Roger Canfield’s Americong #3

Comrades in Arms

How the Americong Won the War in Vietnam

Against the Common Enemy— America

Copyright Roger Canfield, Ph.D.

1986-2012

No commercial transaction allowed except that approved by the author, copyright holder.

Obtain a prepublication release of a CD-R in Microsoft Word in ENGLISH at a discounted price of $15 from Roger Canfield Rogercan@pacbell.net at 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 or at http://americong.com.

Completely SEARCHABLE for any name, date, place or event of the War and its protesters.   

 Cover: Design Stephen Sherman. Photos: Roger Canfield, March 2008. TOP: War protestHawaii, February 1966 displayed at War Remnants (Crimes) Museum,Saigon. Bottom: Praetorian Guard

***** 

Các đồng chí cùng chiến tuyến

Làm thế nào MỹCộng thắng cuộc chiến Việt Nam

Chống kẻ Thù Chung – Mỹ

Giữ bản quyền Roger Canfield, Tiến Sĩ

1986-2012

Không được sử dụng vào mục đích thương mại nếu không có sự đồng ý của Tác giả, người giữ bản quyền.

Có thể mua một tiền bản dưới dạng CD-R Microsoft Word bằng Anh ngữ với giá đặc biệt US$15 ngay từ tác giả Roger Canfield  Rogercan@pacbell.net tại 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 hay tại  http://americong.com.

Hoàn toàn có thể TRA CỨU hoặc bằng tên, bằng ngày tháng hay biến cố liên quan đến cuộc Chiến cùng cả luôn bọn tham dự biểu tình .

  ******************************************************

* Tác giả giữ bản quyền © Roger Canfield 1986-2012

  • Lê Bá Hùng chuyển ngữ  (với sự chấp thuận của Tác giả)

*****

Chương 3

 

Chiến Lược của Bắc Việt Nhằm Dành Chiến Thắng

 

Trong chiến tranh, mục đích của đại chiến lượckhông cho địch tự do hành động một cách hữu hiệu … Để làm vậy thì  ta phải tiêu diệt  các lực lượng vũ trang của kẻ thù hoặc ý chí chống cự của chúng.

Harold W. Rood, Kingdoms of the Blind  477

Một quân đội mà không sử dụng chính trị thì cũng như một cái cây không rể – vô ích mà còn nguy hiểm.

Hồ Chí Minh

Việc Phối Hợp Các Chiến Lược Chính Trị Cùng Quân Sự

 

Hà Nội đã không bao giờ đánh tan được quân lực Mỹ trên chiến trường và cuối cùng thì họ cũng thất bại về trận chiến trong bóng tối nhằm chinh phục lòng thương yêu và tin tưởng của người dân ở nông thôn Việt Nam. Cũng vậy, Hà Nội không hề đánh bại các lực lượng Quân Đội VNCH của miền Nam Việt Nam – điều này có nghĩa là, mãi cho đến khi họ đã phá tan ý chí của Mỹ hầu hỗ trợ một đồng minh đang trong tình trạng tuyệt vọng. Đó không phải là vấn đề, vì cuối cùng thì Hà Nội đã chiến thắng tại Mỹ trên vũ đài chính trị, mà do đó đã bỏ rơi  Nam Việt trong tình trạng không đạn dược và cả luôn băng cứu thương cùng các phương tiện ít ỏi để rút lui chiến lược. Trong chiến lược thống nhất  về quân sự-chính trị mà chỉ là tái bản kinh nghiệm riêng của chúng trong các cuộc biểu tình phản chiến cùng lũng đoạn công luận tại Pháp 478 và cũng do học hỏi từ chiến lược Cộng sản quốc tế, đại chiến lược của bọn Việt từ đầu đã là lên kế hoạch nhấn mạnh vào các hành vi chính trị hầu chống lại kẻ thù. Trong chiến tranh cách mạng để thống nhất Đông Dương, Bắc Việt đã có được một chiến lược trên toàn thế giới để dành chiến thắng – chiến tranh của nhân dân – bao gồm không chỉ bọn chuyên ám sát Việt Cộng và các chính phủ trong bóng tối ở Nam Việt Nam, cùng các đảng Cộng sản huynh đệ ở Trung Quốc, Liên Xô và khối Đông Âu, mà luôn cả các nhóm tiền phương , các nhóm phản chiến và luôn các đồng chí Mỹ cùng chiến tuyến nhiệt tình tổ chức các hội nghị, phản đối, và hành động chính trị trong quân đội – Tom Hayden, Jane Fonda, Dan Dellinger, Cora Weiss, và nhiều nhiều tên khác hơn nữa . Các khách Mỹ luôn luôn được cho biết là – tinh thần nhân dân chúng tôi rất cao nhờ chúng tôi có Bác Hồ [Hồ Chí Minh], đảng [Cộng sản] Lao Động, và sự ủng hộ của các nước xã hội chủ nghĩa và các loài người tiến bộ trên toàn  thế giới.  479

 

Hà-nội đã có một chiến lược rỏ ràng nhằm tiến tới chiến thắng. Hoa kỳ thì lại không.

Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara của Tổng thống Lyndon Johnson và – đám cố vấn trẻ thần đồng của mình đã sử dụng lý thuyết trừu tượng về trò chơi để mà làm lạc hướng chiến lược quân sự của các Tướng lãnh đầy kinh nghiệm chiến trường Mỹ. Để đối phó lại các trò chơi trí tuệ này, mà thật ra thì cũng không khác gì một trò chơi hai chiều trên bàn cờ nhỏ của miền Nam Việt Nam, Cộng sản Việt Nam lại chơi loại cờ tướng ba chiều mà không hề có quy tắc và ranh giới. Hà Nội đã có quân đội hiện diện tại bốn quốc gia, đã giao chiến trên những mặt trận cả chính trị lẫn ngoại giao, và đã vô cùng linh hoạt trong các hành xử xuyên qua thời gian và không gian. Bọn cộng sản đã qua mặt cả thế giới, trong khi Mỹ thì thậm chí cũng không quyết định được là nên đổ quân và giữ đất chiến lược ở Cam-pu-chia và Lào, những nơi mà đã trở thành như là các căn cứ an toàn  trong kiểu ăn thẻ hay mất thẻ của con nít, Kings X, không được đụng tới. Ngoài các hoạt động hạn chế về thu thập tin tình bào và trinh sát bằng cách sử dụng người Hmong và Miền lu sắc tộc cao nguyên Lào và Nam Việt, binh sĩ Mỹ đã bị cấm không được đụng trận rồi đuổi theo Cộng Sản vào Bắc Việt, đó là chưa nói tới Lào và Cam-pu-chia. Phong trào phản chiến là hậu phương của Mặt trận thứ hai của Việt Nam. Vậy mà Mỹ đã làm rất ít để tự bảo vệ ở mặt trận quốc nội. Bill Laurie nhận xét rằng Mỹ đã gần như không hề làm bất cứ điều gì để đối phó với chiến lược chính trị rộng lớn hơn của Hà Nội. Mỹ đã thất bại không tham gia vào một cuộc chiến tranh chính trị, hầu sử dụng chiến tranh tâm lý một cách hiệu quả và để chống lại các đợt tuyên truyền không ngừng nghỉ của Hà Nội. 480

Bắc Việt đã học để chơi và đã thắng không chỉ là trò chơi địa-dư/chính trị mà còn luôn về kiểu chơi chính trị Mỹ.
Theo Douglas Pike 481, học giả chuyên về Việt Cộng và Quân đội Nhân dân Việt Nam, PAVN, khái niệm chính yếu của Việt Cộng, y như của Trung Cộng, đã là Đấu Tranh. Cuộc đấu tranh này được hiểu như là một mạng nhện phối hợp tuyệt hảo về các chính sách chính trị độc tài và về bạo lực khủng bố ở tất cả các cấp, trong mọi đấu trường, chính trị hay quân sự. Bọn thánh chiến Jihadist ngày hôm nay đã bộc lộ tính chất độc tài chính trị và bạo lực khủng bố ở mọi tầng lớp  trong tất cả các đấu trường, chính trị và quân sự. Bọn Trung cộng thì đã từng thành công che dấu những chính sách chính trị độc tài và nạn bạo lực khủng bố đối với thế giới trong nhiều thập kỷ. Lê-nin, Sì-ta-lin và Mao 482 đã chứng minh là khủng bố có thể vừa được sử dụng để cướp quyền lực mà cũng để duy trì quyền lực. Đầu Tranh về phương diện đấu tranh chính trị chính là việc gây ra rối loạn: bọn vô lại, các cuộc biểu tình và đám đông, đôi khi dùng cả súng ống để thực hiện các chính sách. Để thống nhất lại việc huy động quần chúng, hành vi chính trị, khủng bố, và chiến tranh du kích, Đấu Tranh phụ thuộc vào việc sáng tạo ra các huyền thoại về anh hùng và liệt sĩ, chẳng hạn như tên khủng bố sát thủ Nguyễn Văn Trỗi, mà sau đó Tom Hayden và Jane Fonda đã lấy tên để đặt cho con trai của chúng, Trỗi Hayden. Đấu Tranh đã gôm chung lại tình yêu, lý trí cùng với nổi kinh hoàng gây ra bởi các hành vi khủng bố để biến chúng thành niềm hy vọng cho một cuộc tổng nổi dậy, chẳng hạn như Tết Mậu Thân 1968. Cựu binh nhất thời Thế chiến II, cũng là Giáo sư và thành viên nhóm nghiên cứu  chiến lược B của Reagan , Harold W. Rood  483 thường nói, – Hãy nắm lấy tóc chúng thì  chúng sẽ yêu và nghe lời mình. Viễn tượng sẽ bị chặt đầu đã buộc dân làng tập trung tâm trí trong các cuộc tập hợp về đêm để Việt Cộng tuyên truyền  – đặc biệt là nếu chính phủ  Nam Việt không bảo đãm được an ninh – hoặc tồi tệ hơn thì đôi khi còn bị nạn tham nhũng và độc đoán về ban ngày. Ngày nay nạn khủng bố vẫn còn tích cực trong thế giới Jihadist tại Nam Lebanon,Iraq,Afghanistan,Somalia,Yemen, Phi-luật-tân và các nơi khác.

Có lẽ do giỏi hơn nếu so với Mao và Lenin, các chiến lược gia  Bắc Việt (Hồ, Giáp và Chinh) đã hiểu rằng nếu muốn cuộc cách mạng cộng sản thành công thì phải có một sự kết hợp uyển chuyển giữa cuộc Đấu tranh Chính trị với cuộc Đấu tranh Vũ trang.

Tại Nam Việt, chiến tranh cứ bộc phát rồi lại lắng dịu, một cuộc chiến tranh nhân dân thần thoại cứ luân chuyển từng vùng suốt khắp đất nước bởi những người mặc áo bà ba đen mà do một sự tình cờ nào đó lại có vũ khí tối tân của Nga và Trung Cộng – AK-47, súng cối, và pháo binh – tô đậm thêm bằng những vụ ám sát rất khủng khiếp các trưởng thôn, giáo viên, tu sĩ Phật giáo – chặt đầu và moi ruột gan ra. Chỉ từ 1966 tới 1969 thôi, Việt Cộng đã ám sát tới 18.000 người và bắt cóc 26.000 người khác và họ đã không bao giờ được nhìn thấy lại. 484 Bọn từng biện hộ cho Việt Cộng thường tuyên bố rằng các vụ ám sát đã được chọn lọc, cần thiết và dễ hiểu trong quá trình thi hành một cuộc cách mạng. Tuy nhiên, nếu thích thì Cộng sản có thể giết người một cách bất thường, độc đoán, và thậm chí ngẫu nhiên (cải cách ruộng đất, Đắc Sơn, Dục Đức, Huế, Quảng Trị, An Lộc) để khủng bố gieo kinh hoàng vào từng tâm hồn, dù là chiến sĩ hay không. Ai sẽ là người kế tiếp?

Hình: VN Center Archive   486

Hình: Armond Noble, báo Time. Số vũ khí Tàu bị tịch thu, chưa từng đăng trên báo hay báo cáo trong năm 1966

Hình: VN Center Archive   485

Hình: Chính Phủ Hoa Kỳ, đám tang các thường dân bị VC sát hại tại Huế487

Những năm có những cuộc hành quân nhỏ cùng với các hành vi khủng bố luôn luôn bị tiếp theo bởi các cuộc hành quân lớn (1961, 1964, 1968, 1972) với sự tham dự của binh lính trang bị đầy đủ bằng đại pháo hạng nặng, mà luôn luôn bị thất bại, mãi cho đến cuộc kết thúc thành công vào năm 1975 với một lực lượng từ 17 tới 22 sư đoàn chính quy, sử dụng xe tăng hạng nặng của Liên Xô, pháo binh và quét sạch những người còn lại bằng cách im lặng thủ tiêu họ đi trong hai năm 1975-76. Hoàn toàn ngược lại , vốn là kết quả của biết bao nhiêu là kiềm chế, của các hình thức về sự tự kiểm soát và của các tính toán về chính trị, các đồng minh đã không bao giờ tiến hành một cuộc chiến tranh toàn diện, không bao giờ cố gắng để đánh bại các lực lượng cộng sản ở miền Bắc Việt Nam, Campuchia và Lào.

Cuộc đấu tranh chính trị không chỉ giới hạn qua hành vi của Việt Cộng trong nhân dân miền Nam Việt Nam. Nó bao gồm luôn cả “hoạt động ngay giữa các kẻ thù” (Địch Vận) , ngay trong toàn dân ở Việt Nam và ngay trong luôn cả người dân ngoại quốc. Trương Như Tãng, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Việt Cộng cho biết,

N tất cả các cán bộ chính trị đều phải học thuộc lòng, có tất cả là ba dòng  cách mạng trong chiến tranh nhân dân. Hai dòng trước là thành phần quốc tế theo chủ nghĩa xã hội ngày càng phát triển  và phong trào giải phóng vũ trang ngay trong nước này. Dòng thứ baphong trào tiến bộ ngay trong chính quyền  thực dân hay tân thực dân. 488

Tóm tắt lại thì Tãng cần những đồng minh chính trị để hỗ trợ chiến lược chiến tranh của y – ở các nước cộng sản, bọn Việt Cộng ở miền Nam Việt Nam, và ở phương Tây, – bọn cấp tiến trong phong trào phản chiến.

Theo chuyên gia về Việt Cộng là Douglas Pike 489 thì ví dụ tại Mỹ mà đã gần giống như với Đầu Tranh Chính trị chính là một loại chiến tranh vũ trang phối hợp với đấu tranh chính trị, đã là diễn hành, tẩy chay, ngồi lỳ, cầu nguyện, ngưng trả tiền thuê nhà, và cản trở giao thông. Đây là tất cả những kỹ thuật mà phong trào phản chiến sẽ sớm ăn cắp từ sự bất tuân về dân sự của phong trào đòi quyền dân sự, nhưng việc bất tuân về phản chiến của một số cá nhân và nhóm đã chuyển qua thành hỗn loạn, bạo loạn, chống cự, khũng bố và cách mạng.

Văn Tiến Dũng, Tham Mưu Trưởng quân đội Bắc Việt đã đưa ra các quan điểm chiến lược của y bằng cách chỉ trích những người – chỉ ủng hộ các hành động thuần túy về quân sự và kỹ thuật … và làm giảm tầm quan trọng của yếu tố chính trị, yếu tố tinh thần và quần chúng .  490 Y lập luận rằng một miền Bắc Việt Nam tương đối yếu sẽ đánh bại được Hoa Kỳ bằng cách căn cứ – liên tục trên nguyên tắc sử dụng một lực lượng yếu để đánh bại một thế lực mạnh mẽ hơn … Y mô tả sự yếu kém của Mỹ là do không có khả năng –  tự do phát triển sức mạnh của mình – bởi vì họ đã bị hạn chế khi bị cô lập về chính trị. Kinh nghiệm của Osama Ben Ladin với người Mỹ chỉ là những yếu điểm mà đã lộ rỏ sau khi biết bao nhiêu mục tiêu của Mỹ đã bị tấn công trong suốt thập niên chín mươi mà không có một phản ứng quân sự nào cả. Trung Quốc thì đã đang chú tâm vào – các chiến lược quân sự bất tương xứng tinh vi  491 nhằm đánh bại các lợi thế kỹ thuật của Mỹ – hàng không mẫu hạm, máy điện tóan và vệ tinh.

Một tiểu quốc – dư sức để đánh bại về quân sự chủ nghĩa đế quốc Mỹ. Các – cuộc tấn công về quân sự, chính trị và ngoại giao của chiến tranh nhân dân … đều được phối hợp … – 492  – Không hề lo ngại các cuộc tấn công của kẻ thù, chúng tôi đã tăng cường một cách đáng kể sự hỗ trợ của hậu phương lớn cho tiền phương lớn.  493 – Hậu phương lớn chính là phong trào phản chiến ở Mỹ.

Và, tất nhiên, cũng có sự hỗ trợ mà rất ít khi được đề cập đến của các nước Cộng sản anh em . Trong suốt cuộc chiến thì Nga và Trung Cộng luôn luôn điều khiển Hồ Chí Minh – bật đèn đỏ, rồi bật đèn xanh rồi lại bật đèn vàng . Hồ Chí Minh, như Mao 494 trước đó, đã từng là đảng viên  của Quốc tế cộng sản ở Moscow và làm việc như một công chức cần mẫn trong phong trào cộng sản quốc tế suốt ba thập niên (1912-1944). Là một tên âm mưu đúng nghĩa mà lại  dấu đi lý lịch thật là Nguyễn Sinh Cung để tránh bị coi như một kẻ mưu đồ theo đúng nghĩa của nó, thay vì là một nhà chính trị ái quốc, y đã dùng qua cho tới 23 bí danh khác nhau, ví dụ như Nguyễn Tất Thành, Vương, Lý Thụy, Nguyễn Ái Quốc, và cuối cùng là Hồ Chí Minh. Hồ trở thành một công dân Xô Viết nhập tịch với tên là Linov và được chỉ định làm việc tại  Lãnh sự quán Liên Xô dưới quyền Mikhail Borodin ở Quảng đông. 495 Chiếu theo lệnh của Quốc tế cộng sản do Liên Xô chỉ huy, trong tháng 2 năm 1930 Hồ Chí Minh đã tổ chức một cuộc họp ở Hồng Kông, Trung Quốc để củng cố lại hai đảng Cộng sản riêng biệt, đảng Cộng sản Đông Dương và đảng An Nam Cộng sản . Trong vòng một năm, Quốc tế cộng sản ra lệnh cho Hồ Chí Minh đổi tên thành Đảng Cộng sản Đông Dương. Các đảng cộng sản được thống nhất của Đông Dương đã là những tổ thuộc  Quốc tế cộng sản Comintern của Moscow . 496  Thật vậy, suốt trong thập niên 1930, với tư cách là một nhân viên của Moscow, Hồ đã tổ chức các đảng cộng sản Việt Nam, Lào, và Cam-pu-chia cũng như các đảng cộng sản Thái Lan, Miến Điện , Mã Lai và Indonesia. 497  Đặc biệt, các đảng cộng sản Cam-pu-chia, Pháp, và Thái Lan đã rất gắn bó với đảng Cộng sản Việt Nam. Bọn Cộng sản Việt đã cuối cùng kiểm soát các đảng Campuchia và Lào. Pol Pot – nổi ô nhục của cánh đồng chết , tên thật là Saloth Sar, đã từng hoạt động cho Hồ và Mao, có cho biết Đảng Cộng sản Đông Dương và đảng  kế nhiệm của nó là  KPRP (Đảng Cách mạng của nhân dân Khmer) đã được thành lập bởi người Việt Nam để chiếm lãnh thổ Cam-pu-chia và Lào.  Trong khi vẫn còn cần quân đội Hà Nội và các vũ khí hiện đại của Trung cộng (súng trường tự động, phóng lựu đạn, cối 82 ly), Pol Pot, cũng có tên là Saloth Sar, đã miễn cưỡng chấp nhận tình trạng của kẻ đàn em và thề trung thành với Cộng sản Hà Nội mãi cho đến khi y đạt được chiến thắng vào năm 1975. 498 Đảng Cộng sản tại Campuchia đã giấu tên mình bằng cách dùng tên – Tổ chức Tối Cao,  Angkar Loeu. 499

Stanley Karnow đã sai lầm gán tính chất chủ nghĩa dân tộc cho một tờ truyền đơn của năm 1930 nhằm mô tả các hoạt động cộng sản ở các tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh, mặc dù tên đảng cộng sản được in rỏ ràng trên đó. 500 Chỉ trong một Đại hội Đảng vào tháng 11 năm 1945 thì Đảng Cộng sản Đông Dương mới tuyên bố tự giải tán, để tạo ra một mặt trận có nhiều vẻ dân tộc hơn. Một thông tư sau đó của Việt-Minh đã giải thích, – chính sách của Đảng phải là chính sách mềm dẻo … nếu chúng ta giữ tên Đảng Cộng sản thì một số điền chủ, trí thức cấp tiến và các thành viên của các giáo phái sẽ không đi theo chúng ta. Thông tư cũng lưu ý rằng đảng Cộng sản Ba Lan, Hungary và Hàn Quốc đã thay đổi tên của họ để kết hợp các lực lượng cách mạng, quốc gia và dân chủ hầu chống lại chủ nghĩa đế quốc. 501 Cũng vậy, khi một cán bộ quá nhiệt tình đã treo một lá cờ đỏ lên thì y được lệnh phải kéo xuống ngay. Hai chữ Dân tộc chỉ là tên gọi mà thôi.

 Phong trào hòa bình Mỹ, từng tự tuyên bố là ủng hộ cho một chiến thắng cộng sản, đã chấp nhận dễ dàng câu chuyện là Đảng Cách mạng Nhân dân , PRP, Mặt trận Giải phóng Quốc gia, NLF, không bị Hà Nội kiểm soát, không là Cộng sản, và chắc chắn là không nên bị gọi Việt Cộng, 502  Nhiều phóng viên Mỹ, như Malcolm Browne, đã tin rằng các thành viên NLF không phải là cộng sản. 503 Vậy mà vào ngày 18 tháng 5 năm 1961 đài phát thanh tuyên bố là đảng Lao Động ở ngoài Bắc dìu dắt Mặt trận Giải phóng NLF:  – Quyết định … của Đại hội Lần Ba của Đảng Lao Động liên quan đến cuộc cách mạng đang thực hiện ở miền Nam Việt-Nam đã được thực hiện một cách đúng đắn bởi  … đảng, cho miền Nam Việt-Nam … Các tài liệu bị tịch thu khác thì cho thấy sự chỉ huy của đảng Lao Động đối với các mặt trận tiền phong của Mặt trận Giải phóng nhằm quy tụ nông dân, thiếu nữ và công nhân. 504 Bill Laurie nhận xét – Danh từ Chủ Nghĩa Dân tộc (đã) được sử dụng làm mồi, để lường gạt giống y như đã choàng một bộ áo quần và trang điểm cho … một ý thức hệ ngoại quốc, chủ nghĩa cộng sản.  505

Quá trình phục vụ trong suốt nhiều thập kỷ của Hồ cho phong trào cộng sản quốc tế, ngược với các mục tiêu dân tộc Việt Nam mà đã từng được thường lặp đi lặp lại, chính là để tìm cách chiếm toàn bộ Đông Dương chứ không phải chỉ là Việt Nam. Ý niệm đoàn kết dân tộc chỉ là một việc hoang tưởng nhưng cần thiết để biện minh cho sự cưởng bách thống nhất của nhiều quốc gia , vùng và dân tộc khác nhau. Cuối tháng 5 năm 1970, Chủ tịch Mao của Đảng Cộng sản Trung Quốc nói với Lê Duẩn, lãnh đạo đảng Việt Nam , – Đông Nam Á là một tổ ong vò vẻ. … Vài tay hòa bình nghĩ rằng gà trống thì khoái đá nhau. Nhưng sao có nhiều gà trống quá vậy? Bây giờ thì ngay cả gà mái cũng thích đá nhau.  506

Chỉ trong lần viết lại lịch sử sau này thì cuộc họp năm 1930 tại Hồng Kông mới đã được mãi mãi ghi nhớ như là một ngày lễ quốc gia cho một đất nước mà đã được đoàn kết lại với nhau chỉ bởi một đảng dân tộc duy nhất hầu dành lại sự thống nhất quốc gia có tính cách lịch sử của nó. Đó quả là một câu chuyện cổ tích. Giống như Winston Smith trong truyện 1984 của Orwell , bọn sử gia Cộng sản từ năm 1954 đã được lệnh phải tưởng tượng để viết lại lịch sử một cách lệch lạc của toàn khu vực cùng các dân tộc. 507 Bọn ăn tiền để viết sử này đã sáng chế ra một lịch sử mới, hầu mô tả một lịch sử 4.000 năm của một dân tộc duy nhất thuộc một quốc gia duy nhất mà đã luôn luôn phải đánh chống lại các cuộc xâm lăng của nước ngoài.

Sử gia Patricia Pelly viết rằng các nhà sử học Hà Nội đã được lệnh – Lịch Sử là cần thiết cho chiến tranh: nó là một vũ khí, nó làm sáng tỏ các qui luật tác chiến, và nó làm rõ ra các nguyên tắc cách mạng.  508 Từ đó, các câu chuyện kể của bọn tả phái Mỹ phần lớn chỉ là di sản không hề bị tra vấn của các gian dối kiểu Orwellian từ Hà Nội nói về lịch sử Việt Nam cũng như của chính chúng ta.

Trong năm 2008, nhiều biển quảng cáo khổng lồ đã được trưng bày để  kỷ niệm sự thành lập của cái đảng dân tộc này như là một sự kiện thiết yếu trong lịch sử của cuộc thống nhất của dân tộc Việt Nam.

Hình: Canfield, Viet I, Phía Đông Hà-nội, tháng 3, 2008

Ấy vậy suốt trong nhiều thập niên, Hồ Chí Minh đã phục vụ cho Đảng Cộng sản Quốc tế tại Pháp, Nga, Trung Quốc và Đông Dương trước khi y trở về vào năm 1944 để tự tuyên bố mình là lãnh đạo quốc gia của các người Việt đang bị phân hóa trong nhiều đảng phái và của vô số các nhóm thiểu số sinh sống riêng rẻ với nhau trong chiều dài lịch sử ở Bắc Bộ, An Nam và Cochin. Tại Hà Nội các danh từ Bắc Bộ và An Nam và Cochin – hòan toàn không được quyền nói ra.  509. Chúng có thể làm phân tâm để không nghỉ được tới cái huyền thoại hữu ích của một dân tộc Việt Nam thống nhất . Miền Bắc và miền Nam đã phát triển một cách riêng biệt với nhau trong vòng 400 năm qua (ngoại trừ từ 1802 đến 1868), 510 – Ý thức dân tộc (đã) bị sử dụng như một gian dối, như một con mồi, như một kiểu hóa trang trình diển cho … một ý thức hệ ngoại quốc, chủ nghĩa cộng sản.  511 Các tham vọng đúng theo với chủ nghĩa quốc tế cộng sản của Hồ Chí Minh đã được phô bày khắp  nơi. Cộng sản Nga và Trung Quốc đã gửi Chủ tịch của miền Bắc Việt Nam, Hồ Chí Minh, một tên ăn tiền phục vụ cho Cộng sản quốc tế, hàng tỷ đô la thiết bị quân sự và hàng trăn ngàn binh lính chuyên môn . Liên Xô thì cung cấp thiết bị cùng 1.000 binh sĩ để thiết lập một hệ thống phòng không toàn diện cho Hà Nội. Bắc Kinh thì cung cấp hỗ trợ 317.000 binh sĩ phụ trách về quân nhu quân vận ở miền Bắc. Bọn binh lính Trung Cộng đã gở rãnh tay cho bộ đội Bắc Việt để chúng đi tham dự các chiến dịch chính trị và quân sự tại Lào, Campuchia, và Nam Việt Nam. Lê Duẩn, Đệ Nhứt Bí thư của Đảng Cộng sản, sau đó có cho biết, – Cuộc cách mạng Việt Nam là nhằm thi hành nghĩa vụ quốc tế … dưới sự lãnh đạo của Liên Xô.  512 Arthur Herman mô tả Hồ Chí Minh một cách chính xác như là – một công cụ tình nguyện của cả hai,  Joseph Stalin và Mao Trạch Đông …  513  Không như bọn ‘peaceniks’ cả tin đã nghỉ, Hồ đã trưng trên bàn làm việc của y chân dung của Karl Marx và Vladimir Ilich Lenin chứ không phải của George Washington và Abraham Lincoln.

Hình: Canfield, Viet I, Mác, Lê-nin phía trên bàn giấy của Hồ, Hà-nội, tháng 3, 2008

Luôn luôn mãi mãi mang nợ với Liên Xô, xác ướp của Bác Hồ vẫn còn được chở từ lăng mộ tại Hà Nội đi Nga mỗi tháng 11 và tháng chạp 514 để bảo trì theo thông lệ bởi Valery Bykov và Yuri Denisov-Nikolsky. 515

Hình: Phơi bày Hồ Chí Minh tại Lăng ở Hà-nội. Vô danh.

Chiến lược Cộng sản về chiến tranh đã đánh giá cao chính trị. Từ ban đầu, bọn Việt – mà đã hiểu rỏ định lý của cuộc chiến tranh khởi loạn, “ rằng một cuộc nổi dậy không thể thành công nếu mà không có sự hỗ trợ của một phần nhỏ dân số trong quốc gia bị nhắm tới, và cũng cần sự ủng hộ thụ động của một phần lớn hơn trong dân số của cũng quốc gia đó .” 517  Trong trường hợp này, quốc gia bị nhắm tới không chỉ là miền Nam Việt Nam, mà cũng là Mỹ, nơi mà nhiều tên lãnh tụ Mỹ của phong trào phản chiến đã tích cực ủng hộ cuộc khởi loạn của cộng sản ở Việt Nam.

Bọn Việt đã tiến hành một cuộc chiến tranh tuyên truyền chống lại kẻ thù – luôn về quân sự và chống luôn nhân dân Nam Việt cùng Hoa Kỳ. Garnett “Bill” Bell và George J. Veith viết, “sứ mệnh trưng tập về quân sự (Binh vận) là … động lực … nhắm vào binh sĩ  trong quân đội địch … ngõ hầu làm mất tinh thần và gây rối loạn trong hàng ngũ địch …  518 (Binh vận) … cũng là một trong “ba mủi nhọn” để đánh bại đế quốc Mỹ … [và là ] một phần của cách thức Tướng Giáp dùng “phá tan địch.” 519 Và tuyên truyền phản chiến đã là một yếu tố thiết yếu trong nỗ lực chiến tranh của cộng sản Việt Nam.  520

Douglas Pike nói rằng địch vận chính là hành động chính trị trên trường quốc tế, đặc biệt trong số những người dân Mỹ … Để chiến đấu với Mỹ ngay trong sân nhà, không phải bằng súng đạn nhưng bằng cách khiến mọi nhận thức trở thành rối bòng bong  … 521 Mục tiêu chiến lược của địch vận là thuyết phục họ –  là việc chiến thắng tại Việt Nam  không thể nào xẩy ra được. Mục tiêu chiến thuật của nó đã là – triệt tiêu quyền lực  … ức chế việc toàn dụng các khả năng của Mỹ …  522 Các công bố láo khoét hay méo mó về các tội ác chiến tranh có hiệu quả trong việc làm thay đổi công luận và khiến các hoạt động quân sự bị hạn chế lại. Ngay lúc đầu, từ tháng 7 năm 1962, Hồ Chí Minh đã nói với  Bernard Fall: “Chúng tôi sẽ phải thu xếp để sử dụng dư luận thế giới về cuộc chiến bất công chống lại người dân miền Nam Việt Nam này”. 523 Sẽ có dư dã thời giờ. -Chúng tôi đã chận đứng được Pháp trong tám năm. Ít ra thì chúng tôi cũng sẽ có thể làm như vậy với Mỹ. Hoa kỳ không thích những cuộc chiến kéo dài và không ngã ngủ. Lần này thì sẽ là một cuộc chiến tranh lâu dài, và không ngã ngủ.” 524

Thượng Tá Bùi Tín của Quân đội Nhân Dân Việt Nam (PAVN), biên tập viên của báo Nhân dân của Quân đội , duy nhất đã hiểu rõ giá trị của phong trào phản chiến:

[Phong trào phản  chiến] đã rất thiết yếu cho chiến lược của chúng tôi. … Hậu cần của Mỹ dễ bị tấn công …. Những người này đã đại diện cho lương tâm của nước Mỹ. Lương tâm của Mỹ đã là một phần của khả năng chiến đấu của họ, và chúng tôi đã chuyển cái quyền lực này thành có lợi cho chúng tôi. Mỹ đã thua trận vì tính cách  dân chủ của mình; với  tình trạng bất đồng chính kiến biểu tình  phản đối, họ đã đánh mất khả năng huy động ý chí nhằm tiến tới  chiến thắng. Mỗi ngày, lãnh đạo của chúng tôi đã  lắng nghe những tin tức thế giới trên đài phát thanh lúc 9 giờ sáng nhằm theo dõi sự phát triển của phong trào phản chiến Mỹ. Việc có những người tới Hà Nội như Jane Fonda … đã cho chúng tôi tự tin rằng chúng ta nên cầm cự, không bỏ cuộc trước các thất bại trên trường525

 Ngày 23 tháng 9 năm 1963, Hà Nội đã triệu tập một hội nghị quốc tế cho đoàn viên nghiệp đoàn các ngành nghề để quảng cáo cho chính nghĩa của Hà Nội trong số người anh em và tiến bộ. 526 Tháng 12 năm 1963, Ủy ban Trung ương Đảng Lao Động Việt Nam, Đảng Cộng sản đang cầm quyền đã ban hành một quyết nghị: – Chúng ta đang sử dụng sức mạnh chính trị và đạo đức của chúng ta cùng với quân đội của chúng ta và sự yếu kém về vật chất để chống lại một kẻ thù yếu về chính trị và về mặt đạo đức nhưng mạnh về quân sự và vật chất.  Chiến tranh sẽ kéo dài, nhưng chúng ta phải nắm bắt các cơ hội để dành chiến thắng. 527

 Chiến lược gia quân sự Harold W. Rood đã viết, – Không có được chiến thắng trên các chiến trường ở Nam Việt, thì bù lại về phương diên chiến lược đã có một trận chiến phát động ở phương Tây. Các khuôn viên đại học, văn phòng báo chí, các hãng phim và truyền hình đã trở thành cái đấu trường chiến lược. … Các chính sách hòa bình ở phương Tây lại là các chính sách chiến tranh để cho cộng sản xâm chiếm Đông Dương.  528

Cuối cùng thì các cựu chiến binh Việt Namvà người dân Mỹ cũng sẽ hiểu rỏ hơn về việc đã để mất Đông Dương vô tay cộng sản. 82% cựu chiến binh mà đã từng tham dự những trận chiến lớn ở Việt Nam đều tin rằng họ đã thua trận chỉ vì sự thiếu cương quyết chính trị và gần 75% của công chúng (năm 1993) đã đồng ý vậy. 529 Nhưng điều này chỉ là một mô tả mà không phải là một phân tách hệ quả. Cuốn sách này hy vọng sẽ cho thấy rỏ ràng bằng cách nào ý chí chính trị đã bị tấn công một cách có hệ thống và bị làm suy yếu. Có lẽ, chúng ta sẽ có thể thắng được Chủ nghĩa phát xít Hồi và Trung Quốc, nếu Việt Nam được hiểu rõ hơn.

 ********

477 Harold W. Rood, Kingdoms of the Blind: How the Great Democracies Have Resumed the Follies That Nearly Cost Them their Life, St. Petersburg: Hailer xuất bản, 2005, 133. Nguyên thủy xuất bản năm 1980 bởiUniversity ofNorth Carolina. 

478 Hình ảnh và ghi chú về các người chống chiến tranh thời Pháp đã được ghi nhận cả tại Hoa Lo Prison Historic Vestige, ―The Hanoi Hilton tại Hà-nội và tại War Remnants Museum, ―War Crimes Museum, ở Saigon. Các hình của tác giả, chụp vào tháng 3 năm 2008, là thuộc bộ Viet I DSC_182-5.

 479 Carol Cohen McEldowney, (Eds. Suzanne Kelley McCormack, Elizabeth R. Mock), Hanoi Journal, 1967,Amherst:University ofMassachusetts Press, 2007, xxx. 

480 Bill Laurie nói với Mike Benge và nhiều người khác, l tháng 4, 2009.

481 Tác giả thấy là công trình về chiến lược của cộng sản viết bởi Doug Pike rất có giá trị . Các học giảkhác về Việt Năm như là Ed Moise coi thường Pike, căn cứ nơi những sự kiện sai lầm nhỏ, có tính cách gián tiếp mà chủ yếu không liên hệ gì tới việc phân tích của Pike về các căn nguyên chính của Việt cộng về tư tưởng và thực hành . Xem: Ed Moise, điểm sách của Pike‘s History of Vietnamese Communism, 1925-1976. Stanford: Hoover Institute, 1978, Tiều Sử Bản Thân của Moise: the Communists tại http://www.Clemson.edu/caah/history/faculty pages/EdMoise/comm.html.

482 Jung Chang và John Halliday, Mao: The Unknown Story,New York: Alfred A. Knopf, 2005. 

483 Nói với tác giả. Hãy đọc của Rood quyển Kingdoms of the Blind để hiểu rỏ hơn không những chỉ cho một viễn cảnh thực tế, mà cũng có thêm ý niệm về một nền văn minh xứng đáng để bảo vệ. 

 484 Báo cáo của Phái đoàn Mỹ về các vụ ám sát và bắt cóc, trong quyển của Stephen T. Hosmer, Viet Cong Repression and Its Implications for the Future, Santa Monica: The Rand Corporation, 1970 viện dẫn trong Jay Mallin, ―Terrorism as a Political Weapon, Air University Review, tháng 7 và 8, 1971.  

 485 http://www.vnafmamn.com/untoldpage/VCterror_DakSon1.jpg 

486 http://www.vnafmamn.com/untoldpage/VCterror_DakSon1.jpg 

487 Hue_Massacre_Internment.jpg 

 488 Trương Như Tảng; với Chanoff, David, và Đoàn Văn Toại. Vietcong Memoir: An Inside Account of The Vietnam War and Its Aftermath. Harcourt Brace Jovanovich, Nhà Xuất bản;San Diego. 1985, 203. Xem thêm : Dinh in Gettleman (ed.), 1985, 185.

489 Douglas Pike, Viet Cong: The Strategies and Tactics of the National Liberation Front, MIT Press, 1966 và Pike, Douglas. PAVN: People’s Army of Vietnam. Presidio Press,Novato,California. 1986. Tác giả hân hạnh gặp Doug Pike tại nơi lưu giữ văn khố, lúc đó là tại Berkeley, nơi mà , nếu được yêu cầu thì ông  sẽ dịch ra tờ Chứng Nhận, được đóng khung để trên bàn ông —một lệnh tử hình ông của Việt Cộng. Cũng bị nhận một Lệnh Tử Hình là Don Bordenkircher, người đã lột trần việc vu cáo về chuồng cọp.

490 Văn Tiến Dũng, Nhân Dân, 19 tháng chạp, 1964; Nhân Dân  5-6 tháng 8,1965; Học Tập tháng 2, 1966 tất cả đều viện dẫn trong CIA, FOIA, Hồ sơ số EO-1994-00030, North Vietnamese Army Chief of Staff Van Tien Dung on DRV Military Strategy.

491 Michael Pillsbury, China Debates the Future Security Environment,Washington,DC:NationalDefenseUniversity Press, 2000.  

492 Văn Tiến Dũng, Nhân Dân, 19 tháng chạp, 1964; Nhân Dân  5-6 tháng 8,1965; Học Tập tháng 2,  1966; và Học Tập tháng 4, 1967. Tất cả đều được viện dẫn trong CIA, FOIA, Hồ sơ số EO-1994-00030, ―North Vietnamese Army Chief of Staff Van Tien Dung on DRV Military Strategy.

493 Văn Tiến Dũng, Quân Đội Nhân Dân, tháng 6, 1967 viện dẫn trong CIA, FOIA, Hồ sơ số EO-1994-00030.

494 Jung Chang, Mao

495 Michael Benge, ―McNamara‘s Wall, Washington Inquirer, tháng 5 và 8, 1995.

496 Pelley, 196.

497 Michael Benge, ―McNamara‘s Wall,‖ Washington Inquirer, 8 tháng 5, 1995. 

498 Provotesat songkhep nei pak protiatyun padevoat Kampuchea— Một Lịch sử Sơ lược của KPRP —Đội Tiền Phong của Giai cấp lap động và tòan Dân Kampuchea,‘ Phnom Penh, 1984, 4, 7-9 viện dẫn trong Dmitry Mosyakov, ―The Khmer Rouge and Vietnamese Communists: A history of their relations as told in Soviet archives, http://www.wccpd.org/news/news69.html, 1; cũng trong Vostok (Orient), số 3, tháng 8, 2000.

499 Fact-index.com/c/ca/Cambodia_civil_war.html

500 Bill Laurie, Godzilla at Khe Sanh: Viet Nam’s Enduring Hallucinatory Illusions, bản thảo chưa in gởi cho tác giả vào ngày 26 tháng 8, 2009.

501 Bernard B. Fall, The Viet-Minh Regime: Government and Administration in the Democratic Republic of Vietnam,New York: Institute for Pacific Relations, 1956, 6,8. 

502 Ví dụ Mary McCarthy, The Seventeeth Degree: How It Went, Vietnam, Hanoi, Medina, Sons of the Morning, New York: Harcourt Brace, 1967, 1968, 1972, 1973, 1974,262; Xem nhiều tài liệu gốc của North Vietnamese and Central Office of South Vietnam, COSVN, trong Ray S. Cline gởi cho D. Gareth Porter, thư ngày 29 tháng 8, 1973 trong  ―Khai trình của D. Gareth Porter, tiểu ban Subcommittee to Investigate the Administration of the Internal Security Laws of the Committee on the Judiciary, Thượng viện Mỹ, Quốc hội Nhiệm kỳ 93, Khoá họp 1, 27 tháng 7, 1973, 27-8.

 503 Malcolm W. Browne, The New Face of War,Indianapolis: Bobbs-Merrill, 1965, 192.

504 Viện dẫn trong Bộ Quốc Phòng , A Threat to Peace: North Viet-Nam‘s Effort to Conquer South Vietnam, Phần I, 1961, 43, 45.

505 Bill Laurie nói với tác giả, 4 tháng 8, 2009.

506 Thảo luận giữa Mao Trạch Đông và Lê Duẫn 11 tháng 5, 1970, ―Cold War International History Project (CWIHP), http://www.CWIHP.org , theo sự cho phép của  Woodrow Wilson International Center for Scholars. 

507 Hơi hám ‘Orwellion’ đã không được nói tới và vụ viết lại lịch sử đã được mô tả rất là tế nhị như chỉ là nhu cầu sữa chửa cho đúng các chuyện thời thuộc địa trong Patricia M. Pelley, Postcolonial Vietnam: New Histories of the National Past,Durham: Duke University Press, 2002.

508 Pelley, 23.

509 Mary McCarthy, The Seventeeth Degree: How It Went, Vietnam, Hanoi, Medina, Sons of the Morning,New York: Harcourt Brace, 1967, 1968, 1972, 1973, 1974, 270. 

510 Võ M. Nghĩa, ―The War Viewed From All Sides, trong Võ M. Nghĩa, Đặng V. Chất V. , Hồ V. Hiền (các nhà xuất bản), War and Remembrance, SACEI Forum #6, Denver: Outskirts Press, Inc, 2009,33n46

511 Bill Laurie kể với tác giả,  4 tháng 8, 2009.

512 Đoàn Văn Toại, ―A Lament for Vietnam, New York Times Magazine, 29 tháng 3, 1981, 8 trong số 13.

513 Arthur Herman, ―A time of War: Was the Vietnam War ‗unwinnable, điểm sách  Vietnam của John Prados, Wall Street Journal,  7 tháng 4, 2009. http://online.wsj.com/article/SB123906068212395025.html 

514 http://www.virtualtourist.com/travel/Asia/Vietnam/Thu_Do_Ha_Noi/Hanoi-1481679/Things_To_Do-Hanoi-Ho_Chi_Minh_Mausoleum-BR-1.html

515 AFP, ―Việt-Nam vinh danh các tay Nga sô đã tẫm liệm cho Hồ Chí Minh, 29 tháng 5, 2009. 

516 withfriendship.com/user/tuyen/Ho-Chi-Minh.php.

517 Garnett “Bill” Bell và George J. Veith, ―POWs and Politics: How Much Does Hanoi Really Know, Center for the Study of the Vietnam Conflict Symposium, “After the Cold War: Reassessing Vietnam,”TexasTechUniversity, 19 tháng 4, 1996. 

518 Garnett “Bill” Bell và George J. Veith, ―POWs and Politics: How Much does Hanoi Really Know, Center for the Study of the Vietnam Conflict Symposium, “After the Cold War: Reassessing Vietnam,”TexasTechUniversity, 19 tháng 4, 1996.

519  Bell và Veith

520  Bell và Veith

 521 Douglas Pike, PAVN: People‘s Army of Vietnam, Presidio Press 1986, 236-245: cũng vậy với Rothrock, Divided We Fall 5.

522 Douglas Pike, PAVN: People‘s Army of Vietnam, Presidio Press 1986, 239; cũng vậy với Rothrock, Divided We Fall, 5.

523 Bernard Fall, (xuất bản) Ho…, 322.

524  Tạp chí TIME , 16 thánbg 7, 1965.

525 Wall Street Journal phỏng vấn Bùi Tín được viện dẫn cùng bởi Bell và Veith với  Arnaud de Borchgrave, Thứ hai, 19 tháng 4, 2004, Newsmax

526 Hình và chú giải được ghi nhớ trong Tàn Tích Chiến Tranh, cũng là Tội Ác Chiến Tranh, Bảo tàng tại Sài-gòn. Bộ hình của tác giả Viet I DSC_194, Viet II DSC_373, 374.

527 Quyết nghị kể trong ―Secret Papers Reveal Hanoi Escalation Plan, Los Angeles Times, 30 tháng 6, 1971, 16  viện dẫn trong  Harold W. Rood, Kingdoms of the Blind: How the Great Democracies Have Resumed the Follies That Nearly Cost Them their Life, St. Petersburg: Hailer xuất bản, 2005, 241-42N38. Nguyên thủy doUniversity ofNorth Carolina, 1980.

528 Harold W. Rood, Kingdoms of the Blind: How the Great Democracies Have Resumed the Follies That Nearly Cost Them their Life, St. Petersburg: Hailer xuất bản, 2005, 243-244.

529 Thống kê về Cuộc Chiến Việt nam (Vietnam War Statistics) http://www.mrfa.org/vnstats.htm 

********

 

 

 

Một phản hồi to “Roger Canfield’s Americong #3”

Trackbacks/Pingbacks

  1. Giới thiệu tác phẩm AMERICONG (MỸ-CỘNG) – Lê Bá Hùng | Ngoclinhvugia's Blog - 05/01/2016

    […] Roger Canfield’s Americong #3 […]

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: