Roger Canfield’s Americong #60

image002

Comrades in Arms

How the Americong Won the War in Vietnam

Against the Common Enemy— America

Copyright Roger Canfield, Ph.D.

1986-2012

No commercial transaction allowed except that approved by the author, copyright holder.

Obtain a prepublication release of a CD-R in Microsoft Word in ENGLISH at a discounted price of $15 from Roger Canfield Rogercan@pacbell.net at 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 or at http://americong.com.

Completely SEARCHABLE for any name, date, place or event of the War and its protesters.   

Cover: Design Stephen Sherman. Photos: Roger Canfield, March 2008. TOP: War protest Hawaii, February 1966 displayed at War Remnants (Crimes) Museum, Saigon. Bottom: Praetorian Guard

Các đồng chí cùng chiến tuyến

Làm thế nào MỹCộng thắng cuộc chiến Việt Nam

Chống kẻ Thù Chung – Mỹ

Giữ bản quyền Roger Canfield, Tiến Sĩ

1986-2012

Không được sử dụng vào mục đích thương mại nếu không có sự đồng ý của Tác giả, người giữ bản quyền.

Có thể mua một tiền bản dưới dạng CD-R Microsoft Word bằng Anh ngữ với giá đặc biệt US$15 ngay từ tác giả Roger Canfield  Rogercan@pacbell.net tại 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 hay tại  http://americong.com.

Hoàn toàn có thể TRA CỨU hoặc bằng tên, bằng ngày tháng hay biến cố liên quan đến cuộc Chiến cùng cả luôn bọn tham dự biểu tình .

******************************************************

* Tác giả giữ bản quyền © Roger Canfield 1986-2012

  • Lê Bá Hùng chuyển ngữ  (với sự chấp thuận của Tác giả)

 

*****

 

Chương 60

Phối hợp Chiến Tranh với Hoà Bình:

Stockholm, Hà-nội, Đông Bá-linh, v. v. . .  

 

Hội Nghị Stockholm về Việt-nam – Tháng 5 năm 1969

Từ 16 đến 18 tháng 5 năm 1969, bọn Liên xô, Tiệp và Việt cộng đã cùng tổ chức    Hội nghị 1969 Stockholm về Việt Nam.

Được mô tả như là Hội nghị Hành động Khẩn cấp về Việt Nam, đã có 340 tên tham dự. Chính ở đây, bọn Mỹ đã gặp đám Nguyễn Minh Vỹ của Hà Nội và Nguyễn Thị Bình của Việt Cộng và đón nhận được lời ban khen về “cuộc tấn công mùa xuân” của chúng và cùng nhau thảo kế hoạch để tổ chức các cuộc biểu tình phản chiến vào mùa thu. 2839  Hội nghị Hội đồng Hòa bình thế giới này đã có ghi nhận: “Các đoàn đại biểu Việt Nam và Hoa Kỳ đã rất là đông 2840 và đã nắm vai trò dẫn dắt trong các cuộc thảo luận của hội nghị”.

Phái đoàn Hoa Kỳ là đông nhất và thuộc số đã được đại diện tiêu biểu nhất với nào là đám Quakers, WSP và Lawyers Committee on American Policy Towards Vietnam (Ủy ban Luật sư về chính sách của Mỹ đối với Việt Nam). Các dân biểu Mỹ John Conyers, Bella Azbug và tay từng “công khai tuyên bố mình theo xã hội chủ nghĩa” là Ron Dellums, đã là những kẻ ủng hộ nổi bật nhất cho Ủy ban các Luật sư. Uỷ ban này đã trình bày một chương trình 5-Điểm ngõ hầu kết thúc cuộc chiến tranh ở Việt Nam tại Hội nghị Stockholm. 2841 Những sinh hoạt của hội nghị  WPC này đã được tường thuật một cách đầy thiện cảm trong tờ Daily World, báo chính thức của đảng CS Mỹ CPUSA .

Bọn Mỹ từng  tham dự Hội nghị May 1969 Emergency Conference of Stockholm Conference on Vietnam đã là: John Wilson và Sherman Adams của SNCC; Amy Swerdlow, Serita Crown, Althea Alexander của WSP; Noam Chomsky; Joseph Elder, Bob Eaton và Bronson Clark của AFSC; Joseph Crown,Richard Falk, Stanley Swerdlow của Lawyers’ Committee on American Policy Towards Vietnam (Uỷ ban Luật sư về chính sách của Mỹ đối với Việt Nam); Doris Roberson của NLG; Carlton Goodlettt thuộc National Mobe; George Carranog, Donald McDonough của American Deserters Committee và John McAuliff của Committee of Returned [Peace Corps]. 2842

Sau vụ Stockholm, Joseph Crown (và các tên khác) đã sẽ tích cực đi tham gia các hội nghị hòa bình Cộng sản khác ở Grenoble và Toronto và cũng đi Hà Nội vào năm 1972. 2843

Hội nghị Stockholm đã tuyên bố là mình “đoàn kết với nhân dân Đông Dương” và “các đại diện hợp pháp của họ: Chính phủ của nước Cộng hòa Dân chủ Việt Nam, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Mặt trận Lào yêu nước và Chính phủ Hoàng gia Campuchia Thống nhất Quốc gia.” Bọn chủ hòa Mỹ của WPC đã không hề tìm kiếm hòa bình mà đòi phải là một chiến thắng của cộng sản, như Hồ Chí Minh từng chủ trương, cho toàn thể Đông Dương.

Mục đích chiến thuật của Hội nghị Thống nhất Stockholm chính  là phối hợp:

… Tìm cách thức và phương tiện hành động … hầu sẽ áp dụng trên toàn thế giới.

Phối hợp và hổ trợ mọi hành động … (trên toàn cầu) hầu có một cơ hội lớn hơn để mang lại kết quả thay vì là những hành động đơn lẻ, những phương pháp khác biệt và những ngày tháng khác nhau …

Một lời kêu gọi phải hành động đã được thông qua để giúp MTGPQG và phong trào phản chiến:

[Việc] Hoa Kỳ rút quân vô điều kiện và chương trình 10 điểm của MTGPQG cần được phổ biến khắp nơi càng nhiều càng tốt ….

Tăng cường hổ trợ quốc tế cho việc chông đối ở Mỹ và cho hành động từ chối đi quân dịch của các người Mỹ ở ngoại quốc, hay đào ngũ khỏi các đơn vị quân sự Hoa Kỳ, thực hiện công tác tuyên truyền trong quân đội và cho các hành động cụ thể chống lại Chế độ Tuyển quân có Chọn lọc. “ 2844

Chiếu theo đúng nghĩa của danh từ mà Bettina Aptheker đã dùng – kỷ luật – thì đã có một đường lối chung của đảng về vấn đề rút quân, về các hoạt động cần làm trong số quân nhân Mỹ và về việc hiệp nhất về lịch trình của các cuộc biểu tình sắp tới trên toàn thế giới. Ngoại trừ một vấn đề – Liên Xô và Khối Đông Âu đã bác bỏ một nghị quyết nhằm hủy bỏ nghĩa vụ quân dịch khắp thế giới – trong khối  cộng sản luôn.

Thông Tư số 4, Chỉ Thị số 96 – Đoàn Kết và Phối Hợp

Thông Tư số 4 của Văn phòng Trung ương Cục Miền Nam  vào ngày 28 tháng 5 năm 1969 đã minh bạch kêu gọi thành lập một “Mặt trận Hành động Thống nhất”.  Chỉ thị số 96 thì lại đã mô tả phong trào phản chiến như là một phần nằm trong chính sách ngoại giao của Việt cộng: “cùng phối hợp với các cuộc tấn công về ngoại giao của chúng ta, chúng ta phải thúc đẩy phong trào đấu tranh của người dân ở Mỹ và trên khắp thế giới và khuyến khích họ tăng cường áp lực của họ đối với Nixon … ”

Chỉ Thị số 96 lặp lại: “Chúng ta cũng phải phát triển Mặt trận Hành động Thống Nhất …. Chúng ta phải tận dụng mọi hình thức tuyên truyền như truyền đơn, thư từ, báo chí công khai … để phát động dư luận”. Chỉ thị này đã mô tả một phong trào chủ hòa với toàn những điều kiện không có tính cách gì là hòa bình – một chiến thắng quân sự của Việt cộng. “Chúng ta phải … hỗ trợ các hành động chống chiến tranh, các cuộc nổi loạn quân sự và việc đào ngũ …”  2845

Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời đã thông báo

Thời gian ngày 6 tới ngày 8 tháng 6, cái gọi là Quốc hội của Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã công bố thành lập Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời tại miền Nam Việt Nam.

Ngày 12 tháng 6 năm 1969, Đài phát thanh Hà Nội công bố Bắc Việt hổ trợ đề nghị hòa bình 10 của con đẻ của mình là Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời. Hà Nội lên án việc Nixon rút 25.000 quân và mong  đợi ​​sự hỗ trợ của phong trào phản chiến Mỹ: “Chính phủ Bắc Việt vững tin là  … các thành phần tiến bộ của Mỹ sẽ chân thành hỗ trợ nhiều hơn cuộc chiến đấu dũng cảm của nhân dân Việt Nam cho đến khi đạt được chiến thắng cuối cùng.” 2846

Ngày 16 tháng 6, kế hoạch tuyên truyền gởi đến bọn cán bộ VC trong CPCMLT  tuyên bố là những chiến thắng lớn đã chứng minh được là cách mạng đang “mạnh mẽ hơn và ổn định hơn trước.” Kế hoạch tuyên truyền kêu gọi phải sử dụng loa phát thanh, truyền đơn, biểu ngữ, áp phích và các khẩu hiệu để chào đón cùng đẩy mạnh nhiệt tình dành cho CPCMLT. 2847

American Friends Service Committee ~ AFSC Lạy Lục Xin Đi Hà-nội

Tại Stockholm,  Bronson Clark của American Friends Service Committee ~ AFSC (Hội đồng Dịch Vụ của Các Người Bạn Mỹ) đã thu xếp các cuộc họp giữa Joseph Elder, một thành viên của hội đồng quản trị AFSC với Xuân Oánh mà lúc đó đang được bổ nhiệm đến Ba-lê. Bob Eaton đã phổ biến các tài liệu hình ảnh của chuyến đi của thuyền Phoenix tới Hải Phòng. Clark bèn đề nghị tặng $ 25.000 giúp đở về y khoa và rồi quỳ kính xuống –  để biểu lộ việc sẵn sàng học hỏi từ các chuyên gia y tế Việt cộng thay vì đề nghị cung cấp các dịch vụ y khoa Mỹ.

Sau một cuộc họp tại Phnom Penh, 2848 Joseph Elder cuối cùng rồi cũng sẽ nhận được phép đi Hà Nội trong vòng một tuần từ 10 đến 17 tháng 6 năm 1969. Ngày 10 tháng 6, Elder đã gặp A. M. Hướng Bắc (?) để xin tin tức về tù binh Mỹ – liệu y có thể đến thăm họ không, hay có được một danh sách tù binh hay có thể chuyển giao thư từ dùm không. Bắc trả lời là y không có thể gặp họ, các tù binh đang ở một nơi khá xa nhưng y hy vọng có thể có được một danh sách tù binh vào chuyến trở lại lần tới của Elder.

Bob Elder đi vòng thăm các trung tâm chăm sóc sức khỏe và đã thấy được là “các cuộc không tạc rỏ ràng nhắm vào hạ tầng cơ sở y tế.” Bọn Việt cộng cần trụ  sinh và các thuốc chống sốt  rét.  Bác sỹ Tôn Thất Tùng, giám đốc của bệnh viện Việt Đức, cần thiết bị để có thể giải phẫu tim theo phương pháp ‘open-heart ~ tim mở’. Elder đã về lại với cả một danh sách toàn là trang bị y khoa thiết yếu cho phương pháp phẫu thuật tim mở. 2849

Chính quyền Nixon đã phê duyệt  cho phép yêu cầu này. Trong tháng 10, mọi thứ đã được  giao và vẫn tiếp tục được cung cấp như vậy về sau đó. 2850 Đã không có báo cáo nào là phẫu thuật tim mở đã từng được thực hiện cho bất kỳ tù binh Mỹ nào, nhưng viên bác sỹ tử tế và hiền lành tên Tùng thì đã từng chích những liều thuốc chết người cho các  nhà bất đồng chính kiến​​. 2851

Thông qua Chiến lược Mặt Trận Thống Nhất  –  Moscow

Trong tháng 5 và tháng 6 năm 1969, Liên Xô đã ra nhiều chỉ thị cho bọn trong phong trào phản chiến.

Từ ngày 5 đến ngày 17 tháng 6 năm 1969, đại diện của khoảng 70 đảng cộng sản đã cùng nhau tề tựu tại Moscow. Irving Sarnoff, tay đảng viên đảng CS Mỹ ~ CPUSA và một tên lãnh tụ của cả National Mobe (sau đó là New Mobe) và cả luôn Peace Action Council of Los Angeles, Barbara Bick của  New Mobe, một tên Robert Kennedy mà đã được liệt kê như chỉ là Giám đốc Lập pháp (?) của CPUSA , Arnold Samuel Johnson và Charles Fitzpatrick, đảng viên CPUSA mà cũng là điềm chỉ viên của FBI đã đến Moscow để thảo luận về chi tiết của các bản tuyên truyền nhằm chuẩn bị cho một Hội đồng Hòa bình Thế giới sắp tới ở Đông Bá-linh vào ngày 21 tới ngày 24 tháng 6 năm 1969. 2852

Tại Moscow, Brezhnev đã bày tỏ một cái nhìn mới về ảnh hưởng của các sinh viên và các phong trào của người da đen trong việc phản đối chiến tranh Việt Nam, việc quân dịch và luôn cả vấn đề phân biệt chủng tộc. Y ta đã nói rằng họ “sẽ làm những điều tuyệt vời” một khi họ thấm nhuần được chủ nghĩa Mác-Lênin. 2853

Chuyến Đi của Irving Sarnoff

Sarnoff đã rời Hội nghị Montreal trên một máy bay của Liên Xô do Martin Hall thu xếp và trong tháng 11 đã bay đi Sudan với một vé do một mặt trận của Liên Xô trả tiền là bọn WPC. 2854  Martin Hall đã viện dẫn Tu Chính Án thứ 5 trước ủy ban House Committee on Un-American Activities ~ HCUA, nhưng đã bị nhận dạng như là một đảng viên của Đảng Cộng sản Đức ở các phiên điều trần tại California vào năm 1970. 2855

Sau khi được thuyết trình trong lần tới Moscow vào tháng 5, Irving Sarnoff, mà sau đó đã đại diện và phát ngôn cho New Mobe theo kiểu cứ đúng y bon với  chính sách của Việt cộng – lấy cảm hứng từ việc thống nhất mặt trận của Việt cộng và Liên Xô – nên vào cuối tháng sáu (ngày 21 tới  24), đã tuyên bố tại Đông Bá-linh:

Nhiệm vụ của chúng tôi là mở rộng cơ sở … bao gồm luôn các nhóm đang quanh quẩn chưa quyết định về các đề tài cụ thể – lương phạn, phúc lợi, giá cả, thuế má, phân biệt chủng tộc, đàn áp, nhà ở – và giúp cho họ hiểu rằng khi nào mà   chiến tranh ở Việt Nam vẫn chưa kết thúc và ưu tiên quốc gia được sắp xếp lại thì sẽ không thể có được điều gì cải thiện.

Trong khi mà phong trào phản chiến đang chuẩn bị đẩy mạnh hoạt động thì Tổng thống cũng như vậy.

Nixon, Thiệu Nói để mà Nói: Chiến Dịch Duck Hook ~ Móc Vịt, một Ý Định Dã Man – Tháng 6 năm 1969

Nixon đã cẩn thận tránh xa các cuộc biểu tình phản chiến ​​ở Washington và tại buổi lể tốt nghiệp của cô con gái ở tiểu bang Ohio. 2856 Nixon đã thu xếp họp với Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ở đảo Midway vào ngày ​​8 tháng 6 năm 1969.

Tại đó, Nixon cho biết ông rất lo là hoạt động phản chiến có khã năng ảnh hưởng đến công luận và Quốc hội. Nixon đã muốn Thiệu giúp đỡ bằng cách tuyên bố ủng hộ kế hoạch “thuần túy tượng trưng” của Nixon để từng bước giảm các lực lượng Hoa Kỳ ở Nam Việt. Để đổi lại, Nixon trấn an Thiệu là Mỹ sẽ tiếp tục giúp đở và nếu Bắc Việt không chịu hòa đàm phán thì chúng sẽ phải đối mặt với một cuộc tấn công quân sự quy ​​mô lớn bao gồm cả việc bỏ thủy lôi phong tỏa các hải cảng Bắc Việt  và Campuchia cùng với một cuộc hành quân trên bộ vượt qua khu phi quân sự.

Sau này thì Thiệu “sẽ không bao giờ có thể tưởng tượng được là Hoa Kỳ rồi sẽ rút bỏ hoàn toàn và bỏ rơi miền Nam Việt Nam.” 2857

Chiến Dịch Duck Hook  ~ Móc Vịt: “Chúng ta sẽ dứt khoát không than thở lúc ra đi”

Mọi sự kiện đều đáng được lưu ý, kể cả những việc mà đã không bao giờ thực sự xẩy ra – như việc phong tỏa hải cảng của Campuchia và các vụ tính dội bom đê điều sông Hồng. Kế hoạch này có tên là Duck Hook ~ Móc Vịt. Đô đốc Moorer đã hoàn thành kế hoạch vào ngày 20 tháng 7 dù không có sự cho phép của Bộ trưởng Quốc phòng Melvin Laird. Laird đã không muốn cho Việt cộng biết là Mỹ thực sự muốn chiến thắng. Trong tháng 6, H.R. Haldeman đã gọi cuộc chiến này là vô đạo đức chính vì “chúng ta không sẵn sàng sử dụng tài nguyên của mình để giành chiến thắng”. Nixon đã trả lời, có phần nào: “Ừ đúng rồi. … Chúng ta sẽ đánh nát đê điều… các nhà máy điện … Hải Phòng. … Chúng ta sẽ dứt khoát không than thở lúc ra đi… ” 2858

Một diển văn đã được soạn thảo cho tổng thống và ngày tháng định trước cho Duck Hook là 1 tháng 11 năm 1969. 2859 Hà Nội và bọn đồng minh người Mỹ thì lại đã có những ý định và thời khóa biểu riêng của chúng để làm sao mà chiến thắng được.

Đại Hội Đồng World Peace Assembly Đông Bá Linh – 21 tới 23 Tháng 6 Năm 1969 ~ “Mưu tìm một lộ trình để phối hợp hành động . . . cho toàn thể”

Một tháng sau Hội nghị Stockholm về Việt Nam mà đã xẩy ra từ ngày 16 đến ngày 18 tháng 5 và đã do Liên Xô tài trợ, tại Đại hội đồng Hòa bình Thế giới ở Đông Bá Linh trong ngày 21 đến ngày 23 tháng 6 năm 1969, các thành viên của Mặt trận Liên Xô, Hội đồng Hòa bình thế giới (World Peace Council ~ WPC) đã mời 900 “ủng hộ viên cho hòa bình” mà trong đó có 18 tên Mỹ 2860 – Dick Gregory, Stanley Faulkner (NLG); Valeri Mitchell (Peace Action, Los Angeles); Sonia Karose (American-Russian Institute); Estelle Cypher (WSP); Susan Borenstein 2861 (DuBois và Venceremos); Karen B. Ackerman 2862 (DuBois và Venceremos 2863) Herbert Aptheker (CPUSA); Barbara Bick (CPUSA); Mary Clarke (WSP); Martin Hall (CPUSA) 2864 , Jarvis Tyner (CPUSA / YWLL), Irving Sarnoff (National Mobe, CPUSA) 2865 ,Mary Angie Dickerson, (CPUSA) 2866 ; Eleanor Ohman (Peace Action, San Francisco); Pauline Rosen (WSP, CPUSA); và Carlton Goodlett (CPUSA và National Mobe).

WPC đã cung cấp 20 vé máy bay hãng Aeroflot  từ New York đến Đông Bá Linh cho Angie Dickerson, 3 vé cho Carlton Goodlett, một cho Herbert Aptheker và hai vé bay hãng KLM-LOT cho tay diễn viên hài Dick Gregory tới tham dự. 2867

Việc các lực lượng hòa bình tụ hợp lại ở Đông Bá Linh mà Liên Xô đang thống trị đã khuyến khích bọn Việt cộng chiến đấu để giải phóng dân tộc của riêng mình nhưng lại mang danh là giải phóng cùng khắp mọi nơi.

Việc khuyến khích như vậy sẽ đã được thực hiện bằng chính sách phối hợp – National Mobe / New Mobe và bọn Việt cộng đã chuẩn bị cho các hoạt động phản chiến vào mùa thu năm 1969. Ở Đông Bá Linh, National Mobe / New Mobe và Hội đồng Hòa bình thế giới đã cùng nhận được lời chúc mừng của lãnh đạo Liên Xô là Brezhnev và Kosygin.

Kosygin đã nhấn mạnh, “Các hành động tập thể của những người ủng hộ hòa bình và … nhiều phong trào phản chiến đã đạt được … những kết quả trong cuộc đấu tranh để ngăn chặn các kế hoạch xâm lấn của các đám đế quốc.” 2868  Đại biểu của Liên Xô, E.K. Federov đã thúc giục, “cần tìm một lộ trình để phối hợp hành động . . . cho toàn thể”. 2869

Tuyên bố của phái đoàn Mỹ thì cho biết, “Các lực lượng cho hòa bình phải được huy động … để chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam.” Tuyên bố đã khen ngợi, “Lòng dũng cảm của của các bạn bè [Bắc] Việt của chúng tôi (mà) … đang đãm trách nơi tiền tuyến để bảo vệ .. . lý tưởng tự do của con người”. 2870 Chúng cũng yêu cầu” rút quân vô điều kiện và hoàn toàn “. 2871

Irving Sarnoff, dẫn đầu nhóm New Mobe, đã đọc một bài phát biểu dài: lên án xã hội Mỹ về nạn phân biệt chủng tộc, nghèo đói, cố sát, tự tử, ô nhiễm, nghiện ngập, rượu chè, lạm dụng trẻ em; ca ngợi bọn Black Panthers, các quân nhân GI  và giáo hội đang đấu tranh để thay đổi cái chế độ đề cao lợi lộc và sự giàu có về vật chất; và tuyên bố rằng Việt Nam là vấn đề chính yếu, “Nhiệm vụ của chúng ta là . . . bành trướng và thống nhất hoá phong trào phản chiến” (để) … bao gồm luôn nhiều nhóm …; công bố các sinh hoạt mùa hè tại Toà Bạch Ốc phía Tây và vào ngày 4 tháng 7”; và đã kết thúc với, “Chúng ta đang chiến đấu chống một kẻ thù chung. Toàn dân hãy chiếm lấy chính quyền. ” 2872

Theo tờ New York Times, đám Mỹ như đại diện của SDS là Lew Cole, đôi khi còn được gọi là “những bộ não phía sau Mark Rudd,” 2873 đã biểu lộ tình đoàn kết với các nhóm sinh viên khác mà đã tới họp . 2874 Lew Cole đã được bảo trợ bởi BBC trước đó để gặp gở những tên tả phái  Âu châu khác như Daniel Cohn-Bendit (Pháp và Đức) và Tariq Ali (Anh) ở Anh vào ngày 13 tháng 6 năm 1968. 2875

Tại Stockholm vào tháng 7 năm 1969,  đại diện của Mobe là Irving Sarnoff đã  gặp riêng tên Nguyễn Minh Vỹ của Bắc Việt và Việt Cộng Nguyễn Thị Bình mà chắc là để tiếp tục lập kế hoạch cho các cuộc biểu tình phản chiến vào mùa thu.

Sau những lời tuyên bố của Irving Sarnoff và E.K. Federov ở Đông Bá Linh, nhiều lãnh tụ phản chiến đã đồng ý rằng phong trào hòa bình cần được hồi sinh và thống nhất bằng một chiến lược của chỉ một mặt trận thống nhất  thôi.

Hoạt Động Chủ Hòa tại Cleveland,  5 tới 9 tháng 7 năm 1969

Kế hoạch đã là chuyển từ Stockholm và Đông Bá Linh về Cleveland, Ohio nơi mà sau khi đổi tên từ National Mobe, New Mobe đã đang chuẩn bị cho các kế hoạch vào mùa thu 1969 nhằm chứng minh là công luận Mỹ đã không hỗ trợ Nixon mà cũng đồng thời để hỗ trợ bọn đàm phán cộng sản ở Ba-lê. 2876 Thượng nghị sĩ Paul J. Fannin (Cộnh hòa – Arizona) đã cho biết khoảng 900 “tên Cộng sản và những tên từng nổi tiếng có cảm tình với Cộng sản” đã gặp nhau. 2877

Trong tháng 5, Jerry Gordon của Cleveland Area Peace Action Council  đã nới  rộng lời mời cho một cuộc tập hợp rộng lớn của tất cả bọn từng nổi danh thuộc phong trào hòa bình trên toàn quốc, sẽ được tổ chức tại đại học Case Western Reserve University ở Cleveland vào thứ Sáu 4 và thứ Bảy 5 tháng 7 năm 1969 mà đã có được khoảng 600 kẻ tham dự.

Những tên khởi đầu bảo trợ cho cuộc họp Cleveland đã là Norma Becker, Barbara Bick, Thompson Bradley, Charles Cairnes, Stephanie Coontz, Rennie Davis, David Dellinger, Douglas Dowd, Al Evanoff, Richard Fernandez, Jerry Gordon, Robert Greenblatt, Fred Halstead, Arnold Johnson, DonaldKalish, Arthur Kinoy, Sidney Lens, Carol Lipman, John McAuliff, Stewart Meacham, Dean Pappas, Sidney Peck, Max Primack, Andrew rọc và Rt. Rev. Monsgr. Charles Rice, Carl Rogers, Irving Sarnoff, Ken Shilman, Tiến sĩ Benjamin Spock, Cora Weiss, Dagmar Wilson và Giáo sư Howard Zinn. 2878

Những tên khác đã được mời là Giáo sư Rev Henry Bass, Francis Boardman, Eleanor Bockman, Julian Bulley, Barbara Chis, Giáo sư Noam Chomsky, Nancy Collison (AFSC), William Davidon, Steven Deutch, Donald Duncan, Robert Eaton, Michael Galizan, Jerry Grossman, James Hansen, Giáo sư David Herreshoff, Russell Johnson, Giáo sư Arnold Kaufman, Edward Keating, Evelyn Knapp, Eric Mann, Naomi Marcus, Sharon Naimon, Oleg Penn, Britt hay Nan Prendergast, Tiến sĩ Robert Rutman, Robert Scheer, Michael Smith, Morris Starsky, Ethyl Taylor, Giáo sư Arthur Tuden, Mục sư Richard Venus, Mary Walter, Robert Zelner. 2879  Các cá nhân thì như Mục sư Ralph Abernathy, Giáo sư James Beck, Fr. Phillip Berrigan, Giáo sư Robert S. Browne, Giáo sư McAfee Browne, Al Bilik, Julian Bond, Paul Booth, Ceaser [sic] Chavez, Wm. Sloan Coffin, Ruth Gage-Colby, Barbara Deming, Ralph Featherstone, Abe Feinglass, Leo Fenster, WH Ferry, James Forman, Harold Gibbons, Allen Ginsburg, Corky Gonzales, Patrick Gorman, Charles Hayes, Clark Lowenstein, Bradford Lyttle, Otto Nathan, Linh mục Richard Neuhaus, John Oster, Mark Raskin, Cleveland Robinson, Frank Rosenblum, Mulford Q. Sibley , Amy Swedlow và Jack Spiegel. 2880

Max Friedman có làm chứng là Abe Bloom, Jane Silverman, Charlie Kimball, William Caraway, Anne Utterman, Jim Dill và bà Gurewitz đã có đến từ Washington.  2881

Chuẩn Bị cho một Chiến Thắng của Việt cộng: Cleveland – Hoạt Động vào Thu của bọn New Mobe

Với một danh sách dài gần như là từ A đến F được thành lập trong đại hội vào tháng 5 năm 1969 ở Stockholm với World Peace Council (Hội đồng Hòa bình Thế giới) và nhân cuộc họp ở Đông Bá Linh, vào ngày 4 và 5 tháng 7, tại Cleveland, Sidney Peck đã chủ tọa 2882 Hội nghị Hòa bình Cleveland mà cũng được biết đến như là National Anti-War Conference (Hội nghị Phản chiến Quốc gia), 2883 mà nhân đó bọn lãnh tụ của National Mobe đã thành lập New Mobilization to End the War in Vietnam (Cuộc Vận động Mới để Chấm dứt Chiến tranh ở Việt Nam).

Irving Sarnoff, Stewart Meacham, David Hawk và Mark Rudd thay phiên nhau thuyết trình về các kế hoạch biểu tình dự trù vào tháng 8 tới ở California, vào  ngày lể Lao động ở Washington, các vụ “đình chỉ ~ moratoriums” tại những  trường học và cơ sở kinh doanh vào tháng 10 song song với các cuộc biểu tình  của SDS ở Chicago vào tháng 9. Tại một hội thảo về những gì sẽ cần phải thực hiện tại Washington, các chủ đề liên quan đến việc phản đối được thông qua đã là: Mỹ ngưng ủng  hộ chính phủ Thiệu, rút quân Mỹ, các quyền của người quân nhân GI Mỹ và hỗ trợ cho Việt Cộng. 2884

Trong số từ 600 đến 900 kẻ tham dự thì Max Friedman và một quan sát viên khác không được nêu tên đã cùng ghi xuống danh sách của những người tham dự. Hai danh sách này được kết hợp lại và xếp theo mẫu tự như sau đây: 2885

Joe Aber, Larry Austin, Bill Ayers, Norman Becker, Kathy Beird, Barbara Bick, Dave Bliss, Abe Bloom, Syn Bockman, Kathy Boudin, Al Brick, David Brown, Brenda Brdr, David Brown, John Browne, Gloria Browning, Al Budka, Andy Bustin, Debbie Bustin, Peter Camejo, Bill Caraway, Margie Culver, Tony Cummins, Betsy Davis, Rennie Davis, Dave Dellinger, Ted Dostal, Douglas Dowd, Dave Edwards, Pam Edwards, Howie Emmers, Jim Estes, Al Evanoff, Linda Evans, Abe Feinglass, Leo Fenster, Richard Fernandez, Clive Fetzer, Richard Finkel, Ishmael Flory, Irv Fox, Phil Friedman, Bob Galayda, Dave Gass, Stephanie Gass, Gene Gladstone, Gene Glasgo, Lynn Glixon, Jerry Gordon, Eric Greenberg, Robert Greenblatt, Don Gurewitz, Helen Gurewitz, Fred Halstead, Bill Harraway, Sue Hathaway, David Hawk, James Harris, Sari Herzig, Bill Hillenbrand, Terry Hillman, Paul Hoffman, Gus Horowitz, Don Ingerson, Ron Jamison, Lew Jones, Arnold Johnson, Donald Kalish, Chuck Kanavan, Charlie Kimball, Herman Kirsch, Max Kirsch, Molly Kirsch, Sandy Knoll, Bob Kos, Sylvia Kushner, Roberta Lee, Kathy Levine, Nick Lindan, Carol Lipman, Sidney Lens, Ilene Lock, Dave Maristock, John McAuliff, Bernie McLaughlin, Stewart Meacham, Bob Meers, Ralph Meister, Al Meyers, Joe Miles, Tom Moore, Norman Oliver, Louise Peck, Sandy Peck, Sidney Peck, Robert Pinkerton, Claudette Piper, Earl Price, Roger Priest, Maxwell Primack, Andrew Pulley, Harry Reems, Dr. Richard Recknagle, Betsy Reeves, Brother Rice, Jacqueline Rice, Harry Ring, Mike Robbins, Terry Robins, Mr/Mrs Stuart Robinson, Carl Rogers, Nancy Rozman, Marty Rudenstein, Roger Rudenstein, Mark Rudd, Arnie Schwartz, Bob Schwartz, Irving Sarnoff, Doug Seaton, Jane Silverman, James Smid, Bobbie Smith, Ed Smith, Mike Smith, James Smith, Jack Spiegel, Syn Stapleton, Martha Stillman, Dan Stryon, Jim Susyanski, Andrew St. Laurent, Peggy Swingle, Tony Thomas, Jeannette Tracy, Carol Travis, Sue Tryon, Anne Utterman, Ron Walden, Ted Walker, Charlotte Weeks, Marty Weinstein, Cora Weiss, Abe Weisburd, Prof. Robert H. Whealey, Paul White, Steve Wilcox, John Wilson, Mike Wolpert, Dan Wood, LeRoy Wolins, Dave Wulp, Ted Yanow, Ron Young, Elvie Zell và Paul Zinsel.

New Mobe thay thế  National Mobe – Cộng Sản Phụ Trách Ký Chi Phiếu

Peace Action Council của Irving Sarnoff  đã cung cấp văn phòng cho New Mobe ở Los Angeles và cho vay $ 1.000. 2886 Bọn đảng viên đảng CS Mỹ hay là bọn cộng sự của chúng là Abe Bloom (CS), Sid Peck (CS) và Brad Lyttle (WRL và cũng là một ủng hộ viên Mác-xít cho các mặt trận CS) đều đã được ủy quyền ký các chi phiếu cho cả New Mobe và luôn cho Peoples Coalition for Peace and Justice ~ PCPJ. 2887

Từ tháng 7 năm 1969 đến cuối tháng 2 năm 1970, Abe Bloom, đảng CS Mỹ, đã ký nhiều hợp đồng thuê văn phòng dùm cho New Mobilization Committee to End the War in Vietnam tại số 1029 Vermont Ave NW. 2888

Tổ chức New Mobe

Các đồng chủ tịch của New Mobe đã là David Dellinger, Douglas Dowd, Terrance Hallinan, Donald Kalish, Sidney Lens, Stewart Meacham, Sidney Peck và Cora Weiss. 2889 Phụ trách lãnh đạo cuộc biểu tình dự trù theo kế hoạch vào ngày15 tháng 11 đã là Abe Bloom, Sidney Peck, Stewart Meacham, Bunny Knopp và Ron Young. Lo thuê nhân viên cho Washington Action Committee đã là Steve Wilcox, Don Gurewitz và Trudy Young. 2890  Ban chỉ đạo New Mobe thì là Arnold Johnson, đảng CS Mỹ và các thành viên của SWP / YSA là Fred Halstead, Gus Horowitz, Carol Lipman và Larry Siegel. 2891

Những thành viên khác của New Mobe đã là Norman Becker, Irving Beinin, Barbara Bick, Abe Bloom, Irwin Bock, Allan Brick, Balfour Brickner, Katherine Camp, Marjorie Colvin, Bill Davidon, Tom Cornell, Rennie Davis, Gerhard Elston, Al Evanoff, Myrtle Feigenburg, Richard Fernandez, Gene Gladstone, Jerry Gordon, Bob Green, Robert Greenblatt, Robert Haskell, Dave Hawk, Dave Herrseshoff, Betty Johns, James A. Johnson, Gloria Karp, Sylvia Kushner, Brad Lyttle, John McAuliff, Joe Miles, Joseph Miller, Allan Myers, Otto Nathan, Ann Peery, Max Primack, Carl Rogers, Irving Sarnoff, Lawrence Scott, Arthur Waskow, John Wilson, Peter Yarrow and Ron Young.  2892

Các đại biểu của SDS thì đã có Bill Ayers, Linda Evans, Terry Robbins và Mark Rudd. 2893 SDS đã đồng ý để dời các cuộc biểu tình ở Chicago từ tháng 9 trể tới tháng 10. 2894

Ngày 15 tháng 9 năm 1969, John McAuliff của  Committee of Returned Volunteers CRV (Ủy ban của những Người Trở VềTình nguyện ), thành viên của New Mobe sẽ tuyên bố: “Chúng tôi ủng hộ cuộc đấu tranh anh hùng của nhân dân Việt Nam nhằm giải phóng hoàn toàn đất nước họ … Chính phủ Cách mạng Lâm Thời … với tư cách là một chính phủ hợp pháp của miền Nam Việt Nam … . Chỉ có … chiến thắng [mới] là thật sự giải phóng dân tộc. ” 2895

Max Friedman, một tình nguyện viên bí mật của Ủy ban vận động Washington , đã sẽ nói với một ủy ban Thượng viện vào giữa tháng 10  “là Cộng Sản đã hoàn toàn và tuyệt đối chỉ huy các phong trào hòa bình ở Hoa Kỳ.” Phillip Friedman thì giải thích rằng vai trò của bảy tên cộng sản và những tên khác thì có tính cách bí mật, nhưng lại đã trùng hợp với các lợi ích của cộng sản. 2896

New Mobe nay bao gồm bọn cánh tả cũ, bọn Cộng sản của mọi khuynh hướng, 2897 bọn bạn bè tả phái mới cùng các phụ tá như là Rennie Davis, Dave Dellinger, Cora Weiss, v. v. . .

New Mobe đã chú tâm vào hai sự kiện quan trọng – một “lệnh đình chỉ ~ moratorium”  toàn quốc vào ngày 15 tháng 10 năm 1969 và một cuộc tuần hành do New Mobilization huy động với  tên đặt là “March on Washington” vào ngày 15 tháng 11 năm 1969.

Mặc dù sau đó thì biến cố 15 tháng 11 đã sẽ được tuyên bố như là sáng kiến của Stuart Meacham thuộc  AFSC,  cả hai sự kiện đã ​​sẽ phản ảnh rỏ ràng sự phối hợp của “những hành động đại chúng ủng hộ hòa bình” công khai mà Liên Xô đã cố vấn trước ở Moscow, Stockholm và ở Đông Berlin vào tháng 5 và tháng 6.

Một truyền đơn của Student Mobilization đã xác nhận việc cố vấn của Liên Xô khi nói là, “Hội nghị Quốc gia Phản Chiến vào ngày 4 và 5 đã giúp đạt được một sự thống nhất rất quan trọng trong phong trào phản chiến … (Một cuộc diễn hành của quần chúng) … có thể sẽ dính líu đến các thành phần dân chúng mà trước đây đã chưa hề được tổ chức trước”.  2898  Fred Halstead, Sidney Lens và Sidney Peck 2899  đã ráng giữ cho hội nghị Cleveland không bị chia rẻ trong tinh thần của đề xuất ban đầu nhân cuộc họp Cleveland:

Phong trào phản chiến có mọi khả năng để tự chuyển mình từ một phong trào của các người bất đồng chính kiến ​​thành một sức mạnh xã hội quần chúng …

Chúng ta phải lập kế hoạch … hành động sao cho nhân dân có thể hiểu được trong khã năng hiểu biết về chính trị hiện tại của họ … Hành động kiểu này là phương cách giúp mọi công dân nào mà chống đối cuộc chiến tranh buộc được công luận  phải hiểu mình. 2900

Ngoài việc đãm trách vai trò chính về tổ chức, đám cộng sản quốc nội cũng lan tràn trong các văn phòng. Từ tháng 8 qua tới tháng chạp năm 1969, Carol Lipman, một y thị Trotskyite của SWP, đã nhập bọn với New Mobe để ký các hợp đồng thuê văn phòng tại 1029 Vermont Ave NW cho bọn Student Mobilization Committee to End the War in Vietnam. 2901

Sidney Peck, cựu đảng viên đảng CS Mỹ và cũng là đồng chủ tịch của New Mobe đã nói: “Chúng tôi muốn Mỹ phải rút quân một cách toàn diện và toàn bộ khỏi Việt Nam. Nếu quả thật việc này cũng sẽ đưa đến một chiến thắng cho Mặt trận Giải phóng Quốc gia thì chúng tôi sẽ vui mừng biết là bao ….”  Tên giáo sư Doug Dowd thì lại tuyên bố,” Nếu cần phải chọn bên … chúng tôi sẽ ở phía bên kia. ” 2902  Chắc chắn, tình trạng thống nhất mới vừa xẩy ra đã có lợi hơn để “làm suy yếu quyết chí của Mỹ trong việc chống Cộng Sản xâm lăng tại Nam Việt”, Friedman đã xác nhận như vậy. 2903

Có phải chăng New Mobe chỉ đang thi hành những điều đã được cố vấn ở Stockholm và Đông Bá Linh, những việc cũng giống như là các chỉ  thị trong các tài liệu bị tịch thu của Việt Cộng là Thông tư số 4 và Chỉ thị số 96? Có vẻ là vậy.

Một ủy ban Hạ viện đã phát hiện ra là các thành viên New Mobe đã từng tham gia vào Hội đồng Hòa bình thế giới do Liên Xô kiểm soát và tài trợ, cũng như là Hội nghị Stockholm về Việt Nam và World Peace Assembly. Max Friedman đã thâm nhập được vào Mobe Washington và đã tham dự cuộc họp tại Cleveland thì có nói với một tiểu ban Thượng viện về an ninh quốc nội, “Toàn thể phong trào hòa bình ở Hoa Kỳ đã trở thành một tổ chức của Cộng sản.”  2904

New Mobe đã chế nhạo những tuyên bố như vậy, “Chúng tôi gặp nhau, lên kế hoạch cùng nhau, làm việc cùng nhau. Chúng tôi đã đi qua rất nhiều tiểu bang và chúng tôi cũng đã nói chuyện với nhiều người. … Chúng tôi đã có âm mưu – nói đúng ra là gần như chung sống cùng nhau – đề cùng tham gia vào các cuộc biểu tình ôn hòa chống lại sự xâm lược của Mỹ tại Việt Nam . . .  Nếu gọi vậy là mưu đồ, ta hãy cho Bộ Tư pháp tận dụng tối đa chi tiết này. ” 2905

Có lẽ đã chấp nhận thách thức công khai của các tổ chức nhằm chuẩn bị cho vụ “March on Washington –  Tuần Hành Tiến về Hoa Thịnh Đốn”, chính phủ đã đặt máy nghe lén một số thành viên của phong trào hòa bình mà đã từng cổ vũ cho một chiến thắng quân sự của Hà Nội. 2906

Khẩu hiệu hàng đầu của Student Mobilization dành cho  November Student Strike và March on Washington đã là, “MANG TẤT CẢ CÁC QUÂN NHÂN VỀ NHÀ NGAY BÂY GIỜ! 2907 Sidney Peck và Steve Wilcox đã bay đến San Francisco để bổ nhiệm cán bộ cho các cuộc biểu tình San Francisco vào ngày 15 tháng 11: Ủy viên Hội đồng Thành phố Berkeley và dân biểu tương lai  Ronald Dellums,  thành viên DuBois Terence Hallinan, thành viên SWP Marjorie Colvin, đảng viên đảng CS Mỹ Irving Sarnoff, tay hoạt động chủ hoà Lovett Louise và Mục sư Bryan Drolet. 2908

Ngày 7 tháng 7 năm 1969, tổ chức Canadian Voice for Women – Tiếng nói Gia-nã-đại của Phụ nữ đã mời các phụ nữ Mỹ, thành viên của Women Strike for Peace Cộng – Cora Weiss, Mia Adjali, Carol Andreas, Willis Hardy và Dorothy Hayes để gặp bọn đại diện của Hà Nội và Việt cộng. 2909 Những phụ nữ Gia-nã-đại đã đem đám đàn bà Việt cộng đi vòng vòng diễn thuyết trong tháng 6 và tháng 7 cũng như là sắp xếp các cuộc gặp gở với đám phụ nữ Mỹ tại biên giới. 2910

Trong khi đó, bọn SDS vẫn đang muốn có một chiến thắng của cộng sản ngay bên trong Hoa Kỳ.

*****

2839 FBI Information Digest Special Report on VVAW, 25 tháng 8 năm 1972 tại www.wntersoldier.com/staticpages/index.php?page=InfoDigestGuide; cũng nêu ra trong trang liên mạng của Fedora tại FreeRepublic.comhttp:/http://www.wintersoldier.com/staticpages/index.php?page=InfoDigestonVVAW

2840  Xem: Gannon, Bộ III, trang 571.

2841 Tom Charles Huston, Phúc Trình Đặc biệt dành cho Tổng Thống, TỐI MẬT, CHỈ TỔNG THỐNG ĐỌC THÔI –  Rất nhạy cảm , Foreign Communist Support of the Revolutionary Protest Movement in the United States, Tháng 7 năm 1969, trang 44 giải mật ngày 11/10/2008 theo yêu cầu của Max Friedman.

2842  Kitty Thermer, “Vietnam Reconciled: A small band of teachers studies John McAuliffe’s Vietnam,” World Review Magazine, Bộ 18, Số 3.

2843  Hồ sơ Joseph Crown, Lawyers Committee on American Policy Toward Vietnam, Vietnam Papers 1962-1979, Columbia University, Archival Collections, Rare Book and Manuscript Library.

2844  Hạ viện, Nổi loạn…Tái Động viên. 1970, trang 28 nêu trong tài liệu của Rothrock, trang 110 ghi chú 56.

2845  Thông tư số 4 và Chỉ thị số 96/CTNT, 31 tháng 5 năm 1969, “Development of…diplomatic Struggles in conjunction with military and Political Struggles…” thuộc tài liệu của Phái bộ Mỹ tại Nam Việt, Viet-Nam Documents and Research Notes, tài liệu số 101, Phần IV, Sài-gòn, Tháng giêng 1972, trang 22-27.

2846  Tuyên bố của Cộng Hòa Dân Chủ Việt Nam về việc thành lập Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời, Hanoi Domestic Service in Vietnamese, 1125 GMT, 12 tháng 6 năm  1969 thuộc tài liệu của Phái bộ Mỹ tại Nam Việt, Viet-Nam Documents and Research Notes, tài liệu số 101, Phần IV, , Sài-gòn, Tháng giêng 1972, trang 29-31.

2847 TX.1 5, “Directive about The Propaganda Plan Relating to the Establishment of the PRG of the Republic of South Viet-Nam,”  Bộ Sưu tập Pike thuộc TTU, Virtual Archive, hồ sơ số 2310902003.

2848   Bronson Clark 1967 và Joseph Elder, Thơ gởi Charles Read và Martin Teitel, 20 tháng 5 năm 1969, AFSC, Philadelphia nêu ra bởi Hershberger, trang 134

2849  “Notes of Dr. Elder’s Meeting on November 12, 1969 at Hamline University, 12 tháng 11 năm 1969.”

2850  Joseph Elder, Thơ gởi Charles Read và Martin Teitel, 20 tháng 5 năm 1969, AFSC, Philadelphia nêu ra bởi Hershberger, trang134-137.

2851  James Banerian và Vietnamese Community Action Committee, Losers Are Pirates: A close Look at the PBS Series “Vietnam: A Television History,” Phoenix: Tiếng Mẹ Xuất bản, 1984, trang 22.

2852  Dính líu trong việc náo loạn trong kỳ Đại hội đảng Dân chủ, Phần 1, 1 tháng 10 năm  1968, trang 2369; HISC, Staff Study, Subversive Involvement in the Origin, Leadership and Activities of the New Mobilization Committee to End the War in Vietnam And Its Predecessor Organizations, 1970,  trang 38; Combat, Bộ 1, Số 30, 30 tháng 11 năm 1969; Điều trần trước tiểu ban Thượng viện Senate Internal Security Subcommittee, The Nationwide Drive Against Law Enforcement Intelligence Operations, phần  2, 14 tháng 7 năm 1975, trang 149.

2853  Tom Charles Huston, Phúc Trình Đặc biệt dành cho Tổng Thống, TỐI MẬT, CHỈ TỔNG THỐNG ĐỌC THÔI –  Rất nhạy cảm , Foreign Communist Support of the Revolutionary Protest Movement in the United States, Tháng 7 năm 1969, trang 3,13, 15  giải mật ngày 11/10/2008 theo yêu cầu của Max Friedman.

2854  Thượng viện, Tiểu bang California, Fifteenth Report of the Senate Fact-Finding Subcommittee on Un-American Activities, Sacramento, CA, 1970, trang 30-31; Gannon, Bộ III, trang 571.

2855  Thượng viện, Tiểu bang California, Fifteenth Report of the Senate Fact-Finding Subcommittee on Un-American Activities, Sacramento, CA, 1970, trang 25.

2856  H.R. Haldeman, The Haldeman Diaries: Inside the Nixon White House, New York: Berkley Books, 1994, trang 132.

2857  “Die Amerikaner haben uns verraten,” (bản dịch  CVCE), “The Americans betrayed us: Former South Vietnam President Nguyen Van Thieu on Kissinger’s memoirs and the Vietnam War,” Der Spiegel, Số 50, ;  trang 33. Jg, 10.12.1979, trang 197-213.

2858 Trích lục băng thu âm của Jeffrey Kimball tại trang mạng H-DIPLO nêu ra trong tác phẫm của Larry Berman, No Peace, No Honor, trang 58, 299

2859  Berman phỏng vấn  Nhã; hồ sơ Duck Hook tại Thư viện Ford nêu ra bởi Larry Berman trong tác phẫm  No Peace, No Honor, trang 54-55, 57. 

2860  “Provisional List of Participants,” World Peace Assembly, 21-24 tháng 6 năm 1969, trang 78 nêu ra trong HISC, Staff Study, 1970, trang 30.

2861  Cũng trong Liên đoàn Young Workers Liberation League. Max Friedman nói với tác giả ngày 25 tháng 2 năm 2008.

2862  Các đoàn viên của những Lữ Đoàn Venceremos thời gian KGB Liên xô còn điều khiển mật vụ DGI của Cu-ba và luôn cả các Lữ đoàn, cũng tích cực trong các câu lạc bộ W.E.B. DuBois nhằm tổ chức các công nhân. Trang 8139, Philadelphia, Pa. “The Theory and Practice of Communism in 1972 (Venceremos Brigade) – Phần  2, 16 tháng 10, 18 & 19 năm 1972, ủy ban Hạ viện House Internal Security Committee. Max Friedman nói với tác giả, 25 tháng  2 năm 2008. Ngày nay Ackerman là Chính ủy của AFL-CIO và có bài viết thuận lợi trong báo chí Cộng sản vào năm 1976, 1988 và 2007-8. Việc Ackerman liên hệ trong YWLL đã được tường thuật trong sách của Phillip Abbott Luce, The Pink Sheet on the Left, Số # 139, 13 tháng 9 năm 1976, trang 3. Một thời gian ngắn sau khi được thành lập, YWLL đã được Công đoàn Thanh niên Lao động Hồ Chí Minh mời đi Việt-nam để chứng kiến những khu vực bị không tạc Mỹ tàn phá và để trao đổi kinh nghiệm với thanh niên Việt đang chiến đấu để giải phóng quê hương .” People’s Weekly World Newspaper, 05/25/06.

2863  “How I Cut Cane and Met Fidel,” New York Post, 10 tháng 8 năm 1970.

2864  Ben Gitlow đã nhận dạng được Delfino Varela cũng là Herman Jacobs trước tiểu ban Thượng viện  Senate Fact-Finding Subcommittee về đề tài Un-American Activities—California, 1970, trang  25; Delfino Varela thì lại nhận dạng Hall trước HCUA, Annual Report, 1962, trang 84.  

2865  Mary Stalcup Markward đã nhận dạng được Barbara Bick, lãnh tụ của WSP, như là đảng viên đảng CS Mỹ, DC trong các phiên điều trần vào thập nìên 1950. Sau đó, Bick đã vào làm cho Institute for Policy Studies. Max Friedman nói với tác giả, 25 tháng 2 năm 2008 và 26 tháng 11 năm 2008.

2866   “publicly and congressional id (lý lịch công khai và với Quốc hội); CP-Pennsylvania,  Max Friedman nói với tác giả, 25 tháng 2 năm 2008 và 26 tháng 11 năm  2008.

2867  Tom Charles Huston, Phúc Trình Đặc biệt dành cho Tổng Thống, TỐI MẬT, CHỈ TỔNG THỐNG ĐỌC THÔI –  Rất nhạy cảm , Foreign Communist Support of the Revolutionary Protest Movement in the United States, Tháng 7 năm 1969, trang 48,  giải mật ngày 11/10/2008 theo yêu cầu của Max Friedman.

2868  House, Subversive…New Mobilization … 1970, trang 30-31, viện dẫn bởi Rothrock, trang 111 ghi chú 58.

2869  Hạ viện, Subversive…New Mobilization… 1970, trang 30, viện dẫn bởi Rothrock, trang 111 ghi chú 57.

2870  HISC, Staff Report, 1970, trang 30-31; Hạ viện, Subversive…New Mobilization… 1970,  trang 31, viện dẫn bởi Rothrock, trang 112 ghi chú 59.

2871  HISC, Staff Study, 1970, trang  31.

2872  HISC, Staff Study, 1970, trang 33-4.

2873  Mark Rudd, Underground: My Life With the SDS and the Weathermen, New York: Harper Collins, 2009,  trang 78.

2874  FBI, FOIA Đương nhiệm SAC, Chicago gởi phúc trình cho Giám đốc FBI; Đề tài: Foreign Travel and Contacts with Representatives of Foreign governments which Influenced the WHO, in Weather Underground Summary, 20 tháng 8 năm 1976, trang 264; James Rothrock, Divided We Fall, trang 178-179.

2875  Martin Klimke và Joachim Scharloth,1968 in Europe, New York: Palgrave Macmillan, 2008, trang 1.

2876  Combat, Bộ 1, Số  30,  15 tháng 11 năm 1969

2877  “Behind the Coming ‘March on Washington,” U.S. News & World Report,  3 tháng 11 năm  1969.

2878  Tầm mức nguy hiểm của các cuộc nổi loạn tại các khuôn viên đại học, khai trình của

Max Phillip Friedman trước tiểu ban Subcommittee to Investigate the Administration of the Internal Security Act and other Internal Security Laws of the Committee of the Judiciary, Thượng viện Mỹ, Nhiệm kỳ 91,  Khóa 1, Phần  2, 12 tháng 8 năm 1969, trang 118-9.

2879  Tầm mức nguy hiểm của các cuộc nổi loạn tại các khuôn viên đại học, khai trình của Max Phillip Friedman trước tiểu ban Subcommittee to Investigate the Administration of the Internal Security Act and other Internal Security Laws of the Committee of the Judiciary, Thượng viện Mỹ, Nhiệm kỳ 91,  Khóa 1, Phần  2, 12 tháng 8 năm 1969, trang 117-119.

2880  Tầm mức nguy hiểm của các cuộc nổi loạn tại các khuôn viên đại học, khai trình của Max Phillip Friedman trước tiểu ban Subcommittee to Investigate the Administration of the Internal Security Act and other Internal Security Laws of the Committee of the Judiciary, Thượng viện Mỹ, Nhiệm kỳ 91,  Khóa 1, Phần  2, 12 tháng 8 năm 1969, trang 119.

2881  Tầm mức nguy hiểm của các cuộc nổi loạn tại các khuôn viên đại học, khai trình của Max Phillip Friedman trước tiểu ban Subcommittee to Investigate the Administration of the Internal Security Act and other Internal Security Laws of the Committee of the Judiciary, Thượng viện Mỹ, Nhiệm kỳ 91,  Khóa 1, Phần  2, 12 tháng 8 năm 1969, trang 124-5.

2882  Cleveland Area Peace Action Council, “Call to a National Anti-War Conference, Cleveland, Ohio … 4 & 5 tháng 7 năm 1969; Dữ liệu về tiểu sử của các đồng Chủ tịch của  New Mobilization, trang  4.

2883  Tầm mức nguy hiểm của các cuộc nổi loạn tại các khuôn viên đại học, khai trình của Max Phillip Friedman trước tiểu ban Subcommittee to Investigate the Administration of the Internal Security Act and other Internal Security Laws of the Committee of the Judiciary, Thượng viện Mỹ, Nhiệm kỳ 91,  Khóa 1, Phần  2, 12 tháng 8 năm 1969, trang 90.

2884  Tầm mức nguy hiểm của các cuộc nổi loạn tại các khuôn viên đại học, khai trình của Max Phillip Friedman trước tiểu ban Subcommittee to Investigate the Administration of the Internal Security Act and other Internal Security Laws of the Committee of the Judiciary, Thượng viện Mỹ, Nhiệm kỳ 91,  Khóa 1, Phần  2, 12 tháng 8 năm 1969, trang 121-2.

2885  Tầm mức nguy hiểm của các cuộc nổi loạn tại các khuôn viên đại học, khai trình của Max Phillip Friedman trước tiểu ban Subcommittee to Investigate the Administration of the Internal Security Act and other Internal Security Laws of the Committee of the Judiciary, Thượng viện Mỹ, Nhiệm kỳ 91,  Khóa 1, Phần  2, 12 tháng 8 năm 1969, trang 126-128 (Friedman), trang 153-154 (quan sát viên kia).

2886  Thượng viện, Tiểu bang California, Fifteenth Report of the Senate Fact-Finding Subcommittee on Un-American Activities, Sacramento, CA, 1970, trang 31.

2887  http://www.wintersoldier.com/staticpages/index.php?page=KGBKerry

2888  National Peace Action Coalition, NPAC and People’s Coalition for Peace and Justice, PCPJ, Phần  I, Phiên Điều trần, Ủy ban Committee on Internal Security, Hạ viện, Nhiệm kỳ 92, Khóa 1, 18-21 tháng 5 năm 1971. Washington, D.C.,  trang 1782-84. US Government Printing Office $1.75.

2889  New Mobilization, Thư có tên tựa, “1969: No Christmas As Usual.”

2890  Tầm mức nguy hiểm của các cuộc nổi loạn tại các khuôn viên đại học, khai trình của Max Phillip Friedman trước tiểu ban Subcommittee to Investigate the Administration of the Internal Security Act and other Internal Security Laws of the Committee of the Judiciary, Thượng viện Mỹ, Nhiệm kỳ 91,  Khóa 1, Phần  2, 12 tháng 8 năm 1969, trang  102-103.

2891  “Behind the Coming ‘March on Washington,” U.S. News & World Report,  3 tháng 11 năm 1969.

2892  Thơ gởi chung với ấn bản ngày 21 tháng 8 năm 1969 của Student Mobilizer và số ngày 4-5 tháng 7 của  National Antiwar Conference Steering Committee, cả hai thuộc  Extent of Subversion in Campus Disorders, khai chứng của Max Phillip Friedman, Các phiên điều trần trước tiểu ban Subcommittee to Investigate the Administration of the Internal Security Act and other Internal Security Laws of the Committee of the Judiciary, Thượng viện Mỹ, Nhiệm kỳ 91, Khóa 1, Phần 2, 12 tháng 8 năm 1969, trang 101-2; Thơ có tựa đề New Mobe, Steering Committee (in Formation) tại Combat, Bộ 1, Số 30, 15 tháng 11 năm 1969; Thơ có tựa đề  New Mobilization, “1969: No Christmas As Usual.”

2893  Thượng viện , ủy ban Committee on the Judiciary, tiểu ban Subcommittee to Investigate the Administration of the Internal Security Act and Other Internal Security Laws, The Weather Underground, Committee Print, Tháng giêng 1975,  trang 17.

2894  Tầm mức nguy hiểm của các cuộc nổi loạn tại các khuôn viên đại học, khai trình của Max Phillip Friedman trước tiểu ban Subcommittee to Investigate the Administration of the Internal Security Act and other Internal Security Laws of the Committee of the Judiciary, Thượng viện Mỹ, Nhiệm kỳ 91,  Khóa 1, Phần  2, 12 tháng 8 năm 1969, trang  107.

2895  Thơ gởi của CRV, Tháng 10 1969, trang 1.

2896  “Student in Peace Groups Repeats Red Charges,” Sunday (Washington) Star, 26 tháng 10 năm 1969, một phần báo cắt ra của Max Friedman gởi cho tác giả.

2897  Hạ viện, Subversive Involvement in the Origin, Leadership, and Activities of the New Mobilization Committee to End the War in Vietnam and its Predecessor Organizations, nghiên cứu của văn phòng ủy ban Committee on Internal Security, Nhiệm kỳ 91, Khóa 2, VII, Texas Tech được nêu ra trong Rothrock, trang 108 ghi chú 52; “Student in Peace Groups Repeats Red Charges,” Sunday (Washington) Star, 26 tháng 10 năm 1969, một bài cắt ra từ báo của Max Friedman gởi cho tác giả.

2898  Truyền đơn của Student Mobilization,  “Join the Fall Antiwar Offensive,” mùa Thu 1969.

2899  Cleveland Plain Dealer, 5, tháng 7 năm 1969, trang A-4.

2900  Thượng viện, Extent of Subversion in Campus Disorders: Hearing before the Subcommittee to Investigate Security Act and Other Internal Security Laws, ủy ban Committee on Judiciary, Nhiệm kỳ 91, Khóa 1, 1969, trang 134-6.

2901  National Peace Action Coalition, NPAC and People’s Coalition for Peace and Justice, PCPJ, Phần  I, Điều trần, ủy ban Committee on Internal Security, Hạ viện, Nhiệm kỳ 92, Khóa 1, 18-21 tháng 5 năm 1971. Washington, D.C., trang 1782-84. US Government Printing Office, $1.75.

2902  Hạ viện, Subversive.…New Mobilization, 1970 VII viện dẫn bởi Rothrock, trang 109 ghi chú 54.

2903  Thượng viện, Extent of Subversion in Campus Disorders: Hearing before the Subcommittee to Investigate Security Act and Other Internal Security Laws, ủy ban Committee on Judiciary, Nhiệm kỳ  91, Khóa 1, 1969, trang 142.

2904  Senate,  Extent of Subversion in Campus Disorders: Hearing before the Subcommittee to Investigate Security Act and Other Internal Security Laws, Committee on Judiciary, Nhiệm kỳ  91, Khóa 1, 1969, trang 137.

2905  New Mobilization, thơ và thỉnh nguyện gởi cho Chưởng Lý John Mitchell, 19 tháng 11 năm 1969.

2906  Báo cáo cuối cùng của ủy ban Church committee.

2907  Quảng cáo của Student Mobe, “Bring All the GIs Home Now!,  1969.

2908  Combat,  Bộ 1, Số 30, 15 tháng 11 năm 1969

2909  HISC, Staff Study, Subversive Involvement in the Origin, Leadership and Activities of the New Mobilization Committee to End the War in Vietnam And Its Predecessor Organizations, 1970,  XII-XIII.

2910  “Vietnamese Women Visit Canada,” (Tháng 7 năm 1969), Voice of Women Records, SCPC; CVW Website, “Our History”,  http://home.ca.inter.net/~vow/history.htm; Các Hồi ký của Cora Weiss, http://www.swarthmore.edu/library/peace/DG201-225/dg222cweiss.htm.

 

*****

 

Một phản hồi to “Roger Canfield’s Americong #60”

Trackbacks/Pingbacks

  1. Giới thiệu tác phẩm AMERICONG (MỸ-CỘNG) – Lê Bá Hùng | Ngoclinhvugia's Blog - 05/01/2016

    […] Roger Canfield’s Americong #60 […]

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: