Roger Canfield’s Americong #59

image002

Comrades in Arms

How the Americong Won the War in Vietnam

Against the Common Enemy— America

Copyright Roger Canfield, Ph.D.

1986-2012

No commercial transaction allowed except that approved by the author, copyright holder.

Obtain a prepublication release of a CD-R in Microsoft Word in ENGLISH at a discounted price of $15 from Roger Canfield Rogercan@pacbell.net at 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 or at http://americong.com.

Completely SEARCHABLE for any name, date, place or event of the War and its protesters.   

Cover: Design Stephen Sherman. Photos: Roger Canfield, March 2008. TOP: War protest Hawaii, February 1966 displayed at War Remnants (Crimes) Museum, Saigon. Bottom: Praetorian Guard

Các đồng chí cùng chiến tuyến

Làm thế nào MỹCộng thắng cuộc chiến Việt Nam

Chống kẻ Thù Chung – Mỹ

Giữ bản quyền Roger Canfield, Tiến Sĩ

1986-2012

Không được sử dụng vào mục đích thương mại nếu không có sự đồng ý của Tác giả, người giữ bản quyền.

Có thể mua một tiền bản dưới dạng CD-R Microsoft Word bằng Anh ngữ với giá đặc biệt US$15 ngay từ tác giả Roger Canfield  Rogercan@pacbell.net tại 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 hay tại  http://americong.com.

Hoàn toàn có thể TRA CỨU hoặc bằng tên, bằng ngày tháng hay biến cố liên quan đến cuộc Chiến cùng cả luôn bọn tham dự biểu tình .

******************************************************

* Tác giả giữ bản quyền © Roger Canfield 1986-2012

  • Lê Bá Hùng chuyển ngữ  (với sự chấp thuận của Tác giả)

 

******

Chương 59

Những Tiết Lộ về An Ninh Quốc Gia:

Halperin, Agee, Ellsberg

 

 

Bí mật là điều rất quan trọng trong chiến tranh và về ngoại giao.

Việc tiết lộ các bí mật có khã năng gây nguy hiểm cho việc tiến hành chiến tranh vì để địch biết những gì mình sẽ làm trong tương lai và để lộ những nguồn tin quan trọng và các phương pháp tình báo cũng như là cho phép đám biểu tình có thể thực sự gây trở ngại cho việc tiến hành chiến tranh. Một truyền đơn thời Thế chiến II đã ghi là “Chỉ  hở môi thôi cũng làm chìm con tàu”.  Giống như chính quyền Johnson, chính quyền Nixon cũng đã  phải vật lộn để tìm câu trả lời trong một xã hội tự do cứ cố tình làm ngơ trước mối đe dọa của ngoại bang đang sử dụng các cơ quan công quyền  như CIA và FBI, mà đã từng có truyền thống vì lý do  tổ chức nội bộ đã luôn luôn rất chậm chạp để thích ứng và đã từng  phải miễn cưỡng tuân theo các giới chức thẫm quyền dân cử.  

Vào lúc đầu chiến tranh Việt Nam, Chưởng lý Robert Kennedy và Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara đã ra lệnh (vào ngày 12 tháng 3 năm 1963 và  ngày 15 tháng 6 năm 1963) cho CIA để nghe trộm điện thoại của Robert Allen và Paul Scott, các bình luận gia mà cứ từng thường xuyên  viết mà dùng những  tài liệu bị liệt kê như là mật. Việc nghe lén của CIA đã cho thấy là các nguồn tin bí mật này là từ Quốc hội và các cơ quan hành pháp, kể cả Tòa Bạch Ốc. Mọi người ở khắp mọi nơi đều tiết lộ các bí  mật.

Các Tiết  Lộ – Mort Halperin

Vào cuối tháng 4 và đầu tháng 5 năm 1969 thì  Nixon, Hoover và Kissinger đã họp để thảo luận về “… tên tuổi của các cá nhân chủ chốt có quyền truy cập loại thông tin nhạy cảm mà đã từng bị tiết lộ” về nền ngoại giao và các chiến thuật quân sự Hoa Kỳ. Ngày 9 tháng 5 năm 1969, trên tờ New York Times, William Beecher đã viết một câu chuyện về các cuộc không tạc của Mỹ tại Campuchia. (Tới tháng 9 thì Walter Pincus và Roland Paul, nhân viên của Thượng nghị sĩ Stuart Symington cũng sẽ tiết lộ các chiến dịch bí mật ở Lào. 2810 Chiến tranh ở Lào đã không còn là bí mật, nhưng nó vẫn sẽ cứ được tái khám phá ra hầu bị phô trương ồn ào rất nhiều lần sau đó).

Buổi sáng tháng 5 hôm đó, Henry Kissinger đã gọi điện cho Hoover yêu cầu ông ta “cố gắng tối đa để tìm từ đâu [câu chuyện] đã bị lộ ra.” Trước lúc 17:00 giờ, Hoover cho Kissinger biết rằng Morton Halperin, một nhân viên của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia và ba người khác có thể đã là những kẻ đã tiết lộ tin này cho Beecher.

Đặt Máy Nghe Lén Điện Thoại

Nixon từng giải thích, “Tôi đã nói với Tiến sĩ Kissinger  [là] … phải báo cáo cho  Ông Hoover  tên [của] … bất kỳ ai mà bị tình nghi là thủ phạm chính [trong việc tiết lộ về Campuchia] …. Rồi thì ông Hoover đã sẽ phải … xin phép Chưởng lý là thẫm quyền liên hệ  trước khi,  tất nhiên, đặt máy nghe lén điện thoại … ” 2811  Ngày 12 tháng 5 thì Chưởng Lý Mitchell đã phê duyệt cho phép bốn vụ đầu tiên. Trong vòng một năm rưởi sau, đã có 13 vụ được phê duyệt. 2812 Với sự hỗ trợ của Alexander Haig, 2813 tổng cộng là 17 vụ nghe lén đã được tiến hành đối với  các nhân viên chính phủ và các phóng viên trong thời gian từ giữa tháng 5 năm 1969 tới tháng 2 năm 1971. Việc nghe lén Halperin đã kéo dài 21 tháng, cho đến ngày 10 tháng 2 năm 1971, còn các vụ khác thì khoảng từ sáu tuần đến hai mươi tháng.

Mort Halperin

Hai năm sau, vào ngày 14 tháng 6 năm 1971, nhân khi  thảo luận về việc tiết lộ các tài liệu của Ngũ Giác Đài thì Nixon đã nói, “Tôi nhớ lại là quả Edgar Hoover đã đúng … có nhớ là ông ta đã chỉ đích danh tên đó.” Haldeman: “Các máy nghe lén đã cho thấy chính là … Halperin …” 2814

Các kết quả về nghe lén Mort Halperin (Tháng 5 năm 1969 – Tháng 2 năm 1971) sau này đã được đưa ra trong phiên xử Daniel Ellsberg về tội đã ăn cắp các giấy tờ của Ngũ Giác Đài . Ellsberg đã bị nghe lén  tới 15 lần trong các lần nghe lén vì lý do an ninh quốc gia mà đã không được cho phép trước (bởi Chưởng Lý). Chính phủ đã không tiết lộ nội dung của các lần nói chuyện của Ellsberg vì lý do an ninh quốc gia. 2815

Philip Agee

Halperin sau đó sẽ xuất hiện với tư cách là nhân chứng bên biện hộ cho một điệp viên Việt cộng mà sẽ bị kết tội tên là David Trương và một cựu nhân viên CIA là Philip Agee. Nhân viên Agee 2816  đã cung cấp tên tuổi cùng lý lịch của cả hơn 425 nhân viên hoặc nguồn tin của CIA . Có ít nhất là ba người – Trưởng nhiệm sở CIA ở Athens tên Richard Welch và hai nhân viên của MI6 Anh quốc  ở Ba Lan đã bị ám sát. 2817 Số lượng các điềm chỉ viên ngoại quốc của CIA đã liền giảm đi tới 93%, theo lời khai của Herschensohn. 2818

Văn khố Mitrokhin nhằm lưu trữ các bản sao chép những tài liệu của KGB và các người  đào thoát Liên Xô đều xác nhận rằng Agee đã làm việc cho cả công an  Cuba và công an Liên Xô. 2819  Một chỉ huy trưởng KGB là Oleg Kalugin đã cho biết là sau khi trưởng trạm KGB ở Mexico City từ chối đề nghị của Agee thì y đã “đi tiếp xúc với người Cuba và đã được họ nồng nhiệt chào đón … Cuba đã chia sẻ tin tình báo của Agee với chúng tôi .” 2820 Ở Anh, người chịu trách nhiệm kiểm soát Agee đã là Edgar Anatolvevich Cheporov. 2821 Agee đã tin, “CIA rõ ràng là thuộc bên gian trái, đó là phe tư bản. Tôi tán thành các hoạt động của KGB, nói chung là các hoạt động cộng sản.” 2822 Trong tháng 4 năm 1973, Chiến dịch Hoà Bình cho Đông Dương đã sẽ bảo trợ Kenneth Barton Osborne của Committee for Action Research on the Intelligence Community, CARIC (Ủy ban Nghiên cứu hành động về cộng đồng tình báo) để diển thuyết về  về chương trình ám sát của Chiến dịch Phượng Hoàng Phoenix mà đã loại bỏ tới 40.000 đối thủ chính trị của chế độ Thiệu. CARIC, nhà xuất bản của tờ Counter-Spy do Phil Agee điều khiển đã được ghi công với vụ ám sát nhân viên CIA Richard Welch. 2823

Mort Halperin, thường rất là khoan dung vớ chủ nghĩa xã hội, đã ra làm chứng trong phiên xử tên bạncủa Liên Xô là Agee, kẻ đã đi theo địch trong thời Chiến tranh Lạnh và đã là tên cung cấp vũ khí chính yếu cho Hà Nội.

CIA phải là cơ quan phải chịu trách nhiệm đối phó với các chiến dịch về tình báo, gián điệp và tuyên truyền của kẻ thù.

Các Tường Trình về Tiến Triển với CHAOS của CIA và Hội Đồng An Ninh Quốc Gia

Ngày 20 tháng 6 năm 1969 thì Tom Huston, Phụ tá về nhân viên của Tổng Thống đã yêu cầu CIA xem xét về tiến bộ trong dự án CHAOS.

Những gì đã biết được về việc các chính phủ ngoại quốc từng hỗ trợ phong trào phản chiến? Huston đã viết là “hỗ trợ” nên “được hiểu theo nghĩa rộng rãi bao gồm luôn các hoạt động của bọn cộng sản ngoại quốc nhằm khuyến khích hay hỗ trợ các cuộc biểu tình đòi cách mạng ở Hoa Kỳ.” Ông đã nói, “Có vẻ là khả năng thu thập tin tình báo của chúng ta trong lĩnh vực này có thể là không đúng theo ý muốn.” 2824

Phó Giám đốc CIA Cushman chỉ cần có mười ngày để trả lời một cách dứt khoát để chối bỏ sự kiện này,

“Các thông tin thu thập được … chỉ cho thấy một sự  hỗ trợ rất hạn chế của Cộng sản ngoại quốc cho  các phong trào cách mạng chống đối …

Có rất ít báo cáo về … việc tài trợ hay huấn luyện và không hề có bằng chứng là cộng sản chỉ huy hay kiểm soát bất kỳ phong trào cách mạng phản đối Hoa Kỳ nào cả … “

Ít ra thì CIA cũng đã có lưu ý là từng đã “có sự khuyến khích các phong trào đó thông qua các phương tiện tuyên truyền.” 2825

Danh từ bất hủ “cách mạng” mà Huston dùng thực sự đã thu hẹp con số các tổ chức mà CIA đã được yêu cầu phải điều tra. Điều đó cho thấy là CIA đã bỏ qua hoàn toàn các chính phủ ngoại quốc mà đã giúp đỡ cái đám tự xưng là cách mạng, bọn Weathermen và Black Panthers.

Tường Trình của Huston, Tháng 7 năm 1969

Nhờ những nỗ lực của Max Friedman vào cuối năm 2008, Văn khố Lưu trữ Quốc gia đã phổ biến vào tháng 7 năm 1969 một bản tường trình đặc biệt gởi Tổng thống do Tom Charles Huston soạn thảo. 2826 Nó đồng trả lời được cho cả mối quan tâm của Tổng thống về các cường quốc và về khã năng yếu kém của tình báo Mỹ, đặc biệt là của CIA.

Trong phúc trình, Huston đã trả lời câu hỏi của Tổng thống về “bằng chứng bất khã chối cải là các cường quốc khác đã đang giúp đỡ tài trợ cho các rối loạn trong các khuôn viên đại học ở đất nước này.” Câu trả lời đã là không có, nhưng “một số quỹ (đã được cung cấp) cho vài tổ chức.”

Ngoại trừ FBI, cộng đồng tình báo, đặc biệt là NSA, DIA và CIA, đã không hề làm được gì đáng kể để truy tìm việc cộng sản đã tài trợ vì cả hai lý do “nhạy cảm về chính trị do việc phải đi kiểm soát các tổ chức chính trị trong nước” và lý do được chấp nhận là các tổ chức này không cần sự hỗ trợ của ngoại quốc.

Huston đã viết rằng báo cáo ngày 30 tháng 6 của CIA đã “rỏ ràng cho thấy là  không có bằng chứng cụ thể”, chi tiết mà ông đã gán cho tình trạng thiếu tài nguyên của CIA dành riêng cho công tác  tình báo về các nhóm quốc nội  mà có được sự hỗ trợ của ngoại quốc.” Việc CIA theo dõi các liên lạc … đã hoàn toàn không thích ứng. … Tôi tin rằng CIA đã thất bại trong việc quyết định ưu tiên một cách tương ứng … và đã không biết cách sử dụng đúng đắn … các tài nguyên.” 2827

Quan trọng hơn là các kết luận của Huston trong tháng 7 năm 1969 khi dựa trên một “ước lượng tình báo liên cơ quan … lần đầu tiên, về sự hỗ trợ của Cộng sản ngoại quốc cho các tổ chức cách mạng Mỹ “.

Trong số những phát hiện của Huston, ta thấy có Cuba và Trung Quốc từng  tài trợ cho Progressive Labor Party ~ Đảng Lao động Cấp Tiến chiếu theo lời khai của Phillip Abbott Luce. Huston kết luận là Đảng CS Mỹ  ~ CPUSA đã thất bại trong việc kế nhiệm nhóm SDS, nhưng “cá nhân các đảng viên đã lại đóng một vai trò đáng kể trong các cuộc biểu tình, hoạt động và sinh hoạt của các nhóm này.” Nhóm đảng viên trẻ của CPUSA “đã tham gia như là một thành phần tích cực trong phong trào hòa bình.”

Thêm nữa, Huston đã viết: “Có bằng chứng mạnh mẽ cho thấy một sự hợp tác thân cận và có phối hợp giữa phong trào hòa bình Mỹ với Bắc Việt và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.” Huston đã trích dẫn Hội nghị Stockholm vào năm 1969, các liên lạc với David Dellinger nhân cuộc họp Bratislava vào tháng 9 năm 1967. [Bắng chứng gần giống như với hai vụ Trân Châu Cảng và 9/11]  Cộng đồng tình báo đã thất bại trong việc sử dụng mọi phương tiện để cùng phối hợp và phân tích những tin tình báo đã thu thập được. 2828

Huston đã viết, “Điều bắt buộc là chúng ta phải thâm nhập vào tất cả các mối dây liên lạc giữa các lực lượng Cộng sản ngoại quốc và bọn làm cách mạng quốc nội”. Hơn nữa, đã  “không hề có nỗ lực nào để tìm đưa ra các phản biện pháp thực tế và hiệu quả nhằm tiêu diệt mối đe dọa rõ ràng đã bị đặt ra bởi việc  tăng cường hỗ trợ của Cộng sản để ảnh hưởng đến và có thể là kiểm soát luôn  cả phong trào cách mạng đang chống đối …”

Kế hoặch CHAOS của CIA sau đó đã bị cáo buộc là có lập hồ sơ trên 300.000 người Mỹ cùng 1.000 tổ chức. Trong quá trình chỉ thụ động thu thập các mẩu tin báo chí và các báo cáo của FBI cùng với không đáng kể là bao nhiêu từ các nhiệm sở CIA ngoan cố, CHAOS đã có những hồ sơ riêng cho 7.500 người Mỹ và 109 tổ chức. 2829 Và những tin tốt là gì? Các tường trình của CIA cho hai vị tổng thống luôn luôn cho thấy là các hồ sơ không hề chứa đựng – ít nhất là theo nghiên cứu của đám phân tích gia Ivy League chỉ toàn là bọn thanh niên ‘Frat Boys’, điều gì có thể tìm thấy ra hay đáng giá hầu trình lên vị tổng tư lệnh.

Nhưng vẫn còn những hạn chế lớn về chính trị, “Phe Tự do cũng như phe Bảo thủ đều  cực kỳ phản đối việc chính phủ kiểm soát các sinh hoạt của người công dân Mỹ. Theo luật, NSA bị cấm nhắm theo dõi chống lại các liên lạc của các công dân Mỹ.” Sau khi mà công chúng biết được thì ta phải dự liệu là sẽ có “nóng nảy”  và “phẫn nộ”.  2830

Cơ Quan An Ninh Quốc Gia NSA: Kế Hoặch MINARET

Vào ngày 1 tháng 7 năm 1969, NSA đã bắt đầu Kế Hoặch MINARET để theo dõi các tiếp xúc với ngoại quốc như là điện thoại và điện tín chiếu theo một “Danh sách cần theo dõi” gồm một số bất đồng chính kiến ​​và đào ngũ Mỹ được chọn lọc vì đã từng dính líu đến các cuộc rối loạn dân sự và các hoạt động phản chiến, để thu thập  tin tức về việc các chính phủ hay các gián điệp ngoại quốc đang “cố gắng tạo ảnh hưởng, phối hợp hoặc kiểm soát các tổ chức, cá nhân Mỹ mà khã dỉ có thể … phá hoại nền an ninh quốc gia … ” 2831

Theo chương trình Shamrock áp dụng kể từ Thế chiến II thì NSA đã hàng ngày nhận băng thu âm các điện tín ngoại quốc gởi đến và đánh đi từ các toà đại sứ  và các điệp viên nhưng “NSA đã hông bao giờ nhận được bất kỳ điện tín quốc nội nào từ các công ty (có đường dây dẫn)  trong nước.”

Chiếu theo dữ liệu sau này được đưa ra theo lời khai chứng của Trung tướng Lew Allen với Ủy ban Church Committeee thì NSA chỉ theo dõi các thông tin liên lạc với nước ngoài của khoảng 300 kẻ bị tình nghi là hoạt động và khủng bố, đó là không bao gồm số 445 tên buôn bán ma túy khác và 180 tên có khã năng sẽ có thể ám sát tổng thống. 2832

Tướng Allen đã cho biết, “Tất cả các tin nhắn đều đã có ít nhất một lần ra tới ngoại quốc và hơn 90% thì đã có ít nhất là một người liên lạc ngoại quốc. Các liên lạc thường đã  được thu âm chẳng hạn  như khi kiểm thính các liên lạc đến và đi từ Hà Nội.” Vào cuối năm 1973, NSA đã chặn nghe các tin nhắn của 168 công dân  và các nhóm Mỹ đúng theo với các yêu cầu của FBI, CIA, DIA, Mật Vụ và các cơ quan khác. 2833

Ngoài việc liên lạc và cộng tác với kẻ thù thì cũng đã có những hành vi chỉ đơn giản là đánh cắp bí mật quốc gia. Một số bí mật như vậy chỉ có thể làm thiệt hại cho đất nước và các quân nhân trên chiến trường Việt Nam mà thôi. Một số bí mật khác thì chỉ đơn thuần là làm xấu hổ các công chức.

Joseph Kraft 

Vào cuối tháng 6 năm 1969, viên phụ tá của Nixon là John Ehrlichman và Giám đốc Hoover với Phó Giám đốc FBI William C. Sullivan đã cho phép đặt máy theo dõi phòng khách sạn (không phải là điện thoại) của bình luận gia Joseph Kraft khi y ra ngoại quốc. 2834 Trong khi FBI đã không bao giờ nêu ra một lý do về “an ninh quốc gia”, Kraft sau đó có thừa nhận là để liên lạc với các viên chức Bắc Việt ở nước ngoài vào năm 1969 như nhiều nhà báo đã từng làm như vậy. 2835

William Ruckelshaus đã làm chứng: “… ông ta … đang hỏi một số thành viên của Chính phủ  Bắc Việt, … [Đây] không phải là một lý do thích đáng về an ninh quốc gia để biện minh cho việc đặt bất kỳ loại kiểm soát nào đối với một công dân hay một phóng viên Mỹ. Sự kiện này đơn giản chỉ là không thể biện minh được mà thôi … ” 2836

Dù sao thì Phó Giám đốc FBI lúc đó là W.C. Sullivan cũng đã thu xếp với một  cơ quan an ninh nước ngoài – rất có thể là của Pháp – để đặt một máy vi-âm trong phòng khách sạn của Kraft. Từ ngày 3 đến 7 tháng 7 năm 1969, kết quả thu ghi được đã được chuyển tiếp đến Hoover thông qua toà đại sứ Mỹ.

Hoover và vị Chưởng lý đã không cho phép nghe lén điện thoại nhà riêng của Kraft, nhưng trong tháng 7 năm 1969, John Ehrlichman ra lệnh cho John Caulfield và John Ragan của nhóm Tòa Bạch Ốc có tên gọi là “Thợ ống nước”  –  không dính líu gì với FBI – để đặt một máynghe lén điện thoại trong vòng một tuần tại nhà của Kraft. Sau độ năm tuần – từ 5 tháng 11 đến 12 tháng chạp – việc kiểm soát tại quốc nội này đã được ngừng lại. Nó đã “không … ích lợi gì cho lắm”. 2837

Những tiết lộ về vụ Kraft  và các vụ khác cứ tiếp tục.

Rồi thì Tổng thống Nixon đã phải nói với John Dean, vào ngày 16 tháng 4 năm 1973:

… việc FBI đã làm, cả hai vụ đều tốt thôi  … Việc liên quan đến họ thì rõ ràng, John, đã là thế này: các tiết lộ từ NSC [Hội đồng An ninh Quốc gia]. Các tiết lộ này của Kraft và của những kẻ khác và chúng ta chỉ đang cố gắng để ngăn chận  và chúng ta cần phải giải quyết nó để rồi sau đó thì chúng ta sẽ chuyển nội vụ về cho Hoover. Và rồi khi nội vụ tùm lum thì chúng ta đã chỉ phủi tay hoàn toàn mà thôi. 2838

 

Cuộc chiến tranh chính trị nhằm chống lại cuộc chiến ở Việt Nam thì cũng đã có những người ủng hộ đáng tin cậy hơn nhiều so với đám phóng viên luôn luôn tìm chuyện để khai thác và các công chức luôn luôn thanh toán ân oán nội bộ với nhau mà thôi. Năm 1969, phong trào phản chiến vẫn tiếp tục phối hợp mạnh mẻ các hoạt động chính trị với địch ở Stockholm, Hà Nội, Berlin và các nơi khác.

*****

2810  H.R. Haldeman, The Haldeman Diaries: Inside the Nixon White House, New York: Berkley Books, 1994, trang 111.

2811  Khai trình của Richard M. Nixon, Halperin chống Kissinger, hồ sơ Civ. No. 1187-73 (D.D.C.), 1/15/76, trang 34, 35 được nêu trong báo cáo của Ủy ban Church.

2812  20 tháng 5 năm 1969: Hai nhân viên văn phòng của NSC (Hội đồng An ninh Quốc gia); 29 tháng 5 năm 1969: Một phóng viên tờ London Sunday Times; 4 tháng 6 năm  1969: phóng viên tờ New York Times; 23 tháng 7 năm 1969: Một cố vấn về các vấn đề đối nội tại Tòa Bạch Ốc; 4 tháng 8 năm 1969: Một chuyên viên viết diển văn; 10 tháng 9 năm 1969: Một phóng viên của CBS News; 4 tháng 5 năm  1970: Một Đại diện của Phó Ngoại Trưởng; một viên chức Bộ Ngoại giao cấp “Đại sứ”; và một Thiếu Tướng thuộc Bộ Quốc Phòng; 13 tháng 5 năm 1970: Hai nhân viên văn phòng NSC; 14 tháng chạp năm 1970: Một cố vấn thứ hai về các vấn đề đối nội tại Tòa Bạch Ốc – tất cả đều bị nêu ra trong báo cáo của Ủy ban Church.

2813   The Guardian, 20 tháng 2 năm 2010.

2814  Các băng thu âm của Nixon, 14 tháng 6 năm 1971, Cuộc họp về Haldeman tại Oval Office, 3:09 pm, trang 2 thuộc Nixon Presidential Materials Project, Oval-519-1, băng Cassette 747, Văn khố National Security Archives, Đại học George Washington University. 

2815  Thượng nghị sĩ Strom THURMOND, “STATEMENT ON THE NOMINATION OF DR. MORTON HALPERIN, Thượng viện  – 15 tháng 7 năm 1994, S9106-9113,  http://www.fas.org/irp/congress/1994_cr/s940715-halperin.htm

2816  Agee, Philip Inside The Company: CIA Diary. Penguin Books, 1975.

2817  Thượng nghị sĩ Strom THURMOND, “STATEMENT ON THE NOMINATION OF DR. MORTON HALPERIN, Senate – Thượng viện  – 15 tháng 7 năm 1994, S9106-9113,  http://www.fas.org/irp/congress/1994_cr/s940715-halperin.htm

 2818  Herschensohn, An American Amnesia,  trang 163.

2819  Andrew, Christopher; Vasili Mitrokhin (2000). The Sword and the Shield: The Mitrokhin Archive and the Secret History of the KGB. Basic Books, trang 230.

2820  Andrew, trang 230, cùng viện dẫn Oleg Kalugin, Spymaster: The Highest-ranking KGB Officer Ever to Break His Silence. Blake Publishing Ltd.,1995, trang 191-192.

2821  Andrew viết: “Các hồ sơ KGB mà Mitrokhin có ghi chú đã mô tả Agee như là một nhân viên của DGI Cu-ba và có ghi chi tiết về sự cộng tác của y với KGB nhưng đã không chính thức liệt kê y như là thuộc KGB hay DGI. Bộ 6, chương 14, phần,2,3; Bộ  6, phụ đính 1, phần 22.”

2822  Horowitz, David, “The Politics of Public Television,”   Commentary Magazine, Tháng chạp 1991, trang 92 (6). 

2823  Syracuse Peace Council, Peace Newsletter, Tháng 4 năm 1973, SPC [Số] 682, trang 12-13; Roger Chapman, Culture Wars: Encyclopediaof Issues, Viewpoints and Voices, trang 78; Counter-spy, bản tin về hành động/tìm hiểu trong cộng đồng tình báo, Tháng 5 năm 1973, Bộ 1, Số 2; Subversion of Law Enforcement Intelligence Gathering Operations – Các phiên điều trần trước tiểu ban Thượng Senate Subcommittee to Investigate  the Administration of the Internal Security Act and Other Internal Security Laws, 26 tháng 3 năm 1976.

2824  Báo cáo Tom Huston gởi Phó Giám đốc CIA, 20  tháng 6 năm 1969.

2825  Tướng Robert Cushman gởi cho Tom Charles Huston, 30 tháng 6 năm 1969  trong hồ sơ Ủy ban Church Committee, trang 700.

2826  Tom Charles Huston, Phúc Trình Đặc biệt dành cho Tổng Thống, TỐI MẬT, CHỈ TỔNG THỐNG ĐỌC THÔI –  Rất nhạy cảm, Foreign Communist Support of the Revolutionary Protest Movement in the United States, Tháng 7 năm 1969, trang 52, giải mật ngày 11/10/2008  theo yêu cầu của Max Friedman.

2827  Tom Charles Huston, Phúc Trình Đặc biệt dành cho Tổng Thống, TỐI MẬT, CHỈ TỔNG THỐNG ĐỌC THÔI –  Rất nhạy cảm, Foreign Communist Support of the Revolutionary Protest Movement in the United States, Tháng 7 năm 1969, trang 1, 3, 29-30, 33 giải mật ngày 11/10/2008 theo yêu cầu của Max Friedman.

2828  Tom Charles Huston, Phúc Trình Đặc biệt dành cho Tổng Thống, TỐI MẬT, CHỈ TỔNG THỐNG ĐỌC THÔI –  Rất nhạy cảm , Foreign Communist Support of the Revolutionary Protest Movement in the United States, Tháng 7 năm 1969, trang 1, 3, 7, 30, 37 giải mật ngày 11/10/2008 theo yêu cầu của Max Friedman.

2829  Ủy ban Church Committee, trang 695 ghi chú 43.

2830  Tom Charles Huston, Phúc Trình Đặc biệt dành cho Tổng Thống, TỐI MẬT, CHỈ TỔNG THỐNG ĐỌC THÔI –  Rất nhạy cảm, Foreign Communist Support of the Revolutionary Protest Movement in the United States, Tháng 7 năm 1969, trang 4, 29, 7, 37-8  giải mật ngày 11/10/2008 theo yêu cầu của Max Friedman.

2831  Phụ tá Giám đốc  NSA, “Establishment of Sensitive SIGINT Operation Project MINARET ( C ), 1 tháng 7 năm 1969.

2832  Khai chứng của Trung Tướng Lew Allen, Jr., Giám đốc  NSA ngày 29 tháng 10 năm  1975 trước ủy ban Church Committee tại cryptime.org/nsa-4th.htm.

2833  Christian W. Erickson, UC Davis, “Securing Cyberspace: Phần  2-US Cryptography in the 20th Century.”

2834  Phúc trình của Sullivan gởi Hoover, 6/30/69 và 7/2/69 viện dẫn trong báo cáo  “Church Committee Report.” Phúc trình của Sullivan gởi DeLoach, 11/5/69. Việc kiểm soát Kraft cũng được thảo luận trong Phần II, trang 121-122.

2835  Khai chứng của Joseph Kraft, các phiên điều trần trước tiểu ban Subcommittee on Administrative Practice and Procedure, 5/10/74,  trang 381.

2836  Khai chứng của William Ruckelshaus, các phiên điều trần trước tiểu ban Subcommittee on Administrative Practice and Procedure, 5/10/74,  trang 320.

2837  Phúc trình của Sullivan gởi cho DeLoach, 12/11/69.

2838  Đệ nạp các cuộc nói chuyện được thu âm của Tổng Thống  Nixon ~ Recorded Presidential Conversations by President Richard Nixon cho ủy ban Committee on the Judiciary of the House of Representatives , 4/30/74, trang 802.

 

*****

Một phản hồi to “Roger Canfield’s Americong #59”

Trackbacks/Pingbacks

  1. Giới thiệu tác phẩm AMERICONG (MỸ-CỘNG) – Lê Bá Hùng | Ngoclinhvugia's Blog - 05/01/2016

    […] Roger Canfield’s Americong #59 […]

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: