Roger Canfield’s Americong #76

image002

Comrades in Arms

How the Americong Won the War in Vietnam

Against the Common Enemy— America

Copyright Roger Canfield, Ph.D.

1986-2012

No commercial transaction allowed except that approved by the author, copyright holder.

Obtain a prepublication release of a CD-R in Microsoft Word in ENGLISH at a discounted price of $15 from Roger Canfield as Rogercan@pacbell.net at 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 or at http://americong.com.

Completely SEARCHABLE for any name, date, place or event of the War and its protesters.   

Cover: Design Stephen Sherman. Photos: Roger Canfield, March 2008. TOP: War protest Hawaii, February 1966 displayed at War Remnants (Crimes) Museum, Saigon. Bottom: Praetorian Guard

Các đồng chí cùng chiến tuyến

Làm thế nào MỹCộng thắng cuộc chiến Việt Nam

Chống kẻ Thù Chung – Mỹ

Giữ bản quyền Roger Canfield, Tiến Sĩ

1986-2012

Không được sử dụng vào mục đích thương mại nếu không có sự đồng ý của Tác giả, người giữ bản quyền.

Có thể mua một tiền bản dưới dạng CD-R Microsoft Word bằng Anh ngữ với giá đặc biệt US$15 ngay từ tác giả Roger Canfield theo Rogercan@pacbell.net tại 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 hay tại  http://americong.com.

 

Hoàn toàn có thể TRA CỨU hoặc bằng tên, bằng ngày tháng hay biến cố liên quan đến cuộc Chiến cùng cả luôn bọn tham dự biểu tình .

******************************************************

* Tác giả giữ bản quyền © Roger Canfield 1986-2012

  • Lê Bá Hùng chuyển ngữ  (với sự chấp thuận của Tác giả)

 

*****

Chương 76

Bọn Chủ Hòa Gặp Việt Cộng:

Stockholm, Hà-nội, Vientiane, Ba-lê; 

Gia Đình Tù Binh, Ngã Ra Chết

 

Hội nghị Stockholm – 28 tới 30 Tháng 3 Năm 1970

Vào tháng 2 năm 1970, Ủy Ban Liên Lạc Quốc Tế của Hội nghị Stockholm kêu gọi “thế giới ủng hộ cuộc tấn công mùa thu ở Mỹ và … những sáng kiến ​​của phong trào [phản chiến] Mỹ “. 3404

Từ ngày 28 đến 30 tháng 3 năm 1970, Robert Greenblatt đã tham gia phái đoàn New Mobe tại Hội nghị Stockholm lần thứ năm về Việt Nam. Chúng gồm có William Davidson, Doug Dowd, Carlton Goodlettt, Sylvia Kushner, Irving Sarnoff, Noam Chomsky và Richard Fernandez.

Cùng tham dự đã có thành viên Weatherman Nancy Kurshan Rubin và Anita Hoffman, vợ của hai trong số những tên Chicago Five từng bị kết án là Jerry Rubin với Abbie Hoffman. Cùng theo cũng có Judith Hemblem (hay còn gọi là Judith Clavir) vợ của Stew Albert, một đồng mưu không bị truy tố trong các cuộc bạo loạn nhân lúc hội nghị Chicago.

Các người Mỹ đã gặp đại diện của Hà Nội và bọn Việt Cộng trong MTGPQG. 3405  Hội nghị Stockholm đã thông qua một nghị quyết kêu gọi một phần nào đó cho các kế hoạch hành động trong mọi nước “đang hợp tác với các phong trào phản chiến tại Hoa Kỳ.” New Mobe thúc đẩy hội nghị Stockholm nên hỗ trợ dự án OUT-NOW ~ RA NGAY Đi của các biến cố sắp tới vào ngày 15 tháng 4.

Khi phát biểu tại Hội nghị thì Xuân Thủy đã liệt kê nhiều cuộc biểu tình vừa qua  “và vô số hành động khác nhằm hỗ trợ nhân dân Việt Nam …” của phong trào phản chiến. Phong trào phản chiến “một lần nữa là một nguồn cảm hứng lớn lao cho nhân dân chúng tôi.” Với các cuộc đàm phán đang tiếp chuyển, “như chúng ta mong muốn, phong trào ở Mỹ cho đến nay đã sáng tạo được những cách thức rất phong phú và hiệu quả cho cuộc đấu tranh”.

Các điều kiện của Bắc Việt nhằm chấm dứt chiến tranh đã được Hội nghị biểu quyết chấp thuận – kế hoạch mười điểm, rút quân, lật đổ chính quyền Nam Việt; ngừng ném bom tại Lào và Campuchia. 3406 Tại hội nghị, đề nghị về một hội nghị rộng lớn do Mỹ và Việt cộng đồng tổ chức ở Cuba đã được thảo luận vào chi tiết, kể cả việc lựa chọn 60 tham dự viên, rồi sẽ được xúc tiến hoàn tất tại các cuộc họp trong tháng 4 và 5 tại Hà Nội. 3407

Michael Dobbs, một phóng viên tại Moscow của tờ Washington Post, sau này có tường thuật là KGB đã tài trợ cho đảng CS Mỹ CPUSA để giúp Đảng này có điều kiện hỗ trợ các điệp viên dành ảnh hưởng trong các mặt trận 3408 như New Mobe. Sự kiện Liên Xô trợ cấp tài chính như vậy đã từng xẩy ra trong nhiều thập niên ngay cả cho Mao Trạch Đông, 3409 Hồ 3410 và đảng CS Mỹ CPUSA. 3411

Sau khi được bầu nhờ khẩu hiệu “để làm sạch đống rác rến lộn xộn tại Berkeley”, vào ngày 7 tháng 4 năm 1970, khi được hỏi về bọn quá khích trong các công viên đại học, Thống đốc bang California Reagan đã nói: “Nếu cần phải tắm máu thì cũng đành vậy thôi. Không còn nhân nhượng gì thêm nữa được”. Vì lý do an toàn của sinh viên, để giúp cho những người vô tội có đủ thì giờ ra đi, vị Thống đốc ăn nói rất cứng rắn này đã quyết định cho các cơ sở giáo dục cao cấp của tiểu bang California được đóng cữa nguyên trong một cuối tuần dài hơn thường lệ. 3412

Trong khi đó, Ủy ban May Day ở Seattle thông báo là Jennifer Dohrn vừa trở về từ Algeria sau khi gặp gở tên sư phụ chuyên chơi xì ke đang ráng giải cứu tụi Weather là Timothy Leary và giáo sư Doug Dowd, “vừa mới trở về sau khi ở với người Việt tại Hà Nội”, và cả hai sẽ nói chuyện vào ngày 8 tại buổi tọa đàm ở  HUB và HUB Ballroom thuộc Đại học Washington. 3413 Trên thực tế thì Dowd vẫn chưa hề đến Hà Nội, nhưng thông báo sớm cái kiểu này thì sẽ có thể thu hút được nhiều người tham dự hơn.

Hà Nội – Chomsky, Dowd, Fernandez – Ngày 13 và 14 Tháng 4 Năm 1970

Ngày 13 tháng 4 năm 1970, tại một cuộc biểu tình ở Hà Nội để “chào đón chiến dịch mùa xuân của Nhân Dân Mỹ” nhằm chống lại cuộc chiến tranh sẽ xẩy ra ở Washington và trên toàn quốc, Noam Chomsky, Douglas Dowd và Mục sư Richard Fernandez (CALC và COLIFAM) đã đọc những bài diển văn được phát  trên Đài phát thanh Hà Nội. 3414 Bộ ba đã đi quan sát bệnh viện Phủ Lý bị phá nát và một khu vực bị hư hại nặng gần cầu Hàm Rồng. 3415

Những Tên Thù Mỹ: Chomsky và Dowd.

Trên Đài phát thanh Hà Nội vào ngày 14 tháng 4 năm 1970, Chomsky đã mô tả, “những tàn tích của nhà dân cùng bệnh viện, làng mạc thì tan hoang do không tạc dã man …”. Y đã nhìn thấy, “đặc điểm mọi rợ của một con quái vật kỹ thuật được điều khiển bởi một tầng lớp xã hội là đám câm quyền đế quốc Mỹ ….”. Căm thù Mỹ, Chomsky đã bày tỏ, “niềm cảm xúc sâu xa … cho sự đau khổ của nhân dân Việt Nam” gây ra bởi nạn xâm lược Mỹ. Y ngưỡng mộ “nhân dân Việt Nam” đã thực hiện được “những bước tiến lớn về tương lai theo đường hướng  xã hội chủ nghĩa”.

Chomsky đã nói:

Lòng can đảm và các thành tích của quý bạn đã dạy chúng tôi là chúng ta phải cùng quyết tâm dành chiến thắng – không chỉ để giành chiến thắng trong cuộc chiến chống lại xâm lược Mỹ ở Đông Nam Á, mà cũng còn là cuộc chiến chống lại việc khai thác và phân biệt chủng tộc tại đất nước của chúng tôi.

Với thời gian … rồi thì một ngày nào đó sẽ một cuộc cách mạng xã hội … xẩy ra   mà phần lớn chính nhờ nhân dân Việt Nam đã chỉ cho chúng tôi con đường phải đi”. 3416   

 

Doug Dowd thì tuyên bố: “Một trong những mối hận thù không gột rữa được mà tôi sẽ phải mang theo suốt phần còn lại của đời tôi là [đối với] chính phủ Hoa Kỳ về những gì họ đã gây ra cho những người này … chỉ hoàn toàn cực kỳ dã man không thể nào mà tin được …”. 3417 Cả một thế hệ của căm thù chính đã là một mục tiêu chính của ngay bọn cán bộ VC và là một di sản vẫn còn tiếp tục của cuộc chiến Việt Nam.

Gặp Các Tù Binh: Schweitzer, Wilber, and Miller.

Chomsky, Dowd và Fernandez đã có nói chuyện với ba tù binh – Trung Tá Hải Quân Cdr. Robert Schweitzer, Trung Tá Hải Quân Cdr. Walter Wilber và  Trung Tá Edison Miller.

Cùng gặp nhau trong một căn phòng lớn có đặt ba cái bàn, Fernandez đã cho biết “Hai phần ba của cuộc trò chuyện là về phong trào chủ hòa mà đã hấp dẫn các tù binh [Miller, Wilber, Schweitzer] hơn là Fernandez với Dowd”. Dowd cho biết là các tù binh “sinh động và thân thiện và muốn chiến tranh kết thúc để họ có thể về nhà.” Việt cộng có nói là ba tù nhân đó đã chịu hợp tác. Các tù binh đều  “đã được giáo dục bằng sách báo phản chiến”.

Thời khóa biểu hàng ngày của họ thì là giải trí, ngủ trưa, bác sĩ khám sức khoẻ  mỗi buổi sáng và được nghe Đài phát thanh Hà Nội.

Fernandez nói với một người vợ tù binh là các tù nhân “rõ ràng đã bị móm lời phải nói gì bởi bọn cai tù”. Trên thực tế, Walter Wilber và Edison Miller đều là thành viên nhiệt tình của POW Peace Committee (Ủy ban Hòa bình Tù binh) và tên tù binh Schweitzer từng bị thù ghét – nhưng sau này đã ăn năn và được tha thứ – đã vừa bị ép thu xong chương trình để phát thanh cùng phải ký các báo cáo. 3418 Fernandez cho biết họ sức khỏe tốt, thường xuyên hoạt động và đã có sách báo để đọc. 3419 Fernandez hứa sẽ gởi bản viết các cuộc phỏng vấn tù binh của y cho một người vợ tù binh nhưng bà ta đã không bao giờ nhận được.

Không Hề Được Giúp Đở Về Các Quân Nhân Mỹ Bị Mất Tích Trong Chiến Trận MIA

Fernandez đã đưa ra một danh sách 87 quân nhân bị liệt kê mất tích trong chiến trận cho Việt cộng nhưng chúng đã từ chối cung cấp tin tức của bất kỳ ai có tên trong danh sách đó.

Về sau khi gặp vợ các tù binh tại Virginia Beach, Fernandez đã cho biết Việt cộng không chịu hợp tác và họ đã có hơn 335 tù binh mà bây giờ họ đã chịu thừa nhận. 3420

Trong một bức thư ngày 4 tháng 5 năm 1970, Fernandez đã rất chu đáo tiết lộ cho các gia đình những quy tắc chính xác mà Việt cộng đã áp dụng. Thơ phải phù hợp với một mẫu thư ngắn chỉ sáu hàng, chỉ nói về gia đình và sức khỏe và bị giới hạn một thư mỗi tháng mà thôi cùng một bao quà được phép nhận nặng không quá sáu bảng Anh mổi tháng, tất cả đều phải ghi địa chỉ “Qua ngõ Moscow, Liên bang Xô Viết”.

Cả Công ước Geneva cũng như Hồng Thập Tự Quốc Tế đều không cho phép những  hạn chế như vậy.

Cuộc hành hương của bọn tín hữu đi Hà Nội thì vẫn cứ tiếp tục.

Viện Nghiên Cứu Các Chính Sách – Hà Nội Ngày 12 Tháng 4 Năm 1970

Vào ngày 12 tháng 4 năm 1970, một toán thuộc Viện Nghiên cứu Các Chính sách – Charlotte Bunch-Weeks, Gerald Shin, Frank Joyce và Elisabeth Sutherland-Martinez  đã rời Washington để đi Hà Nội trong vòng 10 ngày. 3421

Gerri Schwill đã viết cho đám anh chị em của y trong Committee of Returned [Peace Corps] Volunteers, CRV về việc người Việt Nam “đã chiến thắng vĩ đại với thành quả buộc được Mỹ phải ngưng bỏ bom, về các tiến bộ của họ trong việc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và hiện trạng của phong trào phản chiến Mỹ”.

Nhóm IPS cũng có gặp bọn CS Lào, Campuchia, Việt Nam và Bắc Việt – tay sẽ dành được giải Hòa bình Lê-nin là Nguyễn Hữu Thọ với Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Về phía nam của Hà Nội, thì “Tất cả mọi tường thuật … đều đã không nói lên được … sự tàn phá”. Đúng ra, ở đó chỉ là nạn diệt chủng và nạn tàn phá môi sinh. 3422

Charlotte Bunch Weeks thì tuyên bố với Chicago Women’s Liberation Union (Hội Liên hiệp Phụ nữ Giải phóng Chicago) là chủ nghĩa xã hội ở Bắc Việt đã thống nhất được chính trị với văn hóa. Y thị có quan sát được thành phố Vinh bị phá hủy kinh khủng vì bom nhưng Bắc Việt vẫn đang chiến thắng, Mỹ phải chấp nhận thất bại và phải rút toàn quân đi. 3423

Kỹ Nghệ Giải Trí Về Hòa Bình Và Công Lý

Để chuẩn bị cho các buổi lễ liên hoan mừng May Day 1970 cùng các biến cố khác tại Hollywood, Jane Fonda, Shirley và Donald Sutherland đã thành lập công ty Entertainment Industry for Peace and Justice, EIPJ. 3424

Bọn khác tham gia EIPJ  thì có Barbara Bain, Dick Benjamin, Peter Boyle, Gower Champion, Tyne Daly, Gordon Davidson, Cass Elliott, Ruthie Gorton, Lou Gosset, Dick Gregory, Burt Lancaster, Dalton Trumbo, Don Johnson, Martin Landau, Sue Lyon, France Nguyễn, Phil Ochs, Suni Paz, Paula Prentice, Bert Schneider, George Takei, Marlo Thomas, Tuesday Weld, Linh mục Cecil Williams, Jon Voight và Robert Wise.

Công ty EIPJ của Fonda đã cho in những truyền đơn quảng cáo cho một biến chuyển vào ngày 23 tháng 5 năm 1970 tại Hollywood Bowl với tên gọi là “Acting in Concert to End Genocide and Repression ~ Cùng Nhau Kết thúc Nạn Diệt chủng và Đàn áp”. Fonda, bọn Sutherland và những tên khác khi sữa soạn việc này đã dành quá nhiều thì giờ chỉ để tự phê và tự kiểm. Trong khi đó, vì thiếu kế hoạch đầy đủ, vụ EIPJ này có vẻ như sẽ chắc chắn chỉ là một thảm họa mà thôi.

Fonda và đám bạn bè rời rạc của y thị đã được kịp thời cứu thoát nhờ sự can thiệp của các đảng viên đảng Dân chủ có khuynh hướng tự do mà chúng từng thù ghét. Hội đồng Thành phố Los Angeles hăm không cho chúng sử dụng Hollywood Bowl để tổ chức. Tuy được cứu nhưng sự kiện này rồi cũng đã phai nhạt dần đi. Tại một cuộc họp trong tháng 6 của EIPJ, Jane đã nói với bạn bè trong băng là, “Điều cần thiết chính là Việt Cộng phải chiến thắng”. 3425

Chỉ sau này thì Jon Voight mới sẽ mô tả làm sao mà ông “đã bị bao quanh toàn bởi những bọn nặng mùì chủ nghĩa Mác …, rất, rất là sâu đậm bị ảnh hưởng”. 3426 Ông đã kết luận là “tuyên truyền theo chủ nghĩa Mác đã là căn bản của cái gọi là phong trào chủ hòa”. Ông đã nói với Glenn Beck,” Tôi thậm chí cũng không nhận ra điều này vào thời điểm đó … bọn cộng sản đã đứng phía sau để tổ chức tất cả các cuộc biểu tình và tật cả mọi việc”. 3427

John Kerry Đi Gặp Việt Cộng ở Paris, Tháng 5 Năm 1970

Theo lời John Kerry và Gerald Nicosia, vào cuối tháng 5 năm 1970, nhân tuần trăng mật, Kerry và người vợ mới Julia Thorne đã có gặp 3428 đoàn đại biểu từ Việt Nam và thảo luận về việc chấm dứt cuộc chiến Việt Nam.

Một mật báo viên của các nhóm phản chiến tên Max Friedman đã chỉ cho thấy là cần phải đã có sẳn những móc nối lien lạc đặc biệt trước đó rồi, thì mới có thể thu xếp loại họp hành này. Sau đó Kerry có tiết lộ, “Đó không phải là một việc tình cờ xẩy ra vào tuần trăng mật của bạn”. 3429  “Tôi đã đến Paris. Tôi đã có nói chuyện với cả hai đoàn đại biểu tại các cuộc hòa đàm, có nghĩa là Cộng hòa Dân chủ Việt Nam và Chính phủ cách mạng lâm thời (PVR)”. Hãy lưu ý chi tiết “cả hai phái đoàn” trong tuyên bố của y đã không hề nhắc tới hai phái đoàn Mỹ và Nam Việt. Tuy vậy, sau này y đã tuyên bố khác lại, John Kerry thì đã quyết định để chỉ nói chuyện với địch trong khi chúng đang đối địch với nước mình.

Liên đoàn War Resisters League, WRL đã xác định chính David Dellinger đã là  liên lạc giữa John Kerry và Việt cộng. Tình báo Pháp cho biết Kerry đã gặp Lê Đức Thọ của Cộng hòa Dân chủ Việt Nam, đại diện cá nhân của Hồ Chí Minh. 3430 Gerald Nicosia thì cho biết là John Kerry cũng đã có gặp Nguyễn Thị Bình để thảo luận về kế hoạch hòa bình của Việt cộng.

Kerry ít ra rồi cũng có đi Ba-lê để gặp Việt cộng trong năm 1971 3431 và cũng có dự tính gặp chúng thêm vào các năm 1971 và 1972.

Toronto: Hội Nghị Luật Gia Thế Giới về Việt Nam, 22 tới 24 Năm 1970

Từ ngày 22 đến 24 tháng 5 năm 1970, Ủy ban Lawyers Committee on American Policy Towards Vietnam ~ Luật sư về chính sách của Mỹ với Việt Nam (Joseph H. Crown, William Standard, Richard Falk) có tài trợ một hội nghị Luật gia Thế giới về Việt Nam, sau lại đổi tên thành Hội nghị Luật sư về Việt Nam, Lào và Campuchia, tại Glendon College, đại học York ở Toronto, Canada mà đã quy tụ khoảng 100 luật sư Hoa Kỳ và 50 luật sư nước khác, một số đến từ Việt Nam. (Gã Trần Công Tường do Hồ đở đầu cũng có nhận lời mời).

Mục đích duy nhất của Hội nghị chỉ là để lên án các tội ác chiến tranh của Mỹ. Lệ phí tham dự chỉ 11$ đã được tài trợ như là cho không về tiền phòng và ăn uống thì đã được tận dụng bởi các hội viên của National Lawyers Guild ~ Hội Tương Trợ Luật sư Quốc gia, Clergy and Laity Concerned About Vietnam ~ Giáo Sĩ và Giáo Dân Ưu Tư về Việt Nam, Law Center for Civil Rights ~ Trung tâm Dân Quyền (Peter Weiss và Morton Stavis), National Committee for a Citizens’ Commission on Inquiry on United States War Crimes in Vietnam ~ Ủy ban Quốc gia cho một Ủy ban Công dân Điều tra về Tội ác chiến tranh của Hoa Kỳ ở Việt Nam (Tiến sĩ Howard Levy, Noam Chomsky, Ralph Schoenman, Eric Seitz), và Education/Action Conference on U.S. Crimes of War in Vietnam (CALC, AFSC) ~ Hội nghị Giáo dục / Hành động về tội ác chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam . 3432

John H. Vincent đã viết trong Twin Circle, một tờ báo Công Giáo: “Với một sự trùng hợp kỳ lạ”, hội nghị đã có cùng các mục tiêu như của Cộng Sản trên toàn thế giới. Chương trình nghị sự tại hội nghị là: Tính cách bất hợp pháp và vô đạo đức của chương trình Việt Nam hóa và Bình Định Nông Thôn; Áp dụng các nguyên tắc Nuremberg đối với chiến tranh Việt Nam; Chiến tranh Sinh vật học và Hoá học; Các Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ: Lừa dối …: Các Bồi thường …..

Hà-nội Từ Chối Không Nhận Thơ Gởi Các Tù Binh – Tháng 6

Vào đầu tháng 6, ba thành viên của AFSC, Seattle là Kenneth Kirkpatrick, Mark S. Patshne và Egbert W. Feiffer đã mang đi Hà Nội 700 lá thơ.

Trần Trọng Quát đã từ chối mọi thơ gởi cho bất kỳ người nào mà không có tên trong danh sách chính thức 335 của chúng. Quát cũng bác bỏ bất cứ thơ từ nào đến từ Lào, Campuchia hay Nam Việt, nơi Bắc Việt vẫn từ chối không thừa nhận mình đã có bộ đội hay có ảnh hưởng đến các lực lượng giải phóng ở đó. Kenneth Kirkpatrick bèn chỉ còn cách chuyển những lời hối tiếc chân thành của mình đến các gia đình có thơ bị từ chối không nhận. 3433

Bất kể khuyến khích cần hợp nhất với nhau của Hà Nội, các phe phái cộng sản khác nhau trong phong trào chủ hòa đã vẫn liên tục cắn xé nhau.

Vào giữa năm 1970, New Mobe tan rã thành People’s Coalition for Peace and Justice, PCPJ (Liên minh Nhân dân vì Hòa bình và Công Lý) với National Peace Action Coalition, NPAC (Liên minh Quốc gia Hành động cho Hòa bình). NPAC từng có khuynh hướng Trotskyite và chỉ bận tâm tới một vấn đề duy nhất là tổ chức về Việt Nam. Các thành viên CS Trotskyite SWP là Patricia Grogan và Syd Stapleton chính là những tên từng ký các chi phiếu cho Liên minh Quốc gia Hành động cho Hòa bình NPAC. 3434 Vào tháng 3 và tháng 4 năm 1971, Sydney R. Stapleton thuộc SWP đã ký các hợp đồng thuê văn phòng ở 1029 Vermont Ave. NW cho cả Liên minh Quốc gia Hòa bình và Liên minh Nhân dân vì Hòa bình và Công Lý. Vào tháng 3 năm 1971, Brad Lyttle thuộc WRL mà cũng là một tên theo chủ nghĩa Mác trong các mặt trận CS, đã ký hợp đồng thuê văn phòng cho National Action Group (Nhóm Hành động Quốc gia) cũng ở số 1029 Vermont Ave., NW. 3435

Richard H. Ichord, Chủ tịch Uỷ ban Hạ viện Committee on Internal Security về An ninh Quốc nội đã cho biết NPAC đã “không quan tâm dến việc tìm kiếm hòa bình ở Việt Nam, ngoại trừ theo các điều kiện của địch mà thôi” 3436 và PCPJ thì cũng vậy.

Ủy ban Committee of Returned Volunteers, CRV đã báo cáo trong ngày 22 tháng 8 năm 1970 trên đài Liberation News Service là một “Ủy ban quốc tế” gồm độ 10 tới 15 tên lãnh tụ của New Mobe đã tự “tồn tại bằng cách lựa người cho các chuyến đi hoặc cho các cuộc họp với Việt cộng và sau thì sẽ lôi kéo dụ họ gia nhập Ủy Ban khi họ trở về … “. 3437 Cũng rất có thể là chính Việt cộng mới đã chọn PCPJ làm phương tiện để chọn lọc các ứng viên hầu cho liên lạc với chúng. Việt cộng đã có thể kiểm soát thơ từ, tù binh và luôn du khách đến Việt Nam nhờ sự hỗ trợ hữu dũng của các tên gián điệp đáng tin cậy của chúng trong PCPJ và những  nơi khác.

Mặc dù các bọn phản chiến mà Hà Nội đã lựa chọn và đã xem như là các “đồng chí-cùng-chiến-tuyến” (“comrades-in-arms”) đã có thể đi lung tung khắp thế giới mà không bị hề hấn gì thì ngược lại, các chiến dịch của Hà Nội ở Nam Việt đã được đáp ứng rất là đầy đủ.

*****

3404  William T. Poole, The Anti-Defense Lobby, Phần 2: “The Peace Movement, Continued,” Institutional Analysis #11,  19 tháng 9 năm 1979.  

http://www.heritage.org/Research/GovernmentReform/IA11.cfm

3405  “Tài liệu tình báo được giải mật của Chính Phủ Hoa Kỳ liên hệ các móc nối của Weather Undergroung với cộng sản và ngoại quốc. Viện dẫn như là bằng chứng chiếu theo thỏa thuận giữa công tố và luật sư biện hộ trong phiên tòa xét xử W. Mark Felt và Edward S, Miller,” trang 61 tại  www.usasurvival.org

3406  Quý Ngài Hon. John Schmidt, Hon. Fletcher Thompson, Hon. Roger H. Zion, The Viet Cong Front in the United States, Western Islands 1973, trang 154. Nguyên thủy là một phúc trình do ban tham mưu thiểu số và do Quốc hội in vào ngày 21 tháng 4 năm 1971.

3407  James Sherod, “A Case Study of Elitism: A Critique of the Planning and Organization for the Conference with the Indochinese in Cuba, August 1970,” New York Chapter of the Committee of Returned Volunteers, 30 tháng 7 năm 1970. www.jamesherod.info/index.php?sec=paper&id=43&print=y

3408  Reed Irvine và Joseph C. Goulden, “U.S. Communists and U.S.S.R. Gold,” Sacramento Union, 26 tháng 3 năm 1992.

3409 Jung Chang Mao

3410  Robert Tucker

3411  Harvey Klehr.

3412  Tiết lộ: Với tư cách là phát ngôn viên của Republican Associates tại quận Los Angeles, tác giả đã ủng hộ các chính sách của Thống đốc Reagan tại Đại học California; Hãy đọc Republican Associates, “Education is your responsibility. Be Informed.” Truyền đơn của văn phòng các phát ngôn viên, không ghi ngày và tháng trong dạo 1969-70.  

3413  May Day Committee, “Welcome to Spring teach in” Vietnam, truyền đơn cho buồi tọa đàm ngày 8 tháng 4 năm 1971, bộ Sưu tầm War Era Ephemera Collection, Thư viện Đại học University of Washington Libraries, Phân bộ các Sưu Tầm Đặc Biệt Special Collections Division, Hộp 1/5.

3414  Hà-nội bằng Anh ngữ dành cho vùng ĐôngNam Á, 10:00 GMT, 14 tháng 4 năm 1970, Các diển văn của GS Noam Chomsky, Prof. Douglas Dowd và mục sư Richard Fernandez tại Hà-nội nhân buổi biểu tình chào đón chiến dịch mùa xuân năm 1970 của nhân dân Mỹ.

3415  Kevin Hewison, “Noam Chomsky on Indochina and Iraq: An Interview,” Journal of Contemporary Asia, Bộ 37, Số 4, Tháng 11 năm  2007, trang 3.

3416  Radio Hanoi, 14 tháng 4 năm 1970, Asia-Pacific Daily Report, Foreign Broadcast Information Service, 16 tháng 4 năm 1970, trang  K2-K3 tại Trung Tâm U.C. Berkeley Indochina Center và tại  http://www.frontpagemag.com/Articles/Printable.aspx?GUID={13E0EDDB-1412-4012-821F-AB6C4B0BFC6B};

Cũng với Chương trình Hanoi in English to Southeast Asia 10:00 GMT, 14 tháng 4 năm l970. “Speeches by Professor Noam Chomsky, Prof. Douglas Dowd, and Clergyman Richard Fernandez at Hanoi meeting welcoming the 1970 American people’s spring offensive”, có thể truy tìm một phần tại  http://chickenhawkexpress.blogspot.com/2006/09/hugo-chavez-fan-club-cindy-medea-noam.html;

Đọc thêm sách của Anders G. Lewis, “Noam Chomsky: Unrepentant Stalinist,” FrontPageMagazine.com , 12 tháng 4 năm 2004.

3417  Tom Wells, The War Within: America’s Battle over Vietnam, NY: Henry Holt, 1994, trang 162.

3418  Craig Howes, Voices of the Vietnam POWs: Witnesses to Their Fight, New York: Oxford University Press, 1993, trang 110-111, 198.

3419  Richard Fernandez, Gởi: Gia đình của 335 tù binh được ghi nhận tại Bắc Việt,  4 tháng 5 năm 1970.

3420  Steve Halliwell gởi cho Kính Thưa Bà [bị kiển duyệt], bức thư của COLIFAM ngày 20 tháng 4 năm 1970; FBI, đoạn Norfolk LHM không ghi ngày tháng , trang 40-41.

3421  FBI, Văn phòng sở tại gởi cho Giám đốc, COLIFAM, Tin tức liên quan (an ninh quốc nội), NITEL 645, April 17, 1970.

3422  FBI, New York, LHM, COLIFAM,  9 tháng 6 năm 1970, trang 15-18.

3423  “Back from Hanoi,” CWLU News, Newsletter of the Chicago Women’s Liberation Union, 2875 W. Cermak, Phòng số 9, trang 1-2.

3424  Tờ truyền đơn của lúc đó mà tác giả hiện đang giữ. 

3425  Bản chụp của truyền đơn của EIPJ mà tác giả hiện đang giữ.  Đọc:  Bo Burlingham, Esquire, 1977.

3426  Chương trình  Glenn Beck, Fox News, 11 tháng 6 năm  2009.

3427  Jon Voight, bình luận gia độclập (op ed), Washington Times,  28  tháng 7 năm  2008, http://www.washingtontimes.com/news/2008/jul/28/voight/

3428  Scott Swett và Tim Ziegler, To Set the Record Straight: How the Swift Boat Veterans, POWs and the New Media Defeated John Kerry, New American Media Publishing, 2008 trang 5 ghi chú 19 có nêu ra Michael Kornish, Boston Globe,  25 tháng 3 năm  2004 và nhắc tới Michael Meehan, phát ngôn viên của Kerry; “I have been to Paris. I have talked with…” Gerald Nicosia, tác giả của  Home to War: A History of the Vietnam Veterans’ Movement, có kể ra những tài liệu đã bị kiểm duyệt của FBI trong một bài báo trên tờ Los Angeles Times vào ngày 23 tháng 5 năm 2004. Tác giả cũng có nhiều hồ sơ loại này trong một DVD về FBI FOIA VVAW DVD. Thêm nữa, hãy đọc: Fedora, “John Kerry’s Fellow Travelers, Phần 3: Hanoi John: Kerry and the Antiwar Movement’s Connections, www.freerepublic.com/focus/f-news/1241847/posts  với ghi chú số 11 mà đã nêu ra tài liệu của Brinkley, Tour of Duty, trang 340-341; Michael Kranish và  Patricia Healy, “Kerry spoke of meeting negotiators on Vietnam, the Boston Globe, www.bostonglobe.com/news/nation/articles/2004/03/25kerry_spoke_of_meet ; Tháng 3 năm 2004 ( 4 tháng 9 năm 2004); Marc Morano, “FBI Files Show Kerry Met with Communists More than Once,” CNSNews.com www.cnsnews.com//viewspecialreports.asp?page=\special reports\archive\200406\SPE20040604a.html,   4 tháng 6 năm 2004 (18 tháng 6 năm 2004); John E. O’Neill và Jerome Corsi, Unfit for Command: Swift Boat Veterans Speak Out Against John Kerry, Wash DC: Regnery Publishing, Inc., 2004, trang 127-129.

3429  Scott Swett  phỏng vấn  Max Friedman vào tháng 7 năm 2005 được nêu ra trong tài liệu của Scott Swett  và Tim Ziegler, To Set the Record Straight: How Swift Boat Veterans, POWs and the New Media Defeated John Kerry, New American Media 2008, trang 5 ghi chú 21.

3430  “Answer This Question, Mr. Kerry,” Pittsburgh Tribune-Review, Internet service,  17 tháng 10 năm 2004.

3431  Gerald Nicosia, Home to War: A History of the Vietnam Veterans’ Movement, Crown, 2001 nêu ra những tài liệu đã bị kiểm duyệt của FBI trên tờ Los Angeles Times vào ngày 23 tháng 5 năm 2004.

3432  John Ashbrook, Congressional Record—Extension of Remarks, 12 tháng 5 năm  1970, E 4182-3; John H. Vincent, “US Leftist to Hold Parley on U.S. ‘War crimes,” Twin Circle, (Catholic),  17 tháng 5 năm 1970; Lawyers Committee on American Policy Toward Vietnam, “Mark You Calendar”, đóng dấu nhận được ngày  29 tháng 4 năm 1970.

3433  FBI, Milwaukee, phỏng vấn với [bị kiểm duyệt ] vào ngày 13 tháng 7 năm 1970, FD-302, 20 tháng 7 năm 1970; Kenneth Kirkpatrick, Kính Thưa Bà [bị kiểm duyệt] AFSC, 27 tháng 7 năm 1970; Barbara Webster, Kính Thưa Bà [bị kiểm duyệt], COLIFAM, New York, 27 tháng 7 năm 1970.

3434  http://www.wintersoldier.com/staticpages/index.php?page=KGBKerry

3435  National Peace Action Coalition, NPAC and People’s Coalition for Peace and Justice, PCPJ, Phần I, Các Phiên Điều Trần, Ủy ban Committee on Internal Security, Hạ viện, Nhiệm kỳ 92, Khóa 1, 18 tới 21 tháng 5 năm 1971. Washington, D.C., trang 1782-84, US Government Printing Office $1.75.

3436  Hạ viện, National Peace Action Coalition (NPAC) and People’s coalition for Peace and Justice (PCPJ), Nhiệm kỳ 92, Khóa 1, 1971 trang 1446 nêu ra trong tài liệu của Rothrock, trang 115 ghi chú 64.

3437  Nêu ra trong “Answer This Question, Mr. Kerry,” Pittsburgh Tribune-Review, dịch vụ liên mạng, 17 tháng 10 năm  2004; Đọc thêm sách của James Sherod, “A Case Study of Elitism: A Critique of the Planning and Organization for the Conference with the Indochinese in Cuba, August 1970,” Phân bộ New York Chapter of the Committee of Returned Volunteers,  30 tháng 7 năm 1970. http://www.jamesherod.info/index.php?sec=paper&id=43&print=y.

 

*****

Một phản hồi to “Roger Canfield’s Americong #76”

Trackbacks/Pingbacks

  1. Giới thiệu tác phẩm AMERICONG (MỸ-CỘNG) – Lê Bá Hùng | Ngoclinhvugia's Blog - 05/01/2016

    […] Roger Canfield’s Americong #76 […]

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: