Biến Động Sài-gòn Thất Thủ

Saigon’s Fall Still Echoes Today

Biến Động Sài-gòn Thất Thủ

Nay Vẫn Còn Vang Vọng

Các huyền thoại về Trận Chiến Việt Nam vẫn cứ tồn tại và làm suy yếu vai trò của Hoa Kỳ trên toàn thế giới

 http://www.wsj.com/articles/saigons-fall-still-echoes-today-1430348832

image002

Một tăng Bắc cộng chạy băng qua cổng Dinh Tổng Thống tại Sài-gòn

vào ngày 30 tháng 4 năm 1975 (Hình: ASSOCIATED PRESS)

Video phỏng vấn vị đồng sáng lập viên của Phân khoa Law Center for National Security Law thuộc Đại học Virginia đã phá tan các huyền thoại và phân tách về ảnh hưởng của cuộc chiến đó vào chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ:

http://owirenews.com/video/vietnams-legacy-american-weakness-abroad_518801307

ROBERT F. TURNER

29 tháng 4 năm 2015, lúc 7:07 p.m. ET

Cách đây bốn mười năm, tại cái thành phố từng mang tên là Sài-gòn, thì tôi đang cố gắng để giúp  tổ chức việc di tản số trẻ em mồ côi làm sao cho được trôi chảy, trong khi mà các lực lượng vũ trang của Bắc cộng đã đang cứ tiến gần tới cái thành phố đó mất rồi. Tôi đã từng xuất ngũ khỏi quân đội Mỹ, sau hai nhiệm kỳ tại Việt Nam, và đã chỉ trở lại, để ráng làm chút ít gì đó, khi mà nước Mỹ của chúng ta đã quyết định bỏ cuộc và chạy trốn khỏi một cuộc chiến – một cuộc chiến cho tự do – mà Hoa Kỳ đã rất ư là nhục nhã, không chu toàn được lời từng đã cam kết.

Nhân khi quốc gia chúng ta tưởng niệm và đánh dấu kỷ niệm 40 năm biến động Sài Gòn bị thất thủ vào ngày 30 tháng 4, thì chúng ta cũng nên xóa sạch đi cho xong, các loại huyền thoại, mà vẫn cứ bám theo cuộc xung đột đẫm máu đó, để hiểu ra là, tại sao, mà nước Mỹ đã từng quyết định tham chiến, và hiểu ra được những sai lầm đã từng xẩy ra, cũng như các hệ quả đã là gì.

Chúng ta đã từng tham chiến, chỉ vì đã từng phê chuẩn cái Hiến chương Liên Hợp Quốc vào năm 1945 và cả cái Hiệp ước Tổ chức Đông Nam Á (SEATO) một thập niên sau đó, mà theo đó, thì Mỹ đã cam kết sẽ chống lại mọi cuộc xâm lăng quốc tế có vũ trang. Các chỉ trích, thì từ lâu nay đã vẫn tuyên bố rằng, Bộ Ngoại giao đã nói láo, khi công bố rằng Mỹ chỉ đáp ứng lại cuộc xâm lăng của Bắc Việt Cộng Sản. Lập luận này hoàn toàn là vô căn cứ. Ngay sau chiến tranh, Hà Nội cũng từng nhiều lần thừa nhận, ngay cả trong các tài liệu sử chính thức của chúng, “Chiến thắng ở Việt Nam”, là  từ quyết định của chúng vào tháng 5 năm 1959, để mở đường mòn Hồ Chí Minh và rồi gởi một số lượng lớn bộ đội, vũ khí, vật tư xuôi Nam, để lật đổ cái quốc gia lân cận bằng vũ trang. Quyết định đó hoàn toàn đã là bất hợp pháp, y như khi Bắc Triều Tiên xâm lăng nước láng giềng phía Nam của chúng trong tháng 6 năm 1950.

Mỹ quả đã phạm nhiều lổi lầm, nhưng hai yếu tố có tính cách quyết định nhất, mà đã đưa đến kết quả của cuộc chiến đó, đã là phong cách quản lý vi mô (micromanagement) yếu kém của Tổng thống Lyndon Johnson và của cả Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara, cùng với trận tâm lý chiến đầy hiệu quả của Hà Nội, mà đã từng nuôi dưỡng một phong trào hòa bình rất ư là cả tin, mà luôn luôn cũng rất ư  là nông cạn. Chính những người xuống đường biểu tình đó, đầy tức giận mà cũng đầy hiểu lầm và thiếu hiểu biết, cuối cùng dã thuyết phục được Quốc hội vào tháng 5 năm 1973, để không chuẩn phê thêm ngân sách hầu tài trợ cho các cuộc hành quân của Mỹ tại Đông Dương.

Tiếp ngay sau vụ Bắc cộng “giải phóng” miền Nam Việt Nam và Campuchia, bao triệu người đã thiệt mạng và bao chục triệu kẻ khác thì bị cướp mất đi mọi hy vọng về thế nào là một cuộc sống tự do. Chương trình Cambodia Genocide Project ~ Nạn diệt chủng Campuchia, thực hiện bởi Đại học Yale, thì cũng đã phải kết luận rằng Cộng sản Khmer Đỏ từng đã giết chết cả 1 triệu 7 người dân Kampuchia, tức là hơn 20% toàn dân số của nước đó, một tỷ lệ tàn tệ nhất, chiếu về đầu người và thời kỳ, của cái nạn diệt chủng trong cái thế kỷ 20 này. Hàng trăm ngàn người khác ở Nam Việt Nam thì cũng đã phải bỏ mạng, như là những “thuyền nhân” tuyệt vọng đi mưu tìm tự do. Vô số người khác thì cũng đã bị xử tử, hay đã phải bỏ mạng trong các “trại cải tạo” và “vùng kinh tế mới” mà bọn cai trị mới đã bày đặt ra.

Biến chuyển này, đã không phải là không thể tránh được về mặt quân sự. Như ông John Lewis Gaddis của Đại học Yale đã từng viết vào năm 2005 trên tờ Foreign Affairs ~ Những Vấn Đề Ngoại Giao, thì “Các sử gia hiện nay thì đã đều công nhận là các chiến dịch chống dấy loạn của Mỹ ở Việt Nam đã đang thành công vào những năm cuối cùng của cuộc chiến đó; vấn đề chỉ là sự yểm trợ cho cuộc chiến này thì lại đã bị nát tan đi mất rồi từ lâu, ở ngay chính quê nhà của họ”.

Ngoài những hệ quả về phương diện nhân mạng, thì nét bi kịch đau thương thực sự nhất đã là mọi chì trích quan trọng và chính yếu nhất của đám biểu tình phản chiến thì đều lại dựa trên những sự kiện hoàn toàn sai lầm. Hồ Chí Minh, thì lại đã được mô tả như là một người quốc gia có khả năng sẽ là một điểm tựa, hầu nhăn chận được sự bành trướng của Trung cộng, nếu mà chúng ta ủng hộ y. Điều này thì quả là đã bỏ lơ không them đếm xỉa gì tới các bản lý lịch Hà Nội đã từng chính thức công bố, mà theo đó, chúng đã công nhận vai trò của Hồ Chí Minh như là kẻ đồng sáng lập Đảng Cộng sản Pháp vào năm 1920, cũng như là công nhận tiến trình y đã được đào tạo và huấn luyện tiếp theo sau đó tại Moscow, để rồi thì là những năm dài chu du khắp thế giới, trong vai trò của một đại diện của Quốc tế Cộng sản Communist International.

Còn đối với Trung cộng thì sao? Tại Đại hội Đảng lần thứ Ba ở Hà Nội vào năm 1960, Đệ Nhứt Bí thư Lê Duẩn cũng đã từng tuyên bố: “Chính xác và đúng thật nhất, thì là Đảng Cộng sản Trung Quốc, mà đứng đầu là đồng chí Mao Trạch Đông, đã mới thực sự thi hành một cách hiển hách nhất, các lời dạy dổ của vị Lê-nin vĩ đại”.

Và rồi lại một cái huyền thoại khác nữa: Các lực lượng của “Mặt Trận Giải Phóng Quốc Gia” hay cũng là “Việt Cộng” đã rất ư hoàn toàn đ6ợc lập, đối với Bắc Việt. Mà ngược lại thì Hà Nội đã đi công bố biên bản của Đại hội Đảng lần thứ Ba, bản bằng Anh ngữ, trong đó, chúng đã kêu gọi “nhân dân ta” ở miền Nam phải đứng ra thành lập một cái “mặt trận thống nhất dân tộc”, vào thời gian cả ba tháng, trước khi MTGPQG được ra mắt tại Hà Nội.

Và rồi cũng như vụ này: Tổng Thống L.B. Johnson đã “nói láo” về một cuộc tấn công của Bắc Việt vào chiến hạm USS Maddox ở vịnh Bắc Việt vào ngày 2 tháng 8 năm 1964, mà dùng đó như là một cái lý do, hầu leo thang và can thiệp bằng quân sự của Mỹ. Tới năm 1995 thì tướng Võ Nguyên Giáp, cựu Bộ trưởng Quốc phòng của Hà Nội, đã thừa nhận vụ tấn công đó quả thực có đã xảy ra.

Hoa Kỳ đã từng tham chiến, không vì một cuộc đụng độ nhỏ tại Vịnh Bắc Việt, nhưng là để ngăn chận lại cả một cuộc xâm lăng mà đang cứ tiếp tục leo thang và từng gây tang thương suốt cả năm năm dài. Tiếp theo vụ tấn công vào Maddox, Quốc hội đã biểu quyết một đạo luật (với số phiếu 416 chống 0 tại Hạ viện, và 88 chống 2 tại Thượng viện) để cho phép tổng thống được quyền sử dụng “quân lực”, hầu đáp trả cái nạn xâm lăng của Cộng sản ở Đông Dương (gồm luôn cả Kampuchia).

Có lẽ cái huyền thoại ác độc nhất đã là – mà đã từng xầy ra dạo xưa, với những lời nói từ chính miệng của vị Ngoại trưởng đương nhiệm Mỹ, nhân khi ra trước Ủy ban Đối Ngoại Thượng viện vào ngày 22 tháng 4 năm 1971 –  nào là, lính Mỹ ở Việt Nam đã thường xuyên phạm phải các “tội ác chiến tranh” và đã hành xử theo một “phong thái làm nhớ lại tên Thành-Cát-Tư-Hãn”. Khi Tim Russert đã chất vấn ông ta về các cáo buộc đó, nhân trong chương trình “Meet the Press” vào tháng 6 năm 2001, thì lúc đó, với tư cách vẫn còn là một thượng nghị sĩ, John Kerry bèn bác bỏ, và coi đó như chỉ là những lời của một thanh niên đang tức giận, để rồi bèn tuyên bố là các quân nhân của chúng ta tại Việt Nam “đã từng phục vụ rất ư là cao thượng, nói chung, như trong mọi cuộc chiến”. Nhưng ông ta đã không hề chịu xin lỗi là mình từng đã nói xấu cả 2 triệu 7 triệu cựu đồng chiến binh, và thực sự thì cũng đã có tương đối rất ít người Mỹ nào mà đã có cơ hội được nghe ông ta tự đính chánh. *

Tuy mặc dù cuối cùng, thì Quốc hội cũng đã nở đành ra tay, giật lấy mất cái chiến thắng, để ngược lại biến nó thành chỉ là một chiến bại mà thôi, các sự hy sinh của Mỹ đã rốt cuộc không hoàn toàn là vô ích. Do nhờ đã từng đứng ra chống lại các cuộc dấy loạn của cộng sản ở vùng đó, thì Mỹ cũng đồng thời đã giúp thêm thì giờ cho các quốc gia đang là mục tiêu đễ bị tấn công bởi cộng sản như Thái Lan và Indonesia, để họ có đủ thì giờ hầu trở nên mạnh hơn mà tự lo liệu. Sự kiện Liên Xô đâm đầu đi can thiệp ở Angola, Afghanistan và Trung Mỹ, khi chúng được khuyến khích bởi sự lui binh của Mỹ, sẽ rồi cũng khiến phí phạm cả nhiều trăm ngàn sinh linh. Nhưng rồi, nếu mà chúng ta đã quyết định bỏ rơi Nam Việt Nam vào năm 1964, thì chắc chắn kết quả sẽ còn đã phải tồi tệ hơn rất ư là nhiều.

Hoa Kỳ đã từng tham chiến tại Việt Nam, với sự hỗ trợ áp đảo tuyệt đối của Quốc hội và của công chúng, để thi hành một chính sách ngăn chặn, mà từng đã được chấp nhận bởi cả lưỡng đảng suốt cả nhiệm kỳ của cả bốn vị tổng thống. Nhưng rồi, một trận tâm lý chiến rất ư là tuyệt vời của địch, đã có thể đi tung khắp nơi, toàn nào là loại tin sai ác, mà rồi cũng đã gây chia rẻ được cái đất nước này, ngay cả trong những người công dân Mỹ, để đưa đến biết bao là hậu quả bi thảm về sau – tạo ra một chủ trương chống đối, mổi khi mà lại có cơ hội để nhớ lại chuyện xưa, trong rất nhiều giai tấng xã hội, về việc có nên cần sử dụng sức mạnh quân sự của Mỹ, ở các nơi trên thế giới hay không – loại phản ứng mà, cho tới nay, vẫn đang làm suy yếu cái đất nước này.

GS Turner đã đồng sáng lập Center for National Security Law (Trung Tâm Luật An Ninh Quốc Gia) tại Phân khoa Luật thuộc Đại học Virginia và đã đồng giảng huấn một chương trình liên môn về Cuộc Chiến Việt Nam từ năm 1990.

*****

*  Phần nhấn mạnh màu XANH  và ĐỎ là CỦA người chuyển ngữ.

 

*****

 

%d bloggers like this: