Roger Canfield’s Americong #74

 

image002

Comrades in Arms

How the Americong Won the War in Vietnam

Against the Common Enemy— America

Copyright Roger Canfield, Ph.D.

1986-2012

No commercial transaction allowed except that approved by the author, copyright holder.

Obtain a prepublication release of a CD-R in Microsoft Word in ENGLISH at a discounted price of $15 from Roger Canfield as CanfieldRogercan@pacbell.net at 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 or at http://americong.com.

Completely SEARCHABLE for any name, date, place or event of the War and its protesters.   

Cover: Design Stephen Sherman. Photos: Roger Canfield, March 2008. TOP: War protest Hawaii, February 1966 displayed at War Remnants (Crimes) Museum, Saigon. Bottom: Praetorian Guard

Các đng chí cùng chiến tuyến

Làm thế nào M-Cng thng cuc chiến Vit Nam

Chng k Thù Chung – M

Gi bn quyn Roger Canfield, Tiến Sĩ

1986-2012

Không được s dng vào mc đích thương mi nếu không có s đng ý ca Tác gi, người gi bn quyn.

Có th mua mt tin bn dưới dng CD-R Microsoft Word bng Anh ng vi giá đc bit US$15 ngay t tác gi Roger Canfield qua Rogercan@pacbell.net ti 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 hay ti  http://americong.com.

Hoàn toàn có th TRA CU hoc bng tên, bng ngày tháng hay biến c liên quan đến cuc Chiến cùng c luôn bn tham d biu tình .

******************************************************

* Tác gi gi bn quyn © Roger Canfield 1986-2012

  • Lê Bá Hùng chuyn ng  (vi s chp thun ca Tác gi)

 *****

 Chương 74

Venceremos, Weathermen và Mad Bombers

 

 Venceremos: Đợt Tuyển Mộ Lần Thứ 2  –  13 Tháng 2 đến 28 Tháng 4 Năm 1970

Đợt Tuyển Mộ Lần Thứ 2  của bọn Lữ đoàn Venceremos  là một nhóm đông tới   687 tên, “tràn đầy điệp viên”. Một số đã lấy xe buýt đi đến New Brunswich và được một “xe gia súc được cải trang” chở đi Cu-ba với giá “một vài trăm đô la”.

Karen Nussbaum  có nhớ lại, “không hề cần tiền vì việc chuyên chở, thực phẩm, quần áo và nơi trú ẩn đều được miển phí” và đã tuyên bố như vậy với tờ New York Post. 3329

FBI thì có báo cáo là đã có những tên khác bay đi từ Canada và Mexico đến St John, New Brunswich vào ngày 13 tháng 2 năm 1970, và từ đó đi bằng tàu, một lần nữa trên chiếc tàu hàng vận tải của Cuba tên Luis Arco Bergnes, để tới Cuba và trở về vào ngày 28 tháng 4 năm 1970 cũng trên chiếc này đến St John, New Brunswich.

 Cuba Đã Huấn Luyện Bọn Weathermen

Đám thành viên thuộc Weathermen trong chuyến này đã là: Edith Crichton, David Ira Camp, John De Wind, Nancy Frappier, Vicki Gabriner, Joyce Greenways, Ann Hathaway, Robert Hackman, Marguarita Hope, Lenore Ruth Kalom, Jonathan Lerner, Jeffrey Melish, Jed Proujansky, Daniel Ross Slick, Marguerite “Mini” Smith, Carlie Tanner (cũng có tên là Tiến sĩ Caroline Margaret Tanner, MD, Shirley Jackson, Meg Johnson, Shirley Jameson, Margaret Ann Harmony, Beth Stewart). Các thành viên khác mà ta cần lưu ý trong chuyến thứ nhì này là “Daren” [Karen] B. Ackerman, 3330 David L. Berger, Carol Brightman, lãnh tụ đảng CS Mỹ CPUSA  Angela Davis, Jay Ellis Goldberg, William Joseph Maher, Karen Beth Nussbaum, Stephen William Shriver, Shari Whitehead .

Đến năm 2003, Karen Nussbaum có nhớ lại là đã từng học một “khóa cấp tốc về dấn thân chính trị”, đã có gặp các viên chức “địa phương” Cu-ba và được học hỏi về cuộc cách mạng của Cuba trong công tác chăm sóc y tế miễn phí, giáo dục, xoá nạn mù chữ và “giảm thiểu tệ trạng xa cách về lợi tức cực kỳ nhất tại bất cứ nơi nào khác trên trái đất này.” [Chỉ trong một vài năm ngắn ngủi Cuba đã từ nước giàu hàng thứ 3 ở Tây bán cầu để thành quốc gia nghèo nhất ở đó.]

Chúng tôi là Việt Cộng

Bọn Mỹ cầm “những biểu ngữ MTGPQG (vẽ tay)  … mũ, băng buộc đầu, áo sơ mi, dao phay để đón chào mười tên Việt cộng tươi cười đến trong bốn chiếc xe. Một đại úy hai mươi sáu tuổi đã tuyên bố là y đã từng tham dự “độ năm mươi hai trận chống lại Hoa Kỳ”. Một du kích quân khác thì nói: “Bất cứ nơi nào mà có một người lính Mỹ … thì bộ đội giải phóng …  sẽ liền tấn công họ.”

Một phóng viên đã hỏi Morton Vickers “Làm thế nào mà tôi lại có thể vổ tay hoan nghênh và hài long với các bài phát biểu của ngay những kẻ từng đã giết chết các anh em của tôi.” Vickers liền trả lời là đấu tranh chống bọn cầm quyền Mỹ thì cũng như là chống chủ nghĩa phát xít mà thôi . 3331 Một tên Việt cộng đã nói với một người Mỹ là khi bạn thuộc phong trào ở Mỹ  thì cũng đồng nghĩa là “Bạn ra  chiến trường cùng lúc với chúng tôi, và chúng ta cùng chiến đấu trên một mặt trận”.  Martha Trolin thì lại nói: “Để được nhân dân Việt Nam coi như là đồng chí trong cuộc đấu tranh chung với họ – đó mới là điều chính yếu”. 3332  Đám Việt cộng cũng đã dạy đám Mỹ cách để hô to “Việt Nam sẽ chiến thắng” bằng tiếng Việt. 3333

Tập trung vào Quân Nhân Mỹ

Huỳnh Văn Ba, Đệ nhất Bí thư thứ của MTGPQG đã nói với Pat Ruckert mà đã tới từ Seattle, “Công tác tổ chức và điều khiển các quân nhân Mỹ là một trong những việc quan trọng nhất mà phong trào ở Mỹ đang phải làm”. Y đặc biệt quan tâm tới các kẻ đào ngũ và các báo xuất bản bởi quân nhân Mỹ GI. Ruckert có nói với Ba là y đã nhận được nhiều tài liệu từ Hà Nội. 3334

Karen Nussbaum trở về, để lại làm việc cho các đơn vị “địa phương” của Peoples Coalition for Peace and Justice and the Indochina Peace Campaign, IPC. Trong năm 1973, Karen Nussbaum đã cùng sáu thành viên khác của IPC đi  Hà Nội. 3335

Venceremos: Đợt Tuyển Mộ Lần Thứ  3  –  27 Tháng 7 đến 17 Tháng 8 Năm 1970

Fidel Castro đã xin thêm nhiều Lữ đoàn để bổ sung vào mùa hè (đầu tháng 7 tới  cuối tháng 9) năm 1970 để hái kịp mùa quít. Ngày 27 tháng 7 năm 1970, một toán ‘Yippie’ đã rời New York đi Cu-ba bằng tàu từ New Brunswich, Canada như là Đợt Tuyển Mộ Lần Thứ 3 của các Lữ đoàn Venceremos. Trong số tham dự lần này thì đáng lưu ý là Jon Frederic Frappier, Eda Godell Hallinan, 3336 và Richard Gutman. 3337

Các Tóan Tiên Phong Ưu Tú  Gặp Nhau ở Cuba.

Ngày 27 tháng 8 năm 1970, Robert Greenblatt  và hai mụ vợ chuyên lê bước khắp thế giới là Nancy Kurshan (Rubin) và Judith Lee Hemblem (hay còn gọi là Judy Clavir, Judy Gumbo) đã gặp một đám Bắc Việt ở Cuba. 3338 Theo Committee of Returned Volunteers (Ủy ban các Tình nguyện viên Trở Về) thì Hà Nội và một “Ủy ban quốc tế”, trong những lần trước khi chúng tới Hà Nội, đã lựa chọn một danh sách 60 tên sẽ được mời dự họp vào tháng 8 ở Cuba. 3339

Trong khi đó, tòa đã ra trát tầm nã các thành viên WUO mà đã không hầu tòa để bị xét xử về vụ “National Actions ~ Hành động Quốc gia” và “Days of Rage ~ Những Ngày Điên Dại” trong tháng 10 năm 1969. Các trát này đã không hề có chút tác động nào đến những hành vi bạo lực của tụi Weather Underground  hay những toán trực thuộc vào năm 1970.

Weathermen và Các Vụ Đặt Bom Cảnh sát: Tháng 2 Năm 1970

Ngày 13 tháng 2, nhiều xe cảnh sát đã bị đặt bom nổ ở bãi đậu xe của Sở cảnh sát Berkeley khiến sáu cảnh sát viên bị thương.

Có Phải Chính  Bernardine Dohrn Đã Cố Sát TrungSĩ Cảnh Sát Sgt. Brian V. McDonnell?

Phía bên kia cầu Bay Bridge, vào lúc 10:44 tối, ngày 16 tháng 2 năm 1970, một trái bom làm bằng ống nước đã giết chết Trung Sĩ Sgt. Brian V. McDonnell, gây  tàn tật vĩnh viễn cho sĩ quan Robert Fogerty và làm bị thương Trung Sĩ Sgt. Paul Kotta cùng các sĩ quan Ron Martin, Al Arnaud, Gerry Doherty, Edward Buckner, Robert O’Sullivan và Frank Rath tại Trạm Golden Gate Park Station của Sở cảnh sát San Francisco. 3340

Đã không hề có ai dám tuyên xưng chịu trách nhiệm về hai vụ bom nổ này cả.

Ayers Quy Tội Đặt Bom Cho Dohrn

Tuy nhiên, Larry Grathwohl đã có điều trần trước một tiểu ban Thượng viện thuộc ủy ban Thượng viện Committee on the Judiciary là ở Buffalo vào tháng 3 năm 1970, Bill Ayers đã từng cảnh cáo các thành viên lè phè là phải “cố gắng tăng gia đấu tranh.”

Ayers đã cho biết chính Bernadine Dohrn, lãnh tụ bọn Weather đã từng chịu trách nhiệm “soạn kế hoạch, phát triển và thi hành vụ đặt bom đồn cảnh sát ở San Francisco (chỉ riêng một mình y thị) và y [Ayers] đã đặc biệt nêu tên y thị ra như là người đã thực hiện hành động này”. Ayers nói: “Quả bom đã được đặt trên bờ cửa sổ”. Ayers đã mô tả loại bom và loại mảnh đạn được sử dụng [kẹp sắt để đóng sách loại lớn cùng bi viên bằng chì]. J.G. Sourwine, Luật sư chính, đã hỏi, “Có phải (Ayers) đã nói là ai đã đặt bom trên bờ cửa sổ không? Grathwohl bèn trả lời: “Chính Bernardine Dohrn”. 3341

Dohrn Quả Đang Có Mặt Trong Thành Phố

Cảnh sát Berkeley đã truy ra được là Bernardine Dohrn có ở tại Berkeley, phía bên kia cầu Bay Bridge của San Francisco vào ngày 8 tới 21 tháng 2 trong suốt thời gian vụ đặt bom ngày 16 tháng 2 năm 1970. 3342

Những tên khác mà cảnh sát khã dỉ xem như là nghi phạm hay đồng phạm thì có thể là bọn lãnh tụ khu Bay Area thuộc nhóm Weather vào lúc đó như là Lincoln Bergman, Arlene Eisen Bergman, Clayton van Lydegraf, Jeff Jones, Julie Nichamin, Karen Latimer và Scott Braley. 3343

Thuốc Nổ Đã Được Truy Nguyên Về Bọn Weathermen

Theo một bài trên tờ Chicago Tribune, Thanh tra Earl Bergfeld của Cảnh sát Berkeley cho biết là các cơ quan cảnh sát địa phương đã điều tra truy nguồn  loại chất nổ được tìm thấy trong nhà máy làm bom của bọn Weather tại Chicago và loại được sử dụng trong các vụ đặt bom ở Berkeley và San Francisco đều được cung cấp bởi một công ty hợp pháp ở Colorado Boulder. Các chữ ký trên giấy tờ mua bán đều là giả mạo nhưng sẽ có thể truy ra được bởi các chuyên gia về chữ viết tay. Theo Bergfeld, các ngòi nổ được sử dụng cũng trùng hợp với loại được dùng trong các vụ đặt bom ở Berkeley và San Francisco và với cả những ngòi nổ của các bom chưa sử dụng gần một nhà máy sản xuất sơn tại Oakland. 3344

Trong tháng 3 năm 2009, các nhà lãnh đạo được bầu của nghiệp đoàn cảnh sát ở San Francisco đã buộc tội Ayers và Dohrn là cố sát Trung sĩ Sgt. Brian V. McDonnell lúc tháng 2 năm 1970.

Matthew Landy Steen, Karen Latimer Đều Là Nhân Chứng Trong Kế Hoạch Đặt Bom

Vào tháng 9 năm 2009, Peter Jamison đã đăng một bài trên tờ SF Weekly dựa trên các cuộc phỏng vấn của cựu nhân viên FBI Willie Reagan và Max Noel mà đã kể lại lời khai của hai nhân chứng độc lập, Matthew Landy Steen, người từng viết cho tờ Berkeley Tribe và tên thành viên Weatherman Karen Latimer.

Trong khi Steen chỉ là một tên viết lách ‘hippy’ thì Karen Latimer lại là một cựu thành viên Weathermen của Days of Rage, War Council in Flint và việc soạn thảo kế hoặch bí mật tại nhà thờ Sacred Heart Church in Flint. Y thị đã là một người rất đáng lưu ý trong vụ cố sát Trung sĩ Sgt. Brian V. McDonnell và y thị quả đã muốn lên tiếng.

Steen và Latimer đã tham dự hai cuộc họp để bàn thảo về vụ đặt bom ở Park Station. Họ đã xác nhận chính Bernardine Dohrn là kẻ cầm đầu nội vụ. Howard Machtinger là tên làm trái bom đó. Chính Latimer cũng đã điều nghiên trạm cảnh sát và phụ trách trái bom, 3345 kiểu mẫu tương tự như quả mà tên  Weatherman Larry Grathwohl đã cho phát nổ nhắm vào một trạm cảnh sát ở Detroit. Machtinger đã từng là một đồng phạm trong vụ Detroit, 3346 nơi mà cách  đặt bom trên bệ cửa sổ cũng đã là kiểu từng được ưa thích để gài bom.

Bọn Weathermen cũng có nhiều mục tiêu khác khã dỉ để giết người.

Một Mục Tiêu Khác, Thẩm phán John Murtagh

Sau khi Bọn Weathermen phân phối các yết thị tầm nã do chinh chúng làm, 3347 sáng sớm ngày 21 tháng 2 năm 1970 ba trái bom lữa đã được đặt tại nhà của Thẩm phán John Murtagh thuộc Tối Cao Pháp Viện tiểu bang New York trong khi cà nhà vẫn đang ngủ. Mutagh lúc đó đang chủ tọa phiên xử đám Panther 21 bị truy tố về tội đã chuẩn bị đề dùng bom phá nổ nhiều địa điểm nổi tiếng cũng như là để giết các cảnh sát viên.

Bọn Weather Underground bất hợp pháp có đặt hai trái bom ở cửa chính và trái thứ ba dưới bình xăng xe nhà thẫm phán Murtagh và đã dùng sơn đỏ màu máu kẻ hàng chữ “HÃY THA BỔNG NHÓM PANTHER 21; VIỆT CỘNG ĐÃ THẮNG; HÃY GIẾT LŨ HEO”. Một người hàng xóm đã dùng tuyết dập tắt được ngọn lửa dưới chiếc xe và các đám lữa trước hiên nhà thì đã tự cháy cho tới lúc tàn lụi đi.

Nhiều tuần sau đó, Terry Robbins có nói với bạn gái thành viên Weatherman của y tên là Cathy Wilkerson là tổ ở New York đã thực hiện việc này và cả các sách đầy thiện cảm của hai tên Ron Jacob và Dan Berger viết về bọn Weathermen cũng quy kết vụ đánh bom Murtagh cho bọn chúng. Ngày nay thì Bill Ayers không hề còn khoe trương các vụ nổ bom này mà đã từng khã dỉ đe dọa đến mạng sống vợ con Thẩm phán Murtagh. 3348 Terry Robbins thú nhận với tên Weatherman Mark Rudd là y quá “xấu hổ về sự bất tài của bọn chúng.” 3349

Robbins cũng nói với Wilkerson là tổ Weather đang cần một nơi mới để dọn lại ở.

Trạm Cảnh Sát Quận Tại Detroit

Vào ngày 6 tháng 3, độ bốn mươi bốn cây thuốc nổ đã bị khám phá ra tại Trạm 13 của Cảnh Sát Detroit .

FBI đã biết được là một nhóm Weather Underground Organization ~ WUO (Tổ Chức Weather Chìm Bất Hợp Pháp) gồm  Bill Ayers, Marsha Rhoda Steinberg, Larry Grathwohl và ba người khác đã có mặt tại Detroit ở Đại học Tiểu bang Wayne State University trong hai ngày 27 và 28 tháng 2 năm 1970 3350 để “chuẩn bị đánh bom một cơ sở cảnh sát”. 3351

Grathwohl, điềm chỉ viên của FBI, về sau đã viết chính Bill Ayers chịu trách nhiệm trong mưu đồ nổ bom tòa nhà cảnh sát ở Detroit. Grathwohl và Naomi Jaffe thì phụ trách đi điều nghiên tại một ngõ hẻm cùng với các cơ sở thương mãi gần chổ đó. Grathwohl có lưu ý với Ayers là chổ y chọn để đặt bốn mươi bốn cây thuốc nổ gài trong hai quả bom rồi sẽ giết chết các khách da đen vô tội tại nhà hàng Red Barn ở sát bên cạnh.

Ayers “đã bác bỏ loại tình cảm như vậy là phản cách mạng”. Y đã tuyên bố, “Chúng ta không thể bảo vệ tất cả những người dân vô tội trên thế giới. Một số sẽ phải bị giết. Một số trong chúng ta rồi cũng sẽ bị giết. Chúng ta phải chấp nhận thực tế đó. ”

Grathwohl bèn quyết định thông báo cho cảnh sát Detroit để tháo gỡ cả hai quả bom để cứu sống được rất nhiều người. 3352  Một đám 12 tên đã bị coi là đồng mưu nhưng không phải là bị cáo, gồm cả Howard Machtinger, 3353 tên làm bom ở San Francisco. Điềm chỉ viên Grathwohl đã vô hiệu hóa được một số mưu đồ của bọn Weather mãi cho đến khi ông bị lộ diện. 3354

Cleveland: Quyết Định Trở Thành Chìm Bất Hợp Pháp

Theo Grathwohl, vào tháng 2, nhiều thành viên Weather đã tụ tập ở Cleveland, trong số đó đã có John Fuerst, Mark Rudd, Linda Evans, Leonard Handelsman, Celeste McCullough, Bobby Jo Smith, Mark Real, Dionne Donghi, Robert Skardis, Robert Ward, Courtney Esposito, Carol Hoppi và Arlow Jacobs (tên thật là Robert Burlingham).

Màng Lưới Hỗ Trợ của Weathermaen Rất Rộng Lớn

Tại Cleveland, bọn Weathermen đã quyết định từ nay hoạt động chìm mà đi vào vòng bất hợp pháp. 3355 Chúng rồi sẽ cho thấy là có được một mạng lưới hỗ trợ rộng rãi và đang bành trướng từ gia đình, bạn bè, bọn chịu tuân theo lời chúng và các nhóm hỗ trợ công khai hay bí mật để giúp bảo vệ chúng trong các năm sau đó. Một số ví dụ đáng chú ý đã là cha mẹ Cộng sản của tên Weatherman Howard Emmers 3356 mà đã từng cung cấp một số điện thoại dùng để kiểm tra và nhà ở cho đám Weather đang trốn lánh là Rudd, Handelsman, Smith và Fuerst. Tên chị của Bernardine Dohrn là Jennifer Dohrn đã là một thành phần trong màng lưới hỗ trợ này.

Trong số những tên khác hoạt động hợp pháp mà đã bị nhận dạng là ủng hộ viên của Weather Underground  tại Hội nghị National Hard Times Conference ở Chicago từ ngày 30 tháng giêng đến ngày 1 tháng 2 năm 1976 đã là: Nancy Barrett, Arlene Eisen Bergman, Alan Berkman, Diane Block, Bob Cantor, Mike Deutsch, Melody Ermachild , Brian Flannigan, Marc Fliegelman, Penny Grillos, Jeff Haas, Sarah Kaplan, Connie Keresy, Kitty Kimatsu, Lisa Lawrence, Sarah Loft, Shelly Miller, Judith Mirkinson, Russ Neufeld, Julie Nichamin, Jed Proujanski, Miles Pustin, Melina Rorick, Eve Rosahn, Nancy Ryan, David Saxner, Mara Seigel, Annie Stein (mẹ của Eleanor Stein Raskin), Flint Taylor, Susan Tipograph, Sylvia Warren, Susan Waysdorf, Barry Weinberg và Laura Whitehorn.

Những nhóm hỗ trợ công khai khác của tổ chức Weather Underground đã là The National Lawyers Guild, Prairie Fire Organizing Committee, John Brown Book Club;  May 19th Communist Organization (Tổ chức Cộng sản 19 Tháng 5). Những nhóm ít công khai hơn thì đã là New Movement in Solidarity with Puerto Rican Independence, Women’s Conference Against Genocide and John Brown Anti-Klan Committee. 3357

Bọn Weather Đi Mua Thuốc Nổ

Ngày 28 tháng 2 năm 1970, nhiều lần tiếp xúc qua điện thoại đã xẩy ra giữa một địa chỉ thuộc Greenwich Village Towmhouse với Đại học Goddard College. Ngày 2 tháng 3 năm 1970, Ella Fulwod làm việc tại công ty New England Explosives ở  Keene, New Hampshire đã bán 100 cây thuốc nổ, 100 chụp nổ và những cuộn cầu chì an toàn dài 100 bộ Anh với giá 56.40$ cho một người đàn ông tên David Beller mà đã nói là mua thuốc nổ cho cha y là John Beller, một nhà thầu xây cất tại Shelburne Vermont (Shelburne Limestone, Inc. từng là một khách hàng lâu nay).

FBI đã nghi ngờ chính thành viên SDS Ronald Fliegelman tại Đại Học Goddard College có thể là “David Beller” và “Henry Skirball” mà trước đó đã từng cố gắng đi mua thuốc nổ và vũ khí, nhưng mọi nguồn tin tại Ðại học Goddard College như Joan Zimmerman, Steve Rappaport, Andrew Higgins và Russ Neufeld đều  không chịu hợp tác. 3358

Cũng tại Đại học Goddard đã có mặt Marc Lee Fliegelman, lữ đoàn viên Venceremos và anh trai của tên Weatherman Ronald David Fliegelman cùng tên  Weatherman Thomas Brainerd Cook. Trong tháng 6, New England Explosives ở  Keene đã từ chối bán thêm thuốc nổ cho tên Weatherman Cook khi y ráng mua thêm. Y thì không biết gì về mục đích của việc mua bán này.

Tuy có phần ráng chuẩn bị, một số trở ngại vẫn đã xảy ra trên con đường làm cách mạng. Cathy Wilkerson đã cho phép bạn bè Weather của y thị sử dụng nhà cha mình trong khi ông đang đi nghỉ hè.

Cách Mạng Tàn Lụi Tại Làng Greewich Village: Vụ Nổ Bom Nhà ‘Townhouse’ Của Bọn Weather Bất Hợp Pháp – 6 Tháng 3 Năm 1970

Một chút sau buổi trưa vào thứ Sáu ngày 6 tháng 3 năm 1970, một quả bom tự chế bằng thuốc nổ và đinh thép đã nổ phá nát một ngôi nhà loại ‘townhouse’, nơi  dùng để ẩn trốn cao bốn tầng của tổ chức Weather Underground Bất Hợp Pháp tại số 18 đường West thứ 11 gần Fifth Avenue ở Greenwich Village, New York. Quả bom chống cá nhân với loại đinh ‘sixteen-penny nails’ đã giết chết Ted Gold, Terry Robbins và Diana Oughton. Quả bom này nguyên được chuẩn bị để gài tại một buổi khiêu vũ của Quân đội Mỹ ở Fort Dix, New Jersey, nơi mà nếu  nổ thì đã sẽ có khả năng khiến hàng trăm binh sĩ và bạn mời của họ bị thiệt mạng hay bị thương.

Trong biến cố này, Diana Oughton, 28 tuổi, vì có thể đã đang cầm trái bom trong tay nên đã bị cắt bay mất đầu trong vụ nổ và sau đó đã bị nhận dạng nhờ dấu tay của một  ngón còn lại ở bàn tay phải của y thị. 3359

Bọn Hoạt Động Tại Hollywood

Cathy Wilkerson và Kathy Boudin là hai tên sống sót được sau vụ nổ trong căn ‘townhouse’ đó, Wilkerson thì không còn áo mặc, Boudin thì trần truồng, đầy máu và bị thương bầm tím đã cùng nhau leo từ một lỗ trong đống đổ nát ra lề đường và đã được hai kẻ tốt bụng là Susan Wager, vợ cũ của nam diễn viên Henry Fonda với Ann Hoffman, vợ của nam diễn viên Dustin Hoffman, 3360 đem về tắm rữa và cho mượn quần áo 3361 để rồi lại tiếp tục đi hoạt động bất hợp pháp.

Gerald William Long khuyến cáo là đám Weathermen còn sống sót cần phải học một khóa huấn luyện về thuốc nổ kéo dài trong sáu tháng. 3362 Cathy Wilkerson sau đó đã nghiên cứu về điện và thiết kế một mạch bom an toàn hơn. 3363 Ron Fleigelman thì chỉ đơn giản di chuyển kho vũ khí gồm 100 ký thuốc nổ và chín hộp đạn 0.38 của mình về đến Philadelphia. 3364

Soạn Kế Hoạch Ám Sát Về Chính Trị

Ngày 18 tháng 3 năm 1970, văn phòng New York của FBI được cho biết là ba tên Weathermen có nói với một phóng viên là bộ phận Weather Underground chìm đang chuẩn bị để giết Tổng thống Nixon, Phó Chủ tịch Agnew, Chưởng lý Mitchell và Thống đốc Nelson Rockefeller. 3365 Trong các hoàn cảnh lúc đó, các mối đe dọa này khã dỉ có thể đáng tin nếu căn cứ vào các sự kiện thực tế đương thời.

Tiêu Tiền Nhà và Cũng Được Cu-ba Tài Trợ

Eleanor Raskin đã giúp Cathy Wilkerson nghiển ra một kiểu ngụy trạng. 3366 Các gia đình của Bernardine Dohrn và Kathy Boudin chuyển tiền qua Canada dưới hình thức công văn ngoại giao của Tòa Đại sứ Kuwait và tại đó, hoặc phái bộ Cu-ba hoặc một nhóm phản chiến sẽ chuyển giao lại cho Bernardine và Kathy để trang trải chi phí cho việc đi lại của chúng với Cuba.

Sau vụ nổ tại căn ‘townhouse’ thì bốn thành viên của Venceremos mà đều là hội viên Weathermen là Ann Hathaway, Eleanor Ruth Kalom, Jonathan David Lerner và Carlie Tanner đã tới Cuba với tư cách là lãnh tụ của Lữ đoàn 2 Venceremos. 3367 Thay vì trở về nhà xuyên qua Canada, nơi chúng có thể bị bắt giữ, chính phủ Cuba đã trả tiền cho chúng đi ngõ Prague, Tiệp Khắc. Cuối cùng từ đó, chúng  trở về Hoa Kỳ để tổ chức một nhóm ‘nhân ~ foco’ chìm ở New York. 3368 Cathy Wilkerson tuyên bố vì không được tài trợ bởi gia đình hay Cu-ba nên y thị đã phải sống qua ngày ở bên bờ biển tây bằng bột lúa kiều mạch và bơ đậu phộng mà thôi. 3369

Tình Báo Cu-ba

Một bàn tường trình của FBI có cho biết cách thức bọn Weather Underground chìm bất hợp pháp liên lạc với nhau. “Trong tháng 2 năm 1970, thành viên hàng đầu của WUO là Bill Ayers cho đồng bọn thành viên Larry Grathwohl biết nếu không thể liên lạc được bằng các số (điện thoại) Canada thì mọi cá nhân phải  liên lạc với Tòa Đại sứ Cu-ba tại Canada để thiết lập liên lạc với các thành viên khác của WUO”. Và “Để làm vậy, cá nhân đó phải sử dụng tên mật mã là ‘Delgado’ khi tự xưng và cho biết tên người mà y muốn tiếp xúc”.

Các khai chứng đều được chấp thuận bởi cả bên biện hộ và bên công tố trong phiên tòa xét xử các nhân viên FBI là W. Mark Felt và Edward S. Miller đã cho thấy là các sĩ quan tình báo Cu-ba từng thường xuyên gặp bọn lãnh tụ của SDS / Weather Underground bất hợp pháp và chìm là Bernardine Dohrn, Martin Kenner, Mark Rudd, Julie Nichamin, Karen Koonan, Kathy Boudin, Gerry Long, Karen Ashley, Jeff Jones với Jennifer Dohrn.

Tình báo / Mật vụ Cu-ba đã cố vấn, yễm trợ về hậu cần với tiền bạc cũng như là đưa ra chỉ thị cho bọn Weathermen. 3370 Chúng đã là những gián điệp cho một chính quyền ngoại quốc và quả xứng đáng để bị theo dõi đúng theo luật. Suốt trong tháng 3 năm 1970, một tên nào đó đã đặt bom phá nổ một trung tâm nghiên cứu tại Đại học Case Western. FBI đã có được tin tình báo là tên Weatherman John Fuerst và đồng bọn đã thực hiện vụ này chiếu theo kế hoặch của Bill Ayers. 3371

Bọn Weathermen Đã Nhắm Vào Cảnh Sát, Tòa Án, Các Nhà Tư Bản

Khởi đầu với các vụ gài bom trụ sở Cảnh Sát New York vào ngày 9 tháng 6 năm 1969 khiến tám cảnh sát viên bị thương và làm thiệt hại một bức tượng tại công viên Hay Market Square vào ngày 7 tháng 10 năm 1969 – cả hai vụ trước khi biến đi để hoạt động chìm và trở thành bất hợp pháp – trước đó thì các thành viên Weathermen với tính cách cá nhân và lần lượt sau đó là các ấn phẩm cùng thông cáo của tổ chức cuối cùng đã tuyên xưng nhận trách nhiệm cho cả hàng chục vụ gài bom nổ.

Trả Thù Cho Cái Chết Của Bọn Black Panthers

Trong tháng 8 năm 1970, bên kia cầu Golden Gate, Tổ chức Weather Underground Organization đã phá nổ bằng bom Tòa Án Quận Marin 3372 để trả thù cho “vụ cố sát” thành viên Black Panther là Jonathan Jackson, William Christmas và James McClain.

Cái chết của Jackson, Christmas và McClain đã không hề là “cố sát”.

Jackson đã cố giải thoát anh mình là George Jackson, một tội phạm cướp có vũ khí mà lại còn đang bị truy tố tội cố sát, ra ​​khỏi Tòa án Quận Marin County Court House. Jonathan Jackson đã bắt Thẩm phán Harold Haley làm con tin bằng một khẩu ‘shotgun’ do tay lãnh tụ đảng CS Mỹ CPUSA Angela Davis sở hữu, 3373 và đã gài bẩy gắn dây điện bố trí chỉa họng súng thẳng lên cằm của Thẩm phán Haley. Jackson, hai tù nhân San Quentin là William Christmas và James McClain cùng Thẩm phán Harold Haley đều đã bị giết chết.

Các mục tiêu thực tế từng được bọn Weather Underground ưa chuộng đã là cảnh sát, tòa án và các trung tâm cải huấn, sau đó là các ngân hàng và các công ty đa quốc gia. 3374

Chỉ trong năm 1970, đã có tới 3.000 vụ đặt bom nổ và 50.000 vụ hăm dọa cho nổ bom 3375 mà nay tên Weatherman Bill Ayers có xác nhận bọn chúng “đã nhận trách nhiệm độ nữa tá vụ bom nổ … 5.000 vụ đặt bom (kể từ mùa xuân năm 1969), khoảng sáu vụ mổi ngày, và Weathermen Underground có nhận trách nhiệm tổng số là sáu lần”. 3376 Từ tháng 9 năm 1968 tới tháng 3 năm 1970, FBI tính ra đã có 11 vụ bom nổ và đốt nhà có thề quy được cho bọn tân tả  hay cực đoan da đen. 3377

Theo chính tin từ Weather Underground thì FBI đã tính ra không dưới bốn mươi vụ đặt bom suốt cho đến tháng 9 năm 1976, nhiều gấp bội lần con số cố tình giảm xuống mà Ayers đã công khai tuyên bố là nửa tá thôi. Dĩ nhiên vào tháng 5 năm 1974, chúng cũng sẽ đã nhận trách nhiệm cho 19 vụ bom nổ ngay trong ấn phẩm Prairie Fire của chúng. Ayers, Bernardine Dohrn, Jeff Jones và Celil Sojourner đã đồng ký thú nhận 19 vụ đặt bom “được thực hiện bởi Weather Underground.” 3378 Bill Ayers là một tên kẻ nói láo mà đồng thời cũng đúng là một tên khủng bố không hề bao giờ chịu ăn năn chút nào cả.

FBI Đặt Máy Theo Dõi Bọn Đặt Bom Weathermen Cùng Đồng Bọn: Jennifer Dohrn

Trong tháng 3 năm 1970, FBI đặt máy theo dõi một [bị kiểm duyệt] cá nhân liên hệ với tổ chức Weatherman, 3379 có lẽ là Jennifer Dohrn. Y thị là một tay phản chiến và chủ trương phải giải phóng người da đen và người Puerto Rico – và cũng là em (hay chị) gái của tay lãnh đạo có sức lôi cuốn của Weather Underground là Bernardine Dohrn. Jennifer Dohrn đã có cho tới ba bí danh -Jennifer Melendez, bà Mickey Melendez và Jennifer Ellen Ohrnstein. 3380 Các phúc trình của FBI đã phân loại các mục tiêu [bị kiểm duyệt] của họ như là “phe nhóm chủ trương bạo lực thuộc một nhóm phản kháng quốc nội, … Nhóm Chìm Bất Hơp pháp Chủ Trương Phá hoại Chiến lược, … Báo Tổ chức Weatherman … Lãnh tụ của Nhóm Cách mạng” và “Hệ thống Yểm trợ của Weather Underground “. 3381

Jennifer Dohrn đã bị FBI bám sát khi y thị bay từ Chicago đến San Francisco để  thăm thành viên Weatherman Nancy Frappier ở Berkeley. 3382

Trong bài viết đầy thiện cảm về lịch sử của Weathermen, Ron Jacobs có ghi nhận “Jennifer Dohrn, chị (em?) của Bernardine, đã đóng vai yễm trợ mặt nổi cho Weather mãi đến khi Bernardine rời tổ chức.” 3383 Jennifer đã từng giúp đỡ một cách bất hợp pháp bọn khủng bố đang đào tẩu trốn tránh công lý, đã nhận khuyến cáo, có thể luôn cà chỉ thị của công an mật Cuba 3384 và do đó là một mục tiêu hợp pháp để FBI theo dõi. Bọn Weathermen thông thường có nhiều bí danh, ví dụ như Mark Rudd thì đã từng là Mark William Rudnitsky, Frank Henry Koch, Anthony Goodman.

Đặt Bom Nổ Cơ Xưởng Tại Chicago

Vào ngày 30 tháng 3 năm 1970, Cảnh sát Chicago đã khám phá được 59 cây thuốc nổ tại một “nhà máy sản xuất bom” của WUO ở số 5433 Kenmore Ave. và một vài ngày sau đó, là cả một kho vũ khí.

Weather Underground Organization bèn trốn khỏi Chicago.

Và trong tháng 4 thì FBI, với sự giúp đở của Larry Grathwohl, đã bắt giữ hai thành viên WUO mà cũng từng là cựu tham dự viên tại Bratislava, Venceremos và Hà Nội – Linda Sue Evans và Dianne Donghi.

Ngày 2 tháng 4, một Bồi thẩm đoàn Liên bang ở Chicago đã truy tố một số thành viên WUO vi phạm Federal Anti-Riot Laws (Luật Liên bang chống Bạo loạn). Các trát đòi liên bang đã được ban hành nhằm tránh việc chúng đào tẩu để khỏi bị truy tố. Các trát đòi địa phương đã ban hành để ngăn ngừa chúng trốn không hầu tòa về các cáo buộc liên quan đến October Days of Rage (Những Ngày Điên Dại Tháng 10). Vào tháng 3 và tháng 4, một số Weathermen – Lawrence Weiss, Kathy Boudin, Judith Clark, Bernardine Dohrn, Linda Evans, John Fuerst, Leonard Handelsman, Cathy Wilkerson cùng những tên khác – đã trở thành những kẻ tội phạm Liên bang về đào tẩu vì chúng đã không ra tòa để bị xét xử chiếi theo các tội phạm phát sinh từ hành vi bạo lực và phá hoại có tên gọi là “Days of Rage ~ Những Ngày Điên Dại ” do tổ chức Weathermen lãnh đạo trong tháng 10 năm 1969. 3385

Các Vũ Đặt Nổ Bom Của Weather Underground – Tháng 6 và 7 Năm 1970, New York and San Francisco

Ngày 5 tháng 6 năm 1970, tổ chức WUO chịu trách nhiệm cho vụ bom nổ ở Hall of Justice tại San Francisco. Một quả bom chưa kịp nổ đã được tìm thấy vài tháng sau đó. Ngày 9 tháng 6 năm 1970, tại thành phố New York, Tổ chức Weather Underground Organization lại cho nổ bom tổng hành dinh Cảnh sát thành phố New York với lý do “hành vi đàn áp của cảnh sát.” Một  thông cáo của WUO đã tuyên bố, “Quyền lực chính trị xuất phát từ khẩu súng, từ quả bom Molotov, từ một cuộc bạo loạn, từ một tổ chức cộng đồng … và từ ý chí của nhân dân”. 3386 Cũng cùng ngày, cơ sở của Ngân hàng Bank of America cũng bị đặt bom, một người đã gọi điện thoại cho biết Weatherman tuyên bố chịu trách nhiệm để vinh danh cuộc cách mạng Cu-ba. Những lá cờ Cu-ba và Việt Cộng rách nát đã được tìm thấy tại hiện trường. 3387 Ngày 8 tháng 6 năm 1970, tên Weatherman Thomas Brainerd Cook đã cố gắng mua thuốc nổ của công ty New England Explosives Corporation tại Keene, New Hampshire. 3388 Để đánh dấu kỷ niệm thứ 11 Cách mạng Cuba, vào ngày 7 tháng 7 năm 1970, tại San Francisco, tổ chức Weather Underground phá nổ bằng bom trụ sở của Quân Cảnh trong căn cứ quân sự Mỹ tại Presidio. Và vào ngày 23 tháng 7 năm 1970, một bồi thẩm đoàn liên bang ở Detroit có truy tố các thành viên WUO đã vi phạm luật lệ về chất nổ và vũ khí.

Chiếu theo Freedom of Information Act (Đạo luật Tự do Thông tin), Jennifer Dohrn sẽ phải được thông tri bằng chứng về việc bị theo dõi và nghe lén này. Và các viên chức hàng đầu của FBI là Mark Felt và Edward Miller sẽ đã phải bị kết án dù có biện minh là hành vi WUO liên hệ với các gián điệp ngoại quốc đã khiến cho các điều tra chìm của FBI có được tính cách hợp pháp về điều tra tình báo nước ngoài. Tổng thống Reagan rồi sẽ khoan miển cho Felt và Miller, nói là họ đã giúp đỡ để “chấm dứt nạn khủng bố đang đe dọa đất nước chúng ta.” 3389 Những mục tiêu khác của FBI đã là Black Panthers, American Indian Movement, Young Lords và VVAW – mà tất cả đều là những thành phần côn đồ ưa chuộng bạo lực.

Trong khi đó thì gia đình của các tù binh và các người mất tích Mỹ tại Việt Nam vẫn tiếp tục tìm kiếm tin tức của những người thân yêu.

*****

3329  “How I Cut Cane and Met Fidel,” New York Post, 10 tháng 8 năm 1970.

3330  “How I Cut Cane and Met Fidel,” New York Post, 10 tháng 8 năm  1970.

3331  Sandra Levinson và Carol Brightman, (Nhà xuất bản), Venceremos Brigade: Young American Sharing Life and Work of Revolutionary Cuba, New York: Simon and Schuster, 1971, trang 325, 327, 329, 330.

3332  Sandra Levinson và Carol Brightman, (Nhà xuất bản), Venceremos Brigade: Young American Sharing Life and Work of Revolutionary Cuba, New York: Simon and Schuster, 1971, trang 332, 327.

3333  Sandra Levinson và Carol Brightman, (Nhà xuất bản), Venceremos Brigade: Young American Sharing Life and Work of Revolutionary Cuba, New York: Simon and Schuster, 1971, trang 341.

3334    Sandra Levinson và Carol Brightman, (Nhà xuất bản), Venceremos Brigade: Young American Sharing Life and Work of Revolutionary Cuba, New York: Simon and Schuster, 1971, trang 336-7. 

3335  Karen Nussbaum, phỏng vấn bởi Kathleen Banks Nutter, trích lục phần video, 18 tháng chạp năm 2003, Voices of Feminism Oral History Project, Sophia Smith Collection, 2004, trang 10-13, 17-18.

3336  Các tên đều được công bố trong Chicago Sun Times cuối tháng 4 năm 1970, Nussbaum, trang 11.

3337  Tiển ban Thượng viện Senate Internal Security Subcommittee, Các phiên điều trần, The Nationwide Drive Against Law Enforcement Intelligence Operations, phần 2,  14 tháng 7 năm 1975, trang 67.

3338  FBI, FOIA, Weather Underground. Nguồn tin chính là phúc trình của Đương nhiện SAC Chicago gởi cho Giám đốc, “Foreign Influence-Weather Underground Organization,” 20 tháng 8 năm 1976, trang 307.

3339  Viện dẫn trong “Answer This Question, Mr. Kerry,” Pittsburgh Tribune-Review, internet service, 17 tháng 10 năm  2004; Đọc thêm  James Sherod, “A Case Study of Elitism: A Critique of the Planning and Organization for the Conference with the Indochinese in Cuba, Tháng 8 năm 1970,” New York Chapter of the Committee of Returned Volunteers,  30 tháng 7 năm  1970. http://www.jamesherod.info/index.php?sec=paper&id=43&print=y.

3340  Irene Michaud, “Victim of Park Station Bombing: Memorial Scheduled for Sergeant Brian V. McDonnell,” POA Journal: San Francisco Police Officers Association, Bộ 39, Số  2, Tháng 2 năm  2007, trang 1. 

3341  Lời chứng của Larry Grathwohl, Terrorist Activity: Inside the Weatherman Movement, các Phiên điều trần trước tiểu ban Thượng viện Subcommittee to Investigate the Administration of the Internal Security Act and other Internal Security Laws of the Committee on the Judiciary United States Senate, Quốc hội Nhiệm kỳ 93, Khóa 2, Phần 2,  18 tháng 10 năm 1974, trang 106-7;  Đọc thêm tài liệu của Larry Grathwohl, Bringing Down America: An FBI Informer with the Weathermen, New Rochelle: Arlington House, trang 169.

3342  Ronald Zoziol, “Police Link National Bomb Plot to Weatherman Revolutionaries,” Chicago Tribune, 27 tháng 5 năm  1970, bản sao tại Thượng viện, Ủy ban Committee on the Judiciary, Tiểu ban Subcommittee to Investigate the Administration of the Internal Security Act and Other Internal Security Laws, The Weather Underground, Ấn bản của Ủy ban, Tháng giêng năm 1975, trang 30.

3343  “The Weather Underground Organization,” Information Digest, Bộ XIV, Số #22,  13 tháng 11 năm  1981, trang 341.

3344  Ronald Zoziol, “Police Link National Bomb Plot to Weatherman Revolutionaries,” Chicago Tribune, 27 tháng 5 năm  1970, bản sao tại Thượng viện, Ủy ban Committee on the Judiciary, Tiểu ban  Subcommittee to Investigate the Administration of the Internal Security Act and Other Internal Security Laws, The Weather Underground, Committee Print, Tháng giêng năm 1975, trang  29-30.

3345  Peter Jamison, “Time Bomb: Weather Underground leaders claimed their bombings were devised to avoid bloodshed. But FBI agents suspect the radical ‘70s group killed a S.F. cop in the name of revolution,” SF Weekly, 16 tháng 9 năm  2009.

3346  Thượng viện, Ủy ban  Committee on the Judiciary, Tiểu ban  Subcommittee to Investigate the Administration of the Internal Security Act and Other Internal Security Laws, The Weather Underground, Committee Print, Tháng giêng năm 1975, trang 87.

3347  Dan Berger, Outlaws of America: The Weather Underground and the Politics of Solidarity, Oakland: AK Press, 2006, trang 142.

3348  Cathy Wilkerson, Flying Close to the Sun, New York: Seven Stories Press, 2007, trang 324-5; John M. Murtagh, “Fire in the Night: The Weathermen Tried to Kill My Family,” City Journal, 30 tháng 4 năm 2008; Ron Jacobs, The Way the Wind Blew: A History of the Weather Underground.   

3349  Mark Rudd, Underground: My Life With the SDS and the Weathermen, New York: Harper Collins, 2009, trang 193.

3350  FBI, FOIA, Weather Underground. Nguồn tin chính là phúc trình của Đương nhiện SAC Chicago gởi cho Giám đốc, “Foreign Influence-Weather Underground Organization,” 20 tháng 8 năm 1976, trang 360.

3351  FBI, FOIA, Weather Underground. Nguồn tin chính là phúc trình của Đương nhiện SAC Chicago gởi cho Giám đốc, “Foreign Influence-Weather Underground Organization,” 20 tháng 8 năm 1976.

3352  Larry Grathwohl, Bringing Down America: An FBI Informer with the Weathermen, New Rochelle: Arlington House, 1976; 

Christopher C. Harmon, “Fire, Seen Through Frosted Glass,” Claremont Institute, 14 tháng giêng  năm 2004 tại http://www.claremont.org/publications/pubid.321/pub_detail.asp

3353  Thượng viện, Ủy ban  Committee on the Judiciary, Tiểu ban Subcommittee to Investigate the Administration of the Internal Security Act and Other Internal Security Laws, The Weather Underground, Committee Print, Tháng giêng năm 1975, trang 87.

3354  Christopher C. Harmon, The Myth of the Invincible Terrorist Vulnerabilities of an elusive enemy, Policy Review, Hoover Institute, Tháng 4 và 5 năm 2007 tại

 http://www.hoover.org/publications/policyreview/6851397.html
 

3355  Khai chứng của Larry Grathwohl,  Terrorist Activity: Inside the Weatherman Movement, Điều trần trước Tiểu ban Subcommittee to Investigate the Administration of the Internal Security Act and other Internal Security Laws of the Committee on the Judiciary United States Senate, Quốc hội Nhiệm kỳ 93, Khóa 2, Phần 2, 18 tháng 10 năm 1974, trang 107.

3356  “Tài liệu tình báo được giải mật của Chính Phủ Hoa Kỳ liên hệ các móc nối của Weather Underground với cộng sản và ngoại quốc. Viện dẫn như là bằng chứng chiếu theo thỏa thuận giữa công tố và luật sư biện hộ trong phiên tòa xét xử W. Mark Felt và Edward S, Miller,”  trang 20-21 tại  www.usasurvival.org.

3357  “The Weather Underground Organization,” Information Digest, Bộ  XIV, Số #22, 13 tháng 11 năm  1981, trang 334, 347, 349.

3358  Thượng viện, Ủy ban  Committee on the Judiciary, Tiểu ban Subcommittee to Investigate the Administration of the Internal Security Act and Other Internal Security Laws, The Weather Underground, Committee Print, Tháng Giêng năm 1975, trang 133-5.

3359  “Tử thi trong đống vụn đã được nhận diện” Chicago Daily News, 18 tháng 3 năm 1970; Lucinda Franks và Thomas Powers, “A Final Family Christmas, a lull and then the blast,” Chicago Daily News, 19 tháng 9 năm 1970, trang 16.

3360  Thượng viện, Ủy ban  Committee on the Judiciary, Tiểu ban  Subcommittee to Investigate the Administration of the Internal Security Act and Other Internal Security Laws, The Weather Underground, Committee Print, Tháng Giêng năm 1975, trang 25.

3361  Cathy Wilkerson, Flying Close to the Sun, New York: Seven Stories Press, 2007, trang 346-7, 349.

3362  FBI, FOIA, Weather Underground. Nguồn tin chính là phúc trình của Đương nhiện SAC Chicago gởi cho Giám đốc, “Foreign Influence-Weather Underground Organization,” 20 tháng 8 năm 1976, trang 327.

3363  Cathy Wilkerson, Flying Close to the Sun, New York: Seven Stories Press, 2007, trang 361.

3364  “Tài liệu tình báo được giải mật của Chính Phủ Hoa Kỳ liên hệ các móc nối của Weather Underground với cộng sản và ngoại quốc. Viện dẫn như là bằng chứng chiếu theo thỏa thuận giữa công tố và luật sư biện hộ trong phiên tòa xét xử W. Mark Felt và Edward S, Miller,”  trang  59 tại  www.usasurvival.org.

3365  “Tài liệu tình báo được giải mật của Chính Phủ Hoa Kỳ liên hệ các móc nối của Weather Underground với cộng sản và ngoại quốc. Viện dẫn như là bằng chứng chiếu theo thỏa thuận giữa công tố và luật sư biện hộ trong phiên tòa xét xử W. Mark Felt và Edward S, Miller,”  trang  61 tại  www.usasurvival.org.

3366  Juliet Wittman, “Memoirs: Radical parents, Red shoes and a poet up close and personal,” Washington Post, 21 tháng 11 năm  2004, trang BW13; tóc được nhuộm theo lời Cathy Wilkerson, Flying Close to the Sun, New York: Seven Stories Press, 2007, trang 349.

3367  Hạ viện, Ủy ban Committee on Internal Security, The Theory and Practice of Communism in 1972 (Venceremos Brigades) , 16,18 and 19 tháng 10 năm 1972, Phụ đính  B, trang 8135-40, gồm bản công bố của Lữ đoàn 2 Venceremos, nguyên ủy in trong tài liệu của Thượng nghị sĩ  James O. Eastland, “Americans Train in Cuba for Revolution,” Tài liệu Quốc hội,  8 tháng 11, trang 192, E 9089-E 9098.

3368  “Tài liệu tình báo được giải mật của Chính Phủ Hoa Kỳ liên hệ các móc nối của Weather Underground với cộng sản và ngoại quốc. Viện dẫn như là bằng chứng chiếu theo thỏa thuận giữa công tố và luật sư biện hộ trong phiên tòa xét xử W. Mark Felt và Edward S, Miller,” trang  59 tại  www.usasurvival.org

FBI, FOIA, Weather Underground. Nguồn tin chính là phúc trình của Đương nhiện SAC Chicago gởi cho Giám đốc, “Foreign Influence-Weather Underground Organization,” 20 tháng 8 năm 1976.

3369  Cathy Wilkerson, Flying Close to the Sun, New York: Seven Stories Press 2007, trang  379.

3370  “Tài liệu tình báo được giải mật của Chính Phủ Hoa Kỳ liên hệ các móc nối của Weather Underground với cộng sản và ngoại quốc. Viện dẫn như là bằng chứng chiếu theo thỏa thuận giữa công tố và luật sư biện hộ trong phiên tòa xét xử W. Mark Felt và Edward S, Miller,” trang 40, 90 tại  www.usasurvival.org

3371  “Tài liệu tình báo được giải mật của Chính Phủ Hoa Kỳ liên hệ các móc nối của Weather Underground với cộng sản và ngoại quốc. Viện dẫn như là bằng chứng chiếu theo thỏa thuận giữa công tố và luật sư biện hộ trong phiên tòa xét xử W. Mark Felt và Edward S, Miller,” trang 61 tại  www.usasurvival.org

3372  Cathy Wilkerson, Flying Close to the Sun, New York: Seven Stories Press, 2007, trang 363.

3373  H.R. Haldeman, The Haldeman Diaries: Inside the Nixon White House, New York: Berkley Books, 1994, trang 226; Sau một lần bị bắt rồi được tòa tha bổng thì Angela Davis liền tổ chức liên hoan bằng một chuyến đi thăm khắp Liên Xô.

3374  Hãy đọc: Marsha McKnight Trick, “Chronology of Terrorist …Violence…January 1965 to March 1976.” in Disorders and Terrorism, một phúc trình của Đơn vị Đặc nhiệm về Bạo loạn và Khủng bố (Task Force on Disorders and Terrorism), Washington: Advisory Commission on Criminal Justice Standards and Goals, Tháng Chạp năm 1976, trang 507-593.

3375  History of the FBI, Vietnam War Era, http://www.fbi.gov/libref/history/vietnam.htm

3376  Bill Ayers, Fugitive Days, trang 228.

3377  “Tài liệu tình báo được giải mật của Chính Phủ Hoa Kỳ liên hệ các móc nối của Weather Underground với cộng sản và ngoại quốc. Viện dẫn như là bằng chứng chiếu theo thỏa thuận giữa công tố và luật sư biện hộ trong phiên tòa xét xử W. Mark Felt và Edward S, Miller,” trang 61 tại  www.usasurvival.org

3378  Bernardino Dohrn, Bill Ayers, Jeff Jones và Celia Sojourn, Prairie Fire: The Politics of Revolutionary Anti-imperialism; Political Statement of the Weather Underground, Communications Co. 1974, trang 4-5. 

3379  Phúc trình của J. Edgar Hoover gời Chưởng Lý Attorney General, 3/16/70 và Văn thư FBI gởi Ủy ban Thượng viện Senate Select Committee (đính kèm), 10/22/75 đã được nêu ra trong phúc trình Church.

3380  FBI, FOIA, Weather Underground. Nguồn tin chính là phúc trình của Đương nhiện SAC Chicago gởi cho Giám đốc, “Foreign Influence-Weather Underground Organization,” 20 tháng 8 năm 1976, trang 273.

3381  Văn thư FBI gởi Ủy ban Thượng viện Senate Select Committee (đính kèm), 10/22/75 đã được nêu ra trong phúc trình Church.

3382  FBI, FOIA, Weather Underground. Nguồn tin chính là phúc trình  của Đương nhiện SAC Chicago gởi cho Giám đốc, “Foreign Influence-Weather Underground Organization,” 20 tháng 8 năm 1976, trang 295, 311.

3383  http://www.sunrisedancer.com/radicalreader/library/waythewindblew.pdf

3384  “Tài liệu tình báo được giải mật của Chính Phủ Hoa Kỳ liên hệ các móc nối của Weather Underground với cộng sản và ngoại quốc. Viện dẫn như là bằng chứng chiếu theo thỏa thuận giữa công tố và luật sư biện hộ trong phiên tòa xét xử W. Mark Felt và Edward S, Miller,” trang 40 tại  www.usasurvival.org

3385  “Tài liệu tình báo được giải mật của Chính Phủ Hoa Kỳ liên hệ các móc nối của Weather Underground với cộng sản và ngoại quốc. Viện dẫn như là bằng chứng chiếu theo thỏa thuận giữa công tố và luật sư biện hộ trong phiên tòa xét xử W. Mark Felt và Edward S, Miller,” trang 61 tại  www.usasurvival.org

3386  FBI, FOIA, Weather Underground. Nguồn tin chính là phúc trình của Đương nhiện SAC Chicago gởi cho Giám đốc, “Foreign Influence-Weather Underground Organization,” 20 tháng 8 năm 1976, trang 178.

3387  Như trên.

3388  FBI, FOIA, Weather Underground. Nguồn tin chính là phúc trình của Đương nhiện SAC Chicago gởi cho Giám đốc, “Foreign Influence-Weather Underground Organization,” 20 tháng 8 năm 1976, trang 265.

3389  Amy Goodman phỏng vấn Jennifer Dohrn, “Exclusive …Jennifer Dohrn: I Was the Target of Illegal FBI Break-ins Ordered by Mark Felt asks “Deep Throat”, DemocracyNow.org,  2 tháng 6 năm 2005.

 

*****

Một phản hồi to “Roger Canfield’s Americong #74”

Trackbacks/Pingbacks

  1. Giới thiệu tác phẩm AMERICONG (MỸ-CỘNG) – Lê Bá Hùng | Ngoclinhvugia's Blog - 05/01/2016

    […] Roger Canfield’s Americong #74 […]

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: