Roger Canfield’s Americong #20

 

Comrades in Arms

How the Americong Won the War in Vietnam

Against the Common Enemy— America

Copyright Roger Canfield, Ph.D.

1986-2012

No commercial transaction allowed except that approved by the author, copyright holder.

Obtain a prepublication release of a CD-R in Microsoft Word in ENGLISH at a discounted price of $15 from Roger Canfield Rogercan@pacbell.net at 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 or at http://americong.com.

Completely SEARCHABLE for any name, date, place or event of the War and its protesters.   

Cover: Design Stephen Sherman. Photos: Roger Canfield, March 2008. TOP: War protest Hawaii, February 1966 displayed at War Remnants (Crimes) Museum, Saigon. Bottom: Praetorian Guard

Các đồng chí cùng chiến tuyến

Làm thế nào MỹCộng thắng cuộc chiến Việt Nam

Chống kẻ Thù Chung – Mỹ

Giữ bản quyền Roger Canfield, Tiến Sĩ

1986-2012

Không được sử dụng vào mục đích thương mại nếu không có sự đồng ý của Tác giả, người giữ bản quyền.

Có thể mua một tiền bản dưới dạng CD-R Microsoft Word bằng Anh ngữ với giá đặc biệt US$15 ngay từ tác giả Roger Canfield  Rogercan@pacbell.net  tại 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 hay tại  http://americong.com.

 Hoàn toàn có thể TRA CỨU hoặc bằng tên, bằng ngày tháng hay biến cố liên quan đến cuộc Chiến cùng cả luôn bọn tham dự biểu tình .

 ******************************************************

* Tác giả giữ bản quyền © Roger Canfield 1986-2012

  • Lê Bá Hùng chuyển ngữ  (với sự chấp thuận của Tác giả)

 ***************

Chương 20

Các Thẫm Quyền về Luân Lý Đi Gặp

Đám A. J. Muste, Emil Niemoller tại Hà-nội

 Lê Duẩn Ra Chỉ Thị Chiến Lược cho Việt-cộng

 Lê Duẩn, với tư cách Bí thư Đảng là thẫm quyền cao nhất của Việt Cộng, đã gửi văn thư đến Văn phòng Trung ương Miền Nam Việt Nam, COSVN,

 Liên quan đến chiến lược tổng quát thì cuộc đấu tranh vũ trang phải được tiến hành cùng lúc với cuộc đấu tranh chính trị.

Cần phải lưu tâm nhiều tới vào cuộc đấu tranh chính trị …

Chiến lược chiến tranh và các cuộc đàm phánphải …  phục vụ cho chiến lược chính trị và quân sự của chúng ta trong cuộc song đấu giữa kẻ yếu (Bắc Việt) chống  kẻ mạnh (Mỹ). ”  1582

Một yếu tố cốt yếu trong cuộc đấu tranh chính trị đã đặt ra nhiều ràng buộc về đạo đức đối với sức mạnh quân sự vượt trội của Hoa Kỳ. Các phương tiện truyền thông phương Tây đã là một đồng minh tự nguyện sẵn sàng để lên án các hành vi của Mỹ trên chiến trường trong khi lại nồng nhiệt bỏ qua các vi phạm vô đạo đức của Cộng sản.

Tương tự như vậy, thật là đáng kinh ngạc khi sự kiện các tù nhân tại Abu Graib bị sỉ nhục đã làm lu mờ các tin về bom của bọn khủng bố đã giết chết  thường dân vô tội ở Iraq. Quả thật đúng là chỉ nhắc lại vụ Việt Nam mà thôi.

 Bọn Chủ Hòa tại Hà-nội Tháng Chạp 1966

Cuối tháng chạp năm 1966, Cộng hòa Nhân Dân Việt Nam đã mời A. J. Muste tới Hà-nội.

 Một thẩm phán đã chấp thuận cho Muste được hoãn hầu tòa án ngày 3 tháng 1 về tội phá rối làm đình trệ một Trung tâm Tuyển Mộ Nhâp Ngũ (Army Unduction Center). Thày tu Do thái giáo Abraham L. Feinberg, một công dân Mỹ trong phong trào hòa bình Canada,  Ambrose Reeves, một phụ tá giám mục người Anh  và Mục sư Friedrich Gustav Emil Martin Niemoller,  1583 một chủ tịch của Hội đồng các Giáo hội Trên Thế Giới (World Council of Churches)  1584  mà đã bị KGB thâm nhập, đã cùng đi với A. J. Muste.

Niemoller

Niemoller đã hỏi một câu hỏi gợi ý để đưa đến một trả lời dối trá như từ lâu nay của Hồ. Trong một bức thư hồi âm cho Martin Niemoller, để trả lời là mình có nhắm đến một “chiến thắng tối hậu” hay không thì Hồ Chí Minh đã nói là y chỉ muốn Mỹ ra đi. Tuy nhiên, nếu người Mỹ “muốn tiến hành một cuộc chiến tranh trong hai mươi năm thì chúng tôi sẽ sẳn sàng cho một cuộc chiến tranh dài hai mươi năm. Nếu họ muốn hòa bình, chúng tội sẽ chịu ngưng chiến và mời họ đến uống trà vào buổi chiều. ” 1585 Đó lại là một lời nói dối. Bắc Việt đã nhiều lần từ chối đàm phán hòa bình bởi vì, thực sự họ đã chỉ nhắm tới một “chiến thắng tối hậu” mà thôi.

Niemoller đã đóng vai trò của mình rất thành công nên y sẽ nhận được Giải thưởng Hòa bình Lê-nin trong vòng một năm sau đó. Trong khi đó, bọn điệp viên Liên Xô KGB  1586 và Nhà Thờ Chính Thống Giáo Nga (Russian Orthodox Church ) do KGB kiểm soát 1587 đã triệt để ảnh hưởng đến, mà đôi lúc còn có tính cách quyêt định, đối với Hội đồng Thế giới các Giáo Hội (World Council of Churches), đã chuẩn nhận các Chủ tịch WCC như là Eugene Carson Blake và có lẽ cả Niemoller luôn.

 Robert V. Moss, Chủ tịch của Giáo Hội của Chúa Kitô  (United Church of Christ), đã phục vụ trong Ủy ban Trung ương của Hội đồng Quốc gia của các Giáo Hội (Central Committee of the National Council of Churches)   và một số giáo xứ đã tham gia Ủy ban Hữu nghị Mỹ-Liên Xô. Một số lớn các điệp viên KGB đã tham dự hội nghị WCC, 1588 cũng giống như tổ chức tiền nhiệm là Federal Council of Churches (Hội đồng Liên bang các Giáo hội) thân thiện với Lê-nin và Sì-ta-lin .  1589

 Tổ chức “ăn mày” WCC  đã khám phá ra là Mỹ “phương hại đến hòa bình ở Đông Dương”,  lại không chỉ trích gì Liên Xô về việc bách hại các Kitô hữu Chính Thống Giáo và Pentacostal, đã không lên án bất kỳ chính sách đối ngoại nào của Liên Xô, lại đã tài trợ các phong trào cách mạng Mác-xít và đã luôn luôn chỉ trích  chủ nghĩa tư bản. 1590

 Sở Thuế Internal Revenue Service IRS thường miễn thuế cho các số tiền cả hàng chục triệu đô-la gom góp được của  United Methodist Church, United Church of Christ, United Presbyterian Church và Episcopal Peace Fellowship trong các buổi lể  để hỗ trợ cho WCC, chi nhánh trực thuộc National Council of Churches , 1591  và các nhóm phản chiến như là  Women’s International League for Peace and Freedom, WILPF, Women Strike for Peace, WSP, Clergy and Laity Concerned,  CALC với  American Friends Service Committee, AFSC .  1592

 Sau hai tuần rất khổ cực đi ngoằn ngèo lung tung, Muste và bọn làm việc nhân đạo kia cuối cùng đã hạ cánh và ở lại Bắc Việt trong một tuần lể.

 Những Nơi Bị Dội Bom Được Thu Dọn Rất Là Vén Khéo

 Như đã biết trước, chúng được dìu dắt đến một ngôi làng cách trung tâm thành phố Hà Nội mà đã trở thành một mô hình để trình bày biểu diễn bắt buộc, vì cả một tháng sau khi bị không tạc, hiện trường tội lổi dể sợ vẫn được để yên nguyên vẹn hay ngay cả đã được phối trí để mang lại ảnh hưởng  tối đa – “từng mảnh nát của loại bom phân mảnh … những đồ dùng cá nhân … một tách trà, một cái lược, một chiếc áo  … các kinh sách, những mảnh vụn của một  tượng Đức Trinh Nữ Maria bé tí bằng sứ mà đầu đã bị nát mất tiêu.”  1593  Và rồi cũng có luôn bằng chứng về thiên tài tội lổi của người Mỹ trong việc làm được những bom bi bằng nhựa không thể nào khám phá ra được cũng như là loại bom napalm có hiệu quả tàn sát hơn nhiều. Không một tên nào đã trở về mà than phiền gì về những hành vi dã man của Việt Cộng: các súng phun lửa, các vụ mổ bụng, các vụ xử tử bằng cách xỏ cây xuyên  từ hậu môn lên đến miệng, các màn chặt đầu và chôn sống.

Trong cuộc chiến tại Lebanon giữa Israel và Hezbullah vào năm 2006, cũng từng đã có những cảnh đáng kể tương tự được nhiều người công nhận là đã được trình diển nhằm tạo một ảnh hưởng tối đa để đánh lạc hướng các giới truyền tin khỏi những gì đang thực sự xẩy ra – hành vi bọn Hezbullah đã dùng người dân để làm bia che súng đạn và hỏa tiển của chúng. Việc tuyên truyền rất hiệu quả này đã  giúp kiềm chế không cho Israel, mà lúc đó đang mạnh hơn, để hoàn tất công việc tại Nam Lebanon. Qua đó, với sự đồng lõa của một giới truyền tin lười biếng, ngu dốt hay đối kháng, kẻ yếu thế đã có thể đánh bại cái sức mạnh quân sự mà đã tự bị ngăn cản bởi tiêu chuẩn đạo đức của mình.

Tại một bệnh viện, đoàn tùy tùng Muste đã gặp hai cô gái bị bại liệt. “Đó đã là  hơn cả những gì mà con người có thể chịu đựng được,” Muste đã tuyên bố. Feinberg thì cảm thấy “xấu hổ.”

Cũng không có gì đáng ngạc nhiên khi Feinberg đã viết, “bắt được một phi công Mỹ đã là  thành tựu tuyệt đỉnh của mọi người trẻ tuổi ở Việt Nam.”  1594 Chúng đã gặp các phi công, một đại-úy vô danh gốc Florida và một trung úy từ Kansas mà đã tỏ ra rất ung dung và có vẻ được đối xử “tuyệt tốt.”  Một người thì đã nói,  ” Tôi không bao giờ có thể hiểu được vì sao đã có chiến tranh”. Quả thật khó để mà nghĩ về người Việt Nam như là kẻ thù, “Họ đã dựng lên một cái cây và đã cho chúng tôi quà nhân Giáng sinh vừa qua. ”  1595

Trong khi Bắc Việt từ chối nhận thơ từ gởi cho các tù binh và từ chối cung cấp cho gia đình của họ danh sách những kẻ đã chết hay còn sống, thì ai cũng dự đoán là các tên theo nhân-đạo chủ-nghĩa ắt hẳn sẽ không tin các tuyên bố về những hành vi nhân đạo theo quan niệm Thiên chúa giáo như vầy , nhưng mà biết đâu, điều này đã làm lu mờ thành kiến rỏ ràng của chúng khiến chúng luôn luôn nhìn sự việc như là một trận chiến giữa sự tốt đẹp của Việt-nam với sự ác độc của Mỹ.

Trước khi về, chúng đã gặp Phạm Văn Đồng và Hồ Chí Minh. Hồ đã nói với chúng : “Ở đây chúng tôi theo nhiều tôn giáo …. Chúng ta có thể gặp gỡ và nói chuyện trong tình huynh đệ, ” nhưng lại bị bỏ qua là đã có biết bao nhiêu lãnh đạo tôn giáo mà y đã xử tử. Hồ Chí Minh đã mời Tổng thống Johnson tới Hà Nội ” để ông ta sẽ không đi mà lại kè kè một khẩu súng bên hông hay đi cùng các tướng  lãnh … Tôi cam kết trong danh dự là ông Johnson sẽ hoàn toàn có an ninh.” Dĩ nhiên sẽ cũng có trà và bánh ‘crumpets’. Abraham Feinberg đã nói với Hồ là đừng mong đợi quá nhiều vào phong trào chủ hòa. Đó là một thiểu số rất yếu. Phạm Văn Đồng đã đáp lại, “Tôi không có ảo tưởng nào cả … các người bạn khác đã nói với tôi rồi …” Trong thực tế, mặc dù tuy có vẻ công nhận như vậy, Hồ và Đồng cũng từng đã có kinh nghiệm gần đây ở Pháp và đã có cái nhìn rỏ ràng về vai trò chiến lược của phong trào phản chiến để giúp dành cho được một  chiến thắng quân sự  tối hậu.

Hai tuần sau đó thì A. J. Muste đã chết và I. F. Stone viết, “Thay vì được tặng  hoa thì các bạn của chúng tôi đều bị yêu cầu ra đi để tiếp tục hoạt động cho hoà bình.” 1596

KGB Xâm Nhập Các Mặt Trận Tôn Giáo

 Martin Niemoller đã khẳng định với những kẻ chủ hòa là y đã ủng hộ một Châu Âu phi hạt nhân – điều này đồng nghĩa với việc giải trừ quân bị đơn phương của Tây Âu trước các xe tăng và các vũ khí hạt nhân Liên Xô . Không đầy một năm sau chuyến dừng chân tại Hà Nội, Martin Niemöller sẽ đã nhận được Giải thưởng Hòa bình Lê-nin và đã tặng 11.000 $ để trợ giúp y tế cho Hà Nội vào năm 1967. 1597

Với gương của những đầu óc non dại như Niemoller và bằng cách sử dụng xuyên qua các Giáo Hội Nga Chính Thống Giáo (Russian Orthodox Church) và Hội nghị Hòa bình Thiên chúa giáo (Christian Peace Conference), ban nhân viên vối cả trăm tên của KGB cùng bọn điệp viên với những tên mật mã như là Svyatoslav, Voronov,  Antonov, Kuznetsov, Adamant, Altar, Magister, Roshchin, Zemnogorskiy, Mikhailov – sẽ thâm nhập sâu vào Hội đồng Thế giới của Giáo Hội  (World Council of Churches) và ảnh hưởng vào các cuộc thảo luận về Việt Nam tại hội nghị vào năm 1967, 1969 và 1972.  1598

Và ngày nay thì Hội đồng Thế giới các Giáo Hội đang ủng hộ bọn Palestine và bọn chiến binh thánh chiến Jihadists chống lại Israel và các lực lượng phương Tây khác ở Trung Đông.

Trong khi đó, vào năm 1967 thì Hà Nội đã huy động báo giới Mỹ khá dễ dàng.

 Thẫm Quyền Bất Khã Tranh cũa tờ New York Times về Vấn Đề Việt-Nam

Tiếp theo các bản tin trên tờ New York Times  của Salisbury , vào tháng giêng năm 1967, các tờ Ramparts, Lady’s Home Journal   và Redbook  đều cùng đăng  những bài về cuộc chiến do Hà Nội cung cấp mà tờ New York Times đã  thấy là “đáng để in.”

Tuyên Truyền Về Bom Lữa Napalm Đã Được Tin

Các tường trình đã cho thấy số thương vong dân sự và đăng kèm hình ảnh của trẻ em bị bom napalm đốt cháy.

Mỹ đã sử dụng có hiệu quả loại bom napalm để đánh các kho đạn dược và vật tư, nhưng lại tránh các đường hầm, và rất ít khi với thường dân. Tiến sĩ Howard Rusk thuộc Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc đã đến thăm 20 bệnh viện dân sự ở miền Nam Việt Nam và nhận thấy không có trường hợp bị phỏng cháy do bom napalm. Các bác sĩ Mỹ đã báo cáo với Tiến sĩ Rusk là đa số các tai nạn về phỏng cháy là đều do việc dụng xăng để nấu ăn. Một nhóm các bác sĩ Mỹ khác đã kết luận là  đã “không thể nào biện minh được cho việc nhấn mạnh một cách vô lý  . . . của báo chí về việc thường dân bị phỏng  cháy do bom napalm.  1599

Ấy vậy, Richard Perry đã viết trong Redbook , “Việt Cộng không sử dụng bom napalm: chính chúng ta đã sử dụng … Và có kẻ đã từng quên đi những đôi mắt hoang dại của số trẻ em đang câm lặng  khổ đau vì bị đốt bởi bom napalm. ”  1600  Trên thực tế, Việt Cộng đã từng sử dụng  napalm và rất thích nó. Chúng đã sử dụng súng phun lửa Trung cộng trong khoảng cách ngắn cho từng trường hợp riêng rẻ để đốt cháy hàng trăm thường dân vô tội trong các ngôi làng miền Nam Việt Nam, ví dụ như tại làng Dục Đức.

Nhưng cái sự thật về chất napalm của cộng sản lại đã mở đường cho thái độ bất mãn và tự hào về đạo đức. Các phản ứng loại này cứ sẽ mãi phát triển trong suốt cuộc chiến.

Chuyến Đi Sứ Mệnh Của Ashmore và Baggs

Nhờ sáng kiến ​​của Trung tâm Nghiên cứu các Định chế Dân chủ (Center for the Study of Democratic Institutions) của Hutchins Robert gởi thơ khẫn cầu và thông qua một trí thức Mễ là Luis Quintanilla, cựu chủ-bút tờ  Little Rock Gazette, Harry Ashmore và chủ -bút tờ MiamiNews, William Baggs  1601 đã được cho phép đến Hà Nội.

Ashmore và Baggs tự thấy mình là những kẻ duy nhất đủ điều kiện để hành xử trong tư cách trung gian hòa giải. Họ tuyên bố là họ đã “không thuộc các nhóm người hoạt động tìm hòa bình Mỹ cấp tiến mà đã dựa trên căn bản đạo đức để đi ủng hộ và do nhiều lý do thực tiển, đã đi theo phe Hà Nội.” Hơn nữa, nhìn từ quan điểm của Hà Nội, họ “sẽ có thể  …  ước lượng được  một cách trung thực công  luận của đa số và thực tế chính trị tại Hoa Kỳ. ”  1602

 Đó đúng quả là tự biên tự diễn.

 Robert Hutchins, sáng lập viên của Viện,đã là một kẻ đi theo chủ nghĩa quốc tế, một kẻ ủng hộ cho loại chính phủ xã hội chủ nghĩa trên thế giới . Y đã thuê Robert Scheer viết một cuốn sách nhỏ mà theo đó thì Việt Cộng là những người quốc gia yêu nước độc lập với Hà Nội và rằng người Công giáo, bọn gián điệp và diều hâu đã lôi kéo nước Mỹ vào một cuộc chiến tranh nội bộ.  1603  Hutchins đã từng là diễn giả chính tại Đại học California, Berkeley vào ngày 17 tháng 5 năm 1968, nơi mà 773 sinh viên thuộc tuổi quân dịch đã từ chối lên đuờng phục vụ. “Chiến tranh của chúng ta tại Việt Nam là bất công và vô đạo đức. Chừng nào mà Hoa-kỳ còn dính líu vào cuộc chiến này thì  tôi sẽ không phục vụ trong Quân-đội, ” các sinh viên đã cam kết như vậy và Hutchins đã hổ trợ họ.

 Hutchins, tay bảp trợ cho Ashmore và Baggs, đã là một kẻ chống cộng không tán thành chiến tranh mà đã suy luận là Hiến pháp Hoa Kỳ cần phải được sữa lại. Trung tâm Nghiên cứu các Định chế Dân chủ (Center for the Study of Democratic Institutions) của Hutchins Robert  đã xuất bản cuốn sách thiên Hà Nội của Robert Schemer How the United States Got Involved in Vietnam.  (Làm thế nàoHoa Kỳ đã Dính Líu Tới Việt Nam).

Bộ Ngoại giao đã thuyết trình trước cho các tên tự phong làm sứ giả hòa bình Ashmore và Baggs  với hy vọng là chúng sẽ có thể hiểu chút ít gì về những mưu tính của Hà Nội trong việc đàm phán ngõ hầu chấm dứt chiến tranh Việt Nam.

Chúng đến Hà Nội ngày 6 tháng giêng lúc phóng viên tờ New York Times là Harrison Salisbury đang trên đường về và Ủy ban Hòa bình đang lo “hộ vệ một nhóm các phụ nữ chủ hòa không có sổ thông hành”  cùng các thành viên của đoàn điều tra tội ác chiến tranh Russell.  1604

Ashmore và Baggs được chào đón bởi “những  cô gái Việt Nam tươi cười… mang theo những bó hoa cực đẹp” và bởi các đại diện của Uỷ ban Hòa bình Thế giới của Cộng Hòa dân Chủ Việt Nam và đã được mời trú ngụ tại khách sạn Metropole có trang bị tiện nghi để vô núp trong hầm tránh bom bê tông cốt sắt ở khu vườn sau. 1605   “Các cô gái mặc đồ bà-ba đen”  đã phục vụ “trà, cà phê, đậu phộng, kẹo, và những ly nhỏ rượu anh đào ngọt ngào của Việt Nam.”

Các tay phụ trách tiếp đón và thuyết trình của chúng đã là Phạm Ngọc Thuận, giám đốc quan hệ văn hóa, Hoàng Tùng, chủ bút tờ Nhân dân, báo chính thức của đảng cộng sản, Trần Công Tường, trưởng công tố viên, Lưu Quý Kỳ, chủ bút báo của Mặt Trận Giải phóng Quốc Gia và Đại tá Hà Văn Lâu, một quân nhân kiêm luôn nhà ngoại giao.  1606

 Ngoại trừ việc cầu Long Biên qua sông Hồng bị phá hủy , Hà Nội đã chỉ bị thiệt hại  bởi “những vụ không tạc lệch lạc”  mà Ashmore và Baggs đã đổ lổi cho “cách dội bom cẩu thả” hay “kiểu chất vấn rùng rợn – macabre heckling .”  1607

 Tuy nhiên, trong chuyến đi có hướng dẫn, chúng đã được cho thấy bằng chứng về thiệt hại lớn lao: “những tàn tích của trường học, bệnh viện, trại mồ côi, chùa, và … một nhà điều dưởng lao”;  tại Hà Nội thì là những ngôi nhà bị phá hủy trên đường Nguyễn Thiệp, cách “đường sắt đi Hải Phòng” độ 30 yards, 1608 tại Phủ Lý thì là một đoạn tiếp nối giữa đường sắt và đường bộ nát bấy vì bom; và ở Nam Định  thì là  “những khu nhà hoàn toàn bị san bằng.”  1609

Chúng đã nghĩ là mình đã kiểm chứng được các bản tin từng do Salisbury đánh đi rất là trung thực với kiểu tuyên truyền của Bắc Việt về việc dội bom tan nát  và các thương vong dân sự rộng lớn. Nhằm gây một ấn tượng sâu sắc,  “bằng chứng sống của một cậu bé độ 16 tuổi bị bom napalm đốt cháy ”  1610 đã được dẫn qua trước mặt chúng.

Ashmore và Baggs đã có được hai giờ nói chuyện với Hồ Chí Minh trong Dinh Thống Đốc cũ của Pháp cùng với Hoàng Tùng và nhà thơ Tố Hữu. Hồ Chí Minh có  “… một phong thái dễ chịu và tử tế đã khiến ta có thể xếp ông ta theo với Gandhi hơn … là một Mao khó tính và hung dữ. … Ông là một người đàn ông thành thị tao nhã, hoàn toàn thoải mái trong phòng khách thanh lịch của Dinh Thống Đốc cũ …” hay trong ” một nơi ở đơn giản với chỉ một căn phòng. ”

Hồ đã thuyết phục được chúng là nều Mỹ ngưng dội bom thì Hà Nội sẽ ngồi vào bàn hội nghị mưu tìm hòa bình 1611  và sau đó đã nói là chính Tổng thống Johnson mới là không muốn có hòa bình.

Sau đó thì các luật sư cũng sớm cùng các phóng viên báo chí tuyên bố nhiều lần với một sự tự tin chắc chắn về đạo đức .

 Ủy Ban các Luật Gia về Chính sách của Mỹ Đối Với Việt Nam

 Ngày 15 tháng giêng năm 1967, Ủy ban Các luật gia về Chính sách của Mỹ Đối Với Việt Nam đã thuê đăng một bài trên tờ New York Times với tựa đề “Mỹ can thiệp vào Việt Nam là bất hợp pháp.” Ủy ban đã bác bỏ khái niệm là Nam Việt phải có quyền tự phòng thủ, đã tuyên bố rằng Mỹ vi phạm Thỏa Ước Geneva và luôn Hiến pháp Hoa Kỳ và kêu gọi Hoa Kỳ đơn phương ngưng không tạc cùng  công nhận Mặt trận Giải phóng Quốc gia của Việt Công .

Các đòi hỏi Mỹ phải đơn phương đầu hàng  giống y hệt với những yêu cầu của cộng sản Hà Nội này đã không là một sự trùng hợp ngẫu nhiên.

Thành phần của Ủy ban Các Luật gia đủ nói lên sự thật. 1612  Ủy ban các Luật gia thiên cộng gồm các thành viên của CPUSA, những thành phần mà từng bị Hạ viện nêu ra như là  “thành lũy hợp pháp của đảng Cộng sản Mỹ CPUSA,  Liên đoàn các luật sư quốc gia (National Lawyers Guild), Ủy ban Báo Nguy về các Quyền Tự Do của Công dân (Emergency Civil Liberties Committee) mà đã từng bị liệt kê như là một mặt trận cộng sản và  nhóm American Civil Liberties Union (Hiệp hội các Quyền Tự Do của Công dân Hoa kỳ) rất hữu ích của đảng Cộng sản Mỹ CPUSA.

 Lãnh đạo của ủy ban gồm có , các đồng chủ tịch là Thượng nghị sĩ  Wayne Morse, William L. Standard  và Joseph H. Crown cùng với Carey McWilliams, Malcolm Monroe, Aaron M. Diamond, Robert  l. Boehm, Harold  I. Cammer,  William Meyers, Hoch Reid.  1613

 Standard, Crown và Cammer đã là những thành viên lâu năm của National Lawyers Guild mà  Ủy ban Đặc biệt Hạ viện về các Hoạt động chống Hoa kỳ (Special House Un-American Activities Committee HCUA) trong năm 1950 đã nhận dạng như là một “thành lũy hợp pháp hàng đầu của Đảng Cộng sản, của các tổ chức tiền phương của nó  và của các công đoàn do đảng kiểm soát.”

 Trong mọi vấn đề, National Lawyers Guild NLG đã không bao giờ chủ trương khác với ông thày của CPUSA là Liên Xô, ngay cả đối với các vụ tòa xử để tuyên truyền làm gương, các trại lao động khổ sai và việc xâm lấn Đông Âu.  1614

 Thật vậy, Ủy ban các Luật gia về Chính sách đối với Việt Nam (Lawyers Committee of Policy toward Vietnam) cũng là một chi nhánh thuộc một mặt trận của Liên Xô, Hiệp hội Luật sư Dân chủ Quốc tế (International Association of Democratic Lawyers) mà đã từng tổ chức các hội nghị về Việt Nam vào năm 1961 tại Budapest, năm 1968 tại Grenoble, năm 1971 tại Algiers và năm 1975 tại Paris. Do một “sự tình cờ đầy hạnh phúc”, quan điểm của nó lại rất trùng hợp với các tiêu chuẩn mà Hà Nội đã đưa ra.

Hà Nội cũng ráng tìm kiếm sự hỗ trợ của những người không là cộng sản.

 Martin Luther King Bị Vận Động Mời Gia Nhập Phong Trào Phản Chiến

Vào tháng giêng năm 1967, nhiều cố vấn thân cận của Martin Luther King, kể cả bà vợ Coretta, Stanley Levison  1615  và Bevel James đã thuyết phục King  nên để ý nhiều hơn đến Việt Nam.

 Bevel – một mục sư Baptist, một nhà hoạt động dân quyền và cũng chính là một kẻ chủ trương hòa bình  – đã thành lập Ủy ban Điều hợp các Sinh viên Bất bạo động (Student Nonviolent Coordinating Committee SNCC) và đã tham gia Hội nghị Lãnh đạo Thiên chúa giáo Miền Nam (Southern Christian Leadership Conference  SCLC) của King. Bevel và vợ là Dianne Nash đã nhận được “Giải thưởng Hòa bình của “Liên đoàn Phản Chiến – War Resister League” vào năm 1964. Năm 1965, Bevel đã kêu gọi thành lập một “đội quân hòa bình quốc tế” để đoàn kết các phong trào tranh đấu cho quyền dân sự và phản chiến, nhưng King cũng như  nhiều nhà lãnh đạo tranh đấu cho dân quyền đã sợ nếu hành động như vậy thì sẽ làm loãng đi mục tiêu  dân quyền vào với các vấn đề khác.

 Tháng 2 năm 1967, King đã có bài phát biểu “Các Thiệt Hại do Chiến tranh Việt Nam – The Casualties of the War in Vietnam”  với các Thượng nghị sĩ phản chiến. King vẫn còn tuyên bố là chiến tranh Việt Nam đã làm công chúng Mỹ xao lãng về các vấn đề dân quyền.

 Mary McCarthy tại Sài-gòn

 Trong tháng 2 năm 1967, Mary McCarthy, một tiểu thuyết gia người Mỹ gốc Paris, kẻ tự xưng là “một loại người theo khuynh huớng xã hội chủ nghĩa không tưởng “,  1616  theo lịnh của New York Review of Books đã đi Nam Việt dù không hề có  kinh nghiệm về tường thuật báo chí gì, để “tìm kiếm các dữ kiện khã dỉ gây tổn thương cho quyền lợi của Mỹ” ngõ hầu ” hướng công luận theo lập trường phải chấm dứt chiến tranh. ”

 Mọi người trong giới tự do xã hội của y thị đều chống chiến tranh. Y thị đã nhận thấy là hành vi dội bom Bắc Việt là “không thể nào tưởng tượng được” và tin là chỉ có “những công dân gương mẫu Đức” thì mới sẽ từ chối để phản đối.

Tin tưởng vào việc động viên giới lao động và các khóa dạy tại chổ trong các xí nghiệp, y thị chỉ đến được Sài Gòn, Nam Việt để khám phá ra một nền thương mại Mỹ, chủ nghĩa tư bản, hàng Đức giả mạo với giá rẻ, tầng lớp hạ cấp, khói bụi, rác rến, xe cộ đầy đường, toàn đồ xấu xí cũng như là một quân đội Mỹ quá hùng mạnh,  ” cường quyền, . . . hoàn toàn chỉ đơn thuần là quyền lực và sức mạnh.”

Y thị đã nghĩ,  “Mọi người  chỉ lưu tâm đến … tiền bạc,” nhiều kẻ đã chỉ là những nhà phát triển tay non kiểu California. Y thị hoàn toàn không tin mọi tường trình của các viên chức Mỹ, không hề tin là đã có những hành vi tàn ác  của Việt Cộng, không hề tin vào các công tác tốt mà người Mỹ đã thực hiện cho nền y tế, cho các trường học và cho an ninh Nam Việt .

McCarthy nhận ra là đầu óc các viên chức Mỹ rất nông cạn. Họ có lòng tốt nhưng họ đã đang phá hủy đường sá, đang điều hành những trại tập trung, đang làm nạn  mù chữ gia  tăng, đang đánh bom napalm trúng trẻ em, đang chủ trương một chính sách diệt chủng và đang phá tan nông thôn với rác rến. 1617

Mary McCarthy đã phát biểu như một thẩm quyền có căn bản về đạo đức của một kẻ tự phong là thành viên thuộc nhóm tinh hoa  trí thức, một thành viên của giới văn nhân mà đã từng rên rỉ, trong khi rất ít người đã đọc, điểm hay mua các cuốn sách nhỏ của y thị viết về Việt Nam.  Một Nam Việt tư bản, chạy theo đồng tiền thì quả khác xa với một viễn ảnh  không tưởng về xã hội của Mary McCarthy. Sau đó thì y thị sẽ tìm thấy được một Bắc Việt khá phù hợp và tốt đẹp hơn cho đúng với thành kiến trí thức sẳn có của y thị.

Liệt Sỹ Nguyễn Văn Bé ĐượcTìm ThấyVẫn Còn Sống, Nhưng Vẫn Bị Khai Tử – Tháng 2 Năm 1967

 Trong tháng 2, người anh hùng đầy huyền thoại của Việt Cộng là Nguyễn Văn Bé, kẻ đã hy sinh mạng sống để tiêu diệt các xe tăng và giết chết 69 kẻ thù của cách mạng trong tháng 5 năm 1966 và đã trở thành biểu tượng của một anh hùng chính thống trong chính sách tuyên truyền của cộng sản, một cách kỳ diệu đã được tìm thấy là còn sống và khoẻ mạnh.

Nội vụ đổ bể ra là Nguyễn Văn Bé đã là một thành viên Việt Cộng bị kết án, là một tù binh ở Nam Việt. Nguyễn Văn Bé nay mới kể lại câu chuyện thật làm sao y đã bị bắt, khác xa với truyền thuyết anh hùng vị tha của y. Khi nghe tiếng pháo điếc tai thì y đã dĩ nhiên nhảy xuống một con mương và từ đó quân đội VNCH đã nắm tóc kéo y lên. Nguyễn Văn Bé đã không hề là một anh hùng. Y không hề là  kẻ đánh bom tự sát. Tệ hơn nữa là y lại còn sống và điều này có vẻ như đã loại y ra để không còn là một liệt sỹ và Anh hùng Cách mạng.

Các Vụ Nói Láo Động Trời Lại Có Hiệu Quả

 Bọn Cộng sản từ Bắc xuống  Nam có cẻ như bị một vụ nói láo động trời chế ngự.

Chính phủ Nam Việt và Văn phòng Liên hợp về Công vụ Hoa kỳ (Joint United States Public Affairs Office JUSPAO)  ngay lập tức nhận thấy đây là một cơ hội để chứng minh là cộng sản nói láo. Robert W. Chandler  viết: “Vào tháng 7 năm 1967, JUSPAO đã công bố công khai vụ Bé … thông qua … 30 triệu tờ truyền đơn, 7 triệu truyền đơn vẻ hình, 465.000 áp phích, một tờ báo đặc biệt với  175.000 ấn bản, 167.000 bức ảnh, 10.000 tờ in bài hát, nhiều phim ảnh  và vô số chương trình phát thanh và truyền hình để cho thấy mặt Bé, cùng gia đình và  … số bạn bè của y. ”

Lời nói láo động trời đã bị lộ diện, hay là có vẻ như vậy thôi.  1618

Liệu rồi  Cộng sản sẽ phản ứng ra sao? Chúng sẽ làm gì? Thomas William Hoffer viết rằng Cộng sản phản ứng lại bằng cách gọi sự thật mới được phát hiện này là một “sáng chế ” – mật hiệu cấp tiến kiểu dùng cho, “mày bắt gặp tao quả tang nhưng tao vẫn giữ nguyên câu chuyện kể của tao.”  Dù Bé hãy còn sống, điều đương nhiên loại bỏ nhãn hiệu liệt sỹ, Cộng sản vẫn nhiệt tình tổ chức lễ kỷ niệm ngày tang của anh ta và đã xem việc tái sinh của anh ta như là một  “sự giả tạo” 1619   Đài phát thanh Hà Nội thẳng thừng chối bỏ là Nguyễn Văn vẫn còn  sống. Ngày 16 tháng 3 năm 1967, Đài phát thanh Hà Nội – tiếng nói của Hannah Hà Nội  và Jane Fonda – đã nói là việc công bố Bé hãy còn sống rõ ràng là một “đòn chiến tranh tâm lý bẩn thiểu.” Đây là một điển hình của sự miệt thị cực kỳ mà địch đáp ứng với các khã năng của nhân dân Mỹ trong việc nhận định và về sự tự tin của chúng trong khã năng tẩy não sau đó của các tên điệp viên tuyên truyền của chúng.

… Các cơ quan chiến tranh tâm lý của Mỹ và tay sai của chúng ở Sài Gòn đãsử dụng mọi thủ đoạn tuyên truyền để sang chế ra một câu chuyện về sự xuất hiện của Nguyễn Văn trong nhà tù của chúng trước khi loan tin rằng Nguyễn Văn đã bị bắt và đang sống an toàn trong nanh vuốt của chúng mà không hề bị tra tấn.

Đài Hà Nội tiếp tục, “hình ảnh của anh Bé đã được khắc ngày càng sâu vào trái tim của hàng triệu người. . … Mánh lới lừa đảo của chúng về anh hùng Nguyễn Văn Bé là một tội lổi đầy hổn láo với nhân dân Việt .”  Tờ báo chính thức của đảng Lao Động là tờ Nhân dân  đã tường trình: ” Ta không cần tìm xem kẻ nào đã thay thế Bé trong đống tài liệu cồng kềnh và các tập tin của CIA.  Zorthian (Giám đốc JUSPAO) chỉ đơn thuần dùng kỹ thuật  Hollywood  trong việc lựa chọn các diễn viên và trong nghệ thuật y khoa nhằm thay đổi những đặc điểm trên khuôn mặt như đã được áp dụng tại Hồng Kông và Nhật Bản.”  Đã có một Nguyễn Văn Bé giả mạo nhờ giải phẫu thẩm mỹ.

Kiểu trình bày này của cộng sản đã thành công.

Người dân Nam Việt đã tin rằng thực sự Nguyễn Văn Bé đã chết và Nguyễn Văn Bé hiện tại chỉ là một kẻ mạo danh.

SGM Herbert A. Friedman viết, “Đây là một trong những trường hợp rất hiếm hoi  mà lời dối trá đã có hiệu lực hơn là sự thật.”

Ngược lại, việc Hà Nội thành công trong công tác tuyên truyền và qua các hành động chính trị trên toàn thế giới trong thời gian chiến tranh và qua việc viết kể lại lịch sử cho thấy cuộc chiến tranh Việt Nam là một cuộc chiến tranh của những lời dối trá và điều dối trá tuyệt nhất và dai dẳng nhất đã giành được chiến thắng.

 Hồi giáo có danh từ tacquiyađể chỉ việc nói láo và lừa dối. Hành vi này không bị thế giới lên án, nhưng tương đối với người Palestine và các người Hồi giáo khác, nói dối là một hình thức nghệ thuật đã được phát triển rất điêu luyện. Con người sẽ rốt cuộc tin vào cái gì bị lặp đi lặp lại thường xuyên và sẽ không tin là các cuộc xung đột mà mình đã biết được qua các thành kiến là có đúng hay không. Ở một mức tối thiểu nào đó, việc một lời nói láo sẽ có thể gây ra bối rối, mơ hồ và mất phương hướng thì cũng là đủ để thực hiện ý đồ của kẻ gian.

Các Láo Trá về Số Thương Vong

Ngay cả những điều dối trá đáng kinh ngạc nhất của địch cũng không được một giới báo chí đấy hoài nghi quan tâm đến mà họ lại chỉ mãi lo nghi ngờ các báo cáo của đồng minh về các con số tử vong của địch tại Nam Việt. Sau các chiến dịch  “Junction City” trong tháng 2 năm 1967, các con số tử vong chính thức của Mỹ và Nam Việt do Bắc Việt công bố là 13.500. Con số thật sự đã là 282.  1620

 Trong khi con số thương vong ở miền Bắc do việc Mỹ không tạc đã hoàn toàn bị phóng đại và các nhóm chủ hòa đã có thể cáo buộc một chiến dịch diệt chủng ở Bắc thì con số chính thức của Hà Nội lại cho thấy khác đi, có lẽ chỉ có tổng số 2.000 bị thiệt mạng trong năm 1967 mà thôi. 1621

 Cùng với việc các dối trá này không hề bị tố cáo, huyền thoại về những chiến thắng của cộng sản đã cứ mãi tiếp tục kéo dài qua cả một thập kỷ mà thực sự chỉ là  một chuổi dài thất trận cùng biết bao hy sinh vô lường của thường dân và thanh thiếu niên chỉ nhằm  để tăng cường quyền lực của một thiểu số ở miền Bắc.

Tương tự như vậy, các tên phản chiến chủ hòa và có lẽ cả luôn Hồ Chí Minh cũng đã thuyết phục được Tổng thống Johnson là ông đã đang mất lòng dân. Ấy vậy, vào ngày 26 tháng 2 năm 1967, một vụ thăm dò của Gallup Poll đã cho thấy rằng chỉ có 24% là muốn ngưng dội bom. Con số đông là 67% đã chống lại việc này.  1622 Nhân dân Mỹ đã muốn có một tổng thống cứng rắn, chứ không phải là một tổng thống yếu đuối.

 Gần sau đó thì CIA đã bắt đầu phân tích và ước lượng sơ sơ về bọn biểu tình phản  chiến.

CIA Theo dõi Phong Trào Phản Chiến

LỘN XỘN: ‘MERRIMAC’ và ‘KHÁNG CHIẾN’

Trong tháng 2 năm 1967, cái con quỷ mà tả phái mọi nơi thường nêu ra là CIA, đã phát động kế hoặch MERRIMAC và bổ nhiệm nhiều nhân viên để theo dõi các nhóm bất đồng chính kiến ​​trong khu vực Washington mà khã dỉ có thể đe dọa tính mệnh các nhân viên CIA và các cơ sở nằm gần đó tại Langley, Virginia.

 Tại công viên các trường đại học, những nhân viên đi tuyển dụng cho CIA đã là các mục tiêu để quấy rối và có thể để diệt trừ luôn. Và vào mùa thu năm 1968, một tên nào đó sẽ đã đặt bom nổ một văn phòng tuyển dụng của CIA tại Đại học Michigan.  1623  Một nhân viên CIA đã thành công xâm nhập được một nhóm phản chiến và đã được chuyển qua cho FBI  điều hành. MERRIMAC được tiếp tục cho đến tháng 11 năm 1971 khi Cảnh sát Thủ đô bắt đầu đảm trách bảo vệ an ninh cho các cơ sở và nhân viên của CIA. 1624

 Kế hoặch KHÁNG CHIẾN nhằm thống kê lại tin tức về bọn cấp tiến từ nhiều nguồn công khai như báo chí và phối hợp với các cơ quan cảnh sát địa phương. Là một phần của CHAOS thuộc CIA, những nỗ lực này đã được thiết lập để trả lời các câu hỏi về ảnh hưởng của nước ngoài trong các phong trào phản chiến. Các điệp viên CHAOS hoạt động ở nước ngoài đã thu lượm được thông tin khá phong phú về các hoạt động của các nhóm phản chiến bên trong Hoa Kỳ. “Tuy là nhằm vào mục tiêu ở nước ngoài nhưng các điệp viên (CIA) này… cũng đã phát hiện được các mục tiêu cấp tiến, tả khuynh và cộng sản Mỹ ngõ hầu có được một hiểu biết thực dụng về  giới thiên tả, cấp tiến và cộng sản.”  1625

Các điệp viên CIA đã không hề hiểu được những gì mà họ đã sưu tra được .

CIA đã từng khẳng định trong độ nữa tá báo cáo suốt năm 1974 là các thành phần ngoại quốc đã không hề có một vai trò quan trọng nào trong phong trào phản chiến quốc nội. Các báo cáo vô nghĩa kiểu này của CIA đã gây thất vọng và khiến hai Tổng Thống cùng nhiều cố vấn của họ phẫn nộ. Làm thế nào họ có thể đã sai lầm đến như vậy khi sự thật đã rất là minh bạch rõ ràng ngay cả cho những người ít quan tâm và ít tìm hiểu?

Điều Cấm Kỷ Quốc Nội của CIA

 Một lý do có thể có được là truyền thống tổ chức của CIA luôn chống lại bất cứ điều gì chỉ phảng phất hơi hướm “quốc nội”. Sự phân biệt pháp lý giữa quốc nội và ngoại quốc đã có trong hiến chương CIA. Vi phạm hiến chương không chỉ có  nguy cơ vi phạm các quyền tự do dân sự của người công dân Mỹ mà còn đưa định chế và các nhân viên chuyên môn vào một hoàn cảnh ngặt-nghèo. Cẩn thận vẫn là điều tốt nhất khi cần bảo vệ tổ chức và là ưu tiên hàng đầu.

Dù vậy, CIA đã không muốn dính líu gì tới việc tìm kiếm các mối liên hệ với nước ngoài tại các hội nghị quốc tế được tổ chức công khai với các bài diển văn nơi công cộng và các hội nghị phổ biến tin tức. Sở Phát Thanh Thông Tin Ngoại Quốc của CIA (Foreign Broadcast Information Service FBIS) đã không chịu thu băng lại các chương trình phát thanh những lời của những người Mỹ trên Đài Hà Nội. Toàn thế giới thì có thể nhìn và lắng nghe nhưng CIA thì lại không muốn vậy.

Giới Chức Điều Hành CIA Chỉ Lo Cho Mình

Giám đốc CIA Helms đã sẽ ra chỉ thị cho nhân viên CIA về các cuộc biểu tình sắp tới tại Nhũ Giác Đài vào mùa thu là thông tin được cung cấp sẽ được giới hạn với “những gì chúng ta tìm thấy được một cách bình thường.”  1626 Không cấn phảiđi lung tungtìm kiếm chi cho nhiều.Trong suốt chiến tranh Việt Nam đã có ít bằng chứng có thể cho thấy được là CIA đã làm nhiều hơn là việc chỉ viết lại các bản ghi nhớ, dựa trên các cuộc điều tra và nghiên cứu của những người khác.

 Như James Angleton đã sẽ khám phá ra và do đó sẽ mãi mãi bị kịch liệt chỉ trích, CIA đã chống lại việc cố gắng thi hành những công tác phản tình báo hầu tìm cho ra các gián điệp ngay trong nội bộ của mình, ví dụ như Aldrich Ames. Những việc như vậy quả rất xấu về phương diện tinh thần. Và FBI với tình báo quốc phòng đã phải thận trọng và kín đáo khi chia sẻ cho CIA tên tuổi của các tên gián điệp cộng sản từng bị nhận dạng của Venona  tại Hoa Kỳ.

 Chỉ có một tên điếc, câm và mù mới không nghe được, không thấy được  và không hiểu được cách thức một số hoạt động phản chiến đã trợ giúp và yểm trợ kẻ địch.

Các Chuyền Đi Hà-nội Bảo Trợ bởi Russell – Tháng Giêng tới Tháng Ba năm 1967

 Tổ chức Peace Foundation  của Bertrand Russell đã bao chi phí cho ba mươi  “quan sát viên quốc tế” khác nhau đi thăm Bắc Việt trong các tháng Giêng, tháng 2  và tháng 3 năm 1967.

 Ralph Schoenman, Tổng Thư ký của Russell đã báo cáo, “Mỗi người có khã năng được tham gia đều đã được điều tra kỹ lưởng là có xứng đáng không  … và đặc biệt là có ý thức trách nhiệm đối với các cố gắng của  tình báo Mỹ nhằm gom góp tin tức về … hậu cần tại Bắc Việt.” 1627  SNCC đẵ chỉ định Julius Lester, CharlieCobb và Conrad Lynn đi. Các phóng viên John Gerassi  1628  và Carol Brightman, 1629  sáng lập viên của ViệtReport, 1630  đã dành một tháng trời để thu thập các lời khai ở các tỉnh Nam Bình và Thanh Hóa.

Ngày 30 tháng chạp năm 1966, phóng viên John Gerassi, nhà vật lý người Pháp Jean Vigier, Luật sư Pháp Leon Matarasso, Giáo sư Tô-cách-lan Malcolm Caldwell, Giáo sư Nhật  Setsure Tsurushima  và Nhiếp ảnh gia Pháp Roger Pic đã bay từ Phnom Penh đến Hà Nội để lưu lại trong vòng 16 ngày hầu nghiên cứu các tội ác chiến tranh của Mỹ mà làm bằng chứng cho Tòa án của Russell. Họ được thu xếp ăn ở trong một biệt thự thời thuộc địa và phục vụ bằng các món ăn hảo hạng Pháp, họ đã bị nhồi nhét những tài liệu của bọn cộng sản Việt Nam về các tội ác chiến tranh và cũng chịu chấp nhận cho bọn cộng sản kiểm duyệt các hình chụp của họ. Wilfred Burchett  thì luôn luôn đi kè kè Gerassi với bộ sậu để nhắc nhở.

John Gerassi

Một số rất hiếm hoi nhận xét của Gerassi đã không được Hà Nội đồng ý: Hà Nội đã không hề bị dội bom nặng nề như từng được tuyên bố và các dàn cao xạ phòng không lại đã được đặt phía trên cùng của nhiều kiến trúc,  kể cả các  trường học.

Dù vậy, Gerassi cũng đã chèn được các tài liệu Bắc Việt  1631  vào trong cuốn sách của mình là quyển North Vietnam: a Documentary, dưới hình thức là chỉ một đọc giả rất là cẩn trọng mới có thể nhận ra được chổ nào thì ngôn từ tuyên truyền của Bắc Việt bắt đầu rồi kết thúc và Gerassi cứ tiếp tục mãi kiểu như thế trong toàn quyển sách.

Một bài, Report on US War Crimes in Nam Dinh City (Báo cáo về tội ác chiến tranh của Mỹ tại thành phố Nam Định), 1632  đã mô tả chi tiết về tầm quy mô lớn của các cuộc tấn công  của Mỹ – 23 trận không tạc, 1.135 phi vụ, 2.000 trái bom, 1.800 hỏa tiển và đã tường thuật  là có tới 89 người đã thiệt mạng và 405 người bị thương trong tổng số 93.000 dân trong chu vi trên năm dặm vuông.  1633

Con số thương vong tương đối nhỏ khi so sánh với tổng dân số, 89 người chết trong tổng số 91.000 người, trên thực tế biện minh được cho Mỹ và đánh đổ các cao rao của Hà Nội, “Mỹ đã cố gắng hết sức để phá hủy các bệnh viện, trường học, nhà giữ trẻ, trường mẫu giáo và thậm chí luôn cả nhà thờ và chùa chiền.” Người Mỹ thì lại đã cố hết sức để bảo vệ một cách có hệ thống thay vì đánh phá những mục tiêu như vậy.

 Không hiểu do một sự kỳ diêu nào đó mà Gerassi cứ tiếp tục chạm mặt trên đường phố trong một thành phố có 93.000 dân số với những người trong gia đình các nạn nhân đã bị giết chết, ví dụ như Trần Thị Mai, Trần Đại Nghĩa. Mặc dù xác xuất hiếm hoi về khã năng có được của các cuộc gặp gỡ như vậy là chỉ một trong 1000, Gerassi đã viết là các gặp gỡ như vậy là “hoàn toàn tình cờ.”

 Gerassi đã in lại những đoạn dài trích  tài liệu của Bắc Việt tuyên bố là Hoa Kỳ đã cố ý và cân nhắc trước để dội bom các bệnh viện, trường học và đê điều. Khi được cho thấy vài bệnh viện , trường học và đê điều bị thiệt hại, Gerassi chấp nhận đó như là những báo cáo đúng sự thật mà y gọi là “tuyệt vời” và “đáng kinh ngạc.”  1634 Các con số về mục tiêu cá nhân bị trúng bom và các chi tiết khủng khiếp đơn giản quả thực là quá xấu để được đúng thật. Đó chỉ là một trò chơi về tự tin của cộng sản, một vụ lường gạt, một trò lừa bịp và lừa đảo mà đầy người Mỹ đang theo đuổi “hòa bình” đã sẵn sàng tin là cái điều tồi tệ nhất về đất nước của họ quả có thật.

 Nhấm Trà với Phạm Văn Đồng

Ngày 11 tháng giêng năm 1967,  John Gerassi, vật lý gia Pháp Jean Vigier, luật sư Pháp Leon Matarasso, giáo sư Nhật Setsure  Tsurushima, nhiếp ảnh gia  Pháp Roger Pic, Wilfred Burchett và bảy người Nhật  “điều tra viên về các tội ác chiến tranh” đã được đưa vào Phủ Chủ tịch để gặp Thủ tướng Phạm Văn Đồng mà nhấm trà, thưởng thức rượu trái cây và ăn quýt trong ba giờ đồng hồ.

Đồng đã giới thiệu cho Hồ từng người trong phái đoàn gồm mười bốn người, cả luôn quốc tịch, tên tuổi và nghề nghiệp khiến các khách mời đều ngạc nhiên. Mang đôi dép làm từ võ xe, Hồ Chí Minh đã cúi xuống gần một phút để đọc một bức điện Bertram Russell gởi cho rồi nói, phần nào như là , “Chúng tôi cương quyết  chiến đấu đến cùng.” Đồng cho biết sẽ không có đàm phán cho đến khi không tạc phải chấm dứt và đưa ra bản Bốn điểm của mình (8 tháng 4 năm 1965) về  một thu xếp tối hậu: 1/ Mỹ rút quân, 2/ Không được có liên minh ngoại quốc ở Bắc hay Nam, 3/ Nam Việt tự giải quyết công việc nội bộ chiều theo chương trình của Mặt Trận Giải Phóng Quốc Gia, 4/ Thống nhất  trong hòa bình.

 Đồng đã nói, “Việt Nam đặt ra một vấn đề cho lương tâm loài người … cho sức mạnh đạo đức. … Vấn đề là phải huy động các dân tộc trên thế giới để chống lại sự  xâm lược của Hoa Kỳ.”  Huy động công luận thế giới đã là lý do tại sao Đồng và Hồ đã dành quá nhiều thì giờ như vậy chỉ để gặp một nhóm người tầm thường ngõ hầu thảo luận về những vấn đề lớn của chiến tranh và hòa bình.

 Với một quan điểm khác về vấn đề huy động, Gerassi đã hỏi Đồng liệu y có sẽ chấp nhận sự giúp đở của các lữ đoàn quốc tế hay không.

 Đồng đã trả lời: “Chính là nhân dân đang đối mặt với các nỗ lực của Hoa Kỳ nhằm thống trị thế giới. … Sẽ đến lúc  … khi mà chúng tội sẽ phải chấp nhận … các lữ đoàn quốc tế, vũ trang và dân sự.” Đồng tuyên bố về Nam Việt  “nói là Mặt Trận Giải Phóng Quốc Gia do chúng tôi điều khiển là không đúng.”  Bọn  Nam Việt man rợ ” đã cứ mổ bụng nhân dân.”

 Đồng đã kết luận, “Tôi biết là cực kỳ khó khăn cho những người Mỹ ngay thẳng  và can đảm mà đang cố gắng để nói lên sự thật.” Rồi Đồng, tên nói láo kinh niên mà ta vừa mới thấy đã ôm choàng lấy Gerassi. 1635 Và tình thân thiệnnồng ấm tỏa đầy khắp gian phòng.

 Trước khi ra về, Carol Brightman có nhớ lại, “Một đêm hôm đó … tại khách sạn Metropole ở Hà Nội, đang lúc uống rượu  và trao đổi chuyện trò với nhau”, Ralph Schoenman “đứng lên tại một bữa ăn tối với các nhà lãnh đạo Bắc Việt và quở  trách là  tại sao họ lại nghĩ chi đến hòa bình (Bốn điểm đề xuất hòa bình). Y nâng ly chào mừng chiến thắng; không một ai đã trả lời .” 1636  Nay thì Schoenman cho ký ức của Brightman chỉ là trò hề, nhưng y vẫn tự hào về tinh thần đoàn kết của y với giới lãnh đạo Hà Nội từ năm 1963.  1637

 Từ ngày 15 đến 19 tháng giêng năm 1967,  nhóm của Gerassi và nhóm sau đó của Russell đã gặp nhau ở Phnom Penn và đi đến biên giới giữa Campuchia với Nam Việt, nơi mà chúng sẽ được thuyết  trình về các lần xâm nhập của Nam Việt vào lãnh thổ có chủ quyền của Campuchia, về những câu chuyện của người tị nạn trốn thoát khỏi cảnh tra tấn của Nam Việt, nhưng họ không hề tìm thấy được bằng chứng nào của quân đội Bắc Việt hiện diện ở Campuchia.  1638

Tên Mác-xít chủ trương vô chính phủ Gerassi sẽ đã có một sự nghiệp chuyên nhằm đổ lỗi cho Hoa Kỳ về mọi điều ác độc trên thế giới, kể cả luôn các cánh đồng tử hình của Pol Pot ở Campuchia, rồi gán mọi điều tốt đẹp cho bọn Cộng sản như là Hồ, Castro, Che Guevara, luôn cả Abimael Guzmán, tên điên khùng chỉ huy lực lượng Shining Path sát nhân tại Peru. 1639

 Toán Tuyển Mộ Thứ Nhì của Russell

 Trong toán thứ nhì được tuyển mộ của Russell, một lãnh tụ SNCC và là kẻ từng đi Cuba tên Julius Lester nhớ lại là đã đến vào lúc ban đêm, “trong bóng tối chợt tiến đến cái người phụ nữ rất hấp dẫn này với một bó hoa trên tay.”

Trong tháng kế tiếp, Lester nhớ được về nhiều  “buổi tiệc cầu kỳ với thực đơn Pháp … 6 tới 7 món kéo dài trong nhiều giờ.”

Lester bị mất hứng vì cái kiểu tuyên truyền cà-khịa này của cộng sản và có nhớ lại là đã từ chối đọc một bài “phản động” trên đài phát thanh nhắm vào các binh sĩ da đen . 1640 Trong thực tế, Lester, 1641 cùng với Cobb 1642 và Ralph Schoenman, thư ký của Russell, đã có lên tiếng trên Đài Hà Nội. Schoenman đã nhắn quân đội Mỹ là họ đang tham dự một “chiến tranh man rợ … có sử dụng hơi  và hoá chất độc, có dội bom các trường học và bệnh viện của họ … để thực hiện mọi tội ác chiến tranh có thể có được theo sách vỡ.” 1643  Các phát ngôn viên cho tòa án Russell, Ralph Schoenman và bọn Việt cộng đã chuẩn bị sẽ cho toán được tuyển mộ này dự kiến những gì và sẽ phát ngôn ra sao.

Vào giữa tháng giêng năm 1967, John Gerassi, viên Giám đốc Mỹ của Toà án Russell ở Hoa kỳ cho biết: “Các trận không tập đều chỉ nhằm để giết người .” Y  đã gọi Mỹ là “kẻ thù của nhân dân Việt Nam.”  1644  Tay sinh viên Dan Styron thuộc Mobe đã công bố ra mắt các “tòa án xét xử tội phạm chiến tranh” trên tờ Student Mobilizer  ngày 17 tháng giêng và nói là “Đã có bằng cớ rằng Chính phủ Mỹ đã phạm các tội ác chiến tranh ở Việt Nam.”  1645

Nhân viên  và những người Mỹ từng tham dự Tòa Án Russell đã là: Dave Dellinger, Gerassi John, Mark Lane, Carl Oglesby, Stokely Carmichael, Courtland Cox, Peter Martinson, David Tuck, Donald Duncan.

Ralph Schoenman đã từng là tay thư ký nâng bi có ảnh hưởng của Russell. Schoenman đã khiến nhà triết học của chủ nghĩa duy lý Russell nói lên những điều như, “… Kennedy độc ác hơn Hitler.”  Russell đã “kêu gọi (Khrushchev) không nên để những hành động bất khã biện minh của Hoa Kỳ kích động mình” nhân cuộc khủng hoảng hỏa tiển Cuba. Russell ủng hộ giả thuyết  Mark Lane là chính CIA đã giết Tổng thống Kennedy.  Điệp viên KGB Genrikh Borovik đã giúp Mark Lane đưa ra giả thuyết này. 1646 Bô lão 94 tuổi Russell dường như sẳn sàng tin mọi điều mình nghe được.

 Theo David Horowitz thì Tòa án đã là cách Schoenman bày tỏ tình đoàn kết với Việt Nam, có nghĩa là hỗ trợ cho Mặt trận Giải phóng Quốc gia.

 Phong Trào Phản Chiến vẫn là Mặt Trận Thứ Nhì

 Ngày 2 tháng 2 năm 1967, tờ NhânDân, tờ báo chính thức của đảng cộng sản đã lại công bố một lần nữa là phong trào phản chiến là “mặt trận thừ nhì” trong cuộc chiến:  ” Phong trào phản đối của nhân dân Mỹ nhằm chống lại cuộc chiến tranh hung hãn của Mỹ tại Việt Nam đã thực sự trở thành một “mặt trận thứ nhì” chống lại chủ nghĩa đế quốc của Mỹ tại Hoa Kỳ.”  1647

 Thủ tướng Bắc Việt Phạm Văn Đồng và Ủy ban Hòa bình Việt Nam 1648 đã công khai “ca ngợi cuộc đấu tranh của toàn dân Hoa Kỳ chống lại chiến tranh xâm lược của Johnson tại Việt Nam.”  1649

 Vào giữa tháng 2, một cuộc khảo sát Harris cho thấy là 67% người Mỹ muốn tiếp tục  chiến dịch “Rolling Thunder” nhằm oanh tạc Bắc Việt, 1650 và làm cho ta tin thêm là Johnson đã e sợ phong trào phản chiến hơn là làm theo ý muốn của người dân Mỹ mà lúc đó đang mong muốn những gì Tổng thống của họ đã không đem lại được, và đó là một sự lãnh đạo cứng rắn cùng một chiến thắng quân sự.

 Tuy vậy, các vị tự cho là trí thức, các giáo sư tại Yale và các Học giả Rhodes, vẫn phản đối việc không tạc. Tại Đại học Columbia, 5.000 sinh viên và giảng viên đã ký một tuyên bố rõ ràng để không chấp nhận  một chiến thắng quân sự của Mỹ 1651 và một số sau này sẽ chuẩn bị để bắt đầu cuộc cách mạng, với sự hỗ trợ của Cuba, tại Đại học Columbia.

 Tù Binh Dick Stratton Cung Cấp Tin Tức cho Thế Giới Biết về Việc Tù Binh bị Tra tấn

 Ngày 6 tháng 3  năm 1967, tù binh Đại Úy Hạm Trưởng Hải quân Richard  Stratton bị kéo ra trước các máy chụp hình ở Hà Nội. Tờ Red Star  ở Moscow đã  tường thuật là Stratton “xem rất thảm hại.” 1652   Nạn nhân  bị tra tấn là Stratton đã có những lời tuyên bố và đồng ý xuất hiện ở nơi công cộng. Trước các ống kính, người ta thấy được Stratton đang lung túng cúi đầu sâu xuống để chào khắp bốn phương . Bọn Việt cộng đã rất hài lòng với thái độ tôn kính và sự hối hận  của Stratton về các hành vi ác độc của mình đối với nhân dân Việt Nam.

 Khi được trình chiếu ở phương Tây, bộ phim của cảnh gục mặt cúi đầu kỳ cục này đã liền nói lên được rõ ràng hai chữ “tra tấn”, cũng rõ ràng như cách nhấp nháy mắt để đánh mật mã Morse hai chữ “TRA TẤN” của tù binh Jeremiah Denton  trong cuộc phỏng vấn của mình với Wilfred Burchett. 1653  Tại Moscow vào ngày 10 tháng 3 năm 1967, Câu-lạc-bộ Báo chí Quốc tế (International Press Club) đã lắng nghe trong suốt một tiếng rưỡi đồng hồ Dick Stratton thú nhận từng thả bom nhân dân Việt Nam theo kiểu trải thảm. Họ ghi nhận được cái “giọng nghẹt thở” của ông ta, 1654  nhưng đã không thể nào nhìn thấy được cách phóng đại dùng cơ thể thay cho ngôn ngữ của ông vì chỉ được nghe qua đài phát thanh mà thôi.

 Vào tháng 10 tại Hà Nội thì Tom Hayden sẽ đã giải thích cho bọn Việt cộng là bộ phim về Stratton đúng là tuyên truyền bất lợi .

 Nếu quả thật Hà Nội đã bị thả bom trải thảm thì làm sao biết bao nhiêu phòng khách sạn cho du khách đã không sao cả? Việc thả bom trãi thảm như ở  Dresden và Tokyo trong Thế chiến II đã giết chết hàng chục ngàn người và mãi nhiều năm sau mới dọn dẹp và xây dựng lại được .1655  Dĩ nhiênHà Nội đã  không bao giờ bị thả bom trải thảm cho dù bất cứ điều gì đã được lầm bầm phát ngôn ra từ miệng của kẻ đáng thương Dick Stratton đó.

Trong số rất nhiều những cáo buộc về hành vi dã man của Mỹ, có một số ít là đúng, nhưng không có được một điều nào là do chính sách của chính phủ Hoa Kỳ cả.

Toán Tuyển Mộ Thứ Ba của Russell

 Trong tháng 3 năm 1967, một nhóm khác của Russell lại đến để điều tra các tội ác chiến tranh của Mỹ ở miền Bắc Việt Nam.

Nhóm này đã gồm có luật sư Hugh Manes của National Lawyers Guild, nhà sinh hóa  J. “Joe” B. Neilands của Berkeley và hai bác sĩ y tế từ Thụy Điển là John Takman và Axel Hojer.

 Với giác quan bị ru ngủ vì các cô gái xinh tươi, với rượu whisky và hình ảnh của Việt Cộng bị chặt đầu, Hugh Manes và Joe Neilands đã khám phá ra được những trái bom “ổi – guava” vô nhân đạo , Hà Nội thì hoang tàn và các bệnh viện thì đã cố tình bị phá hủy. 1656 Có lẽ với nhóm này thì mới có thể giúp được Hà Nội phần nào về vấn đề của chúng vào ngày 6 tháng 3  khi tù binh Dick Stratton bị buộc phải xuất hiện tại một cuộc họp báo và đã cúi chào như người máy nên  đã thuyết phục được rất nhiều khán giả là ông đã bị tra tấn.

 Có lẽ để gột rửa đi những bối rối trong vụ Stratton, ngày 16 tháng 3 năm 1967 ba tên trong nhóm của Russell và Đại tá Hà Văn Lâu đã gặp hai tù binh khỏe mạnh là Jack Bomar và Joseph Crecca 1657 trong “phòng khách của một biệt thự ở Hà Nội “, tên là Nhà Triển Lãm của Đồn điền (Show house at the Plantation) trang bị đầy ghế ngồi thoải mái, ghế sofa và bàn thấp. Neilands đã nói là họ đã được cho ăn uống đấy đủ với chuối, bia.

 Neilands đã nói là Crecca dặn y không tiết lộ tên của mình vì anh ta đã “cực kỳ phản chiến ” và sợ gia đình mình sẽ bị trả thù vì quan điểm này. Anh ta được chăm sóc y tế một cách tuyệt hảo. Crecca cũng thú nhận là đã từng dội bom napalm xuống các nông dân Việt Nam.

Bomar đã cho nhóm biết là việc chăm sóc y tế với anh ta đã rất tuyệt hảo và anh ta với Crecca kêu gọi nhóm hãy tiếp tục công tác phản chiến. 1658

Ngày hôm sau thì Neiland và bạn bè đã gặp Hồ Chí Minh.

 *****

1582  Phái Bộ Mỹ tại Sài-gòn, trích dẫn từ một thư gởi Văn Phòng Trung Ương Đặc Trách Miền Nam của Lê Duẩn, Bí Thư Thứ Nhất Đảng Lao Động, (Tài liệu địch bị tịch thu bởi Quân đội Mỹ tại Việt Nam, tháng giêng năm 1967, Văn khố Lưu trử tại TTU do  Rothrock nêu ra, Divided… trang 281 ghi chú 46, trang 480.

 1583   Được biết dến nhiều hơn do: “Trước hết họ đã đến vì người cộng sản và tôi đã không nói gì vì tôi không là một người cộng sản. Rối họ lại đến vì các nghiệp đoàn công nhân và tôi đã không nói gì vì tôi không là đoàn viên nghiệp đoàn. Rối họ lại đến vì các người Do-thái và tôi đã không nói gì vì tôi không là một người Do-thái. Cuối cùng thì họ đã chỉ đến vì tôi và cũng không còn ai để mà lên tiếng nói.” Niemöller đã nhận Giải Thưởng Hòa Bình Lê-nin năm 1967.

 

1584   Vào tháng 2 năm 1966, Nhà Thờ Chánh Thống do Xô-viết kiểm soát đã chấp thuận cho một người Mỹ, Eugene Carson Blake, để lãnh đạo World Council of Churches. Xem: Eugene Carson Blake tại  http://www.americanpresbyterianchurch.org/blake.htm Ủy ban Thượng viện An Ninh Nội Bộ (United States Senate Internal Security Committee) đã ghi nhận Metropolitan Nicolai như là một điệp viên KGB, cơ quan cảnh sát mật của Liên-xô. Niemöller đã nhận Giải Thưởng Hòa Bình Lê-nin năm 1967.

 1585   Hồ Chí Minh. Letter to Martin Niemoeller. Tháng chạp năm 1966 được nêu ra trong Marilyn B. Young. The Vietnam Wars: 1945–1990. New York: Harper, 1991, trang 172 , http://en.wikipedia.org/wiki/Vietnam_War; “HO CHI MINH STRESSES WITHDRAWAL BY U.S.,” New York Times,  11 tháng giêng năm 1967,  trang 2, 1; “NIEMOLLER REPORTS HO CHI MINH VIEWS, Special to The New York Times, New York Times,  14 tháng giêng năm 1967, trang 2, 1;

 

1586   WCC, Các Báo cáo về Các Nhà Thờ về Bang Giao Quốc tế (Reports on the Churches in International Affairs), 1970-1973, Geneva: WCC, 1979, trang 175 nêu ra trong Ernest W. Lefever, Nairobi to Vancouver: the World Council of Churches and the World, 1975-87, Washington DC: Ethics and Policy Center, 1987, trang 49; Liên-xô đã gởi 47 điệp viên  KGB đi dự  Đại Hội Thế giới thứ 6 của WCC. “Appendix: Recent Revelations About Soviet Active Measures,” tháng 7 năm 1983,  dòng  191,  

intellit.muskingum.edu/Russia’pew_era/sect_16e.htm; M.H. Reynolds, “The World Council of Churches: Cup of the Lord or Cup of the Devils, Los Osos, California 1986 tại feasite.org/tracts/fbcwcc1986.htm

 1587   Clare Lopez, điểm sách của Konstantin Preobrazhensky, FSB’s New Trojan Horse: Americans of Russian Descent, Gerard Group Publishing, 2009.

 1588   intellit.muskingum.edu.Russia_folderera/sect_ge.htm.

 1589  David Emerson Gumaer, “Apostasy: The National Council of Churches tại  nccwatch/articles/apostasy.htm?200815

 1590   Protopresbyter George Grabbe, “Uppsala and Othodoxy,” Pravoslavnaya Rus, Bộ  XL, Số 13, 14 tháng 7 năm 1969, trang 4-7 tại  orthodoxinfo.com/ecumenism/uppsala.aspx? ;  Bernard Smith, The Fraudulent Gospel: Politics and the World Council of Churches, Wheaton (Ill):The Church League of America, 1977; M.H. Reynolds, The World Council of Churches: The Cup of the Lord or the Cup of the Devils, Fundamentalist Evangelistic Association, Los Osos (Ca): FEA Press, 1986.

 

1591   David Jessup, “Preliminary Inquiry Regarding Financial Contributions to Outside Political Groups, by Boards and Agencies of the United Methodist Church 1977-79,” (bìa mỏng) 7 tháng 4 năm 1980; David Emerson Gumaer, “Apostasy: The National Council of Churches tại  nccwatch/articles/apostasy.htm?200815;  ucc.org/aboutus/short-course/the_united_Church_of_Christ.html; Rael Jean Isaac, “Do You Know Where your Church Offerings Go?,” Reader’s Digest, Tháng Giêng 1983, trang 120-125; Robert L. Wilson, Biases and Blind Spots: Methodism and foreign Policy Since World War II, tại cmpage.org/biases/; Max Friedman, Council for Inter-American Security, bản nghiên cứu thay cho tường trình trước Chủ Tịch Hạ Viện Ủy Ban Ways and Means Committee, Lobbying and Political Activities of Tax-Exempt Organizations, Các phiên điều trần, tiểu ban về Oversight, 12-13 tháng 3 năm 1987, trang 398; “Methodist Church Funding examined,” Information Digest, 16 tháng 5 năm 1980, trang 159-161. 

 592   “Methodist Church Fungding examined,” Information Digest, 16 tháng 5 năm 1980, trang 159-161; Max Friedman, Council for Inter-American Security, bản nghiên cứu thay cho tường trình trước Chủ Tịch Ủy Ban Ways and Means Committee, Lobbying and Political Activities of Tax-Exempt Organizations, Các phiên điều trần, Ủy Ban Committee on Oversight, 12-13 tháng 3 năm 1987, trang 404.

 

1593   Hershberger, Traveling, trang 84.

 

1594   Feinberg 1968, trang 102 nêu ra trong Hershberger, Traveling…  trang 85

 

1595   Các hình và ghi chú đã được chụp tại “Hanoi Hilton” Museum in Hanoi, tài liệu của tác giả Viet I_218,219.

 

1596   Hershberger trang 83-87 nêu ra Feinberg, Rabbi Feinberg’s Hanoi Diary, Ontario: Longmans, 1968, trang 59, 102, 218; Feinberg, “Mission to Hanoi,” The Progressive, 21 tháng 4 năm 1967; David Dellinger, “AJ Muste Tributes,” Liberation, tháng 2 năm 1967; I.F. Stone, Mobilizer, 19 tháng 3 năm 1967. 

 

1597  “Lenin Prizes Won By Dr. Niemoller And Rockwell Kent,” New York Times, May 1 tháng 5 năm 1967, trang 1, 2; International Lenin Peace Prize Award Winners http://www.trivia-library.com/a/international-lenin-peace-prize-award-winners.htm;  “Niemoller to Give $11,000 For Medical aid to Hanoi,” New York Times, 4 tháng 9 năm 1967, trang 1, 3.

 1598   Gleb Yakunin, Argumenty i Fakty, Số 1, Tháng Giêng 1992 nêu ra trong  “Manipulation of the Russian Orthodox Church & the World Council of Churches: How ‘Black,’ Gray,’ và ‘White’ Active Measures worked Together,”  trong “Appendix: Recent Revelations About Soviet Active Measures,” Soviet Active Measures in the ‘Post-Cold War Era 1988-1991 tại  intellit.muskingum.edurussia_folder/pcw_era/sect16e.htm.

 1599   Các bài của Howard Rusk trên tờ New York Times ngày 12 tháng 3 và 1 tháng 10 năm 1967 được viện dẫn trong Vietnam: Questions and Answers, Washington, D.C. 1970, trang 25-6.

 1600   Nêu ra trong Hershberger, trang 123.

  1601  Ashmore, Harry S. và William. C. Baggs, Mission to Hanoi: A 1968 Chronicle of Double Dealing in High Places, New York: Putnam, 1968; Oberdorger Tet!  Nêu trong sách của Peter Braestrup, Big Story, trang 596 ghi chú 88.

 1602   Harry S. Ashmore và William C. Baggs, Mission to Hanoi, New York: G.P. Putnam, tháng 9 năm 1968, trang 11.

 

1603   Peter Collier, “Life Along the ‘Ramparts,” New Criterion, tháng giêng năm  2010 bình luận về sách của Scheer, How the U.S. Got Involved in Vietnam, Santa Barbara:Center for the Study of Democratic Institutions, trang 196x.

 1604   Harry S. Ashmore  và William C. Baggs, Mission to Hanoi, New York: G.P. Putnam, tháng 9 năm 1968, trang 29.

 1605   Harry S. Ashmore và William C. Baggs, Mission to Hanoi, New York: G.P. Putnam, tháng 9 năm 1968,  trang 27.

 

1606   Harry S. Ashmore và William C. Baggs, Mission to Hanoi, New York: G.P. Putnam, tháng 9 năm 1968, trang 34-7.

 

1607   Harry S. Ashmore và William C. Baggs, Mission to Hanoi, New York: G.P. Putnam, tháng 9 năm 1968, trang 14.

 

1608   Phố Nguyễn Thiệp là một con đường thẳng gốc với đầu cầu Long Biên, cách chỉ một khu phố như ta thấy được trên bản đồ Hà-nội.

 

1609   Harry S. Ashmore và William C. Baggs, Mission to Hanoi, New York: G.P. Putnam, tháng 9 năm 1968,  trang 20-2.

 

1610   Harry S. Ashmore và William C. Baggs, Mission to Hanoi, New York: G.P. Putnam, tháng 9 năm 1968, trang 4-6, 34.

 

1611   Harry S. Ashmore và William C. Baggs, Mission to Hanoi, New York: G.P. Putnam, tháng 9 năm 1968, trang 6, 40-5.

 1612   The Lawyers Committee on American Policy Toward Vietnam “U.S. intervention in Vietnam is illegal.” New York Times , 15 tháng giêng năm 1967.

 

1613 Hội đồng Cố vấn của Ủy ban gồm các giáo sư luật Richard A. Falk, Richard J. Barnet, Anthony A. D’Amato, Tom J. Farer, John H.E. Fried, John Herz, Stanley Hoffman, Phillip C. Jessup, Wallace McClure, Donald W. McNemar, Saul H. Mendlovitz, Lynn H. Miller, Richard S. Miller, Hans J. Morganthal, Vel Nanda, William G. Rice, Lawrence Velvel, Burns H. Weston, Quincy Wright. Xem: John Conyers, Congressional Record, Extension of Remarks, 10 tháng 5 năm 1972, H-4924; Max Friedman ghi nhận là rất nhiều tên đã bị nhận dạng ra là đảng viên đảng Cộng sản Hoa kỳ và/hay thường xuyên tham gia trong các mặt trận cộng sản. Mấy tên này gồm cả Standard, Crown, Faulkner, Meyers, Fried, Falk, Morse, Barnet, Mendlovitz, Cammer, Boehm, Carey McWilliams, Philip Jessup. Friedman tuyên bố với Canfield, 18 tháng 6 năm 2008.

 

1614   HCUA, Report on the National Lawyers Guild, Legal Bulwark of the Communist Party, Union Calendar  Số 1078, Nhiệm kỳ Quốc hội thứ 81, Khóa 2, Phúc trình Hạ viện 3123, 17 tháng 9 năm 1950, trang 4, 13, 18,19.

 1615  FBI đã lo ngại về việc các đảng viên đảng Cộng sản là Stanley Levison và Hunter Pitts “Jack” O’Dell đã thâm nhập được vào SCLC. Giám đốc FBI là Hoover đã thu băng buồi nói chuyện với Chuởng lý vào tháng 7 năm 1965 là cả hai tên đảng viên đảng Cộng sản Stanley Levison và Clarence Jones đã đang tiếp xúc với King tại khách sạn Kennedy Airport Motor Inn trong nhiều tháng và “đã có những tên cộng sản chính hiệu [từng] tham gia biểu tình.” Roy Wilkins và James Farmer phản đối việc liên kết Cuộc Chiến Việt-Nam vào với vấn đề các quyền công dân. Hoover xin Chưởng Lý cho phép nghe lén các điện đàm của Levison và Jones, một “kỹ thuật”.  Xem: Phúc trình FBI, Hoover gởi Tolson v. v. . . , 5:53 PM ngày 6 tháng 7 năm 1965.

 

1616   Mary McCarthy, The Seventeenth Degree:  How It Went, Vietnam, Hanoi, Medina, Sons of the Morning, New York: Harcourt Brace, 1967, 1968, 1972, 1973, 1974, trang 272.

 

1617   Mary McCarthy, The Seventeenth Degree:  How It Went, Vietnam, Hanoi, Medina, Sons of the Morning, New York: Harcourt Brace, 1967, 1968, 1972, 1973, 1974, trang 3,  7, 8, 63-4, 66, 68, 70, 84,  88, 101, 109, 112, 145.

 

1618   Robert W. Chandler, War of Ideas – The U.S. Propaganda Campaign in Vietnam, A Westview Special Study, Boulder, CO, 1981 nêu ra trong bài củaSGM Herbert A. Friedman (Về Hưu), The Strange Case of the Vietnamese “Late Hero” at http://www.psywarrior.com/BeNguyen.html

 1619   Thomas William Hoffer đã nói về Nguyễn Văn Bé trong bài  “Nguyen Van Be as Propaganda Hero of the North and South Vietnamese Governments,” in trong The Southern Speech Communication Journal, Bộ 40, 1974 đã viện dẫn  SGM Herbert A. Friedman (Về Hưu), The Strange Case of the Vietnamese “Late Hero” at ttp://www.psywarrior.com/BeNguyen.html

 1620   Tướng William C. Westmoreland,  A Soldier Reports, New York: Dell, 1976, trang 270.

 1621  Ước lượng đúc kết từ các bản tin nữa năm đầu và tam-cá-nguyệt chót  năm 1967 của AP,  “500 Civilians Killed in ’67, Hà-nội công bố ngày 8 tháng 9 năm 1967; UPI, Hanoi List U.S. Raids’ Casualties,”  11 tháng 2  năm 1968.

 1622   Adam Garfinkle, Telltale Hearts: The Origins and the Impact of the Vietnam Antiwar Movement, NY: St. Martin’s Griffin, 1997, trang 16.

 1623   Phúc trình của Ủy Ban Church Commission, trang 721.

 1624   F. MERRIMAC, CIA, FOIA, Family Jewels, trang 29-30.

 

1625  CIA, FOIA, Family Jewels, trang 481

 

1626   Richard Helms báo cáo với Deputy Director for Plans and Intelligence, and Director of Security, 26 tháng 9 năm 1967 nêu ra trong phúc trình của Ủy ban Church Commission Report, trang 698.

 

1627   Ralph Schoenman, “Truth as Casualty—A Response to Carol Brightman and Carl Oglesby on the Sixties,” Vallejo, California, 21 tháng giêng năm 2008, trang 1 tại http://takingaimradio.com/articles/TRUTH_AS_CASUALTY__A_RESPONSE.pdf

 1628   John Gerassi, North Vietnam: a Documentary, Indianapolis: Bobbs, 1968.

 

1629   Carol Cohen McEldowney, (Eds. Suzanne Kelley McCormack, Elizabeth R. Mock), Hanoi Journal, 1967, Amherst: University of Massachusetts Press, 2007, trang 4

 1630   Carol Brightman, “Carol Brightman on the 1960s,”  Truthdig.com, 3 tháng giêng năm 2008, trang 10.

 

1631   On US Air Attacks Against Residential Quarters in Hanoi, Capitol of the Democratic Republic of Vietnam, and its Suburbs, Hanoi: Ministry of Foreign Affairs, tháng chạp năm  1966; US Intervention and Aggression in Vietnam During the Last Twenty Years, Hanoi: Ministry of Foreign Affairs, 1965;

 1632   Ủy ban Hành chánh Tỉnh Nam Hà về việc điều tra các tội ác chiến tranh của Mỹ tại Cộng hòa Nhân dân Việt nam, được quay stencil , tháng 10 năm 1966.

 1633   John Gerassi, North Vietnam: a Documentary, Indianapolis: Bobbs, 1968,  trang 77-8.

 1634   John Gerassi, North Vietnam: a Documentary, Indianapolis: Bobbs, 1968,  trang 95-110, 111-120, 121-134.

 

1635   John Gerassi, North Vietnam: a Documentary, Indianapolis: Bobbs, 1968,  trang 58-9, 71-4, 77-8, 83-4.

 

1636   Carol Brightman, “Carol Brightman on the 1960s,” Truthdig.com, 3 tháng giêng năm 2008,  trang 7.

 

1637   Ralph Schoenman, “Truth as Casualty—A Response to Carol Brightman and Carl Oglesby on the Sixties,” Vallejo, California, 21 tháng giêng năm 2008, trang 2 tại http://takingaimradio.com/articles/TRUTH_AS_CASUALTY__A_RESPONSE.pdf.

 

1638   John Gerassi, North Vietnam: a Documentary, Indianapolis: Bobbs, 1968, trang 151-155.

 

1639   Eugene Girin, “CUNY’s Anti-Jewish Bigot,” FrontPageMagazine.com, 10 tháng 10 năm  2006.

 

1640   James W. Clinton đả hỏi, thu băng và soạn lại các câu trả lời của Julius Lester trong sách của  James W. Clinton, tựa đề The Loyal Opposition: Americans in North Vietnam, 1965-1972, Niwot: University Press of Colorado, 1995, trang 77-80, 83, 85

 

1641   Chương trình phát thanh Anh ngữ sau đó của đài Hà-nội dành cho Đông Nam Á 1000 GMT ngày 22 tháng 4 năm 1967. Thu băng của lời khai của Julius Lester, trong phiên xử American Negro and Member of the 4th Investigative Team of the International War Crimes Trial.

 

1642   Cobb được thu âm để sau đó phát thanh lại trong chương trình Anh ngữ dành cho binh sĩ Mỹ của đài Hà-nội, 1300 GMT ngày 16 tháng 4 năm 1967.

 

1643   Horowitz, Radical Son, trang 146-47.

 

1644   Hà-nội, Thông Tấn xã Việt-nam, Dịch vụ Quốc tế Anh ngữ, 0608 GMT, 15 tháng giêng năm 1967 B; “International War Crimes Tribunal First Investigation Team Denounces American Crimes in North Vietnam.” Vietnam Courier, (Hanoi), 30 tháng giêng năm 1967. 

 

1645   Dan Styron, The Student Mobilizer, 17 tháng giêng năm 1967.  Xem: Tang vật  #9, H.C.U.A., Communist Origins and Manipulation of Vietnam Week (8-15 tháng 4 năm 1967),  31 tháng 3 năm 1967.

 

1646   Christopher Andrews và Vasili Mitrokhin, The Sword and Shield: The Mitrokhin Archive and the Secret History of the KGB, New York: Basic Books, 1999, trang 228.

 

1647   Nhấn mạnh được bổ túc thêm. “The American People are Increasingly Angry,” Nhân Dân,  2 tháng 2 năm 1967, được nêu ra trong sách của James Rothrock, Divided We Fall, AuthorHouse, 2006, trang 3

 

1648   Mobilizer to End the War in Vietnam, 15 tháng 4 năm 1967, trang 1, 4.

 

1649   Nhân Dân, 19 tháng 2 năm 1967, nêu trong New York Times, 19 tháng 4 năm 1967 và trong tài liệu của Hon. John Schmidt, Hon. Fletcher Thompson, Hon. Roger H. Zion, The Viet Cong Front in the United States, Western Islands 1973, trang 34. Nguyên thủy là một phúc trình soạn thảo bởi nhân viên thiểu số và in trong Congressional Record  vào ngày 21 tháng 4 năm 1971.

 

1650   New York Times, 22 tháng 2 năm 1967.

 

1651   New York Times, 5 tháng 6 năm 1967.

 

1652   “Captured U.S. Officer—Tells of DRV Bombing” Red Star, Moscow ngày 10 tháng 3 năm 1967, USSR International Affairs, 16 tháng 3 năm 1967, trang 6;

 

1653   Howe, trang 93 nêu ra Hubbell, trang 177.

 

1654   “Captured U.S. Officer—Tells of DRV Bombing” Red Star, Moscow 10 tháng 3 năm 1967, USSR  International Affairs, 16 tháng 3 năm 1967, trang 6;

 

1655   Vợ của tác giả, một trẻ Pháp mồ côi vì chiến tranh, đã trở về lại Âu châu năm 1953, mãi tám năm sau Thế chiến II mà vẫn còn thấy cảnh hoang tàn khắp nơi.

 

1656   James W. Clinton phỏng vấn Hugh Manes, 16 tháng 11 năm 1990 và  J. B. Nielands,  13 tháng 11 năm 1999, cùng kể ra trong sách của  James W. Clinton, tựa đề The Loyal Opposition: Americans in North Vietnam, 1965-1972, Niwot: University Press of Colorado, 1995, trang 62-65, 69-71.

 

1657   Stuart I. Rochester  và Frederick Kiley, Honor Bound, American Prisoners of War in Southeast Asia 1961-1973, Annapolis: Naval Institute Press, 1999, trang 344.

 

1658   Phát biểu của Giáo sư  J.B. Neilands, 12 tháng 5 năm 1970, Các phiên Phúc trình của  House Committee on Foreign Affairs tại Hạ viện, tháng 5 và 6 năm 1970, trang 117-118.

 

*****

Một phản hồi to “Roger Canfield’s Americong #20”

Trackbacks/Pingbacks

  1. Giới thiệu tác phẩm AMERICONG (MỸ-CỘNG) – Lê Bá Hùng | Ngoclinhvugia's Blog - 05/01/2016

    […] Roger Canfield’s Americong #20 […]

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: