Rushford #5: Chính Sách Ngoại Giao Củ Xưa với VN của Obama

Rushford #5:

Chính Sách Ngoại Giao Củ Xưa

 với VN của Obama

 Ngày 28 Tháng 8 Năm 2013

~ Chuyển ngữ bởi Lê Bá Hùng ~

*****

Rushford Report 2013 August 28

http://rushfordreport.com/?tag=yarn-forward

Obama’s “Deja vu” Vietnam Diplomacy

image003

Một bi kịch về ngoại giao, với khả năng sẽ đưa đến nhiều hậu quả cực kỳ quan trọng, hiện đang xảy ra giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Tuy tập trung vào việc nhằm tăng cường các mối quan hệ kinh tế song phuong, nhân các cuộc đàm phán về Trans-Pacific Partnership ~ Đối tác xuyên Thái Bình Dương đang diễn ra, thì chuyên đề kinh tế cũng liên quan đến các vấn đề bao quát hơn về an ninh và nhân quyền. Bài viết này có một số thông tin mới, hầu tường trình về những gì đang xảy ra phía sau hậu trường: Điều gì mà Bộ Chính trị đang cầm quyền ở Hà Nội đã quyết định trong mục đích ráng củng cố quan hệ kinh tế với các cường quốc. Liệu rối thì, Chủ tịch Việt Trương Tấn Sang và Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama, sẽ cùng nhau trao đổi những gì, nhân cuộc gặp gở vào ngày 25 tháng 7 của họ tại Phòng Bầu dục của Tòa Bạch Ốc. Rồi thì liệu cũng sẽ có những ai khác hiện diện trong căn phòng đó – và tại sao điều đó lại là quan trọng.

image003

Trương Tấn Sang (sinh 21 tháng 1 năm 1949) 

Ngoài ra, thì cũng có những tin bán chính thức khả dĩ làm sáng tỏ được phần nào về những áp lực mãnh liệt đang đè nặng nề lên phía Việt Nam, mà vị Đại diện Thương mại của Hoa Kỳ là Michael Froman đã đang dùng, đặc biệt là vừa ngay mới chỉ tuần qua tại Bandar Seri Begawan, Brunei. Vào ngày 22 và 23 tháng 8, Froman đã có họp riêng với đối tác Việt Nam của mình là Vũ Huy Hoàng, nhân vòng thứ 19 của các cuộc đàm phán thương mại TPP, mà hiện vẫn đang tiếp tục trong tuần này ở Brunei. Washington quả đã đang chơi trò hăm dọa, ráng gây sức ép với Hà Nội, để buộc họ phải chấp nhận một thỏa thuận kinh tế rõ ràng không phải là mang lại được lợi lộc tốt nhất cho Việt Nam – và có thể rồi cũng sẽ thành công được như vậy mà thôi.

image005

Michael Froman, vị đại diện United States Trade Representative thứ 17

Nhưng điều mà đã đập vào mắt mọi người, thì đã không phải là các tin tức mang đầy tính cách khó khăn, nhưng đúng hơn, chính là cái cảm giác của “déjà vu ~ việc củ xưa” của một bước ngoặt lịch sử từng đã xảy ra trong quan hệ Mỹ – Việt. Ngày 30 tháng 8 năm 1945 – đúng 68 năm, nếu tính đến ngày 30 tháng 8 năm 2013 này, mà cũng sẽ là ngày vòng đàm phán thứ 19 của TPP kết thúc vào thứ sáu tại Brunei – thì Hồ Chí Minh có viết cái bức thơ đầu tiên, trong nhiều bức từng được gởi cho Tổng thống Hoa Kỳ Harry Truman. Bác Hồ đã mưu tìm sự hỗ trợ của Truman cho các khát vọng của Việt nam, hầu giành độc lập để thoát khỏi ách thống trị của thực dân Pháp. Các bức thơ đều đã không hề được hối âm, bởi vì lúc  đó, chính quyền Truman đặt ưu tiên giúp đỡ cho Pháp, hầu phục hồi được lại từ các thiệt hại tan hoang do Thế chiến II.

Nhà sử học Fredrik Logevall đã có nhận xét trong tác phẫm lừng danh Embers of War của ông: “Về phương diện lịch sử, đó quả là một quyết định cực kỳ quan trọng của Truman, và cũng như rất nhiều tổng thống Mỹ cũng sẽ xử sự trong những thập niên kế tiếp, nó đã không hề dính líu gì tới ngay cả Việt Nam – nó chỉ liên quan đến những ưu tiên của Mỹ quốc trên chính trường quốc tế mà thôi”. Các mối quan tâm của các quan sát viên sáng suốt hơn trong Bộ Ngoại giao và trong cộng đồng tình báo Mỹ, mà đều cùng nhau rất lo âu về những hậu quả rồi sẽ phải xảy ra, do cái quyết định sai lầm đi binh vực chủ nghĩa thực dân, thì đều đã bị bỏ lơ qua đi.

Khi gặp nhau tại Phòng Bầu dục vào tháng trước, Chủ tịch Sang đã tỏ cho thấy một hiểu biết sâu sắc về lịch sử, khi ông ta tặng cho Obama một bản sao của một trong các bức thư của Bác Hồ gởi cho Truman. Hà Nội có lý do để lo lắng là, lại lần nữa, cái ưu tiên hàng đầu của Tòa Bạch Ốc Obama, lại là không thực sự chú tâm vào nền kinh tế của Việt Nam.

image007

Trong các cuộc đàm phán thương mại TPP, Tòa Bạch Ốc đã tranh đấu kịch liệt để thay mặt cho giới vận động hành lang làm việc cho chính sách duy trìn bảo hộ của kỷ nghệ dệt may Hoa Kỳ – các tay đồng minh trung thành của Tổng thống Obama, mà đã từng ủng hộ đương sự trong hai cuộc bầu cử tổng thống thành công của mình. Ưu tiên hàng đầu của các nhà máy sợi của Mỹ (mà đều không đủ khả năng để có thể cạnh tranh trên toàn cầu) thì là không cho Việt Nam được tăng gia con số thương vụ vào các thị trường quần áo và giày dép của Hoa Kỳ, sau khi ký kết thương ước TPP.

Cũng như dạo cuối thập niên 1940, vài nhà ngoại giao Hoa Kỳ đầy hiểu biết đã (lặng lẽ) và các viên chức tình báo đã (rất lặng lẽ) tỏ lộ cho biết niềm quan ngại của họ trong khắp vùng Hoa-thịnh-đốn. Nhưng mấy tay lão luyện về châu Á của Hoa-thịnh-đốn đều cùng bị gạt qua bên, vì những ưu tiên chính trị quốc nội của Tòa Bạch Ốc, không khác gì các vị tiền nhiệm của họ gần bảy thập niên trước đây rồi.

Trong khi đó, Chủ tịch Sang, thay mặt Bộ Chính trị đang cầm quyền, thì đã có chuyển cho Obama cái thông điệp riêng của mình vào tháng trước.

Để hiểu rõ hơn các sắc thái pha trộn giữa tin tức thời sự và lịch sử, chúng ta hãy bắt đầu với cuộc gặp gở tại Tòa Bạch Ốc.

Chính Sách Ngoại Giao Gây Chóng Mặt Của Phòng Bầu Dục

Nói về đề tài ngoại giao, thì đôi khi, những gì công chúng thấy được, lại là đúng thật – mà còn không phải chỉ là qua hình ảnh mà thôi. Chúng ta hãy xem đoạn ‘video’ mà Tòa Bạch Ốc đã cho đăng trên trang ‘web’ của họ vào ngày 25 tháng 7. Người xem thấy Sang và Obama gặp riêng nhau trong phòng Bầu dục, cùng ngồi trong những chiếc ghế bành trước lò sưởi, mỗi người cùng sắc phục đậm màu theo đúng nghi lể, đi cùng những chiếc ‘cà vạt’ tương xứng. Các hình ảnh mà mấy tay ‘spinmeisters ~ chuyên viên phát ngôn’ của Tòa Bạch Ốc – chính những tay mà cũng đã đưa đoạn ‘video’ này lên You Tube – nhằm truyền đạt, thì cũng đã khiến chúng ta phải bèn nhớ lại một cái ngày mặt-đối-mặt về đàm phán nổi tiếng trong lịch sử ngoại giao ở cấp cao nhất: Nixon với Mao, hay Roosevelt với Sì-ta-lin.

Nhưng rồi thì cuộc gặp giữa Obama với Sang thì cũng quả khó để được là một biến chuyển như là vụ Roosevelt – Sì-ta-lin. Đó chỉ có vẻ là một kịch bản đã được soạn trước, có tính cách nghi lể mà thôi, và là điển hình về cách thức mà mọi tổng thống Mỹ đã tiếp đón các vị cao cấp ngoại quốc đến thăm trong những năm gần đây mà thôi.

Một bức ảnh chưa từng được công bố, do ai cũng ở trong cùng phòng chụp với loại ống kính góc rộng, thì cho thây Sang đã có chín người đàn ông cùng tháp tùng để vô trong phòng Bầu dục. Cùng hiện diện thì đã có Bộ trưởng Công Thương Vũ Huy Hoàng, với Bộ trưởng Nông nghiệp Cao Đức Phát, và Trưởng văn phòng Chủ tịch Việt Nam là Đào Việt Trung. Đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ Nguyễn Quốc Cường cũng đã có mặt, cũng như là Trung tướng Tô Lâm. Tướng họ Tô nguyên là Thứ trưởng Bộ Công an, và trước đây đứng đầu ngành phản gián của Bộ. Họ Lâm cũng là một thành viên của Ủy ban Trung ương của Đảng Cộng sản.


image009

Bộ Trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng

image011

Bộ trưởng Nông nghiệp Cao Đức Phát

image013 

Chủ Nhiệm Văn Phòng Chủ Tịch Nước Đào Việt Trung

image015

Đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ Nguyễn Quốc Cường

image017

Trung Tướng Tô Lâm 

Với quá ư là nhiều người có mặt – mà không phải là tất cả đều nhất thiết trung thành với Chủ tịch Sang trong Bộ Chính trị – chắc chắn là sẽ không có một chủ tịch Việt nào mà lại sẽ có khả năng để thực sự thảo luận được cả.

Một Ý Nghĩa Về Lịch Sử

Có lẽ ba viên chức Việt Nam hiện diện mà đáng chú ý tới nhất đã là thông dịch viên Phạm Xuân Hoàng An, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh và Đại tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Mấy người này đánh dấu được cho một thời mang đầy ý nghĩa lịch sử – cùng với một mối quan tâm chuyên nghiệp nghiêm túc lâu dài của họ về chính sách ngoại giao Mỹ – Việt. Đối với các quan sát viên Việt giàu kinh nghiệm, tin tiết lộ là An, Vịnh và Minh có hiện diện trong Phòng Bầu dục, đã cho thấy được thái độ nghiêm túc đứng đắn của bên phía Việt nam.

image019

Phạm Xuân Hoàng An (thứ hai từ phải sang) chụp ảnh

cùng Tổng thống Mỹ G.W. Bush tại APEC 2006.

Cha của thông dịch viên Phạm Xuân Hoàng Ân là Phạm Xuân Ẩn, đã có thể là tên điệp viên cộng sản quan trọng nhất trong thời chiến tranh Việt Nam. Y từng đội lớp là một phóng viên cho các hãng tin phương Tây, kể cả Reuters và tạp chí Time. Cái tay đàn ông phức tạp này, đã được phong chức tướng sau chiến thắng của Bắc Việt vào năm 1975. Nhưng rối thì sau đó, tướng An lại cũng bị tống giam ở một trại “cải tạo” trong vòng một năm, bởi vì y đã bị nghi ngờ là từng đã quá than cận với người Mỹ.

Trong thực tế, tên Ẩn quả thật là có yêu nước Mỹ (y từng đã giúp một trong những điệp viên quan trọng nhất của CIA trốn thoát, khi cộng sản chiếm được Sài Gòn). Nhưng sau chiến tranh, thì tay gián điệp này đã biện minh với các bạn bè Mỹ là ưu tiên hàng đầu của y đã luôn luôn chỉ là dành lại độc lập của đất nước mà thôi. Cuộc sống hai mang của Ẩn đã là chủ đề của cuốn sách hấp dẫn Perfect Spy của Larry Berman, từng được xuất bản vào năm 2007. Bây giờ, con trai của Ẩn, tay thông dịch viên Phạm Xuân Hoàng An, lại đang làm việc tại lãnh sự quán của Việt Nam ở San Francisco. Như cha, tay con trai cũng là một người từng biết được rất rõ cả hai quốc gia Mỹ và Việt này.

Trong khi Đại Tướng Nguyễn Chí Vịnh thì ở Mỹ, ít ai biết đến y, nhưng lại rất là quen biết đối với các quan sát viên về Việt Nam. Cha của đương sự, Tướng Nguyễn Chí Thanh, là vị tướng duy nhất chỉ đứng sau Võ Nguyên Giáp của Việt Nam. Tướng Thanh là kẻ chỉ huy các cuộc phối hợp nổi dậy trong hầu hết các trung tâm đô thị Nam Việt trong thời gian Tết Mậu Thân âm lịch vào tháng giêng năm 1968. Tết Mậu Thân đã không thành công về phương diện quân sự. Nhưng nó đã lại được công nhận là sự kiện tối hậu, khiến công chúng Mỹ bất mãn cùng cực, vì làm họ nhận chân được ra là Tòa Bạch Ốc đã gian dối, khi tuyên bố rằng cộng sản đang trên bờ vực của thất bại.

image021

Old Fox ~ Cáo Già” Nguyễn Chí Vịnh

Vịnh là một ủy viên trong Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản, và trước đây chỉ huy bộ phận quân báo từng bị biết đến (và kinh sợ) là Tổng Cục 2. Phóng viên kỳ cựu ngoại quốc tại Hồng Kông là Greg Torode đã gọi tay Vinh của Việt nam này là cái tên xảo quyệt “Old Fox ~ Cáo Già”, một kẻ mà vẫn thường được xem như là “tư tưởng gia khôn lanh nhất về chiến lược của Việt Nam”.

Vinh đã là một tay có quyền quyết định trong cái màn đu dây khá tinh tế của Việt Nam, mà có liên hệ đến các cường quốc hiện đang có những quyền lợi về an ninh ở Thái Bình Dương. Y đã từng  là một nhân vật quan trọng trong một số vấn đề nhạy cảm: chống lại chính sách đe dọa của Trung Quốc ở Biển Đông, mà đồng thời vẫn thiết lập các mối quan hệ quân sự với Bắc Kinh; mua tiềm thủy đỉnh và các loại vũ khí khác của Nga; và cũng đồng thời ngày càng tăng gia hợp tác về quân sự giữa Mỹ và Việt . Vịnh, kẻ nổi tiếng ngay cả với Hoa-thịnh-đốn lẫn Bắc Kinh, cũng đã từng xuất hiện hồi đầu tháng này, trong các cuộc đàm phán riêng tư với các giới chức quốc phòng cao cấp tại Tokyo (quốc gia mà cũng đang có lý do chính đáng để lo ngại về việc Trung Quốc tiếp tục có những hành động hiếu chiến ở Thái Bình Dương).

Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh thì cũng có một người cha nổi tiếng. Người cha là Nguyễn Cơ Thạch, thì đã là bộ trưởng ngoại giao của Việt Nam từ 1980 tới 1991, trong cái chức vị mà đương sự đã không thành công được để bình thường hóa quan hệ với cái nước Mỹ từng bị chiến bại kia. Giống cha, Ngoại trưởng Minh nổi tiếng như là nhận thức được một cách sâu sắc về tầm quan trọng chiến lược của việc phát triển quan hệ gần gũi hơn với Hoa Kỳ, như là phương cách chống lại ảnh hưởng thái quá của Trung Quốc.

image023

Phạm Bình Minh

Minh đã từng thẳng thắn thú nhận, nhân một lần tổ chức của Council of Foreign Relations (Hội đồng Những Quan hệ đối Ngoại) trong năm 2011, là mình đã tràn đầy “hận thù” trong thời chiến tranh, khi còn là một đứa trẻ và phải hứng chịu các vụ dội bom của Hoa Kỳ tại Hà Nội. Nhưng kể từ khi mình gia nhập ngành ngoại giao Việt Nam sau chiến thắng của cộng sản vào năm 1975, thì Minh – giống như cha của mình – đã chuyên chú làm việc, ngõ hầu làm sao tạo cho được những mối quan hệ gần gũi hơn với kẻ cựu thù trong thời chiến trước đây của Việt Nam.

Ê-kíp Ngoại Giao của Obama

Tuy là cuộc gặp ngày 25 tháng 7 giữa Sang tại Tòa Bạch Ốc với Obama đã từng được sữa soạn thu xếp kỹ càng trước rồi, thì vẫn đã xảy ra, ít nhất cũng trong một khoảnh khắc có tính cách đột xuất, sự kiện khi mà Obama bộc phát tỏ lộ một mối quan tâm cá nhân với khách Việt của mình. Khi ‘pool ~ số được chọn trước” các nhà báo ngoại quốc lẫn Hoa Kỳ được đưa vô Phòng Bầu dục để chụp hình như thông lệ, họ bèn hét lên một số câu hỏi cho cả hai người lãnh đạo. Obama thì làm bộ làm lơ, nhưng người ta cũng đã thoáng nghe được có thì thầm với Sang là “bọn báo chí thì ở đâu cũng vậy mà thôi”.

Một phụ tá tại Tòa Bạch Ốc đã từ chối thảo luận là liệu đã có ai khác hơn trong cuộc họp, cả bên Việt lẫn phía Mỹ. Nhóm phóng viên đó, khi vào được căn phòng để chụp hình, thì mới thấy được là có thấy hai viên chức Hoa Kỳ bên cạnh Cố vấn an ninh quốc gia Susan Rice: đó là Bộ trưởng Thương mại Penny Pritzker và thương thuyết gia về giao thương của Mỹ là Froman.

image025

Penny Pritzker và Obama

Pritzker, một tay chuyên môn đi quyên tiền cho Obama tại Chicago, thì quả là xa lạ với giới ngoại giao. Bộ Thương mại của y thị là cái cơ quan từng bị chán ghét khắp nơi ở Việt Nam, vì đã cứ cố gắng áp đặt các ngạch thuế nhập cảng cao để bảo vệ nhằm chống phá giá nhắm vào các ngành cung cấp tôm và cá tra Việt. Còn Froman, thì tuy khá gần cận với Obama, lại liên hệ đến một vấn đề chính trị có tính cách quốc nội, hơn là nhờ kinh nghiệm cụ thể về đối ngoại của chính đương sự. (Mọi công tác quan trọng về ngoại giao cần phải thi hành, thì đúng ra, đã phải được hoàn tất tại một địa điểm chỉ cách Tòa Bạch Ốc có vài khu phố thôi, ngay tại chính cái Bộ Ngoại Giao của Bộ trưởng John Kerry. Tay Kerry, một cựu chiến binh thời chiến tranh Việt Nam, có tổ chức tiếp tân phái đoàn Chủ tịch Việt vào ngày 24 tháng 7. Nhưng đương sự thì lại đang ở Nữu-ước, khi các khách mời Việt tới gặp Obama trong ngày hôm sau đó).

image027

Michael Froman

Dù từng đã được kỹ càng soạn thảo trước hay không, thì vẫn đã có nhiều tín hiệu quan trọng, mà cả hai lãnh tụ cũng đã cố tình cho thấy được.

Một Thông Điệp từ Bộ Chính Trị

Phái đoàn Việt Nam đã cho Obama biết rõ – như họ đã từng làm một ngày trước đó, tại một cuộc họp với nhà đàm phán về giao thương Froman – là họ rất thành thật, trong việc đặt một ưu tiên rất cao, nhằm thúc đẩy quan hệ kinh tế với Hoa Kỳ qua các cuộc đàm phán TPP, chiếu theo tin tức cung cấp bởi các viên chức đáng tin cậy Việt và cũng của các giới chức ngoại giao cao cấp Mỹ, mà đã yêu cầu được dấu tên.

Carlyle Thayer, một quan sát viên có uy tín về đề tài Việt Nam, người cũng có nhiều liên hệ tuyệt hão với các cấp cao tại Hà Nội, đã từng giải thích về nội vụ. Thayer, thuộc Australian Defense Force Academy (Học viện Quốc phòng Úc), cho biết ông đã được đọc một bản sao của một nghị quyết ngày 10 tháng 4, mà đã được soạn thảo bởi Bộ Chính trị đương thời, nhưng cho tới nay vẫn chưa được công bố. “Nghị quyết quy định là việc hội nhập kinh tế với tất cả các cường quốc quả đúng là ưu tiên hàng đầu của Việt Nam, trên tất cả mọi hình thức khác về hội nhập, kể cả tiêu chuẩn an ninh”, Thayer đã tường thuật như vậy.

image029

Carlyle Thayer

Tại Phòng Bầu dục, Chủ tịch Sang đã nhấn mạnh với Obama, cái điều mà các viên chức Việt Nam vẫn đã thường nói trong cả ba năm qua: nếu muốn cho cuộc đàm phán TPP thành công, thì Việt Nam sẽ cần những khuyến khích về kinh tế – chính yếu nhất là thêm quyền gia nhập thị trường áo quần và giày dép Hoa Kỳ, mà hiện đang vướng víu với rất nhiều là mức thuế nhập cảng cao. Vấn đề chính của Việt Nam đối với TPP, là trong cả ba năm qua, Tòa Bạch Ốc đã ngăn chận lại tiến bộ trong các cuộc đàm phán, bằng cách từ chối đưa ra những cắt giảm quan thuế thật sự.

Các nhân viên báo chí Tòa Bạch Ốc đã từ chối thảo luận về phản ứng của Obama đối với tay Sang. Với công chúng thì hai vị lãnh tụ đồng ý đưa ra một tuyên bố (nhạt nhẽo) công khai, có lưu ý là họ sẽ ra chỉ thị để các phụ tá sẽ cật lực hoàn tất cho được hiệp ước TPP vào cuối năm nay. (tuy nhiên, Tòa Bạch Ốc cũng đã từng tuyên bố như vậy trong năm ngoái, và cũng như vậy trong năm 2011 mà thôi. Lần này thì Froman đoan chắc với mọi người là kỳ này, chính quyền thực sự không có nói láo đâu).

Các Tín Hiệu từ Hoa-thịnh-đốn

Đôi chút chi tiết được biết về những gì mà Obama đã tuyên bố trong cuộc họp thì cũng đã được tiết lộ cho Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam là David Shear, người đã có từng thuyết trình cho một nhóm Mỹ kiều gốc Việt đầy uy tín ở Hoa-thịnh-đốn, vùng ngoại ô của  D.C. Virginia vào ngày 16 tháng 8. Shear tiết lộ là chính quyền Obama coi các cuộc đàm phán TPP là “cực kỳ quan trọng”. Vị Đại sứ có nói thêm: “Nhưng nếu mà không có được những “tiến bộ trông thấy được về nhân quyền” của Hà Nội, thì “chúng tôi cũng sẽ không thể nào mà có được sự hỗ trợ của Quốc hội” cho một thỏa ước TPP đâu.

Shear kể lại là đề tài nhân quyền đã được đưa ra tới hai lần trong buổi gặp mặt Obama – Sang. Theo ông ta thì lần đầu, là khi nêu đến một cách tổng quát  tính cách ràng buộc của các vấn đề nhân quyền như là chìa khóa khả dĩ rồi đây, mới có thể giúp tăng cường được các mối quan hệ về kinh tế và an ninh.

image031

David Shear  

Vẫn theo vị đại sứ, lần thứ nhì để nêu lên đề tài nhân quyền là, sau khi Sang bày tỏ mong muốn của Việt Nam để được mua vũ khí ‘sát thủ’ của Hoa Kỳ. Obama đã tuyên bố: “Nếu quý vị muốn được mua loại đó, thì quý vị cần phải cải thiện các sinh hoạt có liên hệ về nhân quyền của quý vị mà thôi”. (Một bản ghi đầy đủ các nhận xét của Shear thì vẫn chưa được cho đăng trên trang ‘web’ của Tòa Đại sứ Hoa Kỳ).

Do nơi cái thành tích về nhân quyền của Hà Nội hiện nay thì vẫn đang không có gì là thuận lợi, khi mang so với các nước láng giềng châu Á của Việt Nam – thậm chí cái xứ rất ư là nổi tiếng Campuchia, thì cũng đã tổ chức các cuộc bầu cử, trong khi Myanmar thì vẫn đang cố gắng thả khỏi tù những tù chính trị của họ – thì quan điểm nêu lên này của Obama, quả đáng phải ghi nhận mà thôi. Nay thì chắc cái Bộ Chính trị cũng đã phải đang tự hỏi, liệu sẽ có gì mà lợi lộc cho đất nước hay không, qua việc tiếp tục bỏ tù hơn cả tới 160 tù nhân chính trị ôn hòa, mà “tội ác” đã chỉ là đơn giản muốn thi hành các quyền cá nhân của họ, hầu được tự do phát biểu về chính trị, cũng như được quyền tự do ôn hòa tụ hợp trong vòng luật pháp.

Nhưng chính ngay các thành viên Bộ Chính trị mà đang chủ trương cần phảo bảo vệ nhân quyền, thì rồi cũng phải tự được hỏi, tại sao họ cần phải ký vào một thỏa thuận TPP, mà rồi sẽ chỉ mang lại những lợi lộc về kinh tế không có gì là rõ ràng cả.

Những Thương Thuyết Bí Mật “Thế Kỷ 21”

Cũng có phần chắc chắn là một số quy định trong cuộc đàm phán TPP thì cũng sẽ rõ ràng cho thấy được là để nhằm thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam. Việt Nam đã cứ mãi phải vật lộn với cái nhiệm vụ chính trị khó khăn, hầu làm sao cải cách cho được cái nền kỷ nghê quốc doanh cực kỳ vô hiệu quá ư là nổi tiếng của cái đất nước này, trong suốt cả hai thập niên qua.

Nói chung thì các quốc doanh Việt Nam đều chỉ là những cái hố đen chuyên ngấu nghiến hút mất tiền của, cũng như là đang kéo trì trệ hơn cả một phần ba nền kinh tế của đất nước. Khi Tòa Bạch Ốc Obama ‘quảng cáo’ thương ước TPP như sẽ là một thương ước với “tiêu chuẩn cao của thế kỷ 21”, mà rồi sẽ là khuôn mẫu tuyệt vời cho nền giao thương trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương, thì các quốc doanh tức thì bị lưu ý tới liền.

Nhưng ngoài các lời tự khen, thì Tòa Bạch Ốc vẫn cứ đã từ chối giải thích cho công luận đang chú tâm, về bất cứ chi tiết nào cả có liên hệ tới những đòi hỏi buộc phía Việt sẽ phải thi hành. Quả thật là một điều quá ư trớ trêu, khi mà Tòa Bạch Ốc thì cứ khăng khăng đòi hỏi Việt Nam cần phải mở rộng nền kinh tế sao cho thuận lợi với tiêu chuẩn cung cầu hơn, nhưng cũng cứ ngược lại, tuyên bố nội vụ là bí mật nhà nước.

 Và Rồi Tiêu Chuẩn “Yarn Backward”

Điều mà Hà Nội mong muốn nhất với thương ước TPP, là Hoa Kỳ cắt giảm mức thuế nhập cảng cao trên giày dép và quần áo. Bây giờ thì quả thật đang xảy ra một đổi thay về vai trò ở đây. Đám cộng sản tại Hà Nội thì đang gây sức ép để được tự do gia nhập vào các thị trường đang được bảo vệ của Mỹ. Phía Mỹ thì lại đang đòi hỏi là nhà nước thì phải có quyền kiểm soát. Và cái khái niệm kinh tế đó được gọi là “yarn forward“, nhưng chính sách kinh tế kiểu này thì quả là không chịu nhìn về tương lai mà thôi.

Như tôi đã tường thuật trước đây, thực dân Pháp ở thế kỷ 19, đã từng bắt các công dân thuộc địa Việt của họ, phải cung cấp cho mẫu quốc các loại hàng dệt may. Các phương án ưu tiên của đế quốc chỉ là để hỗ trợ cho chính sách đô hộ về kinh tế của Pháp tại Đông Dương – và cũng từng là nguồn cảm hứng cho phong trào dành độc lập của Việt Nam mà thôi.

Nay thì Mỹ lại đang đòi hỏi như vậy với TPP. Việt Nam sẽ chỉ được nhập cảng miễn thuế các mặt hàng áo quần và giày dép vào Hoa Kỳ, chỉ nếu đã dùng sợi và vải mua từ một quốc gia thành viên trong TPP – dịch rõ ra là: từ các nhà máy đang thoi thóp tàn lụi ở miền Nam Hoa Kỳ, chớ không phải là các nước bên ngoài TPP như là Trung Quốc chẳng hạn.

Ta cũng không cần phải tốt nghiệp cừ nhân về kinh tế học thì mới thấy rõ được các sai lầm tiềm ẩn đâu đây. Ngoài những kẻ tự bịt mắt, không chịu nhìn nhận thực tế, là các nhà máy dệt Mỹ đã không còn khả năng cạnh tranh từ lâu nay rồi trên thị trường thế giới, thì sự kiện này hoàn toàn vô nghĩa lý về kinh tế. Tại sao lại có một cái Tòa Bạch Ốc mà lại đi áp lực các thương hiệu như là Levis hay Gap phải đi mua loại vải ‘denim’ (dày) cho họ từ các nhà sản xuất của Hoa Kỳ, để rồi sau đó, lại phải chở bằng đường thủy, xuyên qua cả Thái Bình Dương, để đến cho được Đông Nam Á? Tại sao mà thậm chí, Obama còn dám có ý tưởng tạo áp lực, cố gắng buộc nhà sản xuất đồ lót khổng lồ Hanes Brands phải chấm dứt dịch vụ cung cấp nguyên liệu cho các xưởng của họ tại Việt Nam bởi các nhà sản xuất đã ổn định từ lâu nay của Hanes ở Trung Quốc hay Thái Lan? Tại sao lại có ai đó, trong cái Tòa Bạch Ốc, mà lại có quyền, để phá vỡ các hệ thống dây chuyền cung cấp nguyên liệu trên toàn cầu của các đại tổ hợp có uy tín của Mỹ được như vậy?

Đại diện Thương mại của Hoa Kỳ là Froman đã từ chối yêu cầu, mà đã từng được lặp đi lặp lại nhiều lần, để giải thích cho chính xác, lý do tại sao “yarn forward” rồi đây sẽ mang lại nhiều mối lợi lộc kinh tế tốt nhất cho Việt Nam.

Tôi cũng đã có yêu cầu vị Đại sứ Hoa Kỳ là, liệu ông sẽ có thể nêu lên được cái điểm nào, mà sẽ mang lại lợi lộc cho nền kinh tế Việt Nam, với cái quan niệm “yarn forward” hay không. Shear đã phải ở một vị trí ngoại giao khó xử, khi muốn bênh vực quan điểm của Tòa Bạch Ốc về “yarn forward” với Việt Nam. Shear đã từ chối bênh vực tính cách hợp lý của quy chế “yarn forward” trong chốn công khai. Vị Đại sứ đã chỉ đề nghị nên hỏi vị thương thuyết gia là Froman, nhưng đương sự này thì cũng đã chỉ từ chối bình luận mà thôi.

[Đại sứ Shear từng rất nổi tiếng là một nhà ngoại giao chin chắn, tuy là một người không thuộc môn phái cá nhân. Hành vi cố tình không trả lời của ông, thì có thể được hiểu như là một cái nháy mắt về ngoại giao, và cũng truyền đạt được sự chán ghét của mình trong toàn nội vụ. Trong các cuộc họp riêng tư với các giám đốc điều hành của những công ty Hoa Kỳ, Shear thì cũng tuân theo chủ trương của Obama, nhưng xuyên qua loại ngôn ngữ bằng ‘cơ thể’, thì ông cũng đã gợi ý lên cho thấy sự khó chịu của mình rồi].

Trong khi đó, thì Tòa Bạch Ốc cũng đã yêu cầu các nhà sản xuất quần áo của Mỹ phải cung cấp các tin tức bí mật về hoạt động của các hệ thống dây chuyền cung cấp nguyen liệu trên toàn cầu của họ. Vì yếu bóng vía, nên các công ty đã, trên căn bản chịu khuất phục trước đòi hỏi này. Văn phòng của vị Đại diện Thương mại Hoa Kỳ thậm chí còn có một trang ‘web’ đặc biệt dành cho các công ty để tiết lộ các bí mật về kinh doanh của họ cho chính phủ. Nhờ có quyền truy cập vào các dữ liệu độc quyền tư nhân này, mà Froman và các phụ tá, đã có được khả năng để ra chỉ thị cho các kỷ nghệ quốc nội là phải mưu tìm nguyên liệu của họ nơi nào (miền Nam nước Mỹ) và nơi nào mà họ không được quyền (Trung Quốc).

Các nhà nhập khẩu áo quần của Mỹ, hiện nay thì lại đang phải vật lộn ở phía sau hậu trường, để được nhận các miễn trừ đặc biệt chỉ cho riêng họ từ Tòa Bạch Ốc. Các nhóm vận động hành lang cho các công ty thì lại đang cố tìm cách, để bảo vệ được phần nào đó, các hệ thống dây chuyền cung cấp nguyên liệu trên thế giới của họ hầu để cho Tòa Bạch Ốc sẽ không đụng tới.

Dỉ nhiên, ngay cả với những hạn chế mà rồi đây, TPP sẽ được chính phủ liên bang cho phép, các luật lệ rồi thì sẽ luôn luôn vẫn có thể bị thay đổi một cách bất thình lình, chiếu theo các tính khí bất thường đầy tính quan liêu hành chánh. Các công ty Mỹ sẽ có thể ngăn chặn được toàn nội vụ cứ tiếp diễn, nếu mà họ có được can đảm để chấm dứt thái độ bưng bô – điều mà họ đã không bao giờ hề có can đảm để làm được, trong những lần đàm về phán thương mại của Hoa Kỳ trước đây.

Bôi Bác Trung Quốc

Tòa Bạch Ốc đã không thuyết phục được ai cả, khi phủ nhận là thương ước TPP là một phần của chiến lược bao vây kinh tế nhằm chống lại Trung Quốc. “yarn forward” lần đầu tiên đã được gồm trong thỏa ước ưu đãi về thương mãi của Hoa Kỳ với Mexico vào đầu thập niên 1990, và sau đó, là với các quốc gia Mỹ La-tinh khác. Quan điểm này vào lúc đó, cũng như bây giờ, là làm sao chận lại các hàng nhập cảng của Trung Quốc, và sau đó, của các quốc gia châu Á khác.

Chính sách đó đã thất bại mà thôi. Các quy định đã quá ư là lượm thuợm, đến mức mà, chỉ có độ 17 phần trăm của giao thương với châu Mỹ La-tinh mới đã bị chi phối bởi “yarn forward” mà thôi. Các công ty thì đa số, đã chấp nhận trả mức thuế cao, thay vì phải gồng mình làm cho xong được mọi thủ tục về giấy tờ.

Giảm Căng Thẳng Cho Phi Châu

Khi Phi châu đang trong vòng thương thuyết về đạo luật Africa Growth and Opportunity Act (Tăng trưởng và Cơ Hội cho Phi châu) dạo những năm 1990, thì nhóm Black Caucus tại Hạ viện cũng đã từng kiệt liệt phản đối các quy định về “yarn forward”, bởi  vì họ nghỉ là nguyên tắc này xúc phạm họ. Các dân biểu như là Charles Rangel, đảng Dân chủ đại diện cho khu phố Harlem, New York, đã từng lớn tiếng nổi giận tuyên bố là “yarn forward” nồng nặc mùi thực dân. Thêm nữa, Rangel đã phản đối là, khi đi quy định như vậy, thì thậm chí còn đúng là phân biệt chủng tộc. Do đó, các thương ước AGOA đã có cho phép châu Phi được quyền mua bông và các loại vải khác từ Trung Quốc, hoặc bất cứ nơi nào, miễn là cuối cùng, thì thành phẫm về quần áo phải là được “cắt và may” ở châu Phi. Còn trong các cuộc đàm phán về TPP, thì bất cứ điều gì mà không đáp ứng được rõ ràng quy tắc “cắt và may”, thì rồi cũng sẽ cản trở tiềm năng xuất cảng của Việt Nam mà thôi.

Một sự mỉa mai cay đắng khác cho Việt Nam: ngày nay thì dân biểu Rangel và các nhà lập pháp Mỹ gốc Phi khác, lại đang vận động để Obama áp đặt vào Việt Nam chíng cái quy tắc “yarn forward” mà trước đây, họ đã từng cáo buộc là mang tính thuộc địa cùng phân biệt chủng tộc. Và các nước Trung Mỹ, như là Cộng hòa Dominica, mà không thuộc trong TPP, trong mưu đồ giữ xa các quốc gia Á châu để khỏi bị cạnh tranh, thì cũng nhảy vô ăn có với Việt Nam.

Ấy vậy, vẫn không hề nản lòng, tại Brunei trong tuần trước, thương thuyét gia Froman đã cứ khẳng định là các quy định về “yarn forward” vẫn là “cốt lõi” của điều mà Hoa Kỳ muốn có trong thương ước TPP. Ông ta vẫn cứ tiếp tục không chịu công bố bất kỳ chi tiết thực sự nào về TPP, ngoài việc đánh hỏa mù bằng cách tuyên bố nó sẽ là một kiểu mẫu về giao thương với “tiêu chuẩn cao, của thế kỷ 21”.

Giới tài chánh có hiểu biết, thì rồi cũng sẽ đánh cá là Việt Nam cuối cùng cũng phải ngậm đắng nuốt cay, mà chấp nhận một thương ước TPP bớt cứng rắn, hầu giúp cho họ thêm chút ít khả năng khiêm tốn, hầu xâm nhập thị trường giày dép và quần áo Mỹ, trong khi vẫn chịu chấp nhận thi hành, chỉ những nhượng bộ mở cửa thị trường tối thiểu cho người Mỹ mà thôi. Ta hãy cứ gọi đó là thương ước TPP Hạng Lông đi vậy.

Nhưng có lẽ các tay khôn lanh trong Bộ Chính trị ở Hà Nội, hay ít ra thì cũng đủ tay như vậy, sẽ có được cùng một loại quyết tâm mà thế hệ cha ông của họ từng đã có. Dù sao thì các nhà đàm phán Việt cũng phải hiểu, chính Obama mới là người cần một thương ước TPP nhất mà thôi. Liệu tổng thống Mỹ thực sự sẽ để cho TPP thất bại hay chăng, chỉ vì lý do bên Việt muốn bán cho người Mỹ các đồ lót, quần ‘jean’ xanh và giày thể thao nhiều hơn?

Quả đúng là một cảm giác của “déjà vu ~ việc đã thấy”. Dạo năm 1940, Tổng thống Truman cũng đã từng bỏ qua, không thèm lưu ý đến các lời cảnh cáo đầy tính tiên tri từ phía tình báo và các quan chức ngoại giao Hoa Kỳ, khi họ báo cáo sẽ là một sai lầm trầm trọng đối với Mỹ, vì Hoa kỳ sẽ thuộc về bên chiến bại, nếu chống lại phong trào đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân. Nay thì Tổng thống Obama, lại cũng gần như là không thèm để ý gì đến các lời khuyến cáo, và quả là không khôn ngoan chút nào, khi mà có thể gây nguy hại cho  các cuộc đàm phán thương mại quan trọng với Việt Nam – và với vị thế quan trọng của Mỹ ở châu Á – chỉ vì những chính sách quốc nội hạn hẹp mà thôi.

Thật đúng là có những người vẫn cho thấy là họ không bao giờ học được bài học lịch sử của họ.

*****

Trong một văn thơ chính thức gởi cho Bộ Trưởng Ngoại giao Hillary Clinton vào ngày 24 tháng 4 năm 2012, ba dân biểu Dan Lungren (R-CA), Joseph Pitts (R-PA) và Chris Smith (R-NJ) đã đồng ký tên ủng hộ dân biểu Frank Wolf (R-VA) là phải giải nhiệm đại sứ Shear vì đã không chu toàn bổn phận trong việc gây áp lực với VC về vấn đề nhân quyền

https://wikileaks.org/clinton-emails/emailid/20035

(người chuyển ngữ sưu tầm)

▼▼

Tất cả các hình cùng phụ chú là của người chuyển ngữ sưu tầm.

*****

%d bloggers like this: