Roger Canfield’s Americong #156

image002

Comrades in Arms

How the Americong Won the War in Vietnam

Against the Common Enemy— America

Copyright Roger Canfield, Ph.D.

1986-2012

No commercial transaction allowed except that approved by the author, copyright holder.

Obtain a prepublication release of a CD-R in Microsoft Word in ENGLISH at a discounted price of $15 from Roger Canfield Rogercan@pacbell.net at 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 or at http://americong.com.

Completely SEARCHABLE for any name, date, place or event of the War and its protesters.   

Cover: Design Stephen Sherman. Photos: Roger Canfield, March 2008. TOP: War protest Hawaii, February 1966 displayed at War Remnants (Crimes) Museum, Saigon. Bottom: Praetorian Guard

Các đồng chí cùng chiến tuyến

Làm thế nào MỹCộng thắng cuộc chiến Việt Nam

Chống kẻ Thù Chung – Mỹ

Giữ bản quyền Roger Canfield, Tiến Sĩ

1986-2012

Không được sử dụng vào mục đích thương mại nếu không có sự đồng ý của Tác giả, người giữ bản quyền.

Có thể mua một tiền bản dưới dạng CD-R Microsoft Word bằng Anh ngữ với giá đặc biệt US$15 ngay từ tác giả Roger Canfield  Rogercan@pacbell.net tại 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 hay tại  http://americong.com.

Hoàn toàn có thể TRA CỨU hoặc bằng tên, bằng ngày tháng hay biến cố liên quan đến cuộc Chiến cùng cả luôn bọn tham dự biểu tình .

********

* Tác giả giữ bản quyền © Roger Canfield 1986-2012

  • Lê Bá Hùng chuyển ngữ  (với sự chấp thuận của Tác giả)

 *****

Chương 156

Năm 1972

Bầu Cử Tổng Thống và Thương Thuyết

 

Rennie Davis, Tom Hayden, Cora Weiss cùng đồng bọn đã vội vã đánh cá theo lệnh của Hà-nội trong cuộc bầu cử sẽ xẩy ra vào ngày 7 tháng 11 năm 1972 giữa Nixon và McGovern. McGovern đang cố gắng tự  gây lợi thế chính trị.

Ngày 25 tháng 10 năm 1072, Rennie Davis đã tổ chức một cuộc biểu tình tại tượng đài Washington Monument. Nhưng trời lại mưa. Sau khi được dời một ngày thì chỉ có 700 người tham dự. Họ đều đã phải trả cho tới 800 đô, chỉ để được nghe một tên Nguyễn Minh Vỹ nào đó nói chuyện xuyên đại dương qua đường dây cáp, mà lại chẳng khác gì với những bài học thuộc lòng của Tom Hayden trên đài Hà-nội dạo tháng 10 năm 1967. Tên Vỹ tuyên bố, “Liệu Hoa Kỳ có sẽ mất mặt nhiều lắm không khi quyết định chấm dứt một cuộc chiến từng làm họ mang tiếng?”.  Đã có một ai đó bèn trả lời dùm, “Thì bọn biểu tình chỉ còn biết vuốt mặt mắc cở độn thổ mà thôi”.

Hayden có cho đăng một bài viết trên tờ Ramparts Số Tháng 10 để kêu gọi phong trào phản chiến hãy nắm tay đoàn kết với Việt cộng và hãy phối hợp nhịp nhàng các hoạt động của phong trào với chúng, nhằm đẩy cuộc chiến vào “giai đoạn kết thúc trong  tháng 11 sắp tới”.  4652  Rồi thì y tiếp,

Lợi dụng được cùng một lúc cả cuộc bầu cử Mỹ với trận tổng công kích của Việt cộng, cái đám phản chiến sẽ đã có được một cơ hội ngàn vàng mà sẽ rất là lâu lắm mới lại tái diển này. Nếu người Việt mà có được độc lập thì cũng có nghĩa là nhân dân Mỹ đã chiến thắng mà thôi . . . Nền độc lập của Việt Nam sẽ có khả năng đưa đến ngay chính (chiến thắng) của chúng ta đó. 4653

Văn khố viên của Berkeley phụ trách về kho liệu Chiến tranh Việt Nam là Stephen Denny đã từng nhắc chúng ta, “Xin quý vị hãy ghi nhớ là khi Hayden mà nói tới ‘Việt Nam’ hay ‘người Việt Nam’, thí quý vị phải hiểu là y không hề ám chỉ mọi người Việt nhưng mà chỉ nhắm vào những kẻ ủng hộ Việt cộng mà y đã tự cho phép đồng hóa với cả toàn thể người dân Việt”. 4654 Trên tờ Ramparts Số Tháng 8 thì Hayden cũng đã từng viết ca ngợi nghị lực và “ sự sáng chói của các lực lượng giải phóng”.

Kissinger cùng Hà-nội thì đã gần tới lúc có thể ký kết nhưng Nam Việt quyết chí từ chối dính líu vào một thỏa thuận quá ư bết bát như vậy.

Thiệu Bác Bỏ Mật Ước của Kissinger – Tháng 9 và 10 Năm 1972

Chiến dịch không tạc Linebacker đánh thẳng Hà-nội cùng Hải-phòng đã gây thiệt hại nặng cho Bắc Việt và chúng đành trở lại bàn mật nghị và kỳ này thì quả thật là chúng muốn giải quyết nhanh chóng mà thôi . Chúng không còn đòi hỏi phải loại bỏ Thiệu. Nhưng đó chỉ là một điều không quan trọng nếu so với biết bao nhiêu là nhượng bộ của Kissinger. Suốt tháng 8 và 9 thì Kissinger đã từng cố gắng tương nhượng một cách rất nhục nhã với chủ trương của Committee of National Reconciliation, CNR (Ủy ban Hòa Giải Dân tộc) để giải quyết tương lai Nam Việt sau khi Mỹ đã rút về mà bộ đội Bắc cộng thì vẫn ở lại trong Nam. Vào ngày 26 và 27 tháng 9 thì Lê Đức Thọ đã chuẩn phê chủ trương của Ủy ban Hòa Giải Dân Tộc với điều kiện phải là không còn Thiệu nữa.

Trong những tuần trước bầu cử Tháng 11 thì Tổng Thống Thiệu quay sang tấn công trên chính trườngị các đề nghị của Kissinger. Thiệu tuyên bố Ủy ban Hòa Giải Dân tộc chỉ là một ý tưởng cũ giả hình về một chính phủ với ba thành phần do cộng sản thống trị gồm một “số nhỏ bọn mánh mung chính trị, tay sai và lưu vong”.  Nhưng viên sứ giả của hoàng đế là Henry Kissinger thì lại không có được ngay cả một mảnh áo lành để khả dĩ có thể mặc cả với địch. Ngày 6 tháng 10, Nixon bèn giận dữ viết cho Thiệu đòi cần phải nhượng bộ đề  có thể ký kết hòa bình. Nixon đã lững lơ đe dọa  một cách rất là mơ hồ. “Tôi kêu gọi ông nên làm tất cả những gì có thể được, hầu tránh sự tái diển một hoàn cảnh mà khả dĩ sẽ dẫn đến những biến chuyển tương tự như những gì mà chúng ta đều cùng ghê tởm vào năm 1963 và cũng như chính tôi đã từng phản đối kịch liệt như vậy vào năm 1968”.  4655  Vụ ám sát Diệm. Thiệu có thể sẽ là người kế tiếp.

Vào ngày 9 rồi 10 thì cả Kissinger cùng Thọ đều đâm đầu quyết chí thỏa thuận cho xong tại Ba-lê . Đoàn thương thuyết tại Ba-lê của Hà Nội bèn đánh điện về nhà cho biết đã chiến thắng đạt được mọi điểm . Kissinger thì bay đi Sài Gòn để mô tả cho ông Thiệu biết là chính mình cùng Lê Đức Thọ đã ôm nhau khóc mừng sau khi đạt được thỏa thuận. Sau khi đã có được một bản sao bằng tiếng Việt để nghiên cứu, phụ tá của ông Thiệu là Hoàng Đức Nhã đã soạn ra một danh sách tổng cộng là 64 vấn đề và điểm cần phải được giải thích  rỏ ràng về thỏa ước này. Thiệu cho rằng, với [ 165.000 ] bộ đội Bắc Việt vẫn còn nằm lại tại miền Nam Việt Nam thì, “người dân miền Nam Việt Nam sẽ cho rằng chúng tôi đã bị bán đứng bởi Hoa Kỳ và Bắc Việt đã chiến thắng”.  Thiệu nói tiếp: “Nếu chúng tôi chấp nhận văn kiện đó … thì cĩng có nghĩa là chúng tôi sẽ tự tử … “.  Kissinger bèn than với Nhã , ” Đây là thất bại tồi tệ nhất trong sự nghiệp ngoại giao của tôi “.  Nhã trả lời: “Chúng tôi rất tiếc …. Chúng tôi phải bảo vệ đất nước chúng tôi”.  Sau đó thì Thiệu và Hoàng Đức Nhã đã bị cảnh cáo là sẽ có “phản ứng tàn bạo”  nếu Sài Gòn bác bỏ hiệp ước này. 4656  Thiệu vẫn cương quyết không chịu nhượng bộ . Thiệu cho Kissinger biết, ” Nếu quý vị muốn từ bỏ cuộc đấu tranh thì về phần chúng tôi, chúng tôi sẽ cứ vẫn tiếp tục chiến đấu một mình cho đến khi kiệt quệ và không còn phương tiện để có thể tiếp tục được nữa, và sau đó thì chúng tôi sẽ chết … Đối với chúng tôi, sự lựa chọn chỉ là giữa sống hay chết …  sống mà không có tự do thì cũng đồng nghĩa với chết mà thôi. Không, nó sẽ còn tồi tệ hơn là chết nữa”.

Ngày 24 tháng 10 năm 1972, Thiệu đã đọc một bài phát thanh đầy tâm huyết và hiệu quả dài tới hai giờ đồng hồ để giải thích vì sao phải bác bỏ thỏa ước này với nhân dân miền Nam Việt Nam. Trong khi đó thì khi về lại Washington, Kissinger lại tuyên bố: “Hòa bình đang ở trong tầm tay”. Lúc đó thì Thiệu đã đang có trong tay ngay cả các tài liệu và chỉ thị hướng dẫn của cộng sản dành cho cán bộ của chúng, “Bộ đội và chính phủ của chúng ta sẽ vẫn ở lại miền Nam. Việc ngừng bắn tại chỗ sẽ rất có lợi cho chúng ta … nó sẽ cho phép chúng ta duy trì một chiếc lược cài răng hay là da beo ở Nam Việt Nam”. 4657

Quả đúng vậy, “để tăng cường lực lượng cách mạng”, Việt Cộng đã cho cán bộ biết là thỏa thuận cho phép một lệnh ngừng bắn với sự hiện diện của cả hai chính phủ và hai quân đội đã là “một chiến thắng đạt được bởi nhân dân chúng ta”, nhưng “đừng tuyên bố đó là một chiến thắng của VC …. Hãy để mọi người tự hiểu”. Phải chờ cho đến sau khi ngưng bắn thì mới, “hướng dẫn người dân … ăn mừng … treo cờ hòa bình, tổ chức các cuộc hội họp để  . . . thảo luận”.  Cần phải  tuyển mộ thêm nhân sự mới và khuyến khích nhân dân cộng tác hơn. Các bản sao về tuyên bố của Hà-nội  đối với các điều khoản trong hiệp ước đều đã được phân phối cho cán bộ ở khắp Nam Việt Nam. 4658

Nam Việt Từng Giêt Các Tù Nhân?

Vào cuối tháng 10 năm 1972, Cora Weiss trong đám Women Strike for Peace và COLIFAM, đã cùng với Richard Barnet thuộc Institute for Policy Studies (Viện Nghiên cứu các Chính sách) đã đi gặp Nguyễn Minh Vy và mụ Bình tại Ba-lê để thảo luận về các cuộc hòa đàm. Mụ Bình đã tuyên bố sẳn sàng ký kết một hiệp ước, không trể hơn là ngày 26 tháng 10, nhưng Nixon thì lại muốn đình cho đến ngày 30. Trong thực tế thì vào ngày 26, Hà Nội đã lở công bố sẽ có ký kết vào ngày 31 tháng 10. 4659

Bình nói với Cora Weiss là nếu chờ như vậy thì sẽ cho phép bọn Nam Việt đủ thì giờ để thủ tiêu tất cả các tù chính trị, một việc mà chúng đã bắt đầu thi hành. 4660  Bình bèn “ra lệnh” hay “chỉ đạo” đám lãnh đạo WSP phải chia sẻ nguốn tin này với bọn VVAW và một số khác nhưng cấm tiết lộ nguồn gốc. 4661 Quyền Giám đốc Đương nhiệm FBI  là Patrick Gray đã có thông báo cho Tổng thống bằng điện báo thông điệp của Weiss vào lúc  01:53 sáng ngày 31 tháng 10 năm 1972. 4662 Trong khi đó thì Hà Nội đã ra lệnh cho cán bộ phải phát động những “cuộc tấn công” hầu tạo ra các “chiến thắng sắp tới” để “buộc Mỹ kịp thời ký thỏa ước”.  Để lật đổ Thiệu, “hỗ trợ quần chúng trong các cuộc nổi dậy của họ … để loại bỏ bọn bạo chúa …” và “giúp phe ta kiểm soát được đa số nhân dân trên toàn quốc”. Các kế hoạch nổi dậy của quần chúng đều đã được chuẩn bị trong chi tiết với các mục tiêu cụ thể tại các khu vực cũng rất là cụ thể luôn. 4663

Cora Weiss cùng Richard Barnet liền cảnh cáo các gia đình tù binh là trừ khi hiệp ước được ký trước ngày 31 tháng 10 hay ngay sau đó thì việc phóng thích tù binh sẽ bị trì hoãn lại và chiến tranh thì lại cứ bành trướng thêm. Trong khi trong chốn riêng tư thì chỉ lo âu cho sinh mệnh của tù cộng sản trong tay của miền Nam Việt Nam, ngoài chốn công khai Weiss và Barnet lại công bố quan tâm về sự an toàn của tù binh Mỹ.  “Hãy đánh điện cho Tổng thống. Không còn thì giờ nữa đâu. Đừng cho phép chính quyền lại đùa giởn một lần nữa với nổi niềm hy vọng vô ích của quý vị”, Weiss và Barnet đã kích thích hướng dẫn các gia đình tù binh như vậy. Kissinger đã “đột ngột … yêu cầu bộ đội Bắc Việt phải rút [từ miền Nam Việt Nam] … dù trước đó y đã đồng ý cho họ vẫn hiện diện [ở miền Nam Việt Nam]”. 4664 Trong nhiều năm, phong trào phản chiến đã chối bỏ hay là xem sự hiện diện của các  lực lượng Bắc Việt ở miền Nam Việt Nam như là không có gì là quan trọng cả. Và nay thì cái đám bộ đội Cộng Sản lâu nay bị xem như chưa từng bao giờ có đó, lại có thể vẫn hiện diện mãi mãi trong Nam.

Từ ngày 5 và 6 tháng 11 năm 1972, Jane Fonda đã dẫn đầu một Chiến Dịch Hòa Bình Đông Dương (Indochina Peace Campaign, IPC) tiền bầu cử vòng qua các đại học trong khu vực Los Angeles. Fonda đã tuyên bố là y thị đã chính mắt thấy Mỹ bắn phá các thành phố Hà Nội và dội bom đê điều; các tù binh mà y thị đã gặp thì đều phản đối chính sách của Mỹ ở Việt Nam và đều đã được đối xử tốt; và việc tiếp tục chiến tranh sẽ khiến nhân dân Mỹ phạm tội giết vô số thường dân vô tội. Vậy phải làm gì? Hãy bỏ phiếu cho George McGovern.

Đứng ở bên Fonda tại đại học East Los Angeles City College thì đã có cựu tù binh George Smith mà đã tuyên bố là mình đã được đối xử tốt khi còn là tù binh, nhưng nay thì cảm thấy xấu hổ vì đã từng phải giết chết binh sĩ Bắc Việt và bây giờ thì quyết định hiến dâng đời mình cho cái sứ mệnh đi thông báo cho dân Mỹ về các hình tội mà chính phủ họ đã phạm phải tại Việt Nam. 4665

Bất chấp mọi cuộc thăm dò đã có về thái độ của dân Mỹ đối với chiến tranh Việt Nam, vào ngày 7 tháng 11 năm 1972, Richard Nixon đã thắng lớn lao để được tái bầu sau khi đã dành được 49 trong số 50 tiểu bang trước ứng cử viên phản chiến là George McGovern. Những cử tri trẻ, tuổi từ 19 đến 29, đã bỏ phiếu cho Nixon thay vì là McGovern với tỷ lệ 52 chông 46. Một cuộc khảo sát Harris trong tháng 9 đã cho thấy là công chúng đang ủng hộ các việc: bỏ thủy lôi phong tỏa các hải cảng của Bắc Việt với tỷ lệ 64% chống 22%; tiếp tục không tạc với tỷ lệ 52% chống 32%. Người dân Mỹ phản đối việc áp đặt một chính phủ liên hợp tại miền Nam Việt Nam và chủ trương “điều quan trọng là Nam Việt Nam không rơi vào sự kiểm soát của cộng sản” với tỷ lệ 74% chống 11%. 4666

Dĩ nhiên, kết quả bầu cử thì vẫn hơn là kết quả thăm dò. Các cử tri Mỹ, khi phải lựa chọn, đã áp đảo ủng hộ cả cho việc tái bầu Nixon và cho một chiến thắng. Việc đã không ký một hòa ước đầy sai sót có thể đã giúp tăng tỷ lệ thắng cử của Nixon.

Bộ Sậu Hayden tại Hà-nội    

Vào ngày 30 tháng 10 năm 1972, Tòa phúc thẩm Seventh Circuit Court of Appeals đã ra một án lệnh cấp thẫm cho phép Hayden đi Hà Nội chiếu theo “yêu cầu khẩn cấp” của chính phủ Bắc Việt,  “liên quan đến … việc phóng thích thêm tù binh Mỹ”.  Thẩm phán Luther M. Swygert đã chấp thuận yêu cầu của Hà Nội và Hayden “với lý do để tháp tùng tù binh Mỹ về với gia đình họ tại Hoa Kỳ”.

Được phép tòa rồi và trên đường tới phi trường thì Hayden đã tuyên bố: “Nếu hòa ước  được ký kết thì chúng tôi sẽ sắp xếp cho các tù binh được phóng thích hết”.  Tuy nhiên “nếu không đạt được một giải pháp cho hòa bình, chúng tôi sẽ thảo luận với Bắc Việt những điều kiện để tù binh sẽ có thể được phóng thích”. Như vậy, Hayden, một kẻ tự xưng là “tù nhân chính trị”, đã không hề là một con tin của chính phủ Mỹ, nhưng y đã chơi trò chơi như thể tù binh Hoa Kỳ đều chỉ là con tin riêng của y mà thôi. Hayden nói đã có một “sự hiểu lầm” là nhóm của y sẽ trở về chung với các tù binh, một “sự hiểu lầm” mà đã thuyết phục được thẩm phán Swygert để ông ta cho phép Hayden, một bị cáo từng bị bồi thẩm đoàn kết án về tội đại hình vì đã chuẩn bị các cuộc bạo loạn nhân Đại hội  đảng Dân chủ ở Chicago, được phép đi ra ngoại quốc. Hayden nói: “Tôi không nghĩ là mọi nhóm nào mà đi Hà Nội thì cũng sẽ mang về lại được các tù binh”.

Sau khi lợi dụng được một “sự hiểu lầm” để có thể xuất ngoại, Hayden lại chỉ trích sự kiện Kissinger đã thất bại không ký kết được một hòa ước trước cuộc bầu cử tháng 11 đã là một “trò đại bịp của mọi trò lừa đảo … một sự lừa dối chỉ vì lý do bầu cử mà thôi”. Herb Klein, phát ngôn viên Tòa Bạch Ốc tuyên bố là  chuyến đi của Hayden sẽ chỉ “làm đình trệ việc đàm phán mà thôi”.

Cùng đi kèm với Hayden thì đã có: Giáo sư Howard Zinn, giáo sư sử tại Đại học Boston; Mục sư David Hunter của tổ chức được hưởng quy chế miễn thuế National Council of Churches; Fred Branfman của Project Air War, Susan Miller của Episcopal Peace Fellowship và PCPJ, Carolyn Mugar của IPC thuộc Hayden-Fonda  4667 và Jan Austin, cựu chủ bút tờ Ramparts nằm trong nhóm Asia Information Group. 4668 Hayden có thông báo là chúng sẽ chịu nhận thơ gởi cho tù binh và cũng sẽ mang dùm thơ họ về lại. Y cho biết Hà Nội đã đánh điện cho COLIFAM yêu cầu nhóm Hayden cần phải đi Hà Nội. Cả bọn, ngoại trừ Branfman và Austin, đều đáp chuyến bay Aeroflot SU 31 đi Moscow. 4669

Vào ngày 12 tháng 11, nhóm Hayden lại bèn hứa với Phạm Văn Đồng để “đẩy mạnh cuộc đấu tranh hầu đòi hỏi chính phủ Mỹ phải ký kết ngay lập tức thỏa thuận đã từng đã đạt được với VNDCCH ”  4670  mà Nam Việt vẫn đã bác bỏ. 4671 Nói chuyện với các thanh niên Bắc Việt thì Fred Branfman đã nói: ” Chúng tôi hy vọng chiến tranh sẽ sớm kết thúc  … còn nếu mà chiến tranh vẫn cứ tiếp tục thì chúng tôi hy vọng các bạn sẽ lớn lên để trở thành những chiến binh dũng cảm và sẽ có thể bắn rơi được phi cơ Mỹ”.  4672 Tại một ngôi trường thì Howard Zinn đã nói, ” Chúng tôi là bạn của quý vị. Chúng tôi sẽ … đấu tranh và thu xếp cho nhân dân Mỹ … phải buộc … Nixon … ký hòa ước”.  4673  Hayden bèn tiếp, “chính những kẻ dội bom con trẻ mới là bọn man rợ … Chính những bọn hiện đang hát ca trong các hang động rừng rú … thì lại đang sữa soạn cho cái nền văn hóa trong  tương lai …. Chúng tôi thề sẽ làm tất cả những gì được để hầu buộc Nixon phải ký thỏa thuận chín điểm . 4674 Vào ngày 14 tháng 11 năm 1972, David Hunter rối thì sẽ cho tờ New York Times biết là y và ba tên khác đã có gặp được 11 tù binh và đã có mang về được 150 lá thơ .

Từ ngày 1 tới 3 tháng chạp năm 1972, Howard Zinn đã tới phát biểu tại một hội nghị vận động cho Hoà Bình Đông Dương ở Cambridge, Massachussets.  4675

Trưởng Gián Điệp của Hà-nội tại Hoa-thịnh-đốn đã Trợ Giúp hãng IPC Films

Vào tháng chạp thì Fred Branfman đã cùng Nguyễn Thị Ngọc Thoa đi một vòng do IPC / Syracuse Peace Center tổ chức ở Bắc tiểu bang New York. Branfman cho biết là Hà Nội muốn công luận Mỹ gia tăng áp lực buộc Nixon phải chịu ký hòa ước. 4676  Nguyễn Thị Ngọc Thoa thì cáo buộc Nam Việt đang giam cầm cả hàng trăm ngàn tù chính trị. Từ năm 1968, y thị đã đội lớp một sinh viên về ngành y tá chuyên về trẻ mồ côi Việt Nam và đã thực sự là trưởng Ban Tình báo của Hà Nội tại Hoa-thịnh-đốn và đã hoạt động tại Mỹ từ đó. 4677

Cái hệ thống tư pháp đầy áp chế Mỹ cuối cùng rồi cũng phải quyết định số phận của đám Chicago Five từng bị kết án, kể cả tên Tom Hayden mà vừa mới về lại sau một chuyến chu du khắp thế giới vì hòa bình theo đúng các quy định của Việt cộng.

*****

 

4652  Viện dẫn trong sách của Stephen Denney, trang 9-10.

4653  Hayden, Ramparts, Số Tháng 10 Năm 1972, trang 44.

4654  Stephen Denney, trang 9-10.

4655  Herschensohn, An American Amnesia, trang 104-5.

4656  James Banerian và Ủy ban Vietnamese Community Action Committee, Losers Are Pirates: A Close Look at the PBS Series “Vietnam: A Television History,” Phoenix: Tiếng Mẹ Publications xuất bản, 1984, trang 221.

4657  Larry Berman, No Peace, No Honor, trang 160-176.

4658  Các sinh hoạt trong thời gian hưu chiến của ủy ban Đảng bộ Thuận Phong, Tỉnh Bình Thuận, Khu 6, hồ sơ CDEC số 11-1191-72, 9 tháng chạp năm 1972. Sưu tập của Pike Collection, TTU, Virtual Archive. 

4659  Như trên.

4660  FBI, SAC, Tampa gởi cho Giám đốc Đương nhiệm, AIRTEL, AIRMAIL, 21 tháng 11 năm 1972.

4661  SAC, Tampa gởi cho Giám đốc Đương nhiệm, VVAW-IS-RA, 08:56 PM, 30  tháng 10 năm 1972, trang 2.

4662  FBI, Giám đốc Đương nhiệm gởi cho Tổng Thống (cùng với các cơ quan thuộc Bộ Ngoại giao, quân đội và tình báo), TELETYPE, 01:53 AM, 31 tháng 10 năm 1972.

4663  COSVN Thông tư số 9 và Thông điệp về việc Mỹ bác bỏ thỏa ước 9 Điểm vào cuối tháng 10 năm 1972, CDEC 11-1173-72,(U), Sưu tập của Pike Collection, TTU, Virtual Archive, số 2301711012.

4664  Richard Barnet và Cora Weiss, Báo cáo với Gia đình các Tù binh cùng Quân nhân Mất tích, 31 tháng 10 năm 1972.

4665  FBI, SAC, Los Angeles gởi cho Giám đốc Đương nhiệm, phúc trình Indochina Peace Campaign, 3 tháng 11 năm 1972, trang 2.

4666  Cuộc thăm dò ngày 11 tháng 9 năm 1072 của Harris được viện dẫn trong sách của  Henry Kissinger, Ending the Vietnam War, Simon Schuster, 2003, trang 317-8, cũng được  James Webb nêu ra.

4667  FBI, Butte gởi cho Giám đốc Đương nhiệm, TELETYPE, 07:48 PM, NITEL, 4 tháng chạp năm 1972; FBI FOIA Howard Zinn,  có nêu ra “Antiwar Group Goes to Hanoi for Talks”, Washington Post Times Herald, 2 tháng 11 năm 1972.

4668  FBI, Hồ sơ số 176-41, trang 176-88, Chicago, 1 tháng 11 năm  1972: UPI-127, (POWS), Chicago, JG 455 PES– 11-1; UPI -058A, Hayden, trang 11-2, 06:13 AES; “What’s News”, Wall Street Journal, 2 tháng 11 năm 1972.

4669  FBI, New York gởi cho Giám đốc Đương nhiệm, COLIFAM, TELETYPE, 01:00 AM,  2 tháng 11 năm 1972.

4670  “American Antiwar Delegation Arrives in Hanoi”, Chương trình Quốc nội đài Hà-nội, 14:30 GMT, 5 tháng 11 năm 1972, Văn khố TTU Archive; và “Pham Van Dong Receives American Antiwar Delegation”, Chương trình Tin Quốc Tế đài Hà-nội, 02:40 GMT, 12 tháng 11 năm 1972, Văn khố TTU Archive, cả hai được viện dẫn trong sách của Rothrock, Divided We Fall… trang 172 ghi chú 30.

4671  Berman, No Peace, No Honor and Karnow, Vietnam; a History, trang 662-666.

4672  “Antiwar Delegation Visits Northern Region of DRV”, Chương trình Quốc nội đài Hà-nội, 04:30 GMT, 4 tháng 11 năm 1972, trang 10, Văn khố TTU Archive được viện dẫn trong sách của Rothrock, trang 172 ghi chú 32, trang 472.

4673  “Antiwar Delegation Visits Northern Region of DRV”, Chương trình Quốc nội đài Hà-nội, 04:30 GMT, 4 tháng 11 năm 1972, trang 10, Văn khố  TTU Archive được viện dẫn trong sách của Rothrock, trang 173 ghi chú 33, trang 472.

4674  “Antiwar Delegation Visits Northern Region of DRV”, Chương trình Quốc nội đài Hà-nội, 04:30 GMT, 4 tháng 11 năm 1972, trang 10-11, Văn khố  TTU Archive được viện dẫn trong sách của Rothrock, trang 174 ghi chú 34, trang 472.

4675  FBI FOIA, Howard Zinn.

4676  “IPC Tour Covers Upstate”, Trung Tâm Syracuse Peace Center, Peace Newsletter, Số Tháng Giêng Năm 1973, SPC trang 6 và 679.

4677  Xin đọc các lưu trử của Ủy ban Committee of Responsibility and Indochina Resource Center tại Thư viện Đại học Swarthmore College Peace Center Library; các điểm sách của Yung Krall (Đặng Mỹ Dung), A Thousand Tears Falling, tại “Story of the Vietnam CIA Spy” và của Lâm Lể Trinh, “Maggie talks with Yung Krall: Daughter of a Vietnamese Communist Ambassador Help Break the CIA and FBI Intelligence Grid in the United States”, Nguyệt-San Việt-Nam, một Tạp Chí Văn Học chiến đấu cho một Việt Nam Tự Do và Dân Chủ.   

*****

Một phản hồi to “Roger Canfield’s Americong #156”

Trackbacks/Pingbacks

  1. Giới thiệu tác phẩm AMERICONG (MỸ-CỘNG) – Lê Bá Hùng | Ngoclinhvugia's Blog - 05/01/2016

    […] Roger Canfield’s Americong #156 […]

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: