Rushford #4: Ông Sang Qua Hoa-thịnh-đốn

Ông Sang Qua Hoa-thịnh-đốn

Ngày 23 Tháng 7 Năm 2013

~ Chuyển ngữ bởi Lê Bá Hùng ~

*****

Rushford Report 2013 July 23

http://rushfordreport.com/?tag=drew-brown

Mr. Sang Comes to Washington

image003

Chủ tịch Việt Nam Trương Tấn Sang – một ủy viên cao cấp đầy quyền lực trong Bộ Chính trị đang cầm quyền, nơi mà mọi quyết định chính yếu của chính phủ được vạch ra để đệ trình Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản đang cầm quyền – sẽ gặp Tổng thống Mỹ Barack Obama tại Tòa Bạch Ốc vào ngày 25 tháng 7. Dù gì đi nữa, thì cuộc họp vào hôm thứ Năm của cả hai, vẫn phải là quan trọng. Nó xảy đến vào thời điểm đang có thêm căng thẳng, tình trạng mà lâu nay vẫn ngăn trở cho các mối quan hệ chiến lược và kinh tế giữa hai kẻ cựu thù thời chiến được có thể cải thiện.

image003

Sang và Obama nay có một cơ hội để tạo một quan hệ song phương sâu đậm hơn (tương kính lẫn nhau). Nhưng đã không có gì được rõ ràng là liệu, có vị lãnh đạo nào mà có được tầm nhìn hay bản năng chính trị khả dĩ đủ để chụp lấy cơ hội này. Hai lãnh tụ quốc gia thì cũng chỉ cố gắng để đưa ra một loại giải thích vòng vo, ráng để cho được hấp dẫn, hy vọng che đậy các dị đồng quan trọng về những vấn đề chính yếu, mà hiện đang phân cách Hoa-thịnh-đốn với Hà Nội. Hai đề tài khó khăn nhất trong số đó là: loại thông lệ của Việt nam về nhân quyền mà có tính cách như là chỉ để lăng mạ các tiêu chuẩn pháp lý quốc tế khả chấp (theo quan điểm của Hoa-thịnh-đốn), và các áp lực kinh tế có tính cách lăng mạ của các nước giàu có (theo quan điểm của Hà Nội).

Tòa Bạch Ốc có liệt kê đề tài “nhân quyền” là đề tài đầu tiên trong ba chủ đề trong chương trình nghị sự, khi hai nhà lãnh đạo gặp nhau vào ngày thứ Năm. “Thay đổi về khí hậu” là ưu tiên thứ nhì, và tiếp theo, là các cuộc đàm phán thương mại về Trans-Pacific Partnership TPP ~ Đối tác xuyên Thái Bình Dương, có liên quan đến Hoa Kỳ, Việt Nam và mười quốc gia châu Á khác thuộc vùng Thái Bình Dương .

Nhưng chương trình nghị sự thật ra thì lại là bao quát hơn, và liên quan đến các quyết định căn bản, mà cả hai nước cần phải thi hành, để liệu rồi sẽ có tăng gia hợp tác về chiến lược và an ninh hay không. David Brown, một đặc phái viên rất ư là tinh mắt của tờ Asia Sentinel, đã có viết là Chủ tịch Sang và Bộ Chính trị dường như đã bị “rúng động ~ shaken” khi Sang đến thăm Bắc Kinh vào tháng Sáu qua.  Có vẻ như là nhân những lần đàm phán riêng tư của mình với các lãnh đạo hàng đầu Trung Quốc, trong đó có cả Chủ tịch Tập Cận Bình, chủ tịch Việt Nam đã chỉ ra về với những lời nói tốt đẹp, nhưng thực chất thì không có gì cả. Brown đã viết, “chỉ vì cuộc gặp gỡ ngỡ ngàn đó với các nhà lãnh đạo của Trung Quốc”, mà một chuyến thăm Hoa-thịnh-đốn “vội vã” đã được thu xếp. Tại Hoa-thịnh-đốn, thì Bộ Chính trị muốn Sang tìm hiểu là liệu Tổng thống Obama – một chính trị gia, mà trong quan điểm của nhiều người Á châu, đã từng nổi tiếng chỉ thích trao đổi vui chơi thôi, nhân những lần tiếp xúc với các đồng chức ngoại quốc của mình – có sẽ giúp được gì hơn không.

Cả hai chính phủ đã cùng không tiết lộ thêm chi tiết gì nữa về những gì mà Sang và Obama sẽ cùng nhau trao đổi vào hôm thứ Năm này. Một phát ngôn viên của Tòa Bạch Ốc thậm chí còn từ chối cho biết là trong Phòng nào của Tòa Bạch Ốc mà Obama và Sang sẽ gặp nhau, thì nói chi đến việc công bố những ai rồi sẽ cũng hiện diện tại đó.

Nếu đọc kỹ mổi chuyên mục trong số ba điều liệt kê cho lịch trình nghị sự Sang-Obama, thì chúng ta sẽ nhận rõ được là, đối với mỗi lãnh tụ, ngay hành vi trao đổi một cách thực sự “thẳng thắn” thì cũng sẽ khiến họ phải đặt ra những câu hỏi rất ư là khó khăn để mà trả lời, và đó cũng là chưa nói là sẽ tức thì gây bối rối cho cả đôi bên mà thôi.

Đối với Sang, thì câu hỏi vụng về nhất sẽ buộc đương sự phải giải thích ra sao cho Obama, là lãnh đạo Việt nam có lợi gì, khi đi giam giữ cho tới cả hơn 160 tù nhân chính trị để làm con tin. Họ chỉ là những công dân Việt Nam, đã từng không hề phạm một  “hình tội” nào cả khác hơn là lên tiếng một cách ôn hòa, để khiếu nại là chính phủ của họ đã ngày càng thêm tham nhũng và vô trách nhiệm. Và rồi thì Obama cũng lại có thể hỏi về một Nghị định nào đó của ngày 15 tháng 7, mà theo đó, Hà Nội đã dùng để nghiêm cấm việc phát ngôn “chống lại nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam”, hay mọi chỉ trích mà đảng sợ là sẽ “gây nguy hại cho an ninh quốc gia”, đó là theo một chương trình trên Đài phát thanh Á Châu Tự Do RFA. Các mục tiêu này thì đều là những biểu tượng rất phổ biến trên Liên Mạng, như là với Google và Facebook.

Dĩ nhiên, người Mỹ nào mà dám bày tỏ những quan điểm hợp lý về nhân quyền mà không khỏi tỏ ra kiêu ngạo và tự mãn với các lãnh đạo Việt, những kẻ luôn luôn rất ư là nhạy cảm, thì quả là đâm đầu đi chơi cái trò nguy hiểm mà thôi. Nếu bị chỉ trích quá lố và quá công khai, thì bọn cộng sản chỉ cứ việc đi bắt giam thêm càng nhiều các ‘blogger’ vô tội hơn, để chỉ dằn mặt người Mỹ. Ngược lại, nếu chỉ làm áp lực quá lặng lẽ, thì nhà cầm quyền ở Hà Nội chỉ cứ việc tiếp tục làm mọi điều chúng muốn. Đã không có được ai mà thực sự đã tìm ra được cái loại ngôn ngữ ngoại giao nào mà được thích hợp nhất ở đây.

[Và nếu mà Obama dám lên giọng về vi phạm nhân quyền với Sang, thì tay Chủ tịch Việt Nam vẫn có thể đưa ra vấn đề chất ‘dioxin’. Sang có thể rồi sẽ hỏi, liệu nhà lãnh đạo Mỹ có thấy xấu hổ không, khi mà một phát ngôn viên của tòa Đại sứ Hoa Kỳ tại Hà Nội mới đây đã chối bỏ với phóng viên của McClatchy là Drew Brown rằng nhiều dân Việt hiện nay vẫn còn đang phải gánh chịu những hậu quả thảm khốc của hóa chất ‘dioxin’ mà Không quân Hoa Kỳ đã từng rải tại Việt Nam trong thời chiến tranh].

Đối với Obama, thì có lẽ điều có thể gây lúng túng nhất, đã là cái Tòa Bạch Ốc của mình – chỉ vì những lý do đơn thuần hạn hẹp nội bộ có liên quan đến các mối tương quan chính trị của mình với lực lượng lao động có tổ chức và thành phần vận động hành lang của cái ngành nghề may mặt của Mỹ, mà nay hoàn toàn không có được khả năng cạnh tranh trên toàn cầu – lại vẫn cứ inh ỏi đưa ra những đòi hỏi với phía Việt Nam cùng đang đàm phán về TPP, mà chắc chắn Bộ Chính trị có ngu ngốc thì mới đi chấp nhận. Các áp lực kinh tế khá thô bạo của Tổng thống Obama, quả  thật, đã vô tình theo đúng chủ trương của những kẻ ở Hà Nội, mà hiện đang ngày càng không tin về giá trị của một mối quan hệ về thương mại và chiến lược gần gũi them hơn với Hoa Kỳ.

Ngoài tiềm năng cả hai bên đều bối rối lúng túng, thì chúng ta cũng thấy là việc Tòa Bạch Ốc đang muốn thảo luận về tình trạng khí hậu toàn cầu đang bị biến đổi, cũng cho thấy – rất có khả năng là, cả Sang và Obama đều cùng không biêt gì cả – là mối quan hệ kinh tế song phương nay đã trở thành phức tạp sâu sắc đến cái mức nào rồi thôi.

Các Chính Sách Chính Trị về Quyền Lực

Về đề tài khí hậu toàn cầu đang biến đổi, thật ra có thể cũng chỉ là Obama tự muốn đánh bóng tên tuổi với các nhãn hiệu bảo vệ môi trường “xanh” khi biểu diễn đi giảng cho Chủ tịch Sang một bài hay ho về tầm quan trọng của các quốc gia cùng nhau cộng tác chống lại sự kiện thời tiết trái đất đang cứ nóng lên.

Nhưng cũng có một cái gì khác khá quan trọng đang diễn ra giữa Hoa-thịnh-đốn và Hà Nội, mà có cho thấy được là chính sách về biến đổi thời tiết đã xen được vô mối quan hệ song phương một cách ra sao. Cũng không chắc là các nhân viên Tòa Bạch Ốc – mà lực lượng dường như càng ngày càng đã bị ít ỏi đi vào dạo sau này – đã có tường trình cho Obama về những hệ luận mà khi U.S. Export-Import Bank (Ngân hàng Xuất Nhập Cảng Hoa Kỳ) đã từ chối tài trợ của Mỹ để xây một nhà máy sản xuất điện bằng than đốt tại tỉnh Thái Bình của Việt Nam với khả năng tới cả 1.200 Megawatt.  Nhưng có điều chắc chắn là Chủ tịch Sang cũng đâu cần được đặc biệt thuyết trình để mới hiểu được toàn vẹn ý nghĩa của hành động Mỹ này đâu. Đó là bởi vì cái quyết định này của Ex-Im đã cho thấy thực trạng quyền lực chính trị được thực sự xẩy ra sao tại Việt Nam hiện nay – và cũng đã đụng chạm vào các bộ não quá ư là nhạy cảm trong cái Bộ Chính trị.

Các tổ chức Greenpeace, Friends of the Earth và các nhóm bảo vệ môi trường khác, cũng đã từng, trong một lá thư ngày 17 tháng 7 gởi tới Obama, than phiền là “cái nhà máy chạy bằng than đá bẩn thỉu này rồi đây sẽ gây ô nhiễm không khí một cách không thể nào chấp nhận được, mà cũng sẽ gây tệ hại thêm cho khí hậu và cũng sẽ đầu độc các cộng đồng tại địa phương mà thôi”. Chương trình hành động về khí hậu của Obama, họ (đúng đáng) có ghi nhận, thì qủa đúng là chống lại việc Mỹ đi tài trợ cho các dự án dùng than đá ở ngoại quốc, trên cơ sở là cũng chỉ làm tăng thêm lượng khí thải nhà kíếng mà thôi.

Các nhóm vận động hành lang chủ trương ‘không khí trong lành ~ green’ cũng đã từng miêu tả các chính sách tích cực về khí hậu của Obama một cách khá chính xác. Các quy định chính yếu của Ex-Im, về căn bản, thì chống đối việc tài trợ cho các dự án có khả năng gây mật độ ‘carbon’ cao ở ngoại quốc, như là các nhà máy chạy bằng than đá. Ngày này, Ex-Im quan tâm nhiều hơn, trong việc tham gia vào các dự án có mục tiêu năng lượng tái tạo khả thi. Dù sao thì sau khi tiến hành một cuộc kiểm tra môi trường “khá cẩn thận”, thì cơ quan tài trợ về xuất cảng của Hoa Kỳ đã cho thấy là kế hoạch tại Thái Bình không nên thực hiện mà thôi. Do đó, ngân hàng này cũng đã không thèm kiểm tra tới các chi tiết khác của dự án, như là về tài chính, tín dụng, và v.v. . .

Hầu hết các tin bên trên thì cũng từng đã được các hãng tin điện Hoa Kỳ tường trình rồi – nhưng cái phần quan trọng tuyệt hảo nhất thì lại đã không được đề cập đến: đúng ra thì ai đã là người muốn ngành xuất cảng Hoa Kỳ phải đứng ra tài trợ cho cái nhà máy điện – than Thái Bình?

Ex-Im thì không bao giờ công bố loại chi tiết đó trước khi mà dự án được phê duyệt. Nhưng khi đào sâu thêm chút ít nữa, thì người ta thấy được là Ex-Im đã từng được yêu cầu đi giúp đỡ một trong những doanh nghiệp nhà nước khổng lồ của Việt Nam, cái PetroVietnam Power Corporation (Tổng công ty điện PetroVietnam), mà vẫn thường tự xưng là PV Power. PV Power là một công ty con của Vietnam National Oil and Gas Group (Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam), mà đã có tên tắt là PVN. Theo một báo cáo tin tức trên báo Việt trong năm 2011, Nhà máy Nhiệt điện Thái Bình 2 của PV Power là một dự án trị giá tới cả 1 tỷ 6 Mỹ kim. Các thành viên chính thì là các công ty xây dựng Hàn Quốc và Nhật Bản.

Vào ngày 3 tháng 8 năm 2012, công ty Babcock & Wilcox Co. đặt trụ sở tại  Charlotte, Va., đã tuyên bố là một công ty chi nhánh của mình, với trụ sở đặt tại Bắc Kinh – Công ty Babcock & Wilcox Bắc Kinh Ltd. – đã giành được một hợp đồng trị giá tới 300 triệu Mỹ kim, liên quan đến Thái Bình, từ công ty Daelim Industrial Co. Ltd. của Nam Hàn. Công ty Babcock & Wilcox cho biết họ sẽ phụ trách về phần kỹ thuật tại Bắc Kinh, trong việc sản xuất hai nồi hơi đốt dùng than đá cho dự án Thái Bình, và cũng sẽ tham gia vào tiến trình sản xuất luôn.

Trong khi phát ngôn viên của Babcock & Wilcox vẫn chưa thể trả lời những câu hỏi được gởi đến họ về vụ Thái Bình trước khi bài viết này lên khuôn, thì có vẻ hợp lý là PetroVietnam và cái công ty Hàn Quốc có thể đã mưu tìm tài trợ từ ngân hàng Hoa Kỳ Ex-Im Bank, để mua trang thiết bị do Hoa Kỳ sản xuất. Liệu rồi sẽ có bao nhiêu công ăn việc làm Mỹ sẽ được tạo ra qua việc tài trợ này, thì cũng chưa hề được công bố ra. (Mà cũng không có gì rõ ràng được, là liệu than đá sẽ có ảnh hưởng ra sao – hoặc có nên dùng nó hay không – trong việc giải quyết nhu cầu về năng lượng của một quốc gia đang phát triển như là Việt Nam).

Sự can dự của PetroVietnam, đối với những người biết được cách thức điều hành của cái mà ta có thể gọi là nền “kinh tế chính trị” của Việt Nam, gợi ý cho thấy tình trạng râu ria rể má không chỉ đơn giản là một cuộc tranh dành về tài lộc và công ăn việc làm, với chỉ một dự án xây dựng mà thôi.

Các công ty của nhà nước có lẽ hiện đang kiểm soát tới một phần ba nền kinh tế Việt Nam. Bất tài, bưng bít và bị mọi người coi như là cực kỳ tham nhũng, thì cũng chính là những con bò sữa cung cấp tiền cho các đảng viên cao cấp của Đảng Cộng sản. Chúng chỉ phải báo cáo với văn phòng Thủ tướng Chính phủ, và do đó, đã là một nguồn gốc quan trọng của chính sách đở đầu về chính trị. (Chúng ta hãy cứ tưởng tượng là sẽ ra sao, khi mà Tổng thống Obama sẽ đứng ra bổ nhiệm các giám đốc của một phần ba số công ty từng được liệt kê trong danh sách Fortune 500, như là Boeing, General Electric, Microsoft, Google, Exxon, và kế tiếp).

Trong các cuộc đàm phán thương mại về Đối tác xuyên Thái Bình Dương TPP, Mỹ đang đòi hỏi phía Việt Nam phải thực hiện những cải cách về minh bạch, và cũng phải bắt đầu phải buộc các doanh nghiệp nhà nước phải hoạt động chiếu theo luật cung cầu của thị trường hơn. Đó quả là yêu cầu quá ư là nhiều, khi ta xét ra là chính các công ty nhà nước đó đã đang làm tiền rất là nhiều cho bao quan chức cao cấp trong đảng – kể cả ở cấp Bộ Chính trị – để giúp họ trở nên rất giàu có. Bộ Chính trị cũng đã đang vật vã trong suốt gần toàn cả thập niên qua, ngõ hầu làm sao giải quyết cho được tệ nạn này.

Công ty PetroVietnam Dầu khí Việt Nam nay đang trở thành một đề tài để tranh cãi ở Việt Nam. Cuối tháng 10 vừa rồi, một bài tường trình trên Thanh Niên Daily, một tờ báo tiếng Việt, đã ghi nhận là PetroVietnam đã bị kinh tế gia Lê Đăng Doanh chỉ trích với cáo buộc là họ “cần phải công bố về tài chính và lổ lãi của mình”.

Bài báo trên tờ Thanh Niên nói thêm rằng cái công ty khổng lồ của chính phủ này đã từng bác bỏ các cáo buộc nêu lên bởi các dân biểu Quốc hội, là công ty đã đang sử dụng tiền thuế của nhân dân, để bắt đầu tham gia đầu cơ về bất động sản. Rồi thì tờ báo tiếng Việt đó bèn đặt câu hỏi là, tại sao PV Power và các công ty con do PVN sở hữu hoàn toàn, mà lại cũng đi sở hữu những công ty địa ốc của riêng ngay chính họ. Tờ báo thậm chí còn cho đăng một bức hình của Nam Đàn Plaza Nam tại Hà Nội, nơi được mô tả như là “một dự án thương xá về mặt hàng xa xỉ mới được khuếch trương bởi PV Power”. (Theo chủ trương của các giám đốc điều hành doanh nghiệp nhà nước, hành vi đầu cơ về địa ốc chắc là hấp dẫn hơn, về phuong diện thương mãi, hơn cả đầu cơ về điện lực, bởi vì chính phủ buộc họ phải định giá điện quá thấp cho người tiêu dùng Việt Nam, điều khiến họ không có khả năng tồn tại được về thương mại).

Tuần này, các quan chức Việt Nam sẽ cùng chủ tịch Sang đi gặp các đối tác thuộc Ex-Im để vận động cho yêu cầu của họ. ▼1  Có vẻ họ sẽ khó mà thành công được. Các viên chức Hoa Kỳ có thể sẽ phải tự hỏi là, liệu chăng rồi các quan chức PetroVietnam sẽ chỉ đơn giản dùng mọi lợi nhuận, có được nhờ chi phí thấp qua việc tài trợ của Ex-Im Hoa Kỳ, để đem đi đầu cơ trong những hợp đồng địa ốc đầy phiêu lưu bấp bênh khác chăng.

Một pha trộn đầy tế nhị

Chính quyền Obama đã tăng gia áp lực với Việt Nam về vấn đề thi hành nhân quyền. Cái giá để được gia nhập vào TPP cho Việt Nam, và cũng để tiến tới được một quan hệ chiến lược thực sự với Hoa-thịnh-đốn, sẽ phải được liên kết một cách rõ ràng với việc phải “chứng minh cho được” tiến bộ về nhân quyền, như Đại sứ Mỹ tại Việt Nam là David Shear đã minh thị vào 1 tháng 6 với một cử tọa Việt – Mỹ tại Orange County, California. Toàn ý bài phát biểu của đại sứ đã quá ư là rõ ràng: “Tôi vẫn đã đang cứ cho các quan chức cấp cao của Việt Nam biết được, kể từ khi tôi đến Việt Nam vào tháng 8 năm 2011, là nếu bên Việt Nam muốn có được một hiệp ước về đối tác xuyên Thái Bình Dương TPP, nếu họ muốn tang gia hợp tác về ngoại giao trong khu vực, hầu dẫn đến được một quan hệ đối tác chiến lược, thì chúng ta cần phải nhìn thấy cho được những tiến bộ khả chứng về nhân quyền ở Việt Nam”.

Theo thông lệ, chính sách chính thức của Hoa Kỳ không chủ trương liên kết rõ ràng về nhân quyền với bất kỳ lần đàm phán thương mại nào cả. Nhận xét của ông Shear – mà sau đó ông cũng đã từ chối bình luận thêm nữa – vào lúc ban đầu đã bị bác bỏ, coi như là không quan trọng, bởi một số nhà quan sát kỳ cựu về giao thương, mà đã lưu ý là không nên được hiểu theo cái nghĩa đen. Với cách giải thích này, thì ông Shear chỉ muốn nói cho các khán thính giả California của ông, những gì mà họ muốn nghe mà thôi. Các người Mỹ gốc Việt và các dân biểu đại diện họ tại Quốc hội Hoa Kỳ thì cũng đã từng chê trách Shear, trên cơ sở là đương sự đã không làm đủ để cải thiện dùm các hoạt động nhân quyền tại Việt Nam.

Ấy vậy, Shear nguyên là một công chức cấp cao ngạch ngoại giao của Mỹ, rất được kính nể, đầy kinh nghiệm đáng kể về khu vực châu Á – ông từng phục vụ tại Nhật Bản, Trung Quốc và Mã-lai-á, và nói được tiếng Nhật cùng tiếng Quan Thoại. Shear cũng không từng hề bị nổi tiếng là người phát ngôn bừa bãi. Trong lần xuất hiện vào ngày 1 tháng 6 tại Orange County, vị đại sứ đã nói chậm rãi và một cách cố tình, tạo được thính giả cái ấn tượng là, quả ông đã đang truyền đạt những quan điểm chính thức của nhà cầm quyền. Hơn nữa, việc Shear liên kết sự kiện sự thiếu tiến bộ về nhân quyền như là trở ngại lớn nhất hầu khả dĩ giúp được cho quan hệ chiến lược Hoa Kỳ – Việt được gắn bó hơn, là hoàn toàn phù hợp với chính sách đối ngoại chính thức của Mỹ, mà từng được thường xuyên phát biểu bởi các công chức cấp cao của Bộ Ngoại giao. Quan điểm chính thức của Bộ Ngoại giao là quan hệ chiến lược Hoa Kỳ – Việt Nam sẽ vẫn không được cải thiện, cho đến khi mà vẫn chưa có được bằng cớ là đang có “cải thiện khả chứng và duy trì liên tục về tình trạng nhân quyền”.

Vị đại diện thương thuyết về thương mại của Hoa Kỳ là Michael Froman, đã từ chối để bị dính líu vào bất kỳ hành vi ngoại giao nào, mà có thể cho thấy được tính cách cách biệt giữa chính sách thương mại của Hoa Kỳ với quan điểm của Shear tại Quận Cam. Xem ra như vậy thì, Tòa Bạch Ốc hiện khá thoải mái với quan điểm là, Việt Nam nên phải hiểu được cho đúng nghĩa các lời của vị đại sứ Shear mà thôi.

Cảnh sát về giao thương của Mỹ nhập cuộc

Theo quan điểm của Việt Nam, những gì mà Obama đang đòi hỏi họ phải thực hiện về “nhân quyền” nhân các cuộc đàm phán thương mại TPP, đều, xem ra, quá ư là có tính cách lăng nhục.

Mấy nhà đàm phán về thương mại của Obama đã vẫn đang cứ kịch liệt đòi hỏi bên Việt Nam phải chấp nhận các đòi hỏi từ phía các nhóm vận động hành lang cho công nhân Mỹ là Việt Nam phải đồng ý cho phép các nghiệp đoàn lao động độc lập được phép tự tổ chức và thành lập – mà các viên chức Hoa Kỳ vẫn nhấn mạnh là sẽ phải được khả thi. Dưới nhãn quan của người Mỹ, thì như vậy mới có thể được coi là có tiến bộ về “nhân quyền”.

Trước khi chấp nhận ý kiến này, thì Bộ Chính trị cũng cần phải nghiên cứu coi những quy định như vậy đã có kết quả ra sao đối với các quốc gia khác, mà đã từng ký những thương ước gần đây với Mỹ.

Theo thương ước song phương Hoa Kỳ – Colombia, thì cái đất nước La-tinh đó đã bị bắt buộc thiết lập một “kế hoạch hành động” về lao động mà khả dĩ có được những “điểm mốc” dùng để đo lường, và một “chế độ triệt để thi hành”, với các viên chức Mỹ trong vai trò theo dõi việc thực thi. Đó chính là cách làm việc tại Hoa-thịnh-đốn, với các công chức Mỹ theo dõi sát sao những nhà hoạt động về lao động thuộc AFL-CIO, những kẻ từng không bao giờ hài lòng được là người ngoại quốc đã đang cố gắng đủ mức, để khả dĩ đạt cho đúng với các tiêu chuẩn của Mỹ.

Tới ngày 11 Tháng 4 năm 2013, Văn phòng của Đại diện Thương mại Hoa Kỳ và của Bộ Lao động đã cùng khoe khoang là làm cách nào mà họ đã buộc được Guatemala phải đệ trình “một kế hoạch hành động tích cực để giải quyết mọi lo ngại” từng bị nêu ra trong một vụ khiếu nại về lao động từ phía Hoa Kỳ, chiếu theo thương ước ưu đãi giữa Hoa Kỳ với cái nước La-tinh đó. Các viên chức Mỹ đã tự cùng nhau chúc mừng là đã buộc được Guatemala phải đưa ra một kế hoạch 18 điểm hầu đáp ứng đòi hỏi của Hoa-thịnh-đốn. Kế hoạch “gồm có những hành động cụ thể, với một khung thời gian cụ thể, mà Guatemala sẽ phải thực hiện cho được trong vòng sáu tháng, hầu cải thiện việc thực thi về luật lao động”.

Đây là vụ tranh tụng đầu tiên về lao động mà Hoa Kỳ đã phải dùng tới các thương ước ưu tiên – nhưng phía Việt Nam cũng phải sẽ có lý do để nghi ngờ là, liệu cảnh sát về lao động của Mỹ đang có kế hoạch gì đây đối với họ.

Tiêu chuẩn hai mang của Hoa Kỳ

Bây giờ thì đến phần cực kỳ mang tiếng mà có liên hệ đến Obama. Lý do mà phía Việt Nam thấy TPP hấp dẫn, là khả năng sẽ có thêm cơ hội để xâm nhập thị trường áo quần và giày dép của Hoa Kỳ – mà đang được bảo vệ bởi những ngạch thuế cao độ vào khoảng 16-18 phần trăm, nhưng đối với một số mặt hàng, thì lại còn tới cả gấp đôi. Các nhà đàm phán về thương mại của Obama đã đang cứ đòi hỏi, tựu chung là cái giá phải trả của việc cắt giảm thuế nhập cảng đối với giày dép và áo quần, là phía Việt Nam phải chấp thuận sẽ mua nguyên liệu dệt vải của họ, từ chỉ các nhà cung cấp của Mỹ mà thôi.

Ý kiến này thì quả thật không có gì là hấp dẫn đối với Hà-nội.

Trước hết, như tôi đã tường trình trong “Ưu Tiên Đế Quốc ~ Preferences Imperial” vào ngày 11 tháng 9 năm 2012, một trong những lý do chính mà Nã-phá-luân III đã quyết định gởi hải quân Pháp đi đánh chiếm cảng Sài Gòn vào năm 1859, chính là để buộc người Việt Nam phải chấp thuận mở cửa thị trường của họ, cho các mặt hàng xuất cảng về dệt may của Pháp. Các kinh tế gia thì chắc cũng phải đồng ý rằng áp lực hiện tại của Mỹ, qua thương ước TPP, thì cũng chỉ là một phiên bản tân thời của chủ nghĩa thực dân Pháp mà thôi.

Sau đó, các quy định bắt buộc về nguồn gốc gọi là “yarn forward” đã không hề  có được hiệu quả rồi. Chỉ có khoảng 17 phần trăm mặt hàng quần áo nhập cảng của Hoa Kỳ từ Mể-tây-cơ và các nước Mỹ La-tinh khác, mới đã phải đành chấp nhận tuân theo các quy định rườm rà đầy trở ngại, từng bị quy định bởi các nhà đàm phán về thương mại của Hoa Kỳ, hầu thực sự để hưởng được quy chế miễn thuế. Còn lại thì các nhà nhập cảng đã chọn giải pháp chịu trả thuế, thay vì cứ phải vòng vo qua các quy định hành chánh quan liêu, cũng như là phải chịu chi phí nặng về thủ tục giấy tờ, cùng với mọi râu ria rể má kèm theo.

Và cuối cùng, nay ta hãy nghĩ lại, liệu mà làm sao Chủ tịch Sang – đang bị Hoa-thịnh-đốn chỉa mủi dùi vì do việc đã nhiều lần can dự để quyết định vào nền kinh tế của ngay chính phủ Việt Nam – có thể cũng sẽ thay đổi lập trường đối với Obama. Sang có thể hỏi: Liệu chính phủ Hoa Kỳ có quyền tạo áp lực như vậy trên các tập đoàn lớn và tiêu biểu của Mỹ như Levi Strauss & Co. và Gap, để buộc họ phải mua vải ‘denim’ (dày) từ các nhà cung cấp của Mỹ, để rồi sau đó, hải vận xuyên Thái Bình Dương, cho qua mãi đến tận Việt Nam? Có đúng chăng, khi chính quyền trong Tòa Bạch Ốc tạo áp lực với Hanesbrands, mà đang có các nhà máy sản xuất đồ lót của mình, cùng chuỗi dây chuyền cung ứng nguyên liệu ở các nước châu Á gần đó như  là Thái Lan và Trung Quốc, để đi mua sợi bông của mình tại đó, thay vì từ lục địa Hoa Kỳ, để rồi lại phải chở bằng tàu thủy xuyên qua cả một đại dương? Rồi thì làm sao với Patagonia đây, cái nhà chuyên làm áo ‘vét’ ở Việt Nam bằng nguyên liệu tân kỳ của Nhật Bản? Tại sao mà chính phủ Hoa Kỳ lại muốn đâm đầu đi phá nát các dịch vụ toàn cầu của các tập đoàn tư nhân đầy uy tín trong khu vực như là: Nike, Adidas, Macy, Nordstrom và rất nhiều công ty khác?

Tất nhiên là Obama sẽ bị áp lực là làm sao trả lời được một cách hợp lý về phương diện kinh tế những câu hỏi như vậy. Nhưng Tòa Bạch Ốc thì lại liên tục nhấn mạnh là phía Việt Nam cứ phải chấp nhận các quy định về “yarn forward” đối với nguồn gốc của nguyên liệu về mặt hàng dệt may, và cũng luôn cả các mức thuế nhập cảng cao đánh trên giày dép.

Theo quan điểm của Việt Nam, thì chiến lược đàm phán về TPP của Obama đã khiến họ phải nhớ lại cái phương cách mà hai Tổng Thống Lyndon Johnson và Richard Nixon đã từng dùng làm căn bản, để phát họa các chính sách của Hoa Kỳ, cái phương cách đặt nơi xác tín là, nếu cái cường quốc giàu sang mà cứ tiếp tục áp lực cái quốc gia nhỏ bé ở Đông Nam Á đó, thì cuối cùng rồi thì nó cũng sẽ phải đành tuân theo ý muốn của Mỹ mà thôi. Nhưng trừ phi phía Việt Nam mà có được thêm, một cách rõ ràng, những phương tiện hầu gia tăng bán hàng được hơn trên thị trường Hoa Kỳ, như họ vẫn từng mưu tìm qua TPP, thì quả rất khó để tìm ra cho được những lý do khả chấp, khiến rồi thì, họ sẽ đành phải nhượng bộ.

Những Triển vọng cho Quan hệ Mỹ – Việt gần kề hơn?

Các bất trắc cuối cùng, thì lại chính là những gì mà phía Việt Nam thật sự mong muốn nhất, về những quan hệ của họ với Hoa-thịnh-đốn.

image005

image007

Học giả Carlyle Thayer của Học viện Quốc phòng Úc-đại-lợi có phân tích: “Đang xẩy ra một ván cờ tế nhị” hiện nay trong Bộ Chính trị. Đây cũng không phải là lần đầu tiên, trong suốt lịch sử lâu dài của họ, mà Việt Nam lại phải phấn đấu, để cân bằng cho được, cái mối quan hệ luôn luôn đầy tranh chấp với Trung Quốc, người hàng xóm sát gần mình nhất trong khu vực Đông Nam Á, và đồng lúc, phải với cả phía Hoa Kỳ. “Một số người ở Hà Nội thì muốn cải thiện quan hệ với Hoa Kỳ, trong khi một nhóm khác, lại chủ trương cần phá hoại các mối quan hệ đó”, đó là theo nhận định của  Thayer.

Cũng theo Thayer và những quan sát viên có kinh nghiệm về Việt Nam mà người viết đã từng phỏng vấn cho bài viết này, thì có vẻ là cái nhóm sau hiện đang thắng thế. Điều đó chăc cũng giúp giải thích được là tại sao Việt Nam đã bắt giữ độ hơn 40 người viết ‘Web log ~ blog’ ôn hòa trong năm nay, cũng như nhiều tù nhân chính trị hơn, khi so vớitổng số bị bắt trong năm 2012 – có lẽ là một tín hiệu cố tình tỏ vẻ  thù địch gởi đến cho Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ và Tòa Bạch Ốc.

Nhân đây chúng ta cũng nên bổ túc là, với mọi đề tài liên quan đến Việt Nam, thì vẫn luôn luôn có sẳn bao nhiêu là muôn trùng sắc thái, khiến cho sự việc coi vậy mà lại không phải là như vậy đâu. Chuyến thăm ba ngày của Sang đến Trung Quốc, bắt đầu vào ngày 19 tháng 6, thì có thể được xem như là một dấu hiệu cho thấy việc siết chặc về quan hệ giữa Việt – Trung đang sẽ được thảo luận. Thậm chí, việc cho dù Trung Quốc cứ khăng khăng phá đám các cuộc thương thuyết đó, mà không chịu nhượng bộ, dù có đúng thật hay không, thì Bắc Kinh vẫn sẽ có thể du di (chẳng hạn bằng cách ít tích cực đòi hỏi hơn về các vùng lãnh hải trong Biển Đông Trung Hoa mà thiệt sự rõ ràng là đã thuộc Việt Nam rồi).

do-ba-ty-2

VC Đỗ Bá Tỵ

Nhưng liệu rồi làm sao để giải thích cho một chuyến đi qua Ngũ-giác-đài của Thứ Trưởng Quốc phòng Việt Nam là Đại Tướng Đỗ Bá Tỵ, ▼ 2 vào ngày 20 tháng 6, trong khi mà Sang thì lại đang ở Trung Quốc? Vị tướng Việt đã gặp vị Tham mưu trưởng Liên quân Hoa Kỳ là Martin Dempsey. Phát ngôn viên của Dempsey thì đã lưu ý chuyến đi của Tướng Tỵ là chuyến thăm Mỹ đầu tiên như vậy, bởi một tham mưu trưởng Việt. Phái đoàn quân sự cao cấp Việt Nam cũng đặc biệt gồm cả Trung tướng Phạm Ngọc Hùng, Tổng cục phó Tổng cục II, nói chung cũng là bộ phận quân báo. ▼ 3  Có vẻ như đang có điều gì đang được chuẩn bị mà thôi.

pham-ngoc-hung-1

VC Phạm Ngọc Hùng tiếp đón Chủ tịch Tập đoàn Dầu khí VC Nguyễn Xuân Sơn

 Điều kết luận duy nhất khả dĩ cho hợp lý được vào lúc này, chỉ là cái chính sách truyền thống đánh đu về ngoại giao của Việt Nam sẽ cứ phải tiếp tục. Và cũng bởi vì các vấn đề cùng các dị biệt đang gây chia rẻ giữa Việt Nam, Trung Quốc và Hoa Kỳ quả quá ư là khó khăn để sẽ có thể giải quyết trót lọt được, nên tình trạng này rồi thì sẽ cứ phải tiếp tục càng bê bối hơn mà thôi.

*****

▼ 1

Đánh Mỹ cút, rồi nay lại LẠY Mỹ giúp?

Chỉ có thổ phỉ rừng xanh ‘loài VC’ mới có ‘kiểu’ hành xử này trên thê gian.

▼ 2

Từ tháng 10 năm 2010, Đỗ Bá Tỵ được được Nguyễn Tấn Dũng bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Ngày 27 tháng 04 năm 2016, y bị Nguyễn Xuân Phúc cách chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

▼ 3

Năm 2004, Phạm Ngọc Hưng được bổ nhiệm giữ chức vụ Phó Tổng cục trưởng Tổng cục II, Bộ Quốc phòng. Năm 2006, lên chức Thiếu tướng, và rồi Trung tướng vào năm 2010. Năm 2014, được đưa lên nắm chức vụ Tổng cục trưởng Tổng cục II, Bộ Quốc phòng.

▼ 4

Tất cả các hình cùng phụ chú là của người chuyển ngữ sưu tầm.

Các đoạn nhấn mạnh bằng màu  XANH là của người chuyển ngữ.

*****

%d bloggers like this: