Roger Canfield’s Americong #115

image002

Comrades in Arms

How the Americong Won the War in Vietnam

Against the Common Enemy— America

Copyright Roger Canfield, Ph.D.

1986-2012

No commercial transaction allowed except that approved by the author, copyright holder.

Obtain a prepublication release of a CD-R in Microsoft Word in ENGLISH at a discounted price of $15 from Roger Canfield Rogercan@pacbell.net at 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 or at http://americong.com.

Completely SEARCHABLE for any name, date, place or event of the War and its protesters.   

Cover: Design Stephen Sherman. Photos: Roger Canfield, March 2008. TOP: War protest Hawaii, February 1966 displayed at War Remnants (Crimes) Museum, Saigon. Bottom: Praetorian Guard

Các đồng chí cùng chiến tuyến

Làm thế nào MỹCộng thắng cuộc chiến Việt Nam

Chống kẻ Thù Chung – Mỹ

Giữ bản quyền Roger Canfield, Tiến Sĩ

1986-2012

Không được sử dụng vào mục đích thương mại nếu không có sự đồng ý của Tác giả, người giữ bản quyền.

Có thể mua một tiền bản dưới dạng CD-R Microsoft Word bằng Anh ngữ với giá đặc biệt US$15 ngay từ tác giả Roger Canfield  Rogercan@pacbell.net tại 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 hay tại  http://americong.com.

Hoàn toàn có thể TRA CỨU hoặc bằng tên, bằng ngày tháng hay biến cố liên quan đến cuộc Chiến cùng cả luôn bọn tham dự biểu tình .

******************************************************

* Tác giả giữ bản quyền © Roger Canfield 1986-2012

  • Lê Bá Hùng chuyển ngữ  (với sự chấp thuận của Tác giả)

*****

Chương 115

Tháng 6 Năm 1971 – Tài Liệu Ngũ-giác-đài

 

 Nếu tòa án không bỏ bớt cách lý luận theo giáo điều của mình và không có một chút khôn ngoan hơn về thực tế thì tòa án sẽ khiến hiến pháp về Các Quyền trở thành một thỏa hiệp tự sát mà thôi.

 Thẫm phán Robert H. Jackson, vụ Terminiello chống Chicago

 

Nguồn Gốc Chính Trị và Mục Đích của Pentagon Papers (Hồ Sơ Ngũ-giác-đài)

Số ngày 13 tháng 6 năm 1971 của New York Times đã cho đăng nhiều đoạn được chọn lựa trước – 9 ½ phần trăm của 7.000 trang – của phúc trình về chiến tranh Việt Nam mà Robert McNamara đã ra lệnh thực hiện và mãi mãi sau này đã vẫn được gọi là Pentagon Papers (Hồ Sơ Ngũ-giác-đài).

Vào năm 1967, Robert McNamara, Bộ trưởng Quốc phòng đã có yêu cầu một nhóm nhỏ gồm sáu công chức làm việc bán thời gian trả lời 100 câu hỏi về chiến tranh mà trong đó chỉ có vài chục câu là có liên hệ về lịch sử. 3960  Dự án sáu tháng này cuối cùng đã trở thành một công trình với một nhóm đặc nhiệm lớn gồm 36 phân tích gia, phần đông là nhân viên dân sự tại Ngũ-giác-đài, mà nói chung là đã không hề bao giờ hỏi đến quan điểm của Toà Bạch Ốc, Bộ Ngoại giao hay CIA, để viết một lịch sử về cuộc chiến tranh Việt Nam với mục đích ráng tìm ra những sai lầm đã có trong Ngũ-giác-đài. Clark Clifford, người thay thế McNamara sau đó đã nhìn thấy rõ là sẽ không lợi ích gì mà chỉ là có tiềm năng mang lại thảm họa mà thôi 3961 nên đã ra lệnh chấm dứt dự án.

Tâm trạng bi quan của McNamara, Clifford và đa số các giám sát viên mà chủ yếu đều là dân sự cùng các người soạn thảo, tức là Clark Clifford, John McNaughton, Morton Halperin, Leslie Gelb, Mel Gurtov, Paul Warnke – đều lộ rỏ trong suốt toàn bản phúc trình cuối đã được hoàn thành.

Nghiên cứu này đã chọn để tìm hiểu về việc Mỹ yểm trợ ra sao cho Pháp chống lại bọn cộng sản trong Cuộc Chiến tranh Lạnh nhưng lại bỏ qua mong muốn ban đầu của Mỹ, chẳng hạn vụ Edward Lansdale, như muốn người Pháp phải trao trả độc lập lại cho các thuộc địa của họ ở Đông Dương sau sự thất trận của Nhật Bản. Khi bọn Cộng sản Bắc Việt cố gắng để ép buộc sự thống nhất của ba miền riêng biệt của Việt Nam, 3962 tất cả các tổng thống Mỹ đều đã ủng hộ phải chận lại cuộc xâm lăng của cộng sản, một hiểm họa trên toàn thế giới trong thời Chiến tranh Lạnh.

Hầu hết tài liệu Pentagon Papers, tuy là thuộc loại biên bản ghi nhớ nội bộ của công chức thì thực sự đã không bao giờ đến được các chỉ huy cấp cao về chính sách để được chuẩn chấp hay đồng thuận. Một trong số ít các sĩ quan quân nhân chuyên nghiệp có tham gia là Đại tá William R. Simons thì đã có rất ít khã năng để nghiên cứu được các tài liệu của Tham Mưu Liên Quân và hoàn toàn không có thể tham khảo được tài liệu của Hội đồng An ninh Quốc gia của Tổng thống. Simons đã không có thẫm quyền để truy tìm các tin cực mật mà Cơ quan An ninh Quốc gia đã chận kiểm được qua những liên lạc truyền tin nội bộ của Bắc Việt suốt trong vụ Vịnh Bắc Bộ. 3963 Sau cùng, số lượng khổng lồ về tài liệu đã đưa đến cơ hội cho các phê bình gia về chiến tranh và giới báo chí khã năng chọn theo ngẫu hứng và chỉ chọn những tài liệu đúng theo với mưu đồ phản chiến của chúng mà thôi. 3964

Tài liệu Pentagon Papers phần lớn không là những tài liệu đến ngay từ Ngũ-giác-đài. Cả luôn phần lớn các tài liệu, các người soạn chúng hay cả luôn nhân viên tham mưu đều đã không từ hay không có làm việc cho Ngũ-giác-đài hay đã không từng lấy tin từ những nguồn tin quân sự hay là những tác giả quân nhân.

Các văn kiện quân sự thì trong thực tế đa số là từ ​​Office of the Secretary of Defense, International Security Affairs (Văn phòng Bộ trưởng Quốc phòng, An ninh Quốc tế Vụ) – cái đám con nít thần đồng dân sự (civilian whiz kids) của McNamara – một bọn rỏ ràng là không hề dính líu gì tới quân sự. Chính chúng mới đã là những tên được giao nhiệm vụ để tự giải thích những thất bại trong quá khứ về chiến lược quân sự và phương pháp phân tích. Anh em trong bọn phân tích gia của chúng cũng chỉ là đám CIA mà từng đã ra mắt trình diện khá mỹ mãn chỉ toàn những  tài liệu tích cực về CIA mà thôi. 3965

Đúng là một trò đùa khi ta đã có thể đổ lỗi cho Tổng thống Kennedy và Johnson về loại khuyến cáo sai lầm của bọn phân tích gia dân sự, thiếu kinh nghiệm trong cả nghệ thuật chính trị lẫn quân sự mà đã cả gan tự đưa ra cống hiến quan điểm cho các Vị Tư Lệnh Tối Cao và các tư lệnh quân sự của quốc gia.

Lập trường của đám trẻ thần đồng đã là chủ thuyết bất phân thắng bại – chiến tranh thì phải hạn chế, chiến tranh mà không cần chiến lược, tín hiệu thì được đưa ra mà không cần có áp lực không kích đi kèm, chiến tranh mà không cần có một lực lượng đủ để đè bẹp địch – đều đã là tự bi quan hóa về khã năng của một sự thành công quân sự. Trong canh bài đám trẻ thần đồng đang chơi thì chiến thắng không hề có mặt. Chiến thắng đã không thể là một lựa chọn được. Hòa bình bây giờ thì sẽ không bao giờ có chiến thắng. Kẻ thù Cộng sản đã từng bị đánh bại từ trận này qua trận khác nhưng đã không bao giờ bị dứt điểm. Trong thế giới hôm nay, ta cũng thấy được điều này trong việc thiết kế máy tính mà chỉ dựa trên các dữ liệu hiếm hoi hay không có thật. Đó toàn chỉ là giả định rằng ta sẽ có thể tạo ra được cái gì đó chỉ từ hư không mà thôi.

Địch đã được luôn luôn cho phép để có thể trở lại đánh một trận nữa vào lúc và tại nơi cùng với chiến thuật của chúng đã định trước rồi. Có thể đã có chút ánh sáng ở cuối đường hầm, nhưng đường hầm chỉ đơn giản không có chấm dứt, không có lối ra. Không thể có được chiến lược quân sự nào khác hơn là phải tránh thất trận. Sự kết thúc chỉ là một nền hòa bình đê tiện được khoác lên một chiếc mặt nạ mỏng manh gọi là danh dự.

Cho đến năm 1968 thì tâm trạng bi quan đã bao trùm khắp nơi tại Ngũ-giác-đài và báo cáo McNamara-Clifford đã cho thấy rỏ điều này.

Đám trẻ thần đồng đã luôn luôn nghỉ là những người từng lạc quan, chủ yếu là các quân nhân và các sĩ quan chắc chắn đều đã là những tên dối trá và điên khùng. Như Walter Cronkite đã sẽ nói, “Và đó là như vậy”,  trong phần lớn lịch sử của cuộc chiến tranh Việt Nam, những người lạc quan thì chắc chắn đều là những tên nói láo. Chiến tranh, dĩ nhiên luôn luôn bê bối và khủng khiếp, đúng ra chỉ nên để các quân nhân giải quyết mà thôi.

Bọn Việt Cộng khi tiến hành cuộc chiến tranh tâm lý để lợi dụng cả cảm xúc lạc quan và luôn cả bi quan, đã thắng cuộc chiến chính trị về ý chí, đã tước bỏ được vũ khí của đối phương và kết thúc cuộc chiến theo kiểu xưa với chỉ hỏa lực vượt trội.

Tài liệu Pentagon Papers, được lựa chọn và phân tích bởi đám trẻ thần đồng, đã là tuyên ngôn của một kẻ thua cuộc mà lại đi đổ lỗi cho người khác những thất bại của chính mình. Robert Elegant cũng đã từng cáo buộc một số phóng viên làm đúng như vậy – là những lời phần nào cũng là xin lỗi vì đã không chịu tường thuật  về chính sách khủng bố của cộng sản, nhưng lại gia tăng nỗ lực để đổ lỗi cho những người khác – các vị Tổng Thống và các vị Tướng Lãnh.     

Bộ Sậu Chụp Bản Sao của Daniel Ellesberg

Trong vụ này, Công ty Rand đã là một thành viên phụ trách về phân tích trong cái dự án nghiên cứu bí mật này về lịch sử của cuộc chiến Việt Nam. Daniel Ellsberg thì lại làm việc tại Công ty Rand gần Venice ở Santa Monica, nơi 47 bộ tài liệu nghiên cứu của Ủy ban McNamara đang được lưu trữ.

Ellsberg đúng ra là một người và một nhân viên không tốt. Y làm ít, viết ít và gần như là không làm được gì có giá trị. 3966 Không ai tin y cả. Y đã nói láo về những đóng góp của y cho việc nghiên cứu của Ngũ-giác-đài và về quyền được truy cập đặc biệt của y cho toàn bộ cuộc nghiên cứu này. Sau đó, y đã thừa nhận rằng y đã bị bệnh tâm thần đúng như các đồng nghiệp ở RAND đã nhận thấy được trước đó. 3967

Vào đầu thu năm 1969 thì Ellsberg đã chụp lấy bản sao cho mình, trước khi đưa  một bản sao khác cho chủ nhân của mình là Công ty Rand. Với sự giúp đở của Vũ Văn Thái, một cựu Đại sứ Nam Việt tại Mỹ theo một hợp đồng ký kết với Rand Corporation, 3968 y đã bắt đầu cung cấp những bản sao khác cho Institute for Policy Studies (Viện Nghiên cứu Chính sách) và có lẽ cho nhiều người khác. Phụ giúp trong việc sao chụp rất nhiều bộ tài liệu này thì đã có Lynda Sinay, tay thiên cộng Anthony Russo và Vũ Văn Thái. Một số người đã cho là Ellsberg, thông qua Vũ Văn Thái, cũng đã gửi những bản sao đến cho Hà Nội và tòa Đại sứ Liên Xô tại Washington. 3969

Vũ Văn Thái, một kỹ sư được đào tạo tại Pháp, đã kết hôn với một cô gái Pháp, từng làm cố vấn cho Hồ Chí Minh và Mặt trận Thống nhất Việt Minh. Nhân một cuộc thanh trừng trong Đảng Cộng sản, cha của Vũ Văn Thái bị giết chết. Thái di cư xuống miền Nam vào năm 1954 để làm cố vấn về kinh tế cho Ngô Đình Diệm, rồi quay qua gọi là Diệm là một “nhà độc tài” nên bị đẩy đi làm việc tại Liên Hợp Quốc vào năm 1960, rồi sau đó y làm theo hợp đồng của USAID cho Togo, đã từng viết những bài phân tích về nền kinh tế Mác-xít trong thế giới đang phát triển, 3970 lại trở thành Đại sứ tại Hoa Kỳ dưới thời Nguyễn Cao Kỳ vào tháng Giêng năm 1966. Thái đã nghĩ là chế độ Kỳ quả “chân thành về chương trình cách mạng xã hội”. 3971

Vũ Văn Thái cũng đã từng là một người được “Albert” Phạm Ngọc Thảo đở đầu, rất có thể đã là điệp viên bí mật hàng đầu của Hà Nội trong Chính phủ miền Nam Việt Nam. Học giả chuyên gia về Việt Cộng là Douglas Pike có nói về Phạm Ngọc Thảo như sau, “Dù ông ta đã không bao giờ bị phát giác là gián điệp Việt Cộng, các tường trình về sau thời chiến tranh từ Hà Nội đã cho biết là ông đã được thăng chức đại tá trong Quân đội nhân dân Việt Nam dù đã chết và đã được chôn trong nghĩa trang Anh hùng tại Gò Vấp ở ngoại ô Sài Gòn”. 3972

Hilarie Du Berrier, một nhà báo Pháp lai Mỹ và nhiều người khác đã tin là không chỉ có Phạm Ngọc Thảo, mà luôn tay y đở đầu là Vũ Văn Thái, đều không có chút nghi ngờ gì, đã là những gián điệp của Hà Nội. Việc tên Thái đã giúp đánh cắp và phân phối tài liệu Pentagon Papers chắc chắn đã mang lại lợi ích cho việc tuyên truyền của Hà Nội là chiến tranh quả bất hợp pháp, vô đạo đức và vô phương chiến thắng được.

Phân Phối Khắp Nơi Các Bản Sao của Tài Liệu Pentagon Papers

Theo lời Daniel Ellsberg thì y đã quyết định công bố tài liệu Pentagon Papers vào mùa thu năm 1970 sau một trận ‘football’ giữa Yale với Harvard. 3973 Vào ngày 1 tháng 9 năm 1970 thì John Bross đề nghị Giám đốc CIA rút lại giấy chứng nhận về an ninh của Ellsberg. 3974 Quyết định Ellsberg để phổ biến tài liệu đã xẩy ra vào mùa thu năm 1970, tất nhiên là một năm sau khi Ellsberg đã bí mật sao chép tài liệu này và bắt đầu đi phân phối khắp nơi các bản sao. Mãi thêm chín tháng sau thì các phần đầu tiên của tài liệu Pentagon Papers mới đã được công bố trên số ngày 13 tháng 6 năm 1971 của tờ New York Times.

Chín tháng trước khi tài liệu bị công bố, vào tháng 9 năm 1970, Viện Institute for Policy Studies (Viện Nghiên cứu Chính sách) thân Liên Xô, sau khi đã có trong tay tài liệu cả năm rồi, bèn mở cuộc họp báo, “Chiến lược của Mỹ ở Châu Á”, căn cứ vào bộ tài liệu bị đánh cắp mà vẫn chưa phát hành là Pentagon Papers. Tới tháng 3 năm 1971 thì Neil Sheehan của tờ New York Times mới bắt đầu nhận được những đoạn trong tài liệu Pentagon Papers từ Ellsberg. 3975

Phản Ứng Của Tổng Thống Nixon Đối Với Vụ Tài Liệu Pentagon Papers, 13 Tháng 6 Năm 1971

Vì hãy còn yêu đời với đám cưới của con gái Tricia vào ngày hôm trước và với số lượng tử trận của Mỹ ở Việt Nam tiếp tục giảm sút, phản ứng ban đầu của Tổng thống Nixon trong những ngày đầu sau khi tờ New York Times công bố vào ngày 13 tháng 6, đã chỉ có tính cách thăm dò ​​và thận trọng. Trong khi ông rất ghét đám theo khuynh hướng tự do tại tờ Times, đặc biệt là Neil Sheehan mà Nixon đã từng gọi là “thằng chó đẻ” trong cuộc chiến tranh Việt Nam, Nixon đã quan tâm nhiều hơn về thiệt hại khã dỉ có thể có đối với an ninh của quốc gia hơn là về bọn thù địch trong giới báo chí của ông.

Nếu Quả Đã Có Ai Phản Quốc, Thì Đó là Ai?

Theo các băng thu đương thời, Nixon đã nói với Kissinger, “quả thật là vô ý thức khi họ tiết lộ nó”. 3976 Đó đúng là tội phản quốc. “Đây là hành động phản quốc của những tên khốn nạn khi tiết lộ nó ra”  3977 và “Đúng là phản quốc khi đưa ra công khai thứ này (ngưng nói) … [nó] đã có lợi cho kẻ thù.” 3978 Nixon đã nói với Haldeman, “đây là giúp tay cho kẻ thù … “, cũng như Alger Hiss đã từng làm, “việc [phổ biến công khai] cung cấp tài liệu cho địch”. 3979

Nhiều người khác cũng đã chia sẻ quan điểm của Nixon. Cựu Tổng thống Lyndon Johnson gọi việc tiết lộ này là “gần như phản quốc”. Tướng Hyman và Tướng Lemnitzer, Chủ tịch Các Tham mưu trưởng Liên quân lúc đầu cuộc chiến và sau thành Tư lệnh tối cao của NATO, đều cùng tố cáo đó như là “một hành vi phản quốc”. Đa số các đồng nghiệp của Ellsberg đều cho y là kẻ phản quốc, kể luôn cả người đã từng đở đầu y là Albert Wohlstetter và cả Gus Shubert mà đã tuyên bố là hầu hết nhân viên của Rand đều cho Ellsberg là một “kẻ phản quốc đáng tởm”. 3980

Khi bị hỏi dồn về có quyết định truy tố tờ New York Times hay không, Nixon đã nói với John Ehrlichman, “Trời ơi, tôi đâu muốn truy tố tờ Times. Quan điểm của tôi chỉ là khởi tố bọn chết tiệt mà đã cung cấp tài liệu cho họ thôi”. 3981 Dù sao thì tờ Times cũng đã là một thù địch mà không ai mong đợi là sẽ làm gì khác hơn  cả. Nixon cũng đã từng tiết lộ tài liệu cho báo chí trong cuộc tranh đấu đầy gian nan của riêng mình hầu chống lại một tên mà đã được thưởng huy chương Soviet Order of the Red Star của Liên Xô là Alger Hiss và rất nhiều bạn bè của y. 3982

Vào ngày đầu tiên thì Alexander Haig và Henry Kissinger đã thuyết phục được Nixon là việc lộ tin này quả thật là kinh khủng, tuy là về phương diện chính trị, nó chỉ khiến các chính phủ Kennedy và Johnson mất mặt mà thôi. Alexander Haig đã nói với Nixon là việc xuất bản này đã “vi phạm nghiêm trọng về an ninh … với một tầm mức quan trọng lớn nhất cho tới giờ” 3983 và Kissinger thì lại nói, “Đúng là phản quốc, không có gì phải nghi ngờ gì nữa cả –  nó có thể bị truy tố. Tôi đoan chắc là nó đã vi phạm đủ mọi luật về an ninh … Đây không phải là một vụ lộ tin lẻ loi … đây là tất cả những gì mà Bộ Quốc phòng [không rõ – ‘đã có’]”. 3984

Vào ngày đầu tiên, Nixon cũng bắt đầu nhận ra được tầm quan trọng của việc lộ tin này trong diển tiến của cuộc chiến. Kissinger đã nói, hiệu quả đã “cực kỳ to lớn nhằm chống lại chiến tranh” 3985 “nó chỉ cho thấy sự sa sút thêm về quyết tâm” 3986 và “nó làm ta suy yếu trước Hà Nội, bởi vì nó cho thấy sự băng hoại về đạo đức của chúng ta đã trầm trọng đến là mức nào”. Nixon bèn trả lời, “Lạy Chúa tôi”. 3987  Kissinger liền nhanh chóng cố gắng trấn an Nixon là Bắc Việt dư biết Nixon là một người cương quyết và không mất tinh thần.

H.R. Haldeman lập tức đã nhìn thấy được những tác động lâu dài sẽ có của tài liệu Pentagon papers. Tài liệu đã đưa “chiến tranh trở lại vào [không rõ] mức cao độ về căng thẳng …”. Nixon bèn ngắt lời nhưng Haldeman vẫn cứ tiếp tục:

Tài liệu đã không thực sự làm tổn thương chúng ta nhiều về chính trị, chính những người khác mới bị vậy, nhưng điều mà nó thực sự làm tổn thương, và đây là điều mà người trí thức – và [cho dù] động cơ của tờ Times có là gì đi nữa [,] nhưng nó đã làm tổn thương ngay cho chính quyền … Rumsfeld đã nhấn mạnh điểm này lúc sáng nay –  nhưng từ lối lập luận lượm thượm này, một điều đã rất rõ ràng … ta không thể tin chính phủ, ta không thể tin những gì họ nói: ta không thể dựa vào cách phán đoán của họ … Điều này cho thấy là người ta đã vẫn thi hành những gì mà Tổng thống muốn cho dù nó sai lầm, và tổng thống thì có thể sai lầm”.3988

Bọn Nghi Phạm

Nixon đã muốn tìm ra để truy tố kẻ đã tiết lộ tài liệu và nói việc đầu tiên thì ông sẽ “sa thải tên chóp bu” 3989 chịu trách nhiệm tại Ngũ-giác-đài. 3990  Nixon nói với Kissinger, “phải dọn dẹp nhà cửa … phải triệt để trừng trị kẻ đã làm việc này –  đúng thật là kinh khủng”.  3991 Nixon và Kissinger đều cùng than vãn là không thể tin tưởng vào cái “bộ máy quan liêu” được.

Trong các cuộc thảo luận về những tên nào khã dỉ đã làm điều này thì thường quay về những tên như Clark Clifford, Morton Halperin, Leslie Gelb và cuối cùng là Dan Ellsberg. Đã có viên cựu Bộ trưởng Quốc phòng, Clark Clifford và bọn “peaceniks ở đó” trong Ngủ-giác-đài. 3992 Clifford thì vừa mới đọc xong bản nghiên cứu của McNamara và đã trở nên tích cực phản chiến đến mức đã làm cựu Tổng thống Johnson phải tức giận. Nixon đã thảo luận với Halderman về Sam (sic, Leslie) Gelb mà nay làm tại Viện Brookings và Morton Halperin mà đã có được những hồ sơ tối mật nhất của Ngủ-giác-đài. Và cũng có Tony Lake. Các nghi phạm đều là phản chiến và gần đây đã hay đang trong làm việc cho chính phủ liên bang ở những chức vụ cao cấp nhất. 3993

Trước đó một năm, Tom Huston đã từng cảnh cáo là viện Brookings đang có quá nhiều là tài liệu của Ngủ-giác-đài. Ông đã đề nghị chính phủ phải lấy lại các tài liệu này từ Viện Brookings. BNhưng không ai đã làm điều này.

Trong những ngày đầu tháng 6 năm 1971, Nixon đã chắc chắn biết được các thủ phạm. Nixon chỉ thị cho Haldeman để “công bố câu chuyện về tên Gelb” và “điều tra cho xong ” Viện Brookings nơi mà Gelb và Halperin đang làm việc  – bằng cách nhờ trung gian các bạn bè của Nixon trong giới báo chí và Quốc hội. 3994

Trong một cuộc trò chuyện tay ba giữa Nixon, Mitchell và Kissinger, ta thấy là Walt Rostow đã tin là trong số những người có quyền tham khảo các bản sao Pentagon Papers thì đã có “một người đàn ông tên là Ellsberg, một người thiên tả mà nay đang làm với Công ty Rand”. 3995 CIA đã được giao nhiệm vụ để thu hồi lại các tài liệu từ Viện Rand chớ không phải là Viện Brookings. Trong thực tế thì Viện Brookings mới đã có nhiều tài liệu mật hơn là Viện Rand dưới quyền của Halperin, một cựu phụ tá của ngay chính Kissinger.

An Ninh Quốc Gia và Tài Liệu Pentagon Papers

CIA bèn tiến hành một cuộc đánh giá thiệt hại của việc tiết lộ tài liệu Pentagon Papers. Mặc dù Bộ trưởng Quốc phòng Laird nghĩ khác, cả Tổng Thống và CIA đều phản đối việc công bố toàn bộ các phần hay thậm chí cho dù sau khi đã kiểm duyệt tài liệu Pentagon Papers. 3996

Việc công bố và xuất bản tài liệu Pentagon Papers đã sẽ gây tổn hại cho an ninh quốc gia. Nixon nói với một nhóm liên cơ quan mà đã được giao nhiệm vụ xem xét lại chính sách phân loại là ông muốn thu hồi lại tất cả các giấy phép về an ninh và thu hồi lại mọi tài liệu mật từ Đại học Harvard, Brookings, Rand, Cal Tech và Regents của Đại học California. 3997 Bộ Quốc phòng bèn biệt phái một toán an ninh đến tổng hành dinh của Rand ở Santa Monica và John Ehrlichman của Tòa Bạch Ốc đã thuê một cựu nhân viên CIA, Howard Hunt, để làm nhà tư vấn về vấn đề bảo mật. 3998

Cả Tối cao Pháp Viện Hoa Kỳ, cũng như bọn nhà báo đạo chích, cũng như lịch sử đã chịu tin Richard Nixon. Nixon và các công chức tại các cơ quan đầu não đều lo sợ sẽ đánh mất: các thọng điệp đã được mã hóa, các kế hoạch đối phó về chiến tranh, các điềm chỉ viên / điệp viên và vấn đề hợp tác với ngoại quốc. 3999 Quả thật là rỏ ràng không đúng đáng nếu ta tuyên bố là đã không hề có bí mật quan trọng bị tiết lộ trong việc công bố toàn bộ hay chỉ hàng ngàn trang tài liệu mật này.

David Rudenstine, tác giả của The Day the Presses Stopped (Những ngày các Máy in đều Ngưng Chạy) mà đã nghiên cứu các tài liệu lịch sử về các vụ án liên hệ đến tài liệu Pentagon Papers, đã kết luận là tài liệu này quả thật chứa đựng những bí mật thực sự và Nixon cùng Kissinger đều đã rất thành thật khi tin là an ninh quốc gia sẽ bị đe dọa nếu nó được xuất bản để được phổ biến. 4000 Về phương diện chính trị, lúc đầu Nixon đã không hề quan tâm. Các tài liệu lịch sử này rồi thì sẽ chỉ có thể gây rắc rối cho các người tiền nhiệm thuộc đảng Dân chủ của ông – Tổng thống Kennedy và Johnson – chớ không hề cho Nixon. Henry Kissinger thì nhấn mạnh là việc công bố rồi sẽ cản trở cuộc đàm phán bí mật mà có liên quan đến các nước thứ ba mà đã tỏ ý không muốn bị công khai hóa ra.

Những thiệt hại khác có thể sẽ là không lường được. Cách hành văn, các tài liệu mật sẽ cho phép Liên Xô có thể giải mã tất cả các loại thông điệp mật khác của suốt những ngày tháng năm mà tài liệu Pentagon Papers đã có dính líu tới. Cơ quan An ninh Quốc gia đã nhấn mạnh là khi cho phép tình báo đối phương khã năng so sánh các văn bản tiếng Anh có vẻ bình thường nhưng thật sự đã bị mã hóa của Mỹ đề ra trong tài liệu Pentagon Papers với văn bản mật mã đã từng bị chặn được sẽ cho phép phá vở mật mã của Mỹ (như Mỹ đã từng làm trong dự án VENONA).

Sau khi được giải mã thì xuất xứ và các phương pháp mật, kể cả tên tuổi của các điệp viên và các địa điểm / mục tiêu nghe lén điện thoại, máy vi âm và các khả năng kỹ thuật khác đều sẽ bị lộ. Tài liệu Pentagon Papers đã ít ra cũng tiết lộ một bí mật lớn – NSA đã có thể kiểm soát điều nghiên được mọi thông tin liên lạc của Liên Xô ngay trong Liên bang Xô viết, kể cả đối đáp bên trong xe ‘limousine’ của các nhà lãnh đạo Liên Xô. 4001 “Fedora”, mà sau này đã được phát giác ra như là một tay đào ngũ xạo của Liên Xô, đã cho biết Liên Xô đã từng có được tài liệu Pentagon Papers. Dĩ nhiên, Liên Xô chắc chắn đã phải có tài liệu này sau khi nó đã công bố trên báo chí Mỹ rồi.

Trong những ngày đầu, thông qua Walt Rostow, cựu Tổng thống Johnson đã nói là nếu xuất bản tài liệu Pentagon Papers thì sẽ là “một cuộc tổng tấn công vào tính cách liêm chính của chính phủ …. Nếu toàn bộ các tủ tin tức mà lại đã có thể bị đánh cắp và sau đó bị cung cấp cho báo chí … thì quý vị không thể nào điều khiển đất nước này một cách trật tự nữa được”. 4002 Chưởng lý John Mitchell và Erlichman đã ráng ép Nixon phải ngay lập tức truy tố tờ New York Times trong khi việc này hãy còn khã tín đối với tòa án.

Và khi phải đối mặt với một hạn kỳ và ngược lại với ngay linh tính của mình, Tổng thống Nixon đã cho phép Bộ Tư pháp ráng cảnh cáo tờ New York Times phải ngưng việc này và do đó, cũng đã không khởi tố tờ này. Trong vụ này, đúng là một vụ thua cuộc thôi vì đã thiếu chuẩn bị.

Vụ Truy Tố Quá Vụng Về Tờ  New York Times

David Rudenstine đã nói là Bộ Tư pháp thất kiện vì đã không tin tòa án sẽ có thể cho phép báo chí in ấn những tài liệu từng bị đánh cắp, hay những tài liệu đã được phân loại tối mật. Hơn nữa, Bộ Tư pháp đã ra tòa trong vị thế rất yếu vì thiếu thời gian để chuẩn bị và vì bị hạn chế trong việc truy tìm những hồ sơ bị phân loại như là tối mật. Một luật sư đã khuyến cáo Giám đốc CIA là “Bộ Tư Pháp đã không nêu ra được các điều khoản thích hợp của bộ Luật và đã tranh tụng rất ư là yếu kém trước tòa”. 4003 Ngay từ ban đầu, Chính phủ đã không nêu được ra bất kỳ tài liệu cụ thể nào khã dỉ có thể đe dọa đến an ninh quốc gia; ngay vị thẩm phán cũng đã không yêu cầu chính phủ phải làm như vậy. 4004 (Thủ tục xem xét trong phòng kín ‘in-camera’ các tài liệu được nêu ra sẽ chỉ trở thành thông dụng và thường xuyên sau này chiếu theo đạo luật Foreign Intelligence Surveillance Act, FISA (Đạo luật Theo Dõi Tình báo ở Ngoại Quốc).

Các biện minh trạng của Bộ Tư pháp cuối cùng đều chỉ có tính cách tổng quát, thay vì phải là một danh sách cụ thể liệt kê ra những bí mật nào đã bị tiết lộ mà sẽ gây ra thiệt hại trực tiếp và tức thì cho nền an ninh quốc gia Hoa Kỳ: Công bố như vậy thì sẽ bất lợi vì sẽ phải để lộ ra những bí mật ngoại giao; những nhận xét không che dấu về các quốc gia khác; tên và nhiệm vụ của các nhân viên CIA; các hoạt động của National Security Agency (Cơ quan An ninh Quốc gia); các kế hoạch dự phòng về quân sự; các dự đoán của Mỹ về những ý định của Liên Xô tại Việt Nam; các đánh giá của Mỹ về khã năng cung cấp vũ khí đặc biệt cho Bắc Việt của Liên Xô; nghiên cứu của Hoa Kỳ cho một giải pháp hạch nhân nếu Trung cộng tấn công vào Thái Lan; việc phân tích của một Đại sứ Mỹ về các phản ứng của Liên Xô đối với một loạt các giải pháp của quân đội Mỹ tại Việt Nam; một cuộc hành quân khã dỉ của Nam Việt vào Lào; và các thảo luận về tù binh Mỹ trong những cuộc đàm phán. 4005

Danh sách này đã không thuyết phục được các thẫm phán từng luôn luôn chỉ cẩn trọng một phần của Hiến pháp, tức là Tu Chính Án số 1, mà đã kềm lại các quyền thời chiến của Tổng Thống và đã loại bỏ tiêu chuẩn an ninh quốc gia ra khỏi chính thể của đất nước. Đó quả đã là một quyết định đáng kinh ngạc vì đã làm suy yếu quyền lực của Tổng Thống trong chiến. Các tòa án đã tuyên bố là chính phủ phải có “trách nhiệm chính” để biện minh cho việc hạn chế quyền tự do ngôn luận khi cần.

Cứ Việc Xuất Bản. Hậu Quả Thì Sẽ Tính Sau.

Nếu mà Chính phủ đã chứng minh được bằng chứng rỏ ràng về “một mối nguy hiểm nghiêm trọng và tức thời đối với nền an ninh của Hoa Kỳ” thì chắc là họ đã phải thắng kiện. Những nguy hiểm nói chung chung được trình ra đều đã không đủ chiếu theo chủ thuyết gần như là tuyệt đối của tòa án là không chấp nhận mọi “Prior Restraint ~ Chận Trước” về quyền tự do ngôn luận.

Trong khi chỉ sử dụng đến ít, rất ít hơn nhiều các trao đổi liên lạc bí mật của Liên Xô nếu so với những gì có trong tài liệu Pentagon Papers, trong chỉ thời gian có mười tám tháng trong thập niên 1940 và chỉ giải mã một phần mà thôi, chương trình VENONA Mỹ cũng đã phát hiện được một mạng lưới hơn 300 điệp viên Liên Xô bên trong Hoa Kỳ. Dù từng đã được biết nhiều năm rồi, ngay trước cả cuộc chiến Việt Nam, FBI và NSA đã vẫn giữ những tin bí mật quan trọng này cho đến mãi năm 1996. Có vẻ như VENONA đã chứng minh là các văn bản rất rõ ràng của Pentagon Papers đã sẽ cho phép giải mã số lượng tài liệu của Mỹ mà không ai đã từng đã biết đến được.

Thật vậy, vấn đề những thiệt hại thực sự nếu đã có thì cũng chưa ngã ngủ. Thiệt hại rỏ ràng đã xẩy ra khi Ellsberg và đồng bọn đã giao 18 bản sao của bốn mươi bảy bộ của tài liệu Pentagon Papers cho báo chí và Walter Cronkite của đài CBS đã phỏng vấn Ellsberg từ một địa điểm được giữ bí mật. 4006  Và một tên nào đó cũng đã gửi toàn bộ tài liệu đến Toà Đại sứ Liên Xô, dĩ nhiên như vậy cũng như là cho Bắc Việt luôn.

Các Vụ Án về Tài Liệu Pentagon Papers

Bằng chứng đệ trình tòa để cấm in và phổ biến căn cứ trên khái niệm an ninh quốc gia đã không đủ thích đáng.  Lên toà kháng cáo, Chưởng lý John Mitchell đã yêu cầu Luật Sư Trưởng Solicitor General Erwin Griswold nhiệm cách chỉ có vài giờ trước khi nội vụ được đăng đường. Griswold thì đã chưa hề bao giờ thấy và đọc tài liệu Pentagon Papers. 4007 Mọi bút lục và văn kiện thì đều bị xem như là bí mật. Lúc đó, hãy còn hai vụ án cuối cùng – ở New York và Washington, DC liên quan đến các hoạt động của Hoa Kỳ tại Việt Nam. 4008

Vụ Án Pentagon Papers Được Xét Xử Bởi Các Thẫm Pháp Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ

Một cách lạ kỳ, Tối Cao Phán Viện đã tuyên xử trong vụ án cuối cùng về Pentagon Papers là các viện dẫn của chính phủ về mối hiểm nguy trầm trọng cho an ninh quốc gia đã không đủ cơ sở để truyền lịnh cấm tờ Washington PostNew York Times phổ biến chúng chỉ vì lý do đó là những văn kiện mật. Trong mười vụ án liên quan đến Pentagon Papers, bảy trong số chín thẩm phán, ngoại trừ hai thẩm phán Black và Douglas, đều đã “tỏ vẻ sẵn sàng chấp nhận những hạn chế trước trên cơ sở của mối nguy hiểm cho an ninh quốc gia trong một số trường hợp nào đó” nhưng đã không có một nhất trí về một tiêu chuẩn nào đó để làm như vậy và vụ truy tố của chính phủ dựa trên những nguy hiểm nói chung chung đối với an ninh quốc gia đã không thuyết phục được các vị thẫm phán mà đều đã có thiện cảm trước với khái niệm này rồi.

Thẫm phán Brennan đã tuyên bố, một “cáo buộc tổng quát về mối đe dọa cho an ninh quốc gia do việc công bố tin tức đã mã hóa sẽ tạo nên một cơ sở đầy đủ để ra lệnh việc chận trước”  và  “… khi tin tức của chính phủ mà đã được phân loại là mật bị dính líu tới thì một yêu cầu phải duyệt xét trước sẽ là khã chấp”. 4009

Thẫm phán Stewart và thẫm phán White đã đồng tình viết, “Tôi tin tưởng là Hành Pháp có lý … Nhưng tôi không thể nói là việc tiết lộ … chắc chắn sẽ dẫn đến việc thiệt hại trực tiếp, tức thì và không thể hàn gắn cho Quốc gia hay cho người dân của chúng ta”. 4010

Thẫm phán White, với sự đồng tình của thẫm phán Stewart , đã không phủ nhận là có “thiệt hại đáng kể cho lợi ích công cộng. Thật vậy, tôi tin tưởng là việc tiết lộ chúng sẽ đưa đến việc đó … bởi vì tài liệu quả có thể gây ra những nguy hiểm đáng kể cho các quyền lợi của quốc gia … một phần thiệt hại đáng kể của mối đe dọa đã thực sự xảy ra rồi”. Thẫm phán White tiếp tục, khi cho phép công bố, “thì  không có nghĩa là … việc công [bố] … sẽ không bị truy tố về hình … tôi sẽ không có gì trở ngại để tuyên án có tội …”. Thẫm phán Marshall thì tuyên bố: “It nhất một trong những đạo luật trong lĩnh vực này [kiểm soát thông tin nhạy cảm] dường như có liên quan đến những trường hợp này”.

Chánh Nhất Burger, với quan điểm bất đồng,

“Không có Chánh Án Quận nào đã biết được hết tất cả sự thật. Không thẩm phán Tối cao Pháp Viện nào mà đã biết được hết tất cả sự thật. Không một thành viên nào của bản Tòa biết được tất cả sự thật … bởi vì các vụ án này đều  đã được tiến hành một cách vội vàng một cách không thích đáng … quả thật khó tin là … một tờ báo … sẽ trốn tránh không … báo cáo [hành vi trộm cắp] ngay lập tức với các nhân viên hữu quyền. Bổn phận này thì cũng áp dụng luôn cả cho các tài xế xe ‘taxi’, cho các Thẩm phán và luôn cả cho tờ New York Times. … [Chúng ta] đã không hề nhận chân ra được là chúng ta đang làm việc gì … kết quả chỉ là một màn bắt chước hệ thống pháp lý mà thôi … Nói chung thì tôi đồng ý  … phải chế tài về hình sự … khi liên quan đến nền quốc phòng”.

Thẫm phán Harlan, cũng bất đồng quan điểm​​, với Burger và Blackmun cùng tham gia, “… Tòa đã gần như vô trách nhiệm khi đã phán quyết quá vội vã về các vụ án này”.

Thẫm phán Blackmun, bất đồng quan điểm​​, tuyên bố là ông đã

“rất đồng ý … về việc truy tố hình sự. … Tôi hy vọng là vẫn chưa có thiệt hại. Nếu, dù thế nào, thiệt hại đã thực sự xẩy ra và nếu, với quyết định ngày hôm nay của bản Tòa, những tờ báo này vẫn tiến hành công bố các tài liệu nguy hiểm này và gây ra những kết quả … ‘binh sĩ tử vong, các liên minh bị phá vở, khó khăn tăng gia rất nhiều khi phải đàm phán với các kẻ thù của chúng ta, sự bất lực của các nhà ngoại giao của chúng ta để thương thảo’, cái danh sách mà tôi còn có thể thêm vào là các yếu tố khiến chiến tranh kéo dài them và việc sự chậm trễ hơn nữa để phóng thích tù binh Hoa Kỳ, rồi thì người dân của Quốc gia sẽ biết được là trách nhiệm cho những hậu quả đáng buồn này thuộc về những ai”.

Tóm lại, một loạt các lệnh của tòa án vẫn đã không ngăn được việc công bố từng phần của các tài liệu mật trên tờ New York Times vào ngày 13 tháng 6 năm 1971, và liền sau đó là trên tờ Washington Post, tờ Boston Globe, tờ St Louis Dispatch và cuối cùng là với Bantam Books .

Daniel Ellsberg và Anthony Russo đã đánh cắp tài liệu Pentagon Papers, một hành vi mà lúc đó ai cũng nghỉ là một hình tội.

Truy Tố Daniel Ellsberg và Các Báo

Tháng 7 năm 1971, Tòa Bạch Ốc yêu cầu Giám đốc Hoover cập nhật hóa các cuộc điều tra của từng phóng viên tờ New York Times mà cá nhân đã có được tài liệu này. 4011

David Young của Tòa Bạch Ốc yêu cầu Giám đốc CIA Helms phải căn cứ vào các mục tin tức và các hồ sơ thuộc Bộ Ngoại Giao và Bộ Tư Pháp để thực hiện một “phân tích gián tiếp về cá tính của Daniel Ellsberg”. Bác sỹ Malloy đã cộng tác với Howard Hunt và Gordon Liddy để hoàn thành được hai hồ sơ tâm lý học về con người của Ellsberg mà đã được hoàn thành vào ngày 12 tháng 8 và 9 tháng 11 năm 1971. Nghiên cứu  đầu tiên của CIA thì ca ngợi Ellsberg như một người “chói sáng, quyết chí thành công” mà đã tin vào “một loại lòng ái quốc ở một cấp độ cao hơn … (với) một sứ mệnh đặc biệt” trong cuộc chiến tranh Việt Nam. 4012  Công trình này của CIA đã bị đánh giá “không đầy đủ”. 4013 Trong khi đó, vào ngày 3 tháng 9 năm 1971, Howard Hunt đã ra lệnh cho các nhân viên đột nhập vào các văn phòng của vị bác sĩ Lewis Fielding về tâm thần của Ellsberg ở Beverly Hills, nhưng cũng không tìm thấy được gì.

Vào ngày 28 tháng 6 năm 1971, một Đại Bồi thẩm đoàn Liên bang phán quyết sẽ truy tố Daniel Ellsberg về tội đã tàng trữ trái phép, đã tham khảo và kiểm soát các tài liệu Tối Mật tên là “Những Quan hệ Mỹ-Việt từ 1945 đến 1967” có liên quan đến quốc phòng và đã sữa đổi các tài liệu này để sử dụng riêng cho mình. Ngày 20 tháng 12 năm 1971, Daniel Ellsberg và Anthony Russo đã bị kết tội âm mưu, hoạt động gián điệp, đánh cắp và lạm dụng các tài liệu bí mật ở Los Angeles, Ca. Lynda Sinay với Vũ Văn Thái, bọn đã chụp các bản sao để phổ biến tài liệu  Pentagon Papers thì đã là các tên đồng lõa nhưng không bị kết tội.

Các Vụ Tiết Lộ Tràn Lan Sau Này

Trong khi đó, ngoài vụ Pentagon Papers thì cũng đã có những vụ lộ tin khác rất đáng là quan ngại. Ngày 22 tháng 7 năm 1971, William Beecher của tờ New York Times đã tiết lộ các chi tiết về cuộc thảo luận bí mật Strategic Arms Limitation Talks, SALT liên quan vấn đề hạn chế vũ khí chiến lược hạt nhân với Liên Xô. Chiếu theo yêu cầu của các Phụ tá Tổng thống là Egil Krough và David Young, CIA sắp xếp cho một chuyên viên sử dụng máy khám phá nói láo là G. Marvin Gentile để cung cấp thiết bị cho CIA kiểm tra bốn nhân viên Bộ Ngoại giao đang bị nghi ngờ mà đang phục vụ trong Arms Control and Disarmament Agency (Cơ quan Kiểm soát vũ khí và Giải trừ quân bị). Họ đều đã được bạch hóa, nhưng Murray Marder trên tờ Washington Post vào ngày 3 tháng 9 năm 1971 lại tiết lộ là việc kiểm tra nói láo đã bị sai lầm quy cho FBI thực hiện và Hoover cũng đã phủ nhận điều này. 4014

Các vụ lộ tin thì có vẻ như lại còn gia tăng hay trở nên đáng chú ý hơn. Ngày 6 tháng 8 năm 1971, Michael Getler của tờ Washington Post đã viết, “Các vụ do thám của CIA vào Trung Quốc được công bố đã bị đình chì” dựa trên một tiết lộ của phiên điều trần bí mật của CIA về vụ Thượng nghị sĩ Clifford Case. Thêm nữa sau này CIA đã phải ngưng các điệp vụ ở Trung Quốc vì một vụ lộ tin khác trước đó. CIA đã báo động với Tòa Bạch Ốc – tức là Kissinger, Haig và Young.

Và cứ thế, những vụ lộ tin về CIA vẫn cứ tiếp tục:

Ngày 6 tháng 8, Tad Szulc,  New York Times, Hiệp ước Xô Ấn; 13 tháng 8, Tad Szulc, của New York Times, cuộc đảo chính thân Liên-Xô tại Yemen; 18 tháng 8,  các tường trình của CIA cho David Young mà đã đọc được bài của Tad Szulc về Yemen; ngày 19 tháng 8, từ Tòa Bạch Ốc, John Lehman đã yêu cầu CIA, thay vì Bộ Tư pháp, để tìm biết bốn bộ nào của tài liệu Pentagon Papers mà Thượng nghị sĩ Mike Gravel đã đưa cho Beacon Press để xuất bản. Trong hồ sơ FOIA của CIA   về các vụ lộ tin thì sau hai tháng cứ lặp đi lặp lại về tình trạng này, vào ngày 10 tháng 11, John Lehman trong Tòa Bạch Ốc đã phải gọi đó là “Leak Day ~ Ngày Tin Bị Lộ”: các bài viết của Stanley Karnow và Joseph Alsop về Lâm Bưu, tay thừa kế của Mao; Evans / Novak, Phản Ứng Sắp Tới Của Bắc Việt; 20 háng chạp năm 1971, Jack Anderson, bức thơ vua Jordan là Hussein gởi cho Nixon; ngày 28 tháng chạp, Jack Anderson, các cuộc đàm phán SALT.

Khuyến cáo cho Giám đốc CIA, “Nếu các vụ lộ tin mật này cứ tiếp tục, chúng tôi sẽ phải cực kỳ hạn chế việc phân phối các thông tin tình báo nhạy cảm.” 4015

Ngày 16 tháng 6 năm 1972, Thượng nghị sĩ Margaret Chase Smith (Cộng Hòa – Maine) đã tuyên bố: “Báo chí đã trở thành có thiện cảm hơn với kẻ thù thay vì là với quyền lợi quốc gia của chúng ta”. 4016 Giới báo chí thì cũng đã nhận được  nhiều lực lượng đến tăng cường.

Phấn đông thì hoạt động rất là công khai, bọn phản chiến đã vẫn cứ hỗ trợ Hà Nội trên nhiều mặt trận và trong nhiều buổi hội họp.

*****

 

3960  Mai Elliott, RAND in Southeast Asia: A History of the Vietnam War Era, Santa Monica: RAND corporation, 2010, trang 416-17.

3961  LBJ, Vantage Point, trang 148.

3962  John M. Del Vecchio, For the Sake of All living Things, New York: Bantam 1991, trang 474.

3963  Mai Elliott, RAND in Southeast Asia: A History of the Vietnam War Era, Santa Monica: RAND corporation, 2010,  trang 418-19 được viện dẫn bởi Prados và Porter, Inside the Pentagon Papers, 2004, trang 19.

3964  Michael Lind, Vietnam: The Necessary War, New York: Simon& Schuster 1999, trang 192-193; Karnow, Vietnam: A History, trang 414, 648; Nixon, No More Vietnams, trang 138-139 nêu ra trong sách của Rothrock, Divided…  trang 250 ghi chú 35.

3965  Mai Elliott, RAND in Southeast Asia: A History of the Vietnam War Era, Santa Monica: RAND corporation, 2010, n35421.

3966  Mai Elliott, RAND in Southeast Asia: A History of the Vietnam War Era, Santa Monica: RAND corporation, 2010, trang  423-4.

3967  Mai Elliott, RAND in Southeast Asia: A History of the Vietnam War Era, Santa Monica: RAND corporation, 2010, trang 424, 427,429, 430, 433, 485.

3968  Vũ Văn Thái, Hợp đồng Contract #70663 với RAND, 1 tháng 10 năm 1969 tại ACLU-So Cal, Box 270.

3969  “The Soviet Union has a complete copy of the forty-seven volumes,” George Carver gởi Giám đốc, 9 tháng 7 năm 1971, trong CIA, FOIA, Family Jewels, trang 287; Covert Cadre, trang 48 ghi chú 4; Hilaire Du Berrier cũng trong The New American,  27 tháng 4 năm 1987, trang 43 và tài liệu của ông tên  H du B Reports, Tháng 6 năm 1989, trang 6.

3970  Vũ Văn Thái, “Technology in Focus—Emerging Nations,” JSTOR, Technology and Culture: Bộ 3, Số 4, Proceedings of the Encyclopedia Britannica, trang 602.

3971  “A Taste for Tulips,” Time, Thứ sáu 29 tháng 4 năm 1966.

3972  Pike, Chương 1, War in Shadows, Boston: Boston Publishing Co., 1988, trang 6.

3973  Wm. F. Buckley, “Ellsberg in the Dock,” National Review, 18 tháng 8 năm 1972, trang 918.

3974  “3 September 1970,” CIA, FOIA, Family Jewels, trang  282.

3975  Powell, CovertCadre, trang 48 nêu ra Harrison Salisbury, Without Fear or Favor.

3976  Nixon nói với Kissinger, 13 tháng 6 năm 19 71 lúc 15:09 pm, Nixon Presidential Materials Project, Selected Conversations trong thời gian 13 tới 16 tháng 6 năm 1971 liên quan đến tài liệu Pentagon Papers, Văn khố National Security Archives, Đại học George Washington University. 

3977  như trên .

3978  như trên .

3979  Nixon nói với Kissinger , 13 tháng 6 năm 19 71 lúc 15:09 pm và Nixon nói với Haldeman, 14 tháng 6 năm 1971 lúc 03:09 pm.  Nixon Presidential Materials Project, Selected Conversations  trong thời gian 13 tới 16 tháng 6 năm 1971 liên quan đến tài liệu Pentagon Papers, Văn khố National Security Archives, Đại học George Washington University. 

3980  Wells Wildman: The Life and Times of Daniel Ellsberg, New York: Palgrave, 2001, trang 418, 453 viện dẫn trong Mai Elliott, RAND in Southeast Asia: A History of the Vietnam War Era, Santa Monica: RAND corporation, 2010, trang 468, 470.

3981  Nixon nói với Ehrlichman, 14 tháng 6 năm 1971 lúc 07:13pm, Nixon Presidential Materials Project, Selected Conversations  trong thời gian 13 tới 16 tháng 6 năm 1971 liên quan đến tài liệu Pentagon Papers, Văn khố National Security Archives, Đại học George Washington University. 

3982  Sam Tanenhaus, Whittaker Chambers, A Biography, New York Random House, 1997; Nixon, 1 tháng 7 năm 1971 viện dẫn trong Kutler, Abuse of Power, trang 9. Các trích lục tại trang liên mạng của Đại học  University of Virginia, Miller Center of Public Affairs, Presidential Recordings Program.

3983  Haig nói với  Nixon, 13 tháng 6 năm 19 71 lúc 12:18pm.

3984  Kissinger nói với Nixon, 13 tháng 6 năm 19 71 lúc 15:09m.

3985  Nixon nói với Kissinger, 13 tháng 6 năm 19 71 lúc 15:09pm.

3986  Kissinger nói với  Nixon, 13 tháng 6 năm 19 71 lúc 15:09pm.

3987  Nixon nói với Kissinger,  13 tháng 6 năm 19 71 lúc 15:09pm.

3988  Haldeman nói với  Nixon, 14 tháng 6 năm 19 71 lúc 3:09pm.

3989  Nixon nói với Haig, 13 tháng 6 năm 19 71 lúc 12:18pm.

3990  Nixon nói với William Rogers, 13 tháng 6 năm 19 71 lúc 13:28pm.

3991  Nixon nói với Kissinger, 13 tháng 6 năm 19 71 lúc 15:09pm. 

3992  Haig nói với Nixon, 13 tháng 6 năm 19 71 lúc 12:18pm.

3993  Ray Wannall, The Real J. Edgar Hoover: For the Record, Paducah: Turner Publishing Company, 2000, trang 116.

3994  Nixon nói với Haldeman, 14 tháng 6 năm 19 71 lúc 3:09 pm.

3995  Mitchell nói với Nixon and Kissinger, 14 tháng 6 năm 19 71 lúc 7:19pm.

3996  “8 July 1971,” CIA, FOIA, Family Jewels, trang 286.

3997  “2 July 1971,” CIA, FOIA, Family Jewels, 285, 286.

3998  “8 July 1971,” CIA, FOIA, Family Jewels, 286.

3999  Nixon, No More, trang 139.

4000  David Rudenstine, The Day the Presses Stopped, trang 8-9.

4001  National Security Agency, http://history.sandiego.edu/gen/20th/nsa.html

4002  Kissinger nói với Nixon và Mitchell, 14 tháng 6 năm 19 71 lúc 7:19 pm.

4003  “23 August 1971,” CIA, FOIA, Family Jewels, trang 290.

4004  David Rudenstine, The Day the Presses Stopped,  trang 105-107.

4005  Việc mô tả này căn cứ trên sự mô tả biện minh trạng của Griswold tại trang liên mạng của Đại học George Washingon mà đã loại bỏ hoàn toàn mọi thiệt hại nếu đã có. Các luật sư chỉ đơn giản xác nhận, biện luận và nhấn mạnh là đã không thể nào có được bất cứ những hậu quả nào về quân sự.

“The Brief for the United States (Đoạn Mật – Secret Portion)” trong  “The Pentagon Papers: Secrets, Lies, and Audiotapes, (The Nixon Tapes and the Supreme court Tape), The Secret Briefs and the Secret Evidence,” National Security Archives 1-11, tại  gwu.edu/-nsarchiv/NSAEBB/NSAEBB48/secretbrief.html.   

4006   23 tháng 6 năm 1971 chiếu theo Rudenstine, ghi chú  11, http://books.google.com/books?id=JR4LIbHYaLYC&pg=RA1-PA72&lpg=RA1-PA72&dq=william+rehnquist+pentagon+leaks&source=web&ots=iR1VypuaL2&sig=V67B4UquMeUQkmf5tEbJp_lQ_dY#PRA2-PA11,M1

4007  David Rudenstine, The Day the Presses Stopped, trang 243.

4008  New York Times Co. chống United States như đã nêu.

4009  United States chống  Marchetti, như đã nêu trên; Đọc:  “THE GOVERNMENT’S CLASSIFICATION OF PRIVATE IDEAS,”HEARINGS BEFORE A SUBCOMMITTEE OF THE COMMITTEE ON GOVERNMENT OPERATIONS HOUSE OF REPRESENTATIVES, NINETY-SIXTH CONGRESS, SECOND SESSION, FEBRUARY 28; MARCH 20; AUGUST 21, 1980”, được in để sử dụng bởi Ủy ban Committee on Government Operations, U.S. Government Printing Office, Washington, 1981, trang 260-298.

4010  New York Times Co. chống United States,  403 U.S. 713(1971) được viện dẫn bởi Thượng nghị sĩ Strom THURMOND, “STATEMENT ON THE NOMINATION OF DR. MORTON HALPERIN, Thượng viện –  15 tháng 7 năm 1994, S9106-9113,  http://www.fas.org/irp/congress/1994_cr/s940715-halperin.htm

4011  Hoover nói với Tolson, bản ghi nhớ, 8:54 AM, 6 tháng 7 năm 1971. 

4012  Mai Elliott, RAND in Southeast Asia: A History of the Vietnam War Era, Santa Monica: RAND corporation, 2010, trang 476 nêu ra tờ  Los Angeles Times, “CIA Ellsberg Study Reported as Laudatory”,  4 tháng 8 năm 1973.

4013  CIA, FOIA, Family Jewels, trang 441-442. Dạo 1973-1974, tác giả và đồng nghiệp Crosby có tham khảo ý kiến ​​với một chuyên gia đo lường về tâm lý học (psychometrician) của  CIA là David Smith để được cố vấn về các trắc nghiệm tâm lý khã dỉ hữu ích cho việc chọn lọc sĩ quan cảnh sát nhân  một nghiên cứu trên toàn quốc về cách hành xử tốt nhất cho các cơ quan thực thi pháp luật nhà nước tại các tiểu bang và các địa phương (dự án  IACP-IPMA được tài trợ bởi Police Foundation ~ Hiệp Hội Cảnh sát). Lúc đó, CIA đã không thấy cần thiết để kiểm tra trước hầu sàng lọc các nhân viên của họ và đã cảnh cáo trước chúng tôi là cuộc nghiên cứu của chúng tôi cũng chỉ sẽ cho thấy như vậy mà thôi. Đúng vậy.

4014  CIA, FOIA, Family Jewels, trang 64-67.

4015  CIA, FOIA, Family Jewels, trang 288-91.

4016  Congressional Record, 16 tháng 6 năm  1971.

*****

Advertisements

Một phản hồi to “Roger Canfield’s Americong #115”

Trackbacks/Pingbacks

  1. Giới thiệu tác phẩm AMERICONG (MỸ-CỘNG) – Lê Bá Hùng | Ngoclinhvugia's Blog - 05/01/2016

    […] Roger Canfield’s Americong #115 […]

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: