Roger Canfield’s Americong #25

Comrades in Arms

How the Americong Won the War in Vietnam

Against the Common Enemy— America

Copyright Roger Canfield, Ph.D.

1986-2012

No commercial transaction allowed except that approved by the author, copyright holder.

Obtain a prepublication release of a CD-R in Microsoft Word in ENGLISH at a discounted price of $15 from Roger Canfield Rogercan@pacbell.net at 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 or at http://americong.com.

Completely SEARCHABLE for any name, date, place or event of the War and its protesters.   

 Cover: Design Stephen Sherman. Photos: Roger Canfield, March 2008. TOP: War protest Hawaii, February 1966 displayed at War Remnants (Crimes) Museum, Saigon. Bottom: Praetorian Guard

 Các đồng chí cùng chiến tuyến

Làm thế nào MỹCộng thắng cuộc chiến Việt Nam

Chống kẻ Thù Chung – Mỹ

Giữ bản quyền Roger Canfield, Tiến Sĩ

1986-2012

Không được sử dụng vào mục đích thương mại nếu không có sự đồng ý của Tác giả, người giữ bản quyền.

Có thể mua một tiền bản dưới dạng CD-R Microsoft Word bằng Anh ngữ với giá đặc biệt US$15 ngay từ tác giả Roger Canfield  Rogercan@pacbell.net tại 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 hay tại  http://americong.com.

 Hoàn toàn có thể TRA CỨU hoặc bằng tên, bằng ngày tháng hay biến cố liên quan đến cuộc Chiến cùng cả luôn bọn tham dự biểu tình .

 ******************************************************

* Tác giả giữ bản quyền © Roger Canfield 1986-2012

  • Lê Bá Hùng chuyển ngữ  (với sự chấp thuận của Tác giả)

 ***************

Chương 25

Chứng Tỏ Tình Đoàn Kết: BRATISLAVA, ZECHOSLOVAKIA,

6 tới 12 Tháng 9 Năm 1967

 Biểu Dương và Trắc Nghiệm về Tình Đoàn Kết

 Để đánh giá tình hình thực tế về tù binh, trái ngược với kiểu báo cáo của WSP, điều đáng cho chúng ta nên lưu ý là vào Thu năm 1967 tên Alfred Hassler thuộc  Fellowship of Reconciliation, FOR đã không còn cung cấp các vật liệu y tế cho Bắc Việt. Chuyện gì đã xẩy ra? Hassler nói là Việt cộng đã “bị khó khăn nhiều khi phải giải quyết hàng tá đơn dầy cợm . . .  xin đi Hà Nội.”  Hà Nội giải quyết thuận lợi cho số người mà  lập trường được Hà Nội xem như có tính cách “đoàn kết tuyệt đối”.” 1839

 Hassler thuộc FOR trong hai thập niên trước thì đã loại trừ bọn cộng sản ra vì xem chúng như không đáng tin cậy – một đám điệp viên trung thành của Liên Xô – và đã tranh đấu để tránh việc SANE bị CPUSA tiếp thu. Các nhà lãnh đạo của FOR đã khẳng định rằng những thành viên của CPUSA Mỹ đã trung thành với Liên Xô hơn là cho hòa bình. 1840 Mãi vài năm sau thì FOR mới thể hiện “tình đoàn kết” với Bắc Việt, nên trong khi chờ đợi, FOR đã phải giải quyết bằng cách tạm thời đi Sài Gòn thay vì đi Hà Nội.

 Dù sao thì “Tình Đoàn kết” với Liên Xô và cuộc chiến Việt Nam vẫn tiếp tục phát triển trên nhiều mặt trận khác. Đoàn kết có nghĩa gì?

 Chiến lược về chiến tranh của Liên Xô và Việt Nam liên hệ tới các ủy ban đoàn kết. Stanislav Levchenko, tay KGB đào ngũ đã mô tả một ủy ban như sau:

Nhiệm vụ chính của Ủy ban Đoàn kết Á-Phi là phát động các chiến dịch chống Mỹ (gọi là chiến dịch chống chủ nghĩa đế quốc), mà có nhiều lần chính tôi đã soạn thảo kế hoạch ….

Tôi rất thường chính mắt thấy các chữ ký cá nhân của …  Chủ Tịch Brezhnev hay lý thuyết gia Suslov trên các chỉ thị bí mật của ủy ban …  1841

Các hội nghi đoàn kết  Á-Phi với sự tham dự của các nhóm ngoại quốc đều là hoàn toàn do Liên Xô đạo diển và chúng đã kiểm duyệt nhiếu ngày trước đó các bài diển văn sẽ được đọc. Nếu có bất cứ điều gì trong những bài này mà chúng hay tụi điệp viên tuyên truyền của chúng hay bọn liên hệ không thích thì  … chúng cố gắng xóa  bỏ những phần này. Nếu không được thì chúng sẽ sắp xếp cho các thành viên của các tổ chức mà đang ở dưới sự kiểm soát chặt chẽ hơn của chúng phải đứng ra bác bỏ những tuyên bố này .  1842

Chẳng hạn khi đoàn kết với Bắc Việt thì có nghĩa là phải ủng hộ việc Liên Xô xâm lăng Tiệp Khắc vào tháng 8 năm 1968, cũng như là việc Liên Xô xâm lăng Hungary vào năm 1956, chỉ vì lợi ích của “tình đoàn kết quốc tế giữa … các nước xã hội chủ nghĩa mà đứng đầu là Liên Xô. ”  1843

 Chính loại đoàn kết này đã là bối cảnh trong tháng 9 năm 1967 khi Tom Hayden  đạo diển màn “đoàn kết” lịch sử của riêng y tại hội nghị ở Bratislava, Tiệp Khắc với sự tham dự của 35 cán bộ hàng đầu của Việt cộng và 41 tên cấp tiến Mỹ. “Tôi là Việt Cộng”, Tom Hayden đã hân hoan công bố một cách hung ác tại Hội nghị Tiệp Khắc tháng 9 Năm 1967. 1844 Hayden và Dellinger cùng kiểm soát số  tham dự viên và cả chương trình nghị sự với sự hỗ trợ của Bắc Việt và bọn Tiệp. Hayden đã chứng minh được tinh thần “đoàn kết” bất suy suyển của y đối với bọn Việt Cộng mà đã đang tự xưng là độc lập với Bắc Việt. 1845

 Chắc chắn là các tuyên bố và ý định công khai như vậy về lập trường và ý định  chính trị đã phải là một yếu tố cần lưu ý tới trong việc phân tích tình báo, nhưng chúng ta vẫn đã thua thiệt vì thiếu sót về điểm này – các lời tuyên bố của trùm khủng bố Osama bin Laden   phần lớn đã không được nghiên cứu mãi cho đến ngày 11 tháng 9 năm 2001.

Sau chuyến đi Hà Nội vào tháng 5 của Dellinger thì y, Hayden và bọn Việt cộng  đã chọn Bratislava làm địa điểm cho hội nghị để tránh Bộ Ngoại giao và tờ New York Times, 1846 mà theo dự kiến ​​sẽ có mặt đông đảo tại Prague. Todd Gitlen đã nói rằng đó là “một cuộc gặp gỡ quan trọng với các phái đoàn cấp cao Bắc Việt và  Mặt trận Giải phóng Quốc gia”. 1847

Tiệp Khắc đã là một điểm nóng cho các mặt trận quốc tế Cộng sản vào năm 1967: The International Union of Students (Liên hiệp Sinh viên Quốc tế), 1848 The International Democratic Federation of Women (Liên đoàn Phụ nữ Dân chủ Quốc tế), The Christian Peace Conference (Hội nghị Hòa bình Thiên Chúa giáo), Mặt trận giải phóng quốc gia Việt Nam; rối một thời gian ngắn sau đó là South Vietnamese People’s Committee for Solidarity with the American People (Ủy ban Nhân dân miền Nam Việt Nam Đoàn kết với Nhân dân Mỹ). Theo nhà báo Stanley Karnow thì các tổ chức này đã biến Prague thành một trong hai “văn phòng chính của mặt trận ở phương Tây”. 1849 Trong năm 1967, Thống chế Liên Xô Marshal Zhakrov ra lệnh của Bộ Chính trị cho bọn Tiệp phải tuyển dụng các gián điệp tuyên truyền cao cấp tại Hoa Kỳ. 1850 Carol McEldowney đã viết trong nhật ký là Ủy ban Hòa bình Tiệp mà từng đã đón tiếp nhóm Hayden đều chỉ gồm toàn là “những nam đảng viên  … tuyệt đối đi theo chủ trương đảng,” .

Cách Hayden viết chương trình nghị sự cho hội nghị đoàn kết Bratislava đã được chính y công nhận là “nhằm tạo ra tình đoàn kết và hiểu biết hổ tương  giữa các nhà cách mạng từ Việt Nam và các ủng hộ viên Mỹ mà đang cố gắng để thay đổi Hoa Kỳ.” 1851

Chương trình nghị sự năm 1967 của y rõ ràng đã thể hiện tình đoàn kết cách mạng giữa Việt Cộng và bọn bạn Mỹ của chúng. Kể từ đó, Hayden đã cố gắng phủ nhận đặc tính cách mạng và thiên Việt cộng thuộc hội nghị đoàn kết của y. Ngày nay y tuyên bố là chỉ có “một tình đoàn kết với sự khổ đau ở phương xa của loài người” 1852 và không phải là một sự “đoàn kết” giữa “cách mạng” Việt Nam và “ủng hộ viên Mỹ của họ.” Tóm lại, Hayden đã chối nhận ngay chính chương trình nghị sự của mình, mặc dù y đã thừa nhận, “Tôi đã có đóng góp trong việc chuẩn bị tài liệu này. Tôi đã là một trong những người từng giúp đỡ để viết chương trình nghị sự và hoàn thành một lịch trình cho hội nghị.” 1853

Hayden sau đó tuyên bố là không biết gì về những ý định của phía Việt cộng tại  hội nghị đoàn kết của y. “Tôi đã không bao giờ chắc chắn được về lịch trình nghị sự của Việt Nam. Họ không nói gì về chiến lược quân sự của họ: Cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân chỉ còn ít hơn sáu tháng nữa là sẽ xẩy ra.” 1854 Trên thực tế thì Hồ Chí Minh, với các hỗ trợ về vật chất cùng sự phê chuẩn của Liên Xô, 1855 đã thực sự quyết định vụ tấn công Tết Mậu Thân chỉ một tháng sau khi, nhân dịp hội kiến với y vào đầu xuân năm 1967, David Dellinger có cho Hồ biết về một cuộc họp vào mùa thu tới tại Bratislava .

Nhiều năm sau, Hayden lại mô tả chương trình nghị sự của cuộc họp Bratislava, “một cuộc hội thảo theo phong cách … đối thoại cá nhân.” 1856

Qủa thật là lạ kỳ – gần một trăm người đã phải đi nửa vòng trái đất để tới Tiệp Khắc mà không hề biết họ sẽ làm gì tại một cuộc họp mà đã được chuẩn bị trước trong nhiều tháng. Sự thật là Hayden và Dellinger đã lập kế hoạch tổ chức  hội nghị này ít nhất là từ chuyến đi Hà Nội của Dellinger vào cuối tháng 5. 1857 Hơn nữa, cả Hayden và Dellinger đã cùng đến Tiệp Khắc một tuần trước đó, độ vào ngày 28 tháng 8, để sữa soạn cho cuộc họp.

Thêm nữa, Hayden đã gặp bọn Tiệp mà chắc là các cán bộ đảng Cộng sản, 1858 những tên mà sau đó y chỉ xác định là “công chức … đảng viên … loại nô lệ đi theo tuyên truyền của Liên Xô”. 1859 Tương tự như vậy, Carol McEldowney đã gặp Joseph Cort, một tên Mỹ lưu vong, một tên trốn quân dịch thời chiến tranh Cao-ly, một tên Cộng sản và bạn của Kathy Boudin, kẻ mà đã cùng một  tên “Vladmir” nào đó để thảo luận về phong trào phản chiến và “đường lối của đảng.”

Tại Liên hiệp Quốc tế Sinh viên (International Union of Students ~ IUS – một mặt trận Liên-Xô), cả Trần Văn An và “VOK” đã bàn về “Tuần lễ quốc tế Đoàn kết với Sinh viên Việt Nam”, từ ngày 11 đến 17 tháng 11. Tay Việt cộng này đã hỏi McEldowney về các phản ứng của sinh viên Mỹ đối với Việt Nam và sau đó là về quan hệ với IUS ra sao. Y thị thì không biết gì về những quan hệ như vậy, không biết là mình có quả thật ngây thơ hay không, có bị lợi dụng chăng, có bị chế nhạo hay hữu ích không nhưng đã đồng ý để sẽ thông báo cho các sinh viên Mỹ về các việc mà Việt cộng đang dự trù cho tháng 11.

Norm Fruchter sau này đã nói với McEldowney là IUS đã đang tổ chức các sinh hoạt chống quân dịch. 1860 Tương tự như vậy, Ray Mungo đã kể về việc mình chống quân dịch ở Boston, “Đột nhiên tôi trở thành một thanh niên anh hùng đem mạng sống và tự do bản thân ra chống lại cái chính phủ Johnson độc ác.” Mungo sẽ đã không cảm thấy mình anh hùng sau khi một người phụ nữ Việt Nam đã cho anh ta biết là bà vẫn còn bị có tới 200 mảnh đạn trong cơ thể. 1861

Như Rennie Davis đã nhớ : “Chúng tôi đã trao đổi quan điểm.. nhưng thực sự chỉ là để biện hộ cho Bắc Việt.” 1862 Vì vậy, bọn Việt cộng đã trình bày lập trường của chúng, mà một phần là chiến lược quân sự của chúng  với chuyên đề là  “Hoà đàm, Hoà đàm, chiến đấu, chiến đấu.”

Vài tháng sau, Hayden đã tự cho thấy mình từng nói láo, ngược lại với những lời tuyên bố sau này khi y viết một cách rỏ ràng minh bạch về chương trình nghị sự và chiến lược  của Việt cộng trong tờ Ramparts. Những bài viết này đề cập một cách cụ thể về các thông tin rất chi tiết mà Hayden đã có được tại hội nghị Bratislava và trong các cuộc họp khác với Việt cộng. David Horowitz, chủ bút  của báo vào thời gian đó, người đã trả tiền các bài viết cho Hayden, nói rằng ông tin chắc là các bài viết Hayden hòan tòan cố ý phản ảnh một cách tuyệt đối các  chính sách của Bắc Việt . 1863

Các văn kiện lịch sử chứng minh là hồi ký của Horowitz tuyệt đối chính xác. Tuy được bao thức ăn và chỗ ở miễn phí, bọn tham dự đã phải  tự trả tiền vận chuyển của mình.  1864

Với việc bọn Việt và Tiệp chịu trách nhiệm tổ chức, bảo trợ và tài trợ luôn, Hayden đã tổ chức hội nghị, viết chương trình, lựa chọn hầu hết những tham dự viên và điều hợp các cuộc họp kéo dài một tuần lể của hội nghị .

Andrew Kopkind đã mô tả các tên Mỹ như là “ba mươi  người bạn của Tom Hayden, được chọn lựa một cách ngẫu nhiên.”  Christopher Jencks nói là khi được mời vào giờ phút cuối thì y đã rất ngạc nhiên.  1865 Rennie Davis thì mô tả bọn Mỹ ở Bratislava như “những đại diện cho hàng mục sư, luật sư, phóng viên, phụ nữ  và những người khác mà cùng chia sẻ … một mong muốn hầu chấm dứt cuộc đổ máu và tàn sát tại Việt Nam.” 1866  Theo Kopkind, chúng là  ” các phóng viên, các nhà lãnh tụ tôn giáo, các kẻ hoạt động cho dân quyền”  và  “một người mẹ đang hưởng an sinh  xã hội có thể kiểm chứng được … và vài chủ bút đang ‘phê’ vì chơi ma túy của một số báo ra lậu.”  1867

Trong số bạn bè và quen biết của Hayden (lựa chọn may rủi, đang ‘phê’ vì chơi ma túy hay khác nữa) mà đã tham dự thì có : Robert Allen, Malcolm Boyd, 1868 Brightman Carol, John “Jock” Pairman Brown, Bronson Clark, Robert “Stoney” Cooks, 1869 Rennie Davis, Dave và Betty Dellinger, Thorne Webb Dreyer, Nicholas Egleson, Richard Flacks, Ross Flanagan, Norman David Fruchter, Tom Gardner, Carol Glassman, Steve Halliwell, Christopher Jencks, Russell Johnson, Carole King, Andrew David Kopkind, Robert Kramer, Carol Cohen McEldowney, Leon Moore, Linda Moore, Raymond Mungo, Douglas Craig Norberg, Vivian Emma LeBurg Rothstein, Steve Schwarzchild, Sol Stern, Dennis Sweeney, John Tillman, Barbara Webster, Eric Weinberger, Hank Werner, John Wilson, Willie Wright và Ron Wright. 1870

Một trong những tên mà Kopkind đã mô tả như  là “vài chủ bút đang ‘phê’ vì chơi ma túy của một số báo ra lậu”, có lẽ đã là Raymond Mungo  1871  và Thorne Dreyer. 1872 Cũng từng tham dự đã có ba tên Quakers – Bronson Clark, Russell Johnson và Ross Flanagan. 1873  Trước khi khởi hành, David Dellinger đã sơ lược mục tiêu cho bọn Mỹ. Chúng được chờ đợi sẽ cung cấp tin tình báo chính trị về các chímh sách của Mỹ và về các phong trào phản chiến, phong trào sinh viên và phong trào đòi hỏi dân quyền. Báo chí Tiệp đã tường thuật là hội nghị đã chuyên chú  về “sự phát triển trong tương lai của phong trào phản chiến”.  1874

Đoàn Việt cộng, tổng cộng là 35 tên, “đã là một đoàn đại biểu cấp cao nhất đi gặp phương Tây ở ngoài Bắc Việt kể từ … Geneva … 1954.” 1875  Một số những tên Việt cộng tham gia mà đã được biết đến là Nguyễn Thị Bình, Lê Duy Văn, Đại tá Hà Văn Lâu,  Xuân Oánh,  Nguyễn Minh Vỹ,  Vũ Thị Hảo,  Nguyễn  Cơ Trinh và Nguyễn Văn Hiếu.

 Mười một tên tuyên bố là đại diện cho Mặt Trận Giải Phóng Quốc Gia NFL – để phân biệt với bọn thầy Bắc Việt, và trong đó có Nguyễn Thị Định, Phan Thanh Vân, Hà Thanh Lâm, Đinh Bá Thi và Trần Văn An.  1876

Thông dịch viên Ivo Vasiljev đã xác định Nguyễn Văn Hiếu là một “nhà báo từ miền Nam” trong khi đã thực sự là Tổng thư ký Mặt trận Giải phóng Quốc gia và từng được gọi là “Lê-nin của Mặt trận Giải phóng Quốc gia.”  Mụ Bình, được biết như là phó chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Giải phóng, đã dẫn đầu phái đoàn tại Bratislava. 1877 Nguyễn Thị Định, một viên chỉ huy quân sự của quân giải phóng, đã từng giành được  Giải thưởng Hòa bình Lê-nin vào năm 1967.

Todd Gitlen viết “Bọn Việt cộng … đã tỏ ra rất niềm nở, duyên dáng, bình tĩnh và được chuẩn bị kỷ càng không thể nào chê được: chúng  nâng ly rượu uống mừng và thuyết trình trong một phong cách đúng nghi-thức”. . Raymond Mungo thì nhớ là Nguyễn Minh Vỹ đã  ôm hôn David Dellinger. 1878  Một tay bạn của Gitlen cho biết là “Hình thức cực đoan nhất của họ là kiểu phát biểu lạnh lùng, giáo khoa, hơi khắc nghiệt và rất quy củ của các đảng viên lâu đời  (Mụ Bình).” 1879  Vivian Rothstein thì nhớ lời mời và chào đón của các Việt cộng gái, “Tôi đã không bao giờ thực sự tự nhận là mình đại diện cho toàn bộ cử tri đòan … một phân nửa của cả Hoa Kỳ.”  1880

Một tham dự viên đã nói với Steven Roberts của tờ Esquire, “Tom đã điều khiển toàn bộ hội nghi nhưng lại làm bộ như không phải vậy  …. Ngay từ đầu, y đã cố gắng để cố kết-hợp các nhóm lại với nhau. Y muốn có một biểu hiện rõ ràng về tình đoàn kết với Việt Nam.” 1881  Sol Stern, Christopher Jencks và có lẽ một vài tên khác đã phản đối việc chỉ có một quyết định hay một đường lối đảng độc chiếc. 1882 Pairman John Brown nhớ về Tom Hayden như là một “người thanh niên nóng nảy …. mà sẽ cố gắng … đánh thức lương tâm chúng ta.”  1883  Hayden đã vượt qua được mọi phản đối.

Đó quả thực là một màn trình diển tuyệt vời đối với một người mà sau đó đã tuyên bố là mình thực sự không hề biết chương trình nghị sự của Việt cộng và mình chỉ điều khiền một cuộc hội thảo – một loại đối thoại “người với người” .

*****

1839 Hassler năm 1967, Swarthmore College Peace Collection  nêu ra trong sách của Hershberger, trang 128.

1840 Xem Robbie Liberman, The Strangest Dream… trang 8, 24,85, 115, 141, 142 và  154,  nêu lên việc Alfred Hassler tuyên bố với A.J. Muste, 23 tháng chạp năm 1960, Muste Papers, băng số 89.20, Swarthmore College Peace Collection.

 1841   Levchenko, trang 54.   

 1842   Levchenko, trang 50.

1843  Xem:  Radio Hanoi, 21 tháng 8 năm 1968 và Ho Chi Minh, Selected Works, Bộ  IV, trang 220, 223.

 1844   HCUA, 1968; Hayden, Reunion; East Village Other (Tháng 10 năm 1967); Newfield, Village Voice.

1845  East Village Other (Tháng 10 năm 1967).

1846  Raymond Mungo, “I slept With the Viet Cong,” The Bridge Review, University of Massachusetts, Lowell, 2005.

 1847  Gitlen,  trang 263.

 1848   Max Friedman, “Behind Terrorism in the U.S.: Castro’s Cuba,” Washington Intelligence Report, Washington: the U.S. Anti-Communist Congress, Inc. Bộ III, Số 10, Tháng 11 năm 1970, trang  4.

 1849  Karnow, “V.C. to Cultivate Antiwar Groups,” Washington Post, 18 tháng 10 năm  1967.

1850 Jan Sejna, We Will Bury You, London: Sidgwick & Jackson, 1982,  trang 154.

1851   HUAC, Tháng chạp 1968, trang 2552.

 1852   Reunion, trang 205.

 1853   HUAC, Dec. 1968, 2552.

 1854   Reunion, trang 208.

 1855   Tướng Võ Nguyên Giáp đã soạn thảo chiến lược trận Tết và Nội các Hà-nội cùng bọn Liên-xô đã chấp thuận. 

 1856  Hayden, Reunion, trang 206.

 1857   Andrew J. Glass, “Report to Johnson Said Hanoi Directed Protest,” Washington Post, 11 tháng 11 năm 1967.

 1858  Bittman viết cho tác giả là các viên chức đảng có lẻ đã gặp Hayden. Anh ta đã đặc biệt không thể nêu đưọc tên ai cả.

 1859   Hayden, Reunion, trang 209.

1860   McEldowney, trang 13-14, 18-19; Bác sỹ  Joseph H. Cort sau này sẽ  bị mang tiếng xấu vì đã giả mạo tài liệu về y khoa để xin tài trợ về nghiên cứu. Xem  New York Times 27 tháng chạp năm 1982.

1861  Raymond Mungo, “I slept With the Viet Cong,” The Bridge Review, University of Massachusetts, Lowell, 2005.

1862   Zaroulis, trang 132.

 1863   Horowitz  nói với  Canfield.

1864   Tom Charles Huston, Phúc trình đặc biệt dành cho Tổng Thống, TỐI MẬT, CHỈ NGÀI ĐỌC MÀ THÔI, Rất nhạy cảm,  Foreign Communist Support of the Revolutionary Protest Movement in the United States, Tháng 7 năm 1969, trang 43, giải mật ngày  11/10/2008 theo yêu cầu của Max Friedman.

1865   Canfield phỏng vấn Christopher Jencks ngày 18/5/1989.

1866   Lời khai của Rennie Davis trước HCUA vào ngày 3 tháng chạp năm 1968, trang 2630.

1867   Andrew Kopkind, “Looking Backward,” Ramparts, tháng 2 năm 1973, trang 32; Miller, Democracy…, trang 278-279, ghi chú 43.

1868   Mục sư Episcopal.

1869   Organizational Trends, Bộ 1, Số 1, Tháng 7 năm 1984.

1870   Kirkpatrick Sale, SDS, trang 392;  Hayden, Reunion,  trang 206-210;  Gannon, Bộ  II, trang 573; HCUA, Tháng Chạp  năm 1968, trang 2605, 2630; Đại sứ quán Mỹ gởi cho FBI, “sử dụng hạn chế,” nêu ra trong FBI, FOIA, Weather Underground. Nguốn chính của tin là phúc trình của Đương Nhiệm SAC Chicago gởi cho Giám đốc, “Foreign Influence-Weather Underground Organization,”  20 tháng 8 năm 1976, trang 67-8;  “Final Prague List,” “International Conference”  Swarthmore College Peace Collection nêu ra trong sách của Hershberger, trang 139, ghi chú 1; Hạ viện, ủy ban Committee on Internal Security, Investigation of Students for a Democratic Society, Phần 7-A,  9-11 và 16 tháng chạp năm 1969, Phụ đính A, Bằng chứng số 2 của ủy ban, trang 2318.

 1871   Stephen Powell, Covert Cadre…, 

 1872   Raymond Mungo, “I slept With the Viet Cong,” The Bridge Review, University of Massachusetts, Lowell, 2005.

1873   Hershberger, trang 131

1874   Tom Charles Huston, Phúc trình đặc biệt dành cho Tổng Thống, TỐI MẬT, CHỈ NGÀI ĐỌC MÀ THÔI,  Rất nhạy cảm,  Foreign Communist Support of the Revolutionary Protest Movement in the United States, Tháng 7 năm 1969, trang 42-3, giải mật ngày  11/10/2008 theo yêu cầu của Max Friedman.

1875   Zaroulis, trang 132; Miller, trang 278.

1876   Hershberger, trang 139.

1877   McEldowney, trang 9.

1878   Raymond Mungo, “I slept With the Viet Cong,” The Bridge Review, University of Massachusetts, Lowell, 2005.

 1879   Gitlen, trang 263. 

1880   “Interview with Vivian Rothstein Student Activist, United States,” PBS/WGBH (Boston) 1998, pbs.org/wgbh/peoplescentury/episodes/youngblood/rothsteintranscript.html

1881   Roberts, Esquire, Tháng chạp năm 1968, trang 208.

1882   Canfield phỏng vấn Sol Stern vào ngày 16/5/1989 và Christopher Jencks vào ngày  18/5/1989.

1883   James W. Clinton phỏng vấn John Pairman Brown, 13 tháng 11 năm 1990  trong sách của James W. Clinton, The Loyal Opposition: Americans in North Vietnam, 1965-1972, Niwot: University Press of Colorado, 1995, trang 112.

*****

Advertisements

Một phản hồi to “Roger Canfield’s Americong #25”

Trackbacks/Pingbacks

  1. Giới thiệu tác phẩm AMERICONG (MỸ-CỘNG) – Lê Bá Hùng | Ngoclinhvugia's Blog - 05/01/2016

    […] Roger Canfield’s Americong #25 […]

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: