Roger Canfield điểm sách Lewis Sorley viết về Westmoreland

Sorley on Westmoreland: Loss of Vietnam War, NOT!

http://americong.com/sorley-on-westmoreland-loss-of-vietnam-war/

Roger Canfield

Chúng ta mãi mãi biết ơn Lew Sorley từng nhắc nhở chúng ta trong quyển A Better Warrằng cuộc chiến tranh ở Đông Dương đã là một chiến tranh có tính cách chiến lược với những  mục tiêu đáng kính trong thời Chiến tranh Lạnh . Lew Sorley chắc chắn phải thuộc trong danh sách rất ngắn của con số sử gia về chiến tranh Việt Nam mà đáng để chúng ta đọc.

Trong Westmoreland: The General Who Lost the Vietnam War, Sorley đã viết một bài rất đáng giá về các yếu điểm trong cá tính đầy huyền thoại của tướng William Westmoreland. [trang 119, trang 302-3]  Westmoreland đã có phần chậm trể trong việc thi hành chính sách bình định CORDS vào năm 1967, như là một phần của chiến lược tổng quát.  Ông và tất cả các thượng cấp đã không tấn công các mật khu ở Lào, Campuchia và Bắc Việt (Hà Nội, Hải Phòng). Ông ta và những kẻ  khác đã không tiến hành liên tục một cuộc chiến tranh thuộc loại “tuyên truyền / phản tuyên truyền / sự thật / thông tin”, như Frank Capra đã làm với chương trình Tại sao Chúng ta chiến đấu (Why We Fight ) trong thời Thế chiến II.

Ngoài điều này ra thì Sorley đã không quan tâm đầy đủ đển bối cảnh mà Westy đã thất bại cũng như đến các kẻ thù của ông ta tại Washington và Hà Nội.

Việc này vượt quá khã năng của Westmoreland, nhưng thật sự thối nát đã có từ cấp trên.

Kennedy đã chỉ là một tay tài tử và LBJ là một tên hèn nhát khiếp phục trước các vũ khí Liên Xô, Trung Cộng và luôn cả bọn biểu tình phản chiến. Viên Bộ trưởng Quốc Phòng Robert McNamara, với bản tính luôn luôn coi thường giới quân nhân, đã quy tụ một số luật sư trẻ và lý thuyết gia về trò chơi điện tử quanh y ngõ hầu có thể đưa ra  một phương kế có lợi về chiến lược trong việc leo thang dần dần. Đã không hề có mục tiêu phải chiến thắng hay đi tới một chiến công. Bộ  Quốc Phòng  thì đã chỉ lo tính toán về các con số tử vong cùng đạn dược. Nixon đã thuê một viên giáo sư Harvard, Henry Kissinger, mà khã năng chuyên môn chỉ liên quan  tới chính sách ngoại giao của một đệ tam quyến lực trong thế kỷ thứ 19 của nhân vật  Metternick thời kỳ  đế chế  Áo-Hung đã đổ nát hoang tàn . Họ đã oanh kích Hà Nội để buộc địch phải chấp nhận những nhượng bộ của Mỹ (Negroponte).  Bộ trưởng Quốc phòng Melvin Laird của  Nixon đã lưu dùng các tay bộ sậu thời Kennedy-Johnson như Paul Warnke, Robert Pursley, Harold Brown, Dan Henkins, Jack Stempler.

Kế hoạch chiến lược của Hà Nội thì không có gì bí mật và là một cuộc chiến tam đoạn. Tay chiến lược gia cốt yếu của Bắc Việt và cũng là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, cho biết trong Làm Sao Chúng taChiến Thắng,

“[Đảng ta] phối hợplẫn đấu tranh quân sự  với đấu tranh chính trị và vào các giai đoạn nhất định nào đó  … cũng với  đấu tranh ngoại giao, để hoàn toàn chiến thắng cuộc chiến tranh tân thực dân xâm lược của Mỹ-Thiệu  .”  [1]

Lê Duẩn, Bí thư Đảng Đảng Lao Động đã ra chỉ thị cho COSVN Việt Cộng ở Nam Việt: Cuộc đấu tranh vũ trang phải được tiến hành song song với đấu tranhchính trị …” Nguyên tắc này đã được cố tình áp dụng trên các đường phố của Mỹ [địch vận] và nằm ngoài tầm trách nhiệm của Westmoreland.

Do đó, khi nói về các tranh chấp của Mỹ và ngay chính tường thuật của Sorley về sự tranh cải giữa các chiến lược hoặc dùng chiến tranh tiêu hao (Westmoreland) hay ngược lại áp dụng chính sách bình định (Abrams) đã quá đơn giản hóa vấn đề. Đặt qua một bên dữ kiện là chính các chính sách cùng với hoạt động ngoại giao mới có tính cách quyết định thì cuộc chiến trên toàn cõi Đông Dương đã chỉ là những cuộc phối hợp về du kích khủng bố cùng với các trận chiến với sự tham dự của quân chính quy mà đã rất là kéo dài, sôi động và luôn luôn biến đổi.

Thực sự Hà Nội đã đánh thắng Mỹ về ngoại giao và chính trị chứ không phải trên chiến trường hay tại các xã ấp. Mãi cho đến khi Nixon và Kissinger nhục nhã  rút ra và Quốc hội  thì bội phản, đồng minh phía Nam của Mỹ đã giành chiến thắng cả trong cuộc chiến tranh tiêu hao [Phillip Davidson, Việt Nam Thời Chiến – Vietnam At War] và trong cuộc chiến tranh bình định [Mark Moyer, Chương Trình Phượng Hoàng  và Loài Chim MồiPhoenix và Birds of Prey].

Y như cấp trên của mình, Westmoreland cũng hoàn toàn không có ý niệm gì về chiến lược của kẻ thù.

Westmoreland và Abrams đã phải đánh một trận chiến do đối phương và cấp chỉ huy dân sự của họ xếp đặt trước rồi. Westmoreland đã không muốn chỉ theo đuổi một cuộc chiến tranh tiêu hao. [Sorley  trang 91-92]  Westmoreland đã có những mục tiêu chiến lược quan trọng hơn  như là thực hiện một cuộc hành quân quy mô nhằm cắt đứt, ngăn chặn và chiếm giữ lấy đường mòn Hồ Chí Minh tại “quai chảo” Hạ Lào. Hà Nội đã thừa nhận điều này sẽ đã là món đòn chí tử cho “cuộc cách mạng”. Nhưng Bộ trưởng Quốc phòng McNamara và đám thanh niên tuyệt chúng của ông ta đã loại bỏ chiến thuật  này vào năm 1966. (McMaster, Xao ng  nhiệm vụDereliction of Duty).

Trong những thời điểm và không gian khác nhau thì cả hỏa lực vượt bực (1965, 1968, 1972, 1975) cùng việc bình định đều quan trọng. Sau các thất bại của Tết Mậu Thân 1968, ngày 5 tháng 5 năm 1968 ủy viên Bộ Chính trị là Trường Chinh đã trình bày kế hoạch cho một chiến lược mới để  trở về lại một cuộc chiến tranh kéo dài với du kích chiến và đặt nỗ lực lớn hơn trong việc đấu tranh chính trị. [2] Giáp thì không còn tin tưởng là “du kích chiến”  sẽ có thể giành được chiến thắng và cũng có kế hoạch dành chiến thắng chỉ với du kích chiến. Việc hàm ý là VC / Bắc Việt có thể đã chiến thắng bằng cách rút quân để lẫn tránh sau những trận đánh lớn quả thật là vô lý.

Bọn địch tại Hà Nội đã thấy được nhiều con đường để dẫn tới chiến thắng (quân sự, chính trị và ngoại giao), thấy được nhiều giai đoạn của chiến tranh (du kích, lực lượng chính và chính trị), thấy được là nhiều chiến tranh sẽ đã phải xẩy ra trên khắp Đông Dương. Địch đã gần như luôn luôn quyết định mọi việc.  Chúng đã quyết định hành quân hay không hành quân đúng vào những thời gian và địa điểm do chúng lựa chọn. Chúng đã “đứng lại và chiến đấu” tại Đồng Xoài năm ’65, tại Thạch Trụ năm ’66, tại Đắc-tô trong năm ’67. Rồi Huế và Khe Sanh, cũng như nhiều nơi khác trong Tết ’68.

Cuộc chiến đã lên đến cực đỉnh điểm với một chiến thắng thuộc loại chiến tranh thông thường, chính với hỏa lực vượt trội mà Sorley đã khẳng định là sai lầm về chiến lược duy nhất của Westmoreland. [trang 101-102, trang 107] Cuối cùng,  giống như Giáp và Trường Chinh đã dự trù, chính hỏa lực áp đảo thông thường đã làm được việc. Chỉ với chính sách “Bình định”  thì sẽ không và không thể nào chống đở được các cuộc tấn công.

Westmoreland đã không hề bỏ qua việc bình định. Ông ta đã làm tất cả những gì có thể được và khi có thể được với cái chương trình ấp chiến lược sai lầm thời  Diệm và ông ta đã chậm trể để thi hành chương trình bình định CORDS  của MACV.

Tướng Abrams đã không chỉ đơn giản là thay đổi để đi theo chiến thuật mà Westmoreland đã từng đã có thể dễ dàng thi hành nếu muốn. Abrams đã tận dụng một số yếu tố mà đã được xem như  chính ngay là các nỗ lực của Westmoreland, chẳng hạn  làm trì trệ công việc tuyển quân của VC cũng như là các khả năng của chúng và tăng cường  cải thiện QLVNCH cùng hiện đại hóa vũ khí  cho họ (không còn loại vũ khí thặng dư phế thải của Thế chiến II ). Nhờ vậy, Abrams mới đã có thể chú ý nhiều hơn tới công việc bình định.

Sau khi tàn sát Việt Cộng và lực lượng quân đội chính quy Bắc Việt  vào Tết Mậu Thân năm 1968, thì ngay cả Westmoreland hay Abrams cũng chỉ đã phải theo đuổi cùng  một chính sách thôi là  – dọn sạch các tàn dư ở cấp thôn làng.

Nếu quả thật Abrams và chế độ Thiệu / Kỳ đã thành công rực rỡ trong việc này thì không có nghĩa là chiến lược trước đó của Westmoreland đã luôn luôn sai lâm về căn bản.

Đúng, Westmoreland quả đã là tay bảo thủ kiểu cổ điển đầy kiêu ngạo như  MacArthur và Patton đã từng xử sự theo kiểu riêng của họ.

Sorley nhấn mạnh tới vấn đề cốt lũy là phải chống nổi loạn và thực hiện bình định mà nay đã trở thành rất nguy-ngập cho tương lai của Iraq, Afghanistan và “Mùa xuân Ả Rập.”

Mọi người chúng ta đều có thể học hỏi được từ nơi các Tướng Westmoreland và Abrams và vậng, luôn cả từ Lew Sorley.

Tôi xin được cảm ơn Bill Laurie, người mà tôi đã dựa rất nhiều theo quan điểm để viết.

Roger Canfield, ATN2, VF-121, NAS Miramar, 1962-1964. Tác giả của  Comrades in Arms: How the Americong Won the War in Vietnam Against the Common Enemy—America.  Also China’s Trojan Horses” Red Chinese Soldiers, Sailors, Students, Scientists and Spies Occupy America’s Homeland.


[1] Tướng Võ Nguyên Giáp, How We Won the War, Philadelphia: RECON
Xuát bản, 1976, trang 28, nguyên được đăng trong Nhân Dân  và Quân Đội Nhân Dân, 31 tháng 6 và 1 tháng 7 năm 1975 và trong “A New Development of the Art of Leading a Revolutionary War, Vietnam Courier, tháng 8 và 9 năm 1975.

[2] Thomas K. Latimer, “Hanoi’s Leaders and Their South Vietnam Policies: 1954-1968.” Luận án Tiến sĩ, Phân khoa Sử, Georgetown University, 1972, Các Lãnh Tụ, trang 336, viện dẫn trong sách của Phillip B. Davidson, Vietnam At War: the History: 1946-1975, New York: Oxford University Press, 1991, trang 543-4, trang 571, trang 573 ghi chú  14.

**********

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: