”. 5256

Hai mươi năm sau thì, phát ngôn viên của Fonda, tên Steve River, một thằng nếu không ngu đần thì cũng là thằng nói láo, đã lên tiếng là “thật cực kỳ không công bằng” để nói là Tom và Jane đã “từng hỗ trợ phía bên kia”. 5257

Bỏ Bom Đê Điều: Một Đề Tài Hấp Dẫn Thì Cứ Phải Bám Với Nó Thôi

Năm 2004 thì Tom Hayden có viết: “Mục đích của Fonda (khi đi Hà Nội) đã là … để lưu ý mọi người về việc bỏ bom có thể có nhằm đánh các hệ thống đê điều của Việt Nam”. Y đã vẫn gian trá tuyên bố là Nixon thực sự có cho lệnh bỏ bom đê điều và nhờ chính Jane đã chận đứng lại được mọi mưu đồ. 5258 Cứcáo buộc là Nixon đang nghiên cứu việc không tạc đê điều, cũng như Johnson trước đó, thì là cách Hayden thường sử dụng để chứng minh đó là một việc cố tình. Một lời nói dối thì quả thật dư sức đi cả hai lần “vòng quanh thế giới trước khi sự thật mới chịu hé lộ”.

Tới năm 2005 thì Jane Fonda lại đã cố gắng khơi lại thành tích phản chiến cũ của y thị để khẳng định là y thị rất là yêu thương quân đội và cũng rất ư là căm thù cuộc chiến tại Iraq. Fonda luôn luôn có một cách rất kỳ lạ để tỏ lộ tình đoàn kết với những người đàn ông và phụ nữ trong quân đội Mỹ. Tay đồng hành của y thị trong chuyến đi được bố trí trước, hay cũng xem như là tên hướng dẫn viên đã là George Galloway, một dân biểu Quốc hội, mà đã từng bị vạch mặt như là từng hưởng lợi tiền bạc trong vụ lừa đảo UN-Saddam Hussein’s Food for Oil  (Liên-Hiệp-Quốc/Saddam Hussein Đổi Dầu Hỏa Lấy Thực Phẫm). Sau một thời gian khã dĩ đủ để mọi việc lắng động lại thì vào năm 2007, Jane bèn trở lại vai trò công khai phản đối cuộc chiến tại Iraq.

Trong năm 2007, Fonda vẫn cứ tuyên bố là loại vũ khí chống cá nhân đã từng  sát hại cả hàng trăm ngàn người và đã làm hư hỏng suy yếu đê điều mà mắt thường của con người đã không thể nào thấy được. 5259

Sau khi một số đông cựu tù binh đã viết sách kể lại kinh nghiệm bản thân thì Jane Fonda bèn tuyên bố,

“Một số tù binh … đã nói … chính sách chung là phải tra tấn tù binh. Đó không phải là vấn đề … Tôi thì cũng không phải là nói chuyện với họ đâu. Tôi đã chỉ giận vì Nixon đã sử dụng việc (tù binh) trở về … để viết lại lịch sử  mà thôi”.

Jane Fonda đã câm nín về hàng triệu người tị nạn, hàng trăm ngàn tù trong các trại cải tạo, hàng chục ngàn sinh linh bị bọn Việt Cộng chiến thắng xử tử sau khi miền Nam bị rơi vào tay chúng năm 1975. Y thị đã không bao giờ đề cập đến nạn diệt chủng ở Campuchia trên những “cánh đồng chết”.

Việc Tom và Jane đã từng nhận lãnh biết bao là chê trách thì cũng đúng thôi.

*****

5241 Reunion, trang 175, 181.

5242  Đọc: Các Lời Tự thú của Tom trên tờ Reunion.

5243  Steven V. Roberts, Esquire, trang 208; Miller, trang 266 ghi chú 13.

5244  Herald of Freedom, 27 tháng 7 năm 1979.

5245  Findley, Rolling Stone, Phần I, trang 47 được nêu ra trong sách của Miller, trang 266 ghi chú 14.

5246  Findley, Rolling Stone, Phần I, trang 46 được nêu ra trong sách của Miller, trang 265-6 ghi chú 14.

5247  James Miller phỏng vấn Tom Hayden vào ngày 25 tháng giêng năm 1986.

5248  Hayden phát biểu tại Quốc hội vào ngày 23 tháng 6 năm 1986.

5249  Nhân khi cộng tác để giúp Gil Ferguson và về sau này là Dân biểu Mickey Conroy, tác giả đã có được cả đống tài liệu và đã dựa vào đó để viết về  việc này. 

5250  Phúc trình của Hayden cho các dân biểu Quốc hội, 19 tháng 6 năm 1986, trang 1.

5251  Reunion, trang 420.

5252  John Glionna, “FBI Shadowed Kerry During Activist Era”, Los Angeles Times, 22 tháng 6 năm 2004.

5253  Dornan, Cong. Record, 12  tháng 5 năm 1978.

5254  McCalls, (Số Tháng Giêng 1978).

5255  Các báo Los Angeles Times, Home, (6 tháng chạp năm 1981).

5256  “I Was Shrill, Arrogant, but I Wasn’t Wrong”, U.S.A. Today, (Tháng 7 Năm 1985) được nêu  ra bởi John Lofton trong Washington Times, (21 tháng 7 năm 1985).

5257  Army Times, 17 tháng 8 năm 1987, trang 68.

5258  Tom Hayden, “You Gotta Love Her”, The Nation, 22 tháng 3 năm 2004.

5259  Như trên, trang 319.

*****

 

 

Một phản hồi to “Roger Canfield’s Americong #183”

Trackbacks/Pingbacks

  1. Giới thiệu tác phẩm AMERICONG (MỸ-CỘNG) – Lê Bá Hùng | Ngoclinhvugia's Blog - 05/01/2016

    […] Roger Canfield’s Americong #183 […]

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: