Roger Canfield’s Americong #158

image002

Comrades in Arms

How the Americong Won the War in Vietnam

Against the Common Enemy— America

Copyright Roger Canfield, Ph.D.

1986-2012

No commercial transaction allowed except that approved by the author, copyright holder.

Obtain a prepublication release of a CD-R in Microsoft Word in ENGLISH at a discounted price of $15 from Roger Canfield Rogercan@pacbell.net at 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 or at http://americong.com.

Completely SEARCHABLE for any name, date, place or event of the War and its protesters.   

Cover: Design Stephen Sherman. Photos: Roger Canfield, March 2008. TOP: War protest Hawaii, February 1966 displayed at War Remnants (Crimes) Museum, Saigon. Bottom: Praetorian Guard

Các đồng chí cùng chiến tuyến

Làm thế nào MỹCộng thắng cuộc chiến Việt Nam

Chống kẻ Thù Chung – Mỹ

Giữ bản quyền Roger Canfield, Tiến Sĩ

1986-2012

Không được sử dụng vào mục đích thương mại nếu không có sự đồng ý của Tác giả, người giữ bản quyền.

Có thể mua một tiền bản dưới dạng CD-R Microsoft Word bằng Anh ngữ với giá đặc biệt US$15 ngay từ tác giả Roger Canfield  Rogercan@pacbell.net tại 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 hay tại  http://americong.com.

Hoàn toàn có thể TRA CỨU hoặc bằng tên, bằng ngày tháng hay biến cố liên quan đến cuộc Chiến cùng cả luôn bọn tham dự biểu tình .

********

* Tác giả giữ bản quyền © Roger Canfield 1986-2012

  • Lê Bá Hùng chuyển ngữ  (với sự chấp thuận của Tác giả)

 *****

Chương 158

Không Tạc Vào Mùa Giáng Sinh

Tại Hà-nội

 

Đúng ngày 11 tháng 12 năm 1972, hãng  Anniversary Tours, một công ty chuyên về du lịch do đảng Cộng sản Hoa Kỳ sở hữu, đã đặt vé với hãng Scandinavian Airlines Services SAS từ phi trường JFK cho nữ ca sỹ dân ca Joan Baez, tay Giám mục ‘Episcopal’ Michael Allen của Yale Divinity, Barry Romo của VVAW  và tên Tướng Telford Taylor, cựu trưởng luật sư tại các phiên xử về tội ác chiến tranh của Đức quốc xã ở Nuremberg, Đức. 4687 Ngày 13 tháng 12 năm 1972 thì Cora Weiss bèn tổ chức họp báo và đã giới thiệu Baez, Allen, Taylor với Romo sẽ đi Hà Nội. Baez bèn tuyên bố mình muốn đi Bắc Việt để chứng kiến việc ​​thiệt hại do chiến tranh đã gây ra. Allen thì cho biết chúng có mang theo được 500 bức thơ. Weiss có khẳng định đây là chuyến đi trao đổi thư từ thứ 36 của COLIFAM.

ABC, NBC, CBS, AP và UPI đều đã cùng tường thuật buổi họp báo thiên Hà Nội này. 4688 Tình trạng các thông tấn xã đã loan tin có thiện cảm với kẻ thù trong suốt thời chiến đã rất là phổ biến. Một cuộc nghiên cứu về CBS của Institute for American Strategy (Viện Chiến lược Mỹ) đã cho thấy là có tới 83.33% những bản tin về chính phủ Nam Việt Nam đều có tính cách bôi bác trong khi cho tới 57.30% của những tin liên quan Hà Nội thì đã rất là thuận lợi. 4689

Cuối cùng, trong một nỗ lực để buộc Bắc Việt phải chịu trở lại bàn đàm phán, sau khi đã tái đắc cử rất là vẻ vang, Tổng thống Nixon bèn quyết định leo thang và dội bom các mục tiêu mà lâu nay vẫn bị liệt kê như là bất khã xâm phạm ở Bắc Việt kể từ ngày 18 đến 29 tháng chạp – chiến dịch mà đã được gọi là vụ Không Tạc Mùa Giáng sinh, với thời gian đặc biệt ngưng không tập trong vòng 36 tiếng đồng hồ nhân dịp Giáng sinh. 4690  Đúng ra thì bọn Cộng Sản cũng đã không bao giờ ăn mừng Lể Giáng sinh hay bất kỳ ngày lễ tôn giáo nào khác, nên sự kiện chúng tỏ ra phẫn nộ nhân việc không kích vào một ngày lể Thiên chúa giáo thì rỏ ràng chỉ là làm bộ mà thôi. Các vụ dội bom, mà đã không hề xẩy ra vào ngày Giáng sinh, đều đã từng bị mệnh danh là Các vụ Không kích Mùa Giáng sinh ngõ hầu đạt được một giá trị tuyên truyền tối đa tại Mỹ, nơi mà đa số người dân đều là người Thiên Chúa giáo.

Lập trường tiếp tục đẩy mạnh chiến tranh ‘Peace with Honor ~ Hòa bình trong Danh dự” của Nixon đã từng là một giao ước bầu cử mà đã đưa đến một cuộc toàn thắng long trời lở đất suốt khắp bốn mươi chín tiểu bang trước tay ứng cử viên với chỉ một chủ đề duy nhất là phản chiến, George McGovern. Đô đốc Moorer đã  tuyên bố là các vụ không kích đều là để có thể “tiêu hủy tối đa … các mục tiêu quân sự” nhưng cũng “để gây khủng hoảng tối đa cho người dân”. “Tôi muốn người dân Hà Nội nay phải chính tai mình nghe được tiếng bom”.

Vụ dội bom đoạn gồm 5 đường hỏa xa chạy song song trên cầu Long Biên để vượt qua sông Hồng vào Hà Nội thì chỉ cách khách sạn Metropole có hai dặm thôi, nơi mà nhóm Baez đang được chăm sóc kỷ càng và đang gặp gỡ những khuôn mặt quốc tế khác như Jean Thoroval của Agence France Press, một tên Cu-ba, một tay Ấn Độ và nhiều kẻ khác. Đám Mỹ đã được cho xem phim về trẻ em bị dị tật, về những con vật nằm chết lăn quay trong lồng và về “một lính Mỹ đang dùng một loại ống để phun lửa”. Chúng cũng đã được đưa tới một nơi từng bị bom. Joan Baez có nhớ lại trong chi tiết nhiều điều,

“Chúng tôi đến nơi để phải chứng kiến một cảnh vật giống như là hình ảnh Mặt Trăng được giả tưởng dựng lên để quay một loại phim rất là tốn kém. Các người đàn ông … [đang] hô lớn để tổng kết số người đã chết … cả hàng trăm. … Đây là một chiếc giày … kia là một chiếc áo len nhỏ bé bị đất cát chôn mất phân nữa, nọ là mảnh vở của một đĩa ăn, … một cuốn sách còn mở, các trang giấy ẩm ướt thì dính chùm vào nhau. Báo chí cũng đã có tới với đầy đủ máy móc để thu hình”.

Gần đó thì có một phụ nữ đang cứ “ngồi chồm tới rồi ngã lui”, miệng thì cứ hát, “Con trai của Mẹ ơi. Con trai của Mẹ ơi. Con giờ ở đâu?”  Quả đúng đó đã là một phim trường mà Baez, một nghệ sĩ chuyên nghiệp, đã nhận ra được liền nhưng cô ta đã không đủ tinh tế để hieêu ra đó chỉ là một màn tuyên truyền quá ư là tuyệt để mà có thiệt. Telford Taylor thì lại đã rất tinh tế khi lên tiếng hỏi là các địa điểm bị bom này đều là mới đây hay chỉ là củ từ vụ đánh bom vào tháng 6 rồi. 4691

Đúng ra thì chủ trương của Nixon cũng chỉ nhằm dẹp tan ý chí quyết chiến của Bắc cộng mà thôi. 4692

“Y Đái Ra Quần Luôn”

Chiến lược của Nixon đã thành công.

Như Nixon và Kissinger đã tuyên bố từ đầu, như sau đó các tù binh Mỹ có xác nhận và cũng như Bắc cộng nay có thừa nhận, chiến dịch không tạc trong tháng chạp quả thật là kinh khủng. Joan Baez đã phải vào hầm tránh bom của khách sạn Metropole cùng với Mục sư Michael Allen của Yale Divinity, Barry Romo của VVAW và Telford Taylor mà hát các bài Giáng sinh. Ngay sát bên thì trong nhà tù “Hà Nội Hilton” các tù binh lại vổ tay reo mừng. Việt cộng quả nay mới biết run sợ lên. 4693 Trương Như Tảng có nhớ lại, “Tôi đã bị chìm y như trong sách Khải Huyền. Sự hoảng sợ đã lên tới cực điểm. Cơ thể mình không còn hoạt động được nữa cho dù đầu óc mình cứ hét lớn một cách vô nghĩa là phải chạy ra đi, chạy ra đi”.  4694  Một tù binh kể lại có thấy tên quản giáo “run rẩy như một chiếc lá trước gió, rồi thả rớt khẩu súng xuống và đái ra quần luôn”. 4695

Tù binh Đô đốc James Stockdale thì nhớ lại: “Tới lúc bình minh thì đường xá Hà Nội  lặng câm hoàn toàn. … Loại nhạc ái quốc để sáng sáng đánh thức dậy mọi người nay không còn nữa, …  âm thanh đường phố, còi xe, tất cả đều đã không còn nữa. Đám thẩm vấn viên và quản giáo (đều rất là lo âu) … cà phê buổi sáng bèn được phân phát … Hình ảnh mặt mày bọn cán bộ Việt cộng. . . mà đã được gởi đi … thì đầy tuyệt vọng lẫn hối hận và sợ hãi. … Ý chí của kẻ thù [của chúng ta] đã tan nát. 4696 Tù binh  Michael O’Connor thì lại nói:  “Khi chúng tôi nghe tiếng họ khóc la ngoài đường phố thì chúng tôi nhận chân ra được là mọi việc rồi sẽ sớm chấm dứt mà thôi”.  4697 Trung tá tù binh Frank Lewis đã nhớ lại: “Tôi … đã nhảy múa khắp phòng giam như như một thằng điên, miệng thì hét la và hoan hô … tôi đã khóc lớn lên vì quá ư là sung sướng”. 4698  Mọi tù binh đều đã cùng nhau hoan ca vui mừng.

Trong nhiều thập niên qua, Bắc Việt đã chưa hề bao giờ phải bị trải qua bất cứ điều gì giống được như những gì đã đang xẩy ra như vậy, với cái kiểu chiến tranh hạn chế mà chỉ nhằm gởi cái loại tín hiệu quyết tâm bằng cách ráng giữ việc khiêu khích tới mức tối thiểu đối với kẻ thù, hay cả luôn các đồng minh Cộng sản Liên Xô và Trung Quốc của chúng.

Suốt cả mười ba ngày tại Hà Nội, Việt cộng đã ráng tuyên truyền phổ biến các điểm thảo luận cho đám Mỹ – hãy hỗ trợ cho Kế hoạch Hòa bình 9 Điểm, phải ngừng bỏ bom và phóng thích các  tù chính trị tại miền Nam Việt Nam. 4699 Baez đã có ca hát cho một nhóm mười hai tù binh. Baez cũng đã nói với một phóng viên Nhật Bản tên Tsuyoshi Doki, “Nixon chỉ là một thằng điên khùng … Khi tôi trở về lại thì tôi sẽ làm hết sức mình để cho phong trào phản chiến được thống nhất và trở nên mạnh mẽ hơn nhiều”. 4700

Độ 42.000 bom đã được thả nhằm “hủy diệt tối đa các mục tiêu quân sự đã được lựa chọn”. Số 1.242 hỏa tiển SAM và đạn phòng không của Hà Nội nhắm vào phi cơ Mỹ đã rớt trở lại xuống các thường dân còn lại tại Hà Nội. 4701 Tên Barry Romo của VVAW thì cáo buộc là cuộc không kích đã không bao giờ là để tiêu hũy các mục tiêu quân sự, nhưng mà là để khủng bố và làm mất tinh thần người dân Bắc Việt. Mọi bom đánh trúng các mục tiêu phi quân sự đã đều không hề là do lầm lỗi. Romo tố cáo là nhiều nhà và cửa hàng đã cứ bị dội bom trúng nhiều lần.  4702

Tuy nhiên, trong thực tế, các lệnh từ Washington đều là “cẩn thận ráng giảm thiểu nguy cơ thương vong dân sự …”. 4703 Các phi hành đoàn đều được lệnh phải duy trì phi trình thẳng và ở một độ cao nhất định để  “có tối đa thời gian nhắm mục tiêu” và “làm giảm nguy cơ về thiệt hại dân sự”.  4704 Các lệnh này đã tăng gia nguy cơ của các phi hành đoàn dể bị phát giác bởi những hệ thống  phòng không hữu hiệu nhất trên thế giới. Cho dù lần này cũng không phải là một vụ tàn sát với kỷ thuật hỏa thiêu bằng hạch nhân như bọn tả phái vẫn thường cáo buộc Mỹ trước đây cứ đúng vào những lúc mà Mỹ tỏ lộ một thái độ cứng rắn, ngay cả chỉ là về phuơng diện ngoại giao thôi, lần này các bom thông minh mới đã quá ư là chính xác tuyệt vời.

Tờ New York Times đánh tin đi là đã có chiến dịch trải thảm bom trên nhiều dặm vuông mà chỉ toàn là khu vực đông dân cư. Joseph Kraft thì đã viết về “sự khủng bố vô nghĩa” của vụ dội bom. Dan Rather thì ghi nhận: “tầm quy mô lớn kinh khủng của vũ không kích”.  Tờ Washington Post thì lại nêu lên nghi vấn liệu Nixon có khùng hay không. Anthony Lewis đã gọi vị Tổng Thống là “bạo chúa điên”.  4705  Các bức không ảnh thì lại đã cho thấy là không hề có việc thả bom kiểu trải thảm một cách bừa bãi, cũng như là không hề có việc tấn công khủng bố vào thường dân nào cả. 4706

Walter Cronkite thì đã không hề phê phán gì mà lại trích dẫn Thông tấn xã Tass của Liên Xô và Đài phát thanh Hà Nội như là các nguồn tin đáng tin cậy về tầm quy mô lớn về thiệt hại bị cáo buộc đã bị gây ra cho nhà dân và về tình trạng tâm thần của vị Tổng thống Mỹ. 4707

Ấy vậy, ngày 29 tháng chạp năm 1972, tờ Nhân Dân đã đăng những đọan trích từ một tuyên bố của Trung Tá Luis (sic) Henry Bernasconi, hoa tiêu của một chiếc B-52 bị bắn rơi vào ngày 22. Lúc đó, đang là một tù binh, thì Bernasconi đã có tuyên bố: “Chúng tôi từng được huấn luyện là B-52 chỉ được sử dụng với các mục tiêu rộng lớn … cả hàng chục dặm vuông. Các loại mục tiêu như vậy thì hoàn toàn không có tại Việt Nam … Khi B-52 thả bom trong những vùng đông dân cư thì chỉ là nhằm giết càng nhiều người thêm để tạo áp lực mà thôi”. 4708 Nhưng sau khi được phóng thích thì Bernasconi đã không bao giờ lặp lại lời tuyên bố bừa bãi như vậy về sự kiện kích thước của các mục tiêu và ý định giết người khi sử dụng B-52.

Như nay thì Bắc Việt cũng đã thừa nhận, hệ thống ‘radar’ của chúng đã bị vô hiệu hóa khiến cho các hỏa tiển SAM của chúng đều trở thành vô hiệu. 4709  Khi tận mắt sở thị thì Stanley Karnow đã có ghi nhận là dân chúng đã được sơ tán trước, thiệt hại tại Hà Nội và Hải Phòng chỉ có tính cách tối thiểu, thường dân đã không hề bị đụng tới và vụ không tập đã rất là chính xác, đánh trúng ngay chóc chỉ những mục tiêu quân sự mà thôi.  4710

Trở về lại quê nhà vào đêm Giáng sinh, một đám nhỏ bọn VVAW, bọn Brown Berets ~ Mủ Đà và Lữ đoàn Venceremos đã tổ chức diển hành đì về văn phòng Cơ quan Quản lý Nghĩa Trang ở Los Angeles. Chúng đã phân phát truyền đơn với tựa đề “SÁU TRIỆU NẠN NHÂN – THIỆT HẠI NHÂN SỰ TẠI ĐÔNG DƯƠNG DƯỚI THỜI TỔNG THỐNG NIXON”.  4711 Con số sáu triệu thì quả là quá lố.

Ngược lại thì tại Nam Việt Nam, khi người dân làng bỏ đi để đến các khu an toàn hơn do  chính phủ kiểm soát thì bọn Việt Cộng lại luôn luôn nã súng cối, gài  bom và đặt mìn chợ búa cùng đường xá mà không hề có giá trị quân sự nào cả. Từ năm 1968 đến năm 1972, “khoảng ba mươi nghìn người dân thường hàng năm vẫn đã phải đến các bệnh viện của Chính phủ Nam Việt chính vì những vết thương do mìn đặt hay pháo của súng cối … những loại thương tích [mà] … đã vượt xa nhiều … những vụ do … Đồng minh pháo kích và dội bom”. 4712 Khác hẳn với loại hành vi của bọn Việt cộng mà từng đã cố tình mưa pháo và xả súng cối thẳng xuống thường dân Nam Việt Nam đang chạy trốn, B-52 Mỹ đã không bao giờ thả bom xuống người dân sơ tán tại Hà Nội.

Phẫn Nộ Đối Với Việc Thả Bom ‘Trải Thảm’ Xuống Hà Nội

Tờ Le Monde đã so sánh cuộc không tập của Mỹ với vụ dội bom khủng khiếp tại  Guernica trong cuộc nội chiến Tây Ban Nha, một biểu tượng của cánh tả về tính cách phát xít tàn bạo chống lại các nhà cách mạng cộng sản oai hùng. Giống y  con chó của Pavlov, đám truyền tin thường vẫn tự cho là tiến bộ thì cũng luôn luôn chảy nước miếng đón chờ một cơ hội nào đó đến.

Bọn bạn bè của Việt cộng, gồm cả giới truyền tin Mỹ, đã cứ luôn luôn điên cuồng xịt tin ra để tỏ lộ bất mản, khổ cái là không phải với những tội ác muôn trùng vô tận của Việt Cộng, nhưng mà chỉ là về các vụ dội bom Hà Nội mà thôi.

Dan Rather của CBS thì đã gọi vụ không tạc là “không kích khủng bố đại quy mô (không hạn chế)”. Đài Hà Nội quả đã móm ý cho y và rồi y đã chỉ lặp lại như cái con két cácg tuyên bố về “những cuộc tấn công có tính cách tận diệt trên nhiều vùng đông dân cư”.

Walter Cronkite của đài CBS thì lại đã trích dẫn tin của Thông tấn xã Liên Xô Tass, “Phi cơ Mỹ đã phá hủy hàng ngàn ngôi nhà”, và của Đài phát thanh Hà Nội, “Nixon đã không còn minh mẫn” mà hoàn toàn không hề có chút gì thắc mắc cả.

Trong hồi ký White House Years ~ Những Năm Trong Tòa Bạch Ốc, Henry Kissinger có liệt kê các tựa tin trên báo chí sau vụ dội bom: “New Madness in Viet Nam ~ Điên khùng Mới tại Việt Nam” (St Louis Post Dispatch, 19 tháng chạp); “The Rain of Death Continues ~ Mưa Tử Thần Vẫn Tiếp Tục” (Boston Globe, 20 tháng chạp); “Terror From the Skies ~ Kinh Hoàng từ Trời Xuống” (New York Times, 26 tháng chạp); “Terror Bombing in the Name of Peace ~  Không Tạc Khủng Khiếp nhân danh Hòa Bình” (Washington Post, 28 tháng chạp); ” Beyond All Reasons ~ Không Sao Biện Minh Được” (Los Angeles Times, 28 tháng chạp). 4713  Mary McCarthy thì đã viết “Frighteningly callous to consequences ~  Không Màng đến Hậu Quả Một Cách Đáng Sợ”, sau khi được tin một trái bom đã giết chết viên Trưởng Phái Bộ Pháp, 4714 chắc có lẽ vì đã nghỉ đó là một cuộc tấn công vô lương tâm đầy tính không tưởng vào giới trí thức cùng nghành văn hóa. Trong chốn riêng tư thì Nixon đã cho đó là “nổi kinh loạn do giới truyền tin thúc đẩy”, nhưng khi trao đổi với các kẻ chỉ trích mình thì lại nói như vậy cũng “phải chăng” thôi.  4715

Nói chung thì Nixon đã giữ im lặng với các tuyên bố trắng trợn là gian trá về tính cách vô đạo đức, man rợ và tàn sát, vì sợ, như sau này ông có cho biết, làm Hà Nội bỏ ngưng hòa đàm Ba-lê.

Stanley Karnow thì kể lại là báo chí, truyền hình và đài phát thanh Mỹ đã không hề phê phán gì khi cho tường trình lại các cáo buộc của một phóng viên Pháp [trong tờ Le Monde] là đã có thả bom “trải thảm” ngay trung tâm phố Hải Phòng và Hà Nội. Malcolm Browne của The New York Times, một kẻ chống đối cuộc  chiến, cũng đã phải lên tiếng là “quá sức phóng đại”.

Thật vậy, ngay cả Trần Duy Hưng, tay thị trưởng thành phố Hà Nội cũng đã xác nhận là không hề có như vậy. Karnow có cho biết, “bọn phản chiến Mỹ … trong khi xẩy ra các cuộc không tập này thì đã kêu gọi tay thị trưởng hãy lên tiếng cáo buộc là đã có cả chục ngàn người chết”.  Cái bọn rất đáng nghi mà đã có thể đề nghị một hành vi gian dối cố tình như vậy thì chắc không ai khác hơn là Joan Baez, Barry Romo, Michael Allen và Telford Taylor. Thị trưởng Trần từ chối không chịu thổi phồng các con số bởi vì vấn đề liên hệ  đến sự “khã tín của chính phủ mình”.

Bắc Việt đã có tổng kết được số tử vong là 1.318 thường dân tại Hà Nội và 305 tại Hải Phòng – không thể nào đáng để có thể so sánh được với số 85.000 nạn nhân trong trận thả bom trải thảm tại Đông Kinh vào tháng 3 năm 1945. 4716 Ngay trước đó, vào năm 1972 thì chính Bắc Việt đã từng mưa pháo xuống các  thường dân đang bỏ chạy khỏi Quảng Trị và An Lộc mà đã giết chết ít nhất cho tới cả 15.000 người. Và đã không hề có hãng truyền tin nào đó hay đám hành hương cho “hòa bình” nào đó đã có lên tiếng dùm để phẫn nộ trước việc tàn sát biết bao là sinh linh vô tội này.

Rồi khi về lại thì Joan Baez đúng ra cũng có đưa ra một cách chính xác con số thương vong đã là 2.000. 4717

Parks thì lại cho là số thường dân được Hà Nội báo cáo thì cũng không phải là hoàn toàn vô tội. Dân thường vẫn có phục vụ ngay tại những mục tiêu quân sự một cách rất là hợp pháp. Một số đã được lợi dụng để tránh bị không tạc. Và cũng vẫn đã xẩy ra việc thường dân đã bị giết chính ngay bởi “hỏa tiển  SAM hay đạn AAA phòng không của Bắc cộng  … khi chúng rớt về lại mặt đất”.  Bởi vì,

“Hà Nội đã bắn đi cho tới hơn 1.000 hỏa tiển SAM … [nên] rất nhiều tử vong trong con số 1.318 thường dân thiệt mạng đã có thể chính là do ngay hệ thống phòng không Bắc Việt. Nếu cân nhắc  … theo  … hệ quả về chiến trận … thì Chiến dịch Linebacker II đã hơn xa tất cả những chiến dịch trước đó vì đã có được con số tử vong tối thiểu  … về nhân mạng thường dân khi ta so sánh và kể đến cường độ của các nỗ lực khi phải tấn công vào các mục tiêu hợp pháp”.

Sự kiện là ngay trong vụ không kích dữ dội nhất của toàn cuộc chiến mà Hà Nội chỉ bị ít hơn là 2.000 người chết thì cũng đã là “bằng chứng có khã năng thuyết phục (là) … Hoa Kỳ đã ráng tìm cách để tránh thiệt hại tài sản song phương (collateral damage)  … cũng như chiến dịch Rolling Thunder [trước đó] đã từng là “một trong những chiến dịch quân sự bị hạn chế nhất đã từng có trong lịch sử”.

Sự kiện Mỹ đã phải bỏ ra cho tới 100.000 Mỹ kim để chỉ mới phá hủy được chỉ độc chiếc một xe vận tải của địch  4718  đã cho thấy mức đo về giá trị mạng sống của con người vô tội mà Mỹ đã từng vẫn chủ trương.

Bệnh Viện Bạch Mai và Phố Khâm Thiên

Có vài mục tiêu dân sự đã bị lợi dụng để thổi phồng trong công tác tuyên truyền về việc Mỹ bỏ bom và đó đã là bệnh viện Bạch Mai cùng phố Khâm Thiên, một khu dân cư.

Bọn Bắc cộng và đám bạn bè Mỹ thì vẫn tố cáo đó đã là cố ý không kích. Telford Taylor thì tuyên bố là bệnh viện Bạch Mai đã hoàn toàn bị phá hủy [Đây là đến tận lần thứ 1.000?]  Và Baez thì cáo buộc là do đó, các tù binh tại nhà tù Hilton Hà Nội cũng đã bị thương trong . Bệnh viện thì đã không bao giờ bị nhắm tới nhưng toàn bộ khu vực chung quanh Bạch Mai thì đã đều là những mục tiêu quân sự chính đáng. Nó chỉ nằm có 1.000 thước cách xa phi trường quân sự  Bạch Mai và chỉ cách có 200 thước một kho dự trữ nhiên liệu. 4719  Ngoài ra thì lại cũng đã có các hệ thống phòng không cũng như là Đài phát thanh Hà Nội.

Mục tiêu chính thì đã là rất rõ ràng. “Phần hành chỉ huy tối cao toàn bộ hệ thống phòng không Bắc Việt … một trong những hệ thống tốt nhất … trên thế giới … được đãm trách bởi một bộ chỉ huy và trung tâm phòng không đã được đặt tại (không xa hơn là 500 thước) ngay tại phi trường Bạch Mai”.  Hệ thống phòng không này đã chỉ huy và kiểm soát, từ phi trường Bạch Mai này, để cho phép nhắm bắn hạ được những mục tiêu như phi cơ Mỹ trong chu vi từ mặt đất lên đến cao độ 19 dặm Anh. 4720 Hơn nữa, các hệ thống phòng không đều lại được cố tình bố trí ngay trong các khu dân sự và luôn cả trong bệnh viện Bạch Mai.

Cuối cùng thì chỉ duy nhất có một quả bom được hướng dẫn bằng tia ‘laser’ mới trúng được Đài phát thanh Hà Nội đặt tại Bạch Mai, nơi mà đã được xây cất bao quanh bằng bê-tông cốt sắt để bảo vệ. Trong vụ này, các bức ảnh đã cho thấy là chỉ có phần góc của một cánh trong bệnh viện là đã vô tình bị phá hủy khiến 28 người bị thiệt mạng, chớ không phải là trung tâm của bệnh viện.  4721

Sự kiện bệnh viện bị trúng bom đã chỉ là một tai nạn đáng buồn. Vừa ngay lúc Đại tá John Yuill bấm thả trái bom thì ông cũng không còn điều khiển được phi cơ của mình nữa vì cùng đã có tới cả hai hỏa tiển SAM phát nổ phía trên và luôn cả phía dưới phi cơ của ông, mà đã đẩy lệch quả bom khiến trúng vào một phần của bệnh viện.  4722  Mặc cho các chú thích dưới những ảnh trong một viện bảo tàng chiến tranh có tuyên bố là bệnh viện đã bị “phá hủy”  4723 và trong một bảo tàng viện khác thì chỉ là bị “thiệt hại”,  4724  nếu ta chịu khó phân tích kỷ các hình thì quả đã có một góc của bệnh viện bị trúng bom và cũng có một hố bom lớn nằm lệch bên cạnh bệnh viện. 4725  Khi quan sát bệnh viện mà nay đã được tu sữa xong xuôi  4726 thì ta có thể xác định được là chính phần mặt tiền bên trái đã bị như vậy, rất có thể đúng là ngay tình như Đại tá John Yuill đã mô tả mọi việc về sau này.

Tương tự như vậy, vào ngày 26 tháng chạp năm 1972, các hỏa tiển SAM, khi được phóng lên để tấn công một phi cơ khác thì đã chuyển sai hướng một đợt bom của phóng pháo cơ B-52 xuống phố Khâm Thiên, 4727 nơi bị báo cáo đã gây ra 287 tử vong cùng 290 người bị thương. 4728

Sau khi từ Hà Nội về vào đầu tháng giêng thì Joan Baez sẽ báo cáo là 400.000 đô Mỹ đã được quyên để xây dựng lại Bệnh viện Bạch Mai. 4729 Young Workers’ Liberation League (Liên Minh Giải phóng của Giới Lao Động Trẻ) của đảng CS Mỹ đã thành lập với quy chế được miễn thuế cái Quỹ Cứu trợ Bệnh viện Bạch Mai. 4730 Tuần từ 8 đến 15 tháng 4 năm 1973 được gọi là Tuần cho Bạch Mai, để các tổ chức chủ hòa tại các địa phương đi vận động từ nhà này đến nhà khác và bán bánh ‘pancakes’ ăn sáng hầu gây quỷ. 4731  Nhưng cho dù đã nhận được tiền đóng góp của nhiều người Mỹ khác vào quỹ cứu trợ, ví dụ như thông qua việc gây quỹ của Bill Zimmerman nhằm viện trợ y tế cho Việt cộng, bệnh viện Bạch Mai sẽ vẫn không hề được sửa sang suốt trong chín năm trời. Đối với bọn Việt Cộng luôn luôn rất ư là “nhân đạo” thì hình ảnh hư hại của Bạch Mai vẫn mang nhiều giá trị của một vết tích chiến tranh và dể dùng khai thác để moi tiền hơn là sữa lại cho hoạt động bình thường.

Đối với những tên từng bác bỏ các nguồn chính thức của Mỹ, chẳng hạn như các không ảnh của Ngũ-giác-đài mà đã cho thấy chỉ có thiệt hại tối thiểu tại Hà Nội, thì đã có bộ phim của Chính phủ Bắc Việt  do bộ sậu Baez đã mang về nước. Đám COLIFAM thì lại sử dụng  phim của NBC. 4732 CBS thì sẽ mãi mãi chỉ đơn giản lặp lại các con số của Hà Nội và đã không hề bao giờ tường thuật việc sau này Hà Nội từng đã có thú nhận là tin có nhiều thương vong trầm trọng tại Bạch Mai là sai vì bệnh viện đã được sơ tán từ lâu trước cả vụ không tạc. 4733  Sau khi ký kết thỏa ước Ba-lê, Henry Kissinger có đi Hà Nội và đã chia sẻ những gì mình đã thấy với Nixon và Haldeman,

Tới được Hà Nội rồi thì mới ý thức được mức chính xác của việc Mỹ không kích. Hầu như không hề có thiệt hại nào cả tại thành phố Hà Nội, trừ các mục tiêu quân sự, toàn khu xưởng hỏa xa đã bị xóa sổ, nhưng tất cả các tòa nhà và cơ sở khác thì vẫn không sao cả. Nhiều khu rộng lớn dùng làm kho dự trữ đã bị phá hủy, nhưng hầu như tất cả những gì sát bên đó thì lại không hề hấn gì cả.

Và “Henry nghỉ đó là … một sự bác bỏ toàn diện mọi tấn công nhắm vào Tổng Thống về quyết định bị cho là đã thả bom trải thảm của ông ….”.  4734  Tù binh James Kasler sẽ sớm khẳng định với một ủy ban của Quốc hội, “Bọn Mỹ mà đã đến Hà Nội … [có báo cáo] là Hà Nội … đang bị tan nát”. Tuy nhiên, “thành phố đã gần như không bị đụng tới, như đã được xác nhận bởi các nhiếp ảnh gia không thiên vị mà đã có tới thăm sau khi các [tù binh] của chúng ta được phóng thích” khoảng 90 ngày sau đó. Kasler đã nhấn mạnh, đám Mỹ đó đã “bóp méo sự thật và vu cáo là có dội bom xuống các mục tiêu dân sự … vì chúng muốn Bắc Việt chiến thắng và chúng sẵn sàng phản bội đất nước của chính chúng để đạt được mục tiêu đó mà thôi”. 4735

Ngược lại với cái tin xuyên tạc là đã có 1.318 tử vong trong dân chúng tại Hà Nội vào tháng chạp năm 1972, thì đã có cái tin là trong cuộc tấn công mùa Phục Sinh của chúng trong mùa xuân năm 1972, đám bộ đội xâm lược của Hà Nội đã từng pháo và bắn thẳng hỏa tiển xuống nguời dân tại An Lộc, Huế, Quảng Trị và các thành phố khác. Sự tàn ác như vậy thì cứ vẫn bị lặp đi lặp lại. Trong các trận chiến tháng 4 năm 1972, bọn Bắc cộng đã phủ mưa xuống hàng chục ngàn người tị nạn lúc đó đang chạy trốn trên mọi nẻo đường dẫn về Nam, từ các trận địa ở Quảng Trị và An Lộc. Độ 15.000 thường dân đã bị tàn sát như vậy trên các thoát lộ Quốc lộ 1 và Quốc lộ 13.

Về sự kiện người dân vô tội Nam Việt cứ bị tàn sát một cách quá ư là bừa bãi như vậy thì lại hoàn toàn không được nói đến trong cái đám tự xưng là nhân đạo và chuộng hòa bình của cái phong trào chủ hòa. Bất kể mọi bằng chứng và sự thật, chúng vẫn cứ khăng khăng la hét là mọi hành vi man rợ trong cuộc chiến thì đều là chỉ do có một phía, và đó là phía Mỹ. Cuối tháng 7 năm đó thì Tổng thống Nixon đã có báo cáo con số 860.000 người tị nạn, 45.000 thương vong (15.000 tử vong). Và đó đã chính là việc “giải phóng” (trong cuộc Tổng tấn công Phục Sinh) tại  Quảng Trị, Huế, An Lộc, tỉnh Bình Định và nhiều khu vực khác mà đã cùng  hưởng được ơn mưa móc từ cái chính sách nhân đạo của Bắc cộng mà thôi.

Các vụ không kích trong tháng chạp đã khiến Mỹ đạt được lợi thế, nếu quả có được như vậy trong việc vô tình giết hại dân thường của thời chiến. Dĩ nhiên, cái phong trào chủ hòa được Hà Nội cho đặc quyền đại diện về thương mại, cũng đã liền ráng nắm thế thượng phong bằng cách cáo buộc là số 1.318 dân thường bị chết tại Hà Nội đã là kết quả của chính sách bỏ bom trải thảm trên suốt nhiều dặm vuông tại Bắc Việt.

Nhưng đó cũng là lần đầu tiên trong cuộc chiến mà quả thực Hà Nội đã bị chấn động.

Bọn cộng sản nay đã thực sự chọc giận cái anh khùng Nixon mất rồi. Và nay thì cuối cùng, Mỹ mới đã có thể đàm phán trong một vị thế thượng phong. Mary McCarthy đã được đám bè bạn Việt cộng mời tới Choisy-le-Roi để cùng các tay tên Phan và Vy thảo luận về phong trào phản chiến. Tong một thơ gởi đi thì Barbara Deming đề nghị cho các phụ nữ Mỹ tới Hà Nội làm việc ngay trong thời gian bị không tập này. Mary McCarthy đưa ra ý kiến để một số tai to mặt lớn tới Hà Nội để coi có sẽ bị bỏ mạng tại chổ hay không. Nhưng tên Phan bèn cản: “Chổ mà họ có hiệu quả hơn vẫn chính là ở ngay tại Mỹ”. McCarthy kể lại: “Ông ta đã rất cay đắng về sự thất bại của người Mỹ quốc nội để đứng lên phản đối vụ không kích”.  Mary McCarthy cũng đã không đánh giá cao một cuộc biểu tình đặc biệt khác trong dịp Giáng sinh. Y thị cho biết là những người phản chiến nay đều mệt mỏi, cô đơn và chán nản.

Trong danh sách viết tay của McCarthy về những tai mắt sẽ cần được mời đi Hà Nội trong thời gian không tập này thì đã không hề có ai đã nhận lời: [Roger] Hilsman, George Wald, Gene McCarthy, Ramsey Clark, F[rances] Fitzgerald, Norman Mailer, Francine Gray, Tom Wicker, Francis Plympton, Tom Finletter, Giám mục Moore, John Kerry, McGovern, Linh mục Hesburg, Abraham Herchel, Waldheim, Thị trưởng Lindsey, Al Lowenstein, Rene Dubos, James Baldwin, Roy Wilkins, Coretta king, Gary Wills, Margaret Mead, Robert Lowell, James Jones, Wm. Styron, John Knowles, Andrew Young, Ron Dellums, Arthur Schlesinger, Bennington Moore. 4736 Có lẽ đề tài Việt Nam nay không còn tính cách thời trang đối với bọn cấp tiến này nữa rồi.

Các vụ dội bom dịp Giáng sinh đã rỏ ràng dành thế nào là chiến thắng trong cuộc chiến này và phong trào phản chiến thì cũng đã kiệt quệ. Hay ít ra thì cũng có vẻ như vậy.

*****

 

4687  FBI, Giám đốc Đương nhiệm gởi cho Tổng Thống, COLIFAM, Internal Security-Revolutionary Activities, 06:05 AM,  12 tháng chạp năm 1972

4688  FBI, New York  gởi Giám đốc Đương nhiệm, COLIFAM, IS-RA, TELETYPE, 11:25 PM, 13 tháng chạp năm 1972. 

4689  Bruce Herschensohn, An American Amnesia: How the U.S. Congress Forced the Surrenders of South Vietnam  and Cambodia, New York: Beaufort Books, 2010, trang 9-10.

4690   Bruce Herschensohn, “An American Amnesia: How the U.S. Congress Forced the Surrenders of South Vietnam  and Cambodia”, New York: Beaufort Books, 2010, trang 6.

4691  Joan Baez, And a Song to Sing With, New York: Plume Trademark, 1987, trang 201-202, 209-210, 218 được viện dẫn vào ngày 25 tháng chạp năm 2004 tại thecommonills.blogspot.com/2004/12where-are-you-now-my-son.html.

4692  Larry Berman, No Peace, No Honor, trang 215.

4693  Fourth Estate (Đại học University of Colorado), 20 tháng 2 năm 1973 được nêu ra trong phúc trình của FBI, Denver, “VVAW, Appearance of Barry Romo, National Coordinator, in Colorado, February 15-16, 1973”, Denver, 27 tháng 2 năm 1973; FBI, Legat Rome gởi cho Giám đốc Đương nhiệm, VVAW, IS-RA, Hilev, TELETYPE 04:30 PM, 30 tháng giêng năm 1973.

4694  Trương Như Tảng, do Larry Berman nêu ra trong No Peace, No Honor, trang 216.

4695  Eschman, trang 179 ghi chú 22.

4696  Jim & Sybil Stockdale, In Love and War (Annapolis: United States Naval Institute Press, 1984, trang 32 (phần nhấn mạnh được thêm).

4697  Michael O’Connor, 30  tháng 9 năm 2008.

4698  Eschman, trang 236-237.

 4699Denver Post, 18 tháng 2 năm 1973, được nêu ra trong phúc trình FBI, Denver,  “VVAW, Appearance of Barry Romo, National Coordinator, in Colorado, February 15-16, 1973”, Denver, 27 tháng 2 năm 1973; Thơ gởi của VVAW, (không ghi ngày tháng), trang 3; San Francisco Chronicle, 22 tháng chạp năm 1972 và 2 tháng giêng năm 1973.

4700  “Akahata Interviews U.S. Singer in Hanoi”, Akahata, Tokyo, 24 tháng chạp năm 1972, được nêu ra trong sách của Rothrock, Divided We Fall, trang 169 ghi chú 26.

4701  Eschmann, trang 202-203.

4702  FBI, Legat Rome gởi Giám đốc Đương nhiệm, VVAW, IS-RA, Hilev, TELETYPE 04:30 PM, 30 tháng giêng năm 1973.

4703  Eschmann, trang 74-5 có viện dẫn: W. Hays Parks, “Line Backer and the Law of War”, Air University Review, Bộ 34, Số 2, (Tháng Giêng – Tháng 2 Năm 1983), trang 18.

4704  Eschmann, trang 80 ghi chú 27 có nêu:  Chuẩn Tướng James R. McCarthy và các người khác, U.S.A.F., Linebacker II, Viện Airpower Research Institute, Maxwell AFB, Al, 1979, trang 46-47.

4705   Bruce Herschensohn, An American Amnesia: How the U.S. Congress Forced the Surrenders of South Vietnam  and Cambodia, New York: Beaufort Books, 2010, trang 8-9.

4706   Eschmann, trang 202-203.

4707  Bruce Herschensohn, An American Amnesia: How the U.S. Congress Forced the Surrenders of South Vietnam  and Cambodia, New York: Beaufort Books, 2010, trang 9.

4708  Hình và Phụ đính tại viện Bảo Tàng “Hanoi Hilton”, bộ sưu tập của tác giả # Viet I 226.

4709  Indo. Chron., Bộ VI, Số 4 (Tháng 10 – Tháng Chạp Năm 1987), trang 19 có viện dẫn “Aerial Dien Bien Phu Victory”, Đài Radio Hanoi, 18 tháng chạp năm 1987, FBIS-EAS 87-247; và Tướng Trần Nhân trong tờ Nhân Dân, 17 tháng chạp năm 1987.

4710  Stanley Karnow, trang 668 trong sách của Rothrock, Divided…

4711  FBI, Los Angeles gởi Giám đốc Đương nhiệm, 04:00 PM NITEL, 24 tháng chạp năm 1972.

4712  Louis Wiesner, ‘Victims and Survivors: Displaced Persons and Other War Victims in Viet-Nam, 1954-1975 (New York: Greenwood Press, 1988)’, trang 229, được nêu ra trong sách của Mark Moyar, “VILLAGER ATTITUDES DURING THE FINAL DECADE OF THE VIETNAM WAR, 1996 Vietnam Symposium”, “After the Cold War: Reassessing Vietnam”, 18-20 tháng 4 năm 1996,

http://www.vietnam.ttu.edu/vietnamcenter/events/1996_Symposium/96papers/moyar.htm

4713  Trung Tướng Lâm Quang Thi, (QĐVNCH), THE VIET NAM WAR REVISITED: A VIEW FROM THE OTHER SIDE OF THE STORY, do Henry Kissinger viện dẫn trong hồi ký The Whitehouse Years.

4714  Mary McCarthy, The Seventeenth Degree:  How It Went, Vietnam, Hanoi, Medina, Sons of the Morning, New York: Harcourt Brace, 1967, 1968, 1972, 1973, 1974, trang 9.

4715  Christopher Goffard, “New batch of Nixon tapes released”, Los Angeles Times, 24 tháng 6 năm 2009.

 

4716  Stanley Karnow, Vietnam: A History, trang 653

4717  San Francisco Chronicle, 22 tháng chạp năm 1972 và 2 tháng giêng năm 1973.

4718  Parks, “Rolling Thunder and the Rule of Law”,  trang 10, 23 và 26.

4719  John Morocco, Rain of Fire, Boston: Boston Publishing Co., 1985, trang 157.

4720  Eschmann, trang 9 ghi chú 59 có nêu USAF, AIROPS, Top Secret, trang 148. Đọc thêm: Eschmann, trang 23.

4721  Wayne Thompson, To Hanoi and Back: The US Air Force and North Vietnam, 1966-1973, Washington DC.: Smithsonian Institute Press, 2002, trang 262;  John Hubbell, POW, trang 592-3;  James Banerian và Vietnamese Community Action Committee, Losers Are Pirates: A Close Look at the PBS Series “Vietnam: A Television History”, Phoenix: Tiếng Mẹ Publications Xuất bản, 1984, trang 227.

4722  Eschmann, trang 143-145, ghi chú 33-36.

4723  Bệnh viện Bạch Mai bị “tàn phá” được xây mới lại, 22 tháng chạp năm 1972, bộ ảnh sưu tập của tác giả Viet I DSC_ 230 gồm những ảnh tại Hanoi Hilton ở Hà-nội. Hình đó cho thấy gốc trái mặt tiền bị đổ nát và một hố bom lớn gần đó.

4724  Bệnh viện Bạch Mai bị “thiệt hại” nặng nề, 22 tháng chạp năm 1972, bộ ảnh sưu tập của tác giả Viet II DSC_ 274-77 gồm các tài liệu và hình chụp lại tại Viện Bảo Tàng Di Tích Chiến Tranh ở Sài-gòn.

4725  Thiếu trong nguyên bản.

4726  Bộ sưu tập của tác giả, Viet I DSC_ 246-256 Today’s Bach Mai Hospital.

4727  W. Hays Parks, “Linebacker and the Law of War”, Air University Review, Tháng Giêng – Tháng 2 Năm 1983 tại  airpower.maxwell /airchronicles/aureview/1983/jan-feb/parks.html 

4728  Tại Viện Bảo Tàng ‘Hanoi Hilton’ ở Hà-nội, Bộ sưu tập của tác giả, Viet I DSC_231 và Viet II DSC_270-271 tại Viện Di Tích Chiến Tranh ở  Sài-gòn.

4729  Stanford Daily, 15 tháng giêng năm 1973.

4730  Max Friedman, Hội Đồng An Ninh Liên Châu Mỹ (Council for Inter-American Security), bản nghiên cứu thay cho phúc trình với Chủ tịch Ủy ban Hạ viện House Ways and Means Committee, Lobbying and Political Activities of Tax-Exempt Organizations, Các Phiên điều trần, Tiểu ban On Oversight,  12-13 tháng 3 năm 1987, trang 399 có viện dẫn dân biểu Larry McDonald (Dân chủ – Georgia), Congressional Record, 19 tháng 2 năm 1976, trang E 709-10 và 5 tháng 7 năm 1977, trang E 4809-4810.

4731  Hội đồng Syracuse Peace Council, Thư Hòa Bình Peace Newsletter, Tháng 4 Năm  1973, SPC [No.] 682, trang 1-2, 8-9 và 12.

4732  FBI, Giám đốc Đương nhiệm gởi cho Tổng Thống, COLIFAM, TELETYPE, 12:35 AM, 2 tháng giêng năm 1973, trang 5.

4733  W. Hays Parks, “Linebacker and the Law of War”,  Air University Review, Số Tháng Giêng và Hai Năm 1983, ghi chú số 53 tại  airpower.maxwell /airchronicles/aureview/1983/jan-feb/parks.html 

4734  Haldeman, Diaries… ,  trang 708.

4735  Hạ viện, Các Phiên Điều Trần Hearings on Restraints on Travel to Hostile Areas: Hearings before the Committee on Internal Security, Nhiệm kỳ 93, Khóa 1, 1973, trang 2-3 được nêu ra trong sách của Rothrock Divided… trang 197 ghi chú 14.

4736  Mary McCarthy, The Seventeenth Degree:  How It Went, Vietnam, Hanoi, Medina, Sons of the Morning, New York: Harcourt Brace, 1967, 1968, 1972, 1973, 1974, trang 54-58.

*****

Một phản hồi to “Roger Canfield’s Americong #158”

Trackbacks/Pingbacks

  1. Giới thiệu tác phẩm AMERICONG (MỸ-CỘNG) – Lê Bá Hùng | Ngoclinhvugia's Blog - 05/01/2016

    […] Roger Canfield’s Americong #158 […]

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: