Roger Canfield’s Americong #56

image002

Comrades in Arms

How the Americong Won the War in Vietnam

Against the Common Enemy— America

Copyright Roger Canfield, Ph.D.

1986-2012

No commercial transaction allowed except that approved by the author, copyright holder.

Obtain a prepublication release of a CD-R in Microsoft Word in ENGLISH at a discounted price of $15 from Roger Canfield Rogercan@pacbell.net at 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 or at http://americong.com.

Completely SEARCHABLE for any name, date, place or event of the War and its protesters.   

Cover: Design Stephen Sherman. Photos: Roger Canfield, March 2008. TOP: War protest Hawaii, February 1966 displayed at War Remnants (Crimes) Museum, Saigon. Bottom: Praetorian Guard

Các đồng chí cùng chiến tuyến

Làm thế nào MỹCộng thắng cuộc chiến Việt Nam

Chống kẻ Thù Chung – Mỹ

Giữ bản quyền Roger Canfield, Tiến Sĩ

1986-2012

Không được sử dụng vào mục đích thương mại nếu không có sự đồng ý của Tác giả, người giữ bản quyền.

Có thể mua một tiền bản dưới dạng CD-R Microsoft Word bằng Anh ngữ với giá đặc biệt US$15 ngay từ tác giả Roger Canfield  Rogercan@pacbell.net

tại 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 hay tại  http://americong.com.

Hoàn toàn có thể TRA CỨU hoặc bằng tên, bằng ngày tháng hay biến cố liên quan đến cuộc Chiến cùng cả luôn bọn tham dự biểu tình .

******************************************************

* Tác giả giữ bản quyền © Roger Canfield 1986-2012

  • Lê Bá Hùng chuyển ngữ  (với sự chấp thuận của Tác giả)

 

***************

 

Chương 56

Chào Mừng và Đón Tiếp Vào Cuối Năm 1968

 Vào đầu tháng chạp năm 1968, Tom Hayden ra khai trình trước Ủy ban Hạ viện về các Hoạt động Chống Mỹ (House Committee on Un-American Activities HCUA) với vụ lá thư y gởi cho Đại tá Hà Văn Lâu để giới thiêu Robert Greenblatt. Hayden nói với Ủy ban là khi dùng chữ “chiến thắng”, y chỉ đơn giản muốn ám chỉ việc Mỹ rút quân và việc ngưng không tạc chớ không phải là một chiến thắng Cộng sản đối với Mỹ, mặc dù y ủng hộ “các nhà cách mạng” (Việt Cộng) tại Việt Nam. Cũng vậy, Hayden đã không trả lời đầy đủ cho câu hỏi là Bắc Việt đã tin cẩn y đến mức độ nào .

Robert Greenblatt  thì đã không hề cần thư giới thiệu của Hayden với Đại tá Lâu để giúp y có thêm uy tín trong phong trào phản chiến. Trước khi có lá thư này, Mobe và Greenblatt đã cộng tác công khai với bọn Cộng sản Mỹ và Việt Nam về vấn đề chiến tranh. Y đã có mặt tại Hà Nội vào tháng 5 cùng với phê bình gia xã hội học Susan Sontag và chủ bút tờ New Republic là Andy Kopkind mà dỉ nhiên không phải là những tên VC chính hiệu. Tuy nhiên, sau vụ lá thư trong tháng 6 này của Hayden thì các hoạt động của Greenblatt nhằm thay mặt cho Bắc Việt đã gia tăng nhiều trong các cuộc họp ở Ba-lê, Prague và Budapest.

Bức thư có thể đã giúp Greenblatt có thể tham dự và thảo luận lâu dài với Việt cộng ở Ba-lê, Prague và Budapest. Có khả năng là y đã có thảo luận riêng tư với Đại tá Lâu, một thành viên chủ chốt của phái đoàn ngoại giao Việt cộng. Có vẻ như rằng Greenblatt đã trở thành một tên đáng tin cậy phụ trách lo chuyển qua lại những tin bí mật giữa bộ ba Dellinger-Hayden-Lâu.

Các thư giới thiệu thường nhằm mục đích này trong thế giới Cộng sản. 2714 Thật vậy, những thư giới thiệu các bộ đội Cộng sản là thông lệ của một Uỷ ban Phân bộ Đảng thuộc một đơn vị quân sự gởi Phân bộ Đảng khác khi đơn vị này gia nhập đơn vị khác. 2715  Việc Greenblatt có là một tên mà Hayden đã phát hiện ra để tuyển chọn giao làm “công việc bí mật”  và / hoặc đã là một điệp viên tự nguyện về tuyên truyền thì quả thật, chúng ta đã không biết được.

Trong một bài báo có thiện cảm về Tom Hayden đăng vào số Esquire tháng chạp năm 1968, Steven V. Roberts, một phóng viên có tài (tuy nhiên tài cũng ít hơn phân nửa nếu so với tài của con gái Thượng nghị sĩ Hale Bogg là Cokie Boggs Roberts), đã viết:

Ít người Mỹ nào đã ở Bắc Việt lâu hơn trong những năm gần đây và được tin cậy bởi các nhà lãnh đạo ở đó hơn là Tom Hayden.

Ông có ảnh hưởng rất lớn trong việc một người Mỹ nào đó có được thị thực để đi tới đó hay không; ông phục vụ như là một đường dây bán chính thức trao đổi thơ từ do các tù binh gởi và nhận được; trong tháng 7 (1968), ông đã giúp sắp xếp một vụ phóng thích tù binh khác  và đã trải qua vài tuần để thảo luận với các nhà đàm phán Bắc Việt tại Ba-lê. 2716

Một nhà báo đã cho Roberts biết: “Khi Hà Nội đã sẵn sàng để thảo luận về hòa bình thì họ sẽ nói với chúng tôi là “chúng tôi sẽ chỉ nói chuyện với Hayden.”

Ngày 20 tháng chạp năm 1968, “Hai mươi bảy thành viên của Women Strike for Peace (ví dụ như Cora Weiss, Barbara Bick (CPUSA)) và một con chó tên là Hoàng tử đã cùng đi bộ hết chặng đường dài hai dặm về Tòa Bạch Ốc để tặng  Tổng thống Johnson một tràng hoa và các điện tín kêu gọi kết thúc chiến tranh.” 2717

Chiến dịch khủng bố khủng khiếp của VC đã Thất Bại

Ở Nam Việt, các lời chúc vào cuối năm của Việt Cộng đã không gì là thân thiện. Vào cuối năm 1968, trước khi có các cuộc bầu cử sắp tới:

VC đưa ra một cảnh cáo … … một ngôi làng không xa Đà Nẵng lắm. (Dân làng đã bị) … lùa ra tới trước nhà của trưởng làng.”

Tại đó cả làng, luôn người vợ đang mang thai và bốn đứa con … (của ông ta) đã bị buộc phải chứng kiến (trong khi) lưỡi của ông ta bị chúng cắt bỏ, …

Bộ phận sinh dục [của ông] bị cắt rời ra và nhét vào trong cái miệng đẫm máu của ông rồi bị khâu kín lại.”

Trong khi ông ta hấp hối,

bọn VC quay qua thanh toán người vợ bằng cách cắt mở banh tử cung của bà ra. Sau đó là tới phiên đứa con trai chín tuổi: đâm xuyên từ tai này qua tai kia bằng một mủi lao bằng tre. Thêm hai … đứa con nữa … cũng giống như vậy …. “

VC lại đã tha đứa con gái nhỏ năm tuổi “chúng … để em ở lại khóc than, tay mình vẫn còn nắm chặt tay của người mẹ nay đã quá cố … 2718

Số Cử tri Đi Bầu Rất Cao

Sau cố gắng cuối cùng vào phú chót của chiến dịch khủng bố này của bọn VC nhằm ngăn chặn cử tri đi bầu, đã có tới 89% số dân của những làng mà gần đây từng bị khủng bố đã vẫn đi bỏ phiếu bầu cử. 2719 Đó quả thực là một cuộc biểu lộ của lòng can đảm chưa hề thấy và chắc là sẽ không hề được các cử tri Mỹ thông cảm được trong khi mà thường thì chỉ có 20% hay ít hơn là chịu mất thì giờ đi bầu trong các cuộc bầu cử địa phương. Người Mỹ sau đó thì cũng sẽ thờ ơ như vậy đối với các cuộc bầu cử trong một nước Iraq đầy khủng bố.

Các Cuộc Bầu Cử Ở Nam Việt

Sau Tết Mậu Thân, Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã tổ chức bầu cử tại hầu hết các xã ấp ở Việt Nam, nhưng nhiều quận trưởng đã gian lận trong cuộc bầu cử  2720 – không phải không giống như các tiến trình dân chủ trong sạch ở  Johnson City, Texas 2721 , Illinois Cook County  2722  hay Thành phố Yazoo, Mississippi. Quen sống trong một nền văn hóa độc tài, những gì mà các nông dân Việt Nam xem như có giá trị nhất đối với họ lại chính là một sự lãnh đạo cương quyết – mà đôi khi chính lại là đặc điểm của Việt Cộng. 2723

Khi được cho phép bỏ phiếu kín vào cuối năm 1968 thì các dân làng vẫn bỏ phiếu chống lại bọn cộng sản, có lẽ với sự khuyến khích của các quận trưởng của Chính phủ VNCH và đã chứng minh là chương trình bình định có thành công nhưng bầu cử thì lại không được hoàn hảo.

Thiệu từng phàn nàn là chính CIA đã chịu trách nhiệm trong việc khuấy động các tín hữu Phật giáo và bọn chủ trương trung lập. “Chính phủ bị kẹt cứng giữa đám Cộng sản đang xâm nhập và bọn CIA Mỹ.” CIA đã cam kết với Thiệu là họ ủng hộ ông ta. 2724 Luôn luôn bị ám ảnh bỡi hồn ma của Diệm nên mỗi khi chợt nhớ lại chuyện củ thì quả thật không thể nào mà Thiệu có thể tin CIA được.

Sau khi bị thất bại nhân cuộc bầu cử, theo một kế hoạch hành động đề ngày 22 tháng chạp năm 1968 của Ủy ban Đảng CS tỉnh Bình Định thì Việt Cộng đã hô hào cán bộ trong các khu vực mới được “giải phóng” phải : … ngay lập tức tổ chức để củng cố và duy trì các khu vực vừa mới thuộc quyền kiểm soát của chúng ta … Tổ chức lại nhân dân, quét sạch bọn tàn dư gián điệp và thanh lọc hàng ngũ nhân dân hầu loại bỏ các thành phần xấu xa. .” 2725

Sau tám năm phục vụ với tư cách là một viên chức Bộ Ngoại giao trong United States Information Agency USIA tại Việt Nam, Douglas Pike đã báo cáo là vào tháng chạp năm 1968, MTGPQG đã chỉ được sự hỗ trợ kiên quyết và thiện cảm của chừng 10% tới 15% dân số, nhưng bằng chính sách khủng bố gây kinh hãi, khoảng 40% dân số nông thôn đã miển cưỡng phải cung cấp tiền bạc, thực phẩm, nhân lực và thanh niên để đi bộ đội cho Việt Cộng. 2726

Gieo kinh hoàng vẫn là một sức mạnh chính trị rất hiệu quả. Sau Tết Mâu Thân thì tàn dư Việt Cộng và Bắc Việt đã đành quay trở lại du kích chiến cùng với các hoạt động tuyên truyền ở miền Nam như được phản ảnh trong một con tem năm 1969.

 

image003

 Hình: Các chiến dịch du kích ở Nam Việt. Hình của Nat Ward

 

Lể Giáng Sinh của Các Tù Binh: Bố Trí Kỷ Lưỡng và Bị Phá Hoại

Lể Giáng sinh của các tù binh được diển ra tại Nhà Chiếu Phim Movie ở Đồn Điền Plantation, Hà Nội và đã là một hoạt động tuyên truyền được tổ chức cùng bố trí kỷ lưỡng nhưng vẫn bị phá hoại một cách rất thâm thúy.

Ngồi quanh những bàn đầy thức ăn ngon mà họ đã chưa bao giờ được đụng tới khi còn ở trong các xà-lim, các tù binh đã nhân cơ hội này để công khai trao đổi  tin tức mà loại trại tù cách ly và biệt giam đã khiến thành rất là khó khăn. Trong khi đang phụ trách trang trí căn phòng đầy với các tấm truyền đơn khẩu hiệu, lúc  các phóng viên Nhật Bản tới quay phim thì Stratton và Stafford bèn cùng nhúng ngón tay giữa của họ vào hủ hồ dung để dán . 2727

Các Kế Hoặch của Hà-nội dành cho Phong Trào Phản Chiến

Bọn tàn dư Việt Cộng đáng lý đã phải tìm thấy được niềm hy vọng trên mặt trận thứ hai ở Mỹ, nơi mà nổi bi quan đang lan tràn khắp nơi.

Thông Điệp Mừng Giáng Sinh của Hồ

Ngày 31 Tháng 12 1968, Hồ Chí Minh đã gửi một thông điệp Mừng Năm Mới cho các “bạn bè người Mỹ.” Hồ đã cảm ơn họ vì đã chống lại chiến tranh và gọi vụ ngưng không tạc tiền bầu cử October Surprise Tháng 10 của Johnson là một “Đại Chiến thắng”. 2728

Bộ Chính trị biết được là các nỗ lực đich vận đã mang lại nhiều kết quả tốt trong phong trào phản chiến ở Mỹ và đã phát triển các kế hoạch hành quân chỉ dùng đơn vị nhỏ tại hàng trăm địa điểm khác nhau nhắm vào các lực lượng Mỹ ở Nam Việt hầu nâng cao số thương vong mà cũng để khuấy động giới truyền tin với phong trào phản chiến tại quốc nội. 2729 Điều này buộc chúng phải sử dụng cả hai mủi dùi, vũ trang cùng chính trị, của đấu tranh.

Abrams: “Hiện họ đang ở ngay tại Hoa Kỳ”

Vào đầu năm 1969, tờ Quân Đội Nhân Dân, báo quân đội chính thức của Hà Nội, đã dự đoán, “Một mùa hè đầy sinh hoạt đấu tranh chắc chắn sẽ xảy ra ở Hoa Kỳ.” Tướng Creighton Abrams, người thay thế Westmoreland, bèn trả lời,

Họ có tiếp xúc trực tiếp với giới lãnh đạo của các nhóm ở Hoa Kỳ và họ cứ công khai tổ chức các cuộc họp hành hầu đẩy mạnh thêm phong trào tấn công vào mùa hè, ngay ở Hoa Kỳ. Và rồi nào là lý thuyết, nào là chiến thuật và nào là những màn xuống đường và đủ mọi thứ như vậy.

Chúng ta đang đối phó với rất nhiều mặt trận và phía họ thì cũng vậy thôi. Không có gì là quá đáng khi ta nói là họ đang ở ngay tại Hoa Kỳ này. 2730

Với khẩu hiệu “Hoạt động tạo hòa bình”, bọn cán bộ của Mặt trận thứ hai ở Mỹ đã cùng có thể tiếp cận và dính líu với mọi người tại Việt Nam hay Hoa Kỳ. Sự kiện đã có tiếp xúc trực tiếp giữa kẻ thù trên chiến trường với phong trào “hòa bình” để khai thác vấn đề tù binh đã xẩy ra rất là sớm.

Khai Thác Vụ Các Tù Binh

Ngày 21 tháng 4 năm 1967, Nguyễn Hồng Phước, Trưởng ban Tuyên huấn Quân sự phân đội của đơn vị VC số 495 đã phổ biến Chỉ thị C / 3,

Phong trào phản chiến của nhân dân Mỹ … thường yêu cầu chúng ta cung cấp cho họ … mọi giấy tờ viết tay cá nhân … tìm thấy trên các binh sĩ Mỹ đã chết hoặc đã bị thương … để họ dùng chúng vận động người dân Mỹ nhằm phản đối cuộc chiến tranh hung dữ  của Mỹ tại Việt Nam. …

[Điều] này là rất cần thiết cho … việc bành trướng của phong trào phản chiến ở Mỹ. 2731

Hà Nội, Việt Cộng và phong trào hòa bình cùng nhau trao đổi tin tức, tin tình báo quân sự mà sẽ trực tiếp có ảnh hưởng tới sinh mệnh của các quân nhân Mỹ.

Nick Rowe

Nick James Rowe là một sĩ quan Lực lượng Đặc biệt mà đã nói dối với bọn Việt Công bắt mình để hạn chế các tin tình báo mà ông sẽ bị địch khai thác bắt cung cấp. Một ngày nọ, việc lừa dối của ông đã đành phải chấm dứt.

Mafia nhìn chằm chằm vào một bó giấy tờ trong tay y, mặt lạnh lùng, đôi mắt căm hờn và không chớp …

Tên cán bộ này nói: “Thật may mắn là chúng tôi đã được các bạn bè yêu chuộng hoà bình và công lý thuộc Mặt trận Giải phóng Quốc gia Miền Nam ở Mỹ đã cung cấp tin tức giúp cho chúng tôi biết ra được là bạn đã lừa dối chúng tôi”.

Tên cán bộ Cộng sản, một điệp viên của Bắc Việt, bèn đọc ra các chi tiết riêng tư   về học vấn , về quá trình huấn luyện quân sự, về các nhiệm vụ từng đã đãm nhiệm và về gia đình của Rowe. Rowe đã nghĩ:

… Tôi đã cố gắng giữ cho đầu gối không run rẩy, đã tự tranh đấu để che dấu hậu quả mà những mảnh giấy này sẽ gây ra cho tôi. Y ta đã không hề đoán chừng gì cả. Y biết hết tất cả rồi! …

Trời ơi, ai mà đã nở đành cung cấp cho chúng tin tức về tôi? Nếu không thì làm sao chúng có được những tin này? Y chắc đã phải nói láo với một ai nào đó ở quê nhà để mà có được tin tức tiểu sử của tôi!

Một người Mỹ thì không đời nào làm điều đó với một người cùng quê hương … [rồi thì] tôi nhớ lại các báo cáo tôi từng nghe trên Đài Hà Nội về “nhân dân Mỹ yêu chuộng hòa bình và công lý” mà đã cứ phản đối chiến tranh.

VC không thể nào có được chỉ một phần thôi trong số thông tin đó nếu không là ngay ở tại Hoa Kỳ và đột nhiên tôi cảm thấy quá buồn nôn. 2732

Kẻ đã tiết lộ lý lịch và đã khiến Rowe có thể bị tử hình thì đã không bao giờ bị truy tố. 2733

Mike Bosiljevac, một chuyên viên Không quân về các biện pháp phòng vệ về điện tử thì lại chỉ biết được tin mình có con trai xuyên qua đài phát thanh Hà-Nội. Ông ta có linh tính là tình báo Liên Xô đang rất quan tâm đến mình. Sau khi bị bắn rơi và bị giữ làm tù binh, Mike Bosiljevac đã không bao giờ về nhà lại được và bức thư cuối cùng của người mẹ gởi cho ông thì đã bị trả lại mà chưa hề được mở ra đọc, với dấu bưu điện từ Đông Đức đúng vào ngày sinh nhật của con trai ông ta. 2734

Bị bắt giam bởi VC từ tháng 10 năm 1963, Rowe đã trốn thoát kịp trước khi sắp bị hành quyết vào trước đầu năm 1968. 2735 Sau khi gặp Tổng thống Nixon trong tháng 11 năm 1969, Rowe đã đi khắp nước Mỹ để nói chuyện phản đối các chính sách và để thách thức lòng yêu nước của các thượng nghị sĩ McGovern, Mansfield và Fulbright. 2736

Giống vậy, tù binh Nels Tanner đã bị tra tấn đến mức hết chịu nổi và đã phải nghiển chuyện tố cáo hai phi công – Clark Kent (Superman) và Ben Casey (một bác sĩ trên một loạt phim Truyền Hình). Bắc Việt vui mừng phát thanh các tiết lộ của Tanner về bọn tội phạm chiến tranh Clark Kent và Ben Casey, nhưng đã tự thấy nhục nhã khi một “tên tả phái Mỹ” mà theo lời của Jim Stockdale, “đã viết báo cho  Bắc Việt để phơi bày vụ Nels ra.” Tanner bèn bị xiềng chân vào khóa sắt, bị bỏ đói tới mức chỉ còn là một bộ xương biết đi lảo đảo mà thôi. 2737

Tù binh Jim Mulligan thì nhớ lại là bọn quản giáo, “Thường đe dọa sự an toàn của vợ con tôi mà sẽ bị gây ra bởi bọn phản chiến Mỹ chiếu theo lệnh của Hà Nội.” Mulligan và các tù binh khác quả thật có lo lắng về những hành động có thể xẩy ra nhằm chống lại họ hoặc gia đình của họ. 2738

Bọn Mỷ-cộng Ameri-Cộng thật sự đã có khã năng mang lại khủng bố vào ngay tại vài gia đình ở Mỹ. Năm 1969 thì một số lại sẽ cố gắng mang toàn bộ chiến tranh về lại Mỹ.

 *****

2714  Các thư giới thiệu quả có một lịch sử trong thế giới mờ ảo của các gián điệp và bọn đồng hành. Hãy đọc: Arthur Koestler’s The Invisible Writing; Whitaker Chamber’s Witness; Tony Bryant’s Hi Jack.

2715   CDEC, Hồ sơ số 12-1535 tới  1549 của năm 1966 là cả một xấp thơ từ bị tịch thu bởi AT995222, FFV, Sư đoàn 3 TQLC vào ngày 14 tháng chạp năm 1965.

2716   Steven V. Roberts, Esquire, tháng chạp năm 1968.

2717   Zaroulis, Who Spoke Up, trang 207.

2718   “The Blood-Red Hands of Ho Chi Minh,” Readers Digest, Tháng 11 năm 1968 tại

http://www.paulbogdanor.com/ho-chi-minh.html.

2719   (TS-GP1)CAG-VSUM 1-69, Tháng 11 năm 1969, JMF 911/305 (1 tháng 4 năm 1969) đoạn 5a. (TS-GP1) COMUSMACV Command History, 1969, VIII-39-VIII-41.

2720   Mark Moyar, Phoenix and the Birds of Prey; The CIA’s Secret Campaign to Destroy the Viet Cong, Annapolis: Naval Institute Press, 1997, trang 313-14.

2721  Hồ sơ của J. Edgar Hoover về Johnson Lyndon Baines 0624, Ngăn 22 có phần liên quan đến những bất thường trong việc bầu cừ khiếm khuyết ở các quận Webb, Duval, Starr, Zapata và Jim Hogg thuộc Texas. http://www.lexisnexis.com/documents/academic/upa_cis/10756_FBIFileHooverOffConfFile.pdf.; Robert Caro

2722  Thị trưởng Daly.

2723  Mark Moyar, Phoenix and the Birds of Prey; The CIA’s Secret Campaign to Destroy the Viet Cong, Annapolis: Naval Institute Press, 1997, trang 313-14, 323.

2724   Thomas L. Ahern, CIA And The Generals, MẬT, Trung Tâm CIA Center for the Study of Intelligence, Tháng 10 năm 1998, công bố ngày 19 tháng 2 năm 2009, trang 87 nêu ra William E. Nelson, Trưởng Nhiệm Sở Khu Vực Viễn Đông, Phúc trình gởi cho DCI, “President Thieu’s Comments on CIA,” 5 tháng 2 năm 1969.

2725  Hồ sơ số 01-2311-69 (Mật), đề ngày 31 tháng giêng năm 1969 (phần nhấn mạnh được thêm). Bản chuyển ngữ của một “Kế Hoặch cho Đấu tranh Chính trị và Nội loạn có Vũ trang . .,” ghi ngày 22 tháng chạp năm 1968 và bị gán cho cuộc Đấu tranh Chính trị, tịch thu bởi Sư Đoàn Mãnh Hổ Đại Hàn vào ngày 4 tháng giêng năm 1969, nêu ra bởi Lê Thành Nam, “Viet-Cong Repression: Control and Polarization of the Populace” có thể tra khảo tại  http://25thaviation.org/history/id926.htm

2726   Douglas Pike, War, Peace and the Viet Cong, Cambridge: The M.I.T. Press, 1969.

2727   Stuart I. Rochester và Frederick Kiley, Honor Bound, American Prisoners of War in Southeast Asia 1961-1973, Annapolis: Naval Institute Press, 1999, trang 371.

2728   Zaroulis, Who Spoke Up, trang 208.

2729   Phillip B. Davidson, Vietnam At War: the History: 1946-1975, New York: Oxford University Press, 1991, trang 590-1; Hoàng Ngọc Lung, General Offensive, Dalley Book Service, 1989, trang 118.

2730   Lewis Sorley, A Better War: The Unexamined Victories and Final Tragedy of America’s Last Years in Vietnam, New York: Harcourt, trang 199, 114.

2731   Nguyễn Hồng Phước, Trưởng ban Tuyên huấn Quân sự phân đội của đơn vị VC số 495, Chỉ thị C / 3, 21 tháng 4 năm 1967, bị tịch thu bởi Sư đoàn 1 Kỵ binh, CDEC #06-1632-67. Jay Veith cũng tìm được một tài liệu tương tự có hiệu lực cho toàn tỉnh  Kiến Phong trong vùng châu thổ. Veith cung cấp cho tác giả vào ngày 12 tháng 7 năm 2011.

2732  Rowe, trang 402, 403.

2733   Garnett “Bill” Bell nói với George J. Veith, Leave No Man Behind: Bill Bell and the Search for American POW/MIAs from the Vietnam War, Madison: Goblin Fern Press, 2004, trang 418.

2734   Kay Bosiljevac, “Acceptable Level of Casualty,” in Santoli To Bear…, trang 317.

2735  Hai mươi năm sau khi trốn khỏi tù VC, vào ngày 21 tháng 4 năm 1989, Roew đã bị bao vây chận xe hơi lại và xã súng bắn chết ở Thành phố Quezon, Phi-luật-tân,  nơi mà ông đang phụ trách huấn luyện Quân đội Phi chiến đấu chống lại Mặt Trận Quốc Gia Dân Chủ Cộng sản. “Rebels Blamed for U.S. Officer’s Death,” báo Sacramento Bee (22 tháng 4 năm 1989), trang A 11.

2736   Walter Cronkite  phỏng vấn Lyndon Baines Johnson, tường thuật lại trong bài của  Warren Unna, “Intimidation of War Critics Charged,” Washington Post, 5 tháng 2 năm  1970.

2737   James và Sybil Stockdale, In Love and War: The Story of a Family’s Ordeal and Sacrifice during the Vietnam Years, Maryland: Naval Institute Press, 1990, trang 261, 175 viện dẫn trong bài của Craig Howes, Voices of the Vietnam POWs, New York: Oxford University Press, 1993, trang 98, trang 156 ghi chú 165. 

2738   James Mulligan, The Hanoi Commitment, Virginia Beach: IF Marketing, 1981, trang 260, 262, 265,129 viện dẫn trong bài của Craig Howes, Voices of the Vietnam POWs, New York: Oxford University Press, 1993, trang 170 ghi chú 25.

 

*****

Một phản hồi to “Roger Canfield’s Americong #56”

Trackbacks/Pingbacks

  1. Giới thiệu tác phẩm AMERICONG (MỸ-CỘNG) – Lê Bá Hùng | Ngoclinhvugia's Blog - 05/01/2016

    […] Roger Canfield’s Americong #56 […]

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: