Roger Canfield’s Americong #124

image002

Comrades in Arms

How the Americong Won the War in Vietnam

Against the Common Enemy— America

Copyright Roger Canfield, Ph.D.

1986-2012

No commercial transaction allowed except that approved by the author, copyright holder.

Obtain a prepublication release of a CD-R in Microsoft Word in ENGLISH at a discounted price of $15 from Roger Canfield Rogercan@pacbell.net at 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 or at http://americong.com.

Completely SEARCHABLE for any name, date, place or event of the War and its protesters.   

Cover: Design Stephen Sherman. Photos: Roger Canfield, March 2008. TOP: War protest Hawaii, February 1966 displayed at War Remnants (Crimes) Museum, Saigon. Bottom: Praetorian Guard

Các đồng chí cùng chiến tuyến

Làm thế nào MỹCộng thắng cuộc chiến Việt Nam

Chống kẻ Thù Chung – Mỹ

Giữ bản quyền Roger Canfield, Tiến Sĩ

1986-2012

Không được sử dụng vào mục đích thương mại nếu không có sự đồng ý của Tác giả, người giữ bản quyền.

Có thể mua một tiền bản dưới dạng CD-R Microsoft Word bằng Anh ngữ với giá đặc biệt US$15 ngay từ tác giả Roger Canfield  Rogercan@pacbell.net

tại 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 hay tại  http://americong.com.

Hoàn toàn có thể TRA CỨU hoặc bằng tên, bằng ngày tháng hay biến cố liên quan đến cuộc Chiến cùng cả luôn bọn tham dự biểu tình .

******************************************************

* Tác giả giữ bản quyền © Roger Canfield 1986-2012

  • Lê Bá Hùng chuyển ngữ  (với sự chấp thuận của Tác giả)

 

*****

Chương 124

 

Ám Sát Các Thượng Nghị Sĩ: Kansas City

12 Tới 14 Tháng 11 Năm 1971

 

 Vào cuối tuần 12 tới 14 tháng 11 năm 1971, bọn lãnh tụ khu bộ và toàn quốc  VVAW đã họp tại Đại học Missouri, Kansas City. Một mục trên chương trình nghị sự đã là “… VIII. – Các Hoạt động trong Tương lai … D. Đề xuất  ĐẶC BIỆT”. 4111  Sau đó thì Giám đốc FBI đã viết riêng cho một số văn phòng được lựa chọn riêng, “… tin tức thu lượm được bởi các điềm chỉ viên, nếu chính xác, cho thấy vị trí dấn thân cực kỳ gia tăng của VVAW nay đúng là một mối quan tâm đáng kể về tiêu chuẩn an ninh nội bộ của Mỹ”. 4112 [Bị kiểm duyệt] viết cho E.S. Miller về “sự ló dạng của tư thế dấn thân và khã dỉ chủ trương bạo lực của nhóm VVAW”. 4113  Dù đã ráng chiến đấu và thua cuộc trong một cuộc tranh luận về chính trị kéo dài trong hai ngày, John Kerry sau này rồi vẫn sẽ phủ nhận là y đã từng tham dự cuộc họp tại thành phố Kansas. 4114 Quả thật đối các ký ức về lâu dài thì sẽ muốn nói sao cũng được, ngay cả nói sao cho mình có lợi mà thôi. Vì đúng là nếu biết đến được, mối liên hệ của Kerry với cuộc họp tại Kansas City sẽ quả là không có lợi gì cho việc tiến thân về chính trị của y cả.

Lúc 9 giờ sáng ngày thứ sáu 12 tháng 11 tại thành phố Kansas City, trong các phòng A, B và C của Đại học Missouri, bọn đại biểu VVAW bày tỏ một quyết chí mạnh mẽ là phải thiệt sự hành động và có sáng kiến​​. Tại một cuộc họp kín vào lúc 02:30, đã chỉ có 60 thành viên tham dự thuộc Ủy ban Chấp Hành (Hubbard, Kerry, Mike Oliver, Brian Ross Adams, 4115 Skip Roberts) cùng của Ủy Ban Chỉ đạo và bọn phối họp viên khu vực. Buổi Đại hội vào lúc 4:30 pm buổi chiều ngày 12 tháng 11 đã thảo luận về đề tài bất tuân dân sự vào dịp Giáng sinh, đốt các cây Giáng sinh và cung cấp nơi ẩn náu cho bọn đào ngũ. Mike Oliver có đọc lại một điện tín cho John Upton thuộc VVAW Missouri, gởi đi bởi Al Hubbard từ Ba-lê 4116 báo cáo là có thể tù binh sẽ được phóng thích cho năm tên đại biểu 4117 của đám VVAW m2 đã đến Ba-lê. Để tránh hơi hám của đồng tiền Cộng sản, một người phụ nữ gọi là “trung lập”, (có liên hệ với một công ty giấy miền Đông Bắc nhưng tên không được nêu ra) 4118 đã đứng ra trang trải chi phí cho chuyến đi Ba-lê của Hubbard. Bọn Bắc Việt đã hứa ngưng chiến để đón một Giáng sinh trong an lành của năm 1971 tại Việt Nam với điều kiện không bị tấn công trước.

Sau khi đến trễ tới một tiếng đồng hồ tại thành phố Kansas, vào lúc 18:30 pm chiều thứ sáu 12 tháng 11, Hubbard bèn mô tả chuyến đi Ba-lê của y. Việt cộng đã gợi ý cho đám VVAW nên đi Hà Nội gần dịp Giáng sinh và sẽ phóng thích một nhóm tù binh cho chúng. 4119 Các báo cáo của FBI 4120 đều có xác nhận là Hubbard đã có thảo luận với Xuân Thủy, trưởng đoàn đàm phán CS ở Ba-lê. Hubbard đã ở lại trong vài tuần ở Ba-lê để họp với Xuân Thủy và bọn đại diện của Chính phủ Cách mạng Lâm Thời miền Nam Việt Nam tức là MGPQG để bàn thảo làm sao phóng thích các tù binh cho một phái đoàn VVAW vào tháng chạp. Hubbard nói với các thành viên VVAW là chính Đảng Cộng sản Hoa Kỳ đã bảo  trợ và tài trợ chuyến đi của y. 4121 Tuy nhiên, chính các nguồn tin điềm chỉ của FBI  thâm nhập được vào nằm trong đảng CPUSA ở New York đã không thể độc lập xác nhận được việc này. 4122  Các thảo luận về vụ ai đã tài trợ cho Hubbard đã có một vị trí khá khiêm tốn trong các hồ sơ của FBI.

Các báo cáo của FBI liên quan đến Scott Camil thì lại bị kiểm duyệt rất là nhiều.

Kế hoạch của Camil để Ám sát Các Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ

Tại một bữa tiệc xẩy ra sau 23:00 giờ tối vào thứ sáu ngày 12, Scott Camil đã đề nghị với tám người mà sau này đều chịu làm nhân chứng – ba đại biểu đến từ Arkansas [Roger DeVito  4123], phối hợp viên khu vực Missouri và Kansas [John Upton], một đại biểu từ Montana [Carl Larson ], và ba người đến từ St Louis [Rich Bangert]. Camil cho biết y đã thực hiện một chương trình huấn luyện vũ khí bí mật mà y hy vọng sẽ thành lập được những nhóm gọi là “Phoenix” như là “các nhóm ứng chiến”. Đó là kiểu Camil bắt chước Regis Debray mà đã từng mô tả các tổ cách mạng của Che Guevara. Đó cũng chỉ là các tập thể “foco” của bọn Weathermen hay là Trường Giải phóng Quốc tế của Tom Hayden và Tập Đoàn Gia đình Đỏ ở Berkeley. Nó cũng như các hoạt động đang ngầm diễn ra của đám Weathermen chuyên dùng trung gian các nhóm trực thuộc hay ‘foci ~ các vùng gọi là đã được giải phóng’.

Khi Camil được hỏi liệu là các “Phoenix” của y có phải là những nhóm quân sự hay không thì y đã xác nhận là đúng, “cần loại bỏ về pgương diện chính trị” cái  “hệ thống chỉ huy của chính phủ”. Việc này đòi hỏi những người quyết chí tận lực thi hành nhiệm vụ đã được giao phó, tức là phải ám sát. Terry DuBose thuộc VVAW Texas, đã có nhớ lại, “quả đã có thảo luận về việc ám sát một số thượng nghị sĩ trong những ngày nghỉ Giáng sinh. Họ là những người … với những lời lẽ điên khùng bất cần đời. … Họ đã có một danh sách gồm các thượng nghị sĩ Helms, John Tower … Họ đã tiếp xúc với tôi về John Tower vì ông ta cũng từ Texas”.  4124

Tay viết sử của VVAW là Gerald Nicosia đã viết, Camil “đề nghị phải ám sát các thành viên bảo thủ cứng đầu nhất của Quốc hội … (Anh ta) đã tập hợp được từ tám đến mười Thủy quân lục chiến để tổ chức … [và] đã cố gắng “để chia nhau ra các vụ ám sát”. John Upton, VVAW Kansas-Western Missouri, sau này có nói: “Có rất nhiều người đã bị thuyết phục là đây chính là cách phải làm“. 4125  Một báo cáo của FBI, dựa trên một số trong tám nhân chứng – cho biết chủ trương của Camil được ” đón nhận một cách thuận lợi” và ” lặng lẽ phổ biến … trong buổi đại hội”. 4126  Những nhân chứng khác mà đã được xác định về mặt địa lý khi căn cứ vào danh sách VVAW của các phối hợp viên khu vực vào thời điểm đó đã là Carl Larson, Roger DeVito, Richard Bangert, John Upton. John Kerry đã không ở đó vào đêm thứ sáu vì y chỉ đến vào ngày hôm sau, vào sáng thứ bảy mà thôi. 4127

Kerry rồi sẽ tham gia vào các cuộc tranh luận trong các cuộc họp kín về kế hoạch ám sát của Camil. Không giống như các điềm chỉ viên của FBI, Kerry đã không hề báo cáo âm mưu tội phạm này cho nhà cầm quyền.

Ngày hôm sau, vào ngày thứ bảy 13, sau khi thách thức sự kiện Hubbard gian dối tuyên bố đã từng phục vụ trong quân đội tại Việt Nam và cố gắng để loại bỏ Hubbard khỏi nhóm lãnh đạo, 4128 John Kerry, Mike Oliver và Skip Roberts bèn từ chức khỏi ban điều hành. Hubbard, Joe Urgo, Jon Birch (Pennsylvania – Delaware) và Larry Rottman đã sẽ trở thành bọn lãnh đạo VVAW mới.

Kerry tuyên bố y sẽ, và quả đúng y đã làm vậy, vẫn hoạt động và đi thuyết trình cho nhóm 4129 cho tới giữa năm 1972.

Bọn VVAW đã bỏ phiếu phê chuẩn đề nghị của John Lindquist nhằm liên lạc với 2.000 quân nhân Mỹ ở Việt Nam và tổ chức một cuộc nổi loạn bằng cách không chịu ra trận. Sau một cuộc bàn cải không đi tới đâu về các chi phí đi lại của Hubbard, vì sợ sự giám sát của FBI cũng như là các điềm chỉ viên, một cuộc họp kín của Ủy ban Nghị sự đã bị chấm dứt. Bọn chúng đã cùng nhau gặp lại một giờ sau đó khi tìm ra được một nơi an toàn hơn là Common Ground, một thính đường ‘Mennonite’. 4130  Scott Camil đã muốn có một cuộc thảo luận về khóa đào tạo và các “đội ứng chiến” của y. Một báo cáo khác cho biết đề nghị này là để bắt cóc một Thượng nghị sĩ hầu gây sức ép nhằm kết thúc chiến tranh. Việc này đã bị bác bỏ.

Ủy ban đã bỏ phiếu không cho phép Camil đưa đề nghị ám sát ra để biểu quyết tại phiên họp đại hội đồng ở thành phố Kansas City. 4131

Với tư các là một cán bộ cấp quốc gia, Kerry đã có mặt trong buổi họp bàn thảo về nghị trình. FBI cho biết, “một số các đại biểu hiện diện đã là: [bị kiểm duyệt   4132] Kansas City … Mike Oliver, John Kerry, Scott Camil …”.  4133  Randy Barnes, Chủ tịch phân bộ VVAW Kansas mà đã đứng ra tổ chức hội nghị và Terry Dubose, phối hợp viên của VVAW Texas, đều cùng xác nhận sự có mặt của John Kerry trong buổi họp về nghị trình này. Randy Barnes, một tên sau này sẽ cổ động cho John Kerry tranh cử Tổng thống, cũng nói rằng Kerry đã có mặt ở đó và đã bỏ phiếu chống lại đề nghị ám sát của Camil. 4134

Tại một buổi họp  khác vào chủ nhật ngày 14, một thành viên VVAW có nói về việc cần trang bị vũ khí và đạn dược cũng như thực phẩm cho một nhóm biểu tình người da đen ở Cairo, Illinois. Lúc đo, Kerry đã có mặt. 4135  Một mục trong chương trình [bị kiểm duyệt] đã không được thảo luận trong phiên họp đại hội và được bàn giao lại cho Ủy ban Chỉ đạo sắp tới vào tháng 2. 4136 Trong thực tế, Ủy ban Nghị sự đã bỏ phiếu bác bỏ kế hoạch của Camil trong cuộc họp phụ bên lề mà ban lãnh đạo không hề tham dự.

Cuối cùng thì chính cái tên đã cổ vũ cho việc sát nhân này là Scott Camil quả đã chủ tọa cuộc hội nghị cho tới khi Mike Oliver từ chức cùng với Kerry và Skip Roberts. Camil bèn tuyên bố là trong tương lai, chỉ những lãnh tụ hàng quốc gia và khu vực mới được tham dự các buổi họp mà thôi”. Chúng ta [không] phải là một tổ chức bảo thủ”. Bọn lãnh đạo VVAW quả đã dấn thân hơn các thành viên của chúng nhiều. 4137

Chiếu theo tin mật của “nguồn số một” tại FBI Jacksonville thì sau khi về nhà ở Gainesville, Camil đã tuyên bố, “Tất cả hãy chuẩn bị. Bạo lực sẽ xẩy ra. Tôi quyết không sợ để sẽ phải là một người tử vì đạo”. Người đưa tin mật đó cho biết là bọn VVAW đang có vũ khí, nào là ‘shotguns’, súng lục và dao đang được lưu trữ trên gác mái nhà của Camil và chúng cũng đang tập bắn ở vùng nông thôn. 4138  Một tên Camil “hoang tưởng” đã nghi ngờ là các phân bộ VVAW ở Gainesville và St Petersburg đều đã bị thâm nhập. 4139

Chắc chắn đã là một sự trùng hợp lạnh mình khi trong vòng một năm sau đó, chiếc phi cơ của Thượng nghị sĩ Hale Boggs đã biến mất ở Alaska và Thượng nghị sĩ John Stennis thì lại đã bị bắn trong một vụ rõ ràng là cướp có vũ trang .

Kerry thì vẫn đã rất khôn lanh tuyên bố không hề nhớ gì đến cái bốn ngày bận rộn này trong thành phố Kansas.

Tờ Los Angeles Times thì có xác định các chi tiết là Kerry từng tham dự cuộc họp này, là FBI đã có theo dõi buổi họp cũng như là cái trí nhớ sao quá ư là thiếu sót của Kerry, nhưng tờ báo này đã cương quyết cố ý không đề cập đến những tin tức quan trọng nhất tại thành phố Kansas trong những ngày mùa thu năm đó  – đó là âm mưu ám sát của Scott Camil. 4140  Douglas Brinkley, tác giả của Tour of Duty, một tài liệu đề cao John Kerry, có nói là Kerry “đã biết rõ về cái âm mưu ám sát này … và đã không bao giờ báo cho chính quyền”. 4141 Ngoại trừ các điềm chỉ viên của FBI, mà rất có thể đã là Bill Lemmer và Dwight Crews, thì đã không hề có thành viên nào của VVAW đã đi báo cáo âm mưu này vào thời điểm đó cho chính quyền.

Vào ngày 16 tháng 11 năm 1971, Tổng thống đã nhận được một điện tín thuộc loại “ưu tiên” của Giám đốc FBI nhằm phúc trình về các kế hoặch của phân bộ VVAW Kansas City với những cuộc biểu tình dự trù vào dịp Giáng sinh cũng như là việc John Kerry từ chức nhưng vẫn sẵn sàng tiếp tục giúp đở VVAW. 4142

Về chi tiết VVAW quyết định dấn thân hơn, một điện báo khẩn cấp đã được gửi đến các văn phòng FBI ở Jacksonville, Little Rock, New Orleans và New York để yêu cầu điều tra đầy đủ [bị kiểm duyệt] một “vấn đề cực kỳ quan trọng đối với các giới chức cao cấp nhất thuộc chính phủ Mỹ”, kể luôn một đề nghị [bị kiểm duyệt] mà VVAW đã quyết định miển thảo luận trong cuộc họp này.

Nay thì chúng ta đã có thể tin được chắc chắn điều chính yếu là phải điều tra Scott Camil cho cặn kẻ và “vấn đề” chính là các vụ mưu sát chính trị do các toán “Phoenix” của y chủ trương. Tới năm 2004 thì trước hết, John Kerry đã phủ nhận y từng có mặt tại thành phố Kansas, chớ chưa nói gì tới hành vi tham gia vào bất kỳ cuộc bàn thảo nào về ám sát ai cả, và sau đó đã ráng gây áp lực lên các nhân chứng sở thị để làm như là cố khơi dậy lại ký ức của họ và cuối cùng đã phải rút lại lời phủ nhận của y đúng theo như các hồ sơ của VVAW và của FBI mà đã chứng minh được sự thật về việc có tham dự của y. 4143 John Kerry đã không thể nhớ lại được cái “mục ghi chú cuối trang có tính cách lịch sử này … trong quá trình hoạt động của y nhằm chấm dứt cuộc chiến khó khăn và có tính cách quyết định đó”.  4144

Trong một bức thư gởi đi chỉ trong một thời gian ngắn sau buổi họp tại Kansas City, Camil đã phàn nàn, “Tôi đã trình bày quan điểm của tôi. … Không ai chấp nhận và thay vào đó thì nay chúng ta lại có cho tới năm kế hoặch hành động khác nhau cho mùa Giáng sinh”. 4145  Camil bèn kêu gọi phải lợi dụng vấn đề phóng thích tù binh để khuấy động lòng dân Mỹ. 4146  Bọn lãnh tụ mới của VVAW là Al Hubbard, Joe Urgo, Jon Birch và Larry Rottman mà đã lật đổ Mike Oliver, Skip Roberts và John Kerry tại thành phố Kansas bèn phúc đáp cho Camil:

VVAW đã biểu quyết loại bỏ bàn cải vấn đề tù binh chính bởi vì Hà Nội đã từ chối “mọi nỗ lực nhằm buộc hay gây áp lực vào Bắc Việt hầu phóng thích bất kỳ tù binh nào”.

Tất cả mọi thành viên của VVAW mà đã từng tiếp xúc với bọn MTGPMN/Bắc Việt đều đã biết rỏ là vấn đề tù binh đối với chúng không phải là ‘vấn đề nóng bỏng nhất của cuộc chiến”. Mong muốn của chúng là chúng ta không nên gây rắc rối cho chúng về điều đó. Chính chúng mới là những người đang phải nhận lãnh các quả bom không tập cũng như đang phải đứng trước súng đạn của QLVNCH / Mỹ / CIA / bọn lính đánh thuê, và vì để tôn trọng nỗi kinh hoàng mà  họ đang tiếp tục phải gánh chịu thì CHÍNH HỌ MỚI PHẢI LÀ KẺ QUYẾT ĐỊNH. 4147

Đúng thật là đám phe phái VVAW của Camil đã nên để việc tuyên truyền tả phái và việc khủng bố cho bọn chuyên nghiệp tức là các sư phụ Việt cộng của chúng “quyết định” thì hay hơn.

*****

 

4111  Phúc trình FBI, [tên văn phòng địa phương bị kiểm duyệt] , “VVAW Regional Coordinators and National Steering Committee Meeting Weekend November 12-15, 1971 Kansas City, Missouri”,  24 tháng 11 năm 1971, trang 4.

4112  Giám đốc FBI gởi văn phòng New York, Jacksonville và hai [bị kiểm duyệt], VVAW, IS-New Left, Teletype, 18 tháng 11 năm 1971.

4113  Phúc trình FBI, [Bị kiểm duyệt] gởi cho E.S. Miller, 24 tháng 11 năm  1971.

4114  John M. Glionna, LA Times, 23 tháng 3 năm 2004.

4115  Second Venceremos Brigade, Tài liệu Quốc hội, 8 tháng 11 năm 1972, E9080-9098, tại trang 8147 về các phiên điều trần, Denver, Colorado. Max Friedman nói với tác giả, 25 tháng  2 năm  2008.

4116  Giám đốc FBI gởi Tổng Thống, 11:50 am Teletype, 16 tháng 11 năm 1971.

4117  FBI, [Kiểm duyệt] gởi Giám đốc, 7:55 khẩn TELETYPE, Nov. 15 tháng 11 năm  1971, trang 3.

4118  FBI, [Kiểm duyệt] gởi Giám đốc, TELETYPE 8:06PM , KHẨN, 19 tháng 11 năm 1971.

4119  FBI, [Kiểm duyệt] gởi Giám đốc, 9:55 pm, khẩn, TELETYPE, 18 tháng 11 năm 1971, trang 2; FBI, [Kiểm duyệt] gởi Giám đốc, TELETYPE,  8:06PM, KHẨN, 19 tháng 11 năm 1971, trang 2-5.

4120  Các tường trình về việc theo dõi trong những ngày 11, 14 and 19 tháng 11 năm  1971 được nêu ra trong sách của O’Neill và Corsi.

4121  FBI, [kiểm duyệt] gởi cho E.S. Miller, 24 tháng 11 năm 1971, trang 1; Phúc trình FBI, [kiểm duyệt tên Văn phòng], “VVAW Regional Coordinators and National Steering Committee Meeting Weekend November 12-15, 1971 Kansas City, Missouri”,  24 tháng 11 năm 1971, trang 6.

4122  FBI, New York gởi cho Giám đốc, LƯU Ý Domestic Intelligence Division (Phân bộ Tình Báo Quốc Nội), 12:55 am TELETYPE, 13 tháng 11 năm 1971; FBI, SAC, New York (100-160644) gởi cho Giám đốc (100-448092), VVAW, INC, IS-New Left, AIRTEL, 29 tháng 11 năm 1971, trang 3.

4123  Tất cả mọi tên trong dấu ngoặc trong đoạn này là từ danh sách của các phối hợp viên vùng của VVAW trong  The 1st Casualty, VVAW, Bộ  I, Số 3, 1971. http://www.vvaw.org/veteran/article/?id=1026 

4124  Richard Staciewicz, Winter Soldier: An Oral History of the Vietnam Veterans Against the War, 1997, trang 295. Phần nhấn mạnh thuộc ngay trong nguyên bản.

4125  Scott Swett, trang 47-48 ghi chú 1 có nêu ra Gerald Nicosia, Home to War, trang 220-2; Nicosia cũng viện dẫn sách của Thomas Lipscomb, “How Kerry Quit Veterans Group Amid Dark Plot,” New York Sun, 12 tháng 3 năm 2004, trang 1; Scott Stanley, Insight, 23 tháng 3 năm 2004.

4126  Phúc trình của FBI, Kansas City, VVAW Steering Committee Meeting Kansas City, Missouri, 12, 13, 14 tháng 11 năm 1971, trang 2,3; Đọc: Testimony of informant William Lemmer in “The Gainesville Eight”, Time, 20 tháng 8 năm 1973.

4127  Phúc trình của FBI, Kansas City, VVAW Steering Committee Meeting Kansas City, Missouri, 12, 13 và 14 tháng 11 năm 1971 gồm 8 trang.

4128  Phúc trình của FBI, “VVAW Regional Coordinators and National Steering Committee Meeting Weekend November 12-15, 1971 Kansas City, Missouri”, 24 tháng 11 năm 1971, 7; Phúc trình của FBI, [tên Văn phòng bị kiểm duyệt] , “VVAW Regional Coordinators and National Steering Committee Meeting Weekend November 12-15, 1971 Kansas City, Missouri”, 24 tháng 11 năm 1971, trang 5.

4129  Phúc trình của Giám đốc FBI gởi Tổng Thống, 11:00 am Teletype, 16 tháng 11 năm 1971.

4130  Về những thay đổi địa điểm, đọc: Gerald Nicosia, Home to War, trang 221-2. 

4131  FBI, [bị kiểm duyệt] gởi Giám đốc, TELETYPE 8:06 PM, KHẨN, 19 tháng 11 năm 1971, trang 7-8.

4132  Rất có thể là Rich Bangert, đại biểu của Eastern Missouri-Illinois, The 1st Casualty, VVAW, Vol. I, No. 3, 1971. http://www.vvaw.org/veteran/article/?id=1026 

4133  Phúc trình  của FBI, Kansas City, VVAW Steering Committee Meeting Kansas City, Missouri, 12, 13, và 14 tháng 11 năm 1971; Steve Gilbert, “Kerry, Kansa City, and the FBI Files,” American Thinker, 7 tháng 9 năm 2004. 

4134  Thomas Lipscomb, “How Kerry Quit Veterans Group Amid Dark Plot,” New York Sun, 12 tháng 3 năm  2004, trang 1; Scott Stanley, Insight, 23 tháng 3 năm  2004.

4135  Phúc trình  của FBI, Kansas City, VVAW Steering Committee Meeting Kansas City, Missouri, 12, 13 và 14 tháng 11 năm 1971, 8 trang; Phúc trình  của FBI, [tên văn phòng bị kiểm duyệt] , “VVAW Regional Coordinators and National Steering Committee Meeting Weekend November 12-15, 1971 Kansas City, Missouri”,  24 tháng 11 năm 1971, trang 6. 

4136  Giám đốc FBI gởi cho Tổng Thống, 11:50 am Teletype, 16 tháng 11 năm 1971, trang 4; FBI, [bị kiểm duyệt] gởi cho Giám đốc , 7:55 khẩn TELETYPE, 15 tháng 11 năm 1971, trang 4.

4137  FBI, [bị kiểm duyệt] gởi cho Giám đốc , TELETYPE 8:06 PM, KHẨN, 19 tháng 11 năm 1971, trang 11-12.

4138  FBI, Jacksonville LHM “VVAW Gainesville, Florida”, 24 tháng 11 năm 1971, trang 1-2.

4139  FBI, Jacksonville gởi cho Giám đốc LHM, “VVAW Gainesville IS-New Left, Scott Camil IS-New Left, AIRTEL 24 tháng 11 năm 1971, trang  2.

4140  John M. Glionna, LA Times , 23 tháng 3 năm 2004.

4141  John Fund, “Kerry’s Other War Record: His antiwar activities deserve more scrutiny from the press”, Opinion Journal, 29 tháng 3 năm  2004.

4142  Giám đốc FBI gởi cho Tổng Thống, Telegraph, 11:50am, 16 tháng 11 năm 1971.

4143  Scott Swett  và Tim Ziegler, To Set the Record Straight: How the Swift Boat Veterans, POWs and the New Media Defeated John Kerry, New American Media Publishing, 2008, trang 48-51.

4144  Josh Gerstein, “Kerry Retreats From His Denial On Vietnam Meet,” New York Sun,  19 tháng 3 năm  2004.

4145  Scott Swett  và Tim Ziegler, To Set the Record Straight: How the Swift Boat Veterans, POWs and the New Media Defeated John Kerry, New American Media Publishing, 2008  trang 62 ghi chú 68 có nêu Scott Camil, “Open letter to all Vets,” Wisconsin Historical Society Archives, Vietnam Veterans Against the War Records, Liên lạc Thơ từ giữa các Phân bộ tại Florida, Hộp 2, Ngăn hồ sơ 12-15, trang  290. 

4146  Scott Swett và Tim Ziegler, To Set the Record Straight: How the Swift Boat Veterans, POWs and the New Media Defeated John Kerry, New American Media Publishing, 2008 có nêu Scott Camil, “Open letter to all Vets”, Wisconsin Historical Society Archives, Vietnam Veterans Against the War Records, Liên lạc Thơ từ giữa các Phân bộ tại Florida, Hộp 2, Ngăn hồ sơ 12-15,  trang 290.

4147  Scott Swett  và Tim Ziegler, To Set the Record Straight: How the Swift Boat Veterans, POWs and the New Media Defeated John Kerry, New American Media Publishing, 2008 trang 5 ghi chú 19 có nêu bức thơ của Jon Birch, Larry Rottman, Joe Urgo, và Al Hubbard gởi cho Scott Camil, Văn khố  Wisconsin Historical Society Archives, Vietnam Veterans Against the War Records, Liên lạc Thơ từ giữa các Phân bộ tại Florida, Hộp 2, Ngăn hồ sơ 12-15, trang 286-287.  Mọi phần nhấn mạnh đều thuộc ngay trong nguyên bản.

*****

 

Advertisements

Một phản hồi to “Roger Canfield’s Americong #124”

Trackbacks/Pingbacks

  1. Giới thiệu tác phẩm AMERICONG (MỸ-CỘNG) – Lê Bá Hùng | Ngoclinhvugia's Blog - 05/01/2016

    […] Roger Canfield’s Americong #124 […]

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: