Roger Canfield’s Americong #68

image002

Comrades in Arms

How the Americong Won the War in Vietnam

Against the Common Enemy— America

Copyright Roger Canfield, Ph.D.

1986-2012

No commercial transaction allowed except that approved by the author, copyright holder.

Obtain a prepublication release of a CD-R in Microsoft Word in ENGLISH at a discounted price of $15 from Roger Canfield Rogercan@pacbell.net at 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 or at http://americong.com.

Completely SEARCHABLE for any name, date, place or event of the War and its protesters.   

Cover: Design Stephen Sherman. Photos: Roger Canfield, March 2008. TOP: War protest Hawaii, February 1966 displayed at War Remnants (Crimes) Museum, Saigon. Bottom: Praetorian Guard

Các đồng chí cùng chiến tuyến

Làm thế nào MỹCộng thắng cuộc chiến Việt Nam

Chống kẻ Thù Chung – Mỹ

Giữ bản quyền Roger Canfield, Tiến Sĩ

1986-2012

Không được sử dụng vào mục đích thương mại nếu không có sự đồng ý của Tác giả, người giữ bản quyền.

Có thể mua một tiền bản dưới dạng CD-R Microsoft Word bằng Anh ngữ với giá đặc biệt US$15 ngay từ tác giả Roger Canfield  Rogercan@pacbell.net tại 7818 Olympic Way, Fair Oaks, CA 95628, 916-961-6718 hay tại  http://americong.com.

Hoàn toàn có thể TRA CỨU hoặc bằng tên, bằng ngày tháng hay biến cố liên quan đến cuộc Chiến cùng cả luôn bọn tham dự biểu tình .

******************************************************

* Tác giả giữ bản quyền © Roger Canfield 1986-2012

  • Lê Bá Hùng chuyển ngữ  (với sự chấp thuận của Tác giả)

 

*****

Chương 68

“Đi Để Được Sống”

– 13 Tới 15 Tháng 11 Năm 1969

 

Trong khi Hà Nội và bọn phản chiến càng thấy chúng càng xa rời với người dân Mỹ thì chúng cũng vẫn không hề xao xuyến bởi công luận và các lời kêu gọi của Tộng Thống kiêm Tổng Tư Lệnh Quân Đội. 3223 Ngày 5 tháng 10, World Peace Council’s Stockholm Conference on Vietnam đã đặc biệt công nhận hành động phản đối của New Mobe vào ngày 15 tháng 10 nhằm thống nhất hóa các nhóm đang sinh hoạt để thúc đẩy trở thành một cuộc phản đối quốc tế mà gọi đó là “biến chuyển lớn nhất đã có cho đến nay để phản đối chiến tranh” và “hình ảnh muôn màu của mọi lực lượng sẽ phải đoàn kết lại để chống đối và cầm cự với cuộc chiến tranh.”  3224

Vào ngày thứ bảy 13 tháng 11, trong một buổi cầu nguyện kéo dài 40 giờ, độ 45.000 người đã đi qua trước Tòa Bạch Ốc tay cầm bảng tên những người Mỹ đã chết trong cuộc chiến. Để đề phòng bạo loạn của đám đông thì đã có một hàng rào vững chắc bao quanh Tòa Bạch Ốc bằng những xe buýt đậu san sát nhau.

Một số độ 100 tên đã bung ra khỏi cái đoàn biểu tình ôn hòa nhưng không kém phần đáng sợ đó trước Tòa Bạch Ốc, miệng thì hô to: “Hồ, Hồ, Hồ Chí Minh, MTGPQG Rồi Sẽ Thắng Mà Thôi.” Bọn Weathermen mà cũng đã tự xưng là “Chó điên và Khùng” thì tay đều cầm cờ Việt Cộng. Những người tổ chức từng chủ trương một cuộc diễn hành ôn hòa thì đã có chuẩn bị trước 5.000 Trật Tự Viên tình nguyện Marshal cùng đan tay nhau làm rào để ngăn chặn bọn 100 tên cách mạng đó. Đó là vào buổi chiều thứ bảy.

Một số chỉ thị từng được ban ra đã không có tính cách ôn hòa chút nào cả. Ở Cuba, Văn Ba đã nói với đám Venceremos, “Hãy tìm kẻ nào mà chiến đấu hăng say nhất với cảnh sát. Hãy tìm kẻ nào chấp nhận đấu tranh. ” 3225 Tối khuya hôm đó, Bill Ayers và bọn Weathermen đã dẫn đầu một đám từ 1.000 đến 2.000 tên đi đập phá khắp nơi. Sau nửa đêm (chạng vạng sáng sớm chủ nhật ngày 14) chúng đã đến bao vây Tòa Đại sứ Nam Việt. Hàng trăm cảnh sát viên đã chận đường vào Tòa đại sứ. 3226 Từ Vòng Tròn DuPont Circle đến Tòa Đại sứ Nam Việt, đám Weathermen bạo loạn đã xông lên phá vở mọi cửa sổ, đập nát xe cộ, đốt cháy một chiếc xe gắn máy và sau đó còn ném đá, gậy, sơn đỏ, ống sắt nước, pháo nổ và vỏ chai vào Tòa Đại sứ . 3227

Bill Ayers có nhớ một “thằng bé loại cựu sinh viên frat boy phản biểu tình” đã giật được một lá cờ Việt Cộng và đốt nó đi. “Tôi … bị phỏng bàn tay trái của tôi và gãy ngón tay đeo nhẫn để cứu” lá cờ Việt Cộng. 3228 Ở tại Detroit thì bên ngoài tòa nhà liên bang, Dianna Oughton cũng đang dương lên lá cờ Việt Cộng. 3229

Để phản đối việc xét xử bọn Chicago 8 – bị truy tố về tội đã chuẩn bị và kích động bạo loạn tại Hội nghị đảng Dân chủ năm 1968 ở Chicago – vào ngày thứ hai 15, bọn Weathermen đã tấn công tất cả mọi thứ trên lộ trình đi đến Bộ Tư pháp, đập bể các cửa sổ, cho nổ loại bom anh đào cherry bombs, đốt pháo nổ và bom khói màu đỏ, hạ cờ Mỹ xuống để dương cờ Việt Cộng lên thay thế .

Tom Hayden đã viết là các cuộc tấn công vào Tòa Đại sứ và Bộ Tư pháp “đều  đã được chọn lọc kỹ hơn và có ý nghĩa hơn nếu so với các mục tiêu ở … Chicago” trong thời kỳ Days of Rage. 3230 Bruce Herschensohn, một nhân viên văn phòng TT Nixon, viết lại là tại Bộ Tư pháp cái lá cờ Mỹ đã bị xé nát và kéo xuống rồi bị đốt cháy và cờ Việt Cộng được treo lên. 3231 Daniel Walker, phê bình gia của cảnh sát Chicago, đã viết là bọn 100 tên cấp tiến tả phái:

Rất dấn thân, có kinh nghiệm và được huấn luyện kỹ, đã thách thức cảnh sát, quăng ném đồ đạt, đốt cháy các thùng rác, phá nát các băng ghế công viên và mang mặt nạ phòng hơi ngạt để có thể lượm và quăng ngược lại lựu đạn hơi cay về phía cảnh sát. 3232

Nhiều người vô tội đã bị làn hơi cay mắt cảnh sát bay dạt lại về cuộc biểu tình của quần chúng ở đài tưởng niệm Washington. 3233 Cho tới lúc cuộc biểu tình tan thì Tòa Bạch Ốc đã bị chận kín trong chu vi ba khu phố.

Với Sid Peck, Stewart Meacham và Cora Weiss đóng vai lãnh đạo chính, cuộc “March Against Death ~ Đi Để Được Sống” do New Mobe chuẩn bị tại Washington vào ngày 15 tháng 11 đã thu hút khoảng 250.000 đến 500.000 tùy theo nhiều nguồn tin khác nhau (100.000 ở San Francisco). Đây là một hành động đại chúng rộng lớn mà cả ôn hòa, tự do, chủ hòa và Trotskyites đều cùng tham gia. Lời kêu gọi của Hà Nội cho một “Mặt Trận Hành Động Thống Nhất” trong các thông tư và chỉ thị của chúng vào năm 1969 ban ra cho các cán bộ Việt Cộng đã thành công trong việc huy động, so với kêu gọi của Tổng Thống với cái đa số thầm lặng của ông.

Ngày 10 tháng chạp năm 1969, trong một cuộc phỏng vấn trên Granma, tờ báo cộng sản chính thức Cu-ba , lãnh đạo Venceremos Julie Nichamin đã một phần nào đó cho biết, “Cuộc chiến của người Việt Nam là cuộc chiến … chống lại chủ nghĩa đế quốc Mỹ. … Cách thức chúng ta chống lại chủ nghĩa đế quốc Mỹ là phải chiến đấu trên nhiều mặt trận.”  3234 Và từ Cu-ba trong số ngày 21 tháng chạp năm 1969 của Verde Olive, ấn phẩm chính thức của quân đội Cu-ba, đã có một lá thư từ Julia Nichamin nhân sau một cuộc họp với bọn Cộng Sản Cu-ba và Việt Nam:

Cuộc họp chúng tôi đã có ngày hôm nay với nhân dân Cu-ba và nhân dân Việt Nam đã cho chúng tôi nhận chân được ý nghĩa thực sự của quốc tế chủ nghĩa: “tất cả chúng ta đều tham gia vào cuộc đấu tranh chung chống chủ nghĩa đế quốc Yanqui Mỹ …

Chúng tôi sẽ rời khỏi đây với … quyết chí sẽ tiêu diệt con quái vật chủ nghĩa đế quốc ngay từ bên trong … ” 3235

Georgie Anne Geyer và Keys Breech, có bình luận về bức thư của Nichamin ,

“Hành động cho thấy rỏ hơn nhiều là các tuyền bố [của Nichamin ]…

Một phần của việc phải làm là giết các cảnh sát viên …

Hay đặt bom phá nổ trung tâm toán học của quân đội tại Wisconsin … một ‘hành động cố tình thực hiện trong tình đoàn kết với Việt Cộng, với các Tupamaros và với nhân dân Cu-ba’ ….

Trong 18 tháng qua … 20 cảnh sát viên đã bị giết chết và 100 thì bị thương …” 3236

Vào ngày 13 và 14 tháng 11, Ủy ban Committee of Returned [Peace Corps] Volunteers được dẫn đầu bởi John McAuliff, đã tổ chức một hội nghị thảo luận về các công ty và cơ quan quân sự của chủ nghĩa đế quốc Mỹ và đúng theo  chiến lược , đã chuyên chú vào các căn cứ quân sự Mỹ ở Okinawa và các cam kết an ninh với Nhật Bản. 3237

Vào ngày 2 tháng 12 năm 1969, Bà Mã Thị Chu thuộc Uỷ ban Nhân dân miền Nam Việt Nam Đoàn kết với Nhân dân Mỹ (Việt Mỹ) đã gửi một thông điệp tới New Mobe và Moratorium nói là, “Chúng tôi đánh giá cao những thành tựu của quý bạn trong việc hình thành mặt trận chống cuộc chiến Việt Nam … [Quý] bạn quả đã thành công với sức mạnh đoàn kết của quý bạn … ” 3238

National Council of Churches: Cái Loa của Hà-nội

Ngày 5 tháng chạp năm 1969, tờ báo Cộng sản  Daily World  tường thuật là Hội đồng với quy chế miển thuế  National Council of Churches, NCC nhân một hội nghị gồm 790 đại biểu đã nhất trí “lên án việc thảm sát dân thường Việt Nam của quân đội Mỹ,”  đã bầu một Chủ tịch mới là Tiến sĩ Cynthia Wedel mà đã tức thì công bố kế hoạch gây quỹ trong các nhà thờ vào mùa Giáng sinh để phân phối cho các nhóm đang cung ứng “cứu trợ y tế khẩn cấp cho các nạn nhân dân sự Việt Nam.”  3239

Hội đồng Quốc gia các Giáo Hội (National Council of Churches, NCC), chính thức ủng hộ cả lệnh October Vietnam Moratorium và cuộc tuần hành November March Against Death. Trong vòng vài tháng,  vào tháng 4 năm 1970, James Armstrong đã sẽ nói với Đại hội  General Conference of United Methodists  ở St Louis là quân đội đang thống trị Hoa Kỳ, Nam Việt Nam đã là một “nhà nước cảnh sát tham nhũng,” và những người Mỹ bị giết chết một cách vô ích cho một cuộc chiến tranh vô đạo đức và bất công.”  3240

Sau đó trong nhiều thập niên, tổ chức được hưởng quy chế miển thuế là National Council of Churches ~ NCC, từng sáng lập ra National Emergency Committee of Clergy Concerned (tiền thân của Clergy and Laity Concerned) đã hỗ trợ Cộng sản Việt Nam hầu như trong mọi hoàn cảnh. Hội đồng Quốc gia Giáo Hội NCC tuyên bố là sau chiến tranh, Việt Nam đã “đang xây dựng một xã hội mới” bất kể sự kiện đã có hàng triệu kẻ bị giam cầm trong các trại cải tạo và hàng triệu người đã phải bỏ trốn bằng thuyền; NCC cũng nói Mỹ có phần lổi trong bi kịch tàn sát tại Campuchia với Pol Pot; và họ đã lên án khắp nơi tất cả các chính phủ chống cộng trên toàn thế giới. 3241

NCC đã chịu phí tổn để thực hiện “các tài liệu đi kèm bộ phim thiên Hà-nội “Việt Nam: A Television History” do PBS, WGBH Boston sản xuất, đã từng chi ra nữa triệu để giúp đỡ phần nào các chi phí tại các trại lao động khổ sai trong những Vùng Kinh tế Mới và James Armstrong của NCC đã lại tuyên bố, Hà Nội “phải nên được ca ngợi cho thái độ ôn hòa và các nỗ lực phi thường của họ để thực hiện hòa giải trong toàn dân.” 3242

“1969: Không Mừng Giáng sinh Như Thông Lệ,”

Bọn New Mobilization, đồng minh của National Council of Churches, đã tuyên bố “1969: Không Mừng Giáng Sinh Như Thông Lệ,” khi có ý định phá vỡ phong tục mừng lễ tôn giáo chính của đa số người Mỹ, người theo Thiên Chúa Giáo, bằng cách thay thế bởi những buổi cầu nguyện công cộng để đọc danh sách các tử sĩ và các lá phức. 3243 Đã không hề có bằng chứng nào cho thấy là Christian National Council of Churches từng đã phản đối các hành vi của New Mobe trong suốt thời gian nghỉ lể thiêng liêng nhất của Thiên Chúa Giáo này.

Kế hoặch Móc Vịt ~ Duck Hook Bị Hủy Bỏ

Dù đã có được nhiều cuộc thăm dò dư luận thuận lợi cho Tổng thống vào cuối tháng 10 và đầu tháng 11 năm 1969 cùng các nghị quyết thuận lợi thông qua bởi  Quốc hội, Nixon vẫn đã quyết định là hai vụ October Moratorium  và  November Mobilization  đã có đủ khã năng loại bỏ kế hoặch Móc Vịt ~ Hook Duck mà đã từng được soạn thảo ra nhằm leo thang không tạc. Đối với vụ October Moratorium, Nixon sau đó đã có nói, “Sau bao nhiêu là vụ  biểu tình phản đối và vụ Moratorium, công luận Mỹ sẽ cực kỳ bị chia rẻ bởi bất kỳ hành vi leo thang quân sự nào về chiến tranh.”  Trên thực tế, vào cuối năm 1969, 60% công chúng đã cảm thấy là chính bọn phản chiến đã gây trở ngại cho  triển vọng cho hòa bình, 3244 chớ không phải là Tổng thống.

Như Tổng thống Johnson trước đó, Nixon đã không bấm nút khởi động kế hoặch Móc Vịt ~ Duck Hook theo như đã dự trù.

Trong khi đó thì các đồng minh của Mỹ ở Nam Việt đã không hề là những chiến sĩ miễn cưỡng như đã từng bị bọn báo chí chỉ trích. Họ đã chiến đấu với Việt Cộng theo kiểu của chính họ.

Thắng cuộc chiến tranh trong bóng tối tại các làng xã của Việt Nam

Trên chiến trường miền Nam,  Việt Nam Cộng Hòa đã đang dành được chiến thắng trong trận chiến nhân dân chống lại tàn dư Việt Cộng và bọn bộ đội không được ưa thích từ miền Bắc xuống thay thế chúng. Trong năm 1969, một số 47.023 tên cộng sản đã được chiêu hồi về với miền Nam Việt Nam, Chiêu Hồi –  bỏ hàng ngủ cộng sản và về tham gia với phía đồng minh 3245 với mực độ hai lần rưởi nhiều hơn so với tỷ lệ trước vụ thãm sát Tết Mậu Thân của VC. 3246 Đã có rất ít binh lính Nam Việt nào mà đã từng đào ngũ theo Hà Nội hay Việt Cộng. 3247

Vì thiếu hỗ trợ tại các địa phương, các đơn vị chính quy Bắc Việt – cấp tiểu đoàn, trung đoàn và sư đoàn – đã bị buộc phải quay trở lại các mật khu an toàn của chúng  ở biên giới Campuchia và Lào.

Người Tỵ Nạn Trở Về Lại Nhà

Với sự gia tăng 3248 của các lực lượng Nam Việt –  Nhân Dân Tự Vệ – với trách nhiệm bảo vệ làng xã, gần có 488.200 người tị nạn trước đây đã quyết định bỏ phiếu bằng đôi chân để trở về thôn làng củ của họ mà nay đã trổ thành an toàn. Và một số 586.300 người khác đã được tái định cư trong tổng số 1.328.500 người tị nạn vào đầu năm 1969. 3249

Trong hai năm trước đó, Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã cất chức 310 tỉnh và quận trưởng tham nhũng hay bất tài. Thống kê Mỹ cho thấy, trong năm 1969, chương trình Phượng Hoàng ~ Phoenix đã vô hiệu hóa được 19.534 cán bộ Việt Cộng – 6.187 bị giết, 8.515 bị bắt và 4.832 thì được chiêu hồi.

Tuy là “vào đêm vẫn còn du kích ở  Nam Việt và đường xá giao thông ban ngày  hoang vắng và tối thui [vào ban đêm], [và] … lựu đạn vẫn bị ném trong các rạp chiếu bóng và các phòng trà …”  thì tương lai vẫn có vẻ rất là khả quan. 3250

Theo Bill Laurie thì các quân nhân Mỹ đã thấy ra là thi hành nghĩa vụ quân sự ở một số vùng ở Nam Việt thì cũng không có gì nguy hiểm hơn nếu so với “việc làm của một cảnh sát viên ở Dubuque hay Great Falls”. Nhiệm sở quân sự tương đối khá an toàn ở những nơi như Qui Nhơn, Vịnh Cam Ranh, Đà Nẵng, Sài Gòn, Biên Hòa, Long Bình, Vũng Tàu hay Đà Lạt. Số thương vong lên cao ở các tỉnh Quảng Trị và Quảng Nam và thấp ở các tỉnh Phú Bổn và Long Khánh. 50% số thương vong của Mỹ xảy ​​ra chỉ trong năm tỉnh cực Bắc, trong tổng số 44 tỉnh trên toàn quốc. 3251

Chính sách bình định thành công đã là chân lý chớ không phải là một ngoại lệ.

Như bọn Việt Cộng, đám Mỹ-cộng ~ Ameri-Cong đang hoạt động cũng đã phải núp lén khi thi hành chính sách đánh rồi chạy.

*****

3223  Cuộc thăm dò của Sindlinger  nêu ra bởi Howard K. Smith, ABC Evening News, vào ngày 14 tháng 11 năm 1969.

3224  International Liaison Committee, World Peace Council, Information Letter No. 5,” 5 tháng 10 năm  1969.

3225  “Vietnam Supplement,” SDS, New Left Notes, 1969, nêu ra trong Gannon, Bộ II, trang 245. 

3226  Bùi Diễm, The Jaws of History.

3227  Thượng viện, Ủy ban Committee on the Judiciary, Tiểu ban Subcommittee to Investigate the Administration of the Internal Security Act and Other Internal Security Laws, The Weather Underground, Committee Print, Tháng Giêng 1975, trang 18.

3228  Ayers, Fugitive Days, trang 120.

3229  FBI, Detroit gởi Giám đốc, hồ sơ Detroit số 176-161, 11 tháng 11 năm 1969

3230 Hayden, The Trial, 1970, trang 93.

3231  Herschensohn, An American Amnesia, trang  95.

3232  Daniel Walker trong tài liệu của Campbell và đống bọn, trang 383.

3233  Đọc:  M.G. Brown, Rice Paddy Grunt.

3234  Phỏng vấn Julie Nichamin , Granma, 10 tháng chạp năm 1969 nêu ra trong hồ sơ  FBI, FOIA, Weather Underground. Nguồn tin chính là phúc trình Đương nhiệm SAC Chicago gởi cho Giám đốc, “Foreign Influence-Weather Underground Organization,” 20 tháng 8 năm  1976, trang 121-2.

3235  Georgie Anne Geyer và Keyes Beech, “Cuba: School for US Radicals,” Chicago Sun Times, tháng 10 năm 1970.

3236  Georgie Anne Geyer và Keyes Beech, “Cuba: School for US Radicals,” Chicago Sun Times, tháng 10 năm 1970 được nêu ra trong hồ sơ FBI, FOIA, Weather Underground. Nguồn tin chính là phúc trình Đương nhiệm SAC Chicago gởi cho Giám đốc, “Foreign Influence-Weather Underground Organization,” 20 tháng 8 năm 1976, trang 41.

3237  New Mobilization Committee to End the War in Vietnam, “Moratorium Mushrooms. Builds Momentum for November 13-15,” New Mobilizer, Số 3, 8 tháng 10 năm 1969.

3238  Mass Organizations Back Antiwar Efforts, Liberation Press Agency (Clandestine) 1533 GMT, 2 tháng chạp năm 1969, Văn khố Lưu trử  của TTU viện dẫn trong tài liệu của Rothrock, trang 139 ghi chú 13.

 3239 William Allen, Daily World,  5 tháng chạp năm 1969 được viện dẫn bởi David Emerson Gumaer, “The National Council of Churches,” Apostasy, tại www,thephora.net/forum/showthread.php?t=4623

3240  Robert Wilson, Biases and Blind Spots: Methodism and Foreign Policy Since World War II, Chương  4, The Reemergence of Radicalism,  trang  5.

3241  Rael Jean Isaac, “Do You Know Where your Church Offerings Go?,” Reader’s Digest, Tháng Giêng 1983, 12-0-125; David Emerson Gumaer, “APOSTASY: The National Council of Churches,” tại   nccwatch/articles/apostasy.htm200815.

3242  James Banerian và Vietnamese Community Action Committee, Losers Are Pirates: A close Look at the PBS Series “Vietnam: A Television History,” Phoenix: Tiếng Mẹ Xuất Bản, 1984, trang 15-16.

3243  Stewart Meacham, Dave Dellinger  và Cora Weiss, New Mobilization, Dear Friend letter, đóng dấu bưu điện ngày 12/8/69, Friedman gởi điện thư  cho Canfield, 3 tháng chạp năm 2008, 7:54 PM. 

3244  David L. Anderson, John Ernst (eds.) The War Never Ends: New Perspectives on Vietnam War, Lexington: University of Kentucky, 2007, trang 259.

3245  (TS-GP1) CAG-VSUM 1-70, Tháng 3 năm 1970,  hồ sơ JCS Hist Div  tại History of the Joint Chiefs of Staff,  Phần II, trang 434.

3246  Bill Laurie nói với Mike Benge và những kẻ khác,  1 tháng 4 năm  2009.

3247  William Westmoreland, A Soldier Reports,  trang 120-21, nêu ra trong tài liệu của  James Banerian và Vietnamese Community Action Committee, Losers Are Pirates: A close Look at the PBS Series “Vietnam: A Television History,” Phoenix: Tiếng Mẹ Xuất bản, 1984, trang  90.

3248  PSDF với con số 3.219.000 – 1.098.000  được huấn luyện và 399.500 được trang bị vũ khí. (S-GP 4)J-5 BP, “Arming PSDF (U),” 3 tháng chạp năm 1969, hồ sơ OCJCS số 091 Vietnam, Tháng chạp 1969. (TS-GP2) COMUSMACV Command History, 1969,  VIII-49, trong Lịch sử của JCS, trang 432.

3249  (TS-GP1)CAG-VSUM 1-70, Tháng 3 năm 1970, JCS Hist Div files tại History of the Joint Chiefs of Staff, Phần II, trang  436.

3250  Khai chứng của William Colby, CORDS, Điều trần trước Ủy ban Committee on Foreign Relations, Thượng viện Mỹ, Nhiệm kỳ 91, Khóa 2, về đề tài Civil Operations and Rural Development Support Program, 17 tháng 2 năm 1970; thống kê Phượng Hoàng ~ Phoenix trong tài liệu của Robert G. Kaiser, “U.S. Aides Scorn Phoenix Project,” Washington Post, 17 tháng 2 năm 1970 trang 7-9, 13 và 27  tại homepage.ntlworld.com/jksonc/docs/phoenix-scfc-19700217.html.  

3251  Bill Laurie, Godzilla at Khe Sanh: Viet Nam’s Enduring Hallucinatory Illusions, bản viết tay chưa in gởi cho tác giả ngày 26 tháng 8 năm 2009.

 

*****

Một phản hồi to “Roger Canfield’s Americong #68”

Trackbacks/Pingbacks

  1. Giới thiệu tác phẩm AMERICONG (MỸ-CỘNG) – Lê Bá Hùng | Ngoclinhvugia's Blog - 05/01/2016

    […] Roger Canfield’s Americong #68 […]

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: