Roger Canfield’s Americong #64

image002

Comrades in Arms

How the Americong Won the War in Vietnam

Against the Common Enemy— America

Copyright Roger Canfield, Ph.D.

1986-2012

No commercial transaction allowed except that approved by the author, copyright holder.

Obtain a prepublication release of a CD-R in Microsoft Word in ENGLISH at a discounted price of $15 from Roger Canfield Rogercan@pacbell.net at 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 or at http://americong.com.

Completely SEARCHABLE for any name, date, place or event of the War and its protesters.   

Cover: Design Stephen Sherman. Photos: Roger Canfield, March 2008. TOP: War protest Hawaii, February 1966 displayed at War Remnants (Crimes) Museum, Saigon. Bottom: Praetorian Guard

Các đồng chí cùng chiến tuyến

Làm thế nào MỹCộng thắng cuộc chiến Việt Nam

Chống kẻ Thù Chung – Mỹ

Giữ bản quyền Roger Canfield, Tiến Sĩ

1986-2012

Không được sử dụng vào mục đích thương mại nếu không có sự đồng ý của Tác giả, người giữ bản quyền.

Có thể mua một tiền bản dưới dạng CD-R Microsoft Word bằng Anh ngữ với giá đặc biệt US$15 ngay từ tác giả Roger Canfield  Rogercan@pacbell.net tại 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 hay tại  http://americong.com.

 

Hoàn toàn có thể TRA CỨU hoặc bằng tên, bằng ngày tháng hay biến cố liên quan đến cuộc Chiến cùng cả luôn bọn tham dự biểu tình .

******************************************************

* Tác giả giữ bản quyền © Roger Canfield 1986-2012

  • Lê Bá Hùng chuyển ngữ  (với sự chấp thuận của Tác giả)

 *****

Chương 64

Tháng 10 và 11 Năm 1969

Đình Chỉ ‘Moratorium’ Về Chiến Tranh

Cuộc ‘Tranh Đấu’ Khuyến Khích Đình Chỉ

‘Moratorium’ của Bắc Việt

 

Trận Công Kích Phối Hợp và Thống Nhất vào Mùa Thu

Ngày 4 tháng 10 năm 1969, lệnh Đình chỉ Moratorium và New Mobe thông báo  nhập chung lực lượng lại cùng tham dự các biến cố vào tháng 10 và tháng 11 nằm trong “Trận Công Kích Mùa Thu” để chống chiến tranh. 3058

Vào ngày 5 tháng 10 năm 1969, Liberation Press Agency (Thông Tấn Xã Giải phóng Nam Việt) đã công bố là Ủy ban nhân dân miền Nam Việt Nam đoàn kết với nhân dân Mỹ (South Vietnam People’s Committee for Solidarity with the American people) đã gửi một thông điệp đến New Mobe và những người khác.  “Chúng tôi rất phấn khởi … các bạn sẽ phát động một đại chiến dịch mùa thu chống lại chính sách chiến tranh của chính quyền Nixon, buộc phải … đem tất cả  quân nhân ngay lập tức về nhà.” Thông điệp đã kết luận hành vi rút quân là để chấm dứt ngay lập tức “mà không đặt ra bất kỳ điều kiện nào cả.”

Ngày 6 tháng 10, một chương trình phát thanh của Trần Bửu Kiếm thuộc Công đoàn Sinh viên Giải phóng Nam Việt đã mô tả một bức thư gởi sinh viên Mỹ ca ngợi họ “nhân dịp phong trào đấu tranh mùa Thu 1969” và “đấu tranh anh hùng của những người bạn ở New York, Washington,Oakland và Berkeley, đã được đánh giá cao bởi thanh niên và sinh viên miền Nam Việt Nam”. Thông điệp này  từ sinh viên Việt cộng cũng hoan nghênh Hội nghị Hòa bình Cleveland ngày 4 tháng 7, nhóm SDS (Terry Robbins, Bill Ayers, Mark Rudd và Linda Sue Evans)  3059 và toán Spring Mobe.

Hội Nghị Stockholm Ủng Hộ Trận Công Kích Mùa Thu

Ủy Ban Liên Lạc Quốc Tế (International Liaison Committee, ILC)

Ngày 11 và 12 tháng 10 năm 1969, Irving Sarnoff và Ron Young, đại diện cho New Mobe đã tham dự Ủy ban Liên lạc Quốc tế (International Liaison Committee ILC), hội nghị Stockholm được Liên Xô  tài trợ, 3060 mà đã thông qua ủng hộ “cuộc công kích mùa thu”, hỗ trợ cho một ngày Huy động Quốc tế (International Mobilization) vào ngày 15 tháng 11. Hội nghị Stockholm về Việt Nam đã yêu cầu quốc tế yểm trợ toàn vẹn cho New Mobe và đề cao nó như là tổ chức đang tiến hành “công việc quan trọng để vận động nhân dân Mỹ chống chiến tranh xâm lược và phản cách mạng ở Việt Nam.” Ủy ban nhân dân miền Nam Việt Nam đoàn kết với nhân dân Mỹ và Hội Liên hiệp Sinh viên Giải phóng miền Nam Việt Nam cũng đã đồng ý như vậy.

Trong số danh sách dài thòng các mặt trận Liên Xô hỗ trợ cho International Mobilization vào ngày 15 tháng 11 thì đã có Hemispheric Conference to End the Vietnam War and Women Strike for peace (ở Montreal). Một lá thư của ILC ghi nhận, “sự hợp tác toàn vẹn với các bạn Mỹ của chúng ta” trong New Mobe và đã nêu tên của Ronald Young và Irving Sarnoff. “Hội nghị Stockholm về Việt Nam hoan nghênh sự hình thành của liên minh rộng lớn nhất của các lực lượng phản chiến Mỹ mà sẽ được biết đến… trong New Mobilization. …” Thư ILC này liệt kê tất cả các sự kiện gần đây và sắp tới. Mọi cuộc biểu tình đều ủng hộ “đòi hỏi qua lời kêu gọi của Việt Nam … hoàn toàn và vô điều kiện rút quân… ra khỏi Nam Việt Nam.” 3061

Tất cả bọn ôn hòa và cấp tiến Cộng Sản Việt Nam đều đã ủng hộ cả hai cuộc biểu tình tháng 10 và 11.

Phạm Văn Đồng tán thành Lệnh Đình Chỉ ‘Moratorium’ và New Mobe

Mặc dù bọn tự xưng là ôn hòa đã được xem như điều hành các biến chuyển về Lệnh Đình Chỉ ‘Moratorium’ vào tháng 10, vào ngày 14 tháng 10 chính New Mobe chứ không phải là Moratorium đã nhận được một bức điện từ Thủ tướng Bắc Việt Phạm Văn Đồng: (cuộc) CHIẾU ĐẤU CỦA NHÂN DÂN VIỆT NAM VÀ NHÂN DÂN TIẾN BỘ TẠI HOA KỲ CHỐNG LẠI VIỆC XÂM LĂNG CỦA MỸ RỒI SẼ KẾT THÚC TRONG CHIẾN THẮNG TOÀN VẸN. TÔI XIN CHÚC “CUỘC CÔNG KÍCH MÙA THU” CỦA CÁC BẠN SẼ THÀNH CÔNG RỰC RỠ. 3062

Trên Đài Hà Nội vào ngày 15 tháng 10, Đồng đã ca ngợi, “các người Mỹ yêu chuộng hòa bình và  công lý … đang tung ra một cuộc tấn công rộng lớn và mãnh liệt … để đòi hỏi chính quyền Nixon phải  chấm dứt chiến tranh Việt Nam …”.  Đồng một lần nữa đã bày tỏ sự tin tưởng rằng “cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam và của những người tiến bộ ở Hoa Kỳ nhằm chống lại mọi xâm lược của Mỹ rồi sẽ kết thúc trong thắng lợi hoàn toàn.” 3063

New Mobe giao Fred Halstead soạn thảo một phúc đáp cho Đồng. “Chúng tôi biết là nhân dân Mỹ và nhân dân Việt Nam cùng chia sẻ một nhu cầu và một mong muốn chung cho việc rút ngay lập tức tất cả các lực lượng Mỹ tại Việt Nam.”  Để tránh phiền nhiễu, New Mobe đã quyết định giữ bí mật cả bức điện của Đồng và luôn cả phúc đáp của Halstead. ”

Đám cấp tiến New Mobe nay thì đã đại diện luôn cho bọn Moratorium ôn hòa. 3064

Vào ngày 13 tháng 10 năm 1969, một cuộc biểu tình tại Hà Nội của Liên đoàn sinh viên Việt Nam đã gửi một bức điện tín hỗ trợ cho cuộc “đấu tranh” từ 13 đến 15 tháng 11 sắp tới tại Mỹ. Tiến sĩ Ngụy Như Kon Tum, Viện trưởng  Đại học Hà Nội  “bày tỏ ý chí thống nhất với trí thức, sinh viên và nhân dân Mỹ ” cũng như với đòi hỏi của họ là” chính quyền Nixon phài rút  tất cả . . . binh lính . . . ” 3065

Ngày 14 tháng 10, một bản tin tình báo phúc trình cho Tổng thống biết về một bức thư với  cách sử dụng “những danh từ hùng biện cộng sản” của Phạm Văn Đồng gởi cho nhân dân Mỹ để hỗ trợ cho bọn Lệnh Đình Chỉ  Moratorium. Cố vấn Haldeman của Tổng thống  thu xếp để bức thư được công bố hầu “cố gắng để số người vô tội nhận ra được là mình đã bị lợi dụng.” 3066  Phó Tổng thống Spiro Agnew yêu cầu các lãnh đạo của Moratorium phải “phủ nhận sự hỗ trợ của một chính phủ độc tài toàn trị mà trên tay cũng đã vấy máu của 40.000 người Mỹ.” 3067 Nixon sau này gọi những lời tuyên bố của Đồng quả là “một sự can thiệp trắng trợn vào công việc nội bộ của chúng ta”. 3068

Ngày 13 và 18 tháng 10 năm 1969, tờ Washington Post đã đăng những bài viết mô tả các kế hoạch của Bắc Việt nhằm khuyến khích các nhóm phản chiến Mỹ: “Tên VC Gái Khuyến khích các Cuộc Biểu tình Mỹ” và “VC Nuôi dưỡng các Nhóm Phản chiến Mỹ”. 3069

Một số nhỏ lính GI ở Việt Nam đã đeo băng tay màu đen để bày tỏ sự ủng hộ của họ đối với Moratorium ở Washington. Một nhiếp ảnh gia khi đi lấy tin đã báo cáo là có thấy trong một trung đội đi tuần gần Đà Nẵng, độ phân nửa đã đeo băng tay đen. 3070

15 tháng 10, Moratorium

Ngày 15 tháng 10 năm 1969, New Mobe khởi động cuộc Công Kích Mùa Thu từng được chuẩn bị rất lâu trước đó, một ngày bãi học của sinh viên trên toàn quốc, một “Lệnh Đình Chỉ ~ Moratorium”  chống lại cuộc chiến tranh tại Việt Nam.

Nhiều người theo khuynh hướng tự do, từng ủng hộ cho Robert Kennedy và Eugene McCarthy, gồm có Sam Brown, David Hawk và Averill Harriman đều đã tích cực trong tổ chức Moratorium ở khắp nơi trong nước. Thượng nghị sĩ Cranston, Godell, Javits, Kennedy, Tydings và  Thị trưởng John Lindsay của New York cũng đã công khai ủng hộ October Moratorium. 3071 Các người diễn thuyết nổi tiếng đã là thượng nghị sĩ George McGovern và Frank Church, Art Waskow của SDS / IPS và Tiến sĩ Benjamin Spock. 3072

Tom Hayden nhớ lại, “Chúng tôi (đám Conspiracy Chicago) đã phải đấu tranh cả với thành phần quan liêu của nhóm chỉ để được xuất hiện trên sân khấu ở Chicago Moratorium …”3073  Đám theo khuynh hướng tự do cũng bị Hayden chỉ trích. “Họ muốn chấm dứt chiến tranh nhưng cũng muốn lưu giữ chề độ” và “Họ vẫn là một loại đối lập trung thành chấp nhận sinh hoạt ngay trong đấu trường bầu cử … [chỉ đơn giản] nhằm để thay đổi không phải là cả chế độ mà chỉ các ưu tiên mà thôi.” 3074

Trong một lần tụ hợp ở Nott Memorial  tại Union College gần Schenectady, thành viên FOR là Allan Brink kêu gọi phải phóng thích các tù nhân chính trị của Sài Gòn, phải lật đổ chính phủ hiện tại ở đó, Mỹ phải rút quân và một giải pháp hòa bình chiếu theo các điều kiện đòi hỏi phần chiến thắng cho Cộng sản. 3075

Moratorium Vừa Là Một Thành Công Đáng Kinh Ngạc Mà Cũng Là Một Thất Bại.

Thành Công: Một Triệu Người Biểu Tình

Hơn một triệu người đã tham dự các cuộc biểu tình, lớn hay nhỏ, tại thị xã hay trong thành phố, từ khuôn viên đại học này đến khuôn viên đại học khác, từ bờ bên này qua bờ biển bên kia. 3076 Ủy ban Fifth Avenue Parade Committee ở New York đã thuê “600 xe ‘bus’ và ba hoặc bốn chuyến xe lửa”, theo FBI sau khi kiểm tra trương mục ngân hàng của ủy ban và theo dõi tại 57 địa điểm. 3077 Hiện nay,  Moratorium vẫn đang được vinh danh tại Hà Nội ở một viện bảo tàng nguyên trước kia là nhà giam của tù binh Hoa Kỳ, cái khách sạn “Hanoi Hilton”. 3078

Hiểu Sai Sự Hỗ trợ Của Công Chúng: báo Time, Các Giáo Sư, Quốc hội, Nixon

Tạp chí Time đã cùng nhiều người phiên giải sai lầm là đã có sự hỗ trợ của công chúng cho phong trào phản chiến.

Time cho biết các giảng viên Harvard đã biểu quyết 255 chống 81 để lên án cuộc chiến tranh mà lại không cho biết là chỉ có 6,6% trong tổng số 7.330 giảng viên của Harvard đã chịu khó bỏ phiếu. Trong khi quả có 79 Viện Trưởng đại học muốn đẩy nhanh lịch trình rút quân Mỹ thì khoảng 1.900 Viện Trưởng khác, tức là 96% thì lại đã không có chủ trương như vậy. Mặc dù 17 thượng nghị sĩ và 47 dân biểu đã ủng hộ Moratorium, một số 83 thượng nghị sĩ và 388 vị Dân biểu Quốc hội Hoa Kỳ, tức là 86% của Quốc hội, đã  quyết định không công khai ủng hộ Moratorium. 3079

 image004

 Hình: Vinh danh Moratorium tại Bảo tàng viện “Hà-nội Hilton”,

Roger Canfield. Tháng 3 năm 2008

 

Công Luận: Biểu tình “phụ trợ và nâng đở bọn Cộng sản.”

Ngày 3 tháng 11 năm 1969, một cuộc thăm dò Harris Poll cho thấy với một sai số 65% chống 25%, người dân Mỹ nghĩ rằng bọn biểu tình phản chiến đã “phụ trợ và nâng đở bọn Cộng sản.” 3080

Nixon Hủy Bỏ Kế Hoặch Duck Hook

Sau khi công bố một tối hậu thư cho Bắc Việt, Tổng thống Nixon đã lên kế hoạch  Duck Hook, một chiến dịch kinh khủng nhằm bỏ thủy lôi và không tạc Bắc Việt. Bức thư của Đồng để khuyến khích Moratorium đã công khai chế giễu cái tối hậu thư của Nixon.  Sau vụ Moratorium, Nixon đã sai lầm khi quyết định, như sự việc sau này đã cho thấy, là “công luận Mỹ sẽ cực kỳ chia rẻ do bất kỳ hành vi leo thang quân sự nào đó”. Nixon đã hủy bỏ kế hoặch Duck Hook, 3081 một quyết định mà ông và Kissinger sau này sẽ rất là hối tiếc.

Nixon Chuẩn Bị Bài Diển Văn

Nixon đã bắt đầu soạn một bài diển văn để ráng làm giảm ảnh hưởng của một cuộc biểu tình thứ hai sắp xảy ra, cuộc diễn hành vào trung tuần tháng 11 có tên là March Against Death and March on Washington.

Trong khi đó, một tổng thống tương lai đã lại tham gia phong trào chủ hòa. Cho đến ngày nay, lòng trung thành thực sự của đương sự trong các chuyến phiêu lưu ở châu Âu vẫn còn tùy thuộc vào nhiều cách suy đoán cực kỳ mâu thuẫn lẫn nhau và giải thích khác nhau, từ việc làm gián điệp cho CIA và / hoặc KGB.

Việc làm cho Hòa Bình của Bill Clinton ở London, Oslo, Prague, Moscow

Một người Arkansas tốt nghiệp Đại học Georgetown ở Washington, DC và cũng là môt Rhodes Scholar  tại Đại học Oxford, Vương quốc Anh vào mùa thu 1968-1969, Bill Clinton quả đã có tìm thấy cái  “bầu không khí … triệt để chống Mỹ” ở London nhưng lại vẫn đã tham gia phong trào chống chiến tranh tại Vương quốc Anh.

Ngày 24 tháng 2 năm 1969, các nhật ký của H.R. Haldeman đã cho thấy, “Chúng tôi có cảm giác như đang trong ở trong một căn cứ có được phòng vệ. Các mối đe dọa của các cuộc biểu tình ở Groscenor Square (London) đã khiến cảnh sát phải ra quân nhiều hơn, ngay cả nếu so sánh với New York … Từng toán nhỏ trông thật thảm hại cũng như là vô hại… mà cảnh sát … thì đã đông hơn họ ít ra thì cũng theo tỷ lệ 50 chống 1. 3082  Cùng với Hoa hậu Arkansas Sharon Evans, vào tháng 3 năm 1969, Bill Clinton tham gia vào một cuộc biểu tình phản chiến của người Anh tại Quảng trường Trafalgar. 3083

 image006

image008

Hình: Luân Đôn, 1968, Viện Bảo Tàng Di Tích Chiến Tranh,

Sài-gòn, Canfield, Tháng 3 năm 2008

 

Ngày 9 tháng 6 năm 1969, Bill Clinton có nói chuyện với một nhà báo Maryland tên Tom Cullen về những tình cảm phản chiến của 29 người Mỹ ở Oxford. Clinton đã nói: “Tôi đã luôn luôn phản đối bạo lực. Tuy nhiên, tôi lại đã thông cảm với một số trong những mục tiêu của Students for a Democratic Society”. Mặc dù, “Họ là những người Mác-xít xấu xa … u tối lộn xộn trong suy tư của họ”. 3084  Những gì ông ta đã nghĩ về bọn Mác-xít  tốt chắc có lẻ đáng lưu ý hơn.

Mùa hè năm đó khi về lại Arkansas, Clinton đã soạn ra một kế hoạch nhằm không chỉ để trốn tránh nghĩa vụ quân sự mà còn để được làm việc cho ủy ban  Moratorium Việt Nam, VMC trong văn phòng mà tên đảng viên CS Mỹ Abe Bloom đã thuê tại số 1029 Vermont Avenue NW, Washington, DC.

Vào tháng 9, Clinton tham gia một nhóm tình nguyện viên mà cũng là nhân viên của phong trào McCarthy for President với Vietnam Moratorium Committee  – Sam Brown, David Mixner, Mike Driver, Eli Segal, Richard Stearns, Branch Taylor, Strobe Talbott – tại Martha’s Vineyard  ở Massachusetts trước khi trở lại Đại học Oxford. 3085

Các cuộc biểu tình ở London của Clinton

Trở lại Oxford vào mùa thu năm 1969, Clinton và Richard Stearns đã tham dự các cuộc họp của Nhóm 68. Các tên phản chiến Mỹ đã thành lập Nhóm 68 từ ủy ban Stop It Committee của Ủy ban Viet Nam Solidarity Committee cấp tiến. Tay đồ đệ của Bertrand Russell Ralph Schoenman và tênTrotskyite Tariq Ali và Ủy ban British Peace Committee thân Liên Xô đã cùng tài trợ cho Ủy ban Vietnam Solidarity Committee 3086 mà từ đó Nhóm 68 của Clinton đã tách ra.

Cùng với Richard Stearns và một số khác, Bill Clinton đã giúp tổ chức cuộc biểu tình của Moratorium tại London vào ngày 15 tháng 10 năm 1969 bên ngoài tòa Đại sứ Mỹ trên quảng trường Grosvenor. Tài tử Paul Newman và Joanne Woodward cũng có tham gia. British Peace Council, một chi nhánh của World Peace Council do Liên Xô kiểm soát, Stockholm World Conference on Vietnam và International Confederation for Disarmament and Peace cũng có tài trợ cho London Moratorium . 3087

Báo chí Anh, theo Joel Ruth của WorldNetDaily, tường thuật là bọn biểu tình đã khóc than, “Hồ, Hồ, Hồ,” và “Hồ Chí Minh, Việt Cộng chắc chắn sẽ thắng.” 3088  Điều này chắc chắn là lập trường của tất cả các tổ chức Anh và Liên Xô mà đã đứng ra tài trợ cho cuộc biểu tình. Clinton cũng “giúp để tổ chức một môn học để giảng dạy tại Đại học London”,  3089 nhưng các chi tiết thì cũng chưa đấy đủ. Tại Oxford, nơi Clinton đang học, Vietnam Solidarity Campaign của Tariq Ali đã thành lập Ủy ban Việt Nam. 3090

Một tháng sau, vào ngày 16 tháng 11 năm 1969, Clinton đã giúp tổ chức một cuộc biểu tình của độ 200 người ở phía trước của tòa Đại sứ Mỹ trên quảng trường Grosvenor tại London. 3091 Nữ tài tử Vanessa Redgrave và ca sĩ Peggy Seeger với Judy Collins đều tham dự. Ngày hôm sau Clinton cũng đã giúp tổ chức một cuộc buổi thánh lể để phản đối tại nhà thờ St Mark mà mục đích là giúp cho một số người biểu tình phản chiến tự tách khỏi bọn Mác-xít cấp tiến. 3092

Cha Richard McSorley, một Giáo sư tại Georgetown có nhớ lại, “Trong khi tôi đang chờ  buổi lễ bắt đầu thì Bill Clinton của Georgetown mà dạo đó đang là nghiên cứu sinh học bổng Rhodes Scholar tại Oxford, đã đến và chào tôi. Ông là một trong những người tổ chức. ”

Những đồng tổ chức khác của biến cố tháng 11 gồm luôn Vietnam Solidarity Campaign có khuynh hướng Trotskyite của Tariq Ali, Peace Council and War Crimes Tribunal của Bertram Russell. Khi vận động để tái tranh cử vào năm 1992, Tổng thống George H.W. Bush đã sẽ nói, “Tôi không thể nào hiểu được một ai đó mà lại đi cổ động biểu tình ở ngoại quốc trong khi những thanh niên nghèo trong các khu nhà ổ chuột đã bị gọi quân dịch và đang hy sinh bỏ mạng trên một vùng đất xa xôi.” 3093

Oslo và Sau Đó

Bill Clinton đã ở mấy tuần còn lại của tháng chạp năm 1969 tại Oslo, Prague và Moscow và qua luôn đầu năm 1970.

Ngày 12 tháng 12 Clinton đã cùng Cha Dòng Tên McSorley ở Na Uy đến thăm Viện Oslo Nghiên cứu về Hòa bình, một trung tâm hòa bình tại Trường Đại học Oslo. Clinton cũng đã gặp Jim Durham, một người bạn từ Hot Springs, Arkansas đang học vật lý tại Oslo. Durham có thể dễ dàng bị nhầm lẫn với một người khác với cùng tên. 3094 International Committee for Inquiry into United States War Crimes (Ủy ban quốc tế Điều tra về các tội ác chiến tranh Hoa Kỳ) có trụ sở trung ương ở Oslo.

Từ Oslo, Clinton dành vài ngày đi Stockholm  3095 và sau đó lấy phà đến Helsinki, Phần Lan ở hai ngày với Richard Shullaw, con trai của một nhà ngoại giao Hoa Kỳ. Từ Helsinki, Clinton dùng xe lữa đến Leningrad (St. Petersburg) và rồi Moscow.

Moscow: Các Tiếp Xúc với KGB?

Từ 31 tháng chạp đến 6 tháng giêng năm 1970, Bill Clinton ngụ tại khách sạn đắt tiền National Hotel ở Moscow, “nói chung như chỉ là một khách du lịch” 3096  trong “một thời gian rất thân thiện”.

Ông đã gặp bạn gái của Tom Wiliamson,  Anik “Nikki” Alexis, nguyên là con gái của một nhà ngoại giao Pháp. Nikki đang học tại Đại học Hữu nghị nhân dân Patrice Lumumba (Patrice Lumumba People’s Friendship University) nhằm phục vụ cho sinh viên thế giới thứ ba, với một chương trình giảng dạy theo chủ nghĩa Mác và là một môi trường để KGB tuyển dụng nhân viên. Giống như các Brigades Venceremos, sinh viên tại Lumumba rất thiện cảm với những lời kêu gọi “làm việc cho hòa bình” bằng cách phục vụ Liên Xô hay tiến hành một cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở ngay quê hương của họ – nơi mà chúng cũng sẽ trở thành chủ nhân ông của họ mà thôi.

Và như vậy là KGB đã tuyển dụng một số sinh viên của đại học Lumumba để đào tạo thêm về cách mạng và chiến tranh du kích. Carlos Jackal đã từng là tay cựu sinh viên nổi tiếng nhất của trường đại học này. Tại Đại học Lumumba, người bạn trẻ Bill Clinton đã ăn tối với Niki, Helene từ Haiti và Oleg Rakito mà rõ ràng “được giao phó trách nhiệm theo dõi tôi.” 3097

Bản dịch tiếng Nga của cuốn tiểu sử tự thuật của Clinton, My Life, lại đã cho thấy một ngạc nhiên nhỏ. Vyacheslav Nikonov, chủ tịch của Tổ chức Politika đã cho biết, “một ông già tốt bụng của KGB … đã có những cuộc mạn đàm bổ ích với  người trai trẻ Mỹ.” 3098

Một cách thật trùng hợp, người bạn cùng phòng của Clinton là Strobe Talbott và các tay bạn khác cùng lớp của Oxford cũng đang có mặt tại Moscow vào lúc này. Strobe Talbott thì đang dịch hồi ký của cựu thủ tướng Nga Nikita Khrushchev  3099 với sự giúp đở của Victor Louis (Vitali Yevgenyevich Lui), một nhân viên phản tuyên truyền KGB.

Trong quyển Đồng chí J, điệp viên Liên Xô Sergei Tretyakov sau đó đã mô tả Strobe Tablot như là một tên bị tình báo Nga bịp mà đã rất là hữu ích, ĐẶC BIỆT, LIÊN HỆ KHÔNG CHÍNH THỨC, một loại nguồn tin “11-2” , một liên lạc đáng tin cậy (gián điệp) mà FBI và CIA rất là nghi ngờ suốt dưới thời chính quyền Tổng thống Bill Clinton. 3100

Các “bạn bè” Liên Xô của Clinton, ngoài việc trợ cấp cho phong trào phản chiến, thường một cách rất là công khai ở châu Âu, cũng đã cung cấp cho Bắc Việt vũ khí và tin tình báo để giết người Mỹ. Tổng thống H.W. Bush đã nói với Larry King, “khi đi Moscow chỉ một năm sau khi Nga nghiền nát Tiệp Khắc, mà [bạn] cũng không nhớ được vừa mới gặp ai, tôi thực sự nghĩ câu trả lời là [bạn] đang ân oán đủ thiếu với người dân Mỹ.” 3101

Bọn chiến hữu Moscow cũng đã đang tuyển dụng đám khủng bố như Carlos the Jackal, tại cùng trường đại học của Nikki. Patrice Lumumba đã từng ra lệnh cho các lãnh đạo tỉnh của Congo phải triệt để thi hành “khủng bố, việc cần thiết để chế ngự người dân.”

Anh sinh viên Clinton đã đụng mặt với Charlie Daniels, Carl McAfee và Henry Fors, người đang tìm kiếm tin về đứa con trai bị mất tích lúc đang giao chiến (MIA). Ngày 22 tháng chạp năm 1967, Đại úy Fors Gary đã bị bắn rơi tại Lào và được nhìn thấy có nhảy dù ra và xuống tới mặt đất. Trong gần cả số 600 người Mỹ mất tích tại Lào, Gary Fors là một trong những người được nhìn thấy còn sống sau đó, nhưng đã không bao giờ trở về lại nhà ở Mỹ được. 3102

Prague: Ấm áp trong mùa đông.

Đến ở Prague ngày 6 tháng giêng năm 1970, Bill Clinton đã dành một số thời gian với gia đình của người bạn Oxford cùng lớp là Jan Kopold, con trai của một nhà lãnh đạo cao cấp đảng Cộng Sản Tiệp 3103 không hiểu sao đã sống sót qua được cuộc xâm lược của khối Hiệp ước Warsaw vào Tiệp Khắc và sau đó qua luôn cả những cuộc thanh trừng hậu Dubcek đối với các người đòi hỏi tự do mà chỉ mới xẩy ra có vài tháng trước đó thôi. Jan Kopold đã kết hôn với cháu gái của người sáng lập đảng cộng sản là Jan Sverma. Bà ta đã hướng dẫn Bill Clinton đi vòng thăm Prague.

Trong cuộc bầu cử Tổng thống năm 1992 – Bush chống Clinton – các phương tiện truyền thông Tiệp, kể cả báo Mlada Fronta Dnes, đã tường thuật là mật vụ Tiệp, Cơ quan An ninh Liên bang và Thông tin đã cung cấp tin về chuyến du lịch của Clinton đến Prague với Moscow và các móc nối của ông ngay bên trong Tiệp Khắc. Nếu có điều gì với nội dung quan trọng đã được cung cấp thì việc đó cũng đã không hề được tường thuật. Chính phủ Bảo thủ của John Majors ở Anh cũng hợp tác tương tự như vậy, nhưng đã không công khai tiết lộ kết quả, nếu đã có. 3104

Clinton: Điệp Viên CIA hay là KGB?

Có những người tin rằng Bill Clinton đã chỉ đùa giỡn với KGB – những người khác thì lại đoán là với CIA. Cả hai suy luận đều chính đáng, nhưng chưa bao giờ đã được chứng minh. Những yêu cầu của Tổng thống Bush, Sr trong tháng 10 năm 1992 trước cuộc bầu cử mà Clinton đánh bại Bush Cha vẫn chưa hề được trả lời. 3105

Các móc nối với KGB là hợp lý do từ các mối quan hệ tả phái của phong trào chủ hòa của Anh nêu ở trên cũng như các chuyến thăm lâu dài và thân thiện với  các viên chức cộng sản và gia đình họ ở Moscow và Prague. Tương tự như vậy, một cựu tù nhân chính trị và nhà xuất bản về các hồ sơ mật vụ Tiệp, nhà bất đồng chính kiến Petr Cibulka sau đó có nói, “Cá nhân tôi thì tin Clinton là một điệp viên cộng sản cũng như cả phó tổng thống của ông là Al Gore.” 3106

Clinton: Điệp Viên / Điềm Chỉ Viên CIA?

Năm 1996, cựu phụ tá Tòa Bạch Ốc Roger Morris của LBJ và Nixon đã viết một cuốn sách đáng kinh ngạc, Partners in Power (Các Đồng Bạn về Quyền Lực), tuyên bố những  nguồn tin CIA giấu tên cho biết cơ quan đã tuyển dụng Bill Clinton tại Oxford hoặc Georgetown 3107  để phải báo cáo về đám bạn đồng biểu tình phản chiến tại Anh và đám lính GI đào ngũ tại Scandinavia. 3108   Nếu đúng như vậy, đó cũng sẽ cho thêm một lời giải thích để làm sao mà Clinton có trang trải tiền nong cho các chuyến du lịch “sang trọng” và dài hạn trên khắp trái đất. 3109

Chắc chắn, chương trình CHAOS của CIA đã có tuyển dụng người Mỹ, rất nhiều từ Georgetown, để phục vụ ở ngoại quốc và một số đối tượng của họ là những người Mỹ sinh hoạt trong phong trào chủ hòa đang cộng tác với các cường quốc. Năm 1992, nhân viên tranh cử của Tổng thống Bush đã thuyết phục được giới truyền tin và Bộ Ngoại giao để kiểm tra các hồ sơ lưu trử về sổ thông hành của Clinton. Có tin đồn vào năm 1992 là vào năm 1969, Bill Clinton đã từ bỏ quốc tịch Mỹ của mình hay đã tìm kiếm tài liệu để làm như vậy. Việc kiểm tra các hồ sơ lưu trử về sổ thông hành đã cho thấy chỉ còn có phần trên bị xé ra từ một trang mà trước đó có thể đã có một tờ khác ghim bấm theo. Một cuộc điều tra của FBI đã không tìm được bằng chứng là đã có giả mạo giấy tờ và một công tố viên đặc biệt cho biết việc kiểm tra các hồ sơ lưu trử về sổ thông hành của Clinton là hoàn toàn hợp pháp.

Trong khi đó thì Hà Nội cứ tiếp tục công khai sử dụng toàn thế giới và phong trào phản chiến.

New Mobe: “Bọn Diều-hâu của Phía Bên Kia”

Từ Hong Kong, vào ngày 17 Tháng 10 năm 1969, John Hughes đã viết về quan điểm của cộng sản Việt Nam đối với chiến trận trên tờ Christian Science Monitor. Cuộc chiến đã đang diễn ra ngay tại Mỹ, nơi mà Hà Nội “đã ráng lấy lòng công luận”. Bọn Việt cộng đã có “tường thuật một cách rộng rãi vụ ‘Fall Offensive against the Nixon administration ~ Công Kích Mùa Thu Chống Chính Quyền Nixon’ …” Một lá thư chúng gởi cho sinh viên Hoa Kỳ đã gọi “họ là ‘lực lượng xung kích’ trong cuộc đấu tranh cách mạng kéo dài và gian khổ.” 3110

Trong tờ Washington Post ngày 18 tháng 10 1969, Liên đoàn Young People’s Socialist League, YPSL đã nhận ra là New Mobe đã hành động trái hẳn với mục tiêu hòa bình mà họ hằng tuyên bố. “Nhiều người trong giới lãnh đạo [của New Mobe] đã mong muốn một chiến thắng cho CPCMLT hơn là cho hòa bình.” 3111 Lãnh tụ YPSL Josh Muravchic đã cho biết, “nhiều người tham gia “trong New Mobe” đang rất là năng động, tự tuyên bố họ là những kẻ ủng hộ cho ‘phong trào giải phóng tại Việt Nam – tức là Việt Cộng” trong mổi lần phát biểu công khai.

Muravchiv  đã nói, “Tôi nghĩ rằng những người đó không thật sự thuộc phong trào hòa bình. Họ không sống cho hòa bình. Họ là đám diều hâu của phía bên kia. ”

IPS Ủng Hộ Cho Một Chiến Thắng Của Việt Cộng

Một diều hâu ở phía bên kia đã được xác định ra là tên Cộng sản Richard Barnet mà trên Đài phát thanh Hà Nội trong tháng 11 năm 1969 đã tuyên bố, “người Việt sẽ tiếp tục chiến đấu chống lại những kẻ xâm lược, những kẻ xâm lược mà chúng tôi tiếp tục chiến đấu chống lại ở ngay quê nhà.’ 3112 Sau đó Barnet chủ trương là những người Mỹ từng dính líu vào cuộc chiến đáng lý đã phải bị cấm làm việc tại các công sở và bị cấm cổ động việc sử dụng các lực lượng quân sự chống lại “các phong trào giải phóng quốc gia” mà Liên Xô hỗ trợ.

Barnet và Marcus Raskin thành lập Viện Nghiên cứu Chính sách (Institute for Policy Studies, IPS) với ngân sách 1 triệu đô Mỹ một năm, mà rất nhiều người trong đám Hội đồng Quản Trị như Barnet, Raskin, Charlotte Bunch, Christopher Jencks, Robert Levin và Peter Weiss và nghiên cứu sinh có trả lương, Barbara Bick, Fred Branfman,Saul Landau, Staughton Lynd, Paul Jacobs và Sol Stern 3113 đã đóng vai trò tích cực giúp đở phía bên kia là Hà Nội, trong chiến tranh Việt Nam.

Trong The Roots of War, Barnet đã viết: “Có nhiều điều để thù ghét nước Mỹ và càng nhiều hơn đối với chủ nghĩa quân phiệt Mỹ …”. 3114

Sau đó, Cửu Long, bút danh của Tướng Trần Độ, đã viết một bài được truyền thanh trên Đài phát thanh Giải phóng tuyên bố cho tới cuối năm 1969, Cộng sản đã giết chết được 230.000 lính Mỹ, 3115 gấp bốn lần toàn thể số tử vong của Mỹ nếu tính cho tới tháng 4 năm 1975.

*****

 

3058  New York Times, 5  tháng 10 năm 1969.

3059  Thượng viện, ủy ban Committee on the Judiciary, tiểu ban Subcommittee to Investigate the Administration of the Internal Security Act and Other Internal Security Laws, The Weather Underground, Committee Print, Tháng giêng 1975, trang 17 nêu ra  trong báo cáo của  Illinois Crime Investigating Commission, trong Phần 4 của “Extent of Subversion in the New Left, trang 377.

3060  HISC, Staff Study, Subversive Involvement in the Origin, Leadership and Activities of the New Mobilization Committee to End the War in Vietnam And Its Predecessor Organizations, 1970, XII-XIII.

3061  Thư của International Liaison Committee, Stockholm Conference on Vietnam, 18 tháng 10 năm 1969 nêu trong tài liệu  HISC, Staff Study, 1970, trang 42-3.

3062  Combat, Bộ 1, Số 30, 15 tháng 11 năm 1969.

3063  Herschensohn, trang 94.

3064  Combat, Bộ 1, Số  30, 15 tháng 11 năm 1969.

3065  “Hanoi Students Send Telegram Supporting Antiwar Activities,” Nhân Dân, Hà-nội, 14 tháng 11 năm 1969 nêu trong tài liệu của Joint Publications Research Service thuộc văn khố lưu trử của TTU, viện dẫn trong sách của Rothrock, trang 146 ghi chú 20.  

3066  H.R. Haldeman, The Haldeman Diaries: Inside the Nixon White House, New York: Berkley Books, 1994, trang 120.

3067  Wells, trang 366.

3068  Berman No Peace , No Honor, trang 57.

3069  “Answer This Question, Mr. Kerry,” Pittsburgh Tribune – Review, internet service, 17 tháng 10 năm 2004, viện dẫn “VC Woman Encourages U.S. Protests,” UPI, Washington Post, 13 tháng 10 năm 1969  và “VC to Cultivate U.S. Antiwar Groups,” Stanley Karnow, Washington Post, 18 tháng 10 năm 1969.

3070  Howard Zinn, “GI opposition the Vietnam War,” http://libcom.org/library/soldiers-opposition-to-vietnam-war-zinn 1965-1973

3071  Combat, Bộ 1, Số 28, 5 tháng 10 năm  1969.

3072  New Mobilization, “A schedule of events”, 15 tháng 10 năm 1969.

3073  Hayden, The Trial, 1970, trang 137.

3074  Tom Hayden, “All for Vietnam,” Ramparts, tháng 7 năm 1970, trang 27.

3075  “Local Protests in the Vietnam War,” History of Mohonasen Central School District.

3076  Wells, trang 371.

3077  The Fifth Avenue Parade Committee, Hiệp hội không đăng ký quy chế công ty, và đồng bọn, Nguyên đơn – Nguyên cáo, chống lại  L. Patrick Gray 3rd, Gíam đốc Đưong nhiệm FBI, và đồng bọn, Bị đơn – Bị cáo, Tòa Kháng cáo Hoa Kỳ, Đơn vị 2 (Second Circuit), hồ sơ 480 F.2d 326, phiên xừ ngày 14 tháng 3 năm 1973, Tuyên xử ngày 12 tháng 6 năm 1973.

3078  Hình của tác giả số Viet I DSC_202.

3079  Combat, Bộ 1, Số 28, 5 tháng 10 năm 1969.

3080  Herbert S. Parmet, Richard Nixon and His America, New York: Konecky & Konecky, 1990, trang 580.

3081  Nixon, Wells, trang 377; Berman No Peace .

3082  H.R. Haldeman, The Haldeman Diaries: Inside the Nixon White House, New York: Berkley Books, 1994, trang 42.

3083  Nick Ruford và David Leppard, cùng với James Adams ở Washington, Geordie Greig ở New York, Susan Ellicott ở Los Angeles, Jonathan Bastable ở Moscow, Peter Green ở Prague, Christine Toomey ở Berlin và Ian Burrell, Miranda Devine, Charles Hymas và Simon Reeve ở London, “A Yank at Oxford”, The Times.  25 tháng 10 năm 1992 nêu ra trong tài liệu của Fedora, “Road to Moscow: Bill Clinton’s Early Activism From Fulbright to Moscow,”  http://www.freerepublic.com/focus/f-news/1884984/posts.

3084 Holger Nehring, “Great Britain,” trong tài liệu của Martin Klimke và Joachim Scharloth, (nhà xuất bản.) 1968 in Europe, New York: Palgrave Macmillan, 2008, trang 130-2; Cullen, Tom. “War, Unrest Haunt American Scholars at Oxford”. The Post (Frederick, Maryland), 9 tháng 6 năm 1969, trang A8.

 http://www.freerepublic.com/focus/f-news/1884984/posts

3085  Cullen, Tom. “War, Unrest Haunt American Scholars at Oxford”. The Post (Frederick, Maryland). 9 tháng 6 năm 1969, trang A8; Maraniss, David. “Bill Clinton and Realpolitik U.: In ‘68, 5 Georgetown Students Shared A House With a View of the World”. The Washington Post. 25 tháng 10 năm 1992, trang F1. Roberts, Steven V. và Matthew Cooper. “Clinton, Oxford and the Draft: Clinton still shows his ambivalence about those painful years”. U.S. News & World Report. 11 tháng 10 năm 1992; Clinton, Bill. My Life. New York: Alfred A. Knopf, 2004, Chương  9-16; tất cả tại http://www.freerepublic.com/focus/f-news/1884984/posts.

3086  Wilkie, Curtis. “Red-baiting reflects strain of desperation”. Boston Globe. 7 tháng 10 năm 1992, trang 12; Maraniss, David. “Bill Clinton and Realpolitik U.: In ‘68, 5 Georgetown Students Shared A House With a View of the World”. The Washington Post.  25 tháng 10 năm 1992, trang F1; Nick Ruford và David Leppard, Với James Adams ở Washington, Geordie Greig ở New York, Susan Ellicott ở Los Angeles, Jonathan Bastable ở Moscow, Peter Green ở  Prague, Christine Toomey ở  Berlin và Ian Burrell, Miranda Devine, Charles Hymas với Simon Reeve ở  London, “A Yank at Oxford”, The Times. 25 tháng 10 năm 1992; tất cả tại  http://www.freerepublic.com/focus/f-news/1884984/posts.

3087  TS Rhiannon Vickers, “Harold Wilson, the Labour Party, and the War in Vietnam,” British International Studies Association Annual Conference, 18-20 tháng chạp năm 2006, Cork, trang 20-21; Tariq Ali, 1968 and After: Inside the Revolution, London: Blond and Briggs, 1978; Walter Cronkite, CBS Evening News, 15 tháng 10 năm 1969 tại Vanderbilt Television News Archive: Record display, University; BBC, 15 tháng 10 năm 1969;

3088  Joel A. Roth, “Clinton’s Czech-communist connection,” WorldNetDaily, 30 tháng 4 năm 1999. 

3089  John Greenwald, “Anatomy of a smear,” Time Magazine, 19 tháng 10 năm 1992.

3090  Anthony O. Edmonds, “The Vietnam War and the British Student Left: A Study in Political Symbolism,” in Nobody Gets Off the bus: The Viet Nam Generation Big Book, Bộ 5, Số 1-4, Tháng 3 năm 1994 tại  3.iath.Virginia.edu/sixties…

 

3091  Terence Hunt, “Clinton softens views on LBJ’s role in Vietnam War,” AP, 15 tháng 11 năm 2000.  Richard McSorley, Peace Eyes, 1977; Washington Times, 18 tháng 9 năm 1992;

3092  Roberts, Steven V. và Matthew Cooper. “Clinton, Oxford and the Draft: Clinton still shows his ambivalence about those painful years”. U.S. News & World Report. 11 tháng 10 năm 1992; McSorley, Richard, S.J. Peace Eyes. Washington, DC: Center for Peace Studies, 1978; Nick Ruford và David Leppard, Với James Adams ở Washington, Geordie Greig ở New York, Susan Ellicott ở Los Angeles, Jonathan Bastable ở Moscow, Peter Green ở Prague, Christine Toomey ở Berlin và Ian Burrell, Miranda Devine, Charles Hymas với Simon Reeve ở London, “A Yank at Oxford”, The Times.  25 tháng 10 năm 1992 tất cả tại  http://www.freerepublic.com/focus/f-news/1884984/posts.

3093  Andrew Rosenthal, “Bush questions Clinton’s Account of Vietnam-Era Protests and Trip,” New York Times, 8 tháng 10 năm 1992, trang A-1.

3094  Một người khác cũng tên Jim Durham, một người da đỏ Cherokee, đã là một thành viên của American Indian Movement, AIM, và sau đó đã thành lập International Indian Treaty Council, nhằm bạch hóa việc người da trắng khai thác các Người Da Đỏ Mỹ và các dân bản xứ trên khắp thế giới. “Durham đã thuyết phục được vài trong những tổ chức phi chính quyền NGO quốc tế để bảo trợ một hội nghị về chủ đề Indians of the Americas  tại các trụ sở của Liên Hiệp Quốc ở Geneva. Các tổ chức [đồng minh với Liên-xô] gồm có   World Council of Churches (WCC), the World Peace Council (WPC), the Women’s International League for Peace and Freedom (WILPF), the International Commission of Jurists (ICJ), và các nhóm khác.”  Đa phần dạo cuối thập niên sáu mươi và trong thập niên bảy mươi, Jim Durham sống với người vợ đang làm việc cho World Council of Churches ở Geneva, nơi ông ta học tại École des Beaux-Arts và tốt nghiệp năm 1972.

3095  Bill Clinton chắc đã phải có nhiều người rất hào phóng phụ giúp tiền bạc  — Rhoades Scholar, Georgetown, KGB, hay  CIA tài trợ — để có thể chứng minh được các chuyến du lịch muôn trùng của mình. Ba năm trước vào mùa hè và mùa đông của năm 1966, chính tác giả mà lúc đó còn là một sinh viên tại Claremont Men’s College, sau này đổi tên thành Claremont McKenna, cũng có đi thăm Stockholm mà không có tiền trợ cấp của chính phủ. Chận xe đi quá giang xuyên nước Mỹ, Thụy điển và Âu châu, sống trong những phòng trọ thanh niên và với một gia đình Thụy điển đáng quý, và làm việc như là một lao động phổ thông trong một xưởng làm đồ nhựa. Clinton quả đã có được tài trợ rất nhiều.

3096  John Greenwald, “Anatomy of a smear,” Time Magazine, 19 tháng 10 năm 1992.

3097 Clinton, Bill. My Life. New York: Alfred A. Knopf, 2004, Chương  9-16; Maraniss, David. “Bill Clinton and Realpolitik U.: In ‘68, trang 5 Georgetown Students Shared A House With a View of the World,” The Washington Post, 25 tháng 10 năm 1992, F1.; tất cả đều được nêu ra trong  http://www.freerepublic.com/focus/f-news/1884984/posts.

3098  “Bubba’s Book Sales Stalled,”  NewsMax.com , 23 tháng 7 năm 2004 http://archive.newsmax.com/archives/ic/2004/7/23/101123.shtml

3099  Clinton, Bill. My Life. New York: Alfred A. Knopf, 2004, Chương  9-16; Jerrold và Leona Schecter, Sacred Secrets: How Soviet Intelligence Operations Changed American History, (chuyển tới, Strobe Talbott) Washington, DC: Brassey’s, 2002 tất cả tại  http://www.freerepublic.com/focus/f-news/1884984/posts.

3100  Pete Early, Comrade J: The Untold Story of Russia’s Master Spy in America After the End of the Cold War, New York: G.P. Putnam’s Sons, 2007, trang 6-7, 179-184, 323-4; Cũng nêu ra trong bài của Cliff Kincaid, “Cronkite Named as Soviet Target by FBI,” AIM, 17 tháng 5 năm  2010.

3101  John Greenwald, “Anatomy of a smear,” Time Magazine, 19 tháng 10 năm 1992.

3102  http://taskforceomegainc.org/f027.html

 

3103  Bob Momenteller, etherzone.com/1998/reich1.html

 

3104  http://www.consortiumnews.com/2004/101804.html

 

3105  Andrew Rosenthal, “Bush questions Clinton’s Account of Vietnam-Era Protests and Trip,” New York Times, 8 tháng 10 năm 1992, trang A-1.

3106  Cuộc phỏng vấn trong tháng 8 với Petr Cibulka, Các câu hỏi do Jan Malina đặt ra, Thông dịch bởi Jan Malina. Cibulka,một  người từng năm lần vô tù vì tội chính trị, từ năm 1991 đã ra tờ báo riêng của mình, Uncensored News, và cũng có đăng các hồ sơ của mật vụ, kể cả tên của trên 200.000 gián điệp và cộng tác viên cộng sản. Al Gore Cha đã từng là một Thượng nghị sĩ Mỹ bạn của Armand Hammer, nguồn tài nguyên chính của sự sung túc giàu sang của dòng họ Gore. 

3107  Roger Morris nói với Suzan Mazur, “Scoop: Deeper into the Clinton’s Drug Nexus scoop.co.nz/stories/HL070/S00058.htmssis

3108  Roger Morris, Partners in power: The Clintons and Their America, New York: Henry Holt, 1996; George Archibald, “Partners in power: The Clintons and Their America,” Insight on the News, 22 tháng 7 năm 1996; “Student Bill Clinton ‘spied’ on Americans abroad for CIA,” Sunday Telegraph,  9 tháng 6 năm 1996.  

3109  Vào thời kỳ đó, nhiều thanh niên thanh nữ đã đón xe xin đi quá giang và ngủ qua đêm tại những lữ quán thanh niên ở Âu châu, kể cả chính tác giả nhưng đã không hề có tài liệu bằng chứng nào để cho thấy được là cả Clinton hay các tên khác trong cuộc chơi của chúng ta đã từng sống được ở Âu châu với chỉ $5 cho một ngày thôi.

3110  “Hanoi Keys Appeal to US Mood,” Christian Science Monitor, Hong Kong, 17 tháng 10 năm 1969. Văn khố lưu trử của TTU. Nêu trong sách của Rothrock, trang 131-132 ghi chú5.

3111  “Behind the Coming ‘March on Washington,” U.S. News & World Report,  3 tháng 11 năm 1969,  trang 24.

3112  FBI, SAC WFO to Director, Memo Bufile 105-185148, May 4, 1970, 1-2.

3113  IRS 990s đối với IPS cho năm 1970 và 1971.

3114  Information Digest, Bộ  XIII, Số #6, 21 tháng 3 năm 1980, trang 88, 94.

3115  Vietnam Documents and Research Notes, Số  94, “Ideological Problems Within the People’s Liberation Armed Forces,” Tháng 5 năm  1971, Phụ đính  4; Thư  mục Moise: Loạt Chuyển ngữ.

 

*****

Một phản hồi to “Roger Canfield’s Americong #64”

Trackbacks/Pingbacks

  1. Giới thiệu tác phẩm AMERICONG (MỸ-CỘNG) – Lê Bá Hùng | Ngoclinhvugia's Blog - 05/01/2016

    […] Roger Canfield’s Americong #64 […]

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: