Roger Canfield’s Americong #175

image002

Comrades in Arms

How the Americong Won the War in Vietnam

Against the Common Enemy— America

Copyright Roger Canfield, Ph.D.

1986-2012

No commercial transaction allowed except that approved by the author, copyright holder.

Obtain a prepublication release of a CD-R in Microsoft Word in ENGLISH at a discounted price of $15 from Roger Canfield Rogercan@pacbell.net at 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 or at http://americong.com.

Completely SEARCHABLE for any name, date, place or event of the War and its protesters.   

Cover: Design Stephen Sherman. Photos: Roger Canfield, March 2008. TOP: War protest Hawaii, February 1966 displayed at War Remnants (Crimes) Museum, Saigon. Bottom: Praetorian Guard

Các đồng chí cùng chiến tuyến

Làm thế nào MỹCộng thắng cuộc chiến Việt Nam

Chống kẻ Thù Chung – Mỹ

Giữ bản quyền Roger Canfield, Tiến Sĩ

1986-2012

Không được sử dụng vào mục đích thương mại nếu không có sự đồng ý của Tác giả, người giữ bản quyền.

Có thể mua một tiền bản dưới dạng CD-R Microsoft Word bằng Anh ngữ với giá đặc biệt US$15 ngay từ tác giả Roger Canfield  Rogercan@pacbell.net tại 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 hay tại  http://americong.com.

Hoàn toàn có thể TRA CỨU hoặc bằng tên, bằng ngày tháng hay biến cố liên quan đến cuộc Chiến cùng cả luôn bọn tham dự biểu tình .

*****

* Tác giả giữ bản quyền © Roger Canfield 1986-2012

  • Lê Bá Hùng chuyển ngữ  (với sự chấp thuận của Tác giả)

 *****

Chương 175

Các Chuyến Đi Tuyên Truyền Của IPC

Nam Việt Bị Thiệt Hại Nặng

Cho đến đầu 1974 thì Jane và Tom đã lưu diễn đuợc khắp 150 thành phố trong vòng một năm rưỡi trời. 5044 Khắp mọi nơi và trước nhiều cử tọa chọn lọc , chúng đã không ngừng chỉ trích Nam Việt .

Nhưng chúng lại từ chối xuất hiện trên “Panorama”. Người điều khiển chương trình là Maury Povich đã có ý muốn mời những người khác, ví dụ như John McLaughlin, để đối chất với chúng. Povich đã không muốn Tom và Jane lợi dụng một “diễn đàn riêng tư” để “áp chế” mọi người. 5045

Ngược lại, ABC và Dick Cavett lúc đầu đã để Tom Hayden, Abbie Hoffman, Jerry Rubin và Rennie Davis tự do phát ngôn mà không hề tranh luận phải trái. Dù bị phản đối,  Cavett vẫn đã dành đến 90 phút cho Tom cùng bạn bè và chỉ cho Jeffrey St John có 10 phút ngắn gọn hầu đối đáp để bác bỏ chống lại. 5046 Hayden thì đã cứ khăng khăng chết sống với các quan điểm tranh luận mang nhãn hiệu Hà Nội: “Các vụ thủ tiêu của Nam Việt, người tị nạn và các tù chính trị”.  Tom Hayden đã kể lại các lần giảng dạy như sau:

… Một lớp học với một số phụ tá của Quốc hội … trong Hạ viện. … Chúng tôi … sử dụng văn phòng của dân biểu [Ron Dellums, Dân chủ – Berkeley] như là một trung tâm sinh hoạt … 5047 Chúng tôi đang cố gắng để ảnh hưởng đến  … các vị dân biểu  … Sài Gòn … có tỷ lệ cao nhất về tù chính trị nếu so với bất kỳ quốc gia nào trên thế giới … Chúng tôi đã dựng lại cho các chuồng cọp … chúng tôi cũng có để chứng minh nào là các còng tay, Smith và Wesson … ” 5048

Vào năm 1974, Tổng thống Nixon cũng có yêu cầu FBI cung cấp tin tức về các liên lạc giữa những viên chức ngoại quốc với các Dân biểu. Mối quan tâm của Nixon đã là “Sự gia tăng quan tâm [của các chính phủ ngoại quốc] với điện Capitol Hill”.  FBI thì đã khám phá ra: “hai (không xác định) ví dụ về tình báo [ngoại quốc] phát động liên quan đến (những dân biểu không xác định được) tại điện Capitol Hill …”,  5049  rất có thể là điệp vụ Operation Pursestrings của Sam Brown và tổ chức IPC của Hayden-Fonda.

Gần sau đó thì Alexander Solzhenitsyn đã tiết lộ hoàn cảnh của hàng chục triệu tù chính trị ở Liên Xô qua tác phẫm Gulag Archipelago. 5050 George Kennan, một nhà phê bình từng chống cuộc chiến tranh ở Nam Việt, cha đẻ của khái niệm dung chính sách “ngăn chặn” hầu đối đáp lại Khối Liên Xô, thì đã gọi bộ Gulag là “bản cáo trạng lớn nhất và có ảnh hưởng nhất đối với một thể chế chính trị trong thời hiện đại”. 5051 Các tiết lộ của Solzhenitsyn đã gây chấn động toàn thế giới, nhưng lại không ảnh hưởng chút xíu gì tới Jane Fonda và Tom Hayden. 5052 Ngay cà các tù binh cũng không sao ngăn cản được chúng thì làm sao mà những tiết lộ của Solzhenitsyn lại làm được gì — vì ông ta cũng chỉ là một cựu tù chính trị thôi mà?

Fonda tuyên bố với LA Press Club là Mỹ cũng phải nên ngừng viện trợ cho Campuchia luôn.

“… Bom đạn vẫn là do chúng ta cung cấp”, đó là lời của Fonda. 5053

Nhưng không phải ai AI cũng đều đã từng quên mất vụ  tàn sát dân của Khmer Đỏ.

Những Báo Động Về Máu Đổ Và Diệt Chủng:

Tường Trình Quinn và Vài Nguồn Tin Rời Rạc

Tới ngày 20 tháng 2 năm 1974 thì viên chức ngoại giao Ken Quinn đã có phân phối các tài liệu mà sau này đã được công nhận là báo cáo đầu tiên với đầy đủ chi tiết về các hành vi diệt chủng của Khmer Đỏ. Suốt mùa xuân và mùa hè năm 1974, Max Friedman đã sử dụng báo cáo của Quinn để viết tài liệu Human Costs of Communism in Cambodia  và để điều trần trước hai ủy ban Hạ Viện về Đối ngoại và về Quân Đội (House committees on International Relations and Armed Services).

Tường trình của Quinn báo động về khả năng diệt chủng sắp xảy ra đã không được mọi người chú ý tới. Dù bàn báo cáo này đã được phân phối rộng rãi với Bộ Ngoại giao, CIA, NSA, USIA và Hội đồng An ninh Quốc gia, 5054  nó dường như đã có rất ít hoặc không có ảnh hưởng gì đến các vị công chức chuyên nghiệp mà đã từng chủ trương là trong công vụ thì không nên thảo luận gì cả về các trận tắm máu của cộng sản .

Đã có những tin tức như vậy, nhưng báo chí gần như đã làm lơ.

Tới ngày 2 tháng 3 năm 1974, Arnold R. Isaacs của tờ Baltimore Sun đã viết cho biết là thái độ tàn bạo của Khmer Cộng đã phần đông “không thể nào hiểu nổi được”. Nó thật sự rất là “vô nghĩa về phương diện quân sự, kinh tế và chính trị”.  5055  Nhưng trên thực tế, chính nó đã lại là một lý do chính đáng đối với bọn Khmer Đỏ mà đã đang chuẩn bị để tái tạo lại con người trong cái xã hội không tưởng của chúng, khởi đầu bằng Ngày mang số 1 của Năm ‘không ~ 0 ~ zero’ trong cái lịch sử mới của chúng..

Vào ngày 9 tháng 3 năm 1974, Sydney H. Schanberg đã gởi đi từ Kompong Thom, nằm 75 dặm về phía bắc của Nam Vang, nơi đang có 20.000 người dân tị nạn đang cố chạy trốn khỏi “lực lượng nổi dậy do cộng sản lãnh đạo” vì họ “cố gắng, mong muốn” được tới các khu vực đang nằm dưới sự kiểm soát của chính phủ. Trong hỗn loạn, những người tị nạn đã cùng kéo nhau đi “hàng đoàn xuyên đồng ruộng … cả một đại dương biển người dân, gia súc và xe bò kéo nhau cùng chạy trốn”.

Mọi người đều cùng kể lại những chuyện giống như trong báo cáo của Quinn: cưởng bách sống tập thể, cộng chung tài sản và tiền bạc với nhau, cưởng bách lao động, đàn áp tôn giáo, xử tử, bắt dẫn đi mất tích. Bọn Khmer Đỏ tàn bạo đã tuyên bố với mọi dân làng, “Chế độ của chúng ta nay trong lành và công minh. Chúng ta cần phải phá hủy tất cả mọi thứ thuộc chế độ cũ”. Điều này cũng đã xẩy ra cho những người tị nạn từng bỏ trốn khỏi Siem Reap (Ankhor Wat) và Takeo. 5056

Đến ngày 10 tháng 4 năm 1974, từ Kompong Beung, Tammy Arbuckle đã gởi tin đi về số người tị nạn tại Kompong Thom đã tăng lớn lên đến 34.000 người, và cũng đã có thêm 3.171 người từ Kompong Tralach với 1.500 người từ Krakor. Chính phủ đã giải cứu được 4.800 người khác từ Phnom Tumnup sau khi được một cô gái tên Nop Sophat  trốn thoát được đã báo cáo nội vụ. Tammy Arbuckle đã viết, “Luôn luôn cũng một chuyện” giết người bằng búa, rìu, tùng xẻo và chặt đầu. Làng mạc thì bị đốt rụi. Cường bách tập thể hóa mọi nơi. 5057

Cũng Cùng Một Tình Trạng Ở Xứ Nam Việt Láng Giềng

Căm giận trước các chiến thắng quân sự của QLVNCH ở đồng bằng sông Cửu Long, vào ngày 9 tháng 3 năm 1974, ở quận Cai Lậy, Việt Cộng rõ ràng đã quyết định giết một số trẻ em để trả thù bằng cách bắn một đạn cối 82 ly vào một sân trường và khiến 23 trẻ em bị thiệt mạng cùng 46  em khác thì bị thương trong khi đang xếp hàng chờ vô lớp học.

CIA Chấm Dứt Nghiệp Vụ Tình Báo, Tháng 3 Năm 1974

Trong khi đó thì vào ngày 4 tháng 3 năm 1974, CIA quyết định chấm dứt chương trình CHAOS mà đôi khi cũng được gọi là MHCHAOS. Chương trình này đã đang tàn lụn dần vào lúc sau này: CHAOS đã chấm dứt cái chút ít lưu tâm ‘còn lại’ của họ đối với bọn phản chiến mà đang tiếp xúc với ngoại quốc để chỉ còn lo theo dõi bọn chủ trương bạo lực thôi. 5058 CHAOS đã trả lời các phàn nàn từ các nhiệm sở CIA là họ chỉ đơn thuần “theo dõi các quan điểm chính trị và các hoạt động của những người Mỹ không biết được có đang làm hay bị nghi ngờ đang làm … gián điệp … mà các cáo buộc là họ đang mưu toan lật đổ chính quyền đều khá mơ hồ để có thể nghi ngờ họ được theo . . . tiêu chuẩn của . . . MHCHAOS”. 5059 Nay thì CHAOS đã quyết định vấn đề “các tình báo ngoại quốc có thể đang điều động ngay cả những công dân Mỹ” là thứ yếu hơn nạn khủng bố. 5060

CHAOS đã biến CIA thành “chỉ đơn thuần là một nguồn tiếp xúc thôi” hầu phụ cho FBI “giám sát hay hành xử” đối với các Mỹ kiều ở ngoại quốc. 5061

Kể từ cuối tháng 5 năm 1973, tính cách bí mật của CHAOS đã bị đe dọa, “Ủy ban [liên nghành] Đánh giá Tình báo ~ Intelligence Evaluation Committee  [đang] bắt đầu nhận được tin về chương trình CHAOS của chúng ta. Chúng ta đặc biệt quan tâm về MHCHAOS vì mức độ cao của [sự bất mãn] của rất nhiều nhân viên của cơ quan khi họ nghỉ họ bị nhận dạng lầm là đang tham gia vào chương trình đó”.  5062  Sự kiện CIA đã lưu ý đến những người Mỹ ở ngoại quốc đã chỉ là “ngẫu nhiên” thôi. “CIA sẽ không nhận thêm cái trách nhiệm chính hầu theo dõi công dân Mỹ ở nước ngoài …”. Theo một bản lưu ý của Giám đốc CIA William Colby vào ngày 29 tháng 8 năm 1973 thì việc này phải được dành chỉ cho FBI và các cơ quan tình báo ngoại quốc mà thôi. 5063

Và cứ như vậy, CIA bèn phủi tay chấm dứt một nhiệm vụ mà họ đã không bao giờ muốn nhận nên đã thi hành rất là kém cỏi.

Dù sao thì cũng không có gì là quan trọng. CIA đã không bao giờ hữu ích chút gì trong việc đối phó với các chương trình huấn luyện khủng bố và các hoạt động của bọn chìm bất hợp pháp Weather Underground. CIA đã không hề đóng góp được gì cho vụ bọn VVAW đi gom góp tin tình báo quân sự cho kẻ thù. Đã không hề có bất kỳ nhóm phản chiến nào mà đã từng công khai bắt tay với kẻ thù trên toàn cầu lại đã có được chút xíu quan tâm đối với CIA, ngoài việc chúng chỉ xem CIA như là một loại ngáo ộp chỉ nên để ý mổi lần phải gây quỹ thôi.

Tại Quốc hội thì Bella Abzug của Ủy ban về Sinh hoạt của Chính phủ (Government Operations Committee) đã quay hỏi chất vấn William Colby  việc CIA đã từng lậy hồ sơ về y thị. William Colby sau đó nhớ có trả lời: “Nếu bà ta sắp ra nước ngoài đi gặp bọn thù của Hiệp-chũng-quốc thì không có cách gì mà tôi lại phải né tên bà ta trong các hồ sơ của chúng tôi”. 5064

Rất là trớ trêu, chính Ủy ban Church Committee, mà sau này đã lãnh đạo phong trào nhằm hủy bỏ mọi điệp vụ tình báo và phản gián của Mỹ, lại đã cung cấp được  một bản tóm tắt đầy đủ về bọn phản chiến từng có liên lạc với các cường quốc nước ngoài, đầy đủ hơn cả CIA đã từng bao giờ cung cấp được cho các Tổng Thống Johnson và Nixon:

[Đã có] khá nhiều tiếp xúc và đi lại trên thế giới của các kẻ bất đồng chính kiến ​​Mỹ,

[Một] bản nghiên cứu về “những liên kết ngoại quốc”, bao gồm cả các biểu lộ về quan tâm chung, về các địa chỉ liên lạc nhân những hội nghị, hay cả các khuyến khích lẫn nhau, đã đương nhiên đến sự kiện là đã phải kể cả luôn một bộ phận đáng kể của các nhóm phản chiến tích cực hơn ở Mỹ.

… Những báo cáo rải rác về huấn luyện, chỉ thị, tài trợ hạn chế cho những tên bất đồng chính kiến Mỹ bởi những chính phủ ngoại quốc thù địch đã được tìm thấy.

Những trường hợp khuyến khích lẫn nhau và phối hợp quốc tế quả đã rất là nhiều lắm lắm. 5065

Ủy ban Church đã báo cáo là chương trính CHAOS của CIA đã từng soạn đến 5.000 bản báo cáo, 4.400 bản phúc trình và 1.000 công điện cho FBI, 5066 nhưng mọi người đều đã biết rất ít về nội dung của chúng. Thường báo cáo của FBI  ít khi đề cập đến CIA như là  nguồn gốc và chiếu theo các phúc trình có sẵn của CIA, và cũng đã được quá nhiều lần đề cập ở đây thì ta phải kết luận là CIA đã không có chút hiệu quả gì cả.

Hà-nội Vinh Danh Các Chiến Binh Thi Đua . . . Bọn Mỹ Cấp Tiến

Đến ngày 11 tháng 3 năm 1974 thì Hà Nội bèn tài trợ cho cái hội nghị thứ tư để tôn vinh đám Anh hùng và chiến binh thi đua của MTGPMN. Trên Đài phát thanh Hà Nội, tên Lê Chân đã nói về “phương pháp chiến đấu  độc đáo của người Việt khi sử dụng cả hai sức mạnh chính trị lẫn quân sự … [mà] đã từng thành công đánh bại liên tiếp các chiến lược của cả bốn vị tổng thống …”. Lê Chân huynh hoang, “Các lực lượng vũ trang và nhân dân của chúng ta xin chân thành cảm ơn sự yêu thương và giúp đỡ vĩ đại của nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới, kể cả các người cấp tiến Hoa Kỳ”. 5067

Bọn Mỹ Cộng Điềm Nhiên Hành Động Mà Không Hề Bị Cản trở

Trong khi đó, vẫn không hề bị CIA lưu ý đến, thì vào ngày 14 tháng 3 năm 1974, Văn phòng quốc gia của VVAW / WSO vẫn cứ tiếp tục thu thập tin tình báo quân sự và có gởi một văn thư cho các  văn phòng VVAW khu vực phải nhớ báo cáo những gì nhìn thấy và nghe được về “các chuẩn bị quân sự tại các căn cứ trong khu vực của chúng ta. … Xin vui lòng báo cáo mọi tin đồn được phối kiểm xong và cả những biến chuyển quân sự bất thường trong khu vực của bạn … Chúng ta cần phải xác định cho được là quân đội đang muốn gì trong cuộc đấu tranh”. 5068

Từ ngày 29 đến 31 tháng 3 năm 1974, một cuộc Hội thảo quốc tế về việc thi hành Hiệp định Ba-lê về Việt Nam đã được tổ chức tại Stockholm, có lẽ với sự tài trợ đang tiếp tục của Liên Xô. Đám bạn bè của Hà Nội đã chiếm ưu thế trong chương trình nghị sự; Fred Branfman, Richard A. Falk, William Goodfellow, Gabriel Kolko. 5069

Tại mặt trận quốc nội thì Tom Hayden và Jane Fonda cứ tiếp tục cho trình chiếu các ‘slide and pony show’ của Hà Nội cho tới cả 2.000 lần, cùng phân phối cả 200 bộ ‘slides’ và 2 triệu rưởi truyền đơn. Trong mùa xuân năm 1974, IPC đã tiếp tục vận động hành lang Quốc hội chặt chẽ với một số dân biểu đã được chọn lọc.

Như đánh phé và cứ tố thêm nhằm thúc đẩy lòng căm phẫn về đạo đức của mọi người, một tài liệu của IPC đã đi cái tựa đề “Sáu Triệu Nạn nhân” để cáo buộc chính sách diệt chủng tại Việt Nam của Mỹ. 5070 (Trong khi đó thì dân số của cả Bắc và Nam Việt Nam dều vẫn tăng lên trong suốt cuộc chiến).

Tới ngày 29 tháng 5 năm 1974 thì một viên Thống Đốc chủ trương bảo vệ các quyền dân sự, từng rất lôi cuốn được mọi cử tọa, Dale Bumpers đã đánh bại Thượng nghị sĩ chủ trương phân biệt chủng tộc và phản chiến J. William Fulbright. Một phái đoàn nhân viên Quốc hội đang đến thăm Nam Việt Nam bèn hoan nghênh các kết quả. 5071 Một thành công nhỏ cho đội nhà.

Trong khi đó tại Nam Việt, việc thực thi hòa bình đúng theo các đòi hỏi của Hà Nội lại đang diễn ra khá êm xuôi. Tới tháng 5 năm 1974 thì Bắc cộng đã sẽ có tới 210.000 bộ đội tại Nam Việt Nam nhờ đã tăng cường thêm gần tới 50.000 quân kể từ sau khi ngừng bắn vào tháng giêng năm 1973. 5072 Vào xuân 1974, miền Nam Việt Nam đang bị thiếu đạn dược, quân xa thì hư hỏng còn phi cơ nằm ụ vì thiếu phụ tùng để sữa. Đến nổi mà băng vết thương thì phải giặt để dùng lại. “Máu Việt nay (đã) đành thay thế cho đạn dược Mỹ không còn nữa”. 5073

Gần sau đó thì Tom và Jane sẽ sớm đi Bắc Việt lần nữa, chuyến thứ nhì  của Jane. Còn với Tom thì đó đã là chuyến thứ năm kể từ 1965.

*****

 

5044  Tom Hayden, “Dick Cavett Show”, 21 tháng 3 năm 1974. Chương trình “The Cavett show” đã được thu độ chừng trong vòng “sáu tuần” trước khi được chính thức phát hình đi theo lời của người điều khiển là Dick Cavett.

5045  Louise Lague, “Jane Fonda, Tom Hayden Banned by ‘Panorama’”, The Evening Star, (Washington), 1 tháng 2 năm 1974. Đọc thêm: Andersen, trang 66 mà đã cho là vụ này đã từng xẩy ra cả một năm trước đó.

5046  “Cavett’s Revised Radicals Show Now Set for March 21 by A.B.C.”,  New York Times, 27 tháng 2 năm 1974, trang G-6.

5047  Đọc thêm Steve Denney mà đã viết , “Chúng lợi dụng văn phòng các Ủy ban để sinh hoạt thông qua sự đở đầu của dân biểu Berkeley Ronald Dellums”,  Steve Denney, trang 15, nêu ra: Baltimore News American, 27 tháng 3 năm 1974.

5048  Tom Hayden trên “Dick Cavett Show”, thu hình vào đầu tháng 2, nhưng chỉ phát đi vào ngày 21 tháng 3 năm 1974.

5049  FBI, Tóm lược phúc trình, 2/3/75 được viện dẫn trong báo cáo cuối của Ủy ban Church committee. 

 5050 Tiểu sử Solzhenitsyn Biography, trang 877.

5051  Tiểu sử Solzhenitsyn Biography, trang 878.

5052  Washington Post, 5 tháng 9 năm 1973.

5053  Andersen, trang 272-273.

5054  Tường Trình của Quinn, Tòa Lãnh sự Mỹ tại Cần Thơ [Ken Quinn], trang A-008, Bộ Ngoại giao, P740017-0522-0573, The Khmer Krahom Program to Create a Communist Society in Southern Cambodia, Airgram, 20 tháng 2 năm 1974 và tài liệu Bộ Ngoại giao số  # P740017-522; Friedman nói với Canfield và nhiều người khác vào ngày 13 tháng giêng năm 2009.  

5055  Arnold R. Isaacs, “War’s Rising Savagery Pours Salt in Cambodia’s Wounds”, Baltimore Sun,  2  tháng 3 năm 1974.

5056  Sydney H. Schanberg, “Life Poor, but Cambodian Refugees Are Glad to Be Free of Rebels”,  New York Times, 9 tháng 3 năm 1974.

5057  Tammy Arbuckle, “Record of Violence Trails Khmer Reds”, Washington Star-News, 10 tháng 4 năm 1974.

5058  Tổng Hành Dinh CIA, Công điện gởi tới nhiều nhiệm sở, Tháng 7 năm 1972 được nêu ra trong Ủy ban Church Commission, trang 705.

5059  Phúc trình của Tổng Thanh Tra gởi cho Giám đốc điều hành – Kiểm soát viên, 11/9/72, trang 1, được nêu ra trong Ủy ban Church Commission, trang 706.

5060  Phúc trình của Giám đốc điều hành – Kiểm soát viên gởi cho DDP, 12/20/72, trang 7, được nêu ra trong Ủy ban Church Commission, trang 706.

5061  Phúc trình của William Colby gởi cho Phó Giám đốc Điệp vụ (Deputy Director for Operations), đính kèm “Memorandum: Chaos”, 8/29/73 được nêu ra trong Ủy ban Church Commission, trang 707.

5062  Wm. Broe, Tổng Thanh Tra, CIA gởi cho Wm. Colby, 30 tháng 5 năm 1973, Family Jewels, trang 326.

5063  Phúc trình của William Colby gởi cho Phó Giám đốc Điệp vụ (Deputy Director for Operations), đính kèm “Memorandum: Chaos”, 8/29/73 được nêu ra trong Ủy ban Church Commission.

5064  Harold Ford, William E. Colby as Director of Central Intelligence, 1973-76, (một tiểu sử nội bộ bảo mật), trang 177-80.

5065  Ủy ban Church Commission, trang 709-10.

5066  Ủy ban  Church Commission, trang 716.

5067  Phúc trình của Lê Chân, Hà-nội bằng Việt ngữ, 03:30 GMT, 11 tháng 3 năm 1974.

5068  FBI, Charlotte gởi cho Giám đốc, VVAW/WSO. Internal Security, TELETYPE 9:24 PM NITEL, 27 tháng 3 năm 1974, trang 1-2.

5069  Tài liệu về  Branfman, Falk, Goodfellow và Kolko, International Conference for the Implementation of the Paris Agreement, Catholic Peace Fellowship, Stockholm, 29-31 tháng 3 năm 1974, Tập hồ sơ CCPF 4/04 Folder, Văn khố Notre Dame Archives.

5070  Playboy, Số Tháng 4 Năm 1974.

5071  Giáo sư Bob Turner nói với Max Friedman và nhiều người khác, 30 tháng 6 năm  2009.

5072  Bộ Ngoại Giao, “Background Notes (South) Viet-Nam”, Tháng 10 Năm 1974, trang 6.

5073  Palace File, trang 229.

*****

 

Advertisements

Một phản hồi to “Roger Canfield’s Americong #175”

Trackbacks/Pingbacks

  1. Giới thiệu tác phẩm AMERICONG (MỸ-CỘNG) – Lê Bá Hùng | Ngoclinhvugia's Blog - 05/01/2016

    […] Roger Canfield’s Americong #175 […]

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: