Roger Canfield’s Americong #41

image002

Comrades in Arms

How the Americong Won the War in Vietnam

Against the Common Enemy— America

Copyright Roger Canfield, Ph.D.

1986-2012

No commercial transaction allowed except that approved by the author, copyright holder.

Obtain a prepublication release of a CD-R in Microsoft Word in ENGLISH at a discounted price of $15 from Roger Canfield Rogercan@pacbell.net at 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 or at http://americong.com.

Completely SEARCHABLE for any name, date, place or event of the War and its protesters.   

Cover: Design Stephen Sherman. Photos: Roger Canfield, March 2008. TOP: War protest Hawaii, February 1966 displayed at War Remnants (Crimes) Museum, Saigon. Bottom: Praetorian Guard

Các đồng chí cùng chiến tuyến

Làm thế nào MỹCộng thắng cuộc chiến Việt Nam

Chống kẻ Thù Chung – Mỹ

Giữ bản quyền Roger Canfield, Tiến Sĩ

1986-2012

Không được sử dụng vào mục đích thương mại nếu không có sự đồng ý của Tác giả, người giữ bản quyền.

Có thể mua một tiền bản dưới dạng CD-R Microsoft Word bằng Anh ngữ với giá đặc biệt US$15 ngay từ tác giả Roger Canfield  Rogercan@pacbell.net tại 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 hay tại  http://americong.com.

Hoàn toàn có thể TRA CỨU hoặc bằng tên, bằng ngày tháng hay biến cố liên quan đến cuộc Chiến cùng cả luôn bọn tham dự biểu tình .

******************************************************

* Tác giả giữ bản quyền © Roger Canfield 1986-2012

  • Lê Bá Hùng chuyển ngữ  (với sự chấp thuận của Tác giả)

 

***************

 Chương 41

HUẾ và DỤC-ĐỨC:

TỬ THẦN và BỌN KHỦNG BỐ

 

Huế – “Mùi Hôi Khủng Khiếp . . . Tử Thần Đang Dùng Bữa”

Chỉ trong thời gian ngắn của ba tuần mà chúng chiếm Huế, khoảng 150 ủy viên  chính trị Bắc Việt đã tàn sát một cách có hệ thống không ít hơn là 2.800 thường dân. 2365

Trong số các cán bộ VC đã có Hoàng Phủ Ngọc Tường, một sinh viên mà đã “hướng dẫn Cộng quân tới tận nhà của các mục tiêu cần xử tử”  2366 và cũng là kẻ từng đóng vai một nhân chứng có thiện cảm với “chiến thắng” Cộng sản trong bộ phim tài liệu của PBS: Vietnam: a Television History. 2367

Gần tới 5.700 người bị liệt kê như là “những thành phần phản động” đã bị bắt đi để tham dự “các buổi học tập và cải tạo” để rồi không bao giờ trở về nhà nữa. Đài phát thanh Hà Nội vào ngày 4 tháng 2 đã mô tả là đang có chiến dịch trừng phạt “bọn gián điệp ác ôn nhất” và “việc gom lại để trừng phạt hàng tá gián điệp độc ác” và một báo cáo chính thức cộng sản đã cho biết, “Bọn gián điệp ngoan cố đều đã bị trừng phạt.” 2368

Những Danh sách Tử Thần Lệnh: “Kế Hoặch Tấn Công, Đơn vị Thành Phố Huế,”

Một tài liệu của Việt Cộng tựa đề là “Kế hoạch tấn công, Đơn vị thành phố Huế”, đã có liệt kê ra những tên “phản động” cần phải xử tử. 2369 Rất kỹ càng, bọn cán bộ cộng sản đã chuẩn bị một danh sách gồm chủ yếu là các viên chức chính phủ và thân nhân của họ. Thật vậy, bọn cộng sản trên khắp Nam Việt đã quy định 15 “diện” thuộc loại “kẻ thù của nhân dân”. Đại tá Trần Văn Đắc, một tay chiêu hồi cấp cao đã cho biết, “Đã có 3.000.000 người miền Nam bị nằm trong danh sách (của cộng sản) là sẽ phải trả nợ máu.”  2370 Theo Bill Laurie, “Một tài liệu bị tịch thu tại Sóc Trăng đã là danh sách của những người cần phải bị xử tử” ở đó.  2371

 image004

 Hình: Vô số cổ quan tài để chôn cất những nạn nhân dân sự

bị Việt cộng thãm sát tại Huế, Chính Phủ Hoa Kỳ 2372

 

Báo cáo Nhân Chứng Hiện Trường: Cha De Pelsemacker, S.J.

Sau khi về lại Huế, Cha De Pelsemacker, S.J., vị Bề Trên Thiên Chúa Giáo tại Huế đã là một nhân chứng trung thực từng đích thân chứng kiến tất cà những gì đã xẩy ra và cũng là người mà Cộng Sản đã bắt giữ ở Trung tâm Sinh viên của ngài trên đường Lý Thường Kiệt vào lúc 4:30 sáng ngày 31 tháng giêng  năm 1968.

Cha De Pelsemacker và đoàn tùy tùng đã may mắn  không chết  qua nhiều ngày nằm giữa lằng đạn của hỏa tiễn, súng cối, súng bắn tỉa và xe tăng của Mỹ với Việt Cộng và Bắc Cộng.

Vào ngày thứ ba, một “ủy viên chính trị Việt Công  … tay cầm một tập hồ sơ khá đồ sộ … với những tấm thẻ có hình để nhận dạng dán trên từng tờ lý lịch … [đã cho thấy] không còn nghi ngờ gì nữa là chúng tôi thuộc  ‘danh sách này.’. ” Tên ủy viên đao phủ mặc quần cụt bằng vải ‘kaki’ và có đeo một Huân chương Hồ Chí Minh. “Chúng tôi đã gọi họ là các bạn và nói là chúng tôi không phải là người Mỹ … Chúng tôi bị trói và đưa [băng ngang một cánh đồng lúa] đến tổng hành dinh của họ ở Tiểu chủng viện.”

Sau khi bị lục soát để kiểm tra thì là đến phiên bị lấy cung. “Tôi đã nói với các quan tòa ngồi xét xử chúng tôi  là tôi gốc ở một vùng quê phía bắc nước Pháp … Chúng tôi không dám phản đối khi họ gọi chúng tôi là cái bọn tụi Pháp.”  Vị linh mục và đàn chiên của mình đã được phép về lại nhà mà nay đã bị chiếm đóng bởi bộ đội cộng sản Bắc Việt. Họ cùng ráng co ro suốt trong nhiều ngày trong một nhà bếp bằng bê tông cốt sắt và ráng cùng nhau dâng Thánh Lễ vào những lúc không có giao tranh. Mỹ đã quyết không bỏ bom nơi linh thiêng mãi cho đến ngày 6 tháng 2 khi cuối cùng thì địa điểm đó đã bị phá hủy. Cha De Pelsemacker, người đã may mắn thoát khỏi được cuộc giao tranh, đã được di tản về Đà Nẵng và sau đó là Sài Gòn và khi cuối cùng ông về lại được chốn củ thì chỉ thấy hoang tàn khắp nơi.

“Nhiều người tị nạn đã đang khiêng đi thi hài thân nhân mà họ đã tìm ra được trong các nấm mồ tập thể, … họ than khóc cho các con trai của mình suốt cả ngày.

Khi VC quyết định phải rút lui, vào khỏang ngày 20 tháng 2, nhiều thường dân đã bị xử tử mà không có lý do rõ ràng gì cả.

Và cứ như vậy thì họ đã giết hai nhà  truyền giáo MEP với hai tu sĩ dòng Benedictine bằng cách chôn sống.

Toán cố vấn y tế của Đức gồm ba bác sĩ cùng vợ của một trong số ba người, cũng đã bị tìm thấy chết ngồi trong ngôi mộ của họ, tay đều bị trói ngược ra sau  lưng.”

Các bác sĩ Đức và cả hai linh mục Pháp đã từng chăm sóc cho những thương binh Việt Cộng bị thương và cũng đã từng làm việc tại các làng có cảm tình với Việt Cộng. “Tất cả những việc giết chóc vô nghĩa này đã làm tôi rùng mình khi nhận thức ra được là điều này cũng có thể đến với tôi”. Vài tuần sau, Cha De Pelsemacker đã mở cửa trở lại Trung tâm của mình để giúp người tị nạn, “Chúng tôi đành ở trong tay của Đức Chúa Trời mà thôi.” 2373

Còn bao điều để kể.

Nhân Chứng Sở Thị: Mike Benge

Trong dịp Tết Mậu Thân, bộ đội Bắc Việt đã bố ráp một viện người cùi do các nữ y tá điều động ở Ban Mê Thuột.

Mike Benge có nhớ là các phụ nữ này đã cảnh cáo mình là phải “Về đi, Về đi”. Cố vấn Benge của AID đã bị bắt. Ruth Thompson với Ruth Wilting đã thiệt mạng trong vụ tấn công còn Betty Ann Olsen thì bắt sống.

Suốt một năm sau đó, trong một cuộc hành trình dài từ trại này đến trại khác , Betty Olsen, “một loại Katherine Hepburn … [với] thêm một lòng can trường”, đã chăm sóc Benge trong những lần lên cơn sốt rét ác tính. Nhà truyền giáo Hank phải nằm trên đất lạnh không có ngay cả được một mái nhà và qua đời vì bị viêm phổi. Trong tháng 10, Benge và Olsen đã ăn phải măng độc chưa được nấu chín . Chỉ có Benge là sống sót được. 2374 Eleanor Ardel Vietti thì vẫn là một tù binh chiến tranh.

Michael Benge đã có chứng kiến ​​việc  bọn sĩ quan Bắc Việt dàn cảnh một phiên tòa giả tạo để xử tử 15 thanh thiếu niên Thượng với tội “phản cách mạng” tại một làng  người cùi. Đài Hà Nội vào ngày 21 tháng 3 đã phát thanh, “Mọi công dân phải tích cực tố cáo các thành phần phản cách mạng, phải cung cấp … bằng chứng … trong việc giám sát trừng phạt … các phần tử phản cách mạng.”  2375  Tay thì bị cột bằng dây thừng ở sau lưng, các thanh thiếu niên Thượng bị bắt quỳ xuống trên một dàn tre giữa những người cùi. Một sĩ quan Bắc Việt bèn hỏi phải làm gì với các thanh thiếu niên này, thằng cán bộ bèn hét lên, “Giết chúng! Giết chúng!” Những người phong cùi lúc đó cũng bị khủng khiếp luôn và đâm ra sợ chết nên bèn hoan hô như vậy.” Thằng sĩ quan Bắc Việt  liền bước  tới phía sau lưng họ, và trong một hành vi nhân đạo cuối cùng, đã bắn viên đạn ân huệ sau gáy mổi thanh thiếu niên.”  2376

Trong dịp Tết Mậu Thân, các bản tin tường thuật những hành vi tàn ác như vậy ở Huế hay ở những nơi khác đã rất hiếm và nếu có thì cũng được xem như là các trường hợp riêng lẻ mà thôi.

Vào lúc cuối khi  các lực lượng Nam Việt và Mỹ  bao sát vào thì các lựa chọn để xử tử của cộng sản bèn trở nên có tính cách may rủi – chúng chỉ còn đơn giản lôi mọi người  khỏi nhà ra ngoài đường phố để bị một loại tòa án đột xuất xét xử rất nhanh rồi bị hành quyết ngay tại chổ. Một báo cáo của Việt Cộng sau khi đã hành động rất độc đoán đã tuyên bố, “Chúng tôi đã loại bỏ 1.892 nhân viên hành chính, 38 cảnh sát viên, 790 tên bạo chúa, 6 đại úy, 20 trung úy.”  2377

“Giống như bạn đang nuốt cả cái chết” 

Khi vô lại Huế vào ngày 28 tháng 2, các lực lượng Mỹ và Nam Việt chỉ phát hiện vài ngôi mộ tập thể dung chôn những người từng bắn chết, bị đập chết hay bị chôn sống. Tổng cộng đã có tới 8.000 thường dân và quân nhân. Đại úy Myron Harrington nhớ lại cái “mùi khủng khiếp. Bạn ngửi ra nó ngay khi bạn ăn khẩu phần lính, như thể bạn đang nuốt cả cái chết.” 2378 Phụ vào số tử vong thì cũng có tới 3.500 người bị mất tích.

Đài Giải phóng vào ngày 26 tháng 4 năm 1968 đã mô tả những người bị giết ở Huế như là “bọn tay sai côn đồ từng nợ máu nhân dân mà đã bị giết chết bởi các lực lượng vũ trang miền Nam và nhân dân vào đầu xuân.”  2379

Đài phát thanh Giải phóng mới chính là một nguồn tin tuyệt diệu về các tội ác Việt Cộng nếu so với các giới truyền tin Mỹ mà chỉ chuyên chú vào “những hành vi dã man chỉ ngẫu nhiên xảy ra, có cố ý mà cũng vô tình của quân đội đồng minh và việc sử dụng hỏa lực bừa bãi trên các thôn làng, trên cả tù nhân Việt Cộng và ngay cả thường dân  Nam Việt ở nông thôn nơi đã bị cuốn hút vào chiến trận.”

Trước Tết Mậu Thân, Clergy and Laity Concerned about Vietnam (Giáo Sĩ và Giáo Dân Quan tâm về Việt Nam) đã công bố cho tới 421 trang về các bài báo như là bằng chứng về  “những tội ác chiến tranh” của Mỹ. 2380  Đã không hề có những bộ sưu tập về việc báo chí Mỹ đã từng có tường trình về những tội ác chiến tranh của Việt Cộng. Ít quá mà, chuyện gì phải đề ý tới. Báo chí Mỹ đã luôn luôn bác bỏ “tuyên truyền về những việc  bạo tàn” của phía Mỹ từng trình bày tại “Five O’clock Follies” hay thông qua các viên chức phụ trách về thông tin công cộng.

Vụ thảm sát ở Huế đã phần lớn không được tường thuật trong dịp Tết dù hàng ngày  cả hàng triệu người Mỹ vẫn xem vô tuyến truyền hình vào lúc tin tức buổi tối. Nguyên suốt năm 1948, tờ The New York Times  chỉ chạy có bốn tin về Huế. Và tác phẫm The Big Story của Peter Braestrup cho biết hệ thống truyền hình Mỹ đã không hề bao giờ đưa tin về các vụ thảm sát ở Huế.

Các phóng viên đều bác bỏ những công bố về các cuộc thảm sát bởi thị trưởng thành phố Huế và phái đoàn Hoa Kỳ như là “tuyên truyền về thãm sát,” để biện minh cho các vụ xử tử hình của Việt Cộng như chỉ là đã được chọn lọc cũng như chỉ là những trường hợp lẻ loi mà thôi để rồi ngược lại tập trung vào sự kiện người lính Mỹ đã từng phá hủy Huế chỉ nhằm lưu giữ nó. 2381

Việc Nam Việt và Hoa Kỳ đã giải tỏa được Huế chỉ trong vòng một tháng đã bị mô tả không như là một chiến thắng nhưng mà là một sự khổ đau cùng cực  và thãm trạng tàn phá khắp mọi nơi mà chính là do hỏa lực Mỹ, và một cách rất là ngẫu nhiên, các vụ ám sát khủng bố của cộng sản thì lại được tường thuật như chỉ xẩy ra đối vài gia đình Huế mà đã bị quyết định trước đó rồi.

Trạm tới sẽ là Khe Sanh

Sau khi Huế được tái chiếm xong thì tin tức chuyển liền sang cuộc bao vây kéo dài tới 77 ngày đêm tại căn cứ Mỹ ở Khe Sanh.

Hỏa lực của các lực lượng Cộng sản chỉ là lẻ tẻ, nhẹ và không chính xác và chỉ làm thiệt hại vài phi cơ nhưng các hình ảnh của vài máy bay bốc ​​cháy và của binh lính cùng các phóng viên co ro trong những hố cá nhân đã lại đưa đến những bài tường trình về một thảm họa sắp xảy ra mà có thể y như là vụ Điện Biên Phủ, hình ảnh tiêu biểu của trận chiến cuối cùng của Pháp, cũng sẽ lặp lại.

Một chiếc C-130 duy nhất bị bắn rơi cũng phục vụ được như là một bối cảnh hoàn hảo cho các tường trình truyền hình thu tại chổ. Các cuộc giao tranh trên các ngọn đồi xung quanh Khe Sanh thì lại ít được chú ý tới cũng như là Tiểu Đoàn oai hung và kiên trì 37 Biệt Động Quân Nam Việt. 2382 Bảy mươi bảy ngày toàn những chuyện giả mạo về “thất bại” đã bóp chết những tin tức tốt trong vài ngày mà đáng lý đã phải được chuyển tin ra khỏi miền Nam để thế giới cùng biết.

Trận chiến kéo dài tại Khe Sanh đã không hề là một thất bại của Mỹ mà lại là  một chiến thắng rất rõ ràng. Mỹ chỉ bị hao tổn ít hơn là 200 quân nhân tại Khe Sanh để đánh đổi không ít hơn là 9.000 địch quân. 2383  Việc Mỹ rút quân ra sau khi đã tàn sát địch quân đã lại bị các tờ truyền đơn Việt Cộng  gọi là một thất bại của bọn Mỹ hèn nhát.

Phần lớn những chiến thắng quân sự của các đồng minh trên khắp miền Nam Việt Nam trong vòng tuần đầu của cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân đã bị tường trình rất là ít oi. Giới truyền tin đã chỉ lấy tin liên quan tới 15 trong số 100 tiểu đoàn cơ động và chỉ tường trình được có khoảng 20% ​​con số thương vong của Mỹ trong tháng 2 và tháng 3, 2384 để lại không nói gì tới độ 80-85% số tử vong trong chiến trận.

Các Nạn Nhân tại Huế Được Từ Từ Khám Phá Ra

Tại Huế, bọn cộng sản đã rất khéo che dấu các hành vi man rợ của chúng.

Ngày 26 tháng 2, tổng số 170 nạn nhân từng bị vội vàng chôn dấu được tìm thấy trong sân trường Trung học Gia Hội. Trong các tháng sau đó, đã phát giác ra được cho tới 18 địa điểm chôn dấu chứa khoảng 1.200 tử thi: Chùa Địa Tạng Viên Quang (67 nạn nhân), Bãi Dâu (77 nạn nhân),  Chợ Thống (ước tính 100 nạn nhân), lăng mộ các hoàng đế (201 nạn nhân), Thiên Hàm (ước tính 200 nạn nhân); và Đồng Gia (ước tính 100 nạn nhân). 2385

Đài Giải phóng đã phản đối những nỗ lực để tìm xác các nạn nhân bởi vì chúng là những “tên tay sai côn đồ đã có nợ máu … mà đã bị thanh toán … vào đầu xuân.” 2386  Khoảng 3.600 người vẫn bị xem như là mất tích thôi vì không tìm được xác.

Cỏ sao lại xanh kỳ cục, lại sao quá xum xuê và cao ngút

Hơn một năm sau Tết Mậu Thân, vào tháng 3 năm 1969, một nông dân Việt Nam khi thấy một sợi dây sắt lòi ra từ các cồn cát đã kéo nó ra để phát hiện xương bàn tay của một bộ xương. Tại vài nơi ở các cồn cát ở Vĩnh Lưu, Tây Lệ Xá , Xuân Ổ, cỏ sao lại đều có một màu xanh lá cây rất bất thường , lại rất xum xuê và cao ngút. Phát giác ra thì đã có hàng hàng lớp lớp đã bị dùng đề chôn xác người, mổi mồ cho tới 20 hay 40 nạn nhân bị xử tử bằng súng đại liên. Sau đó, người ta cũng đã tìm thấy tại Vĩnh Lộc và Hồ Nam tổng cộng là 809 tử thi. 2387 Các gia đình có người thân mất tích đã phải đến trước những di tích từng được thu nhặt được và đặt ra trên những cái bàn để sàng lọc ráng tìm xương cốt, giày dép, quần áo và các vật dụng cá nhân của thân nhân . Cũng đã còn nhiều ngôi mộ tập thể ở những nơi khác.

Khe Đá Mài: “những hốc mắt không còn con ngươi . . . sâu hoắm đen thăm thẳm . . . nước thì vẫn chảy qua trên những mãnh xương sườn.”

Số Time ra ngày ngày 31 tháng 10 năm 1969 và Douglas Pike  2388 cùng có  mô tả việc tìm kiếm hài cốt trong một khu vực hoang dã không người ở và gần như không thể nào vô tới được; đó là tán cây rừng già dày đặc trong khe suối Đá Mài cạn nước ở huyện Nam Hòa, cách Huế mười dặm về phía nam.

Các người đi tìm đã khám phá ra 250 chiếc đầu lâu và hàng đống xương người, “những hốc mắt không còn con ngươi . . . sâu hoắm đen thăm thẳm . . . nước thì vẫn chảy qua trên những mãnh xương sườn.” Đây chính là những gì còn lại của 398 thường dân bị bắt dẫn ra khỏi Nhà thờ Công giáo Phú Cam sau khi bị bắn hay bị đập cho chết. Họ đã bị cột lại với nhau để bị dẫn đi sâu vào vùng rừng núi rồi buộc phải leo lên núi bằng những con đường mòn dốc đá, trong nổi hải hùng chờ đợi  những gì sẽ xảy ra cho chính mình trong khi bị buộc phải chứng kiến các người khác bị đánh đến chết bằng báng súng hay gậy … khắc khoải chờ đợi cho đến phiên mình phải chết. Một số 428 nạn nhân cuối cùng đã được xác định rỏ ràng lý lịch trong đống xương tàn tại khe đá suối Đá Mài … mực độ tàn nhẫn thảm khốc đã vượt xa vụ Mỹ Lai.

Việc xúc phạm người chết quả là tuyệt đối và tối hậu. Những người sống sót đã cầu nguyện xin người chết hãy tha thứ  bởi vì họ đã bị phải nằm phơi thây trên đời. Theo phong tục thờ cúng tổ tiên của mọi người Việt thuộc mọi tôn giáo, như vậy thì linh hồn của những người chết sẽ cứ vất vưỡng lang thang mãi mãi trên trái đất này. 2389

Vào cuối năm 1975, bọn cộng sản sẽ đã san bằng hàng chục nghĩa trang quân đội VNCH, một hành vi cố tình gây hấn và không đứng đắn với truyền thống và văn hóa Việt Nam. 2390

Quận Phú Thứ (Phu Salt Flats ?): Im Lặng Chết Người

Trong tháng 11 năm 1969, một khám phá quan trọng thứ tư đã xẩy ra tại Quận Phú Thứ (Phú Salt Flats ?) gần Lương Viện, mười dặm về phía đông của Huế, nơi mà cộng sản đã bỏ trốn chạy và người dân thì căm thù và sẳn sàng để nói về số 230 nạn nhân từng bị tàn sát. 2391

Ấy vậy thì cũng đã phải mất hơn một năm rưỡi hơn để khám phá ra được hầu hết các ngôi mộ tập thể gần Huế chiếu qua lời khai của các hồi chánh viên, các dân làng được giải thoát và lời cung cấp được của những người dân có óc quan sát. “Đã không có những than khốc khắc khoải. Đã không hề có các cuộc biểu tình trước những toà Đại sứ Bắc Việt trên toàn thế giới,” Douglas Pike viết lại như vậy. 2392  Bất kể đến tính cách muôn trùng của các vụ thảm sát tại Huế,  vào cuối năm 1969 và rồi luôn năm 1970, giới truyền tin đã không hề quan tâm đến sự kiện này. Họ đã chỉ quá bận rộn tập trung việc lấy tin về những tuyên bố huênh hoang của các tên phản chiến là người Mỹ ở khắp mọi nơi đang thường xuyên tàn sát người dân vô tội Việt Nam.

Hầu hết hai mươi ngôi mộ tập thể sớm phát giác được đã bị dùng để chôn “hầu hết là thường dân – đàn ông và đàn bà lớn tuổi, những thiếu nữ, nam sinh, các linh mục, các nữ tu, các bác sĩ …” Phân nửa những người chết tại Huế đều đã bị chôn sống. Nhiều người đã bị trói bằng dây thép gai, miệng nhét đầy rác rến bụi bặm và khi bị chôn thì đôi mắt vẫn còn rộng mở. 2393  Đài Hà Nội thì lại giải thích việc phát hiện ra các ngôi mộ tập thể như chỉ là “những tên tay sai côn đồ … có nợ món” và đã chỉ bị “thanh tóan bởi các lực lượng vũ trang và nhân dân miền Nam …”  2394

Những Thằng Không Chịu Mở Mắt nhân Vụ Huế –   Burchet, Porter

Tên điệp viên KGB Wilfred Burchett, luôn luôn vẫn là một sư tở về nghề nghiển chuyện, đã quy cho Mỹ chính từng giết chết số 2.800 thi thể mà đã bị phát giác ra ở Huế sau khi Huế bị Cộng sản chiếm đóng.

D. Gareth Porter thì đã viết một bài bác bỏ hoàn toàn thảm sát tại Huế nhân Tết Mậu Thân. 2395  Cựu chiến binh Việt Nam và sau đó đã là một tiểu thuyết gia John Del Vecchio có nói là vụ Mậu Thân Huế, bất chấp những lời chối bỏ đó, cũng phải  … “ít ra là một phần trực tiếp của kiến thức chung.”  2396  Tờ Time  có kết luận vào cuối năm 1970, “Với việc Mỹ đang rút quân, vụ thảm sát ở Huế có thể là một ví dụ lạnh mình về những gì có thể sẽ xẩy ra ngay cả trước ”  2397  và sau khi chúng ta đã ra đi.

Tại một đám tang tập thể ở Huế vào ngày 14 tháng 10 năm 1969, Tổng Thống  Nguyễn Văn Thiệu đã tuyên bố với số 15.000 người mang áo trắng toát và đầu đội khăn sô, “Hãy nhìn những khuôn mặt đau buồn này, rồi hãy nhìn các quan tài kia. Đây có phải là sự tự do cuối cùng mà người Cộng sản từng hứa hẹn – được liệm trong một quan tài để ra trên mặt đất này? ”  2398

Trong Bảo tàng viện các Tội ác Chiến tranh (sau được đổi tên thành Chứng tích chiến tranh) tại Sài Gòn vào năm 2008, đã không hề có hình ảnh của các ngôi mộ tập thể tại Huế hay các danh sách của nạn nhân mà chỉ có hình ảnh của giới truyền tin Mỹ cho thấy việc Hoa Kỳ ném bom cùng pháo kích. Một hình ảnh khủng khiếp đã có chú thích, “hai tử thi Việt và một xe đẩy gẩy vụn nằm la liệt trên dấu xe tăng đã lăn qua, một tử thi khác nằm phía sau xác của một xe Jeep … (UPI).”  Các hành vi tàn nhẫn nhân cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân đều đã do Mỹ gây ra … hay ít ra thì có vẻ vậy.

Dục Đức: Các Trận Tấn Công Những Trung Tâm Định Cư Người Tỵ Nạn

Ngày 4 tháng 3 năm 1968, một đại đội thuộc Sư đoàn 7 Thủy quân lục chiến đã hành quân cứu viện khi bộ đội Bắc Việt dùng lựu đạn, sung cối và súng phun lửa napalm để tấn công các dân làng đang ẩn trốn ở Đức Đức, Phú Đa và An Hòa về phía Tây Nam thành phố Đà Nẵng và Hội An. Thủy quân lục chiến phát hiện ra 40  thường dân đã bị thiệt mạng và 77 thường dân thì bị thương. 2399 Dĩ nhiên vụ Dục Đức thì không xứng đáng là một tin tức để loan vào buổi tối. Đó chỉ là một món nợ máu khác mà VC cần phải giải quyết. Tội của những người tị nạn tại Đức Đức chỉ là đã đi tìm thấy được một cuộc sống tốt hơn bên ngoài khu vực Việt Cộng kiểm soát.

Các cuộc tấn công của VC vào các người tỵ nạn từng di dân đi định cư nơi khác, chẳng hạn như những người tại Đức Đức, đều có tính cách

cố ý và bừa bãi, nhằm mục đích khủng bố những người sống sót … để buộc họ trở về vùng cộng sản kiểm soát …. trong bốn tháng từ tháng 5 đến  tháng 8 năm 1968 đã có 45 cuộc tấn công …. Trong hai … tháng cuối, đã có hơn 1.725 ngôi nhà bị phá hủy, hơn 53 người tị nạn bị giết, hơn 112 người bị thương và 36 bị bắt cóc. 2400

 image006

Hình: Thảm Sát tại Làng Tái Định Cư Người Tỵ Nạn Dục Đức

 

Bằng thái độ chỉ tường thuật sơ qua thôi tệ trạng khủng bố của Việt Cộng  rồi lại giúp giả tạo thành tích phản chiến của chúng, giới truyền tin đã đồng lõa trong việc tăng cường giúp Việt cộng  tuyên truyền bôi nhọ các chiến thắng  tại chiến trường của Hoa Kỳ đồng thời huy động các lực lượng chủ hòa chống chiến tranh trên các đường phố và các nơi khác tại Hoa kỳ cũng như khắp mọi nơi trong giới truyền tin.

Đô đốc Mỹ Grant Sharp, tư lệnh Lực Lượng Thái Bình Dương Hoa Kỳ đã nói là ý chí của Mỹ từng bị phá nát bởi “tiến trình của một chiến dịch tuyên truyền khéo léo nhằm lật đổ chính quyền, rồi lại được hỗ trợ và xúi bẩy bởi hàng loạt đánh phá của giới truyền tin chỉ nhằm loan tin sao cho giật gân những tin đồn và những “một nửa sự thật” về cuộc chiến tranh. Ví dụ về tình trạng này thì tràn lan khắp mọi nơi.

Giết Người bằng Nhiếp Ảnh – Cán bộ Việt cộng

Không gì nói láo hay bằng một máy chụp hình (Peter Braestrup)  2401

Điển hình về hành vi hổ trợ của giới truyền tin cho tuyên truyền Việt Cộng đã là  bức ảnh khủng khiếp của  nhiếp ảnh gia AP là Eddie Adam chụp Tướng Nam Việt  Nguyễn Ngọc Loan bắn bể đầu của Bảy Lốp, một người đàn ông nhỏ bé đang co rúm người lại gần chùa  Ấn Quang ở Sài Gòn.

Bức hình đã được trình chiếu ngày này qua ngày khác dưới tựa đề NBC đã dùng: “Hình một vụ xử tử.”

Sử dụng hình ảnh không thôi thì cũng không đủ. Peter Braestrup trong The Big Story ~ Câu Chuyện Lớn có mô tả một chương trình NBC “đặc biệt” về Việt Nam phát vào ngày 10 tháng 3 năm 1968 do Frank McGee thực hiện:

“Khi đoạn phim bắt đầu trên chương trình trình tin hàng đêm của Huntley-Brinkley … đầu của nạn nhân … đã được nhìn thấy có rỉ máu khi đập vào vỉa hè.

Với chương trình phát hình của McGee thì khán giả lại thấy … một vũng  máu cực lớn đang chảy tụ thành đống lại … trên đường phố. “

Frank McGee bèn dõng dạc tuyên bố: “Bây giờ thì khã năng Việt Nam chịu đựng nạn tàn phá đã bị đạt tới. Có biết bao nhiêu chung cư và  biết bao nhiêu con người  và biết bao nhiêu  là tòa cao ốc đã bị tiêu rụi cũng như là biết bao nhiêu người đã phải nằm xuống.” 2402 Những nỗi kinh hoàng của chiến trận Việt Nam thì không có gì có thề so sánh được.

Không gì nói láo hay bằng một máy chụp hình

Bị lẫn lộn trong các nguồn tin mang đầy tính chất kinh hoàng đó thì đã có nhiều sự kiện quan trọng bị bỏ qua bên:

• Bảy Lốp, nhân vật trông rất thảm hại và đáng thương, trong thực tế là một sát thủ Việt Cộng .

• Bảy Lốp là một thành viên một đội ám sát VC mà mục tiêu nhắm tới là một doanh trại dành cho vợ con của những cảnh sát viên Nam Việt .

• Bảy Lốp bị cho là nạn nhân của sự tàn bạo miền của Nam Việt lại chính là kẻ đã chặt chân của phụ nữ và trẻ em để rồi

• theo kiểu Charlie Manson, đã phết máu của họ trên các bức tường. 2403

• Ngay trước khi bị bắn, Bảy Lốp đã giết chết người mẹ 80 tuổi, vợ và sáu người con của người bạn thân nhất của Tướng Loan.

Vị Tướng Loan của QLVNCH không thể nào còn có tâm trạng để đứng đó mà tuyên đọc lời cảnh cáo Miranda hay lịnh Habeas corpus.

Một trận chiến đang xẩy ra trên các đường phố Sài Gòn vào giữa của cuộc tấn công Tết Mậu Thân ở Việt Nam. Bảy Lốp là một bộ đội trong một trận chiến vẫn đang tiến hành và không thể được đối xử đúng theo luật định bình thường.

Các Tội Ác Tàn Bạo Của Việt cộng Thì Không Có Gì Là Mới Cả

Tin tức báo chí và truyền thông quả thật là khác xa. Vào thời đó, một việc rất phổ biến nhưng đáng để chú ý vì nó cho thấy thái độ khước từ về phía giới truyền tin mà đã không xem chiến tranh như là một cuộc chiến tuyên truyền, để rồi nhìn  các tội ác tàn bạo của Việt Cộng như là nhiều quá đến mức không còn đáng để phải loan tin đi nữa. 2404

Các trận hoả hoạn, những tai nạn xe tông nhau và những tên sát nhân thì luôn luôn đáng được loan tin ở quốc nội nhưng sự kiện Việt Cộng đốt sống các nạn nhân, giết họ rối còn mổ bụng và chặt đầu ở Việt Nam thì không hề xứng đáng là tin để tường thuật. Xếp chung thái độ ác cảm này vào với kiểu cứ loan mãi tin cũ trong cách dùng đi rồi dùng lại mãi rất lâu sau này chỉ một bức hình duy nhất của một vị Tướng Nam Việt bắn một tên khủng bố liệu có giúp chúng ta chăng trong một trận chiến về tuyến truyền, thì ta thấy được là giới truyền tin Mỹ đã, dù là vô tình hay bị áp lực về luân lý, đã quả giúp ích tới chừng nào cho lập trường của Việt Cộng.

Tấm hình Bảy Lốp đã mãi mãi có tính cách thời sự – từ ngày này qua ngày khác, từ tháng này qua tháng khác, từ năm này qua năm khác. Cho dù được đăng tin biết bao nhiêu lần thì đã không hề  có một chữ về tử phận của nhiều phụ nữ và trẻ em mà tên khủng bố đã thảm sát. Đó đã đúng là tuyên truyền cho đối phương – một hình tội mà các nhà ái quốc xưa với đầu ốc đợn giản như  Tổng thống Lincoln và Wilson, đã không bao giờ cho phép và đã nghiêm trị.

Năm 1968, một cán bộ VC đã bắt được một cảnh sát viên trong làng bèn bắn bay cái mũi và “bắn nhiều viên đạn xuyên qua xương gò má sát với đôi mắt của nạn nhân biến chúng thành chỉ còn là đám mãnh vụn đẫm máu”. Nạn nhân bị để  ra máu cho tới chết. 2405 Dĩ nhiên, việc xử tử này của VC thì không đáng để loan đi.

Trong khi đó tại mặt trận quốc nội, bọn tả phái cực đoan đã cố gắng đem chiến trận về ngay trong nước mình.

*****

2365  P.J. Honey, “Vietnam: If the Communists Won, Southeast Asian Perspectives, Số 2, Tháng 6 năm 1971, trang 19-21.

2366  James Stephen Hosmer, Viet Cong Repression and Its Implications for the Future, trang 48 viện dẫn bởi James Banerian và Vietnamese Community Action Committee, Losers Are Pirates: A close Look at the PBS Series “Vietnam: A Television History,” Phoenix: Tiếng Mẹ Xuất bản, 1984, trang 167.

2367  Phỏng vấn  “Interview with Hoang Phu Ngoc Tuong, 1982,” 1 tháng 3 năm 1982, Bộ sưu tầm dành cho tham khảo (Open Vault for Researchers Collection) , Boston, MA, http://openvaultresearch.wgbh.org/record/display/index/pid/wgbh:e67ef62e29a364dbb7faeb55837714f9163fe9ec

2368  Radio Hanoi and South Vietnam: A Month of Unprecedented Offensive and Uprising, Hà-nội: Nhà Xuất bản Giải Phóng, Tháng 3 năm 1968, được nêu ra trong tài liệu của Douglas Pike, The Viet-Cong Strategy of Terror, United States Mission, Viet-Nam, 1970, trang 34,36.

2369   Turner, trang 51 ghi chú 190-191.

2370   Đại tá  Trần Văn Đắc, họp báo tại Sài-gòn, 6 tháng 2 năm 1969 viện dẫn trong tài liệu của Douglas Pike, The Viet-Cong Strategy of Terror, United States Mission, Viet-Nam, 1970, trang 16-18.

2371   Laurie nói vói tác giả và nhiều ngưòi khác ngày 1 tháng 2 năm  2011.

2372   Hue_Massacre_Internment.jpg

2373   Cha A. De Pelsemacker, S.J., “The Lunar New Year Attack of the Viet Cong in Hue,” 31 tháng giêng năm 1968, Xuân 1968 khám phá ra được bởi Sư Đoàng 101 Không Vận, Hoa Kỳ. Phòng 2 Army G-2 và sĩ quan an ninh Peter Conaty vào năm 1970. Conaty đã có đưa cho tác giả một bản chụp của tài liệu nguyên thủy vào cuối tháng 7 năm 2007. 

2374   Mike Benge, “The Last Witness,” alliancelife.org.

2375   P.J. Honey, “Vietnam: If the Communists Won, Southeast Asian Perspectives, Số 2, Tháng 6 năm 1971, trang 24-5. 

2376   Mike Benge, ”Open letter to Vietnamese-Americans, Vietnam and Other Veterans Concerning the Upcoming elections,”

 http://www.amigospais-guaracabuya.org/oagmb009.php

2377   CDEC Hồ sơ số 05-1131-68, tháng 3 năm 1968 viện dẫn tại  Clemson.edu/caah/history/facultyPages/EdMoise/tet.html và tại Thượng viện Mỹ, ủy ban Committee on Judiciary, The Human Cost of Communism in Vietnam, Washington; U.S. Government Printing Office ~ Văn Phòng Nhà In Chính Phủ Hoa Kỳ, 17 tháng 2 năm 1972, trang 9.

2378   Karnow, trang 530-31.

2379   P.J. Honey, “Vietnam: If the Communists Won, Southeast Asian Perspectives, Số 2, Tháng 6 năm 1971, trang 21. 

2380   CALC, In the Name of America, New York, 1968; New York Times và Washington Times, 30 tháng giêng năm 1968; như được nêu ra trong sách của Peter Braestrup, Big Story, New Haven: Yale University Press, 1978, trang 579 ghi chú 94.

2381   Peter Braestrup, Big Story, New Haven: Yale University Press, 1978, trang 214-216; Đọc thêm Swett và Ziegler mà đã viện dẫn chương trình của Peter Rollins Television’s Vietnam [1984 hay 1985?].

2382  Peter Braestrup, Big Story, New Haven: Yale University Press, 1978, trang 256-333, 487.

2383   Swett và Zigler nêu ra tài liệu của Steven Hayward, The Age of Reagan Roseville, CA: Forum/Prima, 2001. 

2384   Peter Braestrup, Big Story, New Haven: Yale university Press; 1978, trang 218.

2385   Douglas Pike, The Viet-Cong Strategy of Terror, United States Mission, Viet-Nam, 1970, trang 27.

2386   Douglas Pike, The Viet-Cong Strategy of Terror, United States Mission, Viet-Nam, 1970, trang 38.

2387   Douglas Pike, The Viet-Cong Strategy of Terror, United States Mission, Viet-Nam, 1970, trang 27.

2388   Douglas Pike, The Viet-Cong Strategy of Terror, United States Mission, Viet-Nam, 1970, trang 28-29.

2389   James Jones, Viet Journal, New York: Delacorte, 1974, trang 93-4.

2390   Jade Ngọc Huỳnh, South Wind Changing, St. Paul: Graywolf Press, 1994, trang 282, 279 và Võ N. M., The Bamboo Gulag, trang 211-214, Lamb D., Vietnam Now, New York: Public Affairs, 2003, trang 99-101, Kamm H., Dragon Ascending: Vietnam and the Vietnamese, New York: Arcade, 1996, trang 182, tất cả đều được nêu ra trong tài liệu của  Vỏ M. Nghĩa, “The War Viewed From All Sides,” , Đặng Văn Chất, Võ Văn Hiền , War and Remembrance, SACEI Forum #6, Denver: Outskirts Press, Inc, 2009, trang 16.

2391   Trần Thông, “In Memory of Hue, Tet 1968, Viet-Nam Journal, Tháng 4 năm 1970, Embassy of the Republic of Viet Nam, Washington; Douglas Pike, The Viet-Cong Strategy of Terror, United States Mission, Viet-Nam, 1970, trang 30.

2392  Douglas Pike, The Viet-Cong Strategy of Terror, United States Mission, Viet-Nam, 1970, trang 23.

2393   “The Blood-Red Hands of Ho Chi Minh,” Readers Digest, số Tháng 11 năm 1968 tại  http://www.paulbogdanor.com/ho-chi-minh.html.

2394   Quốc hội Hoa Kỳ, Thượng viện, ủy ban Committee on Judiciary, The Human Cost of Communism in Vietnam, Washington; U.S. Government Printing Office, 17 tháng 2 năm 1972, trang 9.

2395   D. Gareth Porter, “The 1968 ‘Hue Massacre,” Indochina Chronicle, Số 33, 24 tháng 6 năm 1974, trang 2-13.

2396   John M. Del Vecchio, “Cambodia, Laos and Viet Nam? The Importance of Story Individual and Cultural Effects of Skewing the Realities of American Involvement in Southeast Asia for Social, Political and/or Economic Ends,” 1996 Vietnam Symposium “After the Cold War: Reassessing Vietnam,” 18-20 tháng 4 năm 1996. Đại học Texas Tech University

2397  “The Massacre at Hue,” Time, 31 tháng 10 năm 1969.

2398  Trần Thông, “In Memory of Hue, Tet 1968, Viet-Nam Journal, số Tháng 4 năm 1970, Toà Đại sứ VNCH, Washington.

2399  Niên-đại-ký Bộ Chỉ Huy  Sư đoàn 7 TQLC ngày 4 tháng 3 năm 1968, nêu ra bởi  Sandy Wardlaw, swardlaw@cox.net  tại ‘site’ của  Jack Cunningham http://home.earthlink.net/~duc_duc_massacre/

2400  Mark Moyar, Phoenix and the Birds of Prey; The CIA’s Secret Campaign to Destroy the Viet Cong, Annapolis: Naval Institute Press, 1997, trang 261 ghi chú 13 nêu ra tài liệu của Louis Weisner, Victims and Survivors, NY: Greenwood Press, 1988, trang 225; hình tại Dục Đúc  thuộc phân đoạn “A TRAGIC STORY OF A FAILED COMMITMENT “TO KEEP A VILLAGE FREE”, UNTOLD STORIES – vnafmamn.com và  http://www.vnafmamn.com/CAP_atDucDuc.html.

2401  Peter Braestrup, “Grasping Straws,” Al Santoli, To Bear Any Burden, trang 181.

2402   Trung Tướng Lâm Quang Thi, QLVNCH, THE VIET NAM WAR REVISITED: A VIEW FROM THE OTHER SIDE OF THE STORY có nêu ra tài liệu của Braestrup, Peter. Big Story: How the American Press and Television Reported and Interpreted the Crisis of Tet 1968 in Vietnam and Washington. Yale University Press; New haven. 1977, 1983.

2403   Mike Benge, ”Open letter to Vietnamese-Americans, Vietnam and other Veterans concerning the upcoming elections,”

http://www.amigospais-guaracabuya.org/oagmb009.php

2404   Armond Noble, phóng viên tờ Time tại Việt Nam nói với tác giả vào tháng 2 năm 2007.

2405   Bác sĩ  A. W. Wylie, y sĩ người Úc phục vụ tại một bệnh viện ở Đồng bằng sông Cữu Long, đươc  nêu ra trong bài  “The Blood-Red Hands of Ho Chi Minh,” Readers Digest, Số Thánbg 11 năm 1968 tại http://www.paulbogdanor.com/ho-chi-minh.html.

  *****

Một phản hồi to “Roger Canfield’s Americong #41”

Trackbacks/Pingbacks

  1. Giới thiệu tác phẩm AMERICONG (MỸ-CỘNG) – Lê Bá Hùng | Ngoclinhvugia's Blog - 05/01/2016

    […] Roger Canfield’s Americong #41 […]

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: