Roger Canfield’s Americong #45

image002

Comrades in Arms

How the Americong Won the War in Vietnam

Against the Common Enemy— America

Copyright Roger Canfield, Ph.D.

1986-2012

No commercial transaction allowed except that approved by the author, copyright holder.

Obtain a prepublication release of a CD-R in Microsoft Word in ENGLISH at a discounted price of $15 from Roger Canfield Rogercan@pacbell.net at 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 or at http://americong.com.

Completely SEARCHABLE for any name, date, place or event of the War and its protesters.   

Cover: Design Stephen Sherman. Photos: Roger Canfield, March 2008. TOP: War protest Hawaii, February 1966 displayed at War Remnants (Crimes) Museum, Saigon. Bottom: Praetorian Guard

Các đồng chí cùng chiến tuyến

Làm thế nào MỹCộng thắng cuộc chiến Việt Nam

Chống kẻ Thù Chung – Mỹ

Giữ bản quyền Roger Canfield, Tiến Sĩ

1986-2012

Không được sử dụng vào mục đích thương mại nếu không có sự đồng ý của Tác giả, người giữ bản quyền.

Có thể mua một tiền bản dưới dạng CD-R Microsoft Word bằng Anh ngữ với giá đặc biệt US$15 ngay từ tác giả Roger Canfield  Rogercan@pacbell.net tại 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 hay tại  http://americong.com.

 

Hoàn toàn có thể TRA CỨU hoặc bằng tên, bằng ngày tháng hay biến cố liên quan đến cuộc Chiến cùng cả luôn bọn tham dự biểu tình .

******************************************************

* Tác giả giữ bản quyền © Roger Canfield 1986-2012

  • Lê Bá Hùng chuyển ngữ  (với sự chấp thuận của Tác giả)

*********

 Chương 45

Lệnh Truyền của Cộng sản: Giết và Đi Nam,

 

Giết Vì Hòa Bình

Bởi vì cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân đã thất bại, vào ngày 5 tháng 5 năm 1968 Ủy viên Bộ Chính trị Trường Chinh đã đưa ra các kế hoạch cho một chiến lược mới, tức là trở lại một loại chiến tranh kéo dài và du kích chiến cũng như là đặt các nỗ lực lớn hơn vào cuộc đấu tranh chính trị. 2429 Do đó, các lệnh truyền cho cán bộ đã là phải quay về kiều chiến đấu, ám sát và bắt cóc do các đơn vị nhỏ mà thôi.

Tại Nam Việt vào mùa xuân năm 1968, cán bộ Việt Cộng đã được lệnh phải tiêu diệt số cán bộ thôn làng, số kẻ tình nghi và phản động mà đã bị lên danh sách trước, nhằm giúp các làng xã thêm an ninh cho các bộ đội tới thăm từ các tổng hành dinh cao cấp. 2430 Tương tự như vậy, vào ngày 25 tháng 5 năm 1968, “kế hoạch hành động” của Huyện ủy Đại Lộc tỉnh Quảng Đà đã chỉ đạo cho các cán bộ:

… Giải phóng tất cả các thôn, bản, làng … nắm lấy chính quyền, thành lập một chính quyền cách mạng, lật đổ chính quyền của địch tại các làng, ấp, bản và  thôn.

Giết bỏ các tên gián điệp tại thôn làng và các nhân viên hành chính địa phương, loại bỏ các thành phần xấu xa trong nhân dân, và liên tục đánh đuổi các nhân viên hành chính địa phương tại thôn làng và huyện để giải phóng nhân dân khối vòng kềm kẹp và áp lực của chúng.  2431

Cái kiểu địch vận này rối cũng sẽ được thi hành ngay tại Mỹ.

Theo đúng  y bon một kiểu, trong tháng 5 năm 1968, Dự án của SDS với tên gọi là Radical Education Project, REP (Dự án Giáo dục Cấp Tiến) đã xác dịnh mục tiêu trường kỳ  của chúng không phải là phản chiến, không phải là hòa bình, mà là biến đổi và hướng dẫn các định chế và nghề nghiệp tại Mỹ theo chiều hướng tả khuynh và cuối cùng là giúp tả phái chiến thắng tại quôc nội thông qua thất bại của Mỹ ở Đông Dương.

Bọn tài trợ cho REP đều đã là những tên đã nổi tiếng, thuộc thành phần căm thù nước Mỹ trong phong trào phản chiến: Philip Berrigan, Julian Bond, Richard Cloward, Douglas Dowd, Jules Feiffer, WH Ferry, Phillip Foner, Norm Fruchter, John Gerassi, Paul Goodman, David Horowitz, Paul Jacobs, Gabriel Kolko, Andrew Kopkind, William Kunstler, Staughton Lynd, Herbert Marcuse, Charles Moskos, Linus Pauling, Victor Perlo, Marc Pilisuk, Marc Raskin, Sol Stern, Arthur Waskow, William A. Williams và Howard Zinn. 2432

Nghị quyết Số 6 của Trung Ương Cục Miền Nam –  “các phong trào phản chiến tại Hoa Kỳ”

Trong tháng 5 năm 1968, Việt Cộng ở Nam Việt đã rất quan tâm tới phong trào phản chiến tại quốc nội Mỹ. Quan tâm chính xác của Việt cộng đến nền chính trị Mỹ đã là để “tạo điều kiện cho các phong trào hòa bình ở Mỹ làm thay đổi triệt để chính sách VN của Mỹ”, chiếu theo Nghị quyết Số 6 của Trung Ương Cục Miền Nam trong tháng 5 năm 1968. 2433

Vào tháng 6, quân Bắc Việt và số tàn dư Việt cộng còn sống sót đã quay về vùng an toàn trong lãnh thổ của các ông vua X, ở bên kia biên giới Cam-pu-chia, vì như Nguyễn Tương Lai, một lãnh đạo du kích Việt Cộng, đã cho biết, “Chúng tôi đã biết có một phong trào phản chiến lớn ở Mỹ mà sẽ không cho phép quân đội Mỹ vượt qua biên giới. ” 2434

CIA Đánh Giá Chiến Lược Việt Cộng Trong Các Cuộc Hoà Đàm

Ngày 6 tháng 5 năm 1968, một Biên bản tình báo để lưu trử của CIA đã đánh giá chiến lược của Hà Nội trong các cuộc đàm phán sắp tới. “Hà Nội quan tâm nhiều đến chiến thắng hơn là để giải quyết.” Hà Nội tự xem như là “những nhà cách mạng đang mở một mặt trận thứ hai (của cuộc đấu tranh cách mạng)”, …. nhưng vẫn có ý định tăng cường áp lực quân sự để tác động về tâm lý. CIA đã có dự đoán, “việc phối hợp chặt chẽ (các hành động) … tại bàn đàm phán và … trên chiến trường.” Họ đã dự đoán “một cuộc hoà đàm cùng với chiến tranh song song sẽ mãi kéo dài … có lẽ qua tới sau bầu cử.”

Trong thực tế, với các thất bại tại chiến trường của bọn Cộng sản, việc cần phải phối hợp giữa đấu tranh ngoại giao và đấu tranh chính trị đã trở thành trung tâm điểm của cuộc chiến đấu.

CIA: Hà-nội tin vào . . . lòng yêu chuộng hoà bình . . . rất công hiệu về chính trị”

Một thành phần cốt yếu trong chiến lược của Hà-nội đã là phong trào phản chiến.

CIA đã phát biểu, ít ra thì cũng được một lần đúng đáng, “Các nhà lãnh đạo Hà Nội … tin rằng lòng mong muốn lan rộng về hòa bình và về việc chống chiến tranh Việt Nam … sẽ đặt áp lực chính trị tại Washington …” Thật vậy, “các nhà lãnh đạo Bắc Việt có lẻ tin rằng Hoa Kỳ đã bị buộc ‘phải hạn chế các vụ dội bom và phải dự các cuộc đàm phán bởi vì các áp lực chính trị trong nước.”  Và “Hà Nội tin tưởng là lòng chuộng hòa bình ở Mỹ rất là phổ biến rộng rãi và rất có công hiệu về chính trị. ” Xem ra, có vẻ như là “ở một mức tối thiểu nào đó, các cuộc đàm phán sẽ tạo những cơ hội cho cuộc chiến tranh về chính trị. ” 2435

Giống như khi kiểm giờ với một chiếc đồng hồ đã chết, kỳ này quả đúng CIA đã đúng y bon.

Hồ Nam: tên đại sứ mật biệt phái tới cho phong trào phản chiến

Năm 1968, Hồ Nam (tên thật Hoàng Gia Huy), một điệp viên thuộc Cục A13 của Tổng cục Tình Báo Nước Ngoài trực thuộc Bộ Công an được giao nhiệm vụ qua Ba-lê phục vụ tại phái bộ Bắc Việt.

Hồ Nam đã được giao nhiệm vụ tuyển dụng người Mỹ làm điệp viên hay để cung cấp các địa chỉ liên lạc an toàn . Trần Quốc Hoàn, Bộ trưởng Bộ Công an (tương đương với KGB) đã ra lệnh cho Hồ Nam, “Đồng chí phải làm mọi cách để làm sao mà tuyển cho được những tên trong hàng ngũ của bọn Mỹ mà đã có ý thức cách mạng và trong bọn Mỹ phản chiến.”

Một phần nhiệm vụ của y đã là điều khiển hoạt động tuyên truyền bí mật thông qua “các mối quan hệ bạn bè” với những liên lạc Mỹ.  Hồ Nam cho biết, “tôi đã có khã năng lựa chọn và tuyển dụng thành lập một mạng lưới làm việc rất tích cực và . . . giúp làm giảm số thương vong của chúng tôi và để dành chiến thắng.” 2436  Jane Fonda đã là một trong các mối tiếp xúc của y.

Cũng hoạt động ở Ba-lê như một phần của hoạt động tình báo thuộc Hà Nội với những người Mỹ phản chiến, đã có các tên lưu vong như Nguyễn Ngọc Giao và Huỳnh Trung Đồng và tên đại diện MTGPMN là Phan Thành Nam. Mặt trận của Hà Nội tại Mỹ gồm có Nguyễn Thị Ngọc Thoa ở Washington, DC, Nguyễn Văn Lũy ở San Francisco và sau đó là  Đinh Bá Thi ở New York tại Liên Hiệp Quốc. 2437

Vào ngày 10 tháng 5 năm 1968, Hà Nội đã đến bàn hội nghị tại Ba-lê và tham dự  trong 5 năm cho đến khi, như John Negroponte đã nói, Mỹ đã dội bom buộc Bắc Việt phải chấp nhận những nhượng bộ của Mỹ.

Những chuyến ‘tham quan’ Hà-nội: Mary McCarthy, Greenblatt, Sontag, Kopkind – Tháng 4 và 5 Năm 1968

Mary McCarthy Bị Chinh Phục

Vào đầu tháng 4 năm 1968, y thị  tiểu thuyết gia người Mỹ tại Ba-lê  và cũng một kẻ được xem như là trí thức,  Mary McCarthy đã đi ‘tham quan’ Hà Nội với tư cách khách mời của một Ủy ban Hòa bình. Vụ Chiến tranh Việt Nam, “một vụ thảm sát vô nghĩa và rối răm”, đã từng làm y thị xấu hổ với tư cách là một công dân Mỹ và y thị đã tự chọn trước cho mình được câu trả lời là “cút về đi”.

Được xếp đặt ngủ lại khách sạn Metropole, y thị đã rất cảm kích là mọi người tại đó đều biết rỏ tin bên nhà  – Bầu cử Sơ bộ tại New Hampshire, Bầu cử Quốc hội, những đề tài ngôn ngữ học của Chomsky và vụ ám sát Martin Luther King.

Y thị hoàn toàn bị quyến rũ với các chàng trai trẻ vóc dáng thư sinh “coi được, một số thậm chí còn đẹp trai nữa, với mái tóc bóng láng, mắt ngời sáng, da mềm không sẹo – không có nạn mụn trứng cá ở miền Bắc Việt Nam.”  Không hề có có tệ nạn mãi dâm. Không hề có đường phố dơ bẩn. Không hề có trẻ em rách rưới. Chỉ có những tên tù binh Mỹ, mà y thị đã gặp mà đã cứ nói năng y như là người máy, có lẽ là do chúng đã được học tập như vậy.

Tuy dù đi đâu cũng có người giám sát bám sát theo, y thị vẫn tin bọn công an Hà-nội “có nguyên tắc làm việc nhằm phục vụ nhà nước, xã hội trong khi nguyên tắc làm việc của tôi thì có tính cách cá nhân ích kỷ hơn.”  `Ấy vậy, “nổi sợ hãi về … địa phương tự trị mà lãnh đạo Cộng sản cho thấy, không nhất thiết là một mối quan ngại hèn hạ trong ham muốn được tiếp tục nắm quyền lực của họ: đó là một nỗi sợ hãi chính ngay từ bản chất con người … ”

Mary McCarthy, kẻ từng từ bỏ chủ nghĩa cộng sản thời còn trẻ của mình, có vẻ cố tình để mình lại bị lôi cuốn tại Việt Nam. McCarthy đã nhận một số thơ của các tù binh để mang về lại cho gia đình họ. Khi quay lại Paris, Đại sứ Bohlen có hỏi Mary McCarthy về tên của các tù binh đã gởi thư. McCarthy không hề biết bất kỳ tên nào cả vì y thị đã bỏ chúng vô một thùng thư ở Tokyo mất rồi. 2438

Susan Sontag: “Trong Tay Của Bọn Cán bộ Mánh Mung,” Cũng Bị Chinh Phục

Từ ngày 3 đến 17 tháng 5 năm 1968, Robert Greenblatt đã đi Hà-nội gặp Susan Sontag và Andrew Kopkind.  2439  Sontag đã ghi lại các cảm tưởng của y thị  trong một tập nhật ký mà đã được đăng trên Esquire, Trip to Hà Nội Styles of Will Radical.

Khác với nhiều người trước đó, Sontag đã công nhận “bị tiếp đãi ngập mặt với nào là quà tặng, là hoa, là diển thuyết, rồi là trà quý và một biểu lộ săn sóc rất ư là quá lố.” 2440 Ngồi thưởng thức những buổi ăn quá là nhiều món đầy thịt và cá tại khách sạn Metropole, chính Sontag cũng đã thừa nhận rằng “99% người Việt Nam sẽ chỉ có gạo và bã đậu cho bữa ăn tối đêm nay … ” 2441 Kiểu săn sóc tiếp đãi đặc biệt nhằm tâng bốc với một mục đích. Y thị nói, “Chúng tôi đang ở trong tay của các cán bộ có tay nghề cao (Oanh, Hiếu, Phan Toàn) chuyên đặc trách về các mối quan hệ với người nước ngoài.” 2442

Y thị và những tên khác đã bị “biến thành một em bé: phải làm gì, được dẫn đi đâu, được giải thích cách nào, bị rày la, rồi lại nuông chiều, luôn luôn được giám sát một cách tử tế…” và “Tôi không thể nào là một em bé, ấy vậy màn kịch của chuyến thăm viếng này đòi hỏi tôi phải đóng vai đó”. 2443

Y thị, “một chuyên viên về ký tên chống đối mà cũng là một chuyên viên biểu tình phản chiến,”  2444 đã lại có thú nhận, “các chuyến đi đến Hà Nội đã là một loại phần thưởng hay bảo trợ … một phần thưởng được ban phát mà chúng tôi không ai hề yêu cầu cả.” 2445 Herbert Mitgang thì có viết lại là Sontag đã “ở Hà Nội trong vài tuần vào mùa xuân như là một kiểu Bắc Việt ban thưởng cho những hành vi mà đã được xem như là một thái độ phản chiến thích hợp nhằm để chống Mỹ.”

Khi tiếp kiến Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong vòng một giờ vào chiều ngày 16 tháng 5 năm 1968, Sontag nhận thấy được là y rất ấm áp và chân thành. Y nói bằng một giọng nói “với âm thanh lôi cuốn và thân mật” về sự  khổ đau của nhân dân Việt Nam và “ca ngợi đạo đức của người dân nước mình với những giọt nước mắt trong ánh mắt …” 2446 Sontag đã khám phá ra được biết bao nhiêu là tình yêu từ bọn Việt-cộng .

Sontag đã nhận xét​​: “… Bất cứ điều gì thực sự nghiêm túc mà tôi nhận được từ  chuyến đi của tôi đều đã đem tôi về lại lúc đầu: các tình huống khó xử của việc … là một người Mỹ cấp tiến không thuộc bất kỳ phong trào nào …. Những người Mỹ cấp tiến đã được lợi từ lập trường dứt khoát về đạo đức [như vụ Việt Nam] để dựa theo đó mà huy động sự bất mãn và phơi bày ra các mâu thuẫn ngụy trang trong cái chế độ đó.” Y thị đã nói: “Việt Nam đã  cung cấp được chiếc chìa khóa để chỉ trích một cách có hệ thống chính phủ Hoa Kỳ.” 2447

Mặc dù y thị có nhận ra được tính cách xếp đặt và đạo diển của hầu hết các chuyền đi ‘tham quan’ của mình, y thị vẫn đã bị chinh phục. Y thị đã bị cảm xúc mạnh khi đến thăm mộ của một phi công F 101 mà đã được sữa sang và trang hoàng  bằng những mảnh của chiếc phi cơ cùng với bông hoa và một cây thập tự gỗ. 2448 (Hàng ngàn phi công vẫn bị liệt kê như là vẫn còn mất tích ngay nhiều thập niên sau chiến tranh). Tuy Sontag nhận thấy là lịch sử Việt Nam rất “monothematic’ và không được khách quan, y thị vẫn ngạc nhiên khi thấy bọn Việt-cộng  lưu tâm đến lịch sử nước Mỹ, trong số đó có cả tên Phạm Văn Đồng. 2449

Khi thấy các bệnh viện và trường học quá thiếu thốn mọi phương tiện thì Sontag đã tự hỏi “cái viện trợ của Liên xô và Trung cộng từng được đề cao biết là bao nhiêu lâu nay” thì bây giờ ở đâu? 2450  Miền Bắc thì đang xâm lăng miền Nam Việt Nam.”

Mặc dù là một tư tưởng gia rất đa nghi về các kỹ thuật tâng bốc và tuyên truyền, Susan Sontag vẫn đã cắn câu của Hà Nội, cắn câu nuốt luôn toàn bộ dây cước cùng hòn chì về đề tài cuộc chiến tranh Việt Nam, ví dụ như việc vu cáo Mỹ đã hủy diệt “tất cả các trường học và bệnh viện … chùa chiền cùng các nhà thờ Công Giáo …” và việc xây dựng tới 21 triệu hầm tránh bom. 2451

Khác với đa số từng tới Bắc-việt, Sontag có nhận ra rằng Bắc Việt đã không “là một khuôn mẫu của một quốc gia chính đáng. Ta chỉ cần nhớ lại những tội ác khét tiếng nhất mà chính phủ này đã phạm phải … đàn áp …. hành quyết, … tập thể hóa cưởng chế nền nông nghiệp “. 2452 Tuy nhiên, Sontag đã kết luận  “’Chiến thắng cho Việt Nam” mới chính là khẩu hiệu duy nhất khả tin được …. Các hậu quả mà cuối cùng đã đưa đến sự thất bại của cuộc xâm lược của Mỹ … sẽ đa số (bao gồm) trong các cải thiện không được kể đến so với tình hình hiện nay. ”  2453

Sontag đã viết, “Khi gần tới ngày chấm dứt chuyến lưu trú của tôi”, y thị đã cố vấn cho các cán bộ chính phủ Hà Nội là cái lối tuyên truyền “khoa trương chói tai re ré” chỉ có kết quả ngược lại cho cuộc cách mạng của chúng mà thôi.  2454

Greenblatt – “Những Huy Hiệu Đỏ và Vàng”

Robert Greenblatt thì lo phân phối những cái nút gắn phản chiến cho bọn Việt cộng và đám Mỹ thì đã nhận lại được “những huy hiệu đỏ và vàng.” 2455

McCarthy, Sontag và Greenblatt quả nhập bọn với phía bên kia mất rồi.

Naomi Jaffe – SDS

Vào khoảng giữa chuyến ‘tham quan’ của Sontag, Bắc Việt cũng có đón bốn  sinh viên do SDS trả tiền cho đi. 2456 Sở Thông Tin Quốc Tế Hà Nội và tờ Washington Star tường trình là vào ngày 15 tháng 5 năm 1968, Naomi Jaffe, một nữ lãnh tụ của phong trào  chống quân dịch, đã là một trong bốn thành viên SDS không định danh được mà đã đến thăm Hà Nội vào tuần thứ hai của tháng 5 năm 1968. 2457

Chúng đã yết kiến Đỗ Văn Hiền, đã đi các viện bảo tàng về tội phạm chiến tranh  và đã nói chuyện với sinh viên về phong trào phản chiến Mỹ. 2458 Trong tháng 6 năm 1968, Naomi Jaffe (cũng là Naomi Esther Safier, là bà William Irving Safier, Leona) cho biết y thị vừa trở về từ Hà Nội nhân khi phát biểu tại Đại học tiểu bang Michigan.

Jaffe huynh hoang là mình đã “bắn hạ một chiến đấu cơ Mỹ với súng phòng không … đã chứng kiến vụ bắt giữ viên phi công Mỹ. … Jaffe đã đeo một mảnh nhỏ của thân máy bay trên dây chuyền cổ của y thị … mà đã được làm từ phi cơ đó. ”  2459

Một thời gian ngắn trước khi bỏ đi trốn biệt mất trong tháng 2 năm 1970, Jaffe sẽ đi cùng với Bill Ayers lên Gia-nã-đại và trở lại với 2000$ sau khi đi thăm Mặt trận Giải phóng Quebec. 2460

Tù Binh Kasler Từ Chối Tiếp Một Phái Đoàn Phản Chiến

Độ cuối tháng 6 năm 1968, tù binh Jim Kasler đã từ chối tiếp thêm một phái đoàn phản chiến nào khác.

Tên “Fidel” Đã Tra tấn Kasler, Tồi Giết Chết Cobeil

Một tên mà các tù binh đã bí danh là “Fidel” đã điên tiết lên đánh Kasler, trói ông ta lại và đánh phạt cho tới 300 roi. Bị chập chờn trong cơn mê sảng, Kasler đã không đáp ứng được màn thu xếp gặp phái đoàn và do đó, đã không cung cấp  được những lời thú nhận viết xuốnh giấy như được dự định trước.  2461 Kasler đã bị trói lại bằng dây rồi bằng còng sắt và bị tra tấn liên tiếp trong sáu tuần lể, bị không cho ngủ suốt năm ngày, bị đánh đập với một dây cu-roa quạt máy, rồi bị gần như là bỏ đói. Cuối cùng, thì vai ông đã trật khớp, một xương sườn bị gãy, chân thì bị nhiễm độc và màn nhĩ tai thì bị bể mất.

Có một lần, ông đã được cho nhìn những hình ảnh về những người biểu tình phản chiến. “Tôi nhìn thấy ở tận cùng có hai ông già đang mỉm cười và đầu hãnh diện đội mủ American Legion …. Họ dương cao một biểu ngữ  .. “Thả bom đi.” Khi thấy vậy, Kasler đã không còn sợ. 2462 Trung tá Earl Cobeil thì không được may mắn như vậy. Một cách rất man rợ, tên ‘Fidel’ đã từ từ, chậm rãi  tra tấn để rồi giết chết Cobeil.

Vào tháng 8 năm 1968, tên “Fidel” đã trở về lại Cuba mà không thực hiện đưọc gì. Tù binh Mike Benge đã xác quyết tên “Fidel” chính là Thiếu tá Fernando Vecino Alegret. 2463

Các tù binh đã không đơn độc trong việc cố gắng cùng giúp nhau tăng cường ý chí và lòng can đảm trong cơn bi đát.

Khi Được Thăm Dò Thì  Các Cựu Chiến Binh Đều Thoải  Mái Với Các Kinh Nghiệm Thời  Chiến Tranh

Trong tháng 6 năm 1968, một cuộc thăm dò của Gallup với các cựu chiến binh Việt Nam đã cho thấy là 94% hài lòng với kinh nghiệm học hỏi được tại Việt Nam. Trải nghiệm này đã đem lại cho họ lòng tự tin, khã năng lãnh đạo, lòng yêu nước, niềm khát vọng và một sự đánh giá cao cuộc sống.  2464

CIA Cố Gắng Gia Tăng Theo Dõi Các Liên Hệ Với Ngoại Quốc

Ngày 25 tháng 6 năm 1968, Thomas Karamessines của CIA đã gởi công điện cho các nhiệm sở CIA ở châu Âu để yêu cầu họ gia tăng theo dõi bọn hoạt động Mỹ khi liên hệ với ngoại quốc. “Mục tiêu là để khám phá mức độ mà Liên Xô, Trung-cộng, Cuba và các nước cộng sản khác đang khai thác các vấn đề quốc nội của chúng ta trong mục đích chống chính phủ hay để làm gián điệp.”

“Phải quan tâm đặc biệt về những bằng chứng trong việc ngoại quốc chỉ đạo, kiểm soát, huấn luyện hay tài trợ.” 2465

Ngoài việc cái đám đi ‘tham quan’ Hà Nội, có những vấn đề khác khã dỉ khiến CIA lưu tâm. Trong tháng giêng năm 1968, Chi nhánh SDS Đức có gửi một bức thư cho văn phòng quốc gia SDS xin danh sách những thành viên SDS muốn tham dự “một trại quốc tế” ở Cuba để tham gia vào một “chương trình hỗ trợ kỹ thuật cách mạng quốc tế.”  2466

Trong tháng 7 năm 1968, SDS đã gửi một đại diện tới hội nghị Havana của Tổ chức Đoàn kết các Nước châu Mỹ La tinh, một cuộc họp của bọn lãnh đạo cách mạng của các cuộc đấu tranh vũ trang chống lại “chủ nghĩa đế quốc Mỹ Yanqui”. 2467

Miền Nam Việt Nam Bắt Giữ Tàn Dư Việt-cộng sau Tết Mâu-thân

Quay trở lại miền Nam Việt Nam, vào tháng 7 năm 1968, bọn lãnh đạo Cộng sản đành lặng câm nhìn Chính phủ Nam Việt Nam quét sạch tàn dư VC còn sót lại sau vụ thất bại Tết Mậu Thân. Bọn Cộng sản bèn tăng cường kêu gọi thủ tiêu các viên chức địa phương và các lực lượng phòng thủ địa phương – các cán bộ Phát Triển Nông Thôn (Revolutionary Development Cadre) và các Lực lượng Nhân Dân Tự Vệ. Rất nhiều trong số này đã bị chúng thủ tiêu.

Một năm sau đó, Nghị quyết  số 9 của Trung Ương Cục Miền Nam trong tháng 7 năm 1969 sẽ ghi nhận là Chính phủ  Nam Việt đã chiếm được lòng thương yêu  và tin tưởng của người nông dân Việt Nam:

Địch đã liên tục sử dụng các biện pháp kinh tế, chiến tranh tâm lý, văn hóa suy đồi, v. v. . . , để ảnh hưởng và chi phối mọi khía cạnh chính trị, kinh tế và văn hóa tại nông thôn. Vì vậy, vấn đề quan trọng bây giờ trong vùng giải phóng là chúng ta phải động viên và đoàn kết khối nông dân.  2468

MACV đã giải thích Nghị quyết số 9 như là một sự “trở về với chiến tranh du kích trường kỳ … như là phương tiện hiệu quả nhất để tiêu hao”  QLVNCH và  2469  “tăng cường các đòi hỏi của công luận Mỹ buộc chính phủ phải rút quân”. Rất rõ ràng cuộc đấu tranh vũ trang ở Việt Nam đã liên quan mật thiết đến cuộc đấu tranh chính trị tại quốc nội Mỹ.

Sau những trận thất bại của các lực lượng chính quy vào năm 1968, Việt-cộng đã ngày càng phụ thuộc vào cố gắng đạt cho được những thành công ở phía sau phòng tuyến đối phương tại mặt trận thứ hai, nơi chúng đã có sẵn sàng các gián điệp của mình . Trong bọn này, Tom Hayden đã là tên đáng tin cậy nhất.

*****

2429  Thomas K. Latimer, “Hanoi’s Leaders and Their South Vietnam Policies: 1954-1968.” Luận án Tiến sĩ, Môn Sử, Đại học Georgetown University, 1972, Các Lãnh Tụ, trang 336, nêu ra trong sách của Phillip B. Davidson, Vietnam At War: the History: 1946-1975, New York: Oxford University Press, 1991, trang 543-4, 571, 573 ghi chú 14.

2430   Hồ sơ số 05-1385-68 (Mật), tóm lược trong bản tin MAJ2 Bulletin Số 12, trang 150, 7 tháng 5 năm 1968 (nhấn mạnh được thêm). Tóm lược của chỉ thị về một kế hoặch sẽ phải được thi hành bởi một Đội An ninh Làng không được xác định trong thời gian từ 15 tháng 4 tới 30 tháng 6 năm 1968. Bị tịch thu bởi 7/1 Cavalry Squadron, II FFV, vào ngày 24 tháng 4 năm 1968, được nêu ra trong tài liệu của Lê Thành Nam, “Viet-Cong Repression: Control and Polarization of the Populace” có thể đọc tại  http://25thaviation.org/history/id926.htm

 

2431   Tài liệu số 10-1004-68 (Mật), ngày 10 tháng 11 năm 1968 (nhấn mạnh được thêm). Dịch từ một “Nghị quyết” (kế hoặch hành động) soạn thảo trong Hội nghị Ủy ban Đảng quận Đại Lộc, tỉnh Quảng Đà diển ra từ 24 tới 28 tháng 5 năm 1968. Nghị quyết được ghi ngày 25 tháng 5 năm 1968 và được xếp vào loại Mật. Bị tịch thu bởi Sư đoàn 1st USMC Division vào ngày 14 tháng 9 năm 1968 và do Lê Thành Nam nêu ra trong  “Viet-Cong Repression: Control and Polarization of the Populace” mà có thể sưu tra tại  http://25thaviation.org/history/id926.htm

 

2432   Tài liệu in có tên REP ở đầu trang, tháng 7 năm 1967; văn thư REP tháng 4 năm1968 nêu ra trong Combat [National Review], Sec. 1-ORG, 15 tháng 5 năm 1968.

2433   Tướng William Westmoreland, trong Gettleman, 1985, trang 354.

2434   Nguyễn Tương Lai, “Soldier of the Revolution,” Al Santoli, To Bear Any Burden, trang 146.

2435   CIA, “Hanoi’s Negotiating position and Concept of Negotiations,” Mật, Phúc trình Tình báo số 0587/68, Hồ sơ số DS-2004-00003, 6 tháng 5 năm 1968

2436   Phỏng vấn Hồ Nam trong Thanh Niên, tờ báo chính thức của Thành đoàn Thanh Niên TP Hồ chí minh của đảng Cộng sản Việt, 2005; Hồ Nam, “The Late Minister Tran Quoc Hoan and His Relationship with an Intelligence Warrior;” 2004; Cả hai chi tiết này đều do Merle L. Pribbenow nêu ra trong “Jane Fonda and Her Friendly Vietnamese Intelligence officer,” Washington Decoded, 10 tháng 8 năm 2011.

2437   Yung Krall, A Thousand Tears Falling.

2438   Mary McCarthy, The Seventeenth Degree:  How It Went, Vietnam, Hanoi, Medina, Sons of the Morning, New York: Harcourt Brace, 1967, 1968, 1972, 1973, 1974, trang 39.

2439  Susan Sontag, “Trip to Hanoi,” tạp chí Esquire, Tháng Chạp 1968, trang 131-141 đăng lại trong tài liệu của Susan Sontag, Styles of Radical Will, New York: Farrar, Straus and Giroux, 1969, trang 205-274.

2440  Susan Sontag, Styles of Radical Will, New York: Farrar, Straus and Giroux, 1969, trang 207, 237   .

2441   Susan Sontag, Styles of Radical Will, New York: Farrar, Straus and Giroux, 1969, trang 228-9.

2442   Susan Sontag, Styles of Radical Will, New York: Farrar, Straus and Giroux, 1969, trang 226.

2443   Susan Sontag, Trip to Hanoi, New York: Farrar, Straus and Giroux, 1968, trang 12, 21, 26,  33 viện dẫn trong bài của Paul Hollander, Political Pilgrims, trang 368, 371, 375-6.

2444   Susan Sontag, Styles of Radical Will, New York: Farrar, Straus and Giroux, 1969, trang 203.

2445   Susan Sontag, Styles of Radical Will, New York: Farrar, Straus and Giroux, 1969, trang 214. Susan Sontag, “Trip to Hanoi,” Esquire, Tháng Chạp năm 1968.

2446   Susan Sontag, Styles of Radical Will, New York: Farrar, Straus and Giroux, 1969, trang 238, 262.

2447   Susan Sontag, Styles of Radical Will, New York: Farrar, Straus and Giroux, 1969, trang 271.

2448   Susan Sontag, Styles of Radical Will, New York: Farrar, Straus and Giroux, 1969, trang 239-40.

2449   Susan Sontag, Styles of Radical Will, New York: Farrar, Straus and Giroux, 1969, trang 219-20, 266; Phỏngvấn With Susan Sontag, bởi Geoffrey Movius tại      http://bostonreview.net/BR01.1/sontag.html

2450   Susan Sontag, Styles of Radical Will, New York: Farrar, Straus and Giroux, 1969, trang 253.

2451   Susan Sontag, Styles of Radical Will, New York: Farrar, Straus and Giroux, 1969, trang 208.

2452   Susan Sontag, Styles of Radical Will, New York: Farrar, Straus and Giroux, 1969, trang 259.

2453   Susan Sontag, Styles of Radical Will, New York: Farrar, Straus and Giroux, 1969, trang 269-70.

2454   Susan Sontag, Styles of Radical Will, New York: Farrar, Straus and Giroux, 1969, trang 262.

2455   Susan Sontag, Styles of Radical Will, New York: Farrar, Straus and Giroux, 1969, trang 215.

2456   Susan Sontag, Styles of Radical Will, New York: Farrar, Straus and Giroux, 1969, trang 207.

2457  Tạp chí Esquire, Số Tháng Chạp 1968, trang 131 được nêu ra tại Hạ viện, Ủy ban Committee on Internal Security, Investigation of Students for a Democratic Society, Phần  7-A,   9 tới 11 và 16 tháng chạp năm 1969, Phụ đính A, Tang vật số  2 của Ủy ban ,  trang 2319.

2458  Thượng viện, Ủy ban Committee on the Judiciary, Subcommittee to Investigate the Administration of the Internal Security Act and Other Internal Security Laws, The Weather Underground, Tài liệu in của Ủy ban, Tháng Giêng năm 1975, trang 75.

2459   FBI, FOIA, Điệp viên Cao Cấp Đương Nhiệm (SAC), Chicago, Phúc trình gởi Giám đốc FBI, Đề mục: Foreign Travel and Contacts with Representatives of Foreign Governments which Influenced the WHO, in Weather Underground Summary, 20 tháng 8 năm 1976, trang 208; Rothrock, Divided We Fall, trang 178.     

2460   FBI, FOIA, Weather Underground. Nguồn tin chính là do phúc trình Đương Nhiệm SAC Chicago gởi Giám đốc, “Foreign Influence-Weather Underground Organization,” 20 tháng 8 năm 1976, trang 190; Larry Grathwohl làm chứng trước tiểu ban Subcommittee to Investigate the Administration of the Internal Security Act and Other Internal Security Laws of the Committee on the Judiciary, Thượng viện Mỹ, Terrorist Activity Inside the Weatherman Movement, Nhiệm kỳ thứ 93 của Quốc hội, Khóa 2, Phần 2, 18 tháng 10 năm 1974, trang 106.

2461   John G. Hubbell, P.O.W.: A Definitive History of the American Prisoner-of War Experience in Vietnam, 1964-1973, New York: Readers Digest Press, 1976, trang 440, 444 viện dẫn trong bài của Craig Howes, Voices of the Vietnam POWs, New York: Oxford University Press, 1993, trang 103 ghi chú 106.

2462   Hạ viện, Điều tra về Hearings on Restraints on Travel to Hostile Areas: Hearings before the Committee on Internal Security, Quốc hội Nhiệm kỳ thứ 93, Khóa 1, 1973, trang 32-33 viện dẫn trong bài của Rothrock Divided… trang 195-6, ghi chú 14.

2463   Mike Benge với R.J. Del Vecchio, 28 tháng 10 năm 2008; Humberto Fontova, “The Left Tries to Find John McCain’s Bill Ayers,” American Thinker, 27 tháng 10 năm 2008.

2464   Lewis Sorley, A Better War: The Unexamined Victories and Final Tragedy of America’s Last Years in Vietnam, New York: Harcourt, 1999, trang 302.

2465   Công điện CIA bởi Thomas Karamessines gởi tới nhiều nhiệm sở, Tháng 7 năm 1968, trang 1 nêu ra bởi Ủy ban Church Commission, “Introduction,” Bộ  III, Phúc Trình Cuối, trang 694.

2466   Dân biểu Larry McDonald Cong. Record , 27 tháng 4 năm 1976, trang E 2119.

2467   “The Weather Underground Organization,” Information Digest, Bộ XIV,  Số 22,  13 tháng 11 năm 1981, trang 337.

2468   “COSVN Resolution No. 9,” Tháng 7 năm 1969 (US Military History Institute), trang 46, viện dẫn bởi Mark Moyar trong “VILLAGER ATTITUDES DURING THE FINAL DECADE OF THE VIETNAM WAR, 1996 Vietnam Symposium, “After the Cold War: Reassessing Vietnam,”18-20 tháng 4 năm 1996, http://www.vietnam.ttu.edu/vietnamcenter/events/1996_Symposium/96papers/moyar.htm

2469   Lewis Sorley, A Better War: The Unexamined Victories and Final Tragedy of America’s Last Years in Vietnam, New York: Harcourt, 1999, trang 156.

*****

Một phản hồi to “Roger Canfield’s Americong #45”

Trackbacks/Pingbacks

  1. Giới thiệu tác phẩm AMERICONG (MỸ-CỘNG) – Lê Bá Hùng | Ngoclinhvugia's Blog - 05/01/2016

    […] Roger Canfield’s Americong #45 […]

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: