‘Mừng Bạn về’

TURNER:

‘Welcome home’ Vietnam veterans

http://www.washingtontimes.com/news/2012/may/25/welcome-home-vietnam-veterans/#ixzz3eUyt5ly4

 

TURNER:

‘Mừng Bạn về’,

Người Cựu Chiến Binh

Trận Chiến Việt Nam Của Tôi

Robert F. Turner  – Thứ Sáu 25 Tháng 5 Năm 2012

 

Nhiều người đọc bài này thì cũng chắc không biết được là, vào 1 giờ trưa ngày thứ hai tới thì Ngũ-giác-đài sẽ tổ chức buổi lể “Quy Cố Hương” cho các cựu chiến binh thời chiến tranh Việt Nam tại địa điểm Vietnam Veterans Memorial on the Mall. Nếu thực hiện được, thì đúng cũng là một điều tốt thôi. Đã từng có rất là nhiều thanh niên rất ư là cao thượng đã dũng cảm lên đường chiến đấu  trong cuộc chiến đó, mà rồi, chỉ trở về lại quê nhà, để phải bị đối mặt với một sự đối xử đầy khinh miệt và khinh dể. (Tôi vẫn còn nhớ lần mình bị tiếp đón sau khi hoàn tất thủ tục xuất ngủ tại căn cứ Oakland Army Base ở California, sau lần chu toàn nhiệm kỳ thứ nhì phục vụ tại Việt Nam, và đó cũng là lần mà  chúng tôi đã bị cảnh cáo, “Ra phố thì nhớ đừng mang quân phục”).

Nhân khi chúng ta vinh danh những người thanh niên tuyệt diệu đó (và một số phụ nữ cũng rất ư là xứng đáng) từng phục vụ tại Việt Nam vào ngày lể Chiến sĩ Trận vong này, thì chắc cũng là lúc mà chúng ta cần phải đánh giá lại, thái độ cư xử được gọi là khôn ngoan thông thường, mà đã khiến Quốc hội đi phản bội lại sự hy sinh của họ vào năm 1973, và cũng khiến cho các thế hệ sau này hằng tin là cuộc chiến tranh Việt Nam quả thực là “vô nghĩa” và “bất khả thắng”. Nói thật giản đơn, chúng ta cần phải xem xét lại các cuộc tranh luận mà đã từng chia rẽ và phá nát cái đất nước này, dạo bốn thập niên trước đây.

Những kẻ từng đi biểu tình phản đối thì quả thật quá ư là sai lầm.

Đúng vậy, tôi đã thật là thắt cười vào hôm đầu tháng, khi tờ Boston Globe cho chạy một trong số ít phóng sự về biến cố đó, mà theo đó,  họ đã viện dẫn cái tay chuyên hoạt động từng chống cuộc chiến Việt Nam là Tom Hayden (mà có lẽ cũng đã từng được biết đến như là cái “ông Jane Fonda” của dạo củ), mà đã tuyên bố là, “tôi hy vọng việc này có thể thực hiện được, mà không phải trở về lại với các cuộc tranh luận cũ xưa nữa”.

Trên thực tế,  đề tài này vẫn là một chủ đề rất ư là phổ biến trong nhóm người nổi tiếng từng chống đối cuộc chiến Việt Nam. Vào năm 2000, chúng tôi đã tìm cách “recycle ~ tái thảo luận” các cuộc tranh luận cũ về cuộc chiến, nhân một hội nghị tại Phân khoa Luật thuộc Đại học Virginia, vào ngày kỷ niệm lần thứ 25 mà Sài Gòn bị thất thủ, và chúng tôi đã bị từ chối không thèm tham dự, bởi ít nhất thì cũng là một tá vị học giả hàng đầu, mà trước kia, cũng đã từng kịch liệt phản đối cuộc chiến tranh đó.

Chẳng hạn, như là Arthur Schlesinger Jr., mà đã chỉ hồi âm lời mời của chúng tôi bằng một câu  viết tay ngắn gọn: “Tôi không bao giờ chủ trương cuộc chiến là bất hợp pháp. Tôi chỉ gọi nó là ngu si mà thôi!”. (Dĩ nhiên thì ông ta cũng đã từng, trong nhiều lần, tuyên bố cuộc chiến tranh đó là vi hiến). Giống y như rất nhiều lãnh tụ từng chống cuộc chiến Việt Nam dạo thập niên trước đây, ông ta cũng đã không có được cái can đãm, để ngồi xuống hầu thảo luận. (Nếu tôi nói không đúng về điểm này, thì tôi xin sẵn sàng tranh luận, mà chỉ cần được báo trước trong ngắn hạn mà thôi).

Đối với những ai từng chịu theo dõi tin tức về trận chiến này, và luôn cả cho các nghiên cứu sinh qua chương trình học bổng hiện nay, thì quả thật thái độ e dè của đám người loại Schlesinger và Hayden, mà đã không dám lộ mặt tranh luận, thì cũng dể hiểu được mà thôi. Sau khi chiến tranh kết thúc vào năm 1975, Hà Nội, thông qua, bằng cả những tuyên bố công khai, cũng như các hành động thiết thực của chúng, thì cũng đã từng phá tan cái huyền thoại, mà từ lâu nay bọn biểu tình phản đối đã dùng để tự bào chữa mà thôi.

Chẳng hạn như trong số Tháng 5 Năm 1984 của tờ Vietnam Courier, Hà Nội đã từng khoe khoang về cái quyết định “tối mật” trong ngày 19 tháng 5 năm 1959, để mở con đường mòn Hồ Chí Minh và bắt đầu sau đó, bí mật đổ không biết bao nhiêu là tấn vật liệu, vũ khí và bộ đội xuôi Nam, với mục đích lật đổ chính quyền VNCH bằng vũ lực. Lúc đó thì vẫn mãi tới cả hơn năm năm, trước khi Hoa Kỳ quyết định phản ứng một cách nghiêm chỉnh, bằng quân đội Mỹ. Sự khác biệt lớn nhất giữa các hành động của chúng ta tại Đại Hàn vào năm 1950, và tại Việt Nam 15 năm sau, đã chỉ là chiến dịch xâm lược vũ trang của cộng sản nay thì được ngụy trang và Hà Nội đã thành công thực hiện được một cuộc tâm lý chiến tuyệt xuất sắc về chính trị, hầu đánh lừa được người dân Mỹ, khiến họ đâm đi tin là các lý lẽ của chính quyền họ đúng ra là đều xấu xa cả.

Một quan điểm chính yếu trong luận điệu chống cuộc chiến Việt Nam đã là đồng minh Nam Việt của chúng ta từng vi phạm các “nhân quyền”. Rồi, khi đám người biểu tình đã được như ý muốn của họ, thì bèn đã có hàng chục triệu người dân vô tội bị lầm than phải sống kềm kẹp dưới một chế độ độc tài kiểu Sì-ta-lin, và hàng triệu người khác, thì đã bị xử tử hay bỏ mạng như là một kết quả trực tiếp gây ra do các chính sách của cái chế độ mới đó. Chỉ tính riêng tại Kampuchia thì Chương trình Diệt chủng tại Kampuchia do đại học Yale thực hiện, cũng đã có ước tính là, hơn cả 20 phần trăm của dân tộc Kampuchia đã bị thảm sát, chỉ trong có ba năm ngắn ngủi, sau khi bị cộng sản “giải phóng”.

Liệu cuộc chiến Việt Nam có quả thật, đã từng là “bất khả thắng” chăng?

Có lẽ, cái huyền thoại vĩ đại nhất về cuộc chiến tranh này, đã là nó “bất khả thắng”. Bởi vì, thực sự ngược lại, như bao học giả và các chuyên gia ngay từ dạo năm 1971 hay năm 1972, cũng đã nhìn nhận từ lâu là chúng ta đã chiến thắng ở Nam Việt Nam, và tới tháng chạp năm 1972, thì ý chí của Hà Nội ở miền Bắc đã bị bẻ gẩy nát tan. Trận Tổng tấn công Tết Mậu thân 1968, mà hầu hết các giới truyền tin đã tường thuật như là một chiến thắng tuyệt vời của cộng quân, thì trong thực tế, lại là một lầm lỗi đầy tan hoang, mà ngay cả Bộ trưởng Quốc phòng Bắc cộng là Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng đã phải thừa nhận là một thất bại to lớn của cộng sản. Vì do trận này, gần như toàn bộ hạ tầng cơ sở của Việt Cộng và hầu hết các lực lượng du kích của chúng, đều đã bị quét sạch: cứ độ 14 du kích cộng sản đã chết, chỉ để đánh đổi cho một quân nhân Mỹ hay VNCH trong cuộc tổng tấn công đó. Và rồi, kể từ đó, thì gần như tất cả các cuộc giao tranh lớn đều chỉ đã được đãm trách bởi bộ đội chính quy Bắc cộng mà thôi.

Vào tháng 8 năm 1964, khi Quốc hội – với một cuộc bỏ phiếu chung là 504 chống 2 (một tỷ lệ tới cả 99,6 %) – bằng một đạo luật nhằm cho phép tổng thống sử dụng quân đội ở Đông Nam Á, thì Quốc hội cũng thậm chí không hề đề cập đến “Nam Việt Nam”, nhưng đúng ra chỉ chấp thuận cho quân đội Mỹ rồi sẽ được quyền bảo vệ bất kỳ “protocol state ~ quốc gia quy định” nào của hiệp ước SEATO năm 1955 mà yêu cầu được giúp đở. Các quốc gia quy định đó đã là [Nam] Việt Nam, Kampuchia và Lào. Do đó, khi quân đội Mỹ được lệnh đánh vào Kampuchia trong năm 1970, để tấn công mật khu của Bắc Cộng cùng Việt Cộng, thì hành động đó đã là hoàn toàn hợp pháp, chiếu theo sự kiện là Quốc hội Mỹ đã từng phê chuẩn việc đó rồi .

Cũng như cái trận Tổng Tấn công Tết Mậu Thân, về phương diện quân sự, chiến dịch xâm nhập vào Kampuchia của Mỹ và Nam Việt, cũng đã từng là một chiến thắng rực rỡ. Chiến dịch đã giúp kết thúc, khiến gần như không còn có được mọi hoạt động quân sự quan trọng nào nữa của cộng sản trong khắp toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long. (Tôi từng đã hiện diện tại chổ, đến rồi đi, dạo giữa năm 1968 và 1975, và quả thật, sự khác biệt về an ninh được cải thiện đã thật là đặc biệt).

Nói một cách đơn giản, quân đội Mỹ đã không hề thua trận tại chiến trường Việt Nam. Đúng vậy, chúng ta đều đã thắng mọi trận lớn. Nhưng rồi tới tháng 5 năm 1973, nhóm dân biểu quốc hội theo khung hướng tự do mà đang bị thông tin sai lầm lũng đoạn, bèn đã giận dữ giật cướp mất đi cái chiến thắng, để rồi đi biến nó thành một thất bại, bằng cách biểu quyết, khiến thành sẽ là bất hợp pháp việc  nếu tổng thống dùng tiền Ngân khố Quốc gia hầu chi tiêu cho các cuộc hành quân “trong hay bên trên hay từ ngoài khơi bờ biển của Bắc Việt, Nam Việt, Lào hay Kampuchia”. Khi Thủ tướng Phạm Văn Đồng của Bắc cộng nghe được tin này, thì y đã nhận xét: “Bọn Mỹ rồi đây cũng sẽ không dám quay lại, ngay cả khi chúng ta cho chúng kẹo ngọt”, và rồi thì Hà Nội bèn gởi hầu như toàn bộ quân đội của chúng, để đi tùng thiết sau các đoàn xe tăng Liên Xô, để đi xâm chiếm các nước láng giềng. Vào thời điểm đó, thì quân đội Mỹ đã bị rút đi mất rồi, và họ không có trách nhiệm gì cả cho trận chiến bại cuối cùng. Đó chỉ là thành quả của cái Quốc hội Mỹ mà thôi.

Cuộc chiến đó đã đúng phải thật là cần thiết.

http://www.washingtontimes.com/news/2012/may/25/welcome-home-vietnam-veterans/?page=2

Tuy nhiên thì trước hết, vẫn có cái nan đề là vì sao mà chúng ta đã lại phải đến tận Việt Nam, và quả thật, có đã là cần thiết hay không? Và cũng nhân dịp (mà cuối cùng) chúng ta cùng nhau lặng kính cảm tạ tất cả những ai từng phục vụ tại đó – mà cả hai phần ba đều là người tình nguyện – tôi quyết khẳng định là câu trả lời cho câu hỏi đó, chỉ là một tiếng “Có” vang lừng mà thôi!

Sau cuộc chiến Triều Tiên, Tổng thống Eisenhower bèn cắt giảm nhân lực quân sự mà cũng đồng thời, thông báo cho thủ tướng Nga Nikita Khrushchev là mọi cuộc xâm lăng của cộng sản trong tương lai thì sẽ phải đưa đến một sự trả đũa ồ ạt – một lời đe dọa là Mỹ sẽ sử dụng vũ khí nguyên tử, hầu gìn giữ hòa bình, nếu một biến chuyển như vụ Đại Hàn lại tái diễn. Chính sách này đã có hiệu quả đối với Moscow – ít ra thì cũng cho tới khi Liên Xô phát triển được xong khả năng tấn công bằng võ khí nguyên tử của chính họ, và rồi, câu hỏi được đặt ra lúc đó, đã là liệu Mỹ có dám chấp nhận mối nguy là New York hay Washington, D.C. rồi thì có thể bị tấn công bằng võ khí nguyên tử, chỉ để giúp bảo vệ Sài Gòn hay không.

“Đồng chí Mao” ở Trung Quốc thì lại đã không dễ gì mà bị xao xuyến, và y đã lập luận là, tuy bọn “đế quốc” có vẻ thực sự hung tợn, nhưng trong thực tế, chính “nhân dân” mới là quan trọng. Bằng cách thực thi loại “chiến tranh nhân dân” (thuờng được gọi là “chiến tranh giải phóng dân tộc”), khối cộng sản sẽ có thể cung cấp huấn luyện viên tới, cùng với tiền bạc và vũ khí,hầu khởi dậy một  cuộc cách mạng quốc nội trên khắp Thế giới Thứ Ba, và theo đó, thì du kích quân sẽ sinh sống, ăn ở và làm việc ngay trong chính nhân dân nước đó. Bom nguyên tử rồi thì cũng sẽ là vô ích trong việc chống lại loại chiến tranh độc đáo và bất cân xứng này, và như vậy, thì cuộc “đấu tranh vũ trang” sẽ cứ có thể tiếp tục, bất chấp sức mạnh về nguyên tử của Mỹ.

Vụ Việt Nam bèn trở thành “thí nghiệm”, để coi các chiến thuật chống nổi dậy của Mỹ có thể đánh bại được loại chiến lược của Mao về kiểu chiến tranh nhân dân hay không. Đúng như khi Phó Chủ tịch Lâm Bưu của đảng Cộng sản Trung Quốc từng ghi nhận vào năm 1965 trong cuốn tiểu luận của y, với tựa là “Long Live the Victory of People’s Wars ~ Chiến thắng của Chiến tranh Nhân dân Muôn Năm”, vụ Việt Nam đã thành một loại “môi trường thử nghiệm”, và một khi mà Mỹ đã bị đánh bại ở đó rồi, thì “Nhân dân ở các vùng khác trên thế giới sẽ nhận chân rõ ràng hơn, là đế quốc Mỹ vẫn có thể bị đánh bại, và những gì mà người dân Việt đã có thể làm, thì họ cũng có thể làm được, mà thôi”.

Tay Che Guevara của Cuba, cũng đã từng đề cao lập trường này, và đã tuyên bố khá sớm vào ngày 20 tháng 11 năm 1963, là chiến trường Việt Nam đang “là cực kỳ quan trọng cho tương lai của toàn Mỹ châu”, và “kết thúc thắng lợi của trận chiến này cũng sẽ đánh dấu ngày tàn của chủ nghĩa đế quốc Bắc Mỹ mà thôi”.

Chúng ta cũng cần nhớ lại là vào năm 1965, Trung cộng đã đang cung cấp cố vấn, tiền của và vũ khí cho các phong trào du kích ở Nam Việt Nam, Lào, Kampuchia, Thái Lan, Indonesia, Mã Lai Á và xa hơn nữa, thì là Mozambique ở châu Phi. Thái Lan và Indonesia, lúc đó, đều cùng từng là những “basket cases ~ môi trường thuận lợi” về chính trị và kinh tế, mà đã rất sẽ dễ dàng bị các lực lượng cộng sản xâm chiếm, nếu mà Hoa Kỳ chỉ đơn giản, không giữ cái lời hứa từng đã rất long trọng, là sẽ bảo vệ các nước không cộng sản của cựu Đông Dương thuộc Pháp. Chỉ khi quyết định giữ lời cam kết, chúng ta đã giúp được cho Thái Lan và Indonesia (hai nước rất quan trọng), đủ thời gian để trở thành đủ mạnh hơn – và cũng nhờ, trong thời chiến tranh, Trung cộng cũng đã bị đang phải trải qua trận Đại Cách mạng Vô sản về Văn hoá, và đã phải tự bế quan để giải quyết công việc nội bộ của chúng. Chính vào lúc mà Quốc hội của chúng ta tuyên bố bỏ cuộc thì cũng lại là lúc mà Trung cộng đã không còn tích cực xuất cảng cách mạng của chúng nữa mà thôi.

Rồi thì cũng không ai mà lại có thể quả quyết được, là rồi những gì sẽ phải xảy ra, nếu mà chúng ta từ bỏ lời hứa của mình trước đó. Nhưng rồi thì cũng không khó khăn gì, để mà hình dung ra được cái diển tiến đầy thảm trạng mà theo đó, sau khi Mỹ đã rút quân, thì sẽ là các chiến thắng quân sự của cộng sản tại các nước láng giềng với nhau đó, rồi thậm chí ngay cả, bởi vì các nhóm, tuy là không cộng sản trên khắp thế giới thứ ba, nhưng mà nay bèn chuyển qua chịu thần phục bọn Trung cộng, Cu-ba và các nước cộng sản khác, chỉ trong cái mục đích để tranh giành quyền lực chính trị mà thôi. Các lãnh tụ của Thế giới Thứ Ba, tuy là phi cộng, rồi thì cũng có thể kết luận Mỹ quả là một đồng minh không đáng tin cậy mà thôi, và bèn phải tìm cách thương lượng, làm sao mà có thể tốt nhất, với các đối thủ Cộng sản của họ. Thế giới Tự do rồi thì có khả năng phải đối phó với cả tá, hay hơn nữa, với những vụ “Việt Nam” tại, nào là châu Á, nào là châu Phi và cả châu Mỹ La-tinh, mà lúc đó thì chỉ còn phải đối mặt với thực tế, hoặc là phải chứng kiến từng nước lần lượt rơi vào quỹ đạo cộng sản, còn không thì cũng phải đi sử dụng vũ khí nguyên tử mà thôi. Và rồi thì, kết thúc cũng sẽ không có gì là tót đẹp cho Hoa Kỳ, hay luôn cho chân lý tự do của loài người trên toàn cầu.

Và cũng vì vậy, nếu quả bạn gặp được một cựu chiến binh thời Việt Nam trong ngày hôm nay, tại một Trung tâm Thương mãi, hay ở một nơi khác nào đó, xin bạn hãy dành chỉ một phút thôi, để nói, “Chào bạn quy cố hương”, và, “Cảm ơn những gì bạn đã từng làm”. Đó chỉ là biểu hiện của lòng biết ơn mà từng lâu nay, đã quá ư là thiếu vắng mà thôi.

*****

Robert F. Turner từng phục vụ tại Việt Nam như là một Trung Úy Lục Quân, rồi Đại Úy, và trong suốt cả hai thập niên, đã giảng dạy về môn Cuộc Chiến Việt Nam tại Đại học Virginia.

 

%d bloggers like this: