Roger Canfield’s Americong #4

Comrades in Arms

How the Americong Won the War in Vietnam

Against the Common Enemy— America

Copyright Roger Canfield, Ph.D.

1986-2012

No commercial transaction allowed except that approved by the author, copyright holder.

Obtain a prepublication release of a CD-R in Microsoft Word in ENGLISH at a discounted price of $15 from Roger Canfield Rogercan@pacbell.net at 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 or at http://americong.com.

Completely SEARCHABLE for any name, date, place or event of the War and its protesters.   

Cover: Design Stephen Sherman. Photos: Roger Canfield, March 2008. TOP: War protestHawaii, February 1966 displayed at War Remnants (Crimes) Museum,Saigon. Bottom: Praetorian Guard

 ******

Các đồng chí cùng chiến tuyến

Làm thế nào MỹCộng thắng cuộc chiến Việt Nam

Chống kẻ Thù Chung – Mỹ

Giữ bản quyền Roger Canfield, Tiến Sĩ

1986-2012

Không được sử dụng vào mục đích thương mại nếu không có sự đồng ý của Tác giả, người giữ bản quyền.

Có thể mua một tiền bản dưới dạng CD-R Microsoft Word bằng Anh ngữ với giá đặc biệt US$15 ngay từ tác giả Roger Canfield  Rogercan@pacbell.net tại 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 hay tại  http://americong.com.

Hoàn toàn có thể TRA CỨU hoặc bằng tên, bằng ngày tháng hay biến cố liên quan đến cuộc Chiến cùng cả luôn bọn tham dự biểu tình .

******************************************************

* Tác giả giữ bản quyền © Roger Canfield 1986-2012

  • Lê Bá Hùng chuyển ngữ  (với sự chấp thuận của Tác giả)

*****

Chương 4

 

Chính Sách về Văn Hóa Việt Nam và Các Áp Dụng về Khủng Bố

 Lịch sử bè phái của Việt Namđã tạo ra một cá tính riêng cho các chính sách của họ ngay trước cả các cuộc đụng độ trong thế kỷ thứ hai mươi với Pháp, Nhật Bản và Cộng sản. Cuộc sống của người Việt Nam và cùng các láng giềng gồm nhiều sắc tộc đa dạng chính là tập trung vào những nhóm nhỏ nhà cữa trải dài ra  gọi là thôn. Như các cư dân của Manhattan, các dân tộc trong vùng đó, Việt Namvà những sắc tộc khác, sống cả đời chỉ quanh quẩn trong một phạm vi bé nhỏ và cũng được biết với rất ít quan tâm về thế giới bên ngoài. Ít nhất là ở cấp thôn, họ đã không hề chú ý đến chính trị, thuế má hay quân đội. 530 Một câu tục ngữ Việt là – Phép vua thua lệ làng.  531

Nền văn hóa nông thôn đã định nghĩa cho các chính sách làng xã. Nó được đặc trưng bởi lòng trung thành cực kỳ đối với mọi người trong một đại gia đình nào đó, hay một sắc tộc, hay một nòi giống , hay một chủng tộc, hay một tôn giáo và hay là một kẻ thù để kháng cự lại mọi tiềm năng thù địch đối với gia đình, làng xã, giống nòi hay tôn giáo. Theo George Carver, – Quan niệm về thống nhất đã tương đối ít hấp dẫn cho nông dân, những người mà có khuynh hướng coi ngay cả một kẻ nào đó ở tỉnh sát bên cũng là người ngoại quốc.  532  Trong 2.700 năm trước năm 1975, Việt Nam đã gần như là luôn luôn gồm ba, lặp lại là ba, miền với văn hóa riêng biệt – Bắc Bộ, An Nam và Cochin; miền Bắc, Trung và Nam; Việt, Chàm, Khmer và độ 51 sắc dân khác, bao gồm cả người Thượng (Bahnar, Jarai, Rhade, Koho). Người Việt Nam đã gọi các người Thượng là mọi, chó . Mỗi miền cùng các sắc tộc sinh sống đã tự biên chế các bộ luật hình cùng tổ chức lấy hệ thống pháp đình của mình. 533  Trong suốt phần lớn lịch sử của họ thì người Việt Nam là một dân tôc bị đô hộ. 534 Văn hóa Việt Nam pha trộn Nho giáo, Đạo giáo, Phật giáo, thờ ma quỷ và thờ thần linh. 535  Việt Nam chỉ đã thành một quốc gia duy nhất trong có 57 năm (1802-1859). Trong mấy trăm năm kế tiếp, thì chỉ là Nam Bắc phân tranh. 536 Những người đàn ông … cuộc đời luôn luôn chỉ đóng vai chiến sĩ, hay làm chính trị và nhập ngũ để tàn sát lẫn nhau.  Những người phụ nữ đã làm tất cả mọi việc. 537 Trong hàng thế kỷ các phe nhóm Việt đã đánh nhau với các phe nhóm Việt, cũng như với các nhóm sắc tộc khác và thường quay theo những người khác, kể cả người ngoại quốc, để khiến bàn cân thắng lợi nghiên về mình. Người Pháp và người Mỹ chỉ là những cường quốc quân sự nước ngoài mới nhất mà đã tham gia trong những tranh chấp nội bộ này. Các kẻ kình địch Việt Nam đã tích cực tìm kiếm viện trợ nước ngoài từ Liên Xô và Trung Quốc của Mao Trạch Đông ở miền Bắc và từ những người Mỹ ở miền Nam không cộng. Nếu không có người  ngoại quốc thì người Việt Nam cũng sẽ rất vui vẻ đánh nhau như họ đã làm sau năm 1972. Một trong những cuộc xung đột lâu dài đã là việc Bắc Việt xâm lược Chiêm thành và Campuchia, Chàm và Khmer ở phía nam. TrongNam, người Chàm, Khmer và người Việt chẳng quan tâm gì tới các người miền Bắc, dù có là cộng sản hay không. Miền Trung thì nằm chính giữa và dân cư là người gốc Tàu và người Chàm còn sống sót. Ngay cả các thổ ngữ Việt cũng khác nhau từ Bắc, vô tới Trung rồi vào Nam với giọng nói từ chát tai tới âm thanh nhẹ nhàng hơn. Số đông sắc tộc ViệtNam này vì vậy cũng đã có nhiều tình cảm và tâm tư khác nhau, mà đã không bao giờ bị chiếm hữu, nhưng lại thường xuyên bị đánh mất.

Ủy ban nghiên cứu và Viện Lịch sử của miền Bắc Cộng sản Việt Nam khi chiến thăng đã hệ thống hóa lại lịch sử hỗn loạn này, bất cứ khi nào và ở bất kỳ nơi nào mà họ giành được quyền lực thì cuối cùng cũng đẻ ra những huyền thoại của một nước Việt Nam thống nhất 538 mà theo đó thì không có miền Nam Việt Nam, ngoại trừ như chỉ là những tên phản động hay – những kẻ phản bội. Thật vậy, việc một quốc gia Việt Nam thống nhất đối với Hồ, Moscow và ít ra với Mao, chỉ là một mục tiêu phụ không quan trọng. Năm 1930-1931 Hồ Chí Minh, thi hành theo Chỉ thị ngày 27 tháng 10 năm 1929 của Ủy ban Điều hành Quốc tế cộng sản do Moscow kiểm soát , đã thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương với thẩm quyền  không chỉ với Bắc Bộ, An Nam, và Cochin China mà còn luôn với Căm Bốt và Lào. Chỉ thị của Quốc tế cộng sản đã ra lệnh phải tiếp xúc thường xuyên với các Đảng Cộng sản Pháp và Trung Hoa. Chỉ thị của Quốc tế cộng sản này chỉ gián tiếp nhìn nhận Bắc Bộ, An Nam, và Cochin China -Việt Nam Cách Mạng Thống Nhất, Trung Việt, nhóm phía Bắc v. v. . . và không hề công nhận các quyền lợi quốc gia của Campuchia và Lào. Thật vậy, Chỉ thị của Moscow đã ra lệnh thành lập một đảng duy nhất, Cộng sản và Bolshevik, nhằm dành riêng để – “trình diển ý thức dân tộc cải cách” trên toàn bộ Đông Dương. 539 Quốc tế cộng sản, là một hình thức mới của chủ nghĩa đế quốc nước ngoài, nhằm xua đẩy một đế quốc khác, chủ nghĩa thực dân Pháp ở Đông Dương. Trong ba thập niên, Hồ Chí Minh đã là một tên theo chủ nghĩa quốc tế hoạt động tại Pháp, Liên Xô và Trung Hoa trước khi y trở về Việt Nam như một tên quốc gia cơ hội chủ nghĩa – để xóa bỏ Đảng Cộng sản và thành lập Việt Minh, một mặt trận chính trị thống nhất chống Pháp. Với sự đồng lõa của Pháp mà đã cung cấp cho y các hồ sơ lý lịch bí mật của cảnh sát, 540 Hồ cuối cùng đã loại bỏ được tất cả các đảng quốc gia đối thủ không cộng sản khác,Quốc Dân Đảng, Phục Quốc Hội, Cao Đài, Hòa Hảo và Đại Việt. 541

Trong khi đó thì người dân làng chỉ trân quý các giá trị về gia đình, về sự an bình, về đất đai, về sức khoẻ, và về của cải mà ít để ý tới vấn đề ý thức hệ, bất kể là cộng sản hay dân chủ.

Con đường tiến tới quyền lực chính trị ở miền Nam Việt Nam – trước việc chinh phục và độc tài toàn trị của cộng sản  Bắc Việt vào năm 1975 – là trung thành với những lợi ích các giáo xứ và khả năng của một lãnh tụ để phô bày sức mạnh và ý chí để chiến đấu hầu chiến thắng. Xuyên qua nhiều thế kỷ, người ViệtNamvì lợi ích sống còn đã luôn luôn muốn chọn theo bên sẽ chiến thắng và tìm kiếm một lãnh tụ mạnh mẽ, điều đã khiến cộng sản có rất nhiều lợi thế. Từ trên xuống, những người Cộng sản đã huấn luyện và đào tạo cán bộ trung thành với đảng và tàn nhẫn với kẻ thù.

Bọn lãnh đạo chốp bu Việt Nam đã trong nhiều thập niên tiếp nhận việc dạy dổ của Liên Xô về tuyên truyền; đã sống tại châu Âu; đã mưu đồ ở Trung Quốc; và kêu gọi sự giúp đở của công luận phương Tây, đặc biệt là Pháp, nếu không phải là Mỹ. 542 Sau khi giúp thành lập Đảng Cộng sản Pháp vào năm 1920 và đã gửi đơn tới Tổng thống Woodrow Wilson để xin giúp Đông Dương được tự do khỏi  thực dân Pháp, Hồ Chí Minh đã bỏ phiếu theo với bọn Cộng sản và chống lại nhóm xã hội dân chủ ở Đại hội Toàn Quốc đảng Xã hội Pháp tại Tours trong năm 1920. 543 Hồ cũng nhiệt tình tham gia Ủy ban Đệ Tam Quốc tế Lê-nin-nít; Hồ Chí Minh đã đi tàu Karl Libnecht tới Liên hiệp Liên Xô tại Petrograd ngày 30 tháng Sáu, năm 1923, bằng một chiếu khán Liên Xô.  544 Hồ, với tư cách thành viên của Văn Phòng Đông Nam Á của Quốc tế cộng sản , đã là một đại biểu trong Đại hội lần thứ tư của Quốc tế cộng sản tại Moscow trong tháng mười năm 1923, nơi mà cách mạng Việt Nam đã bị đặt dưới sự lãnh đạo của Quốc tế Cộng sản Liên Xô, 545 nhưng chiếu theo chỉ thị của Lênin là phải phù hợp với các phong trào dân tộc. Năm 1924 Hồ, một nhân viên của Quốc tế cộng sản, đã tham dự Đại học Eastern Toilers để được giáo dục về các chiến thuật của chủ nghĩa Mác-Lê-nin và Bolshevik. Năm 1925, dưới sự giám sát của Mikhail Barodin, Hồ đã đi đến Quảng Châu, Trung Quốc để giúp tổ chức cuộc cách mạng cộng sản ở Trung Hoa  546 và đã tuyên bố, – chỉ có một Đảng Cộng sản mới có thể bảo đảm cho sự an toàn của An Nam (Việt Nam). Hồ đã thành lập Đoàn Thanh niên Cách mạng. Những người quốc gia mà đã từ chối tham gia, như Phan Bội Châu, thì bị phản bội và bị tố cáo với mật vụ Pháp. Sau khi tham dự Hội nghị Nghiệp đoàn Xuyên Thái Bình Dương vào tháng 5 năm 1927, Hồ đã vận động người Việt ở Thái Lan và thành lập Hiệp Hội Huynh Đệ Người Việt tại Xiêm La. Năm 1929, Joseph Stalin đã ra lệnh cho Hồ trở về Moscow để nhận lệnh phải củng cố lại ba cái đảng cộng sản đang kình cự nhau trong số người Việt Nam. Tại Hồng Kông vào năm 1930 một đảng đã nổi bật lên, Đảng Việt Nam, nay đổi tên thành Đảng Cộng sản Đông Dương. Từ 1935-1939 Stalin đã ra lệnh các mặt trận thống nhất phải hợp tác với Pháp để chống lại chủ nghĩa phát xít, kẻ thù của Liên Xô. Ở Trung Hoa vào năm 1941, Hồ đã công bố việc hình thành của Việt Minh, một mặt trận dân tộc do cộng sản dẫn đầu có cả Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, và Trường Chinh. 547

Như vậy, Hồ Chí Minh đã phục vụ chủ nghĩa cộng sản quốc tế ba mươi năm (1912-1941)  trước khi trở về Việt Nam trong tháng 1 năm 1941 để tổ chức mặt trận Việt Minh chống lại Pháp.

Với Cộng sản ViệtNam, việc đề cao chủ nghĩa dân tộc đã luôn luôn là một viễn tưởng hữu ích, áp dụng bởi bọn cộng sản quốc tế ngõ hầu chiếm và giữ quyền lực. Một Việt Nam thống nhất – chỉ là một phần của kế hoạch chiến lược của Hồ Chí Minh, hầu giúp cho cộng sản chinh phục khu vực Đông Dương trong vai trò phục vụ Liên Xô của mình. Hồ chỉ thị  viết lại một lịch sử Mác xít mới.

Với nhiều thập niên đã qua rồi mà các tay ướp xác Nga Valery Bykov và Yuri Denisov-Nikolsky vẫn còn chịu trách nhiệm săn sóc tử thi Hồ Chí Minh suốt trong nhiều tháng dài thì sự kiện này có ý nghĩa nhiều hơn, thay vì chỉ có tính cách tượng trưng mà thôi. 548

 Sự Đóng Góp của Cộng Sản vào các Chính Sách của Việt Nam – Khủng Bố

Khủng bố là một trong các nguyên tắc tiên khởi của Cộng sản khi nắm quyền. Năm 1918, Lenin đã chỉ thị cho Đảng Leningrad, – Phải khuyến khích bản chất năng động và có tính cách quần chúng của việc khủng bố. Lê-nin đã nói với Kirsky, tay Ủy viên Nhân Dân về Tư pháp:

Toà án không được  loại trừ khủng bố. Ta sẽ  tự lừa dối hay gian trá  khi  hứa như vậy, và để  . . .  hợp pháp hóa … mà không hề đạo đức giả hay tôn sùng, ta cần phải định nghĩa nó càng rộng càng tốt , bởi vì chỉ sự đứng đắn về cách mạng và lương tâm cách mạng sẽ cung cấp các điều kiện hầu áp dụng nó nhiều hơn hoặc ít bao quát hơn trong việc thi hành. 549

Và:

Trên nguyên tắc, chúng ta chưa hề bao giờ bác bỏ  khủng bố , chúng ta cũng không thể làm như vậy. Khủng bố là một hình thức hoạt động quân sự có thể được áp dụng một cách hữu ích550 VI Lenin, lãnh tụ  của các tên đã chiến thắng Nga Hòang và Cộng Hòa Nga.

Mao Trạch Đông từng nói, – Cần phải tạo ra khủng bố trong một thời gian ở khắp nông thôn. Độ 30 triệu người đã chết dưới thời Lê-nin-Sì-ta-lin và 70 triệu chết vào tay của Mao. Là một tên cộng sản ăn lương của Moscow kể từ năm 1921, Hồ Chí Minh, giống như Mao Trạch Đông trước đó, đã thủ tiêu hàng trăm lãnh tụ quốc gia thuộc ngay mặt trận thống nhất Minh Việt của chính y, 552  cũng như là thực dân Pháp. Vậy mà,  giống Mao, Hồ đã không làm gì để chống lại lực lượng chiếm đóng Nhật Bản từ 1941-1945; nhưng năm 1945, lực lượng của Hồ lại giết 10.000 người Việt quốc gia chỉ riêng tại Hà Nội mà thôi. Chỉ vì họ là những đối thủ chính trị có tiềm năng của y , thay vì đã phải là các thuộc hạ quốc gia của y. Sau đó Hồ đã lập tức quay qua đối xử rất tàn nhẫn với bất cứ ai hay nhóm nào, mà khả dĩ rất là xa vời sẽ có thề là đối thủ chính trị của y . Chỉ với 100.000 đồng, Hồ đã phản bội bán nhà ái quốc Phan Bội Châu cho Sở Mật vụ Pháp. Tất cả sinh viên không cộng sản tại Học viện Hoàng Phố cũng bị y như vậy. 553 Huỳnh Phú Sổ đã là nhà lãnh đạo thần thánh đầy quyền uy của giáo phái Hòa Hảo và là một Phật sống đối với hàng trăm ngàn người. Khi Huỳnh Phú Sổ trở thành không còn hữu dụng trong Mặt Trận Việt Minh thống nhất chống Pháp nữa, Hồ đã ra lệnh bắt Huỳnh , đâm cho chết , rối xác bị bằm nhỏ và rải khắp bốn phương. 554 Các nhà ái quốc nổi tiếng khác bị y thủ tiêu là Phạm Quỳnh , Trương Tử Anh, Ngô Đình Khôi, Bùi Quang Chiêu, Hồ Văn Ngà. 555 Ngoài ra y cũng loại bỏ người bạn Trốt-kýt Tạ Thu Thâu Hồ và các thành viên của chính phủ liên minh trong Đại Hội Toàn Dân. 556 Tên lý thuyết gia và tổng bí thư đảng Trường Chính đã viết,

Chúng tôi thừa nhận …  không thể nào thực hiện việc tiêu diệt một cách có hệ thống  các thành phần tử phản cách mạng theo kiểu Jacobean hay Bolshevik … chúng tôi chỉ  tiếc là việc đàn  áp … đã không được thực hiện một cách đầy đủ hơn. … Đối với một lực lượng cách mạng hãy còn sơ sinh mà còn khoan dungthì việc này chỉ ó nghĩa là tự tử mà thôi. 557

Chinh đã tố và  xử tử hình ngay cha của y.  558

Stalin đã nói, – Cái chết của một cá nhân quả là một bi kịch, cái chết của một triệu người, đó chỉ là một thống kê. Dù trong thời chiến hay thời bình, thì mạng sống con người, thậm chí cả của những người theo ta, đó chỉ là như món hàng để tiêu dùng … để dùng mà không cần nghỉ có còn hay không. Ngay từ đầu tháng 12 năm 1946, Hồ Chí Minh – giống như Mao, Lê-nin và Sí-ta-lin – đã nói với một quan chức Pháp rằng: “Cứ một người mà chúng tôi giết đi của quý vị thì quý vị có thể giết lại mười người, nhưng cho dù tỷ lệ chênh lệch đến mức như vậy thì quý vị cũng sẽ thua và tôi sẽ thắng.” 559 Từ 1953 đến 1956 Hồ đã dùng bạo lực để củng cố quyền lực của mình ở miền Bắc bằng hai chương trình cải cách ruộng đất “xẻ trời và rung đất” mà đã được tôn sùng như là thánh kinh – .  Nhà sử học chính thức, Trần Phương, cho biết mục tiêu đầu tiên là thanh lý xóa bỏ lớp phong kiến chủ điền . Sau đó là các thành phần phản động, phản cách mạng, các kẻ phản bội. Thêm vào đó là – giết người theo phần quy định. Bộ Chính trị đã ra lệnh – 5% dân số trong mổi thôn … phải bị loại bỏ … 560

Để thực hiện chương trình, 8.500 tân cán bộ đã được tuyển chọn từ trong số những người nghèo nhất và ngu dốt nhất để rồi bị nhồi sọ về chính trị trong nhiều tuần lể để căm thù giai cấp. Số cán bộ này đã sẽ được biết đến như là Cán Bộ Răng Đen Mã Tấu, – bọn cán bộ sát nhân ngu dốt có răng nhuộm đen. 561 Từ làng này qua làng khác, 1.875 trong bọn, những tên côn đồ cộng sản, chủ yếu là thanh thiếu niên thất học, đã tập họp dân chúng lại  trong những phiên Tố Khổ để tố cáo và nghe những – lời thú tội  562 của số 5% mà đã bị tùy nghi ấn định như là điền chủ và rồi là thương gia, trí thức, giáo viên, các nhà lãnh tụ công dân – bất cứ ai mà dù rất mơ hồ cũng sẽ có thể trở thành địch thủ trong tương lai. – Từng mổi cử chỉ, như nắm chặt tay lại và nhăn mặt đều đã được thực tập bởi các ‘nhân chứng’ rất nhiều ngày trước phiên tố khổ.  563 Sau những lời cáo buộc của các nhân chứng tại các phiên xử công khai ở các sân làng thì  các người đã bị chọn đó phải đọc thuộc lòng ra những tư tưởng sai lầm của của họ , rồi ngay lập tức bị kết án và thường thì đơn giản bị hành quyết như là bị bắn, bị chặt đầu, bị mổ ruột, hoặc bị đánh đá. Một số thì đã bị  – trói lại, rồi ném xuống những ngôi mộ chưa lắp đất (mà vẫn còn sống) và bị bỏ đá đè cho đến khi họ đã bị nát bét mà chết.  Nhà bất đồng chính kiến bất đắc dĩ Nguyễn Mạnh Tường đã cho biết, – Cùng lúc với việc dẹp sạch tầng lớp địa chủ, chúng tôi cũng đã kết án vô số phụ nữ già nua cùng con trẻ để phải bị giết một cách thật khủng khiếp.  564 Viên chức chính thức của Đảng là Nguyễn Minh Cần đã nói đó là – việc diệt chủng gây ra do bởi sự phân biệt giai cấp. Vũ Thu Hiên thì cho biết đó là không phải là một sự cải cách ruộng đất đúng đắn. Đó đã là – cuộc đấu tranh chính trị để loại bỏ bất kỳ kẻ nào khã dỉ có thể là đối thủ về chính trị. 565

Một tài liệu sử chính thức của chính phủ trong năm 2005 đã cho biết 71,66% các nạn nhân đã bị xếp hạng một cách sai lầm là  566  các kẻ thù giai cấp. Trong một bài đọc trước Đại hội Tổ quốc Toàn Quốc trong tháng 10 năm 1956, Nguyễn Mạnh Tường nói về phương châm của cuộc cải cách ruộng đất, – Tốt hơn nên giết chết mười người vô tội còn hơn để thoát khỏi chỉ một kẻ thù .  567 Hồ Chí Minh rồi thì sẽ – sai lầm , nhưng cũng đã tuyên bố, – Không ai làm người chết sống lại được. RJ Rummel ước tính rằng Cộng sản đã giết chết từ 195.000 đến 865,000 người . 568 CIA thì ước tính có từ 30.000 đến 100.000 người đã bị xử tử bởi, – các Toà án Nhân Dân.  569 Bernard Fall thì lại đưa ra con số không ít hơn là 50.000 và Hoàng Văn Chí, một phụ tá cũ của Phạm Văn Đồng thì cho con số này là 500,000. 570 Gareth Porter, một nhà nghiên cứu tại Đại học Cornell và một kẻ chuyên bênh vực Hà Nội, sau này nhân vụ cộng sản thảm sát tại Huế và tại Campuchia, đã bác bỏ việc Hà Nội tàn sát tới 50.000 người trong các vụ cải cách ruộng đất  như chỉ là huyền thoại. 571 Porter đã dựa vào Trần Văn Định mà  cho rằng bài phát biểu của Nguyễn Mạnh Tường trong tháng 10 năm 1956 trước Đại hội Tổ quốc Toàn Quốc là một sự giả dối. Các sự kiện thì lại khác: Tường đã tham dự Đại hội, đã đưa ra một bài phát biểu và Bắc Việt Nam phát hành và xuất bản văn bản này. Tường đã trải qua mười năm tù giam. Bất chấp những lời bác bỏ bổ sung bởi Hoàng Văn Chí, Robert F. Turner, và Daniel E. Teoduro, 572 giới truyền tin quốc gia Mỹ đã phổ biến một cách rộng rải việc Porter đã sử dụng một cách công khai các truyền đơn tuyên truyền gốc từ Bắc Việt. 573 Kẻ mà Porter viện dẫn để cáo buộc là Tường gian dối thì cũng vẫn là tên Trần Văn Định. Sau khi phục vụ Pháp, Nhật Bản, Hồ Chí Minh và Ngô Đình Diệm, năm 1964, Định đã tham gia phong trào hòa bình và công lý tại Hoa Kỳ mà đã liên minh với American Friends Service Committee, Committee of Responsibility and the Fellowship of Reconciliation. 574

Dù là dựa vào bất kỳ con số ước lượng đáng tin nào thì tổng số nạn nhân chính xác của các vụ cải cách ruộng đất cũng thật là kinh khủng và cần phải chờ cho tới khi có thể bốc các mộ và khui lại các văn khố lưu trữ. Tuy nhiên ta cũng sẽ công bằng mà nói được là bất kể cái kiểu toàn thể bọn tả phái xoay vòng như chơi vụ cũng như cái kiểu loan tin giật gân đồng lỏa của giới truyền thông thì không có gì Mỹ đã làm trong chiến tranh Việt Nam mà có thể so sánh được với tính cách dã man của vụ cải cách ruộng đất ở miền Bắc Việt Nam, với các chiến dịch ám sát vô cùng khủng khiếp của Việt Cộng và với việc quân Bắc Việt nhắm bắn vào các thường dân trên đường chạy trốn sẽ xẩy ra sau này tại miền Nam Việt Nam.

Hồ và Mao nghĩ rằng việc Mỹ kinh sợ về con số tử vong trong chiến tranh đã cho thấy yếu điểm của họ mà cần phải khai thác. Về người Mỹ, Mao đã nói, –  Khi dân họ bị giết thì tim họ tan nát. Cái chết của vài chục ngàn người đối với họ là một vấn đề cực kỳ to lớn.  576 Trong khi đó, tài liệu sử của Hà Nội khi nói về việc tàn sát của chúng trong –  quá trình long trời lở đất của chíng sách cải cách ruộng đất, đã được viết lại như chỉ là những biến cố hài hòa. 577

Cộng sản đã giết hại hàng triệu người để chiếm và nắm quyền lực. Như V.I. Lenin đã nói, – Chiến tranh chỉ đơn giản là sự tiếp tục của các chính sách nhưng bằng những phương tiện  (bạo lực) khác.  578  Đại chiến lược gia Clausewitz đã biết chiến tranh chỉ là một công cụ của nghệ thuật cầm quyền. Đối với bọn cộng sản – Lê-nin, Mao, và Hồ – chiến tranh và nghệ thuật cầm quyền thì không có gì khác nhau.

Hình: Hải Quân Mỹ, xác hai em bé và một người đàn ông trên đường phố Sài-gòn sau một vụ ném lựu đạn của Việt cộng mà đã giết chết 7 người và làm bị thương 47 người khác. Tháng 10, 1962. 575

Dành Được Chiến Thắng Trong Trận Chiến Thứ Nhất  tại Pháp

Các lãnh tụ Việt Nam hàng đầu, trong nhiều thập niên đã đi học tại các trường học Pháp, đã sống và tổ chức các hoạt động chính trị ở Pháp; đã được đào tạo bởi Liên Xô về tuyên truyền, về cách tổ chức một cuộc cách mạng ở Trung Quốc; và về phương cách kêu gọi công luận phương Tây, đặc biệt là Pháp. 579 Hồ Chí Minh đã sống trong mười hai năm với người Pháp và đã là một thành viên sáng lập của Đảng Cộng sản Pháp. Các đảng cộng sản Pháp, Việt Nam, Campuchia, và Thái Lan đã gắn bó với nhau. Suốt trong ba thập niên, Hồ Chí Minh đã là một tên theo chủ nghĩa quốc tế hoạt động tại Pháp, Liên Xô, Trung Quốc và Thái Lan trước khi y trở về Việt Nam. Hồ Chí Minh và nhiều tên  lãnh tụ cộng sản hàng đầu đã đi học trong các trường học thực dân Pháp cũng các trường ở Pháp. Bọn lãnh đạo ViệtNam biết rất rỏ người Pháp.

Năm 1947, Tổng Bí thư Trường Chinh đã đưa ra một chiến lược gồm ba giai đoạn kéo dài nhằm dành chiến thắng. Trong giai đoạn hai, – một sự sụp đổ của tinh thần trên mặt trận quốc nội tại Pháp sẽ làm suy yếu ý chí của Pháp để chiến đấu.

Từ 1946 đến 1954, cộng sản đã không hề tạo ra một thất bại chiến lược nào đối với người Pháp, nhưng đã đuổi được họ ra khỏi Việt Nam. Việc thua trận của Pháp tại Điện Biên Phủ đã là một thất bại tâm lý và chính trị  580 mà đã đưa tới việc Pháp quyết địng rút quân và điều đình với các chíbnh khách tại Giơ-neo. Vì bị kiệt quệ bo83i chiến tranh và cần phải tái thiết sau Thế chiến II cùng tình trạng bất ổn chính trị đã khiến Pháp phải bỏ cuộc. 581

Ý tưởng chủ bại đã có từ lâu trước Điện Biên Phủ. Trong thời hậu chiến, Pháp đã xuống  tinh thần do thất bại nhục nhã năm 1940, do việc chính phủVichycủa Pháp đã hợp tác với Đức quốc xã xâm lược , do tình trạng chia rẻ trong hữu phái và tả phái chính trị và do việc nền kinh tế đã bị tàn phá . Sự kiện cộng sản đã từng kháng chiến chống bọn chiếm đóng Đức Quốc xã với chế độVichyđã giúp chúng đạt được số đại biều lớn nhất của bất kỳ đảng phái chính trị nào trong cuộc bầu cử Quốc hội Pháp ngay lsau chiến tranh. Dưới sự kiểm soát của Liên xô, Đảng Cộng sản Pháp lúc đầu đã hỗ trợ cho việc giải phóng Đông Dương một cách ôn hòa khỏi Nhật Bản và đã bỏ phiếu trắng thay vì bỏ phiếu chống việc tài trợ cho chiến tranh. Ưu tiên của Liên Xô đã là để cho Cộng sản kiểm soát  Pháp chứ không phải là giúp Việt Nam được tự do thoát khỏi chế độ thuộc địa.

Hình: Roger Canfield, Bảo Tàng Viện Hilton Hà-nội, tháng 2, 2008, Biểu tình chống Chiến tranh Việt-Nam tại Pháp, tháng 5, 1949

Cùng cộng tác với các đảng tả phái và các người di dân Việt, cả những người Cộng sản lẫn quốc gia Việt Nam đã cùng hành động để làm suy yếu ý chí chiến đấu của Pháp nhằm tiếp giữ thuộc địa của họ tại Đông Dương. 582 Chi phí cho chiến tranh  Đông Dương đã là gấp đôi số tiền hỗ trợ của Chương trình Viện trợ Marsall Mỹ và vấn đề đạo đức của -cuộc chiến tranh bẩn thiểu (la sale guerre) đối với chính quyền thực dân đã bị lên án rộng rãi. Bắt đầu tại Marseille vào tháng giêng năm 1950, các phu bếu tàu Cộng sản đã từ chối làm việc trên các tàu chở hàng đi Việt Nam và đã yêu cầu chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. Chẳng bao lâu sau thì các cuộc đình công tại các hải cảng Đại Tây Dương và về các kim loại, các mỏ và đường sắt đã làm tê liệt các chuyến hàng chuyên chở vũ khí. 583 Thomas Braden thuộc CIA đã đưa $ 15.000 cho Irving Brown của American Federation of Labor (Liên đoàn Lao động Mỹ) để phá vỡ các cuộc đình công phu bến tàu Cộng sản tại Pháp. 584 Báo cáo mật của tướng Mỹ  Revers cho thấy nổi bi quan của quân đội Pháp vào năm 1949. Năm 1950, tên Cộng sản Henri Martin, một thủy thủ trẻ đã phổ biến các  tuyên truyền ở Toulon nhằm chống lại cuộc chiến tranh ở Đông Dương và bị buộc tội phá hoại và đã trở thành một nguyên nhân nổi tiêng cho Jean Paul Sartre và các tay trí thức khác ở Pháp. Các lực lượng quân sự Liên Hiệp Pháp đều là quân đội thuộc địa, chứ không phải là cư dân ngay tại Pháp. Hà Nội Hannah, một giọng nói cộng sản chính thức trên đài phát thanh hướng về quân đội Mỹ tại Việt Nam đã lên tiếng:

Chúng tôi khuyên họ hãy làm những gì họ nghĩ thích hợp để chống lại chiến tranh. …. Đó không  là một tưởng mới. Trong thời  chiến tranh chống Pháp, chúng tôicũng  đã từng phát thanh như vậy cho binh sĩ Pháp. 585

Ttháng 5 năm 1953, Tướng Henri Navarre đã được giao trọng trách tìm cho ra cách kết thúc trong danh dự cuộc chiến giữa lúc công luận chống đối dâng cao. Điện Biên Phủ trông giống như một cơ hội để thu hút Việt Minh vào một trận chiến mà họ sẽ thua nhằm sữa soạn cho một vị trí đẻ mặc cả mạnh mẽ tại Geneva. Ngược lại, Pháp đã thua ngay tâi chiến trường và luôn tại Giơ-neo. Một sự thay đổi từ chính phủ Joseph Laniel qua chấp thuận các thỏa ước trong vòng bốn tuần sau khi Mendes hứa.

Trong Agony of Indochina (Đông Dương Hấp Hối ), Henri Navarre đã đổ lỗi cho hệ thống chính trị hỗn loạn , cho giới trí thức, cho các chính trị gia, và giới báo chí Pháp. 586 Đúng vậy, họ đã đóng tròn vai trò của họ trong sự sụp đổ tinh thần tại pháp – mà Chinh đã dự đoán.

Tướng Võ Nguyên Giáp đã thi hành lý thuyết chiến tranh của Trường Chính để chống Pháp và trong năm 1965 với 1966, y đã tiên liệu dư luận Mỹ rồi cũng sẽ làm giảm ý chí Mỹ để tiếp tục chiến tranh. Trong chiến lược thống nhất cả quân sự lẫn chính trị để sao y bản chánh lại kinh nghiệm bản thân đề cao các cuộc biểu tình chống chiến tranh và tạo ảnh hưởng vào công luận Pháp 587 cũng như là học hỏi từ chiến lược Cộng sản quốc tế , ngay từ lúc ban đầu, đại chiến lược Việt đã là lên kế hoạch để nhấn mạnh vào các hành động chính trị chống lại kẻ thù mới là Mỹ. Tuy nhiên, trong tháng 8 năm 1966, CIA sẽ chủ trưong là – Cộng sản Việt Nam gần như chắc chắn là đã đánh giá quá cao [cái] sức mạnh hiện nay của phe chống đối. Kiến thức chi tiết về các thực tế trong quốc nội của nền chính trị Mỹ đã rất hiếm hoi tại Hà Nội. Do đó, họ – sẽ chấp nhận những tương đồng với lực lượng đối lập trong nước Pháp mà đều sẽ vô giá trị.  588

Chống Cộng sản ở Bắc Việt đã dể hơn là thấy được lực lượng chống đối tại Hoa Kỳ.

Vượt Thoát Từ Xứ Không Tưởng

Bắt đầu từ năm 1954 hàng trăm ngàn người, chủ yếu là người Công giáo, đã bỏ chạy khỏi miền Bắc và tạo nên hạt nhân của lực lượng chống cộng tại miền Nam Việt Nam trong nhiều thập niên.

Hình: Hải quân Mỹ, USS Montague đang bỏ thang để đón nhận người tỵ nạn. Hải-phòng, tháng 8 năm 1954

Trong tháng 9 năm 1954, trong cố gắng để ngăn chặn làn sóng di cư về phía nam, Hồ Chí Minh đã hăm dọa các bà mẹ Việt Nam rằng các thủy thủ Mỹ đã đang ăn thịt con họ. 589 Là một Trung úy Hải quân đang giúp đỡ người tỵ nạn tại cảng Hải Phòng, bác sỹ Tom Dooley đã viết về việc có các tờ truyền đơn kể là thủy thủ Mỹ đang nướng sống một trẻ em.  Ấy vậy mà chính bọn Cộng sản mới yhực sự gây đau thương cho người tị nạn: đâm đũa vào thấu màn nhĩ tai, dùng báng súng trường đánh nát xương đòn gánh, đóng đinh vô sọ một linh mục, xé bứt tai vì tội nghe kinh cầu.  590 Trên thực tế, chính là để bảo vệ con  và luôn bản thân mà một cách chính xác tại sao 700.000 người mẹ, người cha cùng con cái của họ đã chạy trốn về Nam trong thới gian giữa tháng 8 năm 1954 và tháng 3 năm 1955. 591 Mặt trận Giải phóng Quốc gia, một sáng chế của Bắc Việt, sau này đã viết  ở miền Nam : “Bạn có thể đã nghe thấy [sic] về việc quân  Mỹ-Diệm thường xuyên ăn thịt người, mổ bụng một người đàn ông, và lấy gan ăn  …Những thanh niên ăn gan người trong những buổi khiêu vũ hay nhân những chuyến đi câu cá.” 592 Chạy trốn xuống  miền Nam Việt Nam hẳn đã cứu được vài cái đầu, gan và mạng sống . Độ chừng 10 tới 15,000 tên cộng sản Bắc kỳ đã được lệnh bí mật ở lại miền Nam để làm gián điệp cho miền Bắc. Bọn cộng sản Bắc Việt cũng lại đào tạo một số 50 tới 90,000 người miền nam ở phía bắc để chuẩn bị cho việc trở vềNam với tư cách tái sum hơp.

Hồ Chí Minh bèn tổ chức cán bộ, du kích và các lực lượng chính trong Nam. 593 Va9n Phòng Trung Ương Miền Nam (Central Office for South Vietnam COSVN) do đảng Lao Động tại Hà Nội kiểm soát đã gửi hàng loạt chỉ thị từ chiến khu C phía tây bắc của Sài Gòn tại miền bắc Tây Ninh gần các mật khu an toàn ở Campuchia, 594 để giúp chính phủ không công khai của Việt Cộng. Dù vị trí của COSVN thay đổi với thời gian nhưng chính Hà Nội đã kiểm soát COSVN và thi hành mọi công vụ về dân sự và quân sự ở phần nửa phía Nam của Miền Nam. 595 Tới năm 1967 thì Việt Cộng đã cẩn thận lựa chọn , huấn luyện và thử nghiệm 150.000 cán bộ về kỹ năng và lòng trung thành đối với tha74m quyền Đảng rồi giao họ phụ trách các thôn, bản đặc biệt nào đó mà thường là nơi họ đã có bảo đãm an toàn từ gia đình để tránh việc bị tố cáo với Chính phủ Việt Nam.

Y như cách bọn đỡ đầu Bolshevik và Mao-ít của chúng đã từng làm để chiếm quyền lực vào năm 1917 tại Nga và năm 1949 tại Trung Quốc, Việt Cộng đã khéo léo lợi dụng các nổi bất mãn chính đáng của nông dân không có đất –  tiền thuê và lãi suất cao và đã sử dụng – các từ ngữ có ma lực 596  như là dân tộc và dân chủ. Vào năm 1917 bọn Bolshevik cũng đã hứa hẹn đất đai, bánh mì và hòa bình để rồi mang điều ngược lại cho nông dân Nga. Một bài viết trong Học Tập, tạp chí lý thuyết Đảng của Cộng sản Việt Nam, đã nhận xét   là bằng cách nào – Đảng của chúng ta đã khéo léo áp dụng các chiến thuật, có phần nào hứa hẹn “độc lập, dân chủ, hòa bình và trung lập” và khai thác các xích mích chia rẻ bên phía địch 597. Hứa hẹn đã là những cách nói của Đảng Cộng sản mà đã không bao giờ được giữ đúng. 598  Chắc chắn rồi thì không ai sẽ có được những gì  mà cộng sản đã hứa chỉ để dụ dổ người ta.

Lúc ban đầu, bọn hạ tầng cơ sở của Việt Cộng, VCI, ở miền Nam Việt Nam đã giảm giá thuê và tiền lời, đã cưởng bách để phân phối lại đất đai, đã diệt trừ loại quan chức tham nhũng, đã tăng thuế và tổ chức tuyên truyền không ngừng nghỉ (dân vận). 599 Và chúng đã xây dựng cơ sở hạ tầng để hỗ trợ cho một chính phủ nằm trong bóng tối. Dân làng trong các vùng thuộc hạ tầng cơ sở của VC thường không có vũ khí, nhưng họ đã cung cấp được tin tình báo, tuyên truyền, y tế, nơi nghỉ ngơi /dưởng sức, thông tin liên lạc, thực phẩm, nước uống, tiền mặt, nhân công và nhân lực để tuyển dụng cho lực lượng vũ trang Việt Cộng. 600 Các cố vấn Mỹ và Ngô Đình Diệm cũng bắt đầu nỗ lực hỗ trợ nông nghiệp cho người dân miền Nam, kể cả cho vay, cung cấp nông cụ và trâu nước Thái Lan. Bọn Cộng sản lại tuyên truyền là loại trâu nước này sẽ không hiểu tiếng Việt và  chân thì quá ngắn nên sẽ chết đuối hết trong các cánh đồng ruộng.  601

Trong đầu tháng 11 năm 1956 ở ngoài Bắc, tại Nghệ An, tức là nơi sinh của Hồ ở Nam Đàn, người dân đã tuần hành về Vinh để phản đối thuế cao. Hồ Chí Minh liền cử lính của Sư đoàn 325 Quân Đội Nhân Dân đi tiêu diệt khoảng 6.000 dân thường không vũ trang. Lần sưu thuế tiếp theo sau đó chỉ mất có vài giờ. 602

Về phương diện chính trị  thì khủng bố có hiệu quả vì nó nâng cao tinh thần của cán bộ, quảng cápio cho chính nghĩa, phá hủy sự an toàn của các cá nhân, loại bỏ chống đối và có thể kích động để các lực lượng chính phủ đàn áp. 603

Theo thời gian, các vụ khủng bô tập thể ở miền Bắc do Cộng sản cai trị đã giết mất từ 50.000 đến 500.000 đồng bào. 604 Nó giống như với Lê-nin, Sì-ta-lin và Mao Trạch Đông trước Hồ, một nỗ lực lạnh lùng có tính toán để xử lý kỷ luật đảng và quần chúng.  605. Michael Lindcho nói là các thành viên của tả phái phương Tây mà đã biện hộ cho việc khủng bố tại Bắc Việt Nam trong chính sách cải cách ruộng đất là “những  kẻ biện hộ cho nạn diệt chủng chủ trương bởi nhà nước.” 606 Thật vậy, chính phong trào phản chiến đã loan truyền các cáo buộc gian trá của Việt Nam về một chính sách diệt chủng cố tình của Mỹ, một ngôn từ đúng ra thì nên dùng để mô tả chính sách của cộng sản trong nhiều thập niên trên khắp toàn cầu.

Vào cuối năm 1956, miền Bắc đã cho phép giết chết các công chức phản bội người Nam, các cán bộ cải cách ruộng đất, và các gián điệp. Năm 1957 miền Bắc đã khởi xướng chiến dịch khủng bố ở phía Nam bằng cách giết chết, bắt cóc và đe dọa Chính phủ Việt Nam, các công chức, cảnh sát, điềm chỉ viên và giáo viên.

Trở ngại lớn nhất đối vớibọn cách mạng đã các công chức Chính phủ Việt Nam, cảnh sát, lực lượng an ninh lãnh thổ, điềm chỉ viên và giáo viên mà đã đang cư ngụ tại các  thôn làng đó nên họ có thể nhận diện tấn công Việt Cộng cũng như được dân làng hỗ trợ  … Bọn VC có vũ trang đã xua đuổi dân ra khỏi xã ấp bằng cách giết chết, bắt cóc, hay đe dọa họ. … Chúng ít khi kết tội  và thủ tiêu sai  người  … Thông thường, một vài lời  hăm dọa, các vụ bắt cóc, hay thủ tiêu đã khiến chính quyền miền Nam . . .  phải bỏ trốn.  Một khi cơ sở hạ tầng Chính phủ Việt Nam bỏ rơi một thôn làng thì  dân cư không còn hy vọng nào nhằm lật đổ bọn cộng sản. 607

Trong quý cuối năm 1957, Cộng sản đã thực hiện 140 vụ khủng bố. Một cán bộ cộng sản, Võ Văn Một, đã mô tả mục đích của – phong trào Tiêu diệt bọn phản bội khá đơn giản như là giết chết bất kỳ kẻ chống đối nào mà có thể hình dung được đối với Đảng Cộng sản, bắt đầu với tên nào mạnh nhất. Hơn nữa, việc tạo ra nỗi sợ hãi trong hàng ngũ kẻ thù … rất hữu ích trong việc – tạo ra niềm tin trong quần chúng vào sự lãnh đạo khôn khéo của cách mạng. Bởi vì việc củng cố quyền lực mới là mục tiêu thật sự, các trưởng thôn tham nhũng và độc tài có thể được tha, trong khi – chính viên trưởng thôn liêm khiết mà đã giúp đở người dân nhiều nhất thì lại sẽ bị tiêu diệt bởi vì chính họ mới là mối nguy hiểm thực sự vì chủ trương phá bỏ bộ máy cộng sản trong vùng của họ. 608

Ở bất cứ nơi nào mà Việt Cộng kiểm soát được thì chúng phân phối lại đất đai, thu thuế  và thu lúa. Việt Cộng đã tịch thu tài sản những người giàu có và giao lại cho các nông dân không có đất. Xuyên qua hành vi do thám, dùng người thân và xâm nhập, VC thu thập tin tình báo về phía Chính phủ miền Nam Việt Nam, cả bên trong lẫn bên ngoài của các thôn làng. VC cũng tiếp tục hành quyết, chỉ khác là nay có tính cách chọn lọc hơn, để răn đe các điềm chỉ viên. Những người đã bị chỉ định phải giết đi thì sẽ bị kéo ra trước một phiên tòa giả định công khai và bị tố cáo trước khi bị chặt đầu hoặc mổ bụng . Vào mùa hè năm 1958, vì thiếu sự khuyến khích và vũ khí Trung cộng, Hồ Chí Minh đã buộc phải từ bỏ ước vọng xâm lấn và chinh phục miền Nam. Thay vào đó thì Hồ phải đành chỉ tiếp tục sát hại các trưởng thôn. Từ 1958-1959 các vụ ám sát và bắt cóc có lẽ đã đạt tới tổng số 1000. Kể từ sau đó, việc thủ tiêu danh sách đen của những kẻ thù của nhân dân  đã sẽ tăng mười lần hơn cho tới quá 10.000 một năm từ 1960 tới 1969. 609 Stanley Karnow đã viết lời biện hộ thông thường: – các kẻ khủng bố Việt Cộng … có xu hướng chọn lọc khi loại bỏ các công chức và cảm tình viên của chính phủ Sài Gòn . 610 Bill Laurie đã traqnh luận là việc ám sát tới 37.000 người và bắt cóc cho tới 66.000 người khác mà đã không bao giờ trở về lại thì thật khó mà xem như là có chọn lọc. Việc thủ tiêu  giáo viên, công chức về nông nghiệp và tiểu công chức quả không phải là có chọn lựa. Đó chính là việc giết người có tổ chức thành hệ thống trên quy mô lớn .  611 Đầu năm 1970, Douglas Pike viết, – Trong vòng 10 năm, cộng sản đã gần như xóa sạch toàn thể một giai cấp dân làng Việt Nam, và ngày nay, nhiều làng mạc không còn có được các nhà lãnh đạo tự nhiên. 612

Trong thời gian đó, để đáp lại chính sách khủng bố của cộng sản khởi từ giữa đến cuối thập niên năm mươi, Tổng thống Nam Việt Nam Ngô Đình Diệm đã bắt giam cầm và giết hàng ngàn cộng sản. Trong số bị giết cũng có vài đối thủ chính trị của Diệm và cũng là những nạn nhân của các vụ trả thù cá nhân do các trưởng ty cảnh sát địa phương. 613 Diệm đã yêu cầu P. J. Honey, một chuyên gia về chính trị  Bắc Việt, đi vòng thăm các trung tâm cải huấn để tìm các tù chính trị. Honey đã kết luận, –  đa số các tù nhân đều  không là cộng sản mà cũng không phi cộng sản –  họ không là tù nhân chính trị . 614 Tuy nhiên, mật vụ của Ngô Đình Diệm, Công An, khi sử dụng các điềm chỉ viên và các nhân viên đã thành công truy ra và thanh toán hầu hết Việt Công trong các thành phố lớn của miền Nam Việt Nam cuối những năm năm mươi. Các chính sách tàn nhẫn của Chính phủ Việt Nam từ 1955 đến 1959 đã đưa đến kết quả là phá hủy được gần toàn bộ guồng máy cộng sản ở các vùng nông thôn nhưng lại gây ra một khoảng trống chính trị. 615 Đó là giai đoạn đen tối nhất của Đảng, 616 nhưng đã có nhiều triển vọng sáng sủa hơn ngay lập tức ở nông thôn.

Hai năm trước khi Tổng thống Kennedy gửi chỉ sơ sơ  có 685 cố vấn để hỗ trợ Diệm, ngày 19 tháng 5 năm 1959,  Đảng Lao Động tại Hà Nội đã ban hành Tài liệu 14, nhằm bí mật  thành lập Tập đoàn 559 để vận chuyển khoảng 20.000 bộ đội miền Bắc và thiết bị quân sự về phía Nam trên một con đường mới, Đuờng Mòn Hồ Chí Minh. 617

Đến năm 1962 thì cái con đường quanh co đó sẽ có tên cúng cơm là Quốc lộ Tưởng niệm Averill Harriman sau khi Lào bị trung lập hóa tại Geneva trong năm 1962. 618 Bắc Việt kêu gọi một cuộc nổi dậy để lật đổ Chính Phủ Nam Việt Nam. 619 Tại Lào, Đại sứ Harriman đã rút ra 666 người Mỹ trong khi Bắc Việt va74n giữ lại 7.000 quân ở Lào và Liên Xô thì không vận tiếp tế cho quân đội Bắc Việt và Pathet Lào. Harriman đã kiểm soát chặt chẽ về ngồn lương thực cũng như vũ khí cung cấp cho các đồng minh tại Laos. 620

Năm 1959, một toán Việt Cộng  tám người đã vô một ngôi làng miền Nam Việt Nam: Khi chúng tôi mới vào làng, chúng tôi đã bắt và thủ tiêu ngay tại chỗ bốn người đàn ông [mà đã bị xác định] … là đối thủ nguy hiểm nhất của chúng tôi. Một tên [đã là] … một kẻ ủng hộ chính phủ Nam Việt.  Tên khác đã thân thiện với quân đội chính phủ. Hai tên này đã bị bắn chết liền. Các tên khác, chẳng hạn như các địa chủ chính của làng, đều đã bị chặt đầu. 621

Các dân làng mà chịu hợp tác, thì vẫn giừ được cái đầu của mình nhưng tim thì đánh liên hồi, đều bị trưng dụng – Cuốc  chiến tranh nhân dân , nơi mà Tướng Võ Nguyên Giáp đã nói –  Mọi công dân là một dũng sĩ để tiêu diệt kẻ thù. Mỗi ngôi nhà đều là một tổ chiến  đấu, mỗi thôn xã hay hãng xưởng đều là một pháo đài.  622.

Trong cuộc chiến tranh nhân dân thì không thề có được một dân sự mà không chiến đấu. Không ai là dân thường xcả. Phụ nữ thì được tuyển dụng và đào tạo như klà lực lượng chính trong Quân đội Nhân Dân Việt nam. Douglas Pike lưu ý rằng ngoài sự kiện biến dân thường thành những chiến binh, ngay cả trẻ em cũng bị vậy. Tuổi từ 10 tới 11 thì đều phải mang vũ khí. Bảy tuổi thì đã được dùng như quan sát viên. Việt Cộng hoàn toàn hiểu rõ giá trị về chính trị và về tuyên truyền trong việc lạm dụng trẻ em, – Trẻ em được huấn luyện để ném lựu đạn … để mà  … lính Mỹ sẽ phải bắn chúng. Rồi thì , người Mỹ sẽ cảm thấy rất xấu hổ. Và họ sẽ tự trách mình và gọi binh sĩ của họ  là những tội phạm chiến tranh.  Ralph Schoenman, tên phụ tá cho Bertram Russell, kẻ đã đi và sử dụng giấy tờ tùy thân  623 và nhận chỉ thị của Hà Nội, cho biết là ý tưởng Hà Nội đã khiến các thường dân bị nguy hiểm  đã là – một tuyên bố phản động và gian trá.  624 Tại Hà Nội, Công ước Geneva đã không có thẩm quyền gì – nó đã không thực hiện hoặc thực thi các quy tắc của chiến tranh được. 625 Dù sao thì cộng sản Việt Nam cũng không tuân hành các quy định này. Về sau này thì trùm khủng bố Osama bin Laden cũng sẽ nói với ABC News, – chúng tôi không phân biệt giữa những người mặc quân phục và dân thường: họ đều là mục tiêu này trong trận chiến fatwa.  626

Năm 1959, chính phủ miền Nam của Ngô Đình Diệm đã cưởng bách tái định cư vài  thôn láng thành những khu nông nghiệp được coi như những làng an toàn mới với các trường học và vệ sinh tốt hơn. Trong khi an ninh thì quả tốt hơn, nhưng một số dân làng đã bất mãn vì bị lấy mất phần đất của tổ tiên để lại và mất đi các cộng đồng nhỏ bé trong thôn. Các thôn làng bị bỏ rơi đã trở thành nơi VC cai quyền và sau này biến thành các khu vực được quyền pháo kích tự do trong các vụ hành quân của các lực lượng đồng minh. Tướng Westmoreland đã cho di tản dân khỏi các khu vực mà Việt Cộng đã trả trộn trong dân cư.  Điều này nhằm bảo vệ dân thường và cho phép tấn công tự do vào các khu vực nay chỉ còn quân địch. 627 Một ví dụ đã là – Lãnh Thổ Arizona, trong trường hợp của lưu vực An Hòa phía tây Đà Nẵng. Trong một thời gian, việc tái định cư đã khiến làng Dục  Đức trở thành một ốc đảo hòa bình ở ngay ranh giới của những vùng xấu nơi mà chiến tranh kéo dài vô tận ngang trên sông Thu Bồn. Những cư dân của Dục Đức và những khu nông nghiệp khác và các làng tái định cư đã phải bỏ không chỉ vùng đất của họ, nhưng họ còn  phản bội Việt Cộng mà trước kia đã từng phụ thuộc về lúa gạo , về cu-ly lao động và về ttình báo với họ. Hà Nội sẽ không quên hay tha thứ được sự phản bội của Dục Đức.

Vào cuối 1959,  Nam Việt có trung bình 32 vụ ám sát và sáu mươi vụ bắt cóc mổi tháng . 628 Trong những năm 1958 và 1959, đã có từ 193 đến 239 vụ ám sát và và bắt cóc thì từ  236 đến 344 vụ. 629 Năm 1960, các vụ ám sát và bắt cóc của Việt Cộng gia tăng cực kỳ đáng kể.

Trong khi đó, vào năm 1960, trong cuộc – Bến Tre nổi loạn, bộ đội Việt Cộng đã tấn công mười tiền đồn chính phủ trên một hòn đảo phía nam Sài Gòn ở đồng bằng sông Cửu Long. Một tên chỉ huy phụ nữ Việt Cộng , Nguyễn Thị Định, mà sau này đã rất sát cánh với phong trào hòa bình Mtỹ, đã mô tả cảnh – cảnh sát, ác ôn, công chức, gián điệp và điền chủ có nợ máu đã bị dẫn đi xử tử trước mắt người dân. Y thị tuyên bố, – mọi người trong số đó đều xứng đáng với án tử hình. Tuy nhiên, chiếu theo chính sách khoan hồng của cách mạng, chỉ có các tên đầu nậu – những tên độc ác và nguy hiểm nhất … là đã bị hành quyết.  630 Chính sách đầy tính cách mạng khoan dung này đã khiến chỉ đơn giản hành quyết bốn mươi bẩy tên. Khi bị kháng cứng mạnh mẻ lại, bọn cách mạng đã rút khỏi  Bến Tre và ra lệnh cho hàng ngàn phụ nữ đi bao vây trụ sở huyện, làm ô uế nơi đó và đòi hỏi phải trừng phạt quân đội chính phủ cũng như bồi thường cho các – nạn nhân Việt Cộng gây ra bởi chính quyền dân sự. Phụ nữ cũng từng xuất hiện trên chiến trường như là cu li làm lao công vận chuyển tiếp liệu, duy trì và sửa chữa đường mòn Hồ Chí Minh. Tình trạng dân sự của những phụ nữ này rỏ ràng đã bị tổn thương , nhưng một lần nữa thì việc tử vong và thương tích của họ cũng là hữu ích cho mục đích tuyên truyền ở Tây phương.

Đến đầu năm 1960, Việt Cộng đã ám sát 150 lãnh tụ của các băng đảng mổi tháng và bắt cóc 50 người tại Nam Việt. 632 Đến cuối năm 1960, Việt Cộng đã giết chết khoảng 1.500  thường dân Nam Việt và bắt cóc  l, 700  người khác mà đa số đều không bao giờ thấy lại. 633 Các vụ ám sát đều rất dã man – mổ ruột gan nơi công cộng, chặt đầu và đập bể sọ ngay trước mắt thân nhân gia đình – sau những phiên tòa giả bộ với các cán bộ ra chỉ thị cho các đám đông những kiểu giải quyết thích đáng – miễn tố, bỏ tù hay xử tử. 634

Các nhà lãnh đạo băng đảng thì có thể  tìm được bất kỳ mọi nơi. Vào cuối niên học  1960-1961, Việt Cộng đã tấn công hệ thống trường học trong tỉnh rừng núi An Xuyên, với 27.953 học sinh tại 189 trường học. Các phụ huynh đã được lệnh không cho con đến trường. Các giáo viên được lệnh phải ngừng giảng dạy môn giáo dục công dân để hướng dẫn tôn vinh quốc gia, quốc kỳ và Tổng Thống. Các giáo viên không nghe lời đều bị bắn hay chặt đầu, cắt cổ, với nghững dòng chữ ghim trên tử thi giải thích lý do vì sao họ bị hành quyết. Một xe buýt đã bị chận lại và một em bé sáu tuổi đã bị cắt bỏ các ngón tay. -Đây là những gì sẽ xảy ra với bất kỳ ai mà còn tiếp tục đến trường. Trường học này đã phải đóng cửa 635 và sau đó thì tới phiên 150 trường còn lại. Một nữ giáo viên 20 tuổi, đã cố gắng để tự bảo vệ, trong khi quỳ xuống trong góc phòng và dơ tay lên đở đã bị một VC chém xuống bằng mã tấu. … Vết chém sau ót sâu tới mức thấy cả óc. Cô ta đã chết vì vết thương ở đầu cũng như vì mất máu ….  636 VC đã giết hoặc bắt cóc hơn 60 giáo viên và đã khiến số học sinh giảm xuống khoảng 20.000. – Đến cuối niên học 1961-1962, 636 trường học tại Nam Việt  đã phải đóng cửa, và số học sinh ghi danh đã giảm gần 80.000 em … 637

Và ở miền Bắc ngày 20 tháng 6 năm 1961, bọn Cộng sản đã thông qua Nghị quyết 49- NQTVQH, nhằm thành lập các trại cải tạo để cải huấn các thành phần chính trị phản cách mạng mà vẫn tiếp tục có các hành vi đe dọa an ninh công cộng bằng việc lao động cưỡng bức và nhồi sọ về chính trị – số này, chiếu theo Thông tư số 121-CP ngày 8 tháng 9 năm 1961, gồm tất cả … gián điệp, hướng đạo, hoặc các điệp viên, … tất cả các thành viên cốt lõi cứng đầu của các tổ chức đối lập trước đây, … các thành phần ngoan cố thuộc các tầng lớp bốc lột cũ . Tóm tắt lại, mọi đối thủ chính trị ở miền Bắc đã đã là những tội phạm cần phải báo thù, đàn áp và tuyên truyền nhồi sọ. Hạn tù thường bắt đầu từ ba năm và kéo dài đến nhiều thập niên hay cho đến khi chết sớm trước khi mãn hạn tù. 638

Ở miền Nam vào ngày 17 tháng 9 năm 1961, một tiểu đoàn bộ binh Việt Cộng và một đại đội đặc công đã tràn ngập thủ đô của tỉnh là Phước Vĩnh và giải thoát 270 tên cộng sản khỏi nhà tù. Chúng đã mổ ruột Nguyễn Minh Mẫn, một viên tỉnh trưởng trẻ tuổi và kiến  hiệu , rối bắn vợ ông ta. Số xâm nhập từ miền Bắc vào năm 1961 đã là từ 500 đến 1.000 tên mổi tháng. 639

Trong thời gian đầu những năm sáu mươi, Bắc Việt đã ra lệnh cho số lực lượng vũ trang tái phối trí trở về lại miền Nam để cưởng chiếm các xã ấp nhiều, xua đuổi hay giết chết cảnh sát chìm của Diệm, cácCông An. Do không có sự hiện diện của cảnh sát địa phương, Việt Cộng đã áp đặt các chính phủ ma.  Cơ sở hạ tầng này của Việt Cộng gồm các cán bộ địa phương và các gián điệp đã cung cấp tin tình báo cho du kích trong rừng cùng các lực lượng quân sự chính quy – mà cùng cứ tiếp tục tự do di chuyển ra vô các mật khu an toàn ở Cam-pu-chia và Lào. Việt Cộng hoạt động rất hữu hiệu vào ban đêm để giết người, tuyên truyền, và thu thuế. Việc giết người được chọn lọc chỉ tại các khu vực mà chúng có ảnh hưởng ít nhất, là những nơi mà VC – đã đến mức khủng bố dân lành một cách không phân biệt . . . thường xuyên pháo kích . . đặt bom tại các chợ, đặt mìn những con đường mà  thường dân sử dụng …  640 Đến năm 1961 thì Cộng sản Bắc Việt  hàng tháng đã ám sát tới cả trăm công chức các  thôn, làng, và / hoặc cán bộ huyện.  641 Tới 1962 thì con số bị ám sát trong các  thôn, làng, và / hoặc cán bộ huyện miền Nam mỗi tháng đã tăng lên đến cả ngàn mổi tháng. 642

Chính phủ miền Nam Việt Nam đã rút khỏi các vùng nông thôn và Diệm thì lại bổ nhiệm những lãnh đạo tuy trung thành, nhưng thường không đủ năng lực . Năm 1962, miền Nam thành lập các ấp chiến lược kiên cố trong hay gần những khu vực Việt Cộng kiểm soát. Trong tháng 4 năm 1963, Diệm ban hành một chương trình ân xá cho các VC nào đào thoát,  Chiêu Hồi, hay Hồi Chánh, mà theo thời gian đã sẽ phát triển có hiệu quả và làm cạn kiệt hàng ngũ Bắc Việt và Việt Cộng qua việc có tới 250.000 kẻ đào ngũ. 643 Tuy vậy từ 1961 tới 64 , Việt Cộng đã mạnh hơn bằng cách thành công tuyển dụng 3.000 dân làng mổi tháng 644 để làm gián điệp, giao liên, bộ đội và lao công. Một nông dân ở đồng bằng sông Cửu Long đã nói với Marguerite Higgins, – Chúng tôi ghét Việt Cộng. Nhưng chúng tôi phải rất lịch sự với chúng … Nếu chúng tôi không làm những gì Việt Cộng muốn thì chúng sẽ giết chúng tôi.  645

Một khi Việt Cộng đã có đủ sức mạnh quân sự trong khu vực nào đó thì, giống như Mao và Hồ trước đó, chúng ngay lập tức sẽ ra tay rất tàn nhẫn nhằm toàn quyền kiểm soát cuộc sống của người dân. Chúng sẽ – cô lập người dân địa phương cả về thể chất lẫn tinh thần không cho tiếp xúc nữa với chính phủ miền Nam Việt Nam. Việc cô lập này nhằm giảm nguy hiểm tình báo do Chính phủ  Nam Việt đối với Việt Cộng – các di chuyển quân, các nơi cắm trại, các hầm chứa tiếp liệu và các thành viên của hạ tầng cơ sở Việt Cộng. Chúng nhận dạng và vô hiệu hóa các kẻ tình nghi một cách có hệ thống. Chúng hạn chế đi lại trong các thôn làng. Chúng đặt mìn các đường giao thông dẫn ra vô các ấp và phá nổ các xe đò, ví dụ như từng giết chết 22 phụ nữ và trẻ em Việt Nam trong một vụ  vào đầu năm 1964. 646 Chúng không cho phép tự do tiếp xúc với Chính phủ  Nam Việt, ngay cả đối với các người trong gia đình của chính chúng.

Bất kỳ ai không tuân theo những quy định như vậy đèu đã bị tình nghi làm gián điệp ngay lập tức mà cần đòi hỏi phải bị cải tạo tư tưởng hay bị thủ tiêu. Trong một số khu vực, cán bộ đã được lệnh ứng chiến “giết không thương tiếc” bất kỳ viên chức nào của Chính phủ  Nam Việt mà đã thâm nhập vô vùng. 647 Vài “gian điệp” đã bị kéo ra xử công khai trước những Toà án nhân dân ” để giáo dục người dân địa phương về các hiểm nguy khi hợp tác với địch. 648

Các cán bộ an ninh đã truyền bá nhập tâm các người dân địa phương về tầm quan trọng của “Sứ mệnh bảo trì an ninh.” Họ được hướng dẫn để theo dõi dân cùng làng và báo cáo các kẻ lạ. Để thúc đẩy dân làng theo dõi lần nhau, họ đã được gieo vào đầu lòng căm thù sâu đậm hệ thống tình báo của Chính phủ Việt Nam. Một chương trình đã tìm cách để “động viên … các hoạt động  duy trì an ninh nhằm khơi dậy lòng căm thù các gián điệp của đối phương … 649 Một lá thư trong khu vực Sài Gòn ra chỉ thị cho cán bộ để ” … lật mặt nạ àm lộ ra các đề án xảo quyệt của kẻ thù … tăng hận thù cực kỳ của họ đối với kẻ thù … các nhân viên an ninh, cảnh sát, nhân viên tình báo, gián điệp và điềm chỉ viên.” 650

Tất cả các biện pháp đàn áp được đã – được che phủ bằng kỷ thuật tuyên truyền rất khích động về tinh thần  nhằm làm khơi dậy … lòng hận thù sâu đậm của, và một ham muốn trả thù …  Trong các tài liệu bị tịch thu, các cán bộ đã được hướng dẫn để “đào sâu lòng hận thù của nhân dân” … để “kích động” “cơn “thịnh nộ của họ,” để” khơi dậy ” lòng ” căm thù của họ đối với chính phủ bù nhìn Thiệu-Kỳ, “và để “nun đốc khái niệm trả thù trong lòng họ. ” 651

Các chiến dịch gây căm thù là nhằm biện minh cho các vụ ám sát và hành quyết.  Trung Tướng Thủy Quận Lục Chiến Lewis W. Walt đã đưa ra một ví dụ lạnh mình về mực độ tinh khiết đốu v1ơi Việt cộng. … Một em gái 15 tuổi mà đã cung cấp tin tức sinh hoạt của VC  cho Thủy quân lục chiến của Walt đã bị bắt vô rừng và bị tra tấn trong nhiều giờ, sau đó thì bị chặt đầu. Như một lời cảnh báo … đầu của em bé đã bị ghim trên một trụ cột trước nhà của em. Kẻ giết em đã là ngay người anh trai em … một tên Việt Cong. 652

Về thực tế, trong con mắt của Việt Cộng, việc giết hại các kẻ gọi là  “bạo chúa” đã rất là oai hùng và xứng đáng để được công nhận cùng ban thưởng. 653 Các vụ hành quyết như vậy khiến bất kỳ đối thủ có tiềm năng nào đó cũng phải kinh hoảng. Việc tuyên truyền nhằm gây căm thù khiến người dân tự tách rời khỏi chính phủ của họ và động viên họ tham gia cách mạng. Đó đã chỉ là hoặc đen hoặc trắng. 654

Người dân thì cũng bị chiếu theo đó mà đánh giá. Một báo cáo của Ủy ban Về Các Vấn Đề Quân sự của Đảng tại Khu 3 đã báo cáo khen ngợi thái độ của dân chúng:

Nhân dân  đã có một thái độ rõ ràng đối kháng với kẻ thù. … Họ  đã cung cấp cho chúng ta thông tin về … cảnh sát và điệp viên, hướng dẫn chúng ta để tiêu diệt các thành phần địch độc ác, chứa chấp chúng ta tại nhà của họ hoặc chỉ cho chúng ta thấy những vị trí tốt … đến đóng quân, đã cung cấp cho chúng ta vật liệu  và nuôi chúng ta. 655

Cuối cùng, nhân dân sẽ thanh toán sạch các “gián điệp”, “bạo chúa”, và “phản động.”

Thủ tiêu như vậy là một lựa chọn có thể thay đổi.  Tù binh chiến tranh Mỹ, – tội phạm chiến tranh, đã có thể là những mục tiêu. Trong tháng 5 năm 1966, bà Bình đã cảnh báo Averill Harriman, – Những tù nhân mà quý vị giam giữ trong các nhà tù miền Nam Việt Nam đều là những nhà ái quốc của chúng tôi. Bất kỳ khi nào mà chúng tôi biết được tin về sự ngược đãi và hành hạ các đồng chí của chúng tôi trong các nhà tù của quý vị, thì chính quý vị đã làm giảm tuổi thọ của các tội phạm chiến tranh của quý vị mà đang được giam trong các trại ở miền Bắc Việt Nam.  656 Theo lệnh của tay lãnh đạo Võ Văn Kiệt của MTGPMNVN, Việt cộng đã ám sát tù nhân chiến tranh Mỹ là Đại úy Humbert Roque Versace và Sgt. Kenneth Mills Roraback trong năm 1965 để trả thù cho việc miền Nam Việt Nam vào ngày 18 tháng 10, năm 1964 đã haq2nh quyết Nguyễn Văn Trỗi, 657 kẻ đã làm đặt mìn cầu Công Lý gần Sài Gòn trong mưu đồ, cũng dưới sự phê duyệt của Kiệt, nhưng không thành công để ám sát Bộ Trưởng Quốc phòng, Robert McNamara vào mùa xuân năm 1964. Kiệt sau đã trở thành Thủ tướng Hà Nội (1991-1997) và một người bạn của John McCain. 658

Như chắc chắn sẽ phải xảy ra trong thời chiến, việc tuyên truyền thù ghét của Cộng sản rối thì cũng lây nhiễm qua các tên bạn Mỹ của chúng . Bọn hoạt động chống chiến tranh mà thường xuyên tiếp xúc sâu đậm với các tên lãnh đạo Cộng sản Việt Nam đã đi từ ghét chiến tranh Việt Nam cho đến mức ghét Mỹ, ghét các nhà lãnh đạo, ghét chiến sĩ và đã chịu tin bất kỳ mọi cáo buộc thái quá nào về sự tàn bạo và việc diệt chủng nhằm chống lại Hoa Kỳ và Nam Việt Nam và một cách kỳ lạ là không hề chống lại Bắc Việt .

Trong thời gian đầu những năm 60, Việt Cộng đã có nhiều thành công ở Nam Việt Nam. Mark Moyar, tác giả của Phoenix and Birds of Prey, báo cáo là nhiều cán bộ VC mà đã  sống trong hay gần các thôn làng đó –  đã tạo được tình cảm với người dân. – Họ đã tự giúp dân làng, đã đối xử tử tế với họ , đã cho đất cho nhiều người trong số đó, đã xua đuổi đi được các công chức và binh lính của Chính phủ mà đã ngược đãi dân , và tuyên truyền thuyết phục được họ về tính ưu việt của VC.  659 Việt Công – đã bỏ qua không phổ biến về việc tập thể hóa  đất đai và cưỡng bức lao động – đã đạt được sự đồng ý và  hợp tác của những người dân nông thôn qua việc hứa hẹn đất đai, giảm tiền thuê và tiền lời cùng việc loại bỏ tầng lớp chủ điền và bọn công chức Chính phủ mà đã đối xử tệ với dân làng. Ngược lại một số lực lượng địa phương quân và nghĩa quân của chính phủ Việt Nam đã bị mang tiếng – đánh đập hay bắt giữ một vài thanh niên trogn làng và một số binh sĩ QLVNCH (Quân đội Việt Nam Cộng Hòa) đã hãm hiếp phụ nữ nông thôn và còn ăn cắp gà. Một số công chức chính phủ tham nhũng dad4 nhắm vào dân làng vô tội thay vì VC. – Trong nhiều trường hợp quả thật không có Việt Cộng trong làng vào thời điểm đó. 660

Dân làng đã phải học cách để sống được với các tay chủ độc đoán dù họ là ai.  Đa số dân làng cũng chả cần để ý là quốc gia hay cộng sản. – Việc phô trương sức mạnh của VC và tài lãnh đạo xuất sắc cùng kỹ năng tuyên truyền của bọn cán bộ đã giúp thuyết phục người dân nông thôn theo Cộng sản.  661 Sự kiện đấu tranh phe phái qua nhiều thế kỷ   đã dạy cho người dân làng Việt Nam phương thức chọn người sẽ chiến thắng và ngã về bên sẽ chiến thắng trong cán cân quyền lực. Với khuynh hướng đóng chết với thời gian, yếu tố sức mạnh đơn yhuần về quân sự sau này cũng đã giúp Đồng Minh đạt được thiện  cảm của dân cư nông thôn. Giải thích: “Phần lớn người Miền Nam chỉ có một giấc mơ rất đơn giản,” Đại tá Nguyễn Văn Đài, kẻ trong nhiều năm đã Chỉ Huy Trưởng của Lực lượng Cảnh sát Tác Chiến của Chính phủ Việt Nam. “Họ muốn có cuộc sống an bình và không cần phải lo lắng về miếng ăn.  Họ không muốn phải sợ một người nào đó mà có thể bắt giam hay tra tấn hay sẽ giết chết họ. Họ sẳng sàng hỗ trợ bất cứ ai mà sẽ có thể mang lại an bình cho họ.” 662 Việc khủng bố tại các thôn làng của miền Nam Việt cứ tiếp tục đã tạo ra một vỏ ngoài dân chủ pháp trong các hoạt động chính trị quốc tế.

********

530 Al Santoli, To Bear Any Burden, vie.

531 Edward Brady, ―In Our Own Image, Al Santoli, To Bear Any Burden, 202.

532 George A. Carver, ―The Faceless Viet Cong, Foreign Affairs, XLIV, Số 3 (tháng 4, 1966), 347-372 in lại trong Vietnam: Anatomy of a Conflict, 322-23, được viện dẫn trong  James Banerian and the Vietnamese Community Action Committee, Losers Are Pirates: A close Look at the PBS Series ―Vietnam: A Television History, Phoenix: Tiếng Mẹ xuất bản, 1984, 151.

533 Thiếu Tướng George S. Prugh, Vietnam Studies, Law at War: Vietnam 1964-1973, Department of the Army, Washington, D.C., 1975, Phụ lục C, The Role of Civil Law in Counterinsurgency, 1965,123 tại  http://www.history.army.mil/books/vietnam/law-war/law-appc.htm

534 James Jones, Viet Journal,New York: Delacorte, 1974, 29.

535 James Banerian và Vietnamese Community Action Committee, Losers Are Pirates: A close Look at the PBS Series ―Vietnam: A Television History, Phoenix: Tiếng Mẹ xuất bản, 1984, 49.

536 Mark Moyar, Triumph Forsaken: the Vietnam War 1954-1965,New York:CambridgeUniversity Press, 2006, 6. 

537 James Jones, Viet Journal,New York: Delacorte, 1974, 29.

538 Vấn đề đã bị trình bày một cách quá tế nhị trong Patricia M. Pelley, Postcolonial Vietnam: New Histories of the National Past,Durham: Duke University Press, 2002. 

539 Cộng sản Quốc tế, MẬT, Chỉ thị ngày 27 tháng 10, 1929, về vấn đề thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương, Hà-nội, Nhân Dân, Việt Nam ngày 6 tháng giêng, 1970, 1-2, JPRS 50557, 30 tháng 5, 1970 tại TTU Virtual Archive, Pike Collection, Item Number 2410210006, 1-6.

540 Rufus Phillips, ―Pacification, trong Santoli, To Bear Any Burden, 54.

541  Hà Thúc Ký, ―The Nationalist Forces, trong Santoli, To Bear Any Burden, 39.

542  Xem: Ladislav Bittman, The KGB and Soviet Disinformation: An Insider’s View. Về những năm được huấn luyện và kinh nghiệm của Hồ Chí Minh như là một tên công sản do Xô viết tài trợ, xem Robert F. Turner, “Myths of the Vietnam War: The Pentagon Papers Reconsidered,” Southeast Asian Perspectives, Số  7 (tháng 9, 1972),1-12. Vấn đề Bắc Việt lo lắng về công luận Pháp, xem : Trường Chinh, The Resistance Will Win, Ấn bản thứ 3 (Hanoi: Foreign Languages Publishing House, 1966), 46-47, kể ra trong  Turner, 22N85.

543 Janos Radvanyi, Delusion and Reality,South Bend: Gateway Editions, limited, 1978, 7.

544 Tạp Chí Cộng Sản (tháng 3, 1989), FBIS-EAS 89-95, kể ra trong Indochina Chronicle.

545 Pelley, 195.

546 ―Hồ Chí Minh (1890-1969) ,  www.kirjasto.sci.fi/hochi.htm

547 James Banerian và Vietnamese Community Action Committee, Losers Are Pirates: A close Look at the PBS Series ―Vietnam: A Television History, Phoenix: Tiếng Mẹ xuất bản , 1984, 54-57. 

548 AFP, ―ViệtNam vinh danh các tên người Nga ướp xác Hồ Chí Minh , 29 tháng 5, 2009.

549 Lê-nin, Bộ 45, 190.

550 Viện dẫn trong J. Edgar Hoover, Masters of Deceit,New York: Pocketbook, (Cardinal edition), 1961, 184. 

551 Bernard Fall, ―Profile of Giap,trong Vo Nguyen Giap, People‘s War, People‘s Army, New York: Praeger, 1965, xxxvi. Joseph Buttinger, Vietnam: the Dragon Embattled, Praeger, trích dẫn thuộc Quốc hội Mỹ, Thượng viện, ủy ban Committee on Judiciary, The Human Cost of Communism in Vietnam, Washington; U.S. Government Printing Office, 17 tháng 2, 1972, 12; về phần các chối từ, xem  ―Khai trình của D. Gareth Porter, tiểu ban Subcommittee to Investigate the Administration of the Internal Security Laws of the Committee on the Judiciary, U.S. Senate, Nhiệm kỳ  93, Khóa 1,  27 tháng 7, 1973.

552 Những người mà có lẻ chỉ người Việt biết đã là Huỳnh Phú Sổ, Tạ Thu Thâu,  Trương Tử Anh, Bùi Quang Chiêu, Võ Văn Ngà, Nguyễn Văn Sâm, Phạm Quỳnh, Ngô Đình Khôi. Xem: Joseph Buttinger, Vietnam: the Dragon Embattled, Praeger, trích dẫn thuộc Quốc hội Mỹ, Thượng viện, ủy ban Committee on Judiciary, The Human Cost of Communism in Vietnam, Washington; U.S. Government Printing Office, 17 tháng 2, 1972,11-12; James Banerian và Vietnamese Community Action Committee, Losers Are Pirates: A close Look at the PBS Series ―Vietnam: A Television History, Phoenix: Tiếng Mẹ Xuất bản, 1984, 51-52.

553 P.J. Honey, ―Vietnam: If the Communists Won, Southeast Asian Perspectives, Số 2, tháng 6, 1971, 3-4.

554 Mark Moyar, Triumph Forsaken: the Vietnam War 1954-1965,New York:CambridgeUniversity Press, 2006, 21.

555 P.J. Honey, ―Vietnam: If the Communists Won, Southeast Asian Perspectives, Số  2, tháng 6, 1971, 7; James Banerian và Vietnamese Community Action Committee, Losers Are Pirates: A close Look at the PBS Series ―Vietnam: A Television History, Phoenix: Tiếng Mẹ Xuất bản, 1984,69.

556 Bernard Fall, ― Chân dung của Giáp, trong Vo Nguyen Giap, People‘s War, People‘s Army, New York: Praeger, 1965,xxxvi. 

557 Trường Chinh, The August Revolution, ấn bản lần 2,Hanoi: Foreign Language Publishing House, 1962, 41-43; Cũng có trong Primer for Revolt,New York: Praeger, 1963, 41.

558 James Banerian và Vietnamese Community Action Committee, Losers Are Pirates: A close Look at the PBS Series ―Vietnam: A Television History, Phoenix: Tiếng Mẹ Xuất bản, 1984, 48.

559 Stanley Karnow. Vietnam: A History. New York,NY. Penguin, 1991, 163.

560 R.J. Rummel, Death by Government, New Brunswich: Transaction Publishers, 1994, 247-250 kể trong William F. Jasper, ―Seven Myths About the Vietnam War, New American, 25 tháng 3, 2002.

561 Le Vietnam en Marche, tháng 11, 1959 kể trong khai trình của Daniel E. Teodoru, Quốc hội Mỹ, Thượng viện, ủy ban Committee on Judiciary, The Human Cost of Communism in Vietnam-II, Washington; U.S. Government Printing Office, 5 tháng giêng, 1973, 17-8.

562 Quốc hội Mỹ, Thượng viện, ủy ban Committee on Judiciary, The Human Cost of Communism in Vietnam-II, Washington; U.S. Government Printing Office, 5 tháng giêng, 1973, 13-19. 

563 James Banerian và Vietnamese Community Action Committee, Losers Are Pirates: A close Look at the PBS Series ―Vietnam: A Television History, Phoenix: Tiếng Mẹ Xuất bản, 1984,131.

564 R.J. Rummel, Death by Government, New Brunswich: Transaction Publishers, 1994,  viện dẫn trong William F. Jasper, ―Seven Myths About the Vietnam War, New American, 25 tháng 3, 2002.

565 ―Vietnam‘s anniversary of horror, Asian Pacific Post, tháng 7, 2006. AsianPacificPost.com/portal2/ff8080810c22f24f010c3f99950c0073.do.html

566 Đặng Phong, History of the Vietnamese Economy, Bộ 2, Vietnam Institute of Social Sciences, 2005 viện dẫn trong ―Vietnam‘s anniversary of horror, Asian Pacific Post, tháng 7, 2006. AsianPacificPost.com/portal2/ff8080810c22f24f010c3f99950c0073.do.html; Nhân Dân  13 tháng 8, 1957 sai lầm độ 30-50%.

567 P.J. Honey, ―Vietnam: If the Communists Won, Southeast Asian Perspectives, Số  2, tháng 6, 1971, 11.

568 R.J. Rummel, Death by Government, New Brunswich: Transaction Publishers, 1994, 253 viện dẫn trong William F. Jasper, ―Seven Myths About the Vietnam War, New American, 25 tháng 3, 2002; Xem thêm  ―Vietnam‘s anniversary of horror, Asian Pacific Post, tháng 7,  2006. AsianPacificPost.com/portal2/ff8080810c22f24f010c3f99950c0073.do.html

569 Giám đốc CIA và ủy ban Intelligence Advisory Committee, MẬT ―The Prospects forNorth Vietnam, NIE 63.2-57, 14 tháng 5, 1957.

570 Hoàng Văn Chí, From Colonialism to Communism—A Case History of North Vietnam nêu ra trước Quốc hội Mỹ, Thượng viện, ủy ban Committee on Judiciary, The Human Cost of Communism in Vietnam, Washington; U.S. Government Printing Office, 17 tháng 2, 1972,7. 

571 D. Gareth Porter, ―The Myth of the Bloodbath: North Vietnam‘s Land Reform Reconsidered, Bulletin of Concerned Asian Scholars, Bộ. 5, 1973; Khai chứng của  Daniel E. Teodoru, Quốc hội Mỹ, Thượng viện, ủy ban Committee on Judiciary, The Human Cost of Communism in Vietnam-II, Washington; U.S. Government Printing Office, 5 tháng giêng, 1973.

572 The Human Cost of Communism in Vietnam—II: the Myth of No Bloodbath, Phúc trình trước tiểu ban Subcommittee to Investigate the Administration of the Internal Security Act I and Other Internal Security Laws of the Committee on the Judiciary, Thượng viện, Quốc hội Nhiệm kỳ 93, Khóa họp đầu, 5 tháng giêng, 1973.

573 Khai trình của Daniel E. Teodoru, Quốc hội Mỹ, Thượng viện, ủy ban Committee on Judiciary, The Human Cost of Communism in Vietnam, Washington; U.S. Government Printing Office, 5 tháng giêng, 1973, 6-7.

574 Khai trình của Daniel E. Teodoru, Quốc hội Mỹ, Thượng viện, ủy ban Committee on Judiciary, The Human Cost of Communism in Vietnam, Washington; U.S. Government Printing Office, 5 tháng giêng, 1973, 7;

Trần Văn Định, ―The Cleansing Power of Poetry, WLA, 2001, 330. 

575 DEPARTMENT OF STATE PUBLICATION 7724, Far Eastern Loạt bài 127, Phổ biến tháng 8, 1964, Office of Media Services, BUREAU OF PUBLIC AFFAIRS, US GOVERNMENT PRINTING OFFICE: 1964; (cũng trong DoD Gen 8) Questions and Answers Viet-Nam the Struggle for Freedom, 1962, tại Department of Navy, Naval Historical Center, Washington Naval Yard, Wash DC.

576 Thảo luận giữa Mao Trạch Đông và Lê Duẩn ngày 11 tháng 5,, 1970, Cold War International History Project (CWIHP), http://www.CWIHP.org , theo sự chấp thuận của Woodrow Wilson international Center for Scholars.

577 Pelley 119.

578 Marxism-Leninism on War and Army (A Soviet View), US Government Printing Office, 1976, 7 viện dẫn trong Harold W. Rood, Kingdoms of the Blind, 94n40.  

579 Xem : Ladislav Bittman, The KGB and Soviet Disinformation: An Insider’s View. Về những năm tháng Hồ Chí Minh được huấn luyện cũng như là đã rút được kinh nghiệm khi hoạt động như một tên cộng sản ăn tiền Liên xô, đọc Robert F. Turner, “Myths of the Vietnam War: The Pentagon Papers Reconsidered,” Southeast Asian Perspectives, Số  7 (tháng 9, 1972),1-12. Về vấn đề Pháp lo âu đối với công luận trong nước , đọc Truong Chinh, The Resistance Will Win, Ấn bản thứ 3 (Hanoi: Foreign Languages Publishing House, 1966), 46-47, nêu ra bởi Turner, 22N85. 

580 Sherman Kent, Phụ tá Giám đốc, National Estimates, gởi cho Giám đôc CIA, MẬT ―The Probable Outcome at Dien Bien Phu, 24 tháng 3, 1954, 2.

581 Bột Trưởng ngoại Giao Việt Bnam nói với Harrison E. Salisbury, Behind the Lines-Hanoi,New York: Harper & Row, 1967, 149. 

582 Cashiers du Communisme, March-April 1947, 340 viện dẫn tại  www.marxists.org/archives/cliff/works/1968/France/3-party.htm.

583 Combat, Paris, 4 tháng 2, 1950; New York Times 18 tháng 2, 1950, 5 và 24 tháng 2, 1950, 12 viện dẫn tại http://www.drug text.org/library/books/McCoy/book/notes2.htm.

584 Thomas W. Braden, ―I‘m Glad the CIA is ‗Immoral, The Saturday Evening Post,  20 tháng 5, 1967, 10. 

585 Don North, ―Voices from the Past: The Search for Hanoi Hannah, Vietnam Generation, A Journal of Recent History and Contemporary Culture, Bộ 3, Số 3, tháng giêng 1995  tại http:/25thaviation.org/Facts/id429.htm; cũng tại  http://www.brainyquote.com/quotes/quotes/h/hanoihanna224073.html

586 Agonie de l‘Indochine,

587 Các hình và ghi chú về những kẻ chống chiến tranh Pháp đã được lưu niệm cả tại Hoa Lo Prison Historic Vestige (Di tích Lịch sử Nhà Tù Hỏa Lò và Hilton Hà-nội) ở Hà-nội và War Remnants Museum, ―War Crimes Museum, ở Sài-gòn. Các hình của tác giả đã được chụp tháng 3, 2008, là bộ Viet I DSC_182-5.

588 Nhật ký CIA, ―The Vietnamese Will to Persist. 26 tháng 8, 1966, 12. 

589 Edward Lansdale, ―The New Republic,trong Santoli, To Bear Any Burden, 52; Mark Moyar, Triumph Forsaken viện dẫn Gibbons, The U.S. Government and the Vietnam War, Bộ I, 265. 

590 Tom Dooley, Deliver Us From Evil, viện dẫn trong James Banerian and the Vietnamese Community Action Committee, Losers Are Pirates: A close Look at the PBS Series ―Vietnam: A Television History, Phoenix: Tiếng Mẹ Xauất bản, 1984, 98-9.

591 Giám đốc CIA và ủy ban Intelligence Advisory Committee, MẬT ―Anti-Communist Resistance Potential in the Sino-Soviet Bloc, NIE 10-55, tháng 4, 1955, 29.

592 Chế Văn Viên, “Sparkling Fires in the South,” trong Douglas Pike, Viet Cong…, 438.

593 Mark Moyar, Phoenix and the Birds of Prey; The CIA‘s Secret Campaign to Destroy the Viet Cong, Annapolis: Naval Institute Press, 1997, 4.

594 Tướng William C. Westmoreland, A Soldier Reports, New York: Dell, 1976, 69, 269; CIA, ―Significance of Cambodia to the Vietnamese War Effort, SNIE 57-67, 26 tháng giêng, 1967, 4.

595 Hanoi‘s Central Office for South Vietnam (COSVN): A Background Paper, US Mission in Vietnam, Saigon, tháng 7, 1969. 

596 Nguyễn Tương Lai, ―New Socialist Man, trong Santoli, To Bear…, 291.

597 Học Tập, tháng 9, 1966 với Quốc hội Mỹ, Thương viện, ủy ban Committee on Judiciary, The Human Cost of Communism in Vietnam,Washington,U.S. Government Printing Office, 17 tháng 2, 1972,5-6.

598 J. Edgar Hoover, Masters of Deceit,New York: Pocketbook, (Cardinal edition), 1961, 187.

599 Mark Moyar, Phoenix and the Birds of Prey; The CIA‘s Secret Campaign to Destroy the Viet Cong, Annapolis: Naval Institute Press, 1997, 13-14.

600 D.E, Bordenkircher, S.A. Bordenkircher, Tiger Cage: Untold Story, Abby Publishing, 1998, 30; Moyar Phoenix.

601 Anne Miller, ―The Forest of Pencils, trong Santoli, To Bear Any Burden, 83.

602 The Blood-Red Hands of Ho Chi Minh, Readers Digest, tháng 11, 1968 tại http://www.paulbogdanor.com/ho-chi-minh.html. 

603 Jay Mallin, ―Terrorism as a Political Weapon, Air University Review, tháng 7 và 8, 1971.

604 Quốc hội Mỹ, Thương viện, ủy ban Committee on Judiciary, The Human Cost of Communism in Vietnam, Washington; U.S. Government Printing Office, 17 tháng 2, 1972, 7 cùng ước lượng bởi Hoàng Văn Chí và Gerard Tongas như là cở 500,000.

 605 ―The Blood-Red Hands of Ho Chi Minh, Readers Digest, tháng 11, 1968 tại http://www.paulbogdanor.com/ho-chi-minh.html

606 Điểm sách của Michael Lind,Vietnam: The Necessary War: A Reinterpretation of America’s Most Disastrous Military Conflict

607 Mark Moyar, Phoenix and the Birds of Prey; The CIA’s Secret Campaign to Destroy the Viet Cong, Annapolis: Naval Institute Press, 1997, xiv.

608 Mark Moyar, Triumph Forsaken, 79-80N65 viện dẫn Race, War Comes to Long An, 83. Xem thêm: Stuart A. Herrington, Stalking the Viet Cong: Inside Project Phoenix, New York: Ballantine, 1982, 91, 163-164.

609 Stephen T. Hosmer, Vietcong Repression and Its Implications for the Future, 42 viện dẫn trong James Banerian and the Vietnamese Community Action Committee, Losers Are Pirates: A close Look at the PBS Series ―Vietnam: A Television History, Phoenix: Tiếng Mẹ Xuất bản, 1984, 113.

610Stanley Karnow,Vietnam: A History, 210.

611 Bill Laurie, Godzilla at Khe Sanh: Viet Nam’s Enduring Hallucinatory Illusions,  bản thào chưa xuất bản gởi cho tac giả 26 tháng 8,  2009.

612 Douglas Pike, The Viet-Cong Strategy of Terror,United StatesMission, Viet-Nam, 1970, 16. 

613 Mark Moyar, Phoenix and the Birds of Prey; The CIA‘s Secret Campaign to Destroy the Viet Cong, Annapolis: Naval Institute Press, 1997, xiv.

614 Mark Moyar, Phoenix and the Birds of Prey; The CIA‘s Secret Campaign to Destroy the Viet Cong, Annapolis: Naval Institute Press, 1997, 292n16 viện dẫn Honey chiếu theo các trài liệu Pentagon Papers, Ấn bản của Thượng nghị Sĩ Gravel , I, 255.

615 Thomas L. Ahern, CIA and The House of Ngo: Covert Action in South Vietnam, 1954-1963, CIA, Center for the Study of Intelligence, tháng 6, 2000, MẬT, công bố ngày  19 tháng 2,  2009, 219.

616 Mark Moyar, Phoenix and the Birds of Prey; The CIA‘s Secret Campaign to Destroy the Viet Cong, Annapolis: Naval Institute Press, 1997, 35.

617 Nguyễn Tương Lai, ―The Ho Chi Minh Trail trong  Santoli, To Bear Any Burden, 75.

 618 Moyar, Triumph…, 184.

619 Vietnam Courier, tháng 5, 1984 đã bật mí cái – quyết địng bí mật tuyệt đối. 

620 Charles A. Stevenson, The End of Nowhere; American Policy Toward Laos Since 1954, Boston: Beacon, 1973, 110-20; William Colby, Honorable Men: My Life in the CIA ,New York: Simon and Schuster, 1978, 191-95; cả hai đều viện dẫn trong William McLeary, ―Supporting the ‗Secret War‘: CIA Air Operations inLaos, 1955-1974, cia.gov/libray/center-for-the-study-of-intelligence/Kent-csi/docs/v43i3a07p.htm.

621 ―The Blood-Red Hands of Ho Chi Minh, Readers Digest, tháng 11, 1968 tại http://www.paulbogdanor.com/ho-chi-minh.html.

622 MacKubin T. Owens, ―They Charge War Crimes…National Review, 3 tháng 5, 2004 viện dẫn những lời của Giáp. Đọc Tướng Võ Nguyên Giáp, The Military Art of People‘s War, New York: Monthly Review, 1970.

623 Ralph Schoenman, ―Truth as Casualty—A Response to Carol Brightman and Carl Oglesby on the Sixties, Vallejo, California, 21 tháng giêng , 2008, 6 tại http://takingaimradio.com/articles/TRUTH_AS_CASUALTY__A_RESPONSE.pdf.

624 Ralph Schoenman, ―Truth as Casualty—A Response to Carol Brightman and Carl Oglesby on the Sixties, Vallejo, California,  21 tháng giêng , 2008, 3 tại http://takingaimradio.com/articles/TRUTH_AS_CASUALTY__A_RESPONSE.pdf.ralph

625 Michael Lee Lanning và Dan Craig, Inside the VC and NVA, New York: Fawcett Columbine, 1992. 62; Douglas Pike, PAVN, Novato: Presidio, 1986, 215; Al Santoli, To Bear Any Burden, New York: Dutton viện dẫn trong Trung Tá Dave Grossman, On Killing: The Psychological Cost of Learning to kill in War and Society, Boston: Little Brown, 1995, 267; tất cả đều viện dẫn trong Gary D. Solis, Son Thang: An American War Crime, New York: Bantam, 1998, 162-3n19-22

626 The 9/11 Commission Report, 69.

627 General William C. Westmoreland, A Soldier Reports,New York: Dell, 1976, 375.

628 Mark Moyar, Triumph Forsaken, 85N81 viện dẫn trong Pentagon Papers, 336.

629 Giám đốc CIA và ủy ban Intelligence Advisory Committee, MẬT ―Short-Term Trends inSouth Vietnam, NIE 63.1-60, 23 tháng 8, 1960, 3.  

630 Mark Moyar, Triumph Forsaken, 87-88N1 viện dẩn Nguyễn Thị Định, No Other Road to Take: Memoirs of Mrs. Nguyen Thi Dinh, dịch bởi Mai Van Elliott (Ithaca: Southeast Asia Program, Cornell University, 1976, 62-74; An Bao Minh, ―Uprising in Ben Tre, TTU, Sưu tầm của Pike, Đơn vì , hộp 1; Military History Institute of Vietnam, Victory in Vietnam 60-64; Saigon to State, 10 tháng 5, 960 và 12 tháng 7, 1960 cả hai đều trong NA II, RG 59; C0092, cuốn phim 11.

631 Nhựt ký CIA,―The Vietnamese Will to Persist. Phụ bàn X, The Effect of the International Political Climate on the Vietnamese Communist Plans and Capabilities, 26 tháng 8, 1966, IX-5.

632 Mark Moyar, Triumph Forsaken, 91 ghi chú số 9 viện dẫn trong Pentagon Papers, 336.

633 The Blood-Red Hands of Ho Chi Minh, Readers Digest, tháng 11, 1968 tại http://www.paulbogdanor.com/ho-chi-minh.html; Giám đốc CIA và ủy ban Intelligence Advisory Committee, MẬT ―Prospects for North and South Vietnam, NIE 14.3/53-61, 10;

634 Mark Moyar, Triumph Forsaken, 91 ghi chú số 10 viện dẫn trong các phỏng vấn Rand Vietnam , ser. PIE, no. 73. 

635 Bác sỹ  A. W. Wylie, một y sỹ Úc phục vụ tại một bệnh viện  ởchâu thổ sông Cữu Long đã kể trong ―The Blood-Red Hands of Ho Chi Minh, Readers Digest, tháng 11,  1968 tại  http://www.paulbogdanor.com/ho-chi-minh.html.

636 Như trên

637 The Blood-Red Hands of Ho Chi Minh, Readers Digest, tháng 11, 1968 tại http://www.paulbogdanor.com/ho-chi-minh.html.

638 Ginetta Sagan và Stephen Denney, ―Re-education in Unliberated Vietnam: Loneliness, Suffering and Death, The IndoChina Newsletter, tháng 10 và 11, 1982. 

639 Mark Moyar, Triumph Forsaken, 134 ghi chú số 48 viện dẫn CIA, ―Infiltration of Communist bloc trained Sabotage Personnel into South Vietnam, 12 tháng 7, 1961, JFKL, NSF, hộp 193, ; CIA SNIE 53-2-61, ―Bloc Support of the Communist Effort Against the Government of Vietnam, 5 tháng 10,  1961, JFKL, NSF, hộp 194; Saigon to State, 10 tháng 10,  1961, JFKL, NSF, h5ôp 194; Hilsman nói với Rusk, 16 tháng 7,  1962, FRUS, 1961-1963, bộ 2, 243; Military History Institute of Vietnam, Victory in Vietnam, 456.

640 Mark Moyar, Phoenix and the Birds of Prey; The CIA‘s Secret Campaign to Destroy the Viet Cong, Annapolis: Naval Institute Press, 1997, 307.

641 John M. Del Vecchio, ―Cambodia,Laos andViet Nam? The Importance of Story Individual and Cultural Effects of Skewing the Realities of American Involvement in Southeast Asia for Social, Political and/or Economic Ends, 1996 Vietnam Symposium “After the Cold War: Reassessing Vietnam,” 18-20 tháng 4, 1996.

642 Như trên

643 Bảo Ninh, The Sorrow of War, 58-9, trong Võ M. Nghĩa, ―The War Viewed From All Sides,trong Võ M. Nghĩ, Đặng V. Chất, Hồ V. Hiền (xuất bản), War and Remembrance, SACEI Diển đàn #6, Denver: Outskirts Press, Inc, 2009, 14.

644 Mark Moyar, Phoenix and the Birds of Prey; The CIA‘s Secret Campaign to Destroy the Viet Cong, Annapolis: Naval Institute Press, 1997, 5 ghi chú số 2 kể ra CIA, Viet Cong Manpower and Recruitment, 21 tháng 11, 1966; phim Widner A413.6.1 Cuộn  3:971-977.

645 Marguerite Higgins, Our Vietnam Nightmare,New York: Harper & Row, 1965, 119.

646 Các báo cáo Vietnam War Atrocities vnfmanmn.com/vNWar_atrocities

647 Các ví dụ có trong CDEC, Tài liệu Ghi chú số 02-2050-68 (Bảo mật), tóm lược trong  MACJ2 Bàn tin số 9769, ngày 25 thaq1ng 2,, 1968, và CDEC, Tài liệu Ghhi chú số 04-3157-68 (Bảo Mật), sơ lược trong MACJ2 Bản tin số 11,901, ngày 30 tháng 4, 1968 kể ra trong Lê Thành Nam ―Viet-Cong Repression: Control and Polarization of the Populace  tại  http://25thaviation.org/history/id926.htm 

648 CDEC, Tài liệu ghi chú số 11-1520-68 (Bảo mật) đề ngày 26 tháng chạp, 1968. Dịch thuật từ một kế hoặch soạn thảo bởi một đơn vị địch không nhận dạng được liên quan đến các chiến dịch quân sự và chính trị nhằm tấn công các mục tiêu Đồng Minh tại Tỉnh Bến Tre trong năm 1968. Tịch htu bởi 5th U.S. SFGA vào ngày 6 tháng 11, 1968 được kể ra bởi Lê Thành Nam, ―Viet-Cong Repression: Control and Polarization of the Populace  tại  http://25thaviation.org/history/id926.htm

649 Tài liệu ghi chú số 11-1520-68 được kể ra bởi Lê ThànhNam, ―Viet-Cong Repression: Control and Polarization of the Populace tại  http://25thaviation.org/history/id926.htm

650 Tài liệu ghi chú số 02-1076-69 (Bảo mật) đề ngày 20 tháng 2, 1069. Dịch thuật một lá thư Mật, đề ngày 24 tháng 10, 1968, mà đã được xem như được soạn thảo bởi một cơ quan thuộc Tiều khu 2 gởi cho Phân bộ An ninh của Quận 6 (Sài-gòn) và năm quận khác chung quanh Tiểu khu 2. Tịch thu bởi Sư Đoành 25 Bộ Binh vào ngày 26 tháng giêng , 1969 kể ra trong Lê Thành Nam, ―Viet-Cong Repression: Control and Polarization of the Populace tại  http://25thaviation.org/history/id926.htm

651 Các vì dụ đã có thể được tìm thấy trong : CDEC, Tài liệu ghi chú số 01-3001-67 (Bảo Mật), đề ngày 12 tháng chạp, 1967; CDEC, Tài liệu ghi chú số 05-2047-67 (Bảo Mật), đề ngày 12 tháng 2, 1968; CDEC, Tài liệu ghi chú số 12-1739-67 (Bảo Mật), đề ngày 29 tháng chạp, 1967; CDEC, Tài liệu ghi chú số 03-1120-68 (Bảo Mật), được tóm tắt trong MACJ2 Bản tin số 9986, đề ngày 2 tháng 3, 1968; CDEC, Tài liệu ghi chú số 04-1228-68 (Bảo Mật), đề ngày 16 tháng 5, 1968; và CDEC, Tài liệu ghi chú số 10-1399-68 (Bảo Mật), đề ngày 27 tháng 10, 1968 kể ra trong Lê Thành Nam, ―Viet-Cong Repression: Control and Polarization of the Populace tại http://25thaviation.org/history/id926.htm 

652 ―The Blood-Red Hands of Ho Chi Minh, Readers Digest, tháng 11, 1968 tại  http://www.paulbogdanor.com/ho-chi-minh.html.

653 “Huy Chương Giải Phóng” được trao cho các đơn vị hay cá nhân mà đã chứng tỏ can đãm vượt  bực khi thanh toán các “tên bạo ngược”. Thành phần Hoạt Động Đặc Biệt của đơn vị thành phố Quảng Đà, chẳng hạn đã được trao Huy Chương Giải Phóng Hạng 3 nhờ tinh thần chiến đấu và lòng can đãm cao trong việc giết chết ba “tên cường hào ác bá” tại thôn Nhân Biển vào ngày 3 tháng 8, 1967. CDEC, Tài liệu ghi chú số 10-1915-68 (Bảo Mật), được tóm tắt trong MACJ2 Bản tin số 17,356, ngày 19 tháng 10, 1968. Tịch thu bởi 1st U.S. Air Cavalry Division kể ra trong Lê Thành Nam Le, ―Viet-Cong Repression: Control and Polarization of the Populace tại http://25thaviation.org/history/id926.htm

654 Một ví dụ là CDEC, Tài liệu ghi chú số 01-1142-69 (Bảo Mật) được tóm tắt trong  MACJ2 Bản tin số 19,243 ngày 3 tháng giêng, 1969, mà đã tóm tắt các ghi chú trong một cuộc họp tái hướng dẫn về chính trị tại Quân khu V trong tháng chạp, 1968. Tịch thu bởi 1st U.S. Air Cavalry Division kể ra trong Lê Thành Nam Le,  ―Viet-Cong Repression: Control and Polarization of the Populace tại  http://25thaviation.org/history/id926.htm

655 Tài liệu ghi chú số  02-1922-68 (Bảo Mật), ngày  29 tháng 2, 1968. Bản dịch biện bản về buổi gặp gở giữa Ủy Ban Đảng về các Vấn Đề Quân sự Quân Khu 2, mà đang kiểm tra lại các thành tụu của Quân Khu 3 trong trận Tấn công Tết. Tịch thu bởi RVNAF III CTZ, vào ngaq2y 12 tháng 2, 1968 kề ra trongt Lê Thành Nam, ―Viet-Cong Repression: Control and Polarization of the Populace  tại  http://25thaviation.org/history/id926.htm

656 Bản tin Bộ Ngoại Giao, ―Harriman to Supervise U.S. Actions on POWs in Vietnam, 18 tháng 5, 1866, 88; Berkeley‘s Analysis of Ambassador Locke‘s Memo on ICEX, 17, tháng 8,  1967; Cắt báo Côn Sơn, C&D staff, 1970.; viện dẫn bởi D.E, Bordenkircher, S.A. Bordenkircher, Tiger Cage: Untold Story, Abby Publishing, 1998, 27.  

657 Nhân Dân viện dẫn bởi Radio Hanoi, 28 tháng 9, 1965 kể ra trong Douglas Pike, The Viet-Cong Strategy of Terror, United States Mission, 1 tháng 2, 1970, 8;

658 Đài Giải Phóng, 26 tháng 9,, 1965; Newsweek, Oct. 1, 1965; Ted Sampley, ―Palin opened a door to McCain‘s relationship with a former Viet Cong terrorist, U.S. Veteran Dispatch, 6 tháng 10 , 2008.

 659 Mark Moyar, ―VILLAGER ATTITUDES DURING THE FINAL DECADE OF THE VIETNAM WAR, 1996 Vietnam Symposium, “After the Cold War: Reassessing Vietnam,”18-20 tháng 4, 1996, http://www.vietnam.ttu.edu/vietnamcenter/events/1996_Symposium/96papers/moyar.htm 

660 Như trên

661 Như trên

662 Moyar phỏng vấn Đại tá Nguyễn Văn Đại tường thuật trong Mark Moyar, ―VILLAGER ATTITUDES DURING THE FINAL DECADE OF THE VIETNAM WAR, 1996 Vietnam Symposium, “After the Cold War: Reassessing Vietnam,”18-20 tháng 4, 1996,

http://www.vietnam.ttu.edu/vietnamcenter/events/1996_Symposium/96papers/moyar.htm 

 

***** 

Một phản hồi to “Roger Canfield’s Americong #4”

Trackbacks/Pingbacks

  1. Giới thiệu tác phẩm AMERICONG (MỸ-CỘNG) – Lê Bá Hùng | Ngoclinhvugia's Blog - 05/01/2016

    […] Roger Canfield’s Americong #4 […]

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: