Roger Canfield’s Americong #21

Comrades in Arms

How the Americong Won the War in Vietnam

Against the Common Enemy— America

Copyright Roger Canfield, Ph.D.

1986-2012

No commercial transaction allowed except that approved by the author, copyright holder.

Obtain a prepublication release of a CD-R in Microsoft Word in ENGLISH at a discounted price of $15 from Roger Canfield Rogercan@pacbell.net at 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 or at http://americong.com.

Completely SEARCHABLE for any name, date, place or event of the War and its protesters.   

Cover: Design Stephen Sherman. Photos: Roger Canfield, March 2008. TOP: War protest Hawaii, February 1966 displayed at War Remnants (Crimes) Museum, Saigon. Bottom: Praetorian Guard

 Các đồng chí cùng chiến tuyến

Làm thế nào MỹCộng thắng cuộc chiến Việt Nam

Chống kẻ Thù Chung – Mỹ

Giữ bản quyền Roger Canfield, Tiến Sĩ

1986-2012

Không được sử dụng vào mục đích thương mại nếu không có sự đồng ý của Tác giả, người giữ bản quyền.

Có thể mua một tiền bản dưới dạng CD-R Microsoft Word bằng Anh ngữ với giá đặc biệt US$15 ngay từ tác giả Roger Canfield  Rogercan@pacbell.net tại 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 hay tại  http://americong.com.

 Hoàn toàn có thể TRA CỨU hoặc bằng tên, bằng ngày tháng hay biến cố liên quan đến cuộc Chiến cùng cả luôn bọn tham dự biểu tình .

 ******************************************************

* Tác giả giữ bản quyền © Roger Canfield 1986-2012

  • Lê Bá Hùng chuyển ngữ  (với sự chấp thuận của Tác giả)

 ***************

 Phần II
Từ Phản Đối tới ĐềKháng

21-Từ
Phản Đối tới Đề Kháng1967.
22-
Các Tiếng Nói từ Phía Việt Nam.
23
Ảnh Hưởng Quốc  Tế trên Phong  Trào Phản Chiến.
24
– Các “Đồng Chí Vũ Trang” của Nội Stokely Carmichael, WSP.
25
– Chứng Tỏ Tình Đoàn Kết: Bratislava, Tiệp Khắc, 6-13 tháng 9 năm 1967.
26 – “Chúng
Ta Đều là Việt Cộng.
27-
Di Chúc Bratislava.
28-
Hoa Quả của Tình Đoàn kết.
29-
Tên Dân Cử đi Hà Nộitháng 10 năm 1967.
30-
Bao Vây Ngũ Giác Đài.
31-
Hayden trên Đài Hà Nội, 28 tháng 10 và 4 tháng 11 năm 1967.
32-
Hayden Tuyên Bố: “Bình luận … KHÔNG Phải tại Các Đài Phát Thanh Cộng sản.”
33
– Tù Binh Mỹ tại Nội Được Phóng Thích cho Tom Hayden, 4 tới 13 tháng 11 năm 1967.
34- Chào Đón Tù Binh và Hayden.

***************

Chương 21

 Từ Phản Đối tới Đề Kháng 1967

 Suốt năm 1967, phong trào phản chiến bắt đầu thường xuyên  gia tăng và đẩy mạnh các sinh hoạt đấu tranh chống chính sách của Mỹ về Việt Nam, phần lớn là vì phong trào đã nhận được một sự hỗ trợ to lớn từ các chính phủ , các đảng phái và bọn đồng tình Cộng sản thường xuyên đi khắp thế giới.

Vào năm 1966, Bettina Aptheker, A.J. Muste, Sid Peck và bọn SDS đã mở rộng cửa mời cộng sản vào hơn bao giờ hết và đã tranh đấu để thu nhận cộng sản vào các nhóm Sinh viên Mobe, Mobe của 8 tháng 11 (November 8 Mobe) và SDS.

Bruce Dancis,  chủ tịch SDS tại Cornell đã hâm nóng các cuộc biểu tình phản đối quân dịch và xé nát thẻ quân dịch mình tại một cuộc họp công cộng khiến  y sẽ phải đi tù 19 tháng. Chỉ trong vòng vài tuần, việc đốt thẻ quân dịch đã trở thành những màn phụ diễn thường xuyên của các cuộc biểu tình đòi hóa bình mà tương đối hãy còn êm thấm và Dancis đã bị truy tố như theo lời đề nghị trong một lá thư của FBI (mà Giám đốc Hoover có thể không biết gì cả, chiếu theo lời của Ramsey Clark, Viên Chưởng lý của LBJ).  1659

Việc SDS thay đổi về chiến lược và chiến thuật đã được chú ý đến bởi tả phái và chính quyền. Báo Guardian thì tường thuật: “Một năm trước đây [đầu năm 1966], SDS đã đang thảo luận về khả năng thay đổi từ một phong trào phản đối để trở thành một phong trào làm chính trị. Ngày nay, [tháng 3 năm 1967] cuộc thảo luận, và có lẽ luôn quyết định, đã có là về “từ một phong trào phản đối để trở thành một phong trào đối kháng”. Sự khác biệt giữa chính trị và đối kháng là quá lớn để cho thấy đã có sự thay đổi về nội dung. ”  1660

Bản chất của sự thay đổi về nội dung thuộc về ý thức hệ cũng như về chiến thuật. Vào thời điểm mà các tin tức không còn quan trọng và tân với cựu tả phái trong trong phong trào phản chiến không còn lo sợ gì nữa, vào ngày 16 tháng 2 năm 1967, giám đốc FBI  là J. Edgar Hoover đã nói là SDS đã đang làm việc “liên tục trong việc đề cao các mục tiêu và đối tượng của Đảng Cộng sản. ” Vâng, nhưng không hoàn toàn đúng như vậy.

Sự kiện ý thức hệ  cũng như hoạt động tranh đấu của SDS biến đổi từ tính cách chỉ thuần túy phản đối qua hình thức đối kháng đã hoàn toàn chỉ là thi hành theo kỷ luật quy định bởi cấp lãnh đạo nhóm. Thay vì tiến hành các hoạt động trong  mùa xuân năm 1967 như Bettina Aptheker đề xuất và Tom Hayden đã hỗ trợ, SDS đã được phân tán ra thành những nhóm  nhỏ từng địa phương, từng khu vực và từng ý thức hệ, một số thì hỗ trợ, một số thì lại chống cuộc tấn công mùa xuân năm 1967. Bè nhóm Maoist Progressive Labour Party (Đảng Lao Động Cấp Tiến)  của SDS đã chỉ cần nói “không”  với các hành động mùa xuân thì cũng vô hiệu hóa được SDS và không cho nó có được một lập trường thống nhất.

 Ngày 31 tháng 3 năm 1967, Uỷ ban Hạ Viện về các Hoạt động chống Mỹ (House Committee on Un-American Activities ) đã cảnh cáo rằng bọn Cộng sản đã thống trị Phong trào Huy động Sinh viên (Student Mobilization)  và các cuộc biểu tình vào ngày 15 tháng 4 năm 1967 sắp tới.  1661

Phong trào Huy độngSinh viên (Student Mobilization), 1967

Bên ngoài của SDS, bọn Stalinists đã thông qua một chiến lược bằng một mặt trận thống nhất và đã thành công trong quá trình hoạt động. Vì Việt Cộng đang bị tổn thất nặng nề trên chiến trường, Bắc Việt đã cần nhiều hơn chỉ là một chút giúp đỡ từ bạn bè của chúng trên mặt trận thứ hai ở Mỹ. Rõ ràng là Hà Nội đã không hề e lệ khi yêu cầu như vậy và phong trào phản chiến thì không phải chỉ đã luôn luôn chờ đợi để được yêu cầu.

Trong năm 1967, Bắc Việt tăng cường nỗ lực để trực tiếp liên hệ, khuyến khích, và gây ảnh hưởng đối với các thành phần được lựa chọn trong phong trào phản chiến. Hà Nội công khai và thường xuyên kêu gọi để được giúp đỡ. Chúng sử dụng những từ ngữ như cộng tác, hợp tác, phối hợp và hợp nhất để mô tả việc  các “lực lượng hòa bình” phải hành sử ra sao trên “mặt trận Việt Nam thứ hai.”

Trong khi cánh hữu khuynh Mỹ đã gọi đó là một “mưu đồ” thì nó thực sự lại có tính cách mở rộng, công khai và tình nguyện.

Cùng lúc CIA làm ngơ về các nhóm nhóm phản chiến trong nước mà đang nằm dưới ảnh hưởng nặng nề của ngoại quốc thì FBI lại đã canh chừng, theo dõi,  điều tra và đôi khi còn cố gắng để phá vỡ các nhóm phản chiến và các cá nhân tại các khuôn viên đại học. Và FBI đã không hề chần chờ để “loại bỏ” những tên xem ra là phản động. Ví dụ, một giáo sư tại đại học Brockport State đã tự tử sau khi các điềm chỉ viên FBI tiết lộ các hành vi “phản động” (chống chiến tranh Việt-nam) của y cho báo chí.  1662  Nhưng sự kiện này lại khiến FBI phải khựng lại. Ngày 30 tháng 3 năm 1967, Hoover gởi công điện cho các nhân viên sở tại của  FBI  ra lệnh cho họ phải hủy bỏ “mọi liên lạc đang có (với) sinh viên … và các giáo sư … về những vấn đề an ninh. Các nhân viên sở tại  … có thể tiếp tục lại về sau này …. Việc tiếp tục theo cách thức hiện nay để xử lý các vấn đề như vậy có thể sẽ gây ra thêm các khó khăn cho chúng ta tương tự như tại Brockport College và  và Đại học Duke. ” 1663

Vào tháng 4 năm 1967, Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Hồ Chí Minh đã trả lời một bức điện của David Dellinger, Staughton Lynd và Barbara Deming:

Tôi rất vui mừng khi biết được là phần lớn  nhân dân Mỹ đang tổ chức một “Cuộc Huy động Mùa Xuân” để đòi hỏi chính phủ Mỹ chấm dứt chiến tranh xâm lược … và  rút quân đội Mỹ về nhà. …

Chúng tôi … rất cảm ơn nhân dân Mỹ … đang hỗ trợ cho cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam nhằm dành độc lập và tự do … “  1664

Trong tháng 5 năm 1967 tại Cleveland, Giáo sư Douglas Dowd đã nói trước một đám đông phản chiến và tuyên bố, “Một mục tiêu ngắn hạn của các cuộc biểu tình tại Washington sẽ là nhằm chấm dứt chiến tranh …. Điều thứ hai … để kết liểu hệ thống đế quốc chủ nghĩa mà đã gây ra chiến tranh, gây ra nạn phân biệt chủng tộc và nạn nghèo đói “.  1665

Việc Phạm Văn Đồng  viện dẫn một cách rỏ ràng Phong Trào Huy động Mùa Xuân trong thư gởi cho Dellinger, Lynd và Deming đã chứng minh là bọn Việt cộng đã  theo sát phong trào phản chiến và cũng đã chia sẻ những gì chúng biết cho tù binh. Cựu tù binh John Hubbell viết:

c  tù binh được cho biết vào ngày 15 tháng 4 sẽ có những cuộc biểu tình phản chiến khổng lồ do cái gọi là Chiến Dịch Huy Động Mùa Xuân ….

Đài phát thanh trong trạibèn hỏi tiếp, “Bạn sẽ đóng góp những gì cho phong trào hòa bình ngày 15 tháng 4?”

Các áp phích trong những khu tắm rữa của trại cũng có cùng một câu hỏi.

Bọn Việt thúc dục các tù binh viết thư ủng hộ … [cho] phong trào hòa bình.

Thay vào đó … họ đãviết nhanh những chữ tục tĩu … lên các áp phích, và … xé bỏ chúng xuống.  1666

Bọn Chủ Hòa Phản Đối Việc Dính Líu với Cộng Sản

Việc cộng sản trực tiếp tham gia trong phong trào phản chiến đã trở nên quá rỏ ràng khiến cho một số người chủ hòa phản ứng. Ngày 16 tháng 3 năm 1967 và 12 tháng 4 năm 1967, bộ phận thanh niên quốc gia của Đảng Xã hội (dân chủ) và Hội đồng Bắc California của Uỷ ban Quốc gia cho một Chính sách Hạt nhân Lành Mạnh (Northern California Board of the National Committee for a Sane Nuclear Policy) đã từ chối tham dự  Chiến Dịch Huy Động Mùa Xuânsắp tới. Họ nói rằng bọn Cộng sản đã thống trị  Mùa Xuân Mobe và cũng không muốn có hòa bình mà lại muốn có một chiến thắng của Việt Cộng. 1667 Liên MinhTuổi Trẻ Xã Hội (Young People’s Socialist Alliance) , một nhóm dân chủ xã hội từng gây phiền toái cho Tom Hayden bằng các lời chỉ trích đã cho biết:

Chúng tôi không hỗ trợ “Chiến dịch Huy động Mùa xuân” … vì hình thức một loại mặt trận thống nhất dể làm rối răm các vấn đề vàgây bối rối cho người dân Mỹ về … phong trào hòa bình …

 Các kẻ ủng hộ cho một chiến thắng của Việt Cộng đãđượcnhập chung với  một số người thiệt sự chân thành tin là mình đang đóng góp cho hòa bình …

Hành vi chống Mỹ  chỉ sẽ làm mất uy tíncủa phong trào hòa bình hợp pháp. 1668

Dân biểu Edwin Willis, giống như các tay phê bình tả phái, đã cho là cộng sản quả thống trị Tuần Việt Nam trong tháng Tư. Ba ngày sau, việc trả lời của các nhà tổ chức gởi cho dân biểu Willis đã xác nhận các tin tức cũ: Mùa Xuân Mobe chủ trương chính sách không loại trừ, có nghĩa là bao gồm luôn cộng sản. 1669

Martin Luther King Chống Lại Chiến Tranh Việt Nam

Vào cuối tháng 4 năm 1967,  Martin Luther King đã lưỡng lự về khã năng sẽ pha loãng các hoạt động về các quyền dân sự khi sáp nhập chúng với phong trào chống chiến tranh  Việt Nam. Tuy nhiên vào ngày 30 tháng 4 năm 1967, thì cuối cùng mặt trận thống nhất đã nhận được sự hỗ trợ của Martin Luther King.

Tại một cuộc họp của các Giáo Sĩ và Giáo Dân Quan tâm đến Việt Nam (Clergy and Laity Concerned About Vietnam CALCAV, sau đổi là CALC)  ở nhà thờ Riverside tại thành phố New York, King đã nói , Mỹ đã là “kẻ gây ra bạo lực nhiều nhất của trên thế giới” và rằng chiến tranh Việt Nam chỉ là  “trưng dụng người thanh niên da đen … để gửi họ đi xa tới 8.000 dặm ngõ hầu bảo đảm các quyền tự do … mà chính họ đã không tìm thấy được ở phía tây nam Georgia và Đông Harlem … ”  King đã kết luận,” Tôi không biết gì về bạn, tôi sẽ không nghiên cứu gì về chiến tranh nữa. ”  1670 Hai tuần sau đó, King đã dẫn đầu hàng ngàn người để đi tới Liên Hợp Quốc.
Chụp dính được King qiả là một cú ngoạn mục cho phong trào chống chiến tranh  Việt Nam.

Vụ diệt chủng của Bevel , quân Bắc Việt Thì  Không

Với sự tham gia của King, bây giờ thì viên cố vấn chính của ông là Mục sư James Bevel sẽ rời SCLC để trở thành giám đốc điều hành của Chiến Dịch Huy động Mùa xuân và để cáo buộc chiến tranh Việt Nam là một chính sách “diệt chủng” chống lại với những người “da màu” và là một phần mở rộng của nạn phân biệt chủng tộc. Đó quả là một chiến thắng về tuyên truyền thật tuyệt vời.

Kể từ năm 1948, Liên Xô và những con rối Cộng sản của chúng tại Hoa Kỳ là  CPUSA, đã tìm cách khiến Mỹ phải phê chuẩn Hiệp ước Diệt chủng nhằm sau này sẽ có thể mang Mỹ ra xét xử tại Liên Hiệp Quốc về tội diệt chủng chống lại các người Mỹ da đen.

Tiếp theo sau đó thì ta thấy sự thật lộ ra rỏ ràng khi tay phát ngôn viên của quân Bắc Việt là Hoàng Tùng tuyên bố với các tên phản chiến: “Chúng tôi có đầy đủ nhân lực. … Sau 30 năm chiến tranh, quý vị vẫn có thể thấy nhiều trẻ em chơi đùa trên đường phố . Quả đúng là diệt chủng. 1671 Chúng cũng nhắm là vào sau một phiên tòa về tội diệt chủng tại Liên Hợp Quốc thì sẽ là vấn đề các tù binh Mỹ. 1672

Trong biến chuyển này, James Bevel đã công bố, “Chúng tôi sẽ gia hạn cho LBJ một tháng để chấm dứt giết hại những người ở Việt Nam.” Nếu không, sẽ có  một phong trào dân sự bất tuân khổng lồ để chống lại “bộ máy chiến tranh.” Lời hứa này đúng thiệt đã được hiện thực. Vào tháng 10, đã có những hoạt động tập thể rộng lớn nhằm chống lại Ngũ Giác Đài.

National Association for the Advancement of Colored People ~ NAACP Phản Đối Việc King Làm Mất Bạn Bè – LBJ

Ấy vậy, NAACP và Ralph Bunche lại kịch liệt chỉ trích Martin Luther King là đã phạm lổi chiến thuật khiến cho một số bạn bè cùng tranh đấu về các quyền dân sự  đã phải xa lánh đi – kể luôn Cuộc chiến chống Tổng thống Johnson của Nghèo đói  (War Against Poverty President Johnson)  – bằng cách sáp nhập chung lại vấn đề các quyền dân sự và vấn đề hòa bình. Chỉ ba ngày trước khi xẩy ra các cuộc biểu tình Spring Mobe, vào ngày 12 tháng 4, Bắc California SANE cũng rút ra khỏi  các cuộc biểu tình San Francisco. Đúng như Carl Oglesby trước đó đã cảnh cáo, phong trào phản chiến đã đang bị tô “đỏ” [Cộng sản].  1673

Các Cuộc Biểu Tình Ngày 15 Tháng 4, New York và San Francisco 

Tại thành phố New York, vào ngày 15 tháng 4, 100.000 người tuần hành và một số thẻ quân dịch đã bị đốt trong lúc các người phản biểu tình thì  la ó nhạo báng. King, Dellinger, Nick Egleson, Howard Zinn, Ben Spock và Stokely Carmichael đã diển thuyết.

Như đã được tiên liệu, vào lúc đó Bắc Việt và các tù binh của chúng cũng được nghe biết tất cả những gì đã đang xẩy ra. Tù binh Hubbell viết là các bạn dồng tù:

bị bắt coi toàn bộ truyền hình về các cuộc biểu tình … Họ bị cho biếtlàmthế nào màkhoảng 125.000 người đã có thể chen chúc tại Plaza của Liên Hiệp Quốc … để cổ vũ khi Stokely Carmichael kêu lên: “Có một đạo luật có thẫm quyền hơn tên kỳ thị chủng tộcMcNamara,tên khùng Dean Rusktên hề   … Johnson.”  1674

Tại San Francisco, độ 40 đến 50.000 người khác đã đi từ Second and Market để rồi tụ hợp lại tại sân vận động ở Golden Gate Park mà nghe David Duncan, Eldridge Cleaver, Julian Bond, Morris Everson, Rabbi Abe Feinberg, David Harris, bà Martin LutherKing, Robert Vaugh, Robert Scheer và Grace Mora Newman, em gái của một trong Ba Tên Đào ngũ Fort Hood cùng những kẻ  khác lên tiếng. Judy Collins đã đứng sau một tấm biểu ngữ lớn để hát bài “Việt Cộng” . 1675  Trong số những người tham dự đã có Barbara Boxer, một  dân biểu và thượng nghị sĩ (Dân chủ  – Cali) tương lai của Quốc hội.

Ngày 13 và 14 tháng 5, nhóm lấy cảm hứng từ Bettina Aptheker là Student  Mobe đề xuất và thông qua một cuộc biểu tình kế tiếp sẽ vào mùa thu – một cuộc biểu dương vĩ đại tại Washington vào ngày 21 tháng 10. Trong vòng một tuần, từ 20 và 21 tháng 5, nhóm Mùa xuân Mobe của các kẻ lớn tuổi đã liền lên tiếng ủng hộ các đề nghị  biểu tình vào tháng 10 tại Ngũ Giác Đài của Sinh viên Mobe . Tại phiên họp cuối của Spring Mobe, 300 trong số 700 người tham dự có tên ghi danh tức là 43%, đã từng bị biết đến như là các thành viên của những nhóm cộng sản Stalin và Trotskyite khác nhau . 1676  Vào mùa thu thì tháng 10 sẽ đã là thời kỳ rất phổ biến trong các cuộc biểu tình trên toàn thế giới. Sự kiện này có phải chăng là một sự tình cờ tốt đẹp khác mà không hề có phối hợp, kiểm soát hay mưu đồ gì giữa các tên lãnh đạo biểu tình và một chính phủ ngoại quốc?

Trước khi nhóm Spring Mobe Xuân tan rã thì chúng đã đổi tên thành Mobe Quốc gia (National Mobe).

Than Phiền về bọn Cộng Sản: Westmoreland, Hoover, Rusk

Ngày hôm sau những biến chuyển của mùa xuân, ngoại trưởng Dean Rusk đã nói nhân buổi họp “Meet the Press” là “bộ máy cộng sản” đã tham dự vào các cuộc biểu tình “trên toàn thế giới và ở nước ta”. Dean Rusk đã tuyên bố là chiến tranh “sẽ được thắng nếu Mỹ quyết chí để giành chiến thắng”.

Ngày 24 tháng 4 năm 1967, Tướng Westmoreland đã nói trước một phiên họp lưỡng viện Quốc hội là Võ Nguyên Giáp, chiến lược gia hàng đầu của Việt Nam  đã tự tin rằng nước Mỹ cuối cùng sẽ bị cuộc chiến làm mất ý chí và các cuộc biểu tình phản chiến sẽ cản trở các nỗ lực chiến tranh của Mỹ. Westmoreland cũng đã lên án bọn biểu tình phản chiến. Phong trào phản chiến đã cho người lính Bắc Việt  “hy vọng rằng họ sẽ có thể chiến thắng về chính trị trong khi họ không thể nào làm được việc này về quân sự.”

Linh tính của viên tướng quả thật là đúng.

Ngày 27 tháng 4, J. Edgar Hoover đã viết là bọn Cộng sản đóng  “một vai trò tích cực trong cuộc diễn hành tại New York.”  Hoover dự đoán là các đại học và cá nhân mà đang “đi theo con đường Cộng sản”  sẽ  “khiến cuộc chiến tranh kéo dài và càng củng cố lập trường của Bắc Việt, y như chúng đã từng có ý nghỉ là đất nước này đang bị chia rẻ và tinh thần thì suy xụp … ”  1677

Các tên điệp viên đáng tin cậy tuyệt hão của Spring Mobe và Student Mobe, chẳng hạn như Bettina Aptheker, đã khởi xướng các cuộc biểu tình vào mùa xuân năm 1967. Tuy nhiên đa số các kẻ tham dự thì đã thuộc một liên minh rộng rãi của các lực lượng phản chiến.

Bước ngoặt: Hợp Tác giữa Hà-nội và Phong Trào phản Chiến

Nhìn về lại quá khứ  thì các hoạt động của Spring Mobe trong năm 1967 đã là một bước ngoặt nhằm tạo ra một sự hợp tác chặt chẽ hơn mà cũng tăng cường việc kết hợp hoạt động giữa các viên chức Việt cộng và các tên lãnh đạo phản chiến Mỹ. Đối với  Việt cộng thì có vẻ như phong trào phản chiến đang bị ảnh hưởng nặng nề bởi các thành phần cấp tiến đáng tin cậy nhất  như Aptheker, Dellinger và Hayden, đúng như chúng mong chờ. Do đó, từ đó trở đi thì sẽ có một loạt các sinh hoạt công cộng cùng liên quan cả đến Bắc Việt, Dave Dellinger và Tom Hayden.

Peter Collier và David Horowitz đã viết:

Tân cánh tả đã gặp gỡ với Bắc Việt và Mặt Trận Giải Phóng Quốc Gia Havana, Bratislava vàHà Nội để cùng hợp tác trong nỗ lực chiến tranh của chúng bằng cách cố vấn về tuyên truyền và phối hợp một chiến dịch chính trị để làm mất tinh thần quân đội Hoa Kỳ trong lĩnh vực này và cũng để tạo ra rối loạn và gián đoạn tại quốc nội. 1678

Ngày 6 tháng 5 năm 1967, trên tờ New York Times, Tổng Thư ký SDS là Gregory Calvert cho biết là các thành viên SDS “đang xúc tiến việc tổ chức một lực lượng du kích ngay trong một môi trường thị thành.  Chúng tôi đang tích cực tổ chức việc nổi loạn. Chúng tôi là những người cách mạng hậu-Cộng sản.”

Mặc dù sự kiện nay, một sự kiện trong rất nhiều sự kiện của những lần công khai kêu gọi nổi loạn  tương tự, chính quyền Mỹ vẫn không hề làm gì. Việc Mỹ tôn trọng các quyền tự do dân sự quả là gần như tuyệt đối. Ai cũng có thể phun nổi lữa ở bất cứ nơi nào trừ trong một hí viện mà đang đông khách. Học thuyết về “sự kiềm chế trước” cho phép một người nào đó hét  lên “cách mạng” mà không bị hậu quả gì cho đến khi cuộc đảo chính quả thực sắp xảy ra. Phải chăng nền dân chủ là một cam kết chỉ để cùng tự tử?

Ý Chí Chính Trị bị Tê Liệt

Việc tại sao các viên chức hàng đầu của chính phủ Mỹ đã biết về vấn đề của ý chí chính trị, về hiệu quả gây suy nhược của phong trào phản chiến mà vẫn không làm gì để chống lại quả thật là khó giải thích được.

Một vài lý do đã vì LBJ chỉ là một chiến binh miễn cưỡng bị bối rối bởi cả đống  lời cố vấn đầy mâu thuẫn từ các nhà lãnh đạo dân sự và quân sự. Không đúng như nhiều lời tuyên bố huênh hoang, thực sự đã không hề có ai có đủ can đãm để ngăn chặn, chớ chưa nói tới việc truy tố bọn bất đồng chính kiến ​​hay bọn  phản quốc ra trước tòa. Một hiện trạng là ý chí nội bộ bị tê liệt đã xảy ra mất rồi. Vì bị phỉ báng khắp nơi do đã bênh vực chính sách về Việt Nam, chỉ trong vòng hai năm thì Dean Rusk sẽ bị mất chức và trở thành một kẻ thất nghiệp. Dean Rusk có thể đã là một trong những người tự do chống cộng cuối cùng còn lại.

Và chỉ tháng sau thì Không quân Mỹ mà đã từng bị vị tổng thống kềm hãm, nay đã tấn công luôn cả vị Tướng Giáp tài giỏi cùng triết gia 94 tuổi thọ là Bertrand  Russell. Không quân Mỹ đã thả 1.750.000 tờ truyền đơn khắp Bắc Việt để cho biết là các cuộc biểu tình phản chiến sẽ không hề ảnh hưởng gì đến ý chí chiến đấu của Mỹ. 1679  Việc này đã có được hiệu quả tốt y như sự kiện Không Lực Hoàng Gia Anh ~ Royal Air Force cũng đã từng rải truyền đơn xuống nước Ba Lan mà lúc đó đang bị Đức Quốc xã cùng Liên Xô phối hợp xâm lấn trong tháng 9 năm 1939.  1680 Có lẽ là các tờ truyền đơn này đúng ra thì đã nên được thả xuống bọn phản chiến đang hoạt động cho Việt Cộng ở Washington, New York và San Francisco hơn là thả xuống miền Bắc Việt Nam. Không hoàn toàn bị tê liệt bởi  các hoạt động của địch tại Hoa Kỳ, ngày 13 tháng 5 có khoảng 70.000 người đã tuần hành ở New York để hỗ trợ cho quân đội Mỹ tại Việt Nam và để chống lại Hà Nội cùng đồng bọn.

Các tờ truyền đơn thì cũng sẽ có rất ít tác dụng nào vào ngày 17 tháng 5 khi 16 thượng nghị sĩ bồ câu, bao gồm Frank Church, Robert Kennedy, George McGovern và J. William Fulbright, đã công bố một lá thư gởi chung cho cả Tổng thống và giới lãnh đạo Bắc Việt để kêu gọi “các cuộc đàm phán hầu tiến tới một giải pháp trong danh dự “, nhưng đã cùng xác nhận là họ không chủ trương việc Mỹ “đơn phương” rút quân. Các thượng nghị sĩ đã tha thiết nhắn với Hà Nội sẽ là “một thảm kịch” nếu họ hiểu lầm “bản chất của phong trào bất đồng chính kiến ​​ở đất nước này.”  1681

Thảm kịch lớn hơn đã là sự thất bại của các thượng nghĩ sĩ để hiểu rõ vai trò của phong trào bất đồng chính kiến tại Mỹ trong chiến lược quân sự để chiến thắng của Hà Nội. Ngày nay, trong cuộc chiến chống lại chủ nghĩa phát xít Hồi giáo thì Quốc hội cũng đã thấy được bằng chứng của một tổng thống đang cứ nói dối trong khi lại câm nín về một cuộc chiến tranh trên toàn thế giới mà đang xẩy ra nhằm  chống lại nền văn minh Tây phương. Trước kia cũng như bây giờ, các Thượng nghị sĩ và những người khác đều muốn có hòa bình với bất cứ giá nào.

Các Cựu Chiến Binh vì Hòa Bình, Chống lại Cuộc Chiến

Một ví dụ về ảnh hưởng trực tiếp của Cộng sản đã rất lộ liễu rõ ràng. Ngày 22 tháng 5 năm 1967, bọn Cộng Sản  Arthur Knight, Corliss Lamont, Bernard Koten, Leroy Wolin và Ron Wolin đã trả tiền đăng một quảng cáo trên tờ New York Times nhằm cổ võ cho một mặt trận của đảng Cộng sản có tên là Cựu chiến binh vì Hòa bình (Veterans for Peace VFP) và cho một cuộc biểu tình về một ngày tưởng niệm vào ngày 30 tháng 5 năm 1967.

Khi đã mời các cựu chiến binh Việt Nam thì VFP và đoàn biểu tình đã trở thành công cụ cho nhóm Cựu chiến binh Việt Nam chống chiến tranh Việt-nam (Vietnam Veterans Against the War, VVAW) do Jan Barry Crumb thành lập . 1682  Sau đó  đảng viên đảng Cộng sản Mỹ là Corliss Lamont đã ứng tiền cho VVAW  để mua một quảng cáo trên tạp chí Playboy, 1683 và thu nhận thêm vào VVAW như là hội viên. Tuy nhiên, tới năm 1970, số 600 hội viên của VVAW chỉ chiếm “1/4 của một phần trăm của tổng số thực sự về cựu chiến binh chiến tranh [Việt Nam]” . 1684

Tại Miền Nam Việt Nam thì có vẻ mọi người hiểu biết đối phương rỏ hơn nhiều.

*****

1659  Wells The War Within, trang 124-5, 131-2.

1660   Smith, “Report on SDS: Students Now Stressing ‘Resistance”, National Guardian,  8 tháng 4 năm 1967, trang 1.

1661   House Committee on Un-American Activities, “Communist Origin and Manipulation of Vietnam Week (April 8-15, 1967,” 31 tháng 3 năm 1967

1662   William Turner, Hoover’s FBI.

1663   Hoover gởi cho Tolson v. v. . , tóm lược ngày 30 tháng 3 năm 1967.

1664   Thủ Tướng Phạam Văn Đồng  cảm ơn người Mỹ ‘Spring Mobilization Committee,” Vietnam Courier, Hà-nội, Bộ Đối Ngoại, tháng 4 năm 1967, trang 107. Nêu ra trong tài liệu của Rothrock, trang 129 ghi chú 1. Văn khố của TTU.

1665   Rothrock Divided… trang 82 ghi chú 3 nêu văn kiện của Thượng viện, Extent of Subversion in Campus Disorders: Hearing before the Subcommittee to Investigate Security Act and Other Internal Security Laws, Committee on Judiciary, Quốc hội nhiệm kỳ 91, Khóa 1, 1969, trang 142-143. 

1666   John G. Hubbell, P.O.W.: A Definitive History of the American Prisoner-of War Experience in Vietnam, 1964-1973, New York: Readers Digest Press, 1976, trang 263.

 1667   John Schmitz, và các kẻ khác, Viet Cong Front…, trang 34

1668  Schmitz, The Viet Cong Front, trang 34.

1669   H.C.U.A., Communist Origins and Manipulation of Vietnam Week (8 tới 15 tháng 4 năm 1967), 31 tháng 3 năm 1967, trang 44-45.

1670   Martin Luther King, “Why I am Opposed to the War in Vietnam,” 30 tháng 4 năm  1967, Riverside Church, New York tại Pacifica Radio/UC Berkeley Social Activism Sound Recording Project, Media Research Center, Moffitt Library UC Berkeley, tại http://www.lib.berkeley.edu/MRC/Pacificaviet.

1671   Peter Arnett, “Hanoi Sees Nixon Victory, 4 Years of War,” Washington Star-News,  23 tháng 9 năm 1972.

1672   “The Little-known Background of the Genocide Convention,” Combat, Bộ  2, Số  7,  1 tháng 4 năm 1974. 

1673   Oglesby nói với Canfield, 17 tháng 5 năm 1989.

1674   Hubbell, POW…, trang 263.

1675   Hoover gởi cho Tolson v. v. . . , phúc trình ngày 27 tháng 4 năm 1967, trang  2 tại trang mạng của FBI, FOIA, “T”, Tolson.

1676   Collier và Horowitz, Destructive Generation…, trang 145. Canfield phỏng vấn Sol Stern vào ngày 5/11/89 cũng xác nhận là bọn Mỹ quả thật có có vấn cho bọn Việt cộng là cần phải cải tiến công tác tuyên truyền của chúng. Carol McEldowney cũng làm  như vậy trong Hanoi Journal 1967.

1677   Zaroulis, trang 115.

1678   Harold W. Rood, Kingdoms of the Blind: How the Great Democracies Have Resumed the Follies That Nearly Cost Them their Life, St. Petersburg: Hailer publishing, 2005, trang 75. Nguyên thủy được in năm 1980 bởi University of North Carolina.

1679   Zaroulis, trang 115.

1680   Harold W. Rood, Kingdoms of the Blind: How the Great Democracies Have Resumed the Follies That Nearly Cost Them their Life, St. Petersburg: Hailer publishing, 2005, trang 75. Nguyên thủy được in năm 1980 bởi University of North Carolina.

1681  Hershberger, trang 96 nêu tờ NY Times ngày 17 tháng 5 năm 1967.

1682   Báo cáo Đặc biệt của FBI về Vietnam Veterans Against the War, Information Digest, 25 tháng 8 năm 1972 tại WinterSoldier.com, Fedora đăng tại FreeRepublic.com

1683   Max Friedman nói với tác giả trong email ngày 25 tháng 5 năm 2009.

1684   Richard Kolb, “A Viet Vet Looks at ‘Vietnam: A Television History,” Human Events, 16 tháng 6 năm 1984, trang 251 nêu ra sách của James Banerian và  the Vietnamese Community Action Committee, Losers Are Pirates: A Close Look at the PBS Series “Vietnam: A Television History,” Phoenix: Nhà Xuất bản Tiếng Mẹ, 1984, trang 249.

*****

Một phản hồi to “Roger Canfield’s Americong #21”

Trackbacks/Pingbacks

  1. Giới thiệu tác phẩm AMERICONG (MỸ-CỘNG) – Lê Bá Hùng | Ngoclinhvugia's Blog - 05/01/2016

    […] Roger Canfield’s Americong #21 […]

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: